Lưu Quang Vũ, di cảo thơ

Những câu thơ âm thầm

Muốn nói hết sự thực

Về đất nước của mình

(Lưu Quang Vũ)

“Mới” đây là mới được công bố. Trong sự nghiệp sáng tạo nhiều mặt của mình, Lưu Quang Vũ ký thác tâm sự sâu nặng nhất, thể hiện mình rõ nhất ở thơ. Nhưng sinh thời anh chỉ mới có một tập thơ in chung với Bằng Việt (Hương cây- Bếp lửa, 1968). Mãi đến khi anh mất (1988), di cảo thơ của anh được công bố một phần (Mây trắng đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu) người đọc mới biết rõ hơn khuôn mặt nhà thơ của Lưu Quang Vũ và hiểu vì sao thơ anh viết nhiều những năm tháng ấy nhưng không in ra được. Năm nay, nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày mất của anh, thêm những bài thơ Lưu Quang Vũ viết từ giữa thập niên 1970 được in ra trong sách “Lưu Quang Vũ – Di cảo, thơ và nhật ký” (Nxb Lao Động, 2008). Trong khối thơ di cảo mới này, tôi đặc biệt quan tâm tới những bài thơ nói về chiến tranh của anh và xin ghi nhanh lại đây những cảm nhận ban đầu, như một nén hương tưởng niệm một tiếng thơ khác biệt.

Lưu Quang Vũ sinh năm 1948, và như mọi thanh niên thế hệ mình, anh nhập ngũ ở độ tuổi hai mươi, khi đất nước có chiến tranh. Thời Vũ nhập ngũ là giữa những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.

Thời đoạn 1968 – 1972 ở Việt Nam là gì? Là chiến tranh. Chiến tranh ở hồi bi kịch nhất và bi tráng nhất. Nhưng Vũ, như các chàng trai cùng thời, khi mới nhập ngũ là vào bộ đội - trường học lớn của cách mạng, là đi đánh Mỹ, là tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của anh khi mới khoác bộ quân phục màu xanh lên mình là mang chở nhận thức và tình cảm chung của thời cuộc hồi đầu.

Công sự pháo

Phủ đầy ngụy trang xanh

Trong những chùm cây dại

Có vài cành bưởi cành chanh

Cả quê nhà

Cùng ta chiến đấu

Từng viên đạn lắp vào nòng pháo

Bồi hồi nghe hưởng bưởi lá chanh

(Lá bưởi lá chanh, 1965)

Cám ơn thời gian cám ơn hôm nay

Người chiến đấu mang nụ cười đẹp nhất

Ngày ấy ta chưa thấy hết tầm đất nước

Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta

Anh chưa biết yêu em như bây giờ

(Ngày ấy..., 1967)

Thơ Tố Hữu ngày ấy từng viết: “Hoan hô anh giải phóng quân! Kính chào anh con người đẹp nhất!”.

Thời cuộc hồi sau khắc nghiệt hơn, tàn nhẫn hơn. Giai đoạn “vào bộ đội” chuyển nhanh sang giai đoạn “đi lính”. Người lính Lưu Quang Vũ trải đời quân ngũ và cuộc chiến đã thấy ra “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều / Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”. Không phải từ những bi kịch đời riêng của Vũ mà anh có cái nhìn sẽ bị coi là “u ám, đen tối” như vậy về đất nước, nhân dân. Đọc hết thơ anh thì thấy có một cái gì đấy từ thẳm sâu trong anh đã khiến anh sớm và nhanh nhìn cuộc đời ở phía “viển vông, cay đắng, u buồn”. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, một người bạn cùng thời Vũ, trong một bài viết có nhắc lại câu thơ như đã thất lạc của Vũ: “tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài”. Cuộc chiến với sự chết chóc đổ vỡ của nó chỉ mài sắc và đào sâu thêm nhiều nữa, mạnh nữa cảm quan ấy trong anh và của anh. Từ đây, với Vũ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã là cuộc chiến tranh Việt Nam mà đối tượng bị tàn phá là đất nước Việt Nam và nạn nhân là con người Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã đi lính và đã bỏ lính. Hành động bị coi là “đảo ngũ” của anh, có thể, là do phản ứng của tuổi trẻ nơi anh đối với những bó buộc, cứng nhắc của hoàn cảnh quân ngũ. Nhưng trong thơ anh thì lý do không đơn giản như vậy, không phải chỉ do ngoại cảnh, nó đi từ tâm thức. Đọc di cảo thơ Vũ thấy khẳng định điều này. Những bài thơ lạc thời cuộc chiến được viết ra để bày tỏ một cách nhìn, một thái độ, biết là không thể đăng được nhưng không thể nào không viết ra, chúng tập hợp thành một di cảo để khi đưa ra dưới ánh mặt trời phát lộ một điều là Lưu Quang Vũ đã thay đổi nhận thức và tình cảm của mình khi đi qua cuộc chiến. Đất nước nhân dân trở thành cảm hứng lớn của thơ Lưu Quang Vũ thời chiến, được anh trình bày dưới cái nhìn thời chiến đầy khắc khoải đau đớn, tuyệt vọng và bi quan. Điều quan trọng đáng nói ở đây là anh viết những điều đó ngay khi đang trong cuộc chiến, và ngay ở tuổi đời rất trẻ.

Anh gọi những người trẻ nối nhau ra trận là “những đứa trẻ buồn ướt lạnh”. Họ đi với tâm trạng “lòng chỉ muốn yêu thương / mà cứ phải suốt đời căm giận”, cho nên “giết xong quân giặc / chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm / chỉ nỗi buồn trĩu nặng / dâng lên như đá trên mồ”. Và trong mắt những đứa trẻ buồn cầm vũ khí giết người ấy kẻ thù hiện ra thế này:

xác ngụy nằm ruồi muỗi bâu đầy

những đôi mắt bệch màu hoa dại

những gương mặt trẻ măng xanh tái

những bàn tay đen đủi chai dầy

các anh ơi, đừng trách chúng tôi

các bà mạ, tha thứ cho chúng tôi

chúng tôi chẳng thể làm khác được

quả đồi cháy như một phần quả đất

bao đời người ta đã giết nhau

với các anh tôi oán hận gì đâu

nhưng còn có cách nào khác được

Đó chính là nỗi buồn có thực đau buốt ngực Vũ. Và dù anh có nói theo truyền thông thời cuộc là phải bắn giết nhau thế để “con người được làm con người trở lại” thì thực chất anh đã hiểu khác: “nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy / những tháng năm đã mất / những nhịp cầu gẫy gục / những toa tàu đã sụp đổ tan hoang”. Sau đổ máu, tất cả đã nhuốm máu.

Cùng thời gian Lưu Quang Vũ viết những câu thơ để trong sổ tay này, ở bên kia chiến tuyến có một người lính và một nhà thơ là Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, trong đó có những câu thơ đồng vọng tâm tưởng với Vũ: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi”. Cũng cùng thời gian này, Tố Hữu có tập thơ “Ra trận”: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận / Có Đảng ta đây, có Bác Hồ”.

Từ Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam 1973 đến kết thúc chiến tranh Việt Nam 1975, thơ Lưu Quang Vũ vừa trần trụi hiện thực vừa mong manh dự cảm. “Hòa bình đến mong manh / Nhiều tin đồn mà chẳng có gì ăn”. Trong một bài thơ viết năm 1973 nhan đề “Nơi tận cùng”, Vũ viết:

Nơi tận cùng mọi con đường

Một chiếc mũ rách

Úp trên nấm mồ sỏi cát

Nơi tận cùng mọi con đường

Pho tượng đá cụt đầu đứng sững

Nơi tận cùng hoàng hôn

Trên vỏ chai trống rỗng

Trước đó, Vũ đã lập hồ sơ mùa hạ 1972, đã dựng một Guernica bằng thơ về Khâm Thiên dưới bom B52. Cái năm 1972 kinh hoàng, một mùa hè đỏ lửa. Bản hồ sơ ngày đó của anh đến hôm nay vẫn còn là một tài liệu lịch sử của tư tưởng và tâm hồn, không chỉ của một con người, một nhà thơ, mà còn của một thời đại, một giống nòi.

những siêu nhân vĩ đại

những tư tưởng lớn lao nghe đến kinh người

những thần tượng tiêu vong những đứa trẻ ra đời

bóng tối nắm tay nhau, tình yêu chưa hợp lại

thế giới lo âu đầy xấu xa phản bội

ngày càng ít những điều đáng để ta tôn trọng

nền văn minh lạ lùng của những trái bom

những đám mây gây mưa những mìn nổ từ trường

dân tộc mấy mươi năm giết và bị giết

mỗi phút sống của tôi đều có người đang chết

(Bài thơ “Hồ sơ mùa hạ 1972” này không nằm trong tập sách).

Anh sẽ nói lại những điều này trong phiên tòa anh muốn lập ra để xét xử những kẻ đã gây ra thảm họa Khâm Thiên 1972.

những kẻ nào đã gây ra tội ác

những kẻ nào để tội ác gây ra

những chính khách những nhà thơ

những bộ óc chế súng bom hủy diệt

các tư tưởng cầm quyền các nước

lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời

các ông kêu: vì hạnh phúc con người

nay con người chết đi

cái phúc ấy ai dùng được nữa!

chục chiếc B-52

không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ

không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì

bắt máu vạn dân lành phải đổ

Tôi trích thơ nhiều. Nhưng không có gì hùng hồn và thuyết phục hơn những câu thơ Lưu Quang Vũ tự nói lên những suy tư nhà thơ đã nung nấu dằn vặt từ trong cuộc chiến, nói lên ở thời tuổi trẻ không còn là trẻ nữa khi đã cầm khẩu súng lên tay và bóp cò.

Tất cả nỗi đau đớn của anh cho dân tộc dồn lại trong hai tiếng gọi tên đất nước: Việt Nam! Âm hưởng tiếng gọi này trong thơ Vũ không phải ngợi ca mà là xót xa. Có phải câu thơ anh kết bài thơ “Tiếng Việt” nguyên là “Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình” chứ không phải “thiết tha tình”? Tố Hữu ngợi ca: “Ôi Việt Nam tổ quốc thương yêu / Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều”. Chế Lan Viên ngợi ca: “Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại / Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”. Lưu Quang Vũ thì xót xa: “Nước Việt thân yêu nước Việt của ta / sao người phải chịu nhiều đau đớn thế / thân quằn quại mọi tai ương rách xé”. Anh kêu lên “Việt Nam ơi” với cõi lòng rách nát khi thấy tổ quốc mình bị trở thành miếng mồi cho các thế lực xâu xé, băm vằm. “Tất cả sẽ ra sao / Mảnh đất nghèo máu ứa? / Người sẽ đi đến đâu / Hả Việt Nam khốn khổ? / Đến bao giờ bông lúa / Là tình yêu của Người?”. Những câu hỏi của anh không chỉ đặt ra trong cuộc chiến, khi chúng được đọc hôm nay. Bởi từ tháng 5. 1975 Lưu Quang Vũ đã tỉnh táo, rất tỉnh táo, giữa cơn nồng nàn cảm xúc chứng kiến cuộc chiến cuối cùng cũng đã chấm dứt, dự báo công việc thời hậu chiến: “Sắp tới là những ngày khó nhất”. Khó, vì sau đổ vỡ phải dựng xây, sau ngăn cách phải hàn gắn, và nhất là sau máu đổ không được để nhạt máu, “máu con người không phải thứ bán mua”.

Lưu Quang Vũ nhìn cuộc chiến như vậy là với tất cả tinh thần công dân và thi sĩ. Người công dân trong anh không cho anh lảng tránh sự thật đau thương của đất nước mình. Người thi sĩ trong anh không cho anh viết những câu thơ nhàn nhạt, dửng dưng trước nỗi đau của nhân dân mình. Thơ Vũ nồng nàn, có lúc là nồng nã, nhưng ở những bài thơ viết trực diện cuộc chiến giọng thơ anh đã nhiều khi nấc lên, uất nghẹn và uất hận. Những bài thơ di cảo của anh thường dài, đọc chúng thấy như một tiếng nói thốt ra liền một mạch, nói gấp gáp, dồn dập, dâng lên cao trào, đạt đến nốt cao nhất của cảm xúc rồi vỡ ra gay gắt, và đọng lại ở cuối bài là một nỗi niềm tê tái và xót xa. Con chữ của anh ở đây trực diện và thẳng băng, không còn những hình ảnh bóng bẩy, những từ ngữ đẹp đẽ. Anh nói và anh nói, tiếng thơ nằm trong cung bậc của giọng nói và cường độ của cảm xúc. Đọc những câu thơ, bài thơ đó, ngỡ như dừng lại giữa chừng là gục ngã, là đau đớn không thể nào chịu nổi, cứ phải đọc tiếp, đọc hết, để nỗi đau thấm sâu vào tận tâm can. Anh có một tâm hồn nhạy cảm và dễ tổn thương, “anh muốn ác mà không sao ác được / cứ yêu thương chờ đợi ích gì không?”. Trong cuộc chiến, hơn một lần, anh thú nhận trong thơ mình bất lực không cách gì che chở, cứu đỡ được cho đất nước, nhân dân trước cơn đổ máu không biết để làm gì. Nhưng anh xác nhận tư cách nhà thơ của mình là người đập cửa, người đi mở những cánh cửa, cho con người đến với/đến bên con người, không hận thù chia cắt.

Người nổi gió. Người đập cửa. Người mở cửa. Đó chính là Lưu Quang Vũ. Sứ mệnh của nhà thơ anh đã xác định cho mình từ những ngày chiến tranh:

anh hãy đập vào ngực mình giục giã

hãy nổi gió cho cánh người rộng mở

và mai sau, sẽ có những nhà thơ

đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ

họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa

không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ

bởi vô biên là khát vọng của con người

Hai mươi năm sau ngày anh mất ở tuổi bốn mươi (29/8/1988), đọc những bài thơ anh viết tuổi hai mươi thấm đầy máu và lửa và nước mắt, tôi gọi Lưu Quang Vũ là nhà thơ nhân dân, nhà thơ yêu nước. Danh hiệu này không dễ gọi cho nhiều nhà thơ.

Hà Nội 15. 8. 2008

Thơ Lưu Quang Vũ (di cảo 1972-1975)

CƠN BÃO

Những năm nhà nào cũng thiếu người

làng mạc ruộng vườn vắng bặt con trai

chúng tôi đi

cơn bão dữ thổi hai đầu đất nước

tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất

đều trôi qua trong bụi xám chiến hào

triệu con người lên sống rừng sâu

khoét núi làm đường, chặt cây nhóm lửa

võng bạt, lán tranh, đất bùn nhầy nhụa

những đường dây, binh trạm, những sư đoàn

những sinh viên đi lái xe tăng

những dân chài trở thành pháo thủ

kế toán, thợ nề, nông trường viên, thợ mỏ

thành lính gỡ mìn và xung kích đâm lê

chúng tôi đào hào bám giữ đảo xa

gánh lên núi ngàn cân pháo nặng

chúng tôi lao máy bay mình vào máy bay của giặc

chúng tôi bắc cầu trong chớp lửa bom bi

những đội quân hốc hác lầm lì

xông lên đồi cao, lăn, toài, ném, bắn

nấp đỡ, gào la, mặt mày cháy xém

những vết thương rách nát máu bầm đen...

sự tàn khốc tận cùng

sức dẻo dai kỳ lạ

cơn bão lớn mười mấy năm chưa dứt

bao lớp người vẫn nườm nượp ra đi

từ đâu từ bao giờ

năm 60 năm 54?

từ Hướng Điền từ Phú Lợi?

hay từ lúc ngăn đôi dòng Bến Hải

viên tướng Mỹ đầu tiên xách cặp tới Đông dương?

hay từ lâu hơn, những thế kỷ xa xăm

những đạo quân Nam Hán, Nguyên Mông

những ranh giới phân tranh Trịnh, Nguyễn?

Chưa bao giờ đất tan hoang đến thế

những chuyến tàu chở đầy lính Mỹ

quần áo mới tinh, súng đạn đầy người

bom lân tinh và thuốc giang mai

cánh trực thăng ầm ầm quạt gió

ụ cát ngổn ngang, rào gai tua tủa

dải đất hẹp, mùa hè gió lửa

giành giật nhau từng viên gạch chân tường

một bên là con trai Thanh Hóa, Thái Bình

một bên là con những bà mẹ Thừa Thiên, Phan Thiết

những sinh viên Sài Gòn

những sĩ quan Đà Lạt

những đội quân mang tên dã thú

những tiểu đoàn không còn sót một ai

những mô đất con đổi bằng mạng trăm người

bằng pháo kích, lưỡi lê, bằng chân tay vật lộn

chúng tôi nằm dưới đường hào ngập nước

xa mọi người, xa mẹ, xa quê hương

ai bảo chúng tôi là tuổi trẻ tươi xanh

với mũi lê, với phát đạn đầu tiên

chúng tôi đã không còn trẻ nữa

từ bao giờ và còn bao giờ nữa

những quy luật tàn khốc của loài người

lý lẽ của súng đạn

những mục đích tốt đẹp

những mưu đồ xấu xa

những ý tưởng quá đà

những ngẫu nhiên tai ác

cơn bão lớn, lấp vết thương của đất

chúng tôi là triệu viên đá trên đê

mai đây bão táp lùi xa

những lớp người sau bình tâm nhìn lại

gọi chúng tôi là những người vĩ đại

hay chỉ là những thế hệ đáng thương?

sẽ xuýt xoa thán phục biết ơn

hay kinh hãi trước bạo tàn bắn giết?

tất cả chẳng có gì nói được

chẳng có gì gần gũi với chúng tôi

bằng một chiếc thìa gọt bởi cành cây

một chiếc ca thô sơ bằng vỏ đạn

chúng tôi làm dưới chiến hào bụi bậm

một dòng thư viết vội gửi mẹ già

một giấc mơ chợp ngủ thấy quê nhà

một tình yêu chúng tôi chưa được sống

một khu vườn chúng tôi chẳng kịp qua...

Bao tháng năm vô tận sẽ phai nhòa

đất đổi khác, mọi người rồi cũng khác

hãy quên chúng tôi đi

như quên quá khứ nặng nề

hãy quên chúng tôi đi

để chúng tôi được yên lặng trở về

để chúng tôi được hóa thành bụi đất

thành mưa rào trên xứ sở yêu thương.

NHỮNG ĐIỀU XỈ NHỤC VÀ CĂM GIẬN

những điều xỉ nhục và căm giận

một dân tộc đã sinh ra

Trần Ích Tắc Lê Chiêu Thống

Hoàng Cao Khải Nguyễn Văn Thiệu...

những điều xỉ nhục và căm giận

một đất nước luôn có kẻ dẫn đường

cho người ngoài kéo đến xâm lăng

cho những cuộc chiến tranh

đẩy con em ra trận

những điều xỉ nhục và căm giận

một xứ sở

nhà tù lớn hơn trường học

một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới

có những cái đinh để đóng vào ngón tay

có những người Việt Nam

biết mổ bụng ăn gan người Việt

một đất nước

đến bây giờ vẫn đói

không có nhà để ở

không đủ áo để mặc

ốm không có thuốc

vẫn còn những người run rẩy xin ăn

nỗi xỉ nhục buốt lòng

khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng

phải làm việc mệt nhoài dưới nắng

khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng

khi người mình yêu

nói vào mặt mình những lời ti tiện

khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch

bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn

khinh mọi người và tự khinh mình

như chính tay ta đã gây ra mọi việc

và tất cả không cách nào cứu vãn

nỗi xỉ nhục ngập tràn trái đất

khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh

những nền văn minh chạy theo dục vọng

những guồng máy xấu xa chà đạp con người

đi suốt một ngày

giữa rác rưởi và chết chóc

luôn thấy bị ném bùn lên mặt

nói làm sao được nữa những lời yêu

nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào

nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở

nỗi tức giận làm mặt cha méo mó

trong hận thù không thể có niềm vui

nhưng không thể sống yên, không thể được nữa rồi

nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây

nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn

nỗi tục nhục trên mỗi bậc thang lười biếng

trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt

trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng

mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm

mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên

trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường

nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng

trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thỏa mãn

cha chẳng có gì để lại cho con

ngoài một cửa sổ trống trơn

ngoài một tấm lòng tủi nhục và căm giận

ngoài kỷ niệm về những năm tàn khốc

cho một ngày con được sống thương yêu

NHỮNG ĐÁM MÂY BAN SỚM

quá khứ là một quả trứng ung

tương lai là một quả trứng đang ấp

hiện tại, chính là trái tim tôi

nhịp tiết của tim tôi là nhịp tiết của muôn đời

Paul Eluard

(Les sentiers et les routes de la poesie)

mây trắng ào ào bay trên thành phố

nắng sớm đầm đìa các ngả

đêm tan tành như khối thủy tinh đen

hầm hố muỗi ùa lên

những cô gái xõa tóc dài rửa mặt

những hiên gác tung bay quần áo rách

những đầu hè lộc ngộc trẻ bơm xe

vội vã bước người đi

nghe có gì lạ khác

huyệt bom tối còn khét mùi chết chóc

lá đã ngời nước mắt của bình minh

tôi đã nghe hơi thở của hòa bình

trên tường xiêu gạch vỡ

trong tiếng rao báo mới ngoài cổng chợ

trong mùi khói bánh mì và tiếng bánh xe lăn

hơi thở của hòa bình

run rẩy gió trên toa tàu bụi bậm

trên mệt nhọc mặt người trên vỉa hè bùn rác

trên mũi xám những con chuột chết

và hương nhài ủ rũ dưới vòm xanh

hơi thở của hòa bình

trên thân xác những cô gái tắm

trên nạng gỗ vẹo xiêu trên lừ đừ súng đạn

trên cồn cào nỗi nhớ người thân

trận mưa rào xám xịt mái tôn cong

cái thành phố thương tâm

cùng tôi sống chết

tôi nhớ hết mấy ngàn đêm dằng dặc

cả dân tộc cởi trần đứng trên bùn ướt

đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu súng trường

những lòng người chia cắt đến tan hoang

những núi rào gai và vỏ đạn

đồng bãi hoang liêu, phố phường gạch vụn

bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp

bao tha ma gò đống ngổn ngang nằm

chúng ta còn lại gì sau cuộc chiến tranh?

một tuổi trẻ sớm tàn

một đôi môi sớm tắt

không nhớ hết bao bạn bè đã chết

xác gục giữa bùn lầy

thái dương rỉ máu

không thể phủ huân chương

lên ngực trần đã rữa

cũng không thể bồi thường

bằng những đồng tiền viện trợ

làm sao có thể trở về

ngủ yên trên giường cũ

làm sao yên lành nhìn hoa nở

làm sao bình tâm ôm một người con gái

trong tay?

màu thuốc đạn trong mắt ta nguyền rủa

những nắm tay trong ngực ta phẫn nộ

mặt tương lai đẫm máu bơ phờ

mặt tương lai nặng trĩu âu lo

mọi thứ gió quay cuồng gầm xoáy

đã nổi bão trên đất này trơ trụi

máu đổ ra lênh láng tấm gương hồng

chúng ta đo bằng xương thịt của mình

những lầm lạc những bước chân vạch hướng

đất hai miền đạn hai phe cày nát

con người ơi xin con người tỉnh thức

xưa thấp bé trước nhỏ nhoi đích hẹp

nay con người vụt lớn trước bao la

nước Việt thân yêu nước Việt của ta

sao người phải chịu nhiều đau đớn thế

thân quằn quại mọi tai ương rách xé

con nghẹn ngào nhìn mẹ, mẹ yêu ơi

mẹ hãy nhận, lòng con như ống sáo

môi con bỏng, ngón tay con rỏ máu

những vần thơ con đặt dưới chân người

dải đất liền không thể mãi chia đôi

cần chi đâu cái nỏ thần khốn nạn

cái móng độc vứt trả cho rùa biển

Trọng Thủy về sum họp với Mỵ Châu

trăm người con Âu Lạc nắm tay nhau

đập vỡ mọi xích xiêng đê nhục

cho xóa sạch những niềm vui chém giết

cho ta về lợp lại mái nhà xưa

có nước lành có lửa ấm có hoa

sẽ mọc lên chiếc liềm hái khổng lồ

sẽ lớn dậy những thiên tài mới mẻ

những ban mai không tả tơi đạn xé

không ai phải chôn giấu điều mình nghĩ

không còn ai đạp lên những mối tình

không còn hàng rào biên giới nhà giam

không còn đứa trẻ móc túi nào để mọi người xúm vào đánh đập

không đứa trẻ nào bị na-pan thiêu đốt

không đứa trẻ nào không có đồ chơi

bà mẹ không đẻ ra những kẻ giết người

không còn những ngày tháng lắt lay

không ra sống không ra chết

con người là mục đích không còn là phương tiện

không còn lời ca thù hận

dậy oán hờn chia rẽ tự trong nôi

không còn ai phải xấu hổ bởi con người

không còn những văn sĩ viết thuê

không còn lũ đàn em nhố nhăng lũ đàn anh hèn hạ

những chính khách khua môi những tượng thần gian trá

những tên thổng thống và những thằng cố vấn

những điếm hoang 16 tuổi gầy còm

những sinh viên chán chường

những quan tài tuyệt vọng

cuộc đời có lý do để sống

có đập lớn cho triệu dòng điện sáng

có tình yêu cho mỗi trái tim người

biển bao la sau trận mưa dài

sắp tới là những ngày khó nhất

những người tốt không được quyền vô dụng

không được quyền ngu dốt

hãy im đi lời bịp bợm dối lừa

lũ nước ngoài xảo quyệt cút ngay ra

máu con người không phải thứ bán mua

cái bánh vẽ không no lòng ai được

bài học lớn của một thời đau xót

trên hận thù nóng bỏng tàn tro

bên vực tối đen ngòm vô lý

phút sinh nở đau xé lòng bà mẹ

phút bàng hoàng thấp thoáng bóng tương lại

một tương lai mơ ước đã ngàn đời

nơi đoàn tụ mọi con người cách biệt

nơi quây quần mọi gương mặt khác nhau

anh không đưa ra một giải đáp nào

lời giải ấy mọi người sẽ giải

anh hãy đập vào ngực mình giục giã

hãy nổi gió cho cánh người rộng mở

và mai sau, sẽ có những nhà thơ

đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ

họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa

không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ

bởi vô biên là khát vọng của con người

tiếng chuông rung vang động khắp bầu trời

tiếng búa gõ trên dương cầm to rộng

mây trắng xóa ùa lên từ vực thẳm

trái bàng tròn trên miệng trẻ thơ ngây

những người mù nằm ngủ dưới tàn cây

trên bậc cửa, người đưa thư đã tới

những đồng bãi đã mọc đầy cỏ mới

những dòng sông vỗ gọi những con thuyền

ta ra đường em nhé, ngẩng đầu lên

trên mặt đất, ta có quyền được sống

nhiều cay đắng, ta có quyền được khóc

nhưng sáng nay anh muốn thấy em cười

những mặt gầy ướt đẫm ánh ban mai

những người lính trở về từ cát bụi

những đôi lứa ôm ghì nhau không nói

nghe trống đồng bát ngát đỉnh rừng cây

làm lảo đảo cả mặt trời mê dại

những Vua Hùng tóc râu bạc phới

những bé em la khóc chào đời

ống điều dài nghi ngút khói bay

chân người dậm dập dồn trên mặt trống

điệu múa lớn của một ngày đang mọc

ngọn nửa lớn của muôn đời náo động

tâm hồn ta như sóng tới chân trời.

CHO QUỲNH NHỮNG NGÀY XA

I

Khi cách nhau hàng vạn dặm không gian

anh mới hiểu khoảng cách không đáng sợ

anh thấy em bên mình, như nghe từng nhịp thở

anh là cửa sổ con tàu nơi xứ lạ em đi

Là quê hương ngóng đợi em về

Tổ quốc là gì, nếu nơi đó không có người mình yêu dấu?

Tình yêu là gì, nếu không vì nó ta yêu thêm Tổ quốc?

Chúng ta yêu nhau, chúng ta chiến thắng

Cái đáng sợ nhất trên đời này: những khoảng cách

Những khoảng cách giữa thực tại và ước mơ, giữa những điều ta mong với những gì ta có được

* *

*

II

Em ở đâu? một thành phố xa xôi

Em đi trong những bảo tàng rộng lớn

Từ pho tượng cổ xưa đến bức tranh mới nhất

Những ưu tư kế tiếp của loài người…

Anh và con ở đây

Tháng sáu trời thật nóng

Vẫn nỗi lo thiếu ăn

Vẫn nỗi lo lũ lụt

Lửa đạn còn cháy bỏng

Những làng biên giới xa

Những con tàu Trung Hoa

Chập chờn ngoài biển

Hàng trăm năm, hàng ngàn năm trước đây

Những tàu này đã đến

Lịch sử thường lắp lại những tai ương

Thành phố xôn xao. Chỉ có trẻ con

Như thằng Mí con mình là không để ý

Anh đọc thư em

Nó ngồi ở trên sàn

Cái hộp bút nó xếp thành tàu hoả

Tờ lịch nhỏ nó gọi là tấm vé

Cầm trên tay, vui sướng đợi lên đường

Anh viết thâu đêm, đánh vật với từng trang

Rồi thao thức không sao ngủ được

Kim đồng hồ tích tắc, tích tắc

Hai tiếng động nhỏ bé kia

Hơn mọi ầm ào gầm thét

Là tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người

Đó là thời gian

Nó báo hiệu mỗi giây phút qua đi không trở lại

Nhắc nhở cái gì đang đợi ta ở cuối

Nhưng anh, anh chẳng sợ nó đâu

Thời gian – đó là chiều dài những ngày ta sống bên nhau

Thời gian – đó là chiều dầy những trang ta viết.

Bây giờ, anh mới hiểu hết câu nói trong kịch Sêcxpia:

Tồn tại hay không tồn tại?

Không có nghĩa là sống hay không sống

Mà là hành động hay không hành động, nhận thức hay không nhận thức, tác động vào cuộc đời hay quay lưng lại nó?

Anh không băn khoăn mình có tài hay kém tài, thành công hay thất bại

Chỉ day dứt một điều: làm sao với những sự vật bình thường

Những ngày tháng bình thường

Như chiếc hộp con, như tờ lịch trên tường

Ta biến thành con tàu, thành tấm vé

Những ban mai lên đường