1 - Hảo Hán ...1 ...2..... 2- Chiều Trên Đồi .......MIÊNG 3 -Cái Lưỡi Lê ...1..... Phi Ngọc Hùng 4- Chào Em Hà Nội ... Trần Thị Vĩnh Tường 5-
4 -Chào Em Hà Nội
Trần Thị Vĩnh Tường
Ngày còn nhỏ vẫn nghe bà nội nói: "Mẹ nó này, hôm nay mưa dầm cả ngày, giời đất cứ như ngoài Bắc... Để phần mẹ nó bát bún thang có cả cà cuống chả thơm bằng cà cuống Bưởi...Trong này hoa mai vàng, mạn ngược nhà mình lại sính hoa đào..." Thế nên, đất Bắc không chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ mà còn là nỗi ràng buộc rất sâu.
Ngày vào Nam còn quá bé nhớ chẳng được nhiều. Nhớ nhất làng Bưởi lối vào làng lát gạch đỏ au màu đỏ cam tươi nõn ưa nhìn. Có lần dọn nhà phải bỏ đi bao nhiêu thứ, nhưng vẫn cố giữ một bình đất nung không tráng men không hoa văn vẻ đẹp mộc mạc gợi nhớ những viên gạch Bát Tràng làng Bưởi.
Từ đầu làng đến nhà cậu phải đi qua một cái ao. Cái ao này lớn hơn ao ở Hưng Yên quê ngoại. Quanh ao trồng môt hàng dừa vốn khá hiếm ở đất Bắc. Lá dừa xòe ra như nan quạt. Những quả dừa bé tí rụng đầy mặt ao. Bờ ao viền gạch Bát Tràng. Những bậc thang cũng lát gạch ý chừng muốn chiều chuộng bàn chân các cô gái đi gánh nước. Các cô cẩn thận bấm chân trên cầu tay kéo váy đen chùng xuống bắp chân, bờ mông nhịp nhàng theo hai thùng "sắt tây", yếm nâu buộc hờ có khi tung tăng hai quả vú vừa bằng cái bánh giò. Nhìn các cô đong đưa đòn gánh trên vai thương không để đâu cho hết, hình như chẳng bao giờ có được cái thùng nào lành lặn. Mỗi bước đi những tia nước nhỏ xoè xuống nền gạch đỏ ngoằn ngoèo trông như một đàn giun. Chiều nào đi tắm ao cũng chạy loăng quăng theo dấu nước ấy.
Hai bên đuờng làng bụi dâu rực những chùm quả mầu hồng hồng đo đỏ núm phơn phớt vàng ăn vào chua chua ngọt ngọt. Quanh làng những bụi thầu dầu lá đỏ tía xoè ra như ngôi sao. Xin chị hái cho mươi quả, tách ra lấy cái nhuỵ bé tí mầu trắng trên đầu đội mũ đỏ chói. Chị kính cẩn gọi là cô tiên của Tây Vương Mẫu bị giáng xuống trần. Xếp hàng cho mươi cô tiên nằm ngay ngắn trên lá dâu xanh, tha thẩn cứ thế mà chơi cho hết buổi sáng.
Đang chơi, nghe tiếng rao của bà bán kẹo mach nha là bỏ hết cả. Tiếng bà thanh và cao như tiếng chị. Nhưng thật ra bà đã già rồi. Bà gánh hai nồi đất nung đầy kẹo mạch nha trong mầu hổ phách. Bà mặc quần chân què yếm nâu đã bạc chân đi đất. Tóc vấn vội vàng trong mảnh khăn đen. Mắt hấp háy kèm nhèm vì nắng. Khuôn mặt nhăn nheo chịu đựng. Lúc đó cứ không hiểu tại sao có những người Hà Nội cực khổ đi khắp hang cùng ngõ hẻm đổi tóc rối và vỏ quít phơi khô.
Siêng năng nhặt tóc rối đưa cho bà nội cất vào một bình sứ nhỏ dành đổi lấy những que kẹo mạch nha ngọt rất thanh. Bà cười xinh đôi môi ăn trầu hàng răng đen đã bạc. Những người đàn bà quê hương muôn thuở đều như thế. Sắc không lộng lẫy mà lòng thuần thục. Chịu bao oan khổ tình đời mà lòng không tê tái.
Một hôm, bà nội chào bà kẹo mạch nha: "Bà ơi, hôm nay đãi bà năm hào. Chào bà ở lại nhớ, mấy hôm nữa cho các cháu vào Nam". Tiếng bà kẹo mạch nha kêu toáng lên: "Lạy thánh mớ bái, sao cụ lại đi vấy?". Giọng bà nội rầu rầu: "Nào có muốn đi nhưng bố mẹ cháu đổi vào trong ấy, đâm ra phải đi theo trông cháu. Bà tính, cứ là đứt cả ruột gan chứ lại gì. Đấy, mấy ngày hôm nay đi ra đi vào chẳng còn hồn vía sất cả. Có ai muốn đi đâu bà nhể...?". Bà nội và bà kẹo mạch nha sụt sùi một lúc, nghe mãi mới hiểu là sắp đi xa, xa lắm. Chẳng thế mà đang ở đường Hồ Trúc Bạch, mẹ mang cả nhà đến Bưởi ở với ông ngoại đợi ngày đi.
Từ lúc ấy, linh tính như báo một cuộc chia ly. Thơ thẩn trong sân cố chơi với tất cả những gì có trong mảnh sân vuông ấy. Bể nước mưa xi măng chứa đầy nước dành uống quanh năm. Hai cây cau trồng hai bên lúc đó đang tuổi trổ hoa. Hoa cau từ từ nhú lên trong bẹ đến lúc vỡ tung ra, từng tia trắng ngà vươn ra như cổ tay một cô công chúa mười sáu tuổi. Chị nói cứ như đã được gặp một cô công chúa. Hoa cau trắng rụng lấm tấm xuống nền gạch đỏ trông như một chùm pháo bông.
Chạy chơi khát nước xin dì Út một gáo nước mưa. Uống phải ngửa cổ nhìn trời dốc ngược cả gáo dừa lên mặt. Dì không cho bỏ một giọt nào: "Cháu ạ, của trời cho, không được phí". Trời nắng hoa cau thơm gắt nhưng khi mưa xuống mùi hoa dịu hơn. Thích nhìn dòng nước trong thoăn thoắt từ trên trời cao rơi đan nhau trôi tuột qua tầu cau len lỏi như một đàn rắn hối hả trườn qua chùm hoa cau trắng mướt. Dì Út và chị cười khúc khích: "Hôm nay trời tắm cho công chúa". Hạt nước như những chuỗi ngọc, quấn quít lấy những bông hoa cau liên tiếp rớt xuống. Nước quấn hoa hoa đỡ nước âu yếm không rời. Dì ẵm cho hai dì cháu soi bóng trong vại nước mưa. Mặt nước sóng sánh in mây trắng rắc hoa cau lấm tấm.
Dì nói nhỏ "Cháu đi có quên dì không?". Úp mặt vào trong vại, tiếng nói rền vang "Cháu nhớ dì, cháu nhớ dì cho ăn bánh đúc..." Dì cười, đôi mắt khép lại, gò má xuân thì nhợt nhạt thiếu ăn chợt xinh ửng lên: "Cháu nói giống người bạn của dì quá". Dì ôm thật chặt, nhắc đi nhắc lại mắt thoáng mơ màng như nói với ai.
Về sau này, khi đọc hai câu thơ của thi sĩ Quang Dũng,
Vại mưa in dáng mây trời
Em soi bóng có nhớ người xa em
mới ngẩn người mang máng hiểu chắc lúc ấy dì đang chờ đợi. Một người nào đó ở phương xa cũng đang chờ đợi. Cả hai người cùng chờ ngày lại cùng soi bóng bên vại nước mưa. Chỉ những nhà thơ sống nhiều và yêu thật mới có thể làm được một câu thơ như thế. Câu thơ như một máy ảnh thu hình ảnh của thế hệ 1954. Một thế hệ phủ đầy bóng tối của chia lìa.
Hẹn mai về, hẹn mai về
Xuân rồi xuân quạnh quẽ
Người gái quê, người gái quê
Xuân buồng xuân vắng vẻ (1)
Dì có gặp lại người ấy hay cả hai cứ bên chờ bên hẹn? Không bao giờ hỏi dì vì chưa được về Hà Nội . Nhưng lúc nào chẳng gặp Hà Nội nhất là vào ngày giỗ chạp, bà nhắc chị nhớ cúng chè hoa cau.
Cũng nhớ mùi hoa móng tay, bụi hoa trồng ngay cửa sổ gần giường hai bà cháu. Hoa có mùi thơm lạ. Mãi về sau không có hoa nào thơm biêng biếc như vậy nữa. Dì Út giã lá buộc vào mười đầu ngón tay ngày mai móng ửng hồng. Hai dì cháu đang hí hửng bị ông ngoại bắt gặp mắng cho một trận nên thân. Đám con gái bị mắng suốt ngày đủ thứ tội. Làm đẹp cũng là một tội sao? Hoa móng tay mầu ngà, nở thành chùm như hoa khế. Hoa thơm nức buổi sáng sớm khi nắng chưa lên. Còn hoa buởi lại thơm vào buổi tối. Trèo lên cây bưởi hái hoa, nhà cậu không có vườn cà cho nên vắng nụ tầm xuân.
Những ngày hôm sau ấy đi với mẹ chào họ hàng truớc khi vào Nam. Bà cô mở ruột tượng, cho mẹ một đôi khuyên "cho cháu làm vốn nuôi con". Ông chú ân cần dặn dò: "Này, cháu phải nhủ con cái nhớ lấy gia phả nhà mình. Người có gốc sông có ngọn. Mẹ con nhà mày đi như thế là chú lo lắm đấy."
Các dì đã soạn sẵn đồ đoàn cho mẹ. Dì Ba gói cho mẹ một chục bát mẫu rất mỏng, mẹ chối mãi mà không được. "Chị mang theo tập cho trẻ con, ăn cơm hẩm cũng được, nhưng bát đĩa phải cho đẹp, chị ạ. Cái nết nhà mình nó như thế." Dì Năm ép mẹ tôi nhận tấm áo nhung huyết dụ, "Nghe nói trong Nam nóng lắm chị ạ. Biết đâu chị mang cái rét của mình vào Nam. Em mới luôn xong tà tối qua. Thầy bắt thùa khuy tết, thầy không cho dùng khuy bấm đâu. Em vừa may vội, vừa nhớ chị, kim đâm nát cả đầu ngón tay thế này này..."
Mẹ dắt đi phố Hàng Đào ra Hồ Hoàn Kiếm rẽ vào đền Ngọc Sơn. Lúc ấy trời đã vào thu. Cây bên bờ đã đổi màu gió chạy đuổi theo hàng trăm chiếc lá cuốn tròn. Hai mẹ con bước lên cầu Thê Húc gỗ sơn đỏ uốn cong nối bờ hồ với ngọn đồi nho nhỏ. Mẹ sẽ sàng thắp sáu nén hương. thành kính nhìn xuống mặt hồ sóng gợn. Mẹ xin gì nữa đây? Có còn lại gì đâu sau mấy năm chạy loạn. Có mỗi một tí quê hương lại sắp sửa rời xa. Hay là, mẹ khấn gửi lại cho thần Tháp Rùa chuỗi đời xuôi nguợc, ngôi nhà thấp thoáng hình ảnh gia đình, và cả bực thềm đã cùng mẹ thuộc lòng những truyện truyền kỳ từ trăm năm trước?
Chiều hôm đó hai mẹ con đi xe điện từ Hà Nội về Bưởi. Chẳng hiểu sao xe điện chạy chầm chậm rồi dừng hẳn. Hành khách xôn xao chán rồi cũng phải xuống đi bộ. Hai mẹ con cố đi cho kịp, trời đã về chiều. Bên đường, mấy bụi cây có những chùm hoa nhỏ li ti mầu đỏ. Xin mẹ chạy đến hái vội một chùm, chợt thấy một đám dây màu vàng phủ đầy. Mẹ gọi với: "Ðừng hái dây tơ hồng, bửn cả tay. Về nhanh kẻo bà mong".
Quay nhìn mẹ in nền trời màu vàng nhạt. Mẹ đứng cạnh con tàu điện bị bỏ quên bên đường tàu song song, quần trắng guốc mộc áo dài nỉ màu mơ chín, cổ đeo chuỗi ngọc xanh tóc rẽ ngôi giữa búi lơi buông sau gáy. Mẹ nhìn âu yếm, nét buồn cổ điển dịu dàng nửa như đánh liều nhắm mắt nửa như phân vân không biết đoạn đường sắp tới liệu có nuôi nổi đàn con gà vịt. Thôi thì cứ đi. Từ đó trở đi, dù lòng riêng mang tám chín cái biệt ly, nhưng xao xuyến nhất vẫn là bóng mẹ nghiêng nghiêng bên đường xe điện, chiếc bóng chưa được hưởng chút xuân vui trong lòng Hà Nội đầy gió bão.
Hôm cuối cùng, mẹ ghé lại ngôi nhà đường Hồ Trúc Bạch chào lần nữa. Không theo mẹ vào nhà, đứng chơi ngoài cổng gặm nốt cái ngô luộc. Cái cổng gỗ mộc và hàng rào nở rực những chùm tường vi. Có lẽ nhớ hoa qua màn sương mờ ảo của thời gian, nên màu tường vi Hà Nội hình như phơn phớt so với tường vi Đà Lạt. Từ trên giàn cao, hoa rơi xuống từng chùm phớt trắng phớt hồng phớt đỏ. Với mãi không sao chạm tới hoa giống như yêu Hà Nội mà không rõ vì sao. Hôm ấy vắng tiếng chim kêu, không "có tiếng oanh ca bên bờ tường vi..." như ông Song Ngọc viết. Bài hát đầm đìa tình yêu Hà Nội, dù tác giả chưa biết bao giờ.
Song Ngọc trong Nam đã thế, nói gì đến những tài hoa miền Bắc. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm nổi tiếng với nghệ thuật đen trắng "Ảnh đen trắng chụp cành tre cũng có màu xanh". Ảnh đen trắng khêu gợi được chiều sâu thẳm của cảnh và tình, dù người nghệ sĩ đã khuất rồi. Bức ảnh Hồ Gươm, vạt nắng soi thân cây gân guốc in trên mặt nước dịu dàng. Ngàn năm rồi mặt hồ chứng kiến bao mùa xuân mùa thu Hà Nội, đã chịu bao ngọn roi phũ phàng của lịch sử? Năm mươi năm nữa liệu có còn Hồ Gươm còn Tháp Bút còn tháp vua Lê? Một đêm xuân não nề chín năm sau 1954, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã biên vào tấm ảnh:
Chín giao thừa tám năm dư
Cành mai trắng mộng đêm trừ tịch xuông
Lòng sung như lòng vả, lòng vả tựa lòng sung, nỗi nhớ nhà không phải riêng ai. Hóa nên những tấm tài tử đa tình ngồi giữa lòng quê mà vẫn thổn thức tiếc quê hương.
Với một đứa bé, cầu Gia Lâm dẫn đến sân bay quả là một con ngoáo ộp. Đầu này nuốt chửng hàng chục cáí xe đầu kia nhả ra hàng trăm đôi mắt mếu máo tràn nước mắt. Ngồi lọt trong lòng mẹ, cố nhoài người nhìn những thanh sắt đen sì thoăn thoắt giật lùi. Mẹ khẽ nói: "Thế là mình đi thật rồi". Về sau này mới hiểu cảm giác "đi thật hay chưa" là một tiếng than dài từ nỗi đau tím bầm gan ruột.
Vào đến trong Nam, bà nội vẫn luôn nhắc về miền Bắc. Phủ Lý, Tháí Nguyên, Nho Quan, Ninh Bình, cốm vòng, cháo sườn, ốc bung, chè nụ... Một hôm bà bảo mẹ "Khéo không năm nay giời rét hơn cái năm mình mới vào Nam ấy nhỉ". Thật ngạc nhiên, một bà cụ răng đen áo cánh trắng quần thâm không biết chữ, lại có cùng ảo tưởng như thi sĩ Nguyễn Bính:
Mình đi trăm núi nghìn sông
Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam
Chẳng riêng gì bà hay thi sĩ Nguyễn Bính, mà còn biết bao cụ ông cụ bà "Bắc kỳ di cư 54" không bao giờ ngờ rằng trong tay nải mang theo có cả nỗi oan khiên khiến thời tiết cũng nghiến răng thay đổi. Không giống như nhân vật tiểu thuyết được nhào nặn, các cụ đã tự mình lựa chọn một chuyến phiêu lưu gian khổ với đầy đủ trách nhiệm trong vô thức. Cuộc di cư ấy tưởng chỉ là chia ly sinh tử của gần chín trăm ngàn người (2) . Nhưng tích cực nhìn lại, là một nhịp cầu lịch sử nối liền sông Gianh với sông Bến Hải.
Tiếp sức cho đồng bằng sông Hồng 2000 năm bền bỉ chống ngoại xâm. Nối Thăng Long cổ kính điêu tàn với Sài Gòn son trẻ bừng bừng sức sống. Nối 12 triệu người miền Bắc với 11 triệu người miền Nam và làm tiền đề cho bước di tản sau này: thổi một làn hơi sung mãn vào nền văn minh nông nghiệp sau luỹ tre làng. Ngày rời miền Bắc, các cụ không bao giờ nghĩ mình sẽ là gì. Ấy thế, các cụ đã làm nên lịch sử, đã là chứng nhân cho một khoảnh khắc kỳ lạ của cả hai miền Nam - Bắc.
Thế hệ "Bắc kỳ di cư 54" đã làm xong bổn phận. Đã liều bước tử sinh, dìu dắt cháu con xuyên cơn bão táp. Những đôi vai lảo đảo bồng bế trẻ thơ và cõng trên lưng cả nỗi đau chạy trốn trên chính đất nước mình, trao những đứa bé ấy vào đôi tay rộng mở của một miền Nam hồn nhiên và nhân hậu. Có bao giờ những người như bà nội bố mẹ có một phút nào tạm dừng bước, thở một hơi dài trước khi bắt đầu một cuộc sinh tồn? Trong 21 năm, từ 1954 đến 1975, ở miền Nam mưa nắng hai mùa, dù hạnh phúc hay khổ đau, bất hạnh hay may mắn, những mảnh đời phiêu bạt ấy đã cố gắng hết sức mình chu toàn cho cả gia đình và đất nước.
Chinh chiến đã tàn, Việt kiều vượt biển vượt sông. Việt cộng thắng Tây đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào. Nguỵ nhào nhưng vẫn tức tủi gửi bạc tỉ về rốt cuộc được đổi tên "khúc ruột xa ngàn dặm". Gía mà mang khúc ruột ấy ra nấu cháo lòng? Liệu chữ "Việt" ấy có đủ lấp nổi dòng Bến Hải li ti ở trong tâm mỗi người tự nhận là người Việt? Có khi một hai trăm năm nữa trôi qua, nếu chưa mất nước, thì giấc mơ ấy là điều duy nhất người Việt mình có được.
Cứ mơ! Miễn là đừng mơ hơn điều chúng ta làm.
Trần Thị Vĩnh Tường
***
3 - Cái Lưỡi Lê
Phi Ngọc Hùng
1
Chuyện gã kể không phải dễ viết, bởi lẽ đã có nhiều người viết rồi. Như một nhà văn nào đó ai oán: “Vào cái lúc tôi bắt đầu viết, những điều tôi cho rằng cần được viết ra đều đã được viết ra bởi những người đi trước. Những mất mát đau thương, những tủi hờn vong quốc, những đất khách bơ vơ, những qua sông nín thở. Và còn nữa, những máu lệ ngục tù, những hồn oan ngọn sóng, những đáy biển vùi thây”.
Nhưng may quá là may, nghe qua chuyện kể,...những máu lệ ngục tù,...những tủi hờn vong quốc cũng đều có cả đấy. Chỉ khác một nhẽ chuyện của gã là gã bị bắt làm tù binh. Nhưng chẳng may gì! Bởi nhẽ thiên hạ sự đi nhẩy dù, thủy quân lục chiến, đánh đấm từ trên trời xuống, từ dưới nước lên thì gã trên răng dưới lựu đạn được tạm coi như là “hình nhân thế mạng” cho lính...địa phương quân! Với địa là đất, suốt ngày đào đất ngồi dưới hố cá nhân thì văn dĩ tải đạo cái khổ nào. Khó khăn thật chứ đâu có đùa!
Khó hơn nữa với một nhà văn ngoại quốc: ‘’Không việc gì phải lo tìm bằng được những cốt truyện thật lắt léo, chi tiết vô bổ, không có thật’’. Nói cho ngay...cốt truyện đã có sẵn rồi đây, và không...lắt léo cho mấy, như: Gã, trung úy bộ binh Sư đoàn 1, bị bắt làm tù binh, bị đưa ra Bắc. Vào lại Nam rồi vào trại cải tạo như bất cứ ai.
Còn...chi tiết vô bổ! ư? Bung bét ra như thế này: Vào trại cải tạo, gã đi chặt tre rừng. Đang lom khom chém tre, đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ, chưa biết phàn nàn cùng ai thì bị cái gai đâm bu nó vào mắt, phúc bẩy mươi đời chưa mù. Chưa kể đi H.O. với bút sa gà chết trong giấy ra trại bị ông cán ngố phóng bút: “31 tháng hai”. Thế là thằng Mỹ nó bác, gã phải mại căn nhà để lo thủ tục ”đầu tiên”. Để lại mò ra Bắc nữa vào Bộ nội vụ nắn no lại cho đúng niên kỷ, niên lịch: “28 tháng hai” tây.
Tiếp đến với...không có thật, nếu như ra Bắc cũng nên gặp nhà văn Nguyễn Công Hoan, vì tôi đã học mót ông, học như gà đá vách ấy mà qua câu: “Viết là bịa, nhưng phải dựa trên chuyện có thật, viết thật quá lại không thật. Vì vậy phải bịa. Nhưng phải bịa như thật”. Nói cho ngay, tôi đâu cần phải...bịa, vì chuyện có...thật: với hiện thực: “Gã” là đương kim anh vợ tôi. Đèo bòng thêm nữa, nói xa nói gần chẳng bằng nói thật, chẳng phải vì gần chùa gọi Bụt bằng anh, thấy Bụt hiền lành bế Bụt đi chơi. Tôi không gọi “anh” mà khuân hình tượng, hình dung từ “gã” vào đây để bài viết có khí phách, có hồn vía một chút nên tôi nghĩ ông anh vợ tôi chẳng nề hà gì. Vì đi lính, gã cũng uống bia trái thơm, hút thuốc lá quân tiếp vụ như bất cứ ai. Ấy là tôi đoán chừng vậy, chẳng biết có đúng chăng.
***
Tất cả chỉ là ngẫu nhiên, cả năm anh em mới gặp nhau trong dịp Tết, đang nói chuyện nhà Phật với...Tứ diệu đế. Khi không, tôi bắt qua chuyện bắn “ba-zô-ca” trong trại cải tạo với câu thơ “Nhớ bạn như đang nhớ thuốc lào - Đường gần nhưng cách trở biết bao” và đường gần nhưng cách trở biết bao đây là hai láng với hàng rào kẽm gai.
Thế là gã vào chuyện...
Theo gã kể trại cải tạo vùng Quảng Trị tên là “Trại tàn binh”, tạm hiểu đây là trại tù kiểu du kích địa phương “tự biên tự diễn” nên tương đối còn lỏng lẻo. Vì là trại chuyển tiếp, chưa có nội quy chặt chẽ nên ít khắc nghiệt hơn những trại cải tạo trong Nam hay ngoài Bắc. Như mới chỉ ba tháng, thỉnh thoảng có người được tha về, thường là những công chức nhỏ hay sĩ quan cấp thấp, như thiếu úy, trung úy chẳng hạn.
Một ngày gã và 5 ông bạn qua một thửa vườn, nhìn thấy lá như lá đu đủ non, gã biết ngay chóc đây là những cây khoai mì. Thế là gã nhẩy bổ vào. Nhưng gã không ngờ khi nhổ củ khoai mì, lá cây ở trên lay động, thằng du kích đứng ở chòi cao dòm thấy. Vừa lúc lụi đụi buộc ống quần để nhét mấy củ khoai mì thì gã bị thằng du kích lấy báng súng đánh ngược lên, gã bật ngửa ra đằng sau. Vẫn không tha, thằng du kích tiếp tục lấy báng súng dọng vào mặt gã. Gã lấy tay che mặt mới biết mặt mày đầy máu
Và mới biết mất bu nó nguyên hàm răng cửa.
Gã lóng nhóng tiếp sau này qua đây, gã thửa được nguyên...bộ răng giả. Ngỡ yên thân, một bữa đứng trước cầu tiêu, gã ho. Gã...ho thế quái nào mà văng hàm răng vào bồn cầu, thế là lại phải trồng một hàm răng nữa cho sướng cái thân.
Bị thằng du kích đánh tận tình, đục gã tới nơi tới chốn. Nhưng gã không thèm mở miệng van xin thằng oắt tì một câu vì dẫu chết thì chết, gia dĩ gã là sĩ quan quân lực VNCH cơ mà. Đến đâu thì đến, đó là “triết lý củ khoai” của gã. Quần gã tơi bời khói lửa xong, thay vì dẫn về trại, thằng du kích trói giật khủy tay đưa gã đến trụ sở xã gần đấy.
Vừa lúc lão xã trưởng đi về. Lão đi qua gã liếc xéo gã một cái rồi định ngồi xuống làm một bi thuốc lào. Không hiểu nghĩ sao lão khẽ khọt quay trở lại nhìn gã rõ hơn, dễ hiểu là gã đang ôm mặt đầy máu nên lão nhìn không ra. Bỗng lão bật ra hai chữ:
- Ô Ba.
Gã cũng muốn bật ngửa người ra đằng sau như hồi nãy. Vì “03” là tên hiệu truyền tin của gã. Nhưng gã vẫn nín khe, vì trại cải tạo kia, trụ sở xã này nằm trên đất đóng quân một thời một thưở của gã. Bởi nhẽ nào có biết lão xã trưởng này là ai, là nẫu nằm vùng thì còn...nẫu hơn nữa. Lão nâng mặt gã lên nhìn. Và búng thêm một câu:
- Đủ má! Trung úy Nghĩa!!!
Lúc này gã mới ve vé mắt nhìn lão xã trưởng. Bố mẹ ơi, hóa ra lão là thượng sĩ nhất tên “Nàng”, là thường vụ đại đội trước kia của gã. “Nàng” vội cởi trói cho gã...
Từ đó gã tịnh khẩu bằng cách ăn chay và nói chuyện tứ diệu đế. Riêng cái khoản chay tịnh, chay chùa với giống giuộc nào có chữ củ như củ khoai mì, củ khoai lang...và cả...“củ cải”, tuyệt nhiên không có gã...Tuyệt tự không! Thà ngỏm củ tỉ sướng hơn!
Nhưng ấy là chuyện sau...
***
Làm như được...cởi trói là an nhiên tự tại lắm với trời đất hương hoa, người ta cơm rượu, nên gã thảnh thơi vào nhà đổng đểnh xách ra nguyên một chai Henessy. Là ngày Tết, cũng vừa xong ngày thất thất lai tuần của ông cụ gã, và cũng là ông nhạc tôi.
Hơ! Ô túy cương tửu, diễn Nôm “ô” là ghét, ghét say sưa nhưng lại thích uống rượu. Vì vậy tôi đành ực một cối, nhưng vẫn còn tỉnh táo, để tam toạng với gã là ngay từ đầu nhìn thấy mặt, nghe giọng nói, gã không nhận ra lão thượng sĩ già ư? Nghi quá thể! Gã ngay đơ là đang hồn vía lên mây vì hồi nãy thằng du kích còn hú họa mang về trại quại thêm một chập nữa. Đồng thời trong cái lúc đầu óc đang lùng bùng, mặt mày sưng vếu, máu me tùm lum, mắt híp lại, nên còn hơi sức đâu nhòm ngó ai với ai nữa.
Nghe được, được thể tôi lùi xùi tiếp cởi trói rồi sao nữa? Gã nói sao trăng gì! Vì ngay cái lúc hỗn quân hỗn quan ấy, gã nghe một tràng “ra-phan” khạc đạn 7.5 ly...
- Đủ má thằng nào đánh ôn.
- Tui, vì nó ăn cắp khoai mì.
- Mả cha mày, mày biết ôn là ai không.
- Tui đâu có hay.
- Đủ má, hồi nhỏ mày đái lên đầu ôn. Mày không hay à.
Bấy giờ gã mới lớ quớ ra thằng du kích là con lão thượng sĩ già, vì có lần gã cõng nó theo lão đi nhậu và nó đái lên đầu gã. Vừa lúc nó quỳ mọp xuống, lạy gã như tế sao:
- Con xin lỗi ôn, ôn tha cho con.
Sau đấy, gã dàng dênh là lão thượng già quát tháo thằng con luộc khoai mì cho gã ăn. Đang ngon trớn “hoài cố nhân” với “hoài niệm”, khi không gã...“tắc bọp”:
- Đủ...
Mới được nửa chữ nhất tự thiên kim, biết lỡ miệng, gã quề quà:
- Còn răng lợi đâu mà ăn nữa!
Cũng từ đó, gã ăn khoai mì thấy...ê răng. Nghe chuyện khoai lang, khoai mì dai nhanh nhách, tôi bèn hỏi gã chuyện Sư đoàn 1, để nghe bắn nhau đùng đùng đã hơn.
Ngỡ được nghe gã góp nhóp sư đoàn tuyến đầu hỏa tuyến, gã lại...“cắc cù” nữa:
- Đủ má...
Lại biết mình lỡ miệng nữa, gã khỏa lấp ngay:
- Sui tận mạng!
Sau đó gã à ê, đại thể hôm đó gã và 5 ông bạn tù được trưởng trại chuyển qua trại khác gần sịt ngay đó nên đi bộ cho phẻ. Thấy vườn khoai mì là nhào xuống kiếm chút “bồi dưỡng” nên bị thằng con lão thượng sĩ đánh cho nhừ tử. Bị giải về trại cũ mới ô hô ai tai ra gã và 5 ông bạn qua trại bên kia để làm giấy tờ ra trại về Sài Gòn. Nhóm gã được thả nhưng thằng trưởng trại cóc cho hay vì sợ lộ...tiết lộ bí mật nhà nước.
Bố khỉ! Nghe xong tôi cũng muốn “đủ...với thiếu” ngon ơ như gã!
2
Phi Ngọc Hùng
***
2 - Chiều Trên Đồi
Tôi nhủ lòng không được khóc oà lên, dù vậy hai tay vẫn run rẩy khi trao trả tờ thư cho ông chủ. Nỗi đau và hạnh phúc đến cùng lúc thế này lôi kéo tôi nghiêng ngả. Chẳng biết mặt mày tôi ra sao, ông chủ tế nhị đứng lên bóp vai tôi:
- Mấy tháng nay rồi, từ lúc ông bà từ Pháp về. Nhưng chờ cho con thi cử xong xuôi mới nói.
Rồi ông ra khỏi thư phòng, khép cửa. Tôi một mình ngồi trong ánh chập choạng buổi chiều hồi tưởng lại những năm tháng đã qua luôn luôn nằm mãi trong tận cùng ký ức... Phản ứng tự nhiên là tự hỏi cố thành bác sĩ tim mạch làm chi khi chẳng còn ai cần mình săn sóc nữa...
Hồi đó, cô chủ nhỏ chỉ kêu khẽ "Nóng quá" thì chiếc quạt trên tay tôi phất lia mọi góc. Làm cho cô chủ nhỏ không phật lòng là sứ mệnh tôi mang từ thuở lên năm.
Từ thế hệ ông bà cố, cả gia đình chúng tôi đã phục vụ gia đình cô chủ nhỏ, được gia đình cô dựng vợ gả chồng cho rồi đi đâu tùy ý. Nhiều khi có người đi xa rồi cũng quay lại với tình cảm "về nhà". Và luôn luôn được đón tiếp ân cần. Nghĩa là bao đời nay hai đại gia đình chúng tôi sống trong thứ tình chủ tớ nhưng đại đồng, bao bọc. Dĩ nhiên ở đó mọi thứ lớp vẫn rất ngăn nắp, triệt để. Nhưng tôi không hiểu và chẳng tìm hiểu tại sao luôn luôn có một cặp tự nguyện ở lại phục vụ dù không bắt buộc, như ông nội hay cha tôi đâu phải là người không có khả năng.
Khi tôi lên năm, cô chủ nhỏ ra đời. Buổi sáng tôi theo ông nội chăm mấy luống hồng, cha lái xe vào cổng và ông bà chủ trẻ hân hoan bước xuống, theo sau có một bà hơi sồ sề ẵm trên tay cái bọc trắng tinh dưới ánh sáng rực rỡ mà êm dịu của mặt trời tháng sáu. Mỗi tối tôi được phép đứng cạnh chiếc nôi thơm phức ngắm "con búp bê" nhưng không được sờ mó vì tay thường bẩn. Đó là thói quen mà đêm nào không được ngắm thì tôi khóc. Cả nhà rộn rã hẳn lên và mỗi tiếng khóc của búp bê khiến không phải bà chủ, bà vú nuôi, mà chính tôi quýnh nhất.
Khi cô lên ba, bà chủ sinh em bé nữa. Nhưng tôi không thích búp bê trai. Rồi khi cô bắt đầu đến mẫu giáo, vì gần nhà và không phải băng qua đường nên tôi phụ trách, chờ thấy cô bước hẳn vào lớp rồi mới cắm đầu chạy đến trường mình. Lên mười cô thường khóc oằn oặt, khóc nhiều hơn thuở nhỏ. Tưởng cô ganh tỵ với thằng em vì vừa mừng sinh nhựt nó con cún Nhật, ai cũng ráng dụ dỗ cô món quà nọ chiếc áo kia nhưng cô đều chán nản lắc đầu, người có vẻ lả đi mệt mỏi. Tôi là người lăng xăng nhất, bởi từ khi cô chập chững biết đi thì đôi tay tôi phải luôn luôn sạch sẽ để "dắt em". Cuối cùng, món quà cô gật là con ngựa nhỏ, cô sẽ cưỡi vòng vòng trong khu vườn thênh thang, và tôi sẽ kiêm nhiệm thằng nài. Về sau này, nó hầu như thường trực là cặp chân cô. Nhưng rồi cô vẫn uể oải, rất uể oải nên thường nghỉ học. Bác sĩ nói cô bị bịnh tim sao đó rất hiếm hoi, nếu được sống ở nơi thoáng mát nhà quê, vào thời đại... đồ đá lại càng hay. Cả nhà suy nghĩ.
Cuối cùng, giải pháp là cha mẹ cùng tôi đưa cô chủ nhỏ về quê, căn nhà dòng tộc. Trong căn nhà gỗ thênh thang, cha tôi làm vườn và cưa cây cho mẹ nấu bếp, những món cực kỳ thanh tao cô chủ nhỏ ưa dùng. Ban đêm những chiếc đèn lồng bày khắp nơi khiến căn nhà đã đẹp lại thêm vẻ mông lung huyền bí. Và giữa khung cảnh đó, cô chủ nhỏ tới lui trong chiếc áo ngủ màu xanh chẳng khác nào nàng công chúa bước ra từ bức tranh thần thoại. Trong ngày, cô công chúa thường nằm ẻo lả trên chiếc ghế dựa ngoài hiên hóng mát. Cô trắng tươi, tóc đen dài, trông cô mỏng manh dễ vỡ...
Thời gian cứ nhẩn nha bước đi. Theo lệ, mỗi dịp tết ông bà chủ về nhà quê cúng tổ, thăm viếng họ hàng xa gần, mấy năm nay khác cái khi họ đi thì chúng tôi vẫn ở lại. Trò chơi suốt cả tháng mùa xuân mà cô chủ thích là đánh cờ người. Giữa sân banh, nơi cô thường khuyến khích tôi đi đá với thanh niên trong làng và cô ngồi xem, hai chòi canh cao dựng lên cho đại diện hai màu cờ đấu, bàn cờ to tướng vẽ lên sân. Và môn hát bội. Cô thích vì để cười hơn là ái mộ. Nhưng trò đá gà thì mới nhìn thấy một con sừng sổ nhảy lên mổ con kia là cô xanh lét lùi ra, tôi vội hướng cô đến chỗ bầu cua cá cọp... Ngoài dịp tết hay các lễ hội đình chùa thì cuộc sống chúng tôi đều đều, người ngoài thấy có vẻ hơi tẻ nhạt nhưng với tôi thì không. Và tôi chẳng dám hỏi cô có chán không, e cô tưởng tôi chán. Mỗi sáng sau bữa điểm tâm và biết là cô chủ sẵn sàng, tôi dắt ngựa tới hiên, cô chủ nhỏ leo lên và con ngựa như hiểu tình trạng sức khoẻ chủ mình, thong thả từng bước một dạo rừng. Tôi đi bên cạnh, vai mang chiếc ghế xếp nhỏ và chiếc túi có quyển sách, chiếc quạt giấy, chai nước với một ít trái cây mẹ cắt sẵn.
Khi cô ghìm cương, đôi tay mười bảy khoẻ mạnh của tôi đỡ cô chủ xuống, chiếc ghế xếp kéo ra đặt ngay ngắn trong bóng mát. Và tôi ngồi dưới đất bên cạnh, mở túi lấy chai nước rót ra ly cho cô, rồi tôi bắt đầu đọc tiếp chỗ trang sách bỏ dở. Một bữa đọc về lịch sử của xứ Pháp xa xôi, nơi bà hoàng hậu Joséphine biết mình bắt đầu bị thất sủng nên nhờ hoạ sĩ cố ghi diễn lại cảnh vua Napoléon đội vương miện cho mình. Không còn bướng bỉnh cao ngạo nữa, giờ bà nhún nhường quỳ trên chiếc gối thêu ở bậc thềm dưới cùng, người hơi chồm về trước trên chiếc lưng ong, đầu tóc búi cao được điểm tô bằng vòng trang sức, trân trọng hơi cúi xuống, chiếc cổ thanh tú vươn ra khỏi vòng áo sa tanh màu sữa, hai cánh tay tròn lẳn nuột nà với những ngón tay tao nhã chụm lại như tạ ơn Napoléon vẫn tấn phong mình dù tình yêu của nhà vua đã chuyển hướng... Hình ảnh một người đàn bà phục tùng tuyệt đối, thật là xúc động. Và Napoléon, hai tay đỡ vương miện bước đến bà với tư thế của kẻ hào phóng ban ơn, từ thềm trên cao hai bậc, trước sự chứng kiến của đông đảo triều thần. Một sự trộn lẫn chính trị, tình yêu, phản bội, mưu lược, vinh quang, ánh sáng và bóng tối. Đó là bức tranh lịch sử.
Khi tôi ngừng đọc, cô chủ nhỏ đã lim dim. Trông cô như bức tượng thạch cao thanh khiết, vừa tầm tay vừa xa cách. Tôi gấp sách, lặng lẽ canh chừng những con bọ nhỏ có thể phá giấc cô mơ. Gió hây hây cho những sợi tóc con múa lượn trên vầng trán dịu hiền, và những ngón tay dài chưa hề làm một việc gì của cô hờ hững trên đùi. Cách xa vừa đủ giữ lễ, nhưng gần đủ để nghe hơi thở nhè nhẹ của cô đều đặn tựa cánh bướm chập chờn bay, và chiêm ngưỡng riềm mi yên lặng ngọt ngào. Những giây phút đó đối với tôi là thần thánh, tôi quên hết thân phận và đất trời, chỉ giữ lại cảm giác sẽ thách thức mọi điều kể cả sinh mạng mình để gìn giữ sinh vật mong manh này khỏi bất cứ tai ương nào có thể...
Rồi cô kêu khe khẽ. Cứ mỗi lần sắp mở mắt ra là cô kêu khe khẽ như rên. Âm thanh đó quen thuộc tới nỗi tay tôi tự động rót nước ra ly, chờ. Cô đỡ lấy, uống từng ngụm thong thả như chỉ có việc ấy để làm suốt buổi. Và như thường lệ, cô kêu "Nóng quá". Đó hầu như tiếng duy nhất cô nói, hay biết nói. Có lần tôi tự hỏi cô nóng thật hay thốt ra vì thói quen. Tôi quạt. Dù gì tôi vẫn quạt. Nhiều khi hai tay hai cây để suốt người cô được mát. Từ ngày về nhà quê đến giờ tay tôi chuyên quạt, kể cả lúc ông thầy tới dạy chúng tôi tại nhà.
Năm tháng êm đềm trôi qua như vậy nhưng sức khoẻ cô chắc chẳng êm đềm. Thấm thoát đã năm năm. Bác sĩ đến thường xuyên hơn và tôi thấy cô cố chịu đựng điều gì đó mà không nói. Mỗi hai tuần ông bà chủ xuống thăm con. Nhiều lần họ ái ngại bảo tôi nên nghỉ ít hôm về tỉnh chơi cho đỡ buồn, nhưng tôi từ chối vì nghe bố mẹ nói vậy, đôi mắt phượng của cô nhìn chỗ khác, không vui. Có thể cũng như "Nóng quá", sự có mặt tôi bên cạnh đối với cô là một thói quen. Cuộc đời chúng tôi như gắn chặt vào những tấm gỗ mun bóng loáng tháng ngày, vào vùng quê yên tĩnh tiếng mẹ gọi con buổi chiều văng vẳng chân đồi, vào bầu không khí với ngọn khói mỏng ẻo lả thoát ra từ mái tranh nhởn nhơ uốn lượn. Ở đây là sức khoẻ của cô chủ nhỏ, là sự sống, có thể là tương lai của cô nữa. Và tôi là một thành tố nằm ngoài những cái đó nhưng không thể thiếu. Đó là định mạng của tôi rồi, mai sau thế nào chỉ trời mới biết. Tôi sẵng sàng chấp nhận mọi điều, kể cả bất hạnh cho mình...
Năm mười sáu tuổi, cô chủ nhỏ bỗng nhất quyết không chểnh mảng nữa, nhất định muốn ôn tới tấp để thi tú tài. Chúng tôi học hầu như gấp đôi bình thường khiến tôi e ngại cho sức khoẻ của cô. Những ngày về tỉnh đi thi là một thử thách, cô có vẻ vui được gặp lại bạn bè, nhưng không khí đặc mùi xe cộ và quá rộn rã ồn ào. Thi vừa xong chúng tôi lại khăn gói về quê ngay. Và cô vui vẻ hơn bình thường, thích đi bộ nhiều hơn cưỡi ngựa. Chẳng bao lâu cô lại mệt, có vẻ nghiêm trọng hơn. Bác sĩ nhỏ to, ông bà chủ lo lắng. Cuối cùng một ngày vào thu, ông chủ đưa cô đi Pháp trị bịnh. Trước khi bước ra máy bay cô quay nhìn tôi. Tôi thì đã nhìn cô hầu như suốt buổi nên lúc đó mắt chúng tôi gặp nhau. Hơi lâu. Ông chủ yên lặng chờ đợi. Tôi khẽ nghiêng đầu, cái chào trịnh trọng dành cho con người và sức khoẻ của cô. Đó là hình ảnh cuối cùng ghi khắc trong tôi, vì khi cô bước ra khỏi cánh cửa phòng đưa đón phi trường, chiếc lưng mảnh dẻ của cô không nói gì với tôi nữa. Nó bận bịu thích nghi với chiếc áo choàng sang trọng mới mua dành để đi xứ lạnh. Rồi cánh cửa kính khép lại hoàn toàn, chia cách tôi phía bên này và cô phía bên kia như chia cách hai thế giới. Rồi cô sẽ bay đi, diệu vợi.... Tôi rùng mình. Lần đầu tiên cái lạnh chớm thu làm tấm thân trai tráng của tôi run rẩy...
Ngoài kia ai vừa bật đèn. Tôi chợt tỉnh, lau khô mặt, ra khỏi thư phòng, tay nắm chặt tờ thư mà ông chủ đã không lấy lại, đã ngọt ngào ấn vào tay tôi Con cứ giữ đi, làm kỷ niệm. Tôi nghĩ mình sẽ mang nó trong người, sẽ đọc đi đọc lại nhiều lần, mặc dù chỉ cần một lần khi nãy đủ để tôi ghi nhớ suốt đời...
Paris, ngày... tháng... năm...
Thưa ba mẹ,
Trước hết con xin ba mẹ tha lỗi. Thông thường con cái không được bỏ cha mẹ mà đi, nhưng con là trường hợp bất thường. Có thể mấy năm đầu đời con đem lại cho ba mẹ chút đỉnh niềm vui, còn nói chung con là một gánh nặng.
Con vẫn hối tiếc không được may mắn gần gũi ba mẹ như các em, nhưng con may mắn có được người bạn trung thành lúc nào cũng vì con, chỉ rời khi con đi ngủ. Không nói, nhưng bất cứ những gì con cần đều được cung cấp, đáp ứng đúng lúc, tận tình và lặng lẽ. Nhiều khi con tự hỏi có phải anh ấy là nhà tiên tri không, dù chỉ tiên tri về con. Từ ngày đổi con ngựa lớn hơn, anh ấy giúp con lên xuống, cố ý không chạm vào con nhưng phải chạm vào con, một cách e dè giữ kẻ. Lần con trật khớp chân dưới làng, anh ấy bồng về, con chợt liên tưởng dạo nhà mình đi thăm Xóm đạo nhân tháng Mân Côi, người ta rước tượng Đức Mẹ từ nhà nọ tới nhà kia cùng đọc kinh cầu nguyện. Những điều đó thực sự khiến con cảm động. Dừng lại trên đồi nhìn xuống làng mạc dưới kia, anh ấy hoặc đứng cạnh chân con, hoặc cạnh đầu ngựa nhìn theo hướng mà con dõi mắt. Những lúc đó từ trên lưng ngựa, con nhìn xuống đôi vai khoẻ mạnh, chiếc cổ cứng cáp, mái tóc ngắn dày, chỏm mũi, con chợt xót xa nghĩ đời anh ấy không nên vì con mà chôn vùi xó xỉnh nhà quê. Con muốn anh ấy đổi đời, sống cho mình hơn là cứ theo "nghiệp" cha ông. Vì vậy con quyết định thi tú tài để buộc anh ấy cũng phải thi lại, một lần đã trượt rồi bận bịu mãi với con và từ chối không thi tiếp. Bữa nghe anh ấy đậu, con sung sướng nói:
- Ba hứa sẽ cho anh lên đại học.
- Tôi... không học đâu.
- Tại sao?
- Tại vì... cô đâu có lên đại học?
- Thì sao?
- Đại học phải đi xa. Tôi đi thì ai săn sóc cho cô?
- Ba mẹ sẽ tìm người khác chứ.
- Tôi không an tâm.
Con cáu:
- Cái gì? anh nghĩ ba mẹ không biết chọn người à?
- Tôi không dám nói ông bà không biết chọn người, mà sau đó thì họ chăm chút cô thế nào mới là cái chính.
- Anh làm như anh là nhất vậy!
Và con hối tiếc ngay điều vừa thốt ra. Nhưng anh ấy làm vẻ thản nhiên, bày gói trái cây ra đĩa cho con.
Ba mẹ ạ, lúc đó con chỉ muốn nắm chặt tay, không, con muốn ôm chặt anh ấy vào lòng với đôi tay yếu đuối của mình để tỏ lòng ân hận và để thêm sức mạnh cho anh đi học. Nhưng dĩ nhiên con chẳng làm gì cả. Nỗi xúc động dâng trào làm con muốn nghẹt thở. Con kêu lên muốn khóc "Nóng quá", và anh lại quạt.
Gần hết mùa hè mà anh chẳng nộp đơn vào đại học dù ba mẹ có nhắc. Rồi con lại có cái ich kỷ hài lòng, nghĩ thôi cũng được, anh ấy dành cho con thêm một năm nữa. Nhưng con biết sức khoẻ mình hơn ai hết nên khi bác sĩ nói đi Pháp có thể trị được, thì con hăng hái chịu ngay, đó là cách duy nhất để anh có thể sống cuộc đời mình. Con vừa háo hức đi, trị bịnh cho con và tạo cuộc đời cho anh ấy, vừa lo sợ ở một nơi xa lạ mà phải nhờ vào dì, là người ít khi con gặp. Nhưng con đã quyết. Buổi chiều cuối cùng trước khi về tỉnh, chúng con đi dạo trên đồi như thường lệ. Rồi con ngồi trên chiếc ghế xếp anh ấy luôn mang trên vai, anh ngồi bên cạnh chân con, như thường lệ. Chiều nay chúng con không đọc sách, chỉ yên lặng nhìn trời mây và xóm nhà lá dưới chân đồi. Đón ly nước từ tay anh, con nói nhẹ nhàng:
- Tôi đi rồi, anh phải vào đại học. Vì anh không còn bận bịu gì nữa, phải học thôi.
Anh ấy không nói gì nhưng rất buồn. Con thở dài:
- Chẳng biết trị bịnh có được không, nhưng bác sĩ nói ít nhất cũng năm bảy năm.
Anh ấy gật gật đầu. Một lúc lâu, anh nói:
- Tôi hứa, khi cô về tôi sẽ có bằng đại học.
- Hoan hô. Rồi tìm việc làm xứng đáng, vững vàng.
- Tôi sẽ phục vụ cô chú.
- Chú nào?
- Thì cô sẽ lập gia đình chứ.
Con chợt bàng hoàng:
- Và nếu không trị được, nếu tôi chết, thì sao?
Anh ấy giật mình, như con nói điềm gở, như đó là điều chẳng ai nên nói bao giờ. Anh tròn mắt nhìn con. Lần đầu tiên anh ấy công khai nhìn con như vậy. Thẳng vào mắt. Con nhìn lại. Chúng con nhìn nhau chẳng biết bao lâu. Con không biết dưới chân đồi các bà mẹ có gọi trẻ nhỏ về bữa cơm chiều không. Con không biết khói có trườn ra từ các mái tranh không. Con không biết có ai lùa đàn bò về chuồng không. Con không biết đàn gà mẹ gà con có táo tác gọi nhau chưa. Con không biết có ai tưới vườn rau dưới đó... Con mê đi, tức nghẹn, khó thở. Chắc tim con có gì không ổn nữa chăng. Rồi con tỉnh người khi anh ấy bất thần chụp bàn tay con, úp mặt vào, nức nở:
- Tôi không biết. Nhưng xin cô... xin cô đừng chết!
Hình như buổi chiều đứng lại, gió trên đồi cũng đứng lại... Chúng con cùng khóc, lặng lẽ. Rồi anh kéo áo nhẹ nhàng lau khô tay con, cẩn trọng trả nó trên đùi. Con e dè rồi mạnh bạo đặt tay lên đầu anh, lên mái tóc ngắn châm chích tay con, khẩn thiết kêu cầu Chúa toàn năng qua bàn tay con, ban trọn phép lành cho anh ấy... Và kéo tay về, con sụt sùi nói "Nóng quá". Và anh quạt cho con như muôn đời chỉ biết cầm cây quạt...
Thưa ba mẹ, đó là hai cuộc đối thoại dài nhất của chúng con từ khi ý tứ giữ kẽ với nhau vì biết mình đã lớn. Ngay cả lúc chân con bị rắn cắn trong một buổi dạo trên rừng, anh ấy hoảng hốt quỳ xuống, trân trọng nâng chân con lên, áp môi vào hút máu, chúng con vẫn chẳng nói với nhau lời nào. Hay những bó hoa dại anh hái trên lối đi rồi kết vòng cho con đeo tay, đeo cổ chân hay nhiều hơn thì làm vương miện, cũng lẳng lặng không lời.
Mấy hôm nay ba mẹ ái ngại nhìn con trên giường bệnh, con phải vội viết thư này khi còn có sức. Rõ ràng là y khoa Pháp thì cũng đành bó tay với trường hợp quá đặc biệt của con. Bây giờ nếu ba mẹ hỏi trước khi đi con có nhắn gửi gì không, thì con xin ba mẹ dù bất cứ vì lý do gì, cũng cho anh ấy ăn học đến nơi đến chốn. Đó là người anh, người bạn duy nhất của con. Con xin tạ ơn ba mẹ.
Cầu mong ba mẹ và các em mọi sự an lành. Chắc chắn các em sẽ thay con trong mọi việc.
Đứa con bất hiếu của ba mẹ.
TB: Nhờ ba nói giùm với anh ấy là con có đi viếng cung điện Versailles, nơi có bức tranh mà chúng con cùng đọc.
Miêng
***
1 - Hảo Hán
Chiều qua trên đường về nhà, tôi đã gây ra một vụ va quẹt xe, vụ đụng chạm nhẹ. Nói công bằng lỗi về phần tôi nhiều hơn. Hai người cùng ngã, hai chiếc xe cùng bị trầy sướt, không biết người ấy ra sao. Còn tôi chẳng đau đớn gì cả, chỉ một phen mất hồn. Một người lạ giúp tôi dựng chiếc xe cub 81 cổ cổ con trâu gia đưa tôi đi lại hằng ngày. Người đụng chạm với tôi là một thanh niên, có vẻ là một anh nhà giàu, vẻ anh chị, hắn ăn mặc sang trọng, đi chiếc @ rất mới, hắn xót xa vì mấy chỗ sơn trầy. Hắn lên giọng sừng sộ bắt tôi bồi thường. May quá có một anh chàng từ trong tiệm ăn chạy ra can thiệp. Về sau tôi biết đó là Sơn, một học trò cũ của tôi. Sơn bênh vực tôi:
- Anh kia, lỗi về phần anh. Anh dẫn xe bác đi sửa nhanh đi !
- Ông này đi sai, tôi đâu có lỗi mà bắt tôi dẫn xe ông ta đi sửa?
Sơn, lườm người ấy. Bây gìơ hình như hắn đã nhận ra đang nói chuyện với ai. Chắc hắn ta biết tên, biết mặt Sơn nên tỏ ra ngoan ngoãn. Dẫn xe tôi đi. Sơn nói :" Mời thầy đi uống nước với chúng em"
Tất cả kéo nhau vào nhà hàng. Một nhà hàng có mặt tiền bằng kính bóng lộn rất sang trọng. Trên bàn tiệc ê hề thức ăn, toàn cao lương mỹ vị và đủ cả các thứ rượu. Nhiều hơn cả là bia. Sơn ngồi đầu bàn, vị trí quan trọng nhất và cả bọn đều tỏ ra trọng vọng Sơn, không dám gọi tên, gọi hắn là "đại ca". Theo cái cách tiêu tiền thì buổi tiệc này Sơn là "chủ xị" Tôi thấy một cái túi vải tuềnh toàng để giữa hai chân hắn. Thỉnh thoảng hắn cúi xuống rút ra một xấp tiền loại trăm ngàn còn mới cứng. Hắn cao hứng cho mấy đứa con gái tiếp viên, theo kiểu "Thúc Sinh quen thói bốc rời" ông chủ nhà hàng, một người Tàu bụng phệ coi đại ca là thượng khách. Theo cách đối xử và lối nói chuyện của bọn đàn em thì cái nhà hàng to lớn sang trọng này nằm dưới sự bảo kê của băng Sơn. Hắn chỉ cần lên tiếng thì chủ nhà hàng từ tầng dưới vội chạy lên. Lời nói của hắn là mệnh lệnh.
- Bây đâu? Lấy ly. Mở bia mời thầy giáo của tao!
Hắn nhìn tôi một lúc, nói:
- Chắc thầy quên em?
- Xin lỗi em, thầy không nhớ. Nhớ làm sao nổi hàng ngàn học trò trong hơn 40 năm dạy học của thầy.
- Em nhắc lại chuyện này chắc thầy nhớ liền. Năm...năm gì đó em cũng chẳng nhớ, trường tiểu học thị trấn Trung An. Thời ấy cả huyện chỉ mới có một trường tiểu học, có hai lớp nhất, nhất A và nhất B. Thầy dạy lớp nhất A. Em tên là Sơn, Nguyễn Đình Sơn, sau này anh em thấy ngực em xăm hình ông cọp nên thêm vào cái biệt danh là "Hổ", nên gọi là Sơn Hổ. Hồi đó em nhỏ người nhỏ tuổi, rắn mắt và hay nói chuyện, thầy bắt lên ngồi bàn đầu, dãy bên trái gần cửa sổ, nhìn ra cây khế ngọt. Lúc đó Bọn chúng con rất nghịch ngợm, cơm nhà không đủ no, mà dân chúng quanh vùng ai cũng thế cả quanh năm khoai sắn, chẳng có miếng cá thịt.
Con sông chảy qua làng chỉ có loài cá mương, cá này chuyên ăn phân người, không ăn mồi câu. Đi bắn chim bằng ná cao su, năm thì mười họa mới hạ được con chim chào mào, sè sẻ, nhổ lông, nướng chín, chia nhau hai ba đứa không đủ nhét kẻ răng. Một hôm, cả đoàn thợ săn chúng con ngồi trong bóng mát cây mít già nhà lão Bá thấy đàn gà của lão đi qua. Thế là em bắn một phát, trúng con gà mái tơ. Nó không chết liền, dẫy đành đạch kêu oang oác. Bọn chúng con liền lao tới vặn cổ, đem ra bờ sông nhổ lông, làm thịt, lên bờ nhen lửa nướng, chấm muối ớt. Ngon ơi là ngon...Chuyện vỡ lỡ, lão Bá đến trường kiện. Hôm đó thầy xử. Thầy nói nhiều lắm, thầy quất em mười roi mây, quất thẳng tay cho em nhớ và thầy nói, nếu các em bắn được con chim, thầy sẽ cùng chúng em nhặt chim, nhổ lông làm thịt, nướng chia phần nhau, mỗi người một tí cũng ngon vì đó là chuyện tài thiện xạ và khó nhọc.
Còn đây là gà nhà người ta nuôi, bắn con gà nhà dễ quá, không xứng danh anh hùng. Chẳng tài cán gì, ai cũng làm được và hạ được nó cũng chẳng vẻ vang... Hắn quay qua bọn đàn em kể chuyện về tôi. Hắn có một trí nhớ rất tốt. Hắn nhớ thật nhiều chuyện. Không hiểu sao hắn xem tôi, một ông giáo già nua lụm khụm là thần tượng, và hắn rất hãnh diện về ông thầy cũ của mình. Cái thằng bé oắt con, thằng nhóc lắm lời ngày trước thường bị bọn học trò trong lớp ăn hiếp, trêu chọc là "con nhái" đã thành bậc đàn anh, một con hổ chính hiệu.
Một tên đàn em cầm lon bia khui đánh bóc, rót tràn ly. Hắn không dám đưa cho tôi mà trao cho Sơn Hổ để đại ca mời tôi. Sơn Hổ kính cẩn nâng ly bia vàng óng tràn bọt đưa tôi. Tôi đang khát nước nâng ly bia. Bỗng một thằng đàn em, mở thêm ba bốn lon và rót đầy ly tất cả mọi người. Hắn hô to:
- Anh em ta chúc sức khoẻ ông thầy của đại ca ! Trăm phần trăm đi!
Có người nào đó nói:
- Thôi cho xin 50, anh em ơi, cuộc vui còn dài, lo gì?
Tôi nâng ly rượu lên, hớp một hớp, để xuống. Có tiếng la to :" Không được! Lệ ở đây phải cạn ly mới được đặt xuống!" Tôi vẫn thường uống bia rượu, không sợ say song xưa nay tôi chỉ quen uống theo kiểu vừa ăn vừa uống, từng hớp một. Bây giờ ngồi với bọn giang hồ này bắt "trăm phần trăm" gọi là uống nạp. Tôi chịu không nổi, xin được uống từ từ. Bọn chúng nói khéo về cái luật lệ uống bia, với lại lần này được đối đãi trọng vọng và nhất là trước mặt đại ca Sơn Hổ của bọn này, tôi cũng cao hứng làm người hùng, la to:
- Ừ thì trăm phần trăm, sợ gì !
Và tôi nhắm mắt lại lấy hết sức nốc, nhiều lần chất bia muốn trào ra song tôi cố nuốt. Chưa cạn cốc tôi có cảm tưởng, chỉ thêm một giọt nữa thôi thì tôi ọc ra. Tôi chưa kịp ngồi xuống thì, ôi thôi, không cầm được nữa rồi. Tôi tống ra tất cả ! Tội nghiệp Sơn Hổ, tôi ngồi đối diện hắn, phun rượu và thức ăn đầy mặt mày áo quần hắn, tôi hổ thẹn quá, song chẳng biết làm gì trong cái cảnh khó xử này. Cả bọn đàn em thất kinh. Xưa nay chưa kẻ nào xúc phạm đại ca kiểu ấy. Đại ca tỏ ra tỉnh táo gỡ rối cho tôi:
- Không sao ! Không hề gì ! Ai lại chẳng gặp cảnh này?
Tôi có dịp quan sát Sơn Hổ, trong bọn giang hồ hảo hán này trông hắn có vẻ thư sinh hơn cả, mặt mày khôi ngô, da dẻ trắng trẻo, mái tóc xanh mướt và tay chân gầy nhom, thế sao bọn kia lại tỏ ra rất vị nể đại ca ? Cả bọn đàn em thấy chủ soái hôm nay đổi khác, tất cả đều xúm vào, lấy khăn lau, hối bọn tiếp viên đến giúp, Sơn Hổ lên tiếng trấn an:
- Không hề chi đâu thầy. Thầy đừng ngại. Ai uống bia rượu lại chẳng có lúc "cho chó ăn chè!"
Lạ thật, tôi không hiểu vì sao thái độ hắn kì dị thế này. Hắn giả vờ nói thế và vui cười cho mọi người yên tâm, nhất là cho tôi đỡ khó chịu, song theo tôi quan sát thì đầu óc hắn đang suy nghĩ lung lắm. Hảo hán này đang trong tâm trạng không được vui. Một nổi buồn cọng với sự hổ thẹn thể hiện rất rõ trên nét mặt giang hồ này. Lạ thật hắn đã nghĩ gì, đã cảm thấy điều gì ?
OOO
2
Mấy ngày trước chiếc cub 81 cũ kĩ của tôi, nó trở chứng. Tôi phải dẫn bộ mới thấy có chỗ chữa xe của ông lão và thằng bé. Ông lão lên tiếng:
- Xe sao phải dẫn đó thầy Hai?
- Đạp mãi không nổ.
- Bọn bán lẻ xăng dọc đường ác lắm, chúng mua ga-doan (gas oil ) pha vào bán cho lời, làm khổ người ta, chạy lâu còn bị "rốc" máy. Thôi thầy Hai ngồi ghế chờ ông cháu tui coi xe cho.
Vừa lúc ấy có tiếng xe gầm rú trên đường. Ba thằng nằm mọp trên ba chiếc xe gắn máy lướt qua. Xe cộ trên đường sợ hãi liền tạt vào sát lề. Thằng bé, dừng tay lại đứng lên nhìn. Ông lão la:
- Làm việc đi Tèo, coi cái bọn "yêng hùng xa lộ" làm chi? Mấy năm sau giải phóng vắng chúng được vài năm. Nay tái xuất giang hồ. Thằng cháu :
- Yêng hùng xa lộ là gì hả nội?
- Hồi đầu những năm 60 xa lộ Saigon Biên Hoà mới làm, đường sáu làn xe chạy êm như ru tốt lắm. Bọn thanh niên sắm xe gắn máy thường rủ nhau lên trên đó mà đua. Bọn này chạy xe bạt mạng. Ngày nào trên xa lộ cũng có tai nạn. Bọn đó gọi là yêng hùng xa lộ.
Tôi nhìn ra thấy ba tên thanh niên nằm mọp trên xe chạy qua rất nhanh. Không biết chúng dùng xe gì. Ông lão nói:
- Đó là mấy chiếc"Xu xì po" của bọn giật dọc, bọn ăn cướp. Cách đây vài ngày có mấy thằng ngồi uống cà phê quán mụ Lé, trước cửa ngân Hàng phát triển nông nghiệp. Chúng cho một thằng vào trong xem người nào đến lảnh tiền nhiều. Dùng điện thoại di động gọi cho đồng bọn chạy xe theo cướp, rồi phóng hết tốc lực chạy trốn. Mình thấy ba thằng, hai thằng chạy sau gọi là cản địa, còn thằng chạy trước giữ tiền. Bọn cản địa có cả hàng nóng (súng). Mỗi lần chúng cướp cả trăm triệu...
OOO
Tôi thấy cách tiêu tiền của bọn Sơn Hổ, tôi hơi ngờ ngơ...Chỉ một lúc sau tôi lại nghe rạo rực trong người rất khó chịu. Tôi đứng lên, hỏi toa-lét. Chính Sơn Hổ dẫn tôi đi. Vào toa-lét tôi ôm lấy cái lavabô, gục xuống nôn lấy nôn để. Sơn Hổ đứng sau nhìn tôi mửa, ái ngại. Chúng tôi cùng đi ra, ngồi vào bàn. Giờ đây Sơn Hổ ngồi yên, không ăn, không uống và có cái rất lạ là hắn không mời tôi, vẻ băn khoăn, nói, thằng Dần đưa tao mượn cái chìa khoá chiếc 67 của mày. Tao đi có công chuyện. Bọn bây ngồi lại với ông giáo nhưng tao cấm thằng nào ép ông giáo ăn hay uống. Hắn đi, chừng nửa giờ sau Sơn Hổ về, tay cầm hai chai bia Saigon . Hắn nhìn tôi nói:
- Hai chai bia này thì thầy phải uống ...
Tôi không hiểu do đâu lại có cái mệnh lệnh kì quái đó. Tôi thắc mắc:
- Vì sao?
Sơn Hổ cười :
- Ông thầy cứ giả bộ hoài...
Tôi vẫn không hiểu, ngơ ngác hỏi:
- Tôi nói thật tình, tôi không hiểu ý em .
Lần này thì Sơn Hổ chơi bài ngửa:
- Mới đây ông thầy phỉ nhổ những đồng tiền dơ bẩn không chịu uống bia bọn em mời chứ gì?
À hoá ra hắn tưởng nhầm tôi nôn là vì nghĩ hắn đãi tôi bằng đồng tiền bất lương. Hắn suy nghĩ sâu xa thực. Lần này hắn kiếm đâu ra hai chai bia mà theo hắn là đồng tiền sạch, như bài học năm xưa, hồi bắn trộm gà. Tôi tò mò:"Em kiếm đâu ra chai bia đặc biệt này? "
Sơn Hổ:
- Bằng sức lao động chân chính của em. Em mượn xe thằng Dần chạy mấy cuốc xe thồ, kiếm được hơn mười ngàn.
Không còn nghi ngờ gì nữa, nhân đây tôi dùng từ lóng hỏi luôn:
- "Phi vụ" vừa qua các cậu kiếm được bao nhiêu?
- Chúng em chưa đếm. Chắc nhiều lắm, toàn bạc trăm ngàn, xách nặng tay. Ăn nhậu xong rồi mới đếm, được bao nhiêu chia đều...
- Ngoài tiền ra còn có gì không?
- Hai người đi lảnh tiền là cán bộ lớn tuổi, một nam một nữ, tay mơ chưa có kinh nghiệm, cô gái chở ông cán bộ già bằng xe Citi 100. Túi tiền treo lủng lẳng nơi ghi đông, may mà khi bị giật chỉ lạng quạng chớ không té. Ngoài tiền ra còn có giấy tờ sổ sách chứng từ. Chúng em định đốt tất cả để phi tang!
Tôi nói:
- Đừng! Đừng đốt, tội người ta. Họ chỉ là những nhân viên bình thường, mất tiền còn mất cả chứng từ, cơ quan công an nghi ngờ hỏi han, mất việc mà không chừng ở tù cả đám, tội nghiệp vợ con họ. Trả giấy tờ cho họ. Còn tiền thì các chú lỡ tiêu bao nhiêu đó rồi thì dừng lại. Tôi nói thật lòng, tôi mong em và các chú đem tiền đến công an trả. Tôi tin với thiện chí đó cơ quan pháp luật họ sẽ chẳng truy tố...
Cả bọn ngơ ngác, nhìn Sơn Hổ. Hắn không nói gì, tôi tưởng hắn không để ý lời tôi nói. Hắn cúi xuống xách túi tiền lên, kêu chủ quán tính tiền rồi cả bọn kéo nhau đi.
Sơn Hổ chạy gần tới chợ, bỗng có tiếng la to "Cướp! Cướp!..." Có chiếc xe Xu sì-po rú ga vọt lên. Một tên ghiền ma tuý giật dây chuyền, thằng này là tay ngang, đi ăn cướp mà mặc chiếc áo phông màu đỏ. Có tiếng thét to:
- Thằng áo đỏ! Thằng áo đỏ!
Thằng giật dọc đã vượt lên trước. Trên đường đầy chướng gại vật, ghế nhựa và đủ thứ vật dụng dân vất ngổn ngang. Sơn Hổ với tài lái xe tránh được cả. Song không may cho hắn, có đứa bé vụt chạy băng qua đường ngay trước đầu xe. Không thể nào tránh được. Sơn Hổ ngã rất nặng. Xương đùi gãy. Nhiều người xúm lại đỡ hắn lên băng ca. Người ta cởi áo hắn ra thấy có hình xăm đầu hổ. Giấy tờ và túi tiền. Mấy người công an cùng ồ lên:
- Thằng Sơn Hổ, khét tiếng lâu nay có lệnh truy nã đặc biệt toàn quốc đây rồi, nay lại cướp giật ngân hàng, bằng chứng rành rành. Nay hổ núi thành hổ què, vô cũi nằm, không khéo còn "dựa cột" !
OOO
Mấy ngày sau có tên đàn em báo cho tôi biết Sơn Hổ đem tiền đi trả trên đường bị tóm oan uổng. Tôi liền đến công an. Một sĩ quan công an tiếp tôi. Anh ta không có vẻ chú ý nghe tôi nói, nhìn tôi nghi ngờ, nghe xong anh ta nói:" Thôi cụ về đi, để chúng tôi nghiên cứu" Tôi bước ra khỏi phòng, chưa xa nghe ai đó thốt lên:"Hắn lại thuê một lão già đến gỡ tội!" Tiếp theo là nhiều tiếng cười chế riễu./.
Quý Thể