Chương Mười
Part 1
Đứa em rể là người đứng ra bảo trợ cho gia đình tôi ra đón gia đình chúng tôi ở phi trường San-Francisco. Sau khi làm một vài giấy tờ, chúng tôi được đứa em rể đưa ra ngoài bãi đâu xe. Tôi nhìn bao quát những ngôi nhà cao nhiều tầng trên những con đồi cao, những khối nhà tráng lệ cao sừng sững. Tôi thực sự đứng trên một đất nước mà trước đây tôi nghĩ dễ gì mà đến được. Chúng tôi ngồi trong chiếc xe chạy trên đường với dòng xe tấp nập. Cái không khí ồn ào nhưng thật sự rất bình yên, trật tự. Cả gia đình chúng tôi cùng nhìn đất nước Mỹ qua khung cửa xe trong dòng xe như không ngớt trên các nẻo đường. Đêm đầu tiên ngủ trên chiếc nệm dầy êm ả, với sự tĩnh lặng bao quanh, không có tiếng chó sủa, không nghe tiếng gà gáy vào khuya, không nghe những tiếng động khua của lối xóm. Cái êm ả trong giấc ngủ chập chờn, có lúc sâu thẫm với cơn mơ động não bởi những ký ức thảm sầu hằn sâu trong tâm thức. Buổi sáng thức dậy, tôi thấy mình thật sự ở một cảnh giới bình yên và một tương lai tốt đẹp cho đời tôi và các con tôi. Chúng tôi thật sự thoát mọi vòng kềm tỏa và sự phân biệt đối xử của những con người chiến thắng rất tình cờ của thế trận. Xin cám ơn Trời Phật. Xin cám ơn Đấng Thiêng Liêng đã cứu rỗi đời tôi và gia đình tôi.
Nhờ sự giúp đở tận tình của đứa em rể, gia đình tôi đã mướn được một nơi ở. Với tiền tài trợ của chánh phủ Mỹ, chúng tôi có được một số tiền và phiếu thực phẩm để sống đủ cho mỗi tháng. Các con tôi được ghi danh đi học.
Tôi bắt đầu ngay công việc đi làm thuê sau một tuần kể từ ngày đến Mỹ. Được sự giới thiệu của một người đồng hương quê ở Trà Vinh, tôi đi làm nghề phụ cắt cỏ cho một người quen của anh ấy. Buổi đầu đi làm việc, buổi đầu tôi gặp một tên thô lỗ, hợm người. Tôi suýt nữa đánh hắn một cái cây cào đất khi nghe hắn chửi thề văng tục trong lúc tôi đang cố sức gồng thân để hoàn tất công việc không nghĩ ngơi từ sáng đế xế chiều. Tôi nói với anh đồng hương về vụ việc và tôi sẽ không đi làm nữa. Ôi! Cái buổi đầu tiên giáp thân với một thằng trước đây chẳng ra gì nhưng nhờ qua trước mà lên mặt! Ôi! Buổi đầu tiên đổ mồ hôi trên đất Mỹ…!
Nhận thấy một điều cần thiết để sinh tồn trên đất nước mới. Tôi cùng vợ tôi ghi danh vào các lớp học Anh Ngữ ở một trường Trung Học gần nơi cư ngụ cũng là nơi các con tôi học ban ngày.
Với số tiền trợ cấp không dư để gia đình muốn có một chiếc xe và các con tôi có những bộ đồ mới hơn. Vợ chồng chúng tôi tranh thủ tìm việc làm để có thêm thu nhập. Nhờ các em tôi bên Úc phụ giúp tiền. Chúng tôi mua được cặp máy may và máy vắt sổ. Chúng tôi tìm nguồn cung cấp để may gia công. Nhờ đứa em rể giới thiệu, tôi vào làm việc ở một cái chợ Á Đông. Công việc may gia công để vợ tôi tư làm lấy. Mổi ngày tôi phải thức sớm đề đón xe bus đi làm và chiều tối đón xe bus đi về. Phía đối diện với trạm xe bus là một nhà hàng ăn uống. Hơn tám giờ tối sau một ngày làm việc mệt mỏi ở khu bán thịt trong chợ, tôi thấy cơn đói oặn lòng. Tôi nhìn bên kia đường những cặp người dìu nhau vào nhà hàng ăn uống. Còn tôi lại đứng dưới trời đông trong cơn đói. Nước mắt tôi chảy ra. Tôi tự nghĩ “Nơi đất hứa nầy” sao mà cơ cầu cho đời tôi như thế nầy.
Sau hơn 2 tuần làm việc ở khu chợ, tôi bị cảm vì vào thời tiết mùa Đông mà phải chui vào các phòng đông đá, phải chạm tay với những cây thịt lạnh. Sau 2 ngày nghỉ không báo trước vì nhà chưa mua đường dây điện thoại. Khi trở lại, bà chủ chợ kêu tôi lại và đưa tôi nhúm tiền công của 2 tuần làm việc. Tôi có nói với bà chủ cái lý do…nhưng bà ấy vẫn lắc đầu. Hôm đó tôi về nhà với một nỗi buồn thứ hai của công việc làm trên đất Mỹ sau cái việc đi làm phụ nghề cắt cỏ.
Tôi lại ở nhà với vợ tôi trong công việc cũ và mỗi đêm đi học ESL ở trường Trung Học gần nhà.
Qua suốt một mùa đông lạnh giá nơi xứ người. Tôi lại ăn một cái Tết đầu tiên nơi đất khách. Hôm 30 Tết vợ tôi nấu một mâm cơm cúng ông bà. Tôi gọi phone qua Úc để hỏi thăm ba tôi và chúc Tết đến ba. Ba và em gái út qua Úc hơn 8 tháng qua theo diện bảo lãnh của mấy đứa em bên đó. Nếu má còn sống chắc má cũng cùng đi trong chuyến nầy. Mỗi lần có dịp gọi phone ba đều than buồn và nhớ mấy đứa cháu còn lại ở Việt Nam. Mấy đứa em bên đó và tôi khuyên ba ráng ở cho đủ một năm khi vô quốc tịch rồi hẳn về. Ba ừ hử nhưng lòng vẫn mong ngóng thở than. Không ngờ lần gọi chúc Tết cho ba lại là lần cuối cùng nghe được giọng nói của ba. Sau Tết ba ngã bệnh phải vào nhà thương giải phẩu. Thời gian nầy tôi và đứa em gái thứ Năm bên đó thường liên lạc với nhau. Nhờ đứa em gái mà tôi đã biết tình trạng của Ba qua từng hồi, từng lúc, cho đến phút cuối của đời Ba. Ba bị căn bệnh nầy chắc đã lâu. Hồi còn ở Việt Nam, có lần ba bị đau nơi vùng lá gan. Cơn đau nhức đã làm ba oằn người chảy nước mắt. Lúc đó tôi không biết phải làm thế nào và không biết rõ nguyên do từ đâu làm ba đau như vậy. Tôi lấy dầu gió thoa bụng cho ba vì tôi chỉ nghĩ đó là cơn đau bụng. Ba nói với tôi chở ba đến nhà ông thầy Năm Y chuyên châm cứu. Tôi kêu xe kéo đem ba đến ông thầy ấy. Không biết ông thầy làm thế nào, nhưng ba đỡ đau và khi về đến nhà thì khỏi hẳn. Sau đó ba ổn định suốt một thời gian dài cho tới lúc ba sang Úc. Hôm ba đến nhà đứa em thứ Sáu chơi, khi bước vào nhà tắm để đi tiểu. Ba bị trượt chân gần té, nhưng ba gượng được. Khi đó ba nghe có cái cảm giác một tiếng vỡ nhẹ bên trong chỗ lá gan và đau nhói trở lại. Các em đem ba vào nhà thương khám bệnh. Bác sĩ cho chụp quang tuyến. Kết quả, bác sĩ nói là trong bao tử ba có khối u và đề nghị mổ. Khi mổ ra họ mới hay khối u đó là từ lá gan. Một cục máu bầm cứng ở một gốc lá gan lấn u qua bao tử. Bác sĩ nói lá gan của ba bị vỡ rất lâu rồi, nhưng không biết tại sao lại không bộc phát bệnh. Tôi nghĩ chắc lần đau hồi ở Việt Nam trước đây là do nguyên do đó, nhưng nhờ châm cứu nên giữ yên được cho đến bây giờ. Bác sĩ có xin lỗi về sự nhầm lẫn đó. Nhưng sự việc đã rồi. Bác sĩ nói nếu cắt khối u đó hay không cắt thì ba sẽ không sống được qua 6 tháng vì các phần còn lại của lá gan bầm hết không còn cách nào chữa được. Mấy đứa em gọi điện thoại sang hỏi ý kiến, tôi nói còn nước còn tát, cứ mổ đi may ra còn cứu được ba. Các em thuận ý và ký giấy tờ cho bệnh viện lên ca mổ cho ba lần thứ hai. Sau lần mổ sức khoẻ ba xuống dần. Các em tôi không dám hé môi về việc bác sĩ đã nói về ba. Các em chỉ chụp ảnh kỷ niệm và luôn an ủi ba. Qua mấy tuần lễ sau đó. Khi ba nhìn đôi bàn chân mình bị sưng lên. Ba nói: Bàn chân bị sưng…chắc ba không qua khỏi rồi! Chắc “Xí” (Chết)…Các em đứng vây quanh ba rơi nước mắt và nói: Ba ráng đi, tụi con lo hết mình cho ba. Ba nhìn đàn con cháu vây quanh bên giường bệnh rồi nói: Ba đã dành hết cuộc đời ba để cho các con. Bây giờ các con ráng lo cho ba. Ba muốn chửa bệnh bằng thuốc Đông Y. Các em tôi lén đưa bác sĩ Đông Y vào nhà thương bắt mạch và kê thuốc cho ba vào các buổi tối. Thuốc thang được đứa em thứ 5 của tôi đun nấu ở nhà và mang vào bệnh viện cho ba uống cũng trong các buổi tối. Uống thang đầu ba nói hơi khoẻ và ngủ được. Nhưng những thang kế tiếp chẳng làm cơn đau của ba dịu bớt chút nào. Cơn đau nhức và mất ngủ làm cơ thể ba héo dần. Vài tuần kế tiếp… ba gần như cạn kiệt sức lực. Các em và các cháu gọi nhau cùng vào nhà thương. Thấy ba nằm gần như lịm chết. Các em nói: Ba ơi! Ba có nhắn gì lại cho các con không? Ba cố mở mắt và nhìn một lượt các con cháu đang đứng vây quanh và nói: Ba cầu chúc cho các con ở lại bình yên và nhớ ráng yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nói xong ba nằm yên khép mắt. Hơi thở ba chợt đứt. Trái tim ba ngừng đập. Ba đã an giấc nghìn thu…!. Các em tôi òa lên khóc, miệng kêu: Ba ơi! Ba bỏ tụi con rồi…!
Ngày ra đi của má, tôi không nhìn được mặt má lần cuối. Ngày ra đi của Ba, tôi cũng không được đến bên giường ba. Điều nầy khiến tôi luôn chảy nước mắt khi bất chợt nghĩ đến ba má, cả những khi đang lái xe một mình. Má ra đi quá nhanh tôi không về kịp. Còn Ba…Tôi có thể sang đó nhưng lại không dám đi vì mới qua Mỹ không hiểu luật lệ. Tôi đã mất cơ hội sang Úc để gặp mặt ba lần cuối. Sau nầy khi biết được lúc đó tôi có thể sang gặp ba thì đã muộn. Điều nầy làm tôi ân hận và đau xót vô cùng. “Ba má ơi! xin tha tội cho con. Đứa con mà ba má thương yêu và khổ tâm lo lắng từ lúc bé cho tới tuổi trưởng thành. Cuộc bể dâu đời của con sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đều có ba má cùng chia xót. Ba má đùm bọc vợ con con và cả con trong những ngày tháng tù tội. Con chưa có lần được báo đáp công ơn với ba má, cho đến ngày cuối của ba má con cũng không có mặt để chít khăn tang cuối lạy ba má, để đưa ba má đến nơi yên nghĩ nghìn thu…”
Huỳnh Tâm Hoài
Nov 2018