XÓM RƯỢU - QUÊ TÔI
Phần 1:
Đôi lời phi lộ:
Trong lòng người ở hải ngoại, mỗi chúng ta không ai không nhớ về xóm làng yêu dấu. Bởi nơi chốn ấy có mồ mả của ông bà tổ tiên ta mà họ lúc sinh tiền, đã đổ mồ hôi nước mắt gây dựng mái gia đình và xóm làng. Bởi nơi chốn ấy còn có bằng hữu, thân nhân, bà con ruột thịt sinh sống mà sự liên hệ gắn bó tình cảm giữa người xa quê và người ở lại càng mật thiết hơn theo truyền thống bất hủ của người Việt được biểu hiện qua những câu ca dao sau:
Cây có cội, nước có nguồn
hay
Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn
Thời gian tôi sống ở hải ngoại dài hơn thời gian tôi sống tại Việt Nam, và dài gấp bội thời gian tôi đủ trí khôn để hiểu và nhớ những kỷ niệm ở Ninh Hòa. Nói như vậy có nghĩa là trong khoảng 13 năm tuổi thơ tại Ninh Hòa, chỉ có 5 năm sau cùng tôi thực sự hiểu biết về Ninh Hòa. Do đó, những sự kiện được viết ra đây hoàn toàn dựa vào trí nhớ của tôi trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1964. Sau năm 1964, tôi không thường xuyên về Ninh Hòa nữa vì bận việc đi xa, và đến khi muốn trở về xóm làng cũ thì tôi gặp trở ngại.
Viết một bài về xóm làng thì quả là một chuyện khó làm. Hơn nữa tôi ở trong hoàn cảnh rất hiếm tài liệu và xa người lớn tuổi ở Ninh Hòa để tham khảo, còn trí nhớ lắm lúc cũng không được hoàn hảo nên không sao tránh được những thiếu sót, phiền toái và nhiêu khê. Loạt bài này cốt ghi lại những sự kiện trong thời gian trên để giúp thế hệ sau muốn tỉm hiểu về xóm Rượu, mà không nhằm phê phán hoặc chỉ trích cá nhân cũng như lòng tin và nghề nghiệp của bất cứ ai. Cuối cùng, tác giả mong sự góp ý xây dựng của các bậc trưởng thượng để loạt bài viết này được mỹ mãn hơn.
Dẫn Nhập:
Xóm Rượu quê tôi nằm trong quận (huyện, phủ) Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tôi có biết bao kỷ niệm ở xóm Rượu vì nơi đây tôi đã sinh ra và trải qua quãng thời gian thơ ấu. Vào cuối thập niên 1950, tại Trung tâm quận Ninh Hòa có xã Ninh Hiệp được chia thành 2 làng: Mỹ Hiệp và Vĩnh Phú ngăn cách bởi sông Dinh. Nhờ cầu Dinh (trước kia là Quốc lộ 1) nối giữa hai đầu cầu nên việc thông thương qua lại của hai làng được dễ dàng.
Làng Mỹ Hiệp gồm có 3 thôn: Mỹ Hiệp 1, Mỹ Hiệp 2 và Mỹ Hiệp 3.
Căn cứ theo tấm hình làm sổ gia đình bên dưới do bác Tỷ (người trong xóm thường gọi bác là bác Tỷ đen, tên thật là Phan Tiên Đạt người Hải Nam) là thợ chuyên môn chụp hình gia đình, chụp năm 1962 thì gia đình tôi thuộc Ấp Đông, Đại biểu U, Liên gia 1 và Gia đình 7 của làng Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp, quận Ninh Hòa.
Thôn Mỹ Hiệp 3 nay đổi thành thôn 3.
Phía Bắc (phạm vi giữa đường Nguyễn Trường Tộ và sông Dinh) có:
Ấp Bắc hay còn gọi là ấp Ngoài, có xây miếu thờ Thiên Y Thánh Mẫu ANA,
Chùa Trường Thọ được xây giữa bãi cát bên dòng sông Dinh nên dân xóm Rượu quen gọi là chùa Cát.
Nhà thờ Mỹ Phước được Pháp xây dựng năm 1914 trên một gò đất mọc toàn là cây muồng nên còn được gọi là "nhà thờ Gò Muồng" và
"Ruộng Xoi" sát sông Dinh của dòng họ Trần về sau chia lại một nửa cho họ Lý lập hãng nước đá và lò gạch.
Dân sinh sống bằng nghề buôn bán tạp hóa, đan giỏ tre, đổ bánh ướt, bánh căn, bánh bèo, làm nem nướng...
Phía Đông (bao hình giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương, trước 1975 là chi nhánh của sông Dinh chảy qua xóm Lò Heo Cầu Gỗ và cầu Trạm hay cầu Đồn) và giáp gò Lăng có:
Ấp Đông Thành (người trong xóm gọi tắt là ấp Đông) thờ bà Hậu Thổ. Dân sống bằng nghề nấu rượu, đan vỉ bánh tráng, bánh xèo, bánh ú, bánh ít, bánh canh, tóm lưỡi câu, trồng rau, thợ mộc, thợ hồ, làm bún.. và tráng bánh.
Vì dân trong xóm làm rượu nên được gọi là xóm Rượu. Tại xóm Rượu còn đồn bót của Pháp mọc lên bên cạnh đường chánh có tên là Nguyễn Trường Tộ được phóng ảnh trên bản đồ quân sự của Pháp để họ dễ chuyển quân đi chống đỡ các hướng và dễ tiếp tế khi cần. Cạnh đồn Tây (lô-cốt) có một ngôi trường Tiểu học Tư thục Đức Trí do Thầy Nguyễn Tố làm Hiệu trưởng, sau đó vì bận công tác nên Thầy Tố nhường lại cho Thầy Ngô Văn Cử. Năm 1959, trường được dời về dốc Quán trước nhà bà Âu và nhà ông Quốc.
Gò Lăng chỉ cách nhà tôi chừng vài trăm thước. Hồi ấy, có hai người lớn tuổi nhất trong xóm kể cho tôi nghe rằng bà Nguyễn Thị Tiềm, một phú hộ người Việt gốc Hoa, do có công nuôi quân của chúa Nguyễn Ánh nên sau khi lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh xưng hiệu là Vua Gia Long nhớ ơn bà bèn sai tuần phủ sắc phong và cho xây lăng mộ (nay gọi là lăng bà Vú) vào khoảng năm 1803.
Phía Nam (phạm vi bên kia con mương giáp xóm Mới) có:
Nhiều đồng ruộng nằm bên trong nên gọi là "đồng trong",
Hai cái bàu lớn: bàu ông Sở và bàu ông Ngao. Cả hai bàu đều có nước trong và sâu, nhiều hoa súng và hoa sen, nhiều cá trầu, cá trê, cá rô, cá sặc, cá lòng tong, cá trèn, lươn. Ngoài ra, xóm Rượu còn một cái bàu cạnh nhà ông Thúi là bàu Sú có nước đục và nhiều lục bình.
Đất dưới bàu đặc biệt là màu xám đậm giống xi-măng và dẻo như đất sét hấp dẫn nhiều tay thủ công nghệ nắn ly tách, hoặc đám trẻ đến bàu thọc tay sâu dưới nước lấy đất từ thành bờ rồi vò tròn thành viên bi, phơi nắng làm đạn để bắn chim.
Nhiều cây ăn trái như xoài thanh ca, xoài cà lăm, xoài tượng, mận, đào, đào tiên, me,.v.v... Chỉ nhà bà bảy Ngọ không thôi, lúc bấy giờ có ít nhất 20 cây xoài và cam mọc đầy hai bên con mương.
Nhiều bụi tre, dừa và cau cao. Đặc biệt nhiều cây trảy rất thích hợp cho đám trẻ muốn làm ống thụt.
Riêng cái gò của nhà ông Ngoại tôi, cách nhà tôi chừng vài chục thước có một vườn trái thơm không biết bao nhiêu bụi thơm mà kể.
tiếp theo
2 - Phía Tây (giữa đường Nguyễn Trường Tộ và con mương) giáp Đàng Luồn Cây Thị (đường Võ Tánh) có:
Cái miếu nhỏ gọi là miếu "Thổ Kỳ" thờ Thần Đất nằm trong miếng đất của nhà người làm nhang họ Hàn (người Hải Nam). Giao điểm của con “đường trong” của xóm Rượu hợp với đường Võ Tánh của Đàng Luồn Cây Thị làm thành hình chữ "T" là địa điểm của cái miếu Thổ Kỳ này.
Đối với nhà tôi thì khu vực này còn gọi là xóm trên, tập hợp nhiều đào kép cải lương nhất trong xóm Rượu. Trong số ấy có chú ba Thành (kép chính xuống giọng cổ rất "mùi"), chú bảy Xi (đờn vọng cổ), chú hai Tiết (kép phụ), chú Thạnh (chuyên hát bội), chị Nguyễn Thị Tri (làm cô đào đẹp trong vở tuồng “Đường Lên Xứ Thái”), v.v... Sân khấu tập tuồng hầu như mỗi đêm tại miếng đất cạnh mấy cái mả Hời gần nhà bác ba Lợi (bác bán hàng quảng cáo trên chợ Dinh) và cách nhà tôi chừng vài chục thước.
Hễ nói "xóm trên" thì tất nhiên có xóm giữa, xóm dưới, xóm trong và xóm ngoài của xóm Rượu. Người xóm Rượu tự đặt tùy theo vị trí tương đối nào trong xóm để phân biệt xóm nào của xóm Rượu cho dễ truyền thông.
Phía dưới nhà tôi tức đi về hướng gò Lăng là xóm gò Lăng (hay xóm dưới) có bác sáu Đựng, không những là một nhạc sĩ nổi tiếng nhất của xóm mà còn của quận Ninh Hòa sành sỏi nhiều loại nhạc cụ dân tộc. Còn có nhà của dượng tám tôi, thầy Phạm Đồng là giáo viên lâu đời của trường Tiểu học Đức Trí.
Xóm tôi nằm chính giữa nên còn được gọi là xóm giữa hay là xóm bánh tráng cũng tập hợp khá đông đảo đào kép, trong số ấy có mợ năm Mãi (xuống giọng cổ rất "mùi"), cậu bảy Nghi (vai vua trong vở tuồng "Hội Nghị Diên Hồng"), cậu tư Lặt (kép phụ), cậu mười Dưa (kép phụ ca giọng cổ rất "mùi"), dì Cải (ca rất mùi) v.v... Sân tập và giàn dựng tuồng không đâu xa lạ, chính trong cái sân của nhà cậu năm Hà tôi.
Xóm ngoài (gần dốc Quán) có trường gà nổi tiếng đầu tiên của xóm Rượu được tổ chức vào mỗi cuối tuần tại nhà bác ba Bản. Về sau vì số người sáp trận đông đảo nên trường gà dời vào xóm giữa, cách đó chỉ vài chục thước, đá độ tại sân đá của nhà bác chín Đề, rộng rãi hơn.
Xóm trong còn được gọi là xóm "đồng trong” giáp xóm Mới có băng nhạc cổ truyền chuyên kéo đờn đám chết do bác bốn Tui làm trưởng ban. Ngoài ra, còn có thầy Hà, là vị thầy thuốc Tây giỏi có tiếng và từng cứu giúp nhiều người, trong số đó có má tôi khi bà chuyển bụng và quặn đau nửa đường nên bà phải bò trên cầu Dinh trên đường đi qua nhà thương bên Vĩnh Phú để sanh tôi. Theo lời bà Ngoại tôi kể lại rằng nếu không nhờ ông Thầy Hà giỏi và tận tình cấp cứu kịp thời, tôi và mẹ tôi cả hai đã qua đời.
Xóm Rượu xưa kia có rất nhiều ngõ. Có 5 ngõ hẻm sâu vào nhà tôi khoảng đầu thập niên 60: ngõ ăn thông chợ hoặc đồn G.I. (Government Issue – Anh và Pháp dùng như nhau) gọi là ngõ "đàng luồn cây thị", ngõ ăn thông với trường Ðức Trí gọi là ngõ dốc Quán, rồi ngõ xuống gò Lăng nơi có lăng bà Vú gọi là ngõ gò Lăng, ngõ ra nhà bà Điếc chính là ngõ ra ngoài "Xoi", một thời đã là sân vận động của đám trẻ trong xóm và ngõ "đồng trong” băng qua những cánh đồng ruộng, ao bàu mương để vào xóm Mới.
Chưa hết, quanh xóm Rượu còn có nhiều ngõ khác chẳng hạn ngõ ra ấp Ngoài (ấp Bắc), ngõ lên thành Chùa, ngõ lên nhà ông ba Lợi, ngõ xuống nhà ông Bổ chích thuốc, ngõ xuống chùa Cát, ngõ xuống nhà thầy Bảy, ngõ hẻm ông "Vẹo" bán nước mía lên chợ Dinh, .v.v... Tôi không làm sao kể xiết vì Xóm Rượu tôi có lắm ngõ ngách .
Phần 2:
3-Khái Quát Các Dòng Họ Liên Hệ:
Ngoài các dòng họ chính của các triều đại Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Nguyễn, còn có các dòng họ khác như Phùng, Đặng, Huỳnh, Võ, Trương, Lâm, Lương, Phạm, Phan, Hồ, Đỗ, Dương,.v..v...tất cả đều nằm trong danh sách hiện diện lâu năm của các họ ở xóm Rượu. Riêng đối với dòng họ của gia đình tôi thì cả hai bên Nội và Ngoại sinh sống ở xóm Rượu lâu dài hơn cả thế kỷ.
Tổ tiên của ông Nội tôi thuộc dòng Thủy Tổ Tộc họ Nguyễn, nguyên quán tỉnh Thanh Hóa, đời vua Lê Nhân Tông, niên hiệu Thái Hòa đệ thất. Năm 1459, ngài sung vào đội quân của triều đình, đi dẹp giặc ở phương Nam, để mở mang bờ cõi Đại Việt. Sau khi chiến tranh kết thúc, được lệnh của triều đình, ngài ở lại khai canh, khai cư lập nghiệp tại xứ Câu Lậu bắc, làng Cẩm Lậu nay là thôn Cẩm Đồng, xã Điện Phong, tỉnh Quảng Nam. Về sau, ông Nội tôi cũng nối gót tổ tiên theo chân chúa Nguyễn xuôi dòng Nam tiến và dừng tại Ninh Hòa hành nghề thầy thuốc chữa trị bệnh nhân. Trong số những bệnh nhân ấy có bà Nội tôi thuộc dòng họ Lý.
Phía ông Ngoại tôi thì họ Phùng có gốc giỗ Tổ họ Phùng ở Phong Ấp mỗi năm, và có liên hệ bà con với họ Trần ở đường ra ấp Ngoài.
Phía bà Ngoại tôi thì họ Lý. Tôi được biết rằng thời xưa có 2 chị em bên Tàu di cư đến Xóm Rượu lâu đời, người em trai là cha của bà Ngoại tôi và người chị gái lấy chồng họ Đường sanh ra bà Bốn. Hồi ấy, mỗi khi xóm Rượu có những trận lụt lớn hay mỗi khi xóm mất an ninh, gia đình tôi đều lên tạm trú qua đêm tại nhà bà Bốn trên chợ Dinh (bà Bốn có hai người con là dì hai Tuyết và cậu ba Khì – nay cả hai đã qua đời). Lúc bé tôi không hề để ý đến gốc gác bà con thân thuộc cho đến khi má tôi qua đời, thì người đầu tiên xuống nhà tôi đứng ra phụ quán xuyến việc tang ma cho má tôi chính là bà Bốn trên chợ và cậu hai Bửu ngoài "Xoi" (ông Bửu giặt ủi). Tôi không khỏi ngạc nhiên về những người thân thích này và lân la hỏi thăm bà Ngoại tôi thì được biết cậu hai Bửu là cháu ruột gọi bà Ngoại tôi bằng cô. Đồng thời, tôi hỏi bà sự liên hệ bà con giữa bà Ngoại và bà Bốn, tức giữa họ Lý và họ Đường. Bà cũng giải thích cặn kẽ là bà Bốn (vai chị, họ Đường) và bà Ngoại tôi (vai em) là hai chị em cô cậu ruột, chính là hai người con của hai chị em từ bên Tàu qua định cư như đã nói ở trên.
Ðó là những dòng họ liên hệ với gia đình tôi, tuy nhiên dần dà về sau bà con trong xóm cưới gã lẫn nhau hoặc "ưng" từ những xóm khác đem về xóm Rượu, cứ thế gốc rể càng ngày càng đâm sâu và phát triển. Bởi vậy, tục ngữ ta có câu:
Bà con càng ngày càng xa
Sui gia càng ngày càng gần
tiếp theo
4 - Tục Kiêng Tên:
Tục kiêng đọc chữ trùng tên những ngưởi lớn tuổi của xóm tôi thật khắt khe ngay lúc tôi còn bé, tỷ dụ như đọc trại tên "hớn" thành "hán", "học" thành "hược", con "lươn" thành con "lan"... đặc biệt “đường” thành “đàng". Khi trưởng thành, tôi không được may mắn ở gần những người bà con lớn tuổi trong xóm để tìm hiểu thêm, nhưng tôi đoán chừng “Đường” có lẽ là tên húy của tổ tiên của dòng họ Lê trong xóm (?).
Một vài thí dụ cụ thể sau đây:
“đường cát” thì nói là "đàng cát"
“ăn cháo với đường” thì nói là "ăn cháo với đàng",
“con đưởng” thì nói “con đàng"
“đường luồn cây thị” thì nói là "đàng luồn cây thị"
"đi một ngày đường học một sàng khôn" thì nói là "đi một ngày đàng học một sàng khôn",....
Tập tục kiêng cử lâu ngày trở thành thói quen nên lúc viết ra giấy cũng y chang như vậy, một lần ông Thầy Cử đã quở phạt và khẽ tay tôi đau điếng vì một bài luận văn miêu tả "Con Đường Làng" năm lớp nhất, tôi viết là "Con Đàng Làng....".
Thuở ấy, đầu trên của chợ Dinh có rạp hát Thái Bình chuyên chiếu đủ các loại phim: phim hài hước và tình cảm Việt Nam thì có "Lý Chân Tâm, Anh Hùng Cỡi Củi" do quái kiệt bảy Xê, đóng giễu, “Quan Âm Thị Kính” do kỳ nữ Kim Cương đóng; phim tình cảm và thần thoại Ấn Độ có "Như Lai Thần Chưởng", "Cuộc Phiêu Lưu Hàng Hải của Hoàng Tử Sinbad", "Mụ Phù Thủy và Cây Đèn Thần"; phim Tàu thì có "Tề Thiên Đại Thánh", phim "Giang Sơn và Mỹ Nữ" do Triệu Lôi và Lý Lệ Hoa đóng, "; phim bên Trời Âu Mỹ có "Tarzan", "Cao-Bồi"..v..v... Đám trẻ xóm Rượu vốn là khán giả trung thành của rạp nên tìm mọi cách xin tiền bà Nội bà Ngoại để mua vé đi coi phim, thường vào ban ngày cuối tuần (vì đường lên rạp phải đi ngang qua chợ Dinh có hai cây bàng hai bên nghe đồn có nhiều ma về đêm). Hễ khi nào có những tài tử chánh xuất hiện trong giờ chiếu phim là kích động đám trẻ la lớn: Ảnh đó, chỉ đó, ảnh đi “đàng" này "quýnh", Tề Thiên xuống "đàng" kia, còn chỉ thì chạy "đàng" này.... Nhưng đặc biệt nhất là trước giờ khởi chiếu, người phụ trách rạp luôn luôn mở hai bản nhạc: “Gạo Trắng Trăng Thanh” và “Trăng Rụng Xuống Cầu” do cặp vợ chồng Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết song ca, được phát ra rất lớn từ những chiếc loa bên trong cũng như bên ngoài rạp.
Tôi nhớ trong bài hát " Gạo Trằng Trăng Thanh” có một đoạn:
"Ai đang đi trên đường đê, ai lắng nghe muôn câu hò đê mê."
Đám trẻ xóm tôi ca theo, nghịch ngợm hát chạnh thành:
“Ai đang đi trên “đàng” đê, "té xuống sông ướt cái quần ny-long"...
Bài hát vừa chấm dứt thì rạp cũng vừa tắt đèn để chiếu phim, đồng lúc khán giả vừa vỗ tay bể rạp vừa hát thêm một lần nữa...
5-Các Giai Đoạn:
Quãng đời ấu thơ của tôi ở xóm Rượu tạm chia 3 giai đoạn như sau:
1) Thời thực dân Pháp ruồng bố đầu thập niên 1950, mẹ tôi đã phải gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu trong hai cái thúng hối hả trên đường chạy giặc xuống hòn Hèo.
2) Khoảng năm 1958-1960 là khoảng thời gian đẹp nhất và thanh bình nhất trong đời tôi ở xóm Rượu.
Đó thực sự đúng là thời điểm của “Gạo Trắng Trăng Thanh” với hình ảnh giã gạo dưới đêm trăng thật thanh bình, của “Trăng Rụng Xuống Cầu” có trăng in hình xuống mặt nước không chút gợn sóng.
Đó cũng chính là thời điểm thịnh hành nhất của chiếc "Máy Hát Quay Tay hiệu Columbia (con chó ngồi bên cái loa)" có cái cần cổ cong cong, kéo ra kéo vô mỗi lần hát và cái kim nhọn "quắc" dài cả một phân Tây, thay ra thay vào để rà theo đường ghi âm trên mặt dĩa. Dĩa hát thì màu đen, nặng trịch, lớn bằng cái dĩa bàn và được vận chuyển quay tròn đều bằng cách lên dây thiều, lên cứng quá dễ bị đứt dây. Vì lý do này nên trong xóm có những câu chế giễu: " "Dặn" cổ xổ bù-lon", và khi hát ngưng ngang lưng chừng bị giễu là "xuống “dọng” cổ bị đứt dây thiều”.v.v... Điều bất tiện nữa là phải thay kim thường xuyên vì khi kim cùn thì rè khó nghe hay dĩa cũ bị trầy, cây kim chạy tới chỗ trầy khựng lại như "kiến bò lên miệng con cút" tuột lên tuột xuống, hát tới hát lui cũng bao nhiêu đó, cà lăm cà lặp, nghe "thắc cừ lọt đẩu".
Lúc này, dĩa hát hiệu Asia hay Pakelite (?) chỉ thu (ghi âm) cải lương với các danh ca vọng cổ như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Út Bạch Lan ...trong vở tuồng “Ăn Khế Trả Vàng”, “Tôn Tẩn Giả Điên" và đặc biệt quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện với những mẫu chuyện xui xẻo hài hước có tựa là "Chuyến Xe Lửa Mùng 5".
Tất nhiên, chỉ những gia đình có tiền dư bạc để mới đủ khả năng sắm được cái máy hát này, muốn "gồ" hơn là sắm thêm cho đủ bộ gồm có chiếc máy phát thanh hiệu Philips và chiếc đồng hồ treo tường có cái quả lắc đong đưa gõ “boong boong” đếm mỗi đầu giờ và một tiếng nhẹ mỗi nửa giờ. Còn những người nghèo trong xóm thì biết giờ giấc để nấu cơm nhờ nghe tiếng còi xe lửa mỗi lần chạy qua cầu Sắt kéo còi inh ỏi, vì vậy dân lao động trong xóm tôi mới rành giờ nào xe lửa ra, giờ nào vô, hoặc lắng tai nghe tiếng "tít tít" trên đài phát thanh mỗi đầu giờ báo hiệu bắt đầu chương trình thương mại hay cải lương, hoặc định giờ bằng cách coi bóng mặt trời.
Nhà nào có người đẹp, sang trọng nữa thì sắm thêm chiếc xe gắn máy hai bánh hiệu Vélo-Solex hay Goebel hay Vespa, nuôi thêm con chó "berger" bên trong hàng rào duối/dâm bụt thì không chàng trai nào trong xóm dám bén mảng đến gần.
Tựu trung, xóm tôi lao động vất vả, hiếm ai sắm những thứ xa xỉ trên.
Tuổi thơ của tôi bắt đầu từ sân trường Đức Trí nhưng đủ trí khôn để hiểu về Ninh Hòa khi tôi lên lớp nhì ờ trường này. Sân trường Đức Trí mòn dấu chân tôi cùng các bạn chơi đánh bi, nhảy hòn khì, đá kiện, chơi trỏng, chơi bắn bạc cắc, chơi ăn bịch thuốc lá, đá dế, chơi vụ, chơi cối xay, chơi ống thụt, chơi cút bắt 5 10 15..., và nhiều nhiều nữa. Kỷ niệm của tôi với Gò Lăng nhiều nhất vì tôi thường xuống đây bắt dế, rình mấy chú chim chóc mào ăn trái sim, bình bát, mãi mê bắt ổ chim dòng dọc tuyệt đẹp có lần đạp nhầm con rắn “rồng” khoanh tròn nằm ngủ bên bờ ruộng xuýt nữa cắn tôi đi đoong.v.v....và còn nhiều, nhiều nữa. Sau khi nước lụt rút, tôi chơi nghịch lấy vôi ăn trầu thoa lên cổ ễnh ương phình bự kêu lớn, cũng như chặt trộm cây trảy làm cần câu lấy ống tre quấn cước vào đồng trong bắt ếch, đơm cá, giăng câu búng nước kêu "chách chách" chờ lươn lên miệng hang để bắt... thú nhất là kiên nhẫn theo dõi bầy ròng ròng để bắt cá trầu bằng mồi nhái, vui vui lắm !
Quán bà Chói, bà Lượng, tiệm ông Quốc, quán ông sáu Xóm, bác mười Bân...không nơi nào tôi không ghé để thưởng thức bành xèo, bánh rán, bánh bò, bánh phồng, khoai hạ, trái da, cũ nghể, trái chùm quân, đá banh lắc (banh bàn), đánh ping pong, hớt tóc..v.v....
Đêm về dưới ánh trăng, tôi cùng các bạn từ xóm trên hay xóm dưới tụ tập chơi u mọi, bỏ khăn...rồi tụm năm tụm bảy ngồi trên những đống củi nói chuyện sang đàng, tào lao thiên tặc thâu đêm. Rồi những đêm văn nghệ ca hát cải lương, hát bội trong xóm vào những dịp chùa Cát, ấp Ngoài (ấp Bắc), ấp Đông Thành làm chay, và cũng nhân dịp này tôi cùng đám trẻ chờ chực từ lúc chiều, sẵn sàng lấn chồng lên nhau để giành từng đồ cúng được thả giàn hay người bên trong "thùng lùng" bánh cúng, đồng tiền,...ra ngoài vào khoảng nửa đêm.
Mỗi lần cúng mặn, tôi nhớ bác Phàn (người Hải Nam ở xóm trên) quay nguyên con heo quay đỏ ửng đem xuống Ấp Đông để cúng. Tiếng trống mời gọi mọi người trong xóm về Ấp tề tựu để chia xẻ từng miếng thịt heo quay ăn với bánh hỏi của bà ba và bún của bà Phinh và bác Lợi Cụt ngon đáo để.
Những cây sung, cây củ chi (mã tiền), cây bàng to lớn ờ đầu ấp, đầu miễu đợi màn đêm sụp xuống trở nên linh thiêng, ai đó đã rải cát nhát ma bọn trẻ điếng người. Và cho dù chuồn chuồn cắn nát rún như tục lệ trong xóm rỉ tai, rốt cuộc có mấy lần bị hụt chân uống nước sông Dinh gần chết tại bến ông Đùm, nơi tôi thường ra tập bơi mỗi chiều cuối tuần.
Tết đến, cả xóm cả quận đốt pháo đủ loại nào Từ Châu, Quang Điện,..pháo tống, pháo đại, pháo kim, pháo chuột. Đám trẻ kiếm van xe đạp gắn chùm lông gà nhồi diêm quẹt phụ đốt. Mùng hai Tết, với quần áo giày mời, cả đám xuất hành đem theo đồ ăn đi suối Nước Nóng - Dục Mỹ, đi Ba Hồ du ngoạn, đi hòn Chồng, rủ nhau đi Vạn Giã bằng xe lửa, chiều về xóm sớm để chơi lô-tô, lục cục, xốc dĩa,... ai thua bị cú đầu gối. Người lớn thì tụ họp ngồi đấu chữ Nho để bàn câu thai đánh “Cửu Nhơn”, có cây nêu treo câu trả lời được dựng trên cầu Gỗ gần rạp chiếu bóng Thái Bình. Mùng ba, cả đám trẻ đi coi hô bà Chòi có lúc ở dưới Ấp, có khi ở xóm Mới, lại có khi ở miệt nhà quê ở Thuận Mỹ, Thạch Thành, hát bội ở miệt Phong Ấp, Tân Hưng....
Đó là những kỷ niệm đẹp nhất, thanh bình nhất trong quãng đời ấu thơ của tôi trong giai đoạn này.
3) Khoảng năm 1960-1964 là khoảng thời gian của cuộc chiến bắt đầu gia tăng. Đám trẻ trong xóm không còn được phép đi Ba Hồ, suối Nước Nóng Dục Mỹ vào những dịp Tết nữa vì mất an ninh. Ngay cả sân vận động Ninh Hòa thường có đá banh cuối tuần hấp dẫn người coi đông đảo và ca ngợi các cầu thủ đội nhà (đội đá banh với Tây còn lại) luôn thắng trong những trận đấu, và hàng năm có những buổi hội chợ Tết với đầy đủ trò chơi thật vui nhộn, cũng dần dần vắng bóng. Và ngay cả những miền quê xa xôi của Ninh Hòa, những nơi thường tổ chức các lễ hội như hát bội, hô bà chòi,.., cũng tan biến. Ở làng Phước Đa hầu như năm nào cũng có trưng bày "Cọp" (người xóm tôi gọi là ông Bị) bắt được nằm trong bẫy đã một thời thu hút nhiều cư dân từ các làng khác đến coi, cũng biến mất theo năm tháng. Đến lúc người dân trong xóm, trong quận gõ thùng thiếc, mõ, chuông...để thực tập báo động giả ban đêm (tội nghiệp mấy con chó trong xóm chạy mất hút) trong thời kỳ Ấp Chiến Lược, thì mọi cuộc chơi và du ngoạn của trẻ thơ đều bị giới hạn.
Vài năm sau đó, hầu hết đám trẻ xóm Rượu chuẩn bị lên đường nhập ngũ.
Nguyễn Văn Thành
July 21, 2021