Cuộc đời thơ ấu của vua hề Sạc-Lô - Chương 7 & 8 (hết)

Chương 7

Suốt thời gian ấy chúng tôi ít gặp ông ngoại. Năm ngoái sức khỏe của ông không tốt. Bàn tay ngoại tôi bị bệnh phong thấp không thể tiếp tục hành nghề thợ giày. Trước kia thỉnh thoảng ông còn giúp đỡ được cho mẹ tôi chút đỉnh. Đôi khi ông đãi chúng tôi ăn tối, bữa ăn nhà nghèo gồm bột lúa mạch dùng để nuôi ngựa và những cũ hành nấu sữa nêm thêm muối tiêu. Vào những đêm dài mùa đông lạnh lẽo những món ăn đó được coi như là căn bản để giúp chúng tôi chống lại giá buốt. Khi tôi còn bé tôi vẫn nhìn thấy ông tôi như một cụ già nghiêm khắc, ương gàn, bao giờ cũng chực xét nét việc làm của tôi và cách nói năng của tôi. Qua những chuyện nhỏ hạch xách như thế tôi thấy không ưa ngoại tôi chút nào. Nhưng bây giờ ông đã vào bệnh viện, bị chứng phong thấp hành hạ và mẹ tôi phải mỗi ngày lui tới viếng thăm. Những chuyến thăm viếng như thế thật là có lợi vì bao giờ bà cũng mang về được thức ăn, thường thường là một gói đầy trứng tươi, một món xa xỉ đặc biệt trong cái thời buổi đói kém mà gia đình tôi đang phải trải chịu. Hôm nào bà không đi được thì bà bảo tôi đi thay. Tôi cũng ngạc nhiên thấy ngoại của tôi thật là đáng yêu, tỏ ra hết sức sung sướng được thấy tôi đến. Mấy cô điều dưỡng ở đấy cưng ngoại tôi lắm. Ông có kể cho tôi biết ông thường đùa cợt với các cô ấy, bảo với các cô rằng dù mang bệnh như thế ông cũng không phải hoàn toàn vô dụng. Những chuyện đấu láo của ông khiến cho các cô vui vẻ. Những lúc trong người khỏe khoắn ông cũng phụ việc bếp núc và điều đó cắt nghĩa tại sao chúng tôi có trứng mang về. Những hôm chúng tôi đến thăm, ông thường nằm trên giường bệnh, lén lút lôi ra một cái bì lớn và trao cho tôi, rồi tôi vội vàng nhét vào phía trong áo khoác lính thủy trước khi ra về. Suốt nhiều tuần lễ chúng tôi được sống nhờ trứng sử dụng theo nhiều hình thức khác nhau. Dù ngoại tôi bảo mấy cô điều dưỡng đều là bạn thân của ông và họ cũng có hay biết chuyện ấy nhưng tôi vẫn luôn sợ hãi và khi mang trứng ra về tôi cứ lo ngại mình có thể trượt chân ngã trên sàn hoặc người ta sẽ nhận thấy con người bỗng nhiên to phồng của tôi mà sinh ngờ vực. Điều thật lạ lùng là mỗi khi tôi ra về, các cô điều dưỡng luôn luôn không thấy xuất hiện. Ngày mà ngoại tôi lành bệnh, rời khỏi nhà thương, thật quả là ngày buồn thảm đối với gia đình chúng tôi.

Sáu tuần lễ đã trôi qua mà không thấy anh Sít-nê trở về. Ban đầu mẹ tôi không lấy gì làm lo ngại nhưng một tuần nữa trôi qua bà vội viết thư đến văn phòng hãng để hỏi tin tức và được họ trả lời lại cho biết anh tôi phải ghé lại Cáp chữa bệnh phong thấp. Tin ấy làm cho mẹ tôi lo lắng và sức khỏe bà sa sút hẳn đi. Bà vẫn cố gắng may vá và tôi may mắn tìm được chút công việc làm là đến dạy vũ trong một gia đình gần trường với giá năm đồng xi linh mỗi tuần.

Chính thời kỳ đó gia đình ông Cạc-Ty (Carthy) đến ở tại khu phố này. Bà Cạc-Ty vốn người Ái Nhĩ Lan, cũng là kịch sĩ bạn ngày xưa của mẹ tôi. Chồng bà, ông Cạc-Ty, là một chuyên viên kế toán. Khi mẹ tôi rời sân khấu, chúng tôi không gặp lại vợ chồng họ, và bảy năm sau, bây giờ chúng tôi thấy họ đến ở khu vực sang trọng của khu phố này. Thằng bé Hoa-Ly, con của ông bà Cạc-Ty cùng tuổi với tôi. Hồi còn bé, chúng tôi thích chơi theo lối đóng vai người lớn, giả bộ như những nghệ sĩ ca kịch, hút những xì gà tưởng tượng, và ngồi trong những chiếc xe tưởng tượng, chơi đùa thật là vui thích trước mặt cha mẹ chúng tôi. Bây giờ họ về trú ngụ gần đây, mẹ tôi ít gặp gỡ họ nhưng thằng Hoa-Ly và tôi thì lại thân thiết hơn nhiều. Cứ tan học tôi chạy bay về nhà hỏi xem mẹ có sai bảo gì không, rồi tôi vội vàng đến nhà ông bà Cạc-Ty. Chúng tôi cùng ra sau nhà chơi trò ca kịch với nhau. Tôi làm đạo diễn vừa là diễn viên nên tôi luôn luôn nhận đóng các vai gian hùng vì tôi cũng hiểu lờ mờ rằng những vai ấy dễ nổi bật hơn những vai anh hùng. Chúng tôi vui đùa như thế cho tới giờ ăn cơm tối của gia đình này. Thường thường họ mời tôi cùng dùng bữa. Tôi có cái khiếu đặc biệt là thường có mặt trong những giờ ăn. Nhưng cũng có khi những sự tính toán của tôi gặp phải thất bại và tôi đành quay về nhà với sự tiếc rẻ trong lòng. Mẹ tôi bao giờ cũng sung sướng được thấy tôi và bà tìm dọn cho tôi một món ăn nào đó, miếng bánh chiên mỡ hay một quả trứng của ngoại tôi cho, thêm một tách trà. Mẹ tôi đọc sách, hoặc ngồi bên cửa sổ và bà nhận xét những người qua đường để cho tôi vui. Bà bịa đủ chuyện để diễu cợt. Nếu thấy một người đi thật chậm chạp, thảm não, bà nói : “Hèm! Anh ta về nhà chắc phải ăn rau cho qua bữa tối và anh ta phải ngán lắm”. Kẻ nào đi vụt qua mau, bà bảo : “Ông này vừa uống một liều thuộc xổ”. Đến một kẻ khác dáng điệu bệ vệ thì bà lại nói : “Coi này, anh chàng kể cũng lịch sự nhưng hiện giờ đang bận tâm vì cái lỗ rách ở dưới đũng quần”. Mẹ tôi cứ diễu lối đó và tôi cứ ngồi hả họng để cười.

Thêm một tuần nữa trôi qua, vẫn không có tin tức gì của anh tôi cả. Nếu tôi không quá bé bỏng và nếu tôi bén nhạy hơn trước nỗi âu lo của bà thì tôi có thể đoán biết những gì rồi sẽ xảy ra. Tôi phải chú ý rằng mấy ngày qua bà cứ ngồi yên, vẻ mặt xa vắng, nhìn ra cửa sổ không còn muốn lo việc bếp núc nữa và càng ngày càng câm lặng hơn lên. Đáng lẽ tôi phải quan tâm khi các người chủ hiệu may giao đồ cho mẹ tôi làm đã nhận thấy bà làm hỏng và không chịu giao hàng nữa. Rồi họ lấy lại bàn máy vì mẹ tôi đóng tiền trễ trong lúc tôi không còn dạy được nữa để lãnh năm đồng xi linh mỗi tuần. Đáng lẽ tôi phải nhìn thấy giữa bao nhiêu sự việc đó mẹ tôi vẫn cứ thản nhiên, không một chút xúc động nào.

Rồi bà Cạc-Ty thình lình từ trần. Bà đã đau ốm trong một thời gian nhưng rồi sức khỏe suy sụp rất mau. Lúc ấy có nhiều ý tưởng chợt hiện trong đầu óc tôi. Giá ông Cạc-Ty chịu cưới mẹ tôi thì thật là tuyệt. Hoa-Ly và tôi lại là bạn thân. Được vậy, tất cả vấn đề khó khăn mẹ tôi đang phải trải qua sẽ được giải quyết êm đẹp. Sau khi chôn cất bà Cạc-Ty được vài ngày tôi bảo với mẹ tôi rằng:

- Mẹ nên thu xếp để thường xuyên đến viếng thăm ông Cạc-Ty đi. Con chắc ông ấy mà cưới được mẹ thì ông ta rất sung sướng.

Mẹ tôi đáp lại với một nụ cười xanh xao:

- Thôi con, hãy để cho người đàn ông đang đau khổ ấy có thì giờ thở với chứ.

- Nếu mẹ ăn mặc sửa soạn một chút, trang điểm như là ngày xưa, con chắc ông ta sẽ cưới mẹ liền. Nhưng tại mẹ không cố gắng gì hết, mẹ cứ ngồi mãi ở trong gian phòng tiều tụy với vẻ mặt thảm não quá.

Tội nghiệp, người mẹ đáng thương của tôi. Tôi đã hối hận vì đã nói lên những lời như thế. Tôi đâu hiểu sự ăn uống thiếu thốn kéo dài nhiều ngày đã làm mẹ tôi kiệt sức hẳn rồi. Thế mà qua ngày sau đó, với một cố gắng khác thường, mẹ tôi vẫn gắng lo việc bếp núc.

Lúc ấy, vào dịp nghỉ hè. Từ mỗi sáng sớm tôi đã đến nhà của ông Cạc-Ty, với cái ý định trốn cho khuất mắt cảnh nghèo cùng cực của gia đình tôi. Hôm ấy, họ mời tôi ở lại dùng bữa trưa, nhưng linh tính tôi buộc tôi về nhà tìm gặp lại mẹ. Mới đi được một đoạn đường tôi gặp nhiều đứa trẻ nhỏ ngăn tôi lại bảo:

- Mẹ mầy điên rồi.

Tôi có cảm tưởng như vừa bị ai tát mạnh. Tôi hỏi:

- Nói cái gì vậy?

Một đứa gái nhỏ bảo tôi:

- Thiệt đó, bà ta đi đến gõ cửa từng nhà rồi lấy từng cục than ra để chia cho họ và bảo là quà sinh nhựt cho lũ trẻ con. Mày lại hỏi mẹ tao xem.

Không còn muốn nghe gì nữa, tôi vội chạy ngay về nhà, leo lên cầu thang, xô cửa bước vào. Tôi đứng yên lặng một lát lấy lại hơi thở và nhìn chăm chú mẹ tôi. Đó là buổi trưa mùa hè, trời nắng và nóng ngột ngạt. Mẹ tôi vẫn ngồi theo như lệ thường ở bên cửa sổ. Bà quay đầu lại từ từ nhìn tôi, vẻ mặt xanh xao bối rối. Tôi gần như kêu to lên:

- Mẹ!

Bà hỏi lại tôi với giọng lạc lõng:

- Cái gì vậy kìa?

Tôi vội chạy đến quì gối bên bà, úp mặt vào những nếp áo của bà rồi nức nở khóc. Vừa vuốt mái tóc của tôi, mẹ tôi dịu dàng:

- Nào, nào, con có chuyện gì sao con?

Tôi kêu lên trong tiếng khóc:

- Mẹ đau rồi mà!

Mẹ tôi trả lời với giọng an ủi:

- Nào có gì đâu, thật đó con à.

Giọng bà có vẻ mơ hồ, có vẻ âu lo…

- Không, không, con nghe nói mẹ đã đến gõ cửa từng nhà…

Rồi không thể nói hết câu, tôi lại nức nở. Mẹ tôi thì thầm:

- Mẹ tìm anh Sít-nê con. Người ta đem giấu nó rồi.

Bây giờ tôi hiểu những đứa trẻ ngoài đường đã nói sự thật.

- Mẹ ơi, mẹ đừng có nói như thế, con van mẹ mà. Để con đi tìm một người thầy thuốc.

Bà vẫn vuốt ve đầu tôi và bảo:

- Bọn nhà Cạc-Ty biết rõ anh mày ở đâu nhưng đã đem giấu nó rồi.

Tôi kêu to lên:

- Mẹ đừng nói vậy, mẹ ơi, để con đi tìm thầy thuốc.

Tôi vừa đứng dậy, đi về hướng cửa, mẹ tôi nhìn tôi với vẻ mệt mỏi:

- Đi đâu đó con?

- Con tìm ông thầy thuốc, con về ngay mà.

Mẹ tôi không nói lời nào, nhìn tôi với vẻ đăm chiêu. Tôi vội xuống nhà vào gặp người chủ phố. Tôi nói:

- Mẹ cháu đau nặng, cháu phải đi tìm thầy thuốc bây giờ.

Bà chủ phố bảo:

- Có đi gọi rồi.

Người thầy thuốc ở khu phố là một ông già khó tính, sau khi nghe bà chủ phố kể lại câu chuyện, ông ta khám qua mẹ tôi rồi bảo:

- Bà ta điên rồi. Cho vào dưỡng trí viện thôi.

Rồi ông kê một cái toa, ghi chú mẹ tôi vì bị ăn uống thiếu thốn mà lâm vào tình trạng ấy. Để an ủi tôi, bà chủ phố bảo:

- Thôi vào nhà thương là tốt, ở đó người ta cho ăn uống đầy đủ.

Bà giúp đỡ tôi mặc áo vào cho mẹ tôi và thu dọn ít đồ đạc đem theo. Mẹ tôi vâng lời như một đứa trẻ. Bà suy yếu đến nỗi gần như không còn chút ý chí nào. Chúng tôi ra khỏi căn nhà trong khi người lớn cũng như trẻ con bu ở trước cửa nhìn mẹ con tôi với vẻ sợ hãi.

Bệnh viện cách đó một cây số rưỡi. Mẹ tôi vừa đi vừa bước lảo đảo như người say rượu mặc dù tôi đã đỡ bước cho bà. Mặt trời vào buổi xế trưa chói chang trên đầu. Nhiều người đi đường cứ tưởng mẹ tôi say rượu nhưng về phần tôi thì tôi thấy họ chập chờn như những ma quỷ trong giấc chiêm bao. Mẹ tôi không nói lời nào, nhưng hình như bà cũng biết đang đi về đâu nên tỏ ra ý vội vàng mong cho chóng đến. Vừa đi tôi vừa tìm lời để an ủi bà, và bà mỉm cười nhưng suy yếu quá không sao nói được. Khi đến bệnh viện, một bác sĩ trẻ cầm lấy tay bà dắt vào. Sau khi đọc xong mảnh giấy của người thầy thuốc khu phố, ông ta dịu dàng nói với mẹ tôi:

- Tốt lắm, bà hãy đi vào ngõ này.

Mẹ tôi nghe theo một cách ngoan ngoãn. Nhưng lúc những cô khán hộ dẫn bà đi vào thì bà bỗng quay ngoắt lại đột ngột cảm thấy khổ tâm về nỗi xa tôi. Tôi cố gắng nói một giọng vui vẻ:

- Đến mai, con lại gặp mẹ.

Bà để cho họ dẫn đi, cứ quay nhìn tôi với vẻ lo lắng. Khi bà đã khuất, người bác sĩ quay lại tôi và hỏi:

- Còn cháu, bây giờ cháu định thế nào?

Vốn đã quá sợ những viện cô nhi, tế bần, tôi trả lời lại ông ta một cách lễ phép:

- Dạ được, cháu về ở với dì cháu.

Ở nhà thương ra, nỗi buồn làm tôi ngơ ngẩn. Đồng thời tôi cũng cảm thấy an ủi nghĩ rằng mẹ tôi vào dưỡng trí viện sẽ được săn sóc còn hơn là ngồi cô độc ở nhà chẳng có gì ăn. Nhưng tôi không bao giờ quên được cặp mắt nhìn đau đớn của mẹ tôi khi bị người ta dẫn vào bệnh viện. Tôi nghĩ ngợi mãi về những gì đã khiến tôi yêu quý mẹ tôi, tôi nghĩ đến tính vui vẻ của bà, đến sự dịu dàng, đến tình yêu thương của bà đối với chúng tôi.

Hôm ấy tôi không đi ngay vào nhà, tôi không thể nào làm vậy. Tôi ra phía chợ dòm ngó những đồ bày bán cho đến xế chiều. Khi tôi phải trở lại nhà tôi thấy nó thật trống vắng và có cảm tưởng như nghe một lời quở trách. Trên một chiếc ghế đặt một chiếc thau đổ nước lưng chừng trong đó mẹ tôi ngâm hai chiếc áo của tôi và một bộ đồ của bà. Tôi đi lục soát khắp nơi, chỉ còn tìm thấy trong tủ đồ ăn nửa gói trà thôi. Không còn một thức gì khác để bỏ vào bụng. Tôi lại sục sạo ở trên lò sưởi, tìm gặp túi tiền mẹ tôi cất đấy trong đó có một xu rưỡi, mấy cái chìa khóa và mấy mảnh giấy cầm đồ. Ở một góc bàn còn sót lại vài cây kẹo mà bà đã mua cho tôi. Tới đó, tôi không thể nào nén được, và òa lên khóc.

Gần như kiệt lực bởi những xúc động trong ngày hôm ấy, tôi chìm vào trong giấc ngủ mê mệt. Hôm sau, tỉnh giấc, tôi cảm thấy nỗi trống vắng lạ thường đè nặng gian phòng. Mặt trời đã lên tràn ngập sàn nhà như làm sự vắng mẹ tôi thêm rõ ràng hơn. Lát sau, bà chủ phố lên bảo tôi có thể cứ ở lại đấy cho đến khi nào bà tìm được người thuê khác, và nếu đói lắm thì hãy xuống nhà nói cho bà hay. Tôi cám ơn bà chủ phố, thưa rằng anh tôi khi về sẽ trang trải hết tiền nợ cho bà. Nhưng tôi không dám xin bà một thức ăn nào, vì tôi cảm thấy mắc cỡ.

Qua ngày sau đó tôi không thể đến thăm mẹ tôi được như tôi đã hứa. Không đến thăm được, điều đó làm tôi bối rối lạ lùng. Nhưng bà chủ phố đã gặp bác sĩ và ông ta bảo cho bà hay rằng mẹ tôi đã được đưa vào trong dưỡng trí viện Kên-Hiu (Cane Hill). Cái tin khá buồn thảm này làm cho lương tâm của tôi an ủi phần nào, vì dưỡng trí viện ở cách xa trên ba chục cây số ngàn và tôi không có cách nào tới được. Tôi nghĩ anh tôi rồi sẽ trở về và chúng tôi cùng đi thăm. Trong mấy ngày đó tôi chẳng gặp ai quen biết và tôi cũng không mở miệng để nói với ai lời nào. Vào buổi sáng sớm, tôi bước lén lút ra khỏi gian nhà và suốt cả ngày lang thang đây đó. Tôi cũng xoay xở tìm được chút gì bỏ bụng, vả lại nhịn đói một bữa cũng chẳng có gì là gớm ghê đâu. Một buổi mai nọ tôi rón rén xuống cầu thang, bà chủ phố đã tình cờ bắt gặp và hỏi tôi ăn gì chưa. Thấy tôi lắc đầu, bà nói bằng giọng nặng trịch:

- Vậy thì xuống đây.

Tôi cũng tránh gặp gia đình của ông Cạc-Ty vì tôi không muốn cho họ biết rõ tình trạng mẹ tôi. Tôi trốn mọi người như kẻ có tội phải sống lén lút.

Mẹ tôi đi được một tuần và tôi cứ lê cuộc sống như vậy. Nỗi lo âu duy nhất của tôi là bà chủ phố, vì nếu anh tôi không về thế nào bà cũng báo cáo với nhà chức trách để họ đem tôi nhốt vào trong viện Cô nhi. Tôi phải luôn luôn lánh mặt để khỏi gặp bà, nhiều lúc phải ngủ ngoài đường không dám về nhà. Tôi làm quen được mấy người thợ củi sống trong ngõ hẻm ở sau khu phố. Đó là những người hết sức bi thảm, chui rúc trong một kho chứa tối tăm, nói chuyện với nhau bằng những lời lẽ gần như thì thầm, cả ngày cưa gỗ, cắt gỗ, để bó lại từng bó nhỏ đem bán với giá nửa xu. Tôi đứng lê la trước cửa coi họ làm việc. Họ lấy một khúc gỗ lớn rộng độ chừng ba mươi phân, cưa thành từng mảnh dày hai ba phân, rồi lại cắt nhỏ thành từng miếng vụn. Họ cưa xẻ gỗ thật mau và tôi nhìn họ làm việc một cách say mê. Rồi tôi mon men vào giúp đỡ họ. Họ tìm mua những ván rời tháo bỏ các nơi chở về kho chứa, trữ lại, công việc mất khoảng một ngày, rồi qua ngày sau cưa gỗ. Vào ngày thứ sáu, thứ bẩy, họ mới bán củi. Điều đã làm tôi ưa thích ở đấy là cái không khí tập thể bao trùm nơi họ làm việc. Những người dễ thương và ít lời đó tuổi cũng xấp xỉ bốn mươi nhưng trông già nua hơn nhiều. Người chủ trong đám có lỗ mũi đỏ của người mắc bệnh đi tiểu ra đường và nơi hàm trên chỉ còn mỗi cái răng cửa. Tuy vậy vẻ mặt ông ta bao giờ cũng dịu dàng. Ông có lối cười khó coi, hô cái răng nhọn ra ngoài một cách kỳ lạ. Khi thiếu tách để uống trà, ông lấy một hộp sữa không, rửa sạch, và mỉm cười nói : “Kể ra nó cũng được việc đấy chứ”. Người bạn của ông mặc dù dễ thương nhưng thật ít lời, màu da vàng ngâu, đôi môi thật dày và nói thật chậm. Vào khoảng một giờ, người chủ quay lại, hỏi tôi:

- Chú bé đã ăn món bánh bằng váng sữa mặn chưa đấy?

Tôi đáp:

- Cháu cũng thường ăn đấy ạ.

Liền đó ông kêu một tiếng vui vẻ, mỉm một nụ cười và đưa cho tôi hai xu để chạy tới một hàng quán góc phố mua một xu váng sữa mặn và một xu bánh. Người chủ quán này mến tôi và bán rất rẻ. Sau khi cạo rửa miếng sữa mặn xong chúng tôi cho thêm nước vào, bỏ tiêu và muối. Đôi khi người chủ còn trộn thêm vào cục mỡ và một củ hành thái nhỏ. Tất cả món ấy thêm vào với nước trà nóng làm thành bữa ăn tuyệt hảo.

Dù tôi không bao giờ xin tiền họ nhưng trước cuối tuần người chủ cho tôi sáu xu khiến tôi ngạc nhiên thú vị chừng nào. Người bạn cùng làm có cái màu da vàng ngâu thường hay bị chứng động kinh và người chủ phải tìm giấy đốt ở dưới mũi anh ta cho hồi tỉnh lại. Đôi lúc anh lên cơn nặng sùi cả bọt mồm bọt miếng và cắn chặt lưỡi nhưng khi tỉnh lại anh có vẻ gì xúc động và xấu hổ nữa. Những người thợ củi này bắt đầu việc từ bảy giờ sáng cho đến mãi bảy giờ chiều, đôi khi họ còn làm trễ hơn nữa và tôi thường cảm thấy buồn khi họ khép kho chứa lại để trở về nhà. Một buổi chiều nọ, người chủ có ý định cho chúng tôi mua vé hai xu vào dạo vòng ngoài trong rạp ca nhạc phía nam thành phố. Người bạn cùng làm và tôi đã rửa ráy xong, đứng đợi ông ta. Tôi rất nôn nóng đi xem vì tuần đó gánh Cạc-nô (Karno) trình diễn một vở hài kịch rất hay (và đó là đoàn mà mấy năm sau tôi đã gia nhập). Người thợ bạn đứng trước tôi bỗng kêu một tiếng rồi ngã lăn xuống, lại bị động kinh. Người chủ muốn ở lại nhà săn sóc anh ta nhưng anh một hai bảo chúng tôi cứ đi xem và để anh nằm dưỡng bệnh ở nhà.

Trong thời khoảng đó sự đe dọa của trường học như một ông kẹ ám ảnh tôi mãi. Thỉnh thoảng mấy người thợ củi cũng hỏi han tôi về chuyện học hành. Nghỉ hè sắp hết, họ lại thắc mắc về tôi, nên tôi đành phải đợi đến bốn giờ rưỡi chiều là giờ tan học mới đến gặp họ. Thành thử gần suốt cả ngày tôi phải lang thang một mình trong ánh sáng những đường phố không chút tình thương và cứ canh chừng đến giờ tan học để quay về lại những người thợ củi bạn hữu của tôi.

Một tối, khi tôi rón rén lên ngủ thì bà chủ phố gọi tôi. Trông bà có vẻ nóng nảy và bà trao lại cho tôi một bức điện tín trên có mấy dòng : “Sẽ đến ga Hoa-tơ-lô (Waterloo) mười giờ sáng mai. Thân mến. Sít-nê”.

Ra đón anh tôi ở tại nhà ga, vẻ mặt của tôi buồn bã hơn là vui mừng. Áo quần của tôi vừa dơ vừa rách, đôi giày há miệng và lớp vải bọc bên trong của cái mũ kết thò ra như cái váy ngắn ở dưới áo ngoài của người đàn bà. Tôi đã rửa nhờ nơi vòi nước của mấy người thợ củi để khỏi nhọc sức mang một thùng nước lên đến căn phòng ở tầng thứ ba và phải đi ngang qua bếp của bà chủ phố. Khi tôi gặp anh Sít-nê, tai tôi, cổ tôi không sạch sẽ mấy. Anh nhìn ngắm tôi và hỏi:

- Có việc gì xảy ra sao?

Tôi không thể nói dài dòng:

- Mẹ bị điên rồi và đã gởi vào trong dưỡng trí viện.

Mặt anh tối sầm nhưng anh tự trấn tĩnh được.

- Em sống ở đâu?

- Vẫn ở nhà cũ.

Anh quay lại để dọn các hành lý và tôi thấy anh xanh xao gầy gò. Anh gọi chiếc xe và mấy người phu chất những đồ đạc của anh lên mui, đặc biệt có một thùng chuối. Tôi hỏi:

- Của mình hở anh?

Anh gật đầu, bảo:

- Chuối còn xanh lắm, phải đợi một hai ngày nữa mới ăn được.

Trên quãng đường về anh bắt đầu hỏi tôi về chuyện mẹ. Tôi xúc động quá nên kể cho anh chẳng mạch lạc gì, nhưng đủ cho anh thấy rõ thực trạng gia đình. Anh bảo anh bị đau phải dưỡng bệnh tại Cáp và chuyến về này anh đã dành được hai mươi đồng liu đem về cho mẹ. Anh có được món tiền ấy là nhờ anh đã tổ chức xổ số ở trong binh lính. Anh lại nói về dự định của anh. Anh không muốn đi biển nữa mà muốn trở thành kịch sĩ. Với số tiền nhỏ dành dụm được này, chúng tôi có thể sống được chừng hai mươi tuần và trong cái thời khoảng ấy anh sẽ tìm một chỗ làm trong các đoàn hát. Chuyến trở về nhà bằng xe của anh em tôi với một thùng chuối có một tác động đặc biệt đối với bà con láng giềng cũng như đối với gia đình chủ phố.

Ngay chiều hôm ấy anh tôi mua sắm cho tôi, trang bị trở lại từ đầu đến cuối, và tối hôm ấy chúng tôi mua vé để đi xem hát. Suốt buổi trình diễn anh tôi cứ lặp lại mãi : “Tưởng tượng hôm nay có mẹ cùng dự thì vui biết là chừng nào”. Tuần ấy chúng tôi đến dưỡng trí viện thăm mẹ. Chúng tôi ngồi đợi ở trong phòng khách và sự chờ đợi lâu dài trở nên khó chịu lạ lùng. Tôi còn nhớ lại nghe một tiếng động ở nơi ổ khóa và tiếng mẹ tôi bước chân vào phòng. Bà có vẻ xanh, đôi môi bà tím và dù nhận ra chúng tôi, sắc diện của bà không có vẻ gì là phấn khởi cả. Sự vui tươi xưa đã biến mất rồi. Một cô khán hộ đi theo sau bà, cô vốn hiền lành nhưng lắm chuyện, cứ đứng túc trực tại chỗ chực xen vào trong câu chuyện giữa mẹ con tôi. Cô nói:

- Tiếc quá, lại nhè đến thăm vào những lúc như thế này vì sức khỏe của bà ở đây chưa được khá lắm. Có phải vậy không, hả bà?

Mẹ tôi liếc nhìn về phía người nữ khán hộ với một dáng vẻ lịch sự và mỉm nụ cười như muốn quay lại về phòng. Cô khán hộ nói:

- Hôm nào bà ta khá hơn thì sẽ lại thăm.

Cuối cùng cô ta quay vào và mẹ con tôi được ngồi với nhau. Mặc dầu anh tôi cố gắng mọi cách để làm cho mẹ vui lòng, anh kể chuyện may của anh trong công việc làm, giải thích vì sao anh phải vắng mặt khá lâu, bà chỉ yên lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu với vẻ bận rộn lạc loài. Tôi bảo mẹ tôi thế nào bà cũng sớm lấy lại được sức khỏe. Bà trả lời tôi bằng giọng tiếc rẻ:

- Chắc vậy, nhưng nếu con cho mẹ được mỗi một tách trà vào bữa trưa đó thì mẹ đã khá lắm rồi.

Sau đó bác sĩ bảo cho anh tôi biết mẹ tôi suy nhược thần kinh vì thiếu ăn nhiều ngày, bà cần phải được săn sóc nhiều hơn, và dù có những phút giây tỉnh táo cũng phải đợi nhiều tháng nữa mới bình phục được. Và trong nhiều ngày sau đó tôi cứ bị ám ảnh mãi bởi câu mà mẹ đã nói với tôi : “Nếu con đã cho mẹ được tách trà, mẹ đã khỏe rồi”.

Chương 8 (hết)

Tôi nhớ văn hào Công-Rát (Conrad) đã viết cho một người bạn rằng cuộc sống cho ông ta cảm tưởng như mình là con chuột mù nằm ở góc nhà, chờ đợi giờ phút người ta đập chết. Sự so sánh ấy có thể coi như phù hợp vào biết bao nhiêu cảnh ngộ bi thảm mà chúng ta đây có thể trải qua. Nhưng trong chúng ta cũng có nhiều người gặp được một dịp sung sướng, một dịp may mắn, và đó là điều đã xảy ra cho bản thân tôi.

Tôi đã bán báo, làm thợ nhà in, bán đồ chơi cho trẻ con, thổi chai, chạy việc cho thầy thuốc v.v… nhưng trong những cuộc phiêu lưu nghề nghiệp như thế, tôi cũng như anh Sít-nê, không bao giờ quên cái đích tối hậu đời mình là thành kịch sĩ. Vì vậy, gặp được dịp rảnh nào là tôi đánh giày, chải áo tìm đến xin việc tại sở kịch nghệ Bờ-Lắc-Mo (Blackmore). Tôi đã đi lại như thế mãi cho đến ngày áo quần của tôi không cho phép tôi được xuất hiện nữa. Nhưng một tháng sau ngày anh Sít-nê tôi về, tôi được nhận vào đoàn hát. Khi được chấp thuận và hẹn ngày giờ làm việc tôi lên xe buýt về nhà, say sưa vì hạnh phúc. Người ta chịu trả cho tôi số tiền thù lao hai liu và mười xi linh mỗi tuần. Như thế, tôi đã đột ngột rời khỏi cuộc đời nghèo khổ và bước vào trong giấc mơ ôm ấp từ lâu, giấc mơ mà mẹ tôi từng nói đến với một niềm vui lạ lùng. Tôi sẽ trở thành diễn viên sân khấu. Tất cả điều ấy xảy tới đột ngột chừng nào, bất ngờ bao nhiêu. Suốt cái thời gian ngồi trên xe buýt tôi cảm thấy mình đã vượt qua được một giai đoạn thật là quan trọng. Tôi không còn là nhân vật vô danh lê lết trên các ngoại ô. Bây giờ tôi đã thuộc vào thế giới kịch nghệ. Nghĩ thế, tôi chỉ chực khóc.

Khi tôi trở về kể lại đầu đuôi câu chuyện người ta đã tiếp nhận tôi ra sao cho anh tôi nghe, nước mắt anh tôi bỗng chảy đầm đìa. Anh ngồi nơi giường nhìn ra cửa sổ với vẻ suy nghĩ, vừa lắc lư đầu và vừa gục gặc rồi nói một cách trang trọng:

- Chúng ta đang ở vào một khúc quanh quan trọng của cuộc đời mình. Ước gì có mẹ ở đây để cùng vui với chúng ta.

Tôi tiếp lời anh một cách phấn khởi:

- Anh thử nghĩ coi, họ đã chịu ký giao kèo để mình trình diễn bốn mươi tuần lễ mà cứ mỗi tuần là hai đồng liu và mười xi linh. Em cũng đã bảo ông bầu về việc giao kèo ký kết này nọ đều do anh quyết định cả, như thế mình còn có thể đòi được cao hơn. Ít ra năm này anh em mình để dành được sáu chục đồng liu là ít.

Sau khi sự phấn khởi đã dịu bớt, anh em chúng tôi nhận định là tiền thù lao hai liu và mười xi linh thật không xứng với vai trò quan trọng mà tôi nhận lãnh trong vở tuồng đó. Tôi bảo anh tôi cố gắng đòi thêm, nhưng cuối cùng ông bầu gánh tỏ ra không chút nao núng nên chúng tôi cũng thấy thế là quá tốt rồi. Anh tôi đọc hết vai kịch, giúp tôi học thuộc. Đó là một vai đáng kể, dài độ ba mươi lăm trang nhưng chỉ ba ngày tôi đã thuộc lòng. Đến ngày trình diễn để mà duyệt xét trước khi chính thức vào rạp người đạo diễn của đoàn hát tỏ ra hết sức ngạc nhiên hỏi tôi đã từng trình diễn lần nào ở trên sân khấu hay chưa. Mọi người trong đoàn tỏ ra hết sức hài lòng. Tôi chỉ còn mỗi khuyết điểm phải sửa chữa lại là hơi ngọ nguậy cái đầu và hay nhăn nhó trong khi phát biểu.

Đến khi thực sự trình diễn, vở kịch không được thành công. Các nhà phê bình sân khấu nặng lời chỉ trích, chỉ riêng mình tôi được vài lời khen. Một tờ báo viết : “Có một chi tiết đáng kể đã gỡ gạc được rất nhiều cho vở kịch, ấy là vai em bé bán báo đã gây vui nhộn và lôi cuốn được khán giả. Vai đó đã được Sạc-Lơ Sa-Pơ-Lanh, một kịch sĩ trẻ có tài thủ lấy”. Anh tôi đã mua mười hai tờ báo như vậy để mà lưu giữ. Suốt cái thời gian trình diễn hai tuần, chúng tôi vẫn ở nhà cũ vì trên phương diện kinh tế chúng tôi thấy chưa có gì thật sự bảo đảm. Vào một dịp rảnh, chúng tôi đến dưỡng trí viện thăm mẹ. Mấy cô khán hộ đều nói là mẹ tôi không được khỏe trong ngày hôm đó nên không thể nào thăm được. Họ kéo anh tôi lại chỗ khác để nói chuyện và tôi nghe anh trả lời:

- Không, tôi chắc nó không muốn đâu. (Đoạn, anh quay nhìn tôi với một vẻ mặt buồn bã) Em có muốn gặp mẹ trong biệt phòng không?

Tôi bước lùi lại, kêu lên:

- Ồ, không. Em không thể nào chịu nổi cảnh đó.

Nhưng anh tôi đến thăm mẹ, bà nhận ra được anh tôi và tìm lại được một sự tỉnh táo bình thường. Vài phút sau đó một cô khán hộ ra bảo nếu tôi muốn thăm hãy cứ theo vào và chúng tôi cùng gặp nhau ở trong biệt phòng. Trước khi anh em chúng tôi ra về mẹ tôi kéo riêng tôi ra một chỗ và bà thì thầm bảo tôi với một giọng nói tuyệt vọng:

- Nhớ đừng mất trí nghe con, nếu không họ sẽ nhốt con ở đây.

Mẹ tôi phải ở trong dưỡng trí viện đến mười tám tháng mới tìm lại được sức khỏe. Nhưng trong thời gian tôi đi trình diễn khắp nơi thì anh tôi vẫn thường xuyên đến viếng thăm bà.

Trong chuyến trình diễn đầu tiên ban Quản trị của đoàn hát bảo tôi cùng ở chung với vợ chồng ông Gờ-Rin (Green). Ông là thợ mộc của đoàn, bà phụ trách việc may mặc. Ở chẳng vui gì mà ông bà này lại còn có tật nghiện rượu. Tôi không thích ngồi ăn chung với họ, và cũng không ưa được cách ăn uống của họ. Tôi nghĩ cuộc chung sống này đã chẳng vui gì cho họ mà cũng chẳng vui gì cho tôi. Được ba tuần lễ, chúng tôi đồng ý ở riêng và bởi tôi còn quá trẻ để chung sống với các đào kép khác nên tôi phải ở một mình. Như thế, tôi sống đơn độc trong một thành phố xa lạ, một mình ở trong chiếc phòng nhỏ bé và trước khi đêm trình diễn bắt đầu tôi cũng ít khi tiếp xúc với một ai khác, tôi chỉ được nghe có mỗi giọng nói của tôi mỗi khi tôi nói mà thôi. Thỉnh thoảng tôi cũng bước vào tiệm nước mà các đào kép cũng như nhân viên của đoàn tụ tập, để xem họ chơi bi da. Nhưng tôi luôn có cảm tưởng sự tôi hiện diện làm họ không thích chuyện trò và họ cũng tìm cách cho tôi thấy rõ ràng điều ấy. Khi họ đùa cợt, nếu tôi hòa tiếng cười theo thì họ nhìn tôi một cách thật là nghiêm khắc.

Dần dần nỗi buồn xâm chiếm lấy tôi. Một tối thứ bảy khi chúng tôi đến những thành phố về phía Bắc tôi chỉ còn nghe những hồi chuông reo thảm đạm trong khi tôi dạo bước trên đường lớn. Bóng tối xuống dần, và nỗi cô độc của tôi cũng không có cách gì xoa dịu. Những ngày trong tuần tôi đi lang thang vào trong các chợ địa phương mua sắm này nọ và mua thức ăn để về cho người chủ trọ nấu nướng. Đôi khi tôi đến thuê một phòng trọ và tôi cùng ăn với gia đình chủ. Việc này làm tôi thích thú vì cách nấu ăn của người miền Bắc thật là sạch sẽ và rất ngon lành.

Tôi đi trình diễn trong vòng sáu tháng. Trong thời gian đó anh Sít-nê tôi vẫn chưa thành công trong ước vọng thành kịch sĩ nên tạm kiếm việc làm khác và được thu nhận vào bán trong một tiệm lớn. Trong số một trăm năm chục người xin vào làm, người ta chỉ chọn mỗi anh. Vậy mà anh vẫn cảm thấy đó là một sự thất bại nặng nề. Anh thường xuyên viết cho tôi để cho tôi biết tin tức về mẹ nhưng tôi ít khi trả lời thư anh, trước hết vì chữ tôi viết quá kém. Có một bức thư của anh làm tôi hết sức cảm động. Anh đã trách tôi về việc vắng bặt thư từ, gợi lại bao nhiêu đau khổ mà chúng tôi đã trải chịu cùng nhau, và những tủi nhục, những khổ nghèo ấy đáng lẽ phải làm chúng tôi gắn chặt vào nhau. Anh viết “Từ ngày mẹ của chúng ta lâm bệnh, mỗi người trong chúng ta đây chỉ còn có nhau trên cõi đời này. Em hãy thường xuyên viết thư cho anh, để nhắc nhở anh nhớ rằng anh vẫn còn có đứa em”. Thư anh thật là cảm động, và tôi vội vàng trả lời. Kể từ ngày ấy, tôi nhìn anh tôi với một tâm tình khác hẳn. Bức thư của anh làm gắn chặt thêm tình anh em giữa chúng tôi và mối tình ấy bền chặt suốt cuộc đời tôi.

Tôi đã tập thói quen để sống một mình. Nhưng tôi đã mất thói quen ăn nói đến nỗi thình lình gặp một nhân viên đoàn hát tôi thấy lúng túng một cách khủng khiếp. Tôi không thể nào tìm lại ý nghĩ cho kịp để trả lời thật thích đáng những câu người ta hỏi tôi, và khi người ta đi rồi tôi chắc họ cũng ngờ tôi mất trí. Cô đào chánh của đoàn tôi thật đẹp, thật là dễ thương và thật tử tế, vậy mà đi ở ngoài phố trông thấy cô ta đi về phía mình tôi phải vội vàng quay lưng giả bộ chăm chú nhìn trong tủ kính và tìm rẽ sang lối khác để tránh chạm mặt. Dần dà tôi không chú trọng tới sự ăn mặc, trở thành hết sức lôi thôi. Cùng đi với đoàn bao giờ tôi cũng trễ lại sau cùng, và đến phút cuối tôi mới chạy đến sân ga, tóc tai bù xù, nên thường xuyên bị trách mắng. Để cho có bạn, tôi bèn mua một con thỏ, và dừng lại một nơi nào tôi tìm cách đem nó nhốt chung vào phòng mình mà không cho chủ nhà biết. Con thỏ thật xinh nhưng không quen sống trong nhà. Bộ lông của nó vừa trắng vừa sạch đến nỗi không ai ngờ rằng nó lại có thể hôi hám đến thế. Tôi nhốt nó trong một cái lồng bằng gỗ nhỏ, giấu ở dưới giường. Bà chủ bước vào trong phòng thật là vui vẻ, mang các thức ăn cho tôi, nhưng cũng liền đó bà ta đánh hơi thấy mùi khác lạ và vội vàng bước ra ngoài với vẻ ngạc nhiên, lo lắng. Đợi bà ra khỏi, tôi phóng thích ngay con thỏ để nó vọt qua khỏi phòng. Từ đó, tôi tìm cách dạy nó biết vọt ra khỏi chuồng mỗi lần có người gõ cửa. Khi bà chủ nhà khám phá được bí mật đó, tôi bèn trình bày sự việc khiến bà cũng thấy cảm động và bà cố gắng chịu đựng chúng tôi trong một tuần lễ. Nhưng lúc tôi đến Tô-Ni Pân-Đi sau khi tôi đã trình bày cho bà chủ nhà biết rõ tài nghệ của con thỏ tôi, bà ta mỉm một nụ cười bí mật không nói năng gì. Nhưng tối hôm đó, khi tôi trở về, thì con thỏ đã biến mất. Tôi có gặng hỏi, bà chủ lắc đầu và bảo:

- Chắc là nó trốn đâu đó hay ai đánh cắp mất rồi.

Nhưng chính bà đã tìm ra một cách giải quyết vấn đề thật là công hiệu.

Sau khi trình diễn bốn mươi tuần lễ vòng quanh các tỉnh, đoàn của chúng tôi quay về trình diễn tám tuần trong vùng ngoại ô Luân Đôn. Vở kịch chúng tôi đang diễn thâu gặt kết quả hết sức rực rỡ, nên hết chuyến lưu diễn này sẽ tổ chức thêm một chuyến thứ hai độ ba tuần lễ. Anh tôi và tôi quyết định rời khỏi chỗ cũ quá sức chật chội để tìm thêm một ngôi nhà ở trong khu phố khang trang hơn nhiều. Như những con rắn, chúng tôi cũng muốn thay da, rời bỏ những vết tích của quá khứ. Có một vai phụ ở trong vở kịch trong chuyến lưu diễn sau này và tôi đề nghị với viên quản lý đoàn hát thâu nhận anh tôi thủ vai trò đó. Anh tôi đã được chấp thuận với tiền thù lao mỗi tuần là ba mươi lăm xi linh. Lần này chúng tôi được đi chung trong đoàn hát. Mỗi tuần anh tôi đều viết thư về cho mẹ, và sau chuyến lưu diễn này chúng tôi nhận được lá thư của dưỡng trí viện cho biết mẹ tôi đã bình phục rồi. Thật là một tin hết sức vui mừng. Chúng tôi sắp xếp mọi việc để mẹ tôi rời bệnh viện và về ở với chúng tôi. Để mừng sự đoàn tụ ấy, chúng tôi thuê một ngôi nhà thật sang gồm có hai phòng và một phòng khách, có một dương cầm trong phòng mẹ tôi cùng với nhiều hoa, và chúng tôi đặt một bữa ăn tối thật là sang trọng. Anh tôi và tôi ra ga đón mẹ, hớn hở sung sướng, nhưng tôi vẫn tự hỏi lòng với ít nhiều nỗi âu lo không hiểu mẹ tôi trở về lại với cuộc sống chúng tôi sẽ như thế nào, vì tôi hiểu rằng những sợi dây đã ràng buộc chặt chẽ chúng tôi như là ngày xưa không bao giờ tìm lại được.

Cuối cùng tàu đến. Chúng tôi nhớn nhác dò xét từng khuôn mặt người bước xuống từ các toa tàu. Rồi mẹ tôi đến, tươi cười bước tới một cách trầm lặng. Bà không lộ một vẻ gì xúc động khi anh em tôi gặp bà, mà đã đón tiếp chúng tôi với sự phải phép thân tình. Rõ ràng mẹ tôi cũng cần phải có thời gian để mà hòa hợp.

Trên chuyến xe ngựa ngắn ngủi từ ga về nhà, mẹ con chúng tôi nói hàng trăm chuyện. Sau phút phấn khởi dẫn dắt mẹ tôi xem nhà, xem căn phòng dành riêng cho bà, chúng tôi họp lại ở trong phòng khách, nhìn nhau nghẹn ngào. Đó là một ngày đẹp trời, căn phòng chúng tôi nhìn ra đường phố yên tĩnh, nhưng sự vắng lặng bây giờ trở thành nặng nề và mặc dù tôi cảm thấy muốn được toại lòng tôi cũng phải chống chọi lại một nỗi ngột ngạt. Người mẹ khốn khổ của tôi chỉ đòi hỏi thật ít ỏi trong cuộc đời này để được sống vui, gợi tôi tưởng nhớ lại cái quá khứ buồn thảm của mình. Và mẹ tôi là con người cuối cùng trên cõi đời này có thể tác động đến tôi như thế. Tôi tìm mọi cách che giấu những cảm nghĩ ấy. Mẹ tôi có phần già hơn và nặng nề hơn. Tôi thường lấy làm kiêu hãnh về cái dáng đi của bà, về cách ăn mặc của bà và tôi muốn đem bà đến trình diện với đoàn, nhưng bây giờ bà có vẻ xuềnh xoàng. Chừng đoán được ý nghĩ tôi bà quay lại nhìn với một ánh mắt dò hỏi. Tôi đưa tay vén mái tóc mẹ tôi một cách ngượng ngập và mỉm cười nói với bà:

- Trước khi đưa mẹ đến gặp đoàn hát, con muốn mẹ thật khỏe đã.

Mẹ tôi nhìn tôi, rồi cầm búp phấn xoa lên mặt bà vui vẻ nói:

- Mẹ thật sung sướng vì còn được sống.

Chỉ một thời gian ngắn sau, chúng tôi hòa hợp và nỗi buồn rầu của tôi cũng tan biến đi. Mẹ tôi hiểu rõ hơn chúng tôi nhiều rằng cái thời kỳ âu yếm thân mật khi chúng tôi còn ở tuổi ấu thơ giờ đã qua rồi, và điều đó làm cho bà trở thành yêu quý đối với chúng tôi hơn nữa. Trong cuộc lưu diễn mẹ tôi lo các công việc mua sắm về phần chợ búa, bà thường mua các kẹo bánh, trái cây và hoa về cho chúng tôi. Vì ở ngày xưa, trong cái thời gian khốn khổ nghèo nàn là vậy, khi có dịp đi mua gì vào chiều thứ bảy mẹ tôi cũng vẫn cố gắng mua về cho chúng tôi một bó hoa nhỏ giá độ một xu. Nhưng cũng đôi khi mẹ tôi ít nói, tỏ ra dè dặt và thái độ ấy làm tôi buồn lòng. Mẹ đã xử sự như một người khách trong nhà hơn là mẹ của chúng tôi.

Được chừng một tháng mẹ tôi muốn quay trở về Luân Đôn vì bà nóng lòng muốn lo thu dọn để khi hết chuyến lưu diễn anh em chúng tôi có một ngôi nhà tươm tất để ở. Bà còn bảo rằng đi theo đoàn hát chỉ thêm tốn kém.

Mẹ tôi thuê một căn nhà khá tốt, tìm cách trang trí thật đẹp. Hai anh em tôi mỗi tuần lãnh được bốn liu và năm xi-linh, chúng tôi cùng trích để gởi cho mẹ một liu và năm xi-linh. Hết kỳ lưu diễn lần thứ hai này anh em tôi sẽ cùng ở với mẹ trong nhiều tuần lễ. Dù rất sung sướng trong cảnh sống ấy, thâm tâm chúng tôi vẫn thích được đi lưu diễn trở lại. Hẳn là mẹ tôi cũng hiểu điều đó. Khi bà tiễn anh em tôi ở tại sân ga trông bà rất vui nhưng chúng tôi thấy bên trong như ẩn nỗi buồn. Trong kỳ lưu diễn lần thứ ba này mẹ tôi viết gởi chúng tôi có cho biết về một sự éo le do chính định mệnh gây nên là bà Lu-i, người vợ thứ hai của cha tôi đã chết ở viện Tế bần Lâm Bết, cùng nơi mà mẹ con tôi đã từng trú ngụ ngày xưa. Sau khi cha tôi qua đời được chừng bốn năm thì bà nối gót, để lại đứa bé một mình, và nó cũng được gởi đến trường học Hân Huên mà anh em tôi ngày xưa đã phải trải qua. Mẹ tôi viết rằng bà có đến thăm đứa bé, cho nó biết bà là ai, nhắc lại anh tôi và tôi đã cùng chung sống với cha mẹ nó ở phu phố cũ. Nhưng nó hầu như không nhớ được gì, vì vào thời đó nó mới lên bốn. Nó cũng không còn giữ lại một hình ảnh nào về cha nó nữa. Bây giờ nó đã lên mười. Nó mang tên của mẹ nó khi bà còn bé, và theo như mẹ tôi biết thì nó không còn ai là bà con thân thích. Mẹ tôi tả nó như một đứa bé xinh đẹp, ít nói, cả thẹn và vốn ưu tư. Mẹ tôi đem đến cho nó kẹo bánh, trái cây và hứa hẹn sẽ thường xuyên thăm nó, điều mà chúng tôi chắc chắn là bà giữ lời, mãi cho đến lúc bà bị mất trí trở lại và phải đưa vào dưỡng trí viện.

Cái tin mẹ tôi đau lại làm anh em tôi thực là khổ tâm. Chúng tôi không bao giờ biết rõ được chi tiết của sự việc ấy. Anh em tôi nhận được một thông báo vắn tắt cho biết người ta tìm thấy mẹ tôi lang thang ở ngoài đường phố miệng nói lảm nhảm. Chúng tôi không còn có thể làm gì khác hơn là phải chấp nhận số mệnh của người mẹ khốn khổ ấy. Bà không bao giờ tìm lại hoàn toàn được tâm não mình. Trong nhiều năm dài bà đã héo mòn trong dưỡng trí viện cho đến ngày anh em tôi có đủ phương tiện đưa bà chữa trị trong một bệnh viện.

Đôi khi những vị hung thần chuyên gieo tai họa cho người cũng thấy mệt mỏi và lại rũ lòng thương hại, như trong trường hợp mẹ tôi. Trong bảy năm sau của cuộc đời bà, bà đã sống trong tiện nghi đầy đủ, giữa hoa và ánh sáng, và thấy những đứa con bà đạt được danh vọng và sự giàu sang ở ngoài mọi sự mơ ước của bà.

Sạc-Lơ Sa-Pơ-Lanh 

 (Vũ Hạnh lược dịch)