1 - Tôi Sẽ Là Tôi Thôi.......Hồ Thị Mỹ Hạnh 2- Chuyện Cô Gái Rượu ......Đặng Hà Nội 3 -TỘI....Xuân Sương 4- Ngõ Hẻm Tận Cùng .....Vũ Thanh Hoa 5 - Qua Rồi Đêm Trung Thu....Phan Trang Hy 6 -Tắm Bến Sông Xuân ..... Quý Thể 7 - Kích Cổ Thôi Hoa........Quý Thể 8- Tuổi Dại.......Hai Hùng 9 - Phóng Sinh...... Xuân Sương 10 - Con Phố Nhỏ Quyến Rũ .....Lê Lành 11- Cọn Nước Đôi...... BT Như Lan 12 - Người Dẫn Hôn Lễ .... Vũ Thanh Hoa 13 - Vòng Vía.....Bùi Thị Như Lan 14- Gã Biết Chữ.....1....2....3.... Phi Ngọc Hùng 14- Vị Ngọt Mùa Xuân....Hai Hùng 15- Phây .... Xuân Sương 16- Em Là Nàng Tiên Của Anh....Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh 17- CHA .....Hoàng Chi 18- Buổi Sáng, Bóng Tôi, Cô Đơn .... MIÊNG 20- Dấn Bước Thăng Trầm....1...2... Nguyễn Bảo Hưng 21- Nét Chân Quê .....Hai Hùng 22 - Hữu Duyên Tương Ngộ......H/TMỹ Hạnh 23 -Quê Hương Gợi Nhớ......Hoàng Định Nam 24 -
23 - Quê Hương Gợi Nhớ
Hoàng Định Nam
Mặc dù mình vẫn là người tị nạn nghèo trong một đất nước giàu có nhất này, nhưng quả thật cuộc sống ở đây vẫn là cuộc sống mà hàng tỷ người trên trái đất này mơ ước.
Nhưng nếu có ai hỏi tôi, đâu là quê hương đẹp nhất. Tôi không ngần ngại trả lời. Đó là quê hương thời thơ ấu đầu đời của tôi. Tôi muốn nói đến quê hương đầu đời, nơi mà tôi gạt nước mắt chia tay năm tôi 11 tuổi. Quê hương đầu đời như một chiếc nôi, dù xấu hay đẹp, dù mới hay cũ, chiếc nôi ấy cũng đã ru tôi từ khi mở mắt chào đời. Cũng từ chiếc nôi ấy, tôi cất tiếng khóc, tiếng cười vô ưu trong tình yêu thương của cha mẹ ông bà.
Tôi lớn dần trên một quê hương nghèo khổ và đầy thiên tai. Thời thơ ấu, dù chưa hiểu quê hương là gì, thì quê hương đã như máu như thịt, như nhà như cửa, như cha như mẹ, như ông như bà. Nghĩa là một vòng tay, một thân thiết không ai muốn rời khỏi. không ai muốn đi xa, đi đâu cũng muốn quay về.
Quê hương đôi khi thật chỉ chứa đựng những điều hết sức giản dị. Nơi có bờ tre xanh kẽo kẹt trưa hè, tiếng tàu chuối phất phơ, tiếng gió reo xào xạc trên hàng mít sau vườn, ngàn đời như tiếng thầm thì gọi réo nhớ nhung. Nơi những thằng bạn quê chân trần cùng mơ ước bắn rớt những con chim đậu ngất ngưỡng trên ngọn cây cao vút bằng cái ná thun thô sơ. Nơi, vòng miệng chiếc thúng hư cũng thành vòng bánh xe đánh lăn cùng khắp sân nhà. Hột trái xoài cũng tự chế được thành cái cối xay. Cỏ cú cỏ chỉ cũng thành trò chơi đá gà. Dây chuối quấn thành trái banh, bọn con nít cũng chạy đá vang rân trên sân trường tiểu học. Nơi tiếng ve râm ran trên cây vông trong những buổi trưa hè oi ả hay tiếng chim cu gáy gù gù u buồn. Âm thanh ấy sao cứ âm vang cả một đời người. Cũng nơi đó, những ngày mưa dầm lạnh lẽo kéo dài cả tháng, ngồi thu lu chịu trận trong nhà không thể chạy chơi. Bắp rang, khoai lang khô luột cũng ngon không kém một cao lương mỹ vị nào bây giờ được hưởng.
Chúng ta, đã từng đi đến những nơi thật đẹp, thật huy hoàng tráng lệ, những kinh thành xa hoa, những bãi biển thơ mộng. Rồi chúng ta đôi khi không nhớ ra cái tên nơi đó. Hay lẫn lộn với bao cái tên khác. Nhưng những địa danh quê hương không bao giờ mờ nhạt.
Những cái tên đã đi vào thơ ấu, có lẽ đến chết không thể nào nhoà đi trong trí nhớ. Đó là khi tôi đọc những câu thơ: Mẹ bỏ làng xa Thi Lai, Hà mật...Canh cửi một đời cũng nhắm mắt ra đi.*
Tôi bỗng nhớ Thi Lai. Tôi bỗng nhớ Hà Mật. An Trường, Thi Nhơn, Phú Bông, Đông Bàn, La Qua, Phuơng Trà... cũng hiện về mồn một. Và nữa, Xuyên Trà, Xuyên Trường, Trà Kiệu, Cầu chìm, Nam Phước, Câu Lâu, Bàn Thạch...
Thuở nhỏ tôi ở với ngoại bên Thi Nhơn Gò Nổi.Những năm lớp 4 lớp 5 tiểu học, tôi đã một mình từ nhà ngoại về nhà nội, băng qua gò Hùng qua bến đò Gặp. Nơi bến sông có bãi dâu xanh ngát. Bến Gặp quạnh vắng mà bên kia là Thi Lai, là quê nội. Bãi cạn nên đò không cặp bến, phải nhảy xuống lội vào bờ. Nước tới ống quyển lao xao dưới chân, giòng nước trong mát của nhánh sông Thu Bồn chảy về cửa Đợi. Giữa bến sông bao la, vắng người, biết bao lần tôi, chú bé con, trần truồng tung tăng bơi lội. Con đò vắng khách cũng đã thả trôi đâu đó. Tôi đùa giỡn với nước với cát. Một mình tôi. Một mình tôi.
Mỗi khi về tới nhà nội, nghe thím tôi nói, nội đi Trà Kiệu, hay đi Câu Lâu, là tôi tức tốc cuốc bộ đến những nơi đó tìm gặp nội. Tôi băng qua một con suối nhỏ, rồi băng qua sân vận động Xuyên Trường, ra tới đường cái quẹo phải đi ngang nhà thờ Trà kiệu trước khi đến chợ Trà Kiệu. Trên ngọn đồi cao tượng đức Mẹ lúc nào cũng buồn bã nhìn tôi. Hay quẹo trái cuốc bộ một quãng đường rất xa để băng qua cầu Chìm, băng qua quận lỵ Duy Xuyên, tới trạm Nam Phước rồi quẹo trái tới cầu Câu Lâu. Tôi đi trên con đường đầy bụi bặm. Tôi đi với lưng áo đẫm mồ hôi, chân rã rời. Tôi đi với lòng hoang mang không biết có gặp nội hay không mà mắt thì ngơ ngát thèm thuồng nhìn những chiếc xe lam 3 bánh chở khách tuyến Nam Phước Trà kiệu. Gặp nội tôi: Mi đi mô rứa, đi xe hay đi bộ? Lòng tôi rưng rức: Con đi bộ, con kiếm bà nội. Nội ôm tôi vào lòng là bao nhiêu nắng gió nhanh chóng tan biến.
Nội, giờ đã yên nghỉ trên gò đất Chiêm Sơn.
Mấy mươi năm trên đời này, mơ ước triền miên của tôi là ngày nào đó, chỉ một lần thôi, tôi đi lại những con đường mà thuở nhỏ tôi đi thăm gặp nội để biết con đường thật sự bao xa. Cũng như để thấy rằng bãi dâu ngày xưa ở đâu, bến Gặp và bãi cát vàng ra sao. Con đường băng qua Cầu chìm, Nam Phước như thế nào.Tôi cũng hằng tin rằng, vật đã đổi sao đã dời. Sẽ thất vọng khi chứng kiến mọi cảnh vật đã đổi thay. Nhưng ước mơ đó vẫn không nguôi.
Thời buổi chiến tranh
Mẹ bỏ làng xa Thi Lai Hà Mật
Canh cửi một đời cũng nhắm mắt ra đi*
Quả thật một ngày mùa Xuân năm 1965 chiến tranh đã đến Hà Mật, Thi Nhơn, An trường...Chiến tranh đã thật sự đến Gò Nổi. Người Cộng Sản đã mang chiến tranh đến phá tan cảnh thanh bình yên ả của những thôn ấp trù phú hiền hoà bên bờ sông Thu bồn.
Từ đó quê hương ly tán. Tôi cũng rời bỏ Thi Lai Hà Mật trong những ngày mà tiếng đại bác từ Hồng Bằng hú trên những hầm trú đơn sơ. Ngoại tôi gửi tôi vào Sài gòn ở với ba mẹ tôi. Sau đó ngoại tôi cũng không bám nổi trên mảnh đất hoang tàn này. Gần như dân quê Gò Nổi tản cư ra Hội An, Vĩnh Điện hay Đà Nẵng hết, không còn một ai.
Chú bé 11 tuổi ra đi mang theo quê hương nặng trĩu trong lòng. Đến bây giờ, ở miền cùng trời cuối đất này và trải qua bao thăng trầm một đời người, những bãi dâu xanh, những mùa lúa thóc, những vụ đường miá...khi nhạt khi đậm vẫn luôn ẩn hiện trong trí nhớ mỗi ngày một hao hụt của tôi.
Nên chỉ cần bắt gặp lại cái tên làng tên thôn thân yêu xưa, là cả một trời kỷ niệm hiện về. Như những câu thơ trên của anh Xuyên Trà bất chợt gợi nhớ. Ngay cả bút hiệu của anh "Xuyên-Trà", cũng làm tôi nghe như anh là một người thân quen từ bao giờ; dù tôi chỉ gặp anh một lần, một lần rất ngắn ngủi, không đủ cho một câu chuyện làm quen. Tôi thích cái tên Xuyên Trà ở anh trước khi đọc thơ anh. Và khi đi vào thơ anh, tôi như trôi bềnh bồng trên dòng sông thơ ấu. Bút hiệu của anh là một địa danh xa xôi và đã mất tăm theo vật đổi sao dời, chỉ còn sót lại trong trí nhớ của người bao năm cũ, cũng đã tạo thành cái duyên văn nghệ giữa tôi với anh. Thơ anh cũng đáng yêu như cái tên của anh. Bởi thơ anh là tiếng quê hương tôi hằng khắc khoải.
Bây giờ, quê hương trong trí nhớ của anh và tôi, đã không còn nữa dù tôi hay anh một ngày nào đó có đang đứng trên mảnh đất kia, có đang nhìn về hướng xa xa Trường sơn xanh thẳm hay có tắm lại bến sông xưa. Con sông ngày nào nay đã lệch dòng bồi lở.
Tất cả đã không còn. Nơi tôi muốn một lần trở lại, đã từ lâu thật sự không còn như cũ vì tất cả "Biển Đã Xanh Dâu"
Hoàng Định Nam
***
22 - Hữu Duyên Tương Ngộ
Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh
Truyện Ngắn
Nhìn vẻ mặt bơ phờ của Nga tôi thương nó quá, nếu hậu quả của...việc ấy xảy ra thật, thì chính tôi cũng có một phần lỗi đã đẩy cho Nga cái rủi ro mà lẽ ra là của...tôi. Dù rất thương và cảm thông với tâm trạng của Nga, tôi vẫn rất sợ gặp mặt nó vì tôi có cảm giác nó oán tôi lắm qua những lời than thở mà nó bắt tôi phải lắng tai nghe một cách thành khẩn.
Nếu cái điều nó (và cả tôi) đang lo sợ đó có thật thì thay vì tìm gã trai kia để ăn vạ, tôi chắc chắn Nga sẽ trút hết lên đầu tôi những gì mà nó không thể phân bày cùng người khác. Xét cho cùng tôi là người chứng kiến sự việc từ đầu đến cuối nên chỉ có tôi mới làm chứng rằng Nga hoàn toàn vô tội. Trong khi Nga đang xanh mặt vì lo lắng, thì tôi chỉ còn biết tỏ sự nhiệt tình quan tâm đến Nga bằng cách bỏ công truy tìm tông tích gã trai kia. Dù chưa biết tôi sẽ dám làm gì gã, nhưng tôi cần phải nắm rõ lý lịch của gã đã, chờ khi Nga cần đến là tôi chìa ra liền, cũng xóa bớt một phần lỗi của tôi trong sự "thiệt hại" của Nga. Tôi sắm một cái kính đen, thêm cái mũ to vành đội sùm sụp để bắt đầu những buổi la cà làm thám tử ở bến xe trong giờ mà tôi đoán là gã sẽ đi học về trên một chuyến xe chiều...
Không khó khăn lắm trong việc tìm hiểu về một ai đó trong cái thị trấn nhỏ bé này. Tôi chỉ cần đầu tư thời gian một buổi chiều chủ nhật là biết tên gã ấy. Đỗ Hào Quang! Mới nghe cái tên đã thấy chói loá rồi (Còn hành vi của gã thì tối om, thật là trái ngược...)
Ngoài lúc gặp nhau ở trường, tan học về nhà là tôi trốn biệt sợ gặp Nga, nhưng nó đâu dễ tha cho tôi, nó đến nhà tôi là chuyện không lạ, huống chi giờ đây tôi là người mà nó bắt phải đồng cam cộng khổ với nó.
Nga đẩy cửa bước vào, mắt lấm lét nhìn quanh vừa hỏi:
-Có ai ở nhà không mày?
-Đi vắng hết rôì, có gì không?(Tôi hỏi lại nó)
Tôi nhìn Nga chờ đợi điều nó sắp nói. Dù chắc chắn không có ai ngoài tôi nhưng nó vẫn thì thầm:
-Tao mới nghe nói nếu...nếu "bị" thì lông mày dựng đứng lên còn cổ thì giựt giựt...
Tôi ngờ vực:
-Thật vậy sao? Tao hổng nghe vậy bao giờ.
Nga gật đầu vừa vén tóc trên trán ra rồi chồm trước mặt tôi:
-Mày dòm giùm xem chân mày tao có dựng lên không?
Tôi dồn hết thị lực vào đôi chân mày mọc không trật tự mà chưa biết tỉa tót của Nga, chúng không có gì khác lạ.
-Bình thường mày à, tao hổng thấy có vẻ gì nó muốn báo tin vui...
Nga nhăn mặt:
-Đó là tin vui sao?
-À xin lỗi! Tao quên, vì nghe người ta hay hỏi nhau là "Có tin vui chưa?" khi muốn nói đến chuyện con cái nên tao lộn...
Nga không chờ tôi nói hết câu, nó vạch cổ áo rồi rướn cổ bảo tôi:
-Mày dòm cổ tao thử .
Tôi lại chăm chăm nhìn vào ngấn cổ thon của Nga, chẳng thấy gì ngoài làn da trắng mịn màng. Tuy nhiên tôi không rời mắt khỏi cổ của Nga vì muốn tỏ ra rất "thành tâm" chia sẻ với bạn. Nga sốt ruột nhắc khi chờ hơi lâu:
-Lẹ lên mày, không có gì chứ?
Trong khi Nga hỏi thì tôi thấy cổ nó... rung rung, và tất nhiên tôi bật kêu lên:
-Có...có thấy rồi mày ơi!
Nga giật thót người, đưa tay sờ lên cổ:
-Sao? Mày thấy nó giựt hả?
Tôi không muốn nhưng đầu phải giật để trả lời cho câu hỏi của Nga. Lập tức miệng nó mếu xệch như cái thuyền úp ngược, nó nói mà gần khóc:
-Tại mày hết, tao đang ở phía ngoài mày đẩy tao vô trong nên tao mới "bị"...như vậy là tao không dám về nhà đâu...tao sẽ nghỉ học bỏ nhà đi luôn...
-Bình tỉnh đã, mày có chỗ nào ở mà đòi bỏ nhà đi?...
Nga thút thít:
-Tao tới ở với...mày!
Tôi nghĩ nhanh đến việc nếu Nga làm thật như lời nó nói thì trước nhất tôi phải chia bớt phần ăn của tôi cho nó khi nó đến ở với tôi. Cái vụ này tôi hổng...quen! Vì vậy tôi bỗng thông minh hẳn ra khi nghĩ được cách giải quyết:
-Mày đi với tao, đến nhà chị Mai con bác của tao nhờ chỉ cho ý kiến, dù sao chỉ cũng có gia đình rồi nên biết hơn tụi mình...
Nga do dự:
-Tao sợ lắm, lỡ chị Mai mắng tao ngu thì sao..
-Không đâu, có tao làm chứng là mày hổng muốn vậy, tao sẽ nói việc ngoài ý muốn của...tụi mình! Đến đó nếu mày sợ cứ im để tao nói ...
Chẳng còn cách nào khác là Nga phải riu ríu đi theo tôi.
Chị Mai cứ tủm tỉm cười khi nghe hai đưa tôi tranh nhau phân trần:
-Khi lên xe, em đã ngồi ở ghế ngoài phía cửa rồi, tự nhiên con Khanh giành chỗ đẩy em vào ghế trong...
-Tao giành thì mày đừng nhường chỗ. Chỉ tại cái số của mày nên mới...
-Khi thằng cha đó bước lên thì xe đã đầy khách, thấy chỗ cạnh em còn trống chả liền tới ngồi... sát em, không còn chỗ nào tránh nên em vội lấy cuốn truyện chắn vào giữa em với thằng chả...
Tôi nhanh nhẩu cướp lời Nga nói tiếp:
-Xe chạy được một hồi, gã đó có "ý đồ đen tối" nên bèn làm bộ mượn cuốn truyện của Nga đang chắn giữa...chỗ...
Chị Mai nghiêm mặt lại:
-Thôi vậy là chết rồi...nó rút cuốn truyện đi phải không?
Cả hai đứa tôi giật mình,cùng hỏi lại :
-Sao hả chị?
-Và bây giờ tụi em đang sợ "hậu quả" của việc ấy?
Tôi ngập ngừng:
-...Dạ!Vừa nảy em cũng thấy cổ Nga rung rung, người ta nói như vậy là đã...
-Có ai đã nói với tụi em rằng ngồi gần con trai là...có bầu phải không? (Chị hỏi xong phá lên cười)
Nga cúi mặt nhìn xuống đất có lẽ muốn giấu đôi mắt đỏ hoe, lí nhí đáp:
-Bà cố em đã dạy rằng không được nhìn những cảnh tầm bậy con mắt sẽ bị ...mọc mụt lẹo.Không được ngồi gần con trai sẽ bị...bị...
-Chị hiểu rồi. Người già thường tránh nói rõ ràng những chuyện mà họ nghĩ trẻ con chưa cần hiểu rõ nên cứ nói đơn giản để "ngăn ngừa" vậy thôi, thật ra trong một chừng mực nào đó tụi em cũng nên biết những gì cần tránh và những gì không đáng sợ...
Chị kéo hai đứa tôi lại gần giản giải một hổi một hồi về những điều mà chị nói có viết trong những cuốn như là "Tuổi dạy thì cần biết", "Tuổi Cài Trâm". Vẻ mặt Nga từ bí xị chuyển sang hân hoan, hai má từ trắng chuyển sang đỏ.
Còn tôi thì cũng nhẹ cả người vì từ nay Nga sẽ không còn theo tránh móc tôi đã đẩy nó ngồi gần "thằng cha" đó.Tôi cũng hiểu hơn ngụ ý những lời dạy bóng gió của các bà cố, bà nội để "nhập kho" thêm những điều chị Mai nói. Có thế chứ! Từ nay tôi không dại gì nhường chỗ cho bọn con trai vì không dám ngồi gần. Trước khi bọn họ có cơ hội xáp lại gần, tôi sẽ xáp lại gần họ trước mà không còn sợ những điều như bà cố chúng tôi dạy. Nhiều trò chơi vui nhộn ở trường từ bấy lâu nay bọn con gái không dám tham gia như trò chia thành hai phe, một đứa cõng một đứa chạy tông vào nhau, phe nào té hoặc làm...rớt "đồng đội" nhiều hơn thì phe đó thua. Ở trò này con gái tụi tôi dĩ nhiên được con trai cõng , tụi tôi chỉ việc bám chặt cổ "đồng đội" để không bị rớt là được họ cho tham gia chơi. Mới nghĩ đã thấy vui rồi. Bọn con trai! Hãy đợi đấy...
Rời nhà chị Mai, giải tỏa được gánh nặng tâm lý, Nga vui quá nên nói cười luôn miệng. Lợi dụng tình hình có lợi, tôi kể công:
-Hôm đó tao nhìn thấy tên đó đeo phù hiệu trường Nam Trung học Trần Hưng Đạo vậy là tao tìm hiểu mới biết được tên tuổi của hắn...
Nga có vẻ không quan tâm đến lời kể của tôi:
-Giờ thì hắn là ai mặc kệ, lần sau nếu còn gặp lại hắn trong trường hợp đó, tao sẽ ngồi ép sát vào hắn để trả thù!
Tôi tiếp tục "công việc" của mình:
-Nhưng trước khi mày mặc kệ thì tao đã phải dầm mưa dãi nắng để theo dõi hắn..
-Mấy hôm nay trời dịu mát, có mưa hay nắng gì đâu mà dầm.
-Là tao muốn ví von sự vất vả mà tao đã vì mày. Đáng nói là trong lúc như thế tao phải ăn uống để có sức nên...nên tao hết cả tiền để dành!
Nga gật gật đầu có vẻ xởi lởi:
-Tao hứa khi nào có tiền tao sẽ bù lại cho mày bằng một chầu gấp mấy lần mày đã tốn.
Tôi chỉ chờ có thế:
-Thật nhé! Vậy mày định khi nào?
-Khi tao học xong và đi làm kiếm tiền...
-Trời! Bây giờ tụi mình mới mười lăm tuổi, đợi đến lúc đi làm được thì mày quên tuốt lời hứa rồi.
-Nếu tao quên thì mày nhắc là được chứ gì.
Tôi bắt Nga ngoéo ngón tay trỏ vào ngón tay tôi để cam kết. Lời hứa đó phải qua nhiều năm sau khi Nga trở thành cô giáo của một trường tư thục mới được thực hiện. Khi Nga lãnh tháng lương đầu tiên là tôi lập tức nhắc lại "kỷ niệm xưa". Làm sao tôi có thể đợi cái ngày ấy lâu hơn được cơ chứ. Nga luôn hiểu ý và chìu tôi, khi hai đứa vào tiệm ăn, Nga nói một câu mà tôi rất thích nghe:
-Mày cứ chọn món nào mày thích, tao không ăn được thì mày ăn, không sao đâu...
Được khuyến khích, nên tôi không khách sáo, hơn nữa đàng nào cũng mang tiếng Nga khao, phải ăn cho đáng. Tôi đang thả hồn vào mùi thơm hấp dẫn của các món ăn và đang ngấu nghiến ngon lành thì nghe Nga nói:
-Chết rồi! Tao quên cầm theo tiền...trong xách không thấy có Khanh ơi!
Tôi bàng hoàng trước một thông báo không gì tệ hơn:
-Mày xem lại kỹ kỹ một chút...
Nga lắc đầu:
-Kỹ rồi, tại lúc đi mày hối tao quá nên tao quên, bây giờ mày ngồi đây chờ tao về nhà lấy tiền rồi quay lại trả..
Tôi chồm sang chụp lấy tay Nga vì sợ nó đứng lên đi bỏ tôi lại:
-Không được! Lỡ mày đi lâu họ biết tao ngồi làm tin thì mắc cở lắm.
-Vậy tao chỉ chỗ cho mày về nhà tao lấy...còn tao thì ở đây chờ.
Tôi bối rối;
-Cũng không được, nhà mày còn có bao nhiêu là người, tao làm sao dám tự do vô phòng mày lục lọi.
-Vậy tao biết làm sao đây?
Tôi muốn khóc, không nuốt nổi miếng đang ngậm trong miệng:
-Kiểu này còn hơn là mày vừa cho tao ăn vừa muốn móc họng tao ra, biết vậy thì tao...cầm tiền trước!
Nga vỗ về tôi:
-Nói nhỏ thôi, bàn sau lưng mày có người kìa, mày để tao nghĩ cách.
Tôi gợi ý:
-Trong ví mày có mang theo căn cước thì đem tới quầy nói rõ lý do xin để lại làm tin, nếu họ cho thiếu thì về lấy tiền chuộc lại sau?
-Có thể phải làm vậy (Nga thở dài cái thượt) nhưng tao cũng ngại quá...
Hai đứa ngồi như bị dính vào ghế một lúc lâu, cuối cùng Nga cũng phải quyết định vào nói thật việc quên không mang theo tiền để chủ tiệm thông cảm. Tôi đẩy Nga đi trước còn tôi thì đi nép sau lưng nó "yểm trợ" trong... im lặng. Chúng tôi chưa kịp mở lời thì chị chủ cười tươi như hoa nói ngay:
-Có người đã thanh toán bill của hai cô rồi.
Chưa kịp ngạc nhiên thì chị đưa cho Nga mảnh giấy gấp tư:
-...người đó còn gởi cho hai cô giấy này...
Tôi chồm giật mảnh giấy trên tay Nga và hấp tấp mở ra:
-Hả!!!
Đập vào mắt tôi là cái tên mà tôi nhớ như nhớ..."lời hứa năm xưa"của Nga, cả hai châu đầu vào nhau đọc:
"Gởi hai cô bạn ngồi bàn trước.
Vô tình tôi nghe nên biết hai cô đang gặp chuyện ngoài ý muốn, tôi giúp hai cô giải quyết việc đó.Xin lỗi vì không hỏi ý trước.Hai cô có thể hoàn lại cho tôi số tiền này sau khi về nhà. (Tôi còn 2 ngày ở đây trước khi trở về đơn vị).
Đỗ Hào Quang - 20/5 Nguyễn Công Trứ."
Cám ơn chị chủ, hai đứa bước ra khỏi tiệm ăn mà tâm trạng cứ ngỡ ngàng. Đọc thấy tên anh ta là mắt tôi đổ hào quang, nghĩ đến cuộc tái ngộ đầy... "huyền bí " này làm tôi không hiểu nổi. Tôi ...thều thào:
-Trong mười bảy triệu dân, tao cá với mày không ai có cái tên đặc biệt như thế nên tao chắc chắn là gã đó...
-Ai?
-Gã con trai hồi xưa ngồi cạnh mày trên xe bus,cũng nhờ gã mà tao mới có bữa ăn mày khao hôm nay. Đúng là hữu duyên thiên lý năng tương tự!
-...năng tương ngộ chứ!
Tôi nộ Nga vì nó dám sửa sai tôi:
-Thì tương ngộ hay tương tự gì chả là tương! Hồi đó mày nói nếu gặp lại gã đó, mày sẽ ngồi ép sát vào gã để trả thù, thì bây giờ có cơ hội rồi đó, nhớ mà thực hiện cho... thỏa lòng mong ước đi nhé...hihihi...
0O0
...Vì muốn có "điều kiện" để "trả thù" dài lâu nên sau khi hội ngộ một thời gian, Cung Thị Hằng Nga đã chấp nhận đồng ca với Đỗ Hào Quang "...cuối năm trời lạnh gió đông , mười lăm hôm nghỉ phép là ta in thiệp hồng.". Mối lương duyên của họ có được là nhờ...tôi! Thật đấy, cứ nhớ lại từ đầu mà xem...
Đó là chuyện ngày xửa ngày xưa, còn chuyện ngày nảy ngày nay thì Nga đã lên chức bà ngoại của mấy cô cháu xinh như búp bê và "bà ngoại" đang ra sức sao y bản chính những gì được dạy khi xưa mà truyền đạt lại để ...hù dọa các cháu gái của mình. Chỉ có điều tôi không biết trong thời hiện đại này với vô số thông tin "trung thực", các cô bé có để những điều bà ngoại Nga dạy lọt vào tai và dễ dàng tin như chúng tôi đã nằm lòng lời dạy của bà cố hồi xưa.
Hồ Thị Mỹ Hạnh
***
21 - Nét Chân Quê
Hai Hùng
Tháo cái áo mưa mỏng tanh đang mặc trên người khi bước vào hàng hiên trước nhà mình , ông Sáu Chịu càu nhàu nói :
- Áo mưa quỷ quái gì mỏng như lá lúa , mặc một lần rách te tua luôn . Hà tiện chi mà hà tiện dữ vậy trời ? Làm cho dầy dầy một chút phải đỡ tốn kém cho bà con không ?.
Khi cởi xong ra khỏi người ông Sáu vo tròn cái áo mưa nọ rồi ông vung tay quăng mạnh ra đống rác cuối sân nhà ông nói đùa vọng theo cái áo mưa :
- Mầy xong nhiệm vụ rồi đó , mấy thằng cha làm ra mầy khôn tổ bà , bà con xài tụi bây phí phạm vô cùng nghe .
Bước vô nhà kéo chiếc ghế đẩu nơi cái bàn tròn đặt giữa nhà , ông Sáu ngồi xuống rồi cất giọng kêu lên :
- Bà nó ơi ! Cơm nước có chưa dọn lên ăn bà ơi , sáng giờ tui chỉ có cái ly cà phê đen trong bụng , đói lắm rồi nha bà.
Đang lúi húi phía bếp nơi nhà sau , đôi mắt cay sè do khói bếp cứ ùa mãi vào mắt , nghe tiếng ông Sáu gọi bà Sáu ho húng hắng rồi lên tiếng :
- Quơ ... Nghe rồi ông ơi , ông chờ một chút đi , mưa gió quá trời ba cây củi ướt nhẹp hết , khói mịt mù dưới đây nè, à mà vụ ông gặp ông Chín Sa Bô Chê sao rồi, ổng có chịu nghe theo như ý mình hông ông ?.
Ông Sáu tay cầm bình trà rót đầy cái tách khói bay nghi ngút , hớp một ngụm trà vào miệng rồi dường như chưa hết bực bội vụ gặp ông Chín Sa Bô Chê sáng nay ông trả lời :
- Nghe bà nhắc tới cái thằng cha nội đó tui càng tức thêm , ngày nào hoàn cảnh ổng bị thắt ngặc thì tui với bà xúc lúa trong bồ ra cho ổng , mình hổng có tính toán thiệt hơn chút nào đâu , vậy mà vụ đó tui nói với ổng thiếu điều gãy lưỡi mà ổng tỉnh bơ , ông không nói không rằng gì hết ráo , bà coi tức không chớ .
Nghe giọng ông Sáu không vui , bà Sáu lật đật lôi quày dừa xiêm nơi góc bếp , bà chặt một trái đổ ra cái ly cối rồi bưng lên nhà trên , đặt ly nước dừa trong veo lên bàn cho chồng bà Sáu nhỏ nhẹ :
- Thôi ông ơi đừng buồn , coi chừng ông Chín ổng có nỗi khổ gì đó chứ hổng lẽ ổng trở mặt với vợ chồng mình trắng trợn như vậy sao , uống đở miếng nước dừa cho hạ hỏa rồi tui dọn cơm cho ông ăn , mà lúc này ông ốm lắm nghe , ráng ăn vô có sức mà sống với sấp nhỏ , ông có bề gì tui buồn lắm đa .
Nghe bà Sáu người đầu ấp tay gối với mình từng chia mặn sẻ bùi mấy mươi năm , chưa từng làm cho ông phiền muộn một giây phút nào kể từ lúc quen nhau cho đến tận hôm nay , nghe bà vợ nói những lời an ủi mình , ông sáu dường như nguôi giận ông nói với bà :
- Tui biết chớ , ông Chín với mình tình sâu nghĩa nặng , hổng lẽ có vài thước đất mà ổng bạc nghĩa với mình , chắc có cái gì đó , mà ông này cũng ngộ ghê có gì thì cứ thương thảo với vợ chồng mình phải vui không , đàng này ổng im re như pho tượng , nên hổng biết đâu mà lường .
Nói xong ông Sáu bèn kéo chiếc ghế đẩu kế bên lấy tay phủi bụi phành phạch rồi kéo tay bà Sáu ngồi xuống ghế, ông kể lại đầu đuôi câu chuyện sáng nay cho bà Sáu nghe .
Thửa ruộng trồng lúa thơm của nhà ông Sáu đang trổ đòng đòng , hứa hẹn một vụ mùa bội thu , vậy mà bỗng dưng bà Chín Sa Bô Chô cùng thằng Hiếu con của họ đã ra tranh giành với ông Sáu , họ lôi cây sào tre trong nhà ra hai mẹ con cứ đo tới đo lui , rồi lật cái bằng khoán thửa đất nhà họ nằm giáp ranh ruộng của nhà ông Sáu, thằng Hiếu nó la to cho bà Chín nghe:
- Nè , nè má coi nếu chiếu theo giấy tờ cô Mười đưa cho mình thì bằng khoán nhà mình nó lấn qua ruộng của chú Sáu Chịu gần 2 thước ngang còn bề dọc thì đi hết ranh ruộng của chú Sáu , như vầy thiệt thòi cho nhà mình quá , má nói tía qua bển nói chuyện với chú Sáu đi , đất bây giờ có giá lắm , tấc đất tấc vàng đó má .
Bà Chín Sa bô Chê nghe thằng Hiếu phân tách thiệt hơn , ban đầu bà cũng chưa có phản ứng gì , hơn nữa đôi lần bà nghe ông Chín trong những lúc ngà ngà say sau những bửa nhậu khi giỗ chạp trong gia đình ,đại khái ông Chín cho mọi người biết vợ chồng ông Sáu chịu từng là ân nhân của mình , ông còn nói :
- Hai vợ chồng chú Sáu Chịu tuy không giàu có khá dả gì , nhưng họ có cái lòng bồ tát dữ lắm nghe .
Ông Chín không nói rõ ràng cho mọi người biết cái tấm lòng bồ tát của ông bà Sáu là gì cho nên bà Chín và mọi người trong nhà bà cũng hiểu man mán vậy thôi , rồi dần dà khi nghe cô Mười cô em chồng của bà và thằng Hiếu cứ thúc hối mãi nên buộc lòng bà Chín phải dí ông chồng mình vào thế bí .
- Ông Chín nè , cái vụ chú Sáu Chịu ổng làm ruộng lấn qua ranh đất nhà mình cả mấy trăm thước vuông , ông có nói chuyện với vợ chồng chú Sáu chưa , kêu họ trả đất lại cho mình , còn bằng không phải bồi hoàn cho nhà mình theo giá cả bây giờ , chớ kiểu này nhà mình thiệt thòi lắm ông biết không ông Chín .
Vốn nể nang vợ mình , tuy rằng đã mang nặng ân tình của vợ chồng Ông Sáu Chịu , nhưng ông Chín đành cắn răng hẹn gặp ông Sáu để nói rõ cái ý của vợ con mình cho ông Sáu nghe để liệu bề toan tính , khi hai ông yên vị nơi quán của bà ba Cao nằm ở đầu làng , bà ba Cao dọn mồi nhậu và chai ba xi đế trong veo đặt trên bàn , bên cạnh đấy dĩa mì gói xào lòng gà và dĩa khô cá sặc bổi trộn dưa leo , chén nước mắm ớt nằm cạnh bên , bao nhiêu đó thôi cũng đủ cho hai ông bạn già tri âm tri kỷ này say quắc cần câu. rót đầy rượu vào cái ly mắt trâu nhỏ xíu đẩy ly rượu đế tới trước mặt ông Sáu Chịu ông Chín Sa Bô Chê nói :
- Uống đi chú Sáu , hôm nay không say không về nha chú ...
Sau vài ly rượu thay phiên nhau uống chừng hơi ngà ngà ông Chín Thu hết can đảm nói với ông Sáu :
- Chú Sáu ơi , e hèm tui có chuyện này nói ra sợ chú buồn , thôi thì tui nói đại còn như chú tính sao thì tùy chú nha. Vợ chồng chú là ân nhân của tui bấy lâu nay , thiệt tình vụ này tui cũng hổng biết tính sao đây nữa .
Nói xong ông Chín cầm ly rượu lên ực một cái ngọt xớt , cầm đữa gấp mấy cọng mì bỏ vào chén rồi lua vội vào miệng , ông Chín mới nói rõ cho ông sáu nghe tình trạng đất đai của thửa ruộng nhà ông Sáu, nghe xong ông Sáu chưng hửng , ông không ngờ có cái chuyện oái ăm như thế với mảnh ruộng nhà mình , vì từ lúc vợ chồng ông Năm Hổ kêu bán lại thửa ruộng này cho mình , tiền bạc hai bên giao nhận sòng phẳng , có điều khi nhận phần đất ruộng này ông Sáu chỉ được ông Năm Hổ làm cho cái giấy bán ruộng viết hí hoáy đôi ba dòng cam kết đây là phần đất do ông bà khai phá và truyền cho nhau từ đời này sang đời khác , do giặc giã triền miên trước đây nên giấy tờ điền thổ nhà ông Năm Hổ thất lạc , vợ chồng ông Sáu Chịu là dân quê nhưng trôi dạt lên Sài Gòn lánh nạn khi chiến tranh tràn về quê nhà , sau ngày ba mươi tháng tư khi không còn tiếng súng , do cuộc sống ở Thành phố bắt đầu xuất hiện những khó khăn nhất định nên vợ chồng ông Sáu nhất quyết trở lại quê nghèo năm xưa mong tìm phương kế sinh nhai , mua được thửa ruộng này ông bà Sáu Chịu mừng như bắt được vàng , vì số tiền bỏ ra để tậu mảnh ruộng này không đáng là bao , dốc hết tiền bạc dành dụm bấy lâu để chồng tiền cho ông Năm Hổ , còn lại số vốn cũng kha khá ông Sáu làm một bữa tiệc ra mắt bà con lối xóm , mọi người trong xóm đến chia vui khi có một ông hàng xóm từ Thành phố về đây làm ăn sinh sống , trong mắt họ có phần quý trọng và kính nể với cách xử sự của gia đình ông Sáu đối với mình .
Ông Sáu canh tác trên mảnh ruộng này qua bao nhiêu mùa lúa bội thu , dường như đất mới không phụ người , hoặc do ông Sáu áp dụng phương pháp làm ruộng theo đúng theo hướng dẩn của những người chung quanh hoặc ruộmg của ông nằm nơi có phù sa bồi đắp quanh năm , vậy mà giờ đây gặp phải rắc rối với nhà ông Chín Sa Bô Chê .
Cái hôm ông Chín đề cập đến câu chuyện éo le này với mình , trong đầu ông Sáu tự hỏi :
- Sao ông Năm Hổ mần trên đám ruộng này biết bao lâu mà chẳng thấy bị ông Chín đòi đất , đã vậy hôm mình mua lại đất này cũng chẳng có ai khiếu nại gì để rồi đến nay ông phải đau đầu với chuyện này .
Ông còn nhớ cái hôm ông Chín nói chuyện với mình , khi nói tới chuyện ranh ruộng đất của hai gia đình thì ông Chín có thái độ buồn bã vô cùng :
- Con Mười em Tui nó lục đâu ra cái bằng khoán có đâu từ hồi thời Tây đô hộ nước mình , nó thấy ruộng chú có lấn qua đất nhà tui mấy thước ngang , rồi nó cứ cằn nhằn với bà nhà tui với thằng Hiếu , nó nhắn chú nên trả lại đất hoặc bồi hoàn chi đó , tui thì tui không có ý kiến vụ này .
* * *
Sáng nay dù trời mưa như muốn thúi đất do có cơn áp thấp nhiệt đới ập vào, ông Sáu vẫn đến quán cà phê trong xóm để bàn thảo lại với ông Chín , đường làng quê lấp xấp nước mưa , gió gào thét trong mưa nghe rợn cả người , chiếc áo mưa mỏng đang khoác trên người nó bay phần phật trước gió , đến nơi thì ông Chín đã đợi sẳn tự bao giờ , ly cà phê đen nguội ngắt đã vơi gần phân nửa , cầm điếu thuốc cháy gần hết mà ông Chín cũng chưa buồn quăng vội , ông đang dằn xé áy áy trong lòng vô cùng . Khi ông Sáu cất tiếng nói thì làm ông Chín chợt tỉnh :
- Trời ! chú Sáu làm tui hết hồn , kêu cà phê đi chú .
Từ lúc được hung tin bị đòi đất ruộng , ông Sáu chẳng thiết tha gì ăn uống , người bán mảnh ruộng này cho ông đã về với đất từ lâu rồi , ngôi mộ vợ chồng ông Năm Hổ đang nằm chơ vơ ngoài đồng thì lấy đâu ra người để đối chất đúng sai nên ông Sáu tự nhủ :
- Thôi thì coi như mình nắm dao đàng lưỡi chỉ còn một cách thương thảo với nhà ông Chín Sabôchê chứ biết sao bây giờ?
Ngồi uống cà phê bàn chuyện đất đai cả buổi , vậy mà khi hỏi đến liệu mình bồi hoàn cho gia đình ông Chín bao nhiêu tiền thì được , ông Chín không nói một lời dù ông Sáu đưa ra đủ điều để giải quyết cho xong việc này , nhưng thấy ông Chín chẳng một lời với mình chỉ thấy đôi mắt ông Chín buồn rười rượi cho đến khi cạn ly cà phê đen , đến lúc hai ông chia tay về nhà mà không có kết quả gì cho lần gặp nhau , với ông Sáu thì như có lửa đang thiêu đốt trong lòng , còn ông Chín Sabôchê thì như đóng băng trong dạ , có thể ông nghĩ từ đây tình bạn già nơi xóm nhỏ này giữa ông và ông Sáu sẽ không còn nồng ấm như xưa nữa , bởi khi xảy ra chuyện đụng chạm quyền lợi giữa đôi bên thì chuyện giữ cho trọn vẹn tình cảm như ngày nào là điều rất khó , mà ông Chín không muốn đánh mất đi cái ân tình này nên ông giữ lặng thinh không thốt ra một lời khi ông Sáu hỏi han về chuyện tiền nong bồi hoàn đất ruộng . Chuyện như vậy thì thử hỏi ông Sáu không bực bội trong lòng mới là chuyện lạ .
* * *
Đêm nay khí trời có phần mát mẻ , bầu trời đêm trong veo đầy sao lấp lánh , nằm trên chiếc võng đong đưa nhè nhẹ ở hàng hiên nhà trước , ông Sáu đang nghĩ về mảnh ruộng của gia đình mình , thỉnh thoảng điếu thuốc rê cháy loé sáng lên khi ông rít một hơi thật dài , bà Sáu thì đang ngồi phe phẩy chiếc quạt mo cau đuổi muỗi cho thằng cháu ngoại đang lim dim ngủ trên chiếc giường kê gần đó , thấy ông sáu cứ đốt thuốc liên tục , chột dạ bà Sáu lên tiếng :
- Ông nè , mắc chứng gì đêm nay ông hút thuốc dữ vậy , hôm rồi cô Bảy y tá dặn mà ông quên rồi hả ? , cái phổi của ông nó muốn nám rồi đó cổ dặn ông cử thuốc , cử rượu ông ờ ờ cho đã rồi về nhà cũng đâu vô đó , thiệt tui rầu ghê vậy đó .
Rít thêm một hơi thuốc rê trước khi quăng ra ngoài sân ông Sáu nói :
- Tui không biết kết cuộc rồi cái đám ruộng nhà mình có còn hay không nữa ? Ông Chín thì không sao , ngặt nỗi bà Chín với thằng Hiếu cứ thúc ông chín riết , đã vậy cái bà Mười ở tận đâu đâu về đây khui ba cái chuyện giấy tờ mới sanh chuyện như hôm nay , tui ức quá ngủ không được mới hút thuốc đó bà ơi . À mà con Lành nó nói chừng nào về vậy bà .
Nghe nhắc đến đứa con gái đang làm việc ở tận đâu miệt sài gòn sắp về thăm nhà , bà Sáu vội đáp lời :
- Hôm trước nó nhờ con Tuyền bạn nó ghé qua đây nhắn lại đâu là hai bữa nữa hay sao đó , tui có biên vô cái vách ở dưới bếp rồi , dạo này đầy óc quên trước quên sau ông ơi .
Nói xong bà Sáu dọm đứng dậy xuống bếp để coi lại cái ngày con Lành hẹn về thăm nhà , thấy vậy ông sáu ngăn lại :
- Thôi khỏi đi bà , áng chừng thôi cũng được , tui cũng mong nó về lắm . Thôi bà đưa thằng Ngọc vô Mùng rồi tắt đèn ngủ đi , tui nằm cho khây khỏa chút tui vô .
Không gian đang yên tĩnh bỗng dưng tiếng còi Tàu ngoài sông cái vang lên inh ỏi , mặc dù nhà cách Sông cái khá xa nhưng ông Sáu Vẫn nghe rõ bên tai ...
* * *
Bước xuống xe vuốt lại mái tóc , ngắm vào kiếng chiếu hậu để sửa sang lại cái dung nhan của mình , Lành nói với anh Tài xế :
- Anh Tư bỏ đồ xuống dùm tui đi , rồi anh de xe đậu ở gần cây dừa kia , chỗ đó là nhà bà con tui không sao hết , cầu này yếu lắm xe mình chạy qua là sụm bà chè liền , nhà tui bên kia cầu anh cất xe rồi qua bển chơi cho biết .
Lành con gái rượu của Ông Sáu nghe đâu từ lúc xong đại học cô vô làm cơ quan xuất nhập cảng gì đó trên Sài Gòn , lương bổng cao ngất nên cuộc sống khá dả khiến nhiều người có phần ganh tỵ , thỉnh thoảng Lành tạm xa căn biệt thự to đùng ở một quận ven sông Sài Gòn để về đây thăm lại ông bà Sáu , lần này nghe Tía Má mình nhắn lên đang gặp phiền toái trong việc ruộng nương dưới quê, nên Lành tức tốc quay về .
Tay sách nách mang lĩnh kỉnh đồ đạc cùng anh Tư Tài xế , lành vượt qua cái cầu sắt cao nghệu rồi rẽ vào nhà , ông bà Sáu chạy ùa ra mừng rỡ :
- Lành .. Lành mới về hả con , chú đây là....là gì ?..
Hổn hển thở vì mệt Lành nói :
- Anh Tư đây tài xế mới của con đó Tía , anh lái xe cẩn thận mà tính tình hiền lành nữa .
Quay sang anh Tư , Lành giới thiệu :
- Đây là Tía và Má của tui đó anh Tư .
Anh Tư Tài xế cúi đầu chào song thân của cô chủ nhỏ của mình rồi anh buộc miệng khen :
- Chèn ơi , quê mình dưới đây mát rượi , con thích ghê , chứ ở Sài Gòn bụi bậm xe cộ bóp kèn tối ngày riết rồi muốn điên luôn đó hai Bác .
Ông Sáu cười cười nói với anh Tư :
- Chú em nói chí phải nghe , Qua đây cũng nghĩ như chú mới dong về ở đây nè, tui xa Sài Gòn lúc đầu nhớ lắm chú , giờ thì quen rồi , vô nhà uống nước nghỉ chân chú ơi ...
* * *
Cơn nước xong cũng quá trưa , ông Sáu cùng Lành đi dạo bên bờ ranh của mảnh ruộng nhà mình , ông Sáu lấy tay chỉ về phiá cuối bờ ruộng và phiá bên ranh đất nhà ông Chín Sabôchê , không hiểu ông to nhỏ gì với Lành , chỉ thấy lâu lâu Lành gật đầu rồi nói gì với ông Sáu cứ thế hai Tía con như đã hiểu ý với nhau họ mới trở vào nhà ...
* * *
- Trời mới có bốn giờ Tía thức chi sớm quá vậy ? Con tìm miếng nước uống cho đỡ khát , chiều qua nồi mắm kho của má ngon vô địch luôn , anh Tư tài xê ăn mà khen hoài , con húp nhiều quá nên bây giờ khát nước khô họng luôn .
Ông Sáu đang ngồi nhâm nhi ly nước trà Sen , nghe con gái hỏi ông đáp lời :
- Dưới đây giờ này có người dắt trâu ra đồng rồi đó cô hai , Tía cô thức giờ này đúng rồi , chớ đâu phải giám đốc ở Sài gòn ngủ nướng đến tám giờ mới vô sở làm .
Nghe Tía nói móc lò mình Lành nắm tay ông Sáu nũng nịu như thời còn trẻ con ở chung với cha mẹ ngày nào :
- Hổng chịu đâu , Tía nói xấu con chứ gì Tía bắt đền cho con đi .
Lành dặm chân lia lịa xuống nền nhà khiến hình ảnh hồi năm nảo năm nào còn in trong trí của ông , những lúc Lành nhõng nhẽo như vậy thì ông hỏi :
- Rồi .. Rồi Tía mắc đền cái gì nè .
Chỉ cần đợi như thế Lành lấy hai ngón tay trỏ chỉ vào hai bên má rồi nó đưa cái mặt sát vào mặt ông Sáu , lúc đó ông Sáu ôm chầm con gái vào lòng và hôn con Lành thật nhiều , con Lành ôm chặt ông Sáu vào người khiến bà Sáu phải ghen tỵ bà nói :
- Tía bây là của tao sở hữu đó nghe , bây xí phần hết ráo còn đâu của má hả Lành .
Nghe xong câu nói của Bà Sáu cả nhà phá lên cười , gương mặt ai cũng rạng ngời hạnh phúc .
Hôm nay Tuy lớn chồng ngồng vậy mà Lành cũng làm bộ tịch như thời con trẻ , ông Sáu hôn nhẹ lên đôi má đứa con gái của mình , với ông nụ hôn kia nó vẫn ngọt ngào như dạo nào . Lành cũng vậy nó ôm chặt người Tía thân yêu vào lòng và nó hôn lên đôi má nhăn nheo của ông Sáu , nó vẫn cảm nhận được vị mồ hôi năm nào của Tía mình cũng y chang như bây giờ , Lành kéo cái ghế đẩu ngồi cạnh ông Sáu rồi lành thủ thỉ :
- Con về chuyến này con đem đủ tiền để bồi hoàn cho hai bác Chín ở bển , nhưng Tía để con thay mặt qua bển nói chuyện dễ hơn , con tính vậy Tía thấy có được không ?
Nâng ly trà đưa lên miệng hớp một ngụm ông Sáu ra dáng suy nghĩ , liệu như vậy có nên hay không , ngộ nhỡ bà Chín bắt bẻ thì hư đường hư bột , nhưng ông thấy con gái mình dù sao nó cũng có đủ bản lĩnh tự tin khi nhận công việc tế nhị này , buông ly trà xuống bàn , ông nắn lấy bàn tay đứa con thân yêu , xiết chặt tay Lành ông nói :
- Thôi thì Tía đặt để hết hy vọng vào con , gỡ rối cho gia đình việc này , nhưng thật mềm mỏng nghe con , đừng để xảy ra bất đồng mích lòng nhau thì khó coi lắm nghe con .
Lành dạ vâng rồi đi vào buồng thay quần áo , tiếng gà gáy sáng vang lên rộn rã khắp xớm làng báo hiệu một ngày mới nơi miền thôn dả lại bắt đầu . trước khi ra khỏi nhà Lành dặn anh Tư tài xế :
- Anh Tư cứ ở nhà chơi với Tía tui tự nhiên , nếu thích ăn cây trái gì thì anh cứ dạo quanh vườn nhà , tui công chuyện gần bên chút tui về .
2
Hai Hùng
***
Thân mời các bạn xem phần 2 phía dưới
19 - Dấn Bước Thăng Trầm 1
Nguyễn Bảo Hùng
Sài gòn một ngày vào cuối tháng tư 1975.
Một ngày để chấm dứt một thời buổi loạn ly.
Một ngày để mở màn cho những đau thương đổ vỡ mới.
Một ngày để tôi bắt đầu sống thấp thỏm hoang mang chờ đợi một đổi thay sẽ phải tới.
Và một ngày đã tới để tôi lại khăn gói đi trả nợ đời.
Tôi phải đi trả nợ đời bởi vì đã có một ngày tôi được khoác trên thân hình bộ quần áo lính.
Trảng Lớn, Long Giao, Phú Quốc, Suối Máu!
Ôi! Những địa danh như những ngọn roi quất tàn nhẫn còn in hằn trong tôi bao vết thương dớm máu. Nhưng cũng những địa danh ấy, sao nay tôi lại nghe thân thiết gắn bó tưởng như chúng đã biến thành một phần xương thịt mình.
Trảng Lớn, Phú Quốc, Long giao Suối Máu!
Tên gọi của những địa ngục trần gian chọn làm lò luyện tội cho những kẻ sa cơ thất thế? Hay chúng là danh xưng các trường đại học nhân dân giúp tôi làm cuộc cách mạng đổi đời? Cái mớ danh hiệu dễ gây huyên náo ồn ào ấy đã một thời làm tôi xiết bao ê chề điêu đứng. Vậy mà cũng mớ danh hiệu ấy nay tôi nghe sao hờ hững tựa âm thanh lùng bùng của những điệu rao quảng cáo đã thuộc nằm lòng.
Trảng Lớn, Phú Quốc, Long Giao, Suối máu!
Cái gì còn lại?
Còn lại trong tôi nay chỉ là ấn tượng sâu sắc của một chuỗi ngày gian khổ, một chặng đường thập ác kéo dài, một giai đoạn thử thách hiếm hoi để tôi được gặp lại chính tôi, biết nhìn ra giá trị đích thực nơi con người mà tìm về cuộc sống ý nghĩa cội nguồn.
Trảng Lớn, Phú Quốc, Long giao, Suối máu!
Ôi, những ngày đầu để tôi được biết thế nào là cuộc sống dịa ngục!
Tôi bắt đầu cuộc sống địa ngục khi thời hạn mười ngày (1) đã qua đi mà ngày vẫn nối tiếp ngày, cuộc sống vẫn chỉ rặt một khôn mặt dửng dưng bình thản. Bình thản đến độ ngày càng biến thành rắn đanh độc ác.
Địa ngục là những trang tự kiểm đã bao lần viết đi viết lại mà cũng đành buông bút thở dài bất lực vì không kiếm nổi một vết tích tội lỗi để ít ra cũng tìm được niềm an ủi cho thân phận mình.
Địa ngục là những đêm bàng hoàng thức giấc, chân tay lạnh giá mà toàn thân lại ướt đẫm mồ hôi vì cơn đau oằn oại của nỗi tiếc hận cứ cuồn cuộn dâng trào.
Nhưng đáy cùng địa ngục, chính là những buổi lên lớp để phải nghe thuyết giảng về khoan hồng nhân đạo, về hạnh phúc ấm no, về chủ nghĩa ưu việt, về tương lai nhân loại..., toàn là nhưng bức tranh thêu dệt tuyệt vời khiến ta càng thêm ngao ngán, mỗi khi bừng tỉnh, lại thấy mình hụt hẫng rơi tõm vào thực tại thế giới con người.
Anh quản giáo đang đứng trên bục giảng kia, giọng nói miền bắc với cách phát âm Hà Nội tôi nghe quen thuộc quá. Nó gợi cho tôi hồ Hoàn Kiếm, đường Cổ Ngư, những hàng cây rượi bóng mát, rộn tiếng ve sầu. Tôi vẫn thích lang thang trên những con đường ấy trong những năm đàu của thập niên 50, khi còn trong lứa tuổi chỉ ham trèo me, hái sấu. Hẳn anh cũng đã từng đi lại trên những con đường đó. Nhưng còn hơn tôi, anh đã có những lúc được sánh vai chung nhịp bước đi. Rồi anh đã làm chồng. Rồi anh được làm cha. Rồi bỗng dưng anh lại rời bỏ tất cả những cái đó?: những cái thân thiết nhất đem lại cho đời anh ý nghĩa. Anh rời bỏ trong tiếc nuối. Nhưng anh sẵn sàng rời bỏ để chấp nhận hi sinh. Anh sẵn sàng hi sinh ý nghĩa đời mình để hiến dâng cho điều mà anh cho là có ý nghĩa cao đẹp hơn?: đem lại cuộc sống ý nghĩa cho tất cả mọi người. Anh tin tưởng như vậy. Hay đúng ra người ta đã làm anh tin tưởng như vậy. Niềm tin đó khiến anh hăng hái ra đi. Ra đi chấp nhận gian lao đói khổ. Ra đi bất chấp bom đạn hiểm nghèo. Ra đi để thực hiện điều mà anh cho là sứ mạng lịch sử. Chiến thắng tại miền Nam càng làm tăng niềm tin ảo tưởng nơi anh. Bởi vậy anh đã nói, anh nói rất say sưa. Bởi vậy anh đã nói, anh nói với nhiệt tình. Tôi tin là anh thành thật. Tôi không hề cho anh muốn làm một diễn viên đại tài. Tuổi mới ngoài ba mươi, trán anh đã hằn lên những vết nhăn vì gian lao đói khổ. Khuôn mặt anh cũng đã sạm đen vì mưa nắng dãi dầu. Nhưng đôi mắt anh vẫn ánh lên một niềm tin vời vợi. Những cơn sốt rét ác tính trên dãy Trường Sơn đã tô đậm môi anh một màu xám xịt. Nhưng cặp môi anh vẫn nở đều, nở đẹp. Đẹp như có một ngày trong đời, lần đầu tiên chúng giúp anh run run xúc động bật lên thành lời để nói đến yêu thương.
Hôm nay anh lại đem tấm lòng đó ra để nói với chúng tôi. Anh nói về chính sách khoan hồng nhân đạo. Anh nói về những điều Bác Đảng dạy răn. Anh nói về độc lập tự do. Anh nói tới cả ấm no hạnh phúc. Rồi còn chủ nghĩa mác-lê thần thánh, chế độ chủ nghĩa xã hội ưu việt, thế giới đại đồng, thiên đường cộng sản... Ôi có điều nào mà anh không nói tới! Anh nói miệt mài. Anh nói say sưa. Cả giờ rồi đứng trên bục giảng mà tiếng anh vẫn vang vang, giọng anh vẫn trầm ấm. Anh nói. Anh nói. Anh nói. Càng nghe anh nói, tôi càng ái ngại cho anh. Anh nói, anh nói, anh nói. Càng nghe anh nói, tôi càng xót xa cho tôi. Anh có người vợ và những đứa con. Tôi cũng có người vợ và những đứa con. Tiếng súng đã chấm dứt từ lâu rồi. Vậy mà sao giờ này anh vẫn đứng mãi trên bục kia để mà nói? Vậy mà sao hàng trăm con người chúng tôi còn phải tụ tập bên trong hàng rào kẽm gai này để buộc phải nghe? Ngoài kia cuộc sống đã trở lại yên bình quá. Mảnh đất khô cằn bao quanh khu trại đã mượt mà một màu cỏ non. Bên trên bụi gai nay đã trổ bông, đàn bướm đang nhởn nhơ khoe sắc trong nắng vàng rực rỡ. Đằng xa kia, trong dãy rừng cao su, các hàng cây mới đây còn xơ xác tiều tụy, nay đã xanh tươi màu lá. Chỉ riêng có mấy trăm con người chúng tôi là phải bó gối trong căn phòng ngột ngạt này để nghe anh nói.
Anh nói! Anh nói! Anh nói! Phá bỏ gông cùm, độc lập tự do, anh vừa nói. Nhưng sao cả giờ rồi tôi vẫn ngồi đây mơ tưởng tới giải mây trắng lững thững trên bàu trời xanh ngắt? Anh nói! Anh nói! Anh nói! Tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Anh lại nói. Nhưng sao mấy người vệ binh vẫn lăm lăm tay súng nhìn chúng tôi hằn học nghi ngờ? Anh nói! Anh nói! Anh nói! Hạnh phúc nhân dân, cơm no áo ấm, anh còn nói. Nhưng sao tiêu chuẩn của anh vẫn chỉ có mấy lạng gạo mỗi ngày? Còn tôi, khói thuốc của nửa bi thuốc lào mà sáng nay tôi cố ém để dằn lòng đang làm ruột gan tôi phải cồn cào vì cơn đói đã tới giờ hành hạ. Anh nói! Anh nói! Anh nói! Thế giới đại đồng, thiên đường cộng sản, anh cố nói. Anh nói liên tu bất tận như không biết mệt. Căn phòng bắt đầu hầm hập nóng. Trán anh đã lấm tấm mồ hôi, nhưng anh vẫn mải mê nói. Nhìn anh gân cổ lên mà nói, tôi bỗng nảy sinh ý nghĩ thầm phục. Tôi phục anh, tôi phục tôi. Tôi phục cái lũ giống người chúng ta quả đáng được tôn vinh làm chúa tể muôn loài. Thử hỏi có loài động vật nào nếu không phải là lũ người chúng ta mới có thể nghĩ ra được các ý niệm nào là độc lập tự do, nào là dân chủ dân quyền, nào là công bằng xã hội... Và nhờ trí tuệ thông minh, giàu óc sáng tạo chúng ta mới chế ra được nhiều cách hiểu khác nhau về các ý niệm cao siêu ấy. Bởi vậy mà anh và tôi, chúng ta mới phải bỏ cửa bỏ nhà, bỏ vợ bỏ con đi rúc bờ rúc bụi lùng chém giết nhau để tìm đường giải phóng cho nhau. Chém giết nhau chán, thấy không giải phóng đến kỳ cùng cho nhau, chúng ta lại tìm ra thêm chân lý là phải đem nhân nghĩa đạo đức để giảng cho nhau nghe. Vì vậy tôi mới được gặp anh trong căn láng oi bức chật chội này. Anh thì mồ hôi nhễ nhại cố đứng trên bục giảng dài cổ ra mà nói. Còn tôi cái bụng xẹp lép cứ phải nghiêm chỉnh ngồi nghe. Thiệt quả là tài. Càng nghe anh nói thao thao bất tuyệt, tôi càng thấy phục anh, tôi càng thêm phục tôi. Phục đến sát đất mà vẫn cứ phải ngồi nghe, tôi chỉ có nước quay ra hậm hực với lũ chim kia.
Cái đôi chim ngốc nghếch đang rỉa lông rỉa cánh cho nhau trên hàng rào kẽm gai quả là đồ vô tích sự. Không biết chúng sinh ra để làm cái khỉ mốc gì? Suốt ngày chỉ lêu lổng chơi bời chẳng chịu học hành làm ăn gì cả. Hết líu lo ca hát lại chọn khoảng trời trong xanh mà bay mà lượn. Bay lượn chán lại sà xuống mặt đất bạ cái gì nhặt ăn cái đó. Aên uống no nê lại rủ nhau đú đởn, làm như được sống hòa hợp vô tư với thiên nhiên như vậy là sung sướng lắm đấy. Rõ thật sống mà không biết nhục. Đúng là quân bất học bất tri lý. Ừ, mà sao Đảng và Cách mạng lại không đem bắt nhốt chúng lại? Sao không bắt chúng đi học tập cải tạo như tôi để chúng được sáng mắt ra. Cứ để chúng mặc tình bay nhảy thế kia làm sao chúng thấm thía nổi bài học không có gì quí hơn độc lập tự do? Không bắt chúng đi cày đi cuốc, phải đổ mồ hôi như tôi đổi lấy khoai sắn mà ăn làm sao chúng hiểu nổi lao động vinh quang là gì? Vả lại công tâm mà xét, mấy con chim này đâu phải là không có tội. Còn nhiều hơn tôi nữa là đằng khác.
Này nhé . Trong lúc tôi phải ngồi đây học hành nghiêm chỉnh mà chúng vẫn nhởn nhơ bên ngoài, đúng là chúng đã trốn tránh không ra trình diện. Đó là một tội. Không ra trình diện tức là không tin tưởng vào chính sách khoan hồng nhân đạo do Đảng và Cách mạng đề ra. Đó là hai tội. Không ra trình diện còn có nghĩa là chúng không chịu ăn năn hối cải, không muốn học tập cải tạo để trở thành công dân lương thiện. Đó là ba tội. Mà đã không chịu ra trình diện học tập để quay về với nhân dân, thử hỏi chúng còn con đường nào khác là tiếp tục cuộc sống bất lương bằng các hành động chống phá Cách mạng, chống phá nhân dân. Bằng chứng là hàng ngày chúng vẫn lén lút tìm nhặt các hạt thóc giống để ăn. Tội này mới tày trời , đáng chết làm sao! Thử nghĩ coi. Chỉ cần mỗi đứa hàng ngày đánh cắp vài hạt giống thôi. Mỗi hạt giống, nếu không bị đánh cắp, sẽ trở thành cây lúa trổ bông và nở ra thành hàng ngàn hạt thóc mới. Mỗi hạt thóc mới dùng làm hạt giống sẽ lại nở ra thành hàng ngàn hạt thóc khác. Và cứ thế theo đà sinh sôi nảy nở theo cấp số nhân, mới tính sơ ta cũng thấy chỉ cần một hạt giống bị đánh cắp tài sản Nhà nước đã bị hao hụt biết chừng nào. Vậy mà chúng lại đánh cắp mỗi đứa tới hàng chục hạt giống mỗi ngày. Ra quân này ghê gớm lắm đây, không có hiền lành tử tế gì đâu. Đúng là chúng có mưu đồ đánh cắp qui mô nhằm gieo rắc nạn đói khắp nơi, gây bất mãn trong quần chúng để tạo mầm mống nổi loạn chống phá Cách mạng. Âm mưu phá hoại này còn hiểm độc hơn chủ trương đốt sạch, giết sạch của giặc Mỹ trước đây bội phần. Tội của chúng, nếu đem xét xử, cho dù có chặt hết trúc ở Trường sơn dùng làm bút, tát cạn nước biển Đông pha làm mực cũng không kể xiết được.
Thế nhưng đôi chim lại như không hề biết đến tội lỗi tày trời của chúng là gì cả. Chúng vẫn thản nhiên bay lượn tìm kiếm thức ăn, rồi còn cả gan sà tới hàng rào gần phòng học của tôi mà đậu. Đã thế, hết mớm mồi, chúng lại rỉa lông rỉa cánh cho nhau, rồi còn lên giọng hót chiu chiu nheo mắt ngó tôi ngồi học nghiêm chỉnh như muốn chọc quê tôi một cách hỗn xược. "Có câm họng đi để yên cho tao học tập hay không, bớ lũ chim kia ? Bộ tưởng sung sướng lắm sao mà hót ngậu sị lên thế! Đời chúng mày rồi sẽ khổ lắm các con ạ. Chúng mày có biết tương lai là gì đâu. Hãy căng tròn cặp mắt ti hí lươn của bay ra để nhìn cho rõ cái hạnh phúc to lớn của tao đây. Tao phải ngồi trong phòng học này đâu có phải Đảng và Cách mạng muốn bắt nhốt tao. Trái lại Đảng và Cách mạng thương tao lắm nè. Đảng và Cách mạng giữ tao bên trong hàng rào kẽm gai này là muốn bảo vệ tao khỏi bị nhân dân ghét bỏ đánh đập trả thù tao nè. Đảng và Cách mạng còn nuôi cho tao ăn học để trở thành công dân chân chính nữa nè. Mỗi ngày tao được phát hai chén bo bo tiêu chuẩn để khỏi phải đi ăn cắp thóc gạo của nhân dân nữa nè. Nay mai học tập tiến bộ tao sẽ được Đảng và Cách mạng tha cho về nè. Chỉ cần chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh do trên đề ra là tao sẽ được hoàn toàn tự do nè. Tao còn được vinh dự đóng góp vào việc xây dựng một xã hội mới đem lại hạnh phúc muôn đời cho con cháu mai sau nữa nè. Đã sáng mắt ra chưa các con. Sức mấy chúng mày bằng tao được. Quân khốn kiếp, đồ phản động! Chúng mày tưởng cứ được nhởn nhơ ngoài đó làm tao ham lắm phỏng. Ông đâu có thèm. Rồi ông cho chúng mày sẽ được biết tay ông...". Tối nay thế nào tôi cũng phải làm báo cáo kể tội lũ chim mét ban chỉ huy trại mới được. Cho chúng đi tù rục xương cho bõ cái tội cứ hót líu lo làm tôi phát nhức cả đầu. Biết đâu tôi lại chẳng được dịp lập công với Cách mạng mà khỏi mang tiếng làm ăng ten phản bội các bạn đồng trại.
Không biết có phải đoán được ý đồ hắc ám của tôi hay không mà đôi chim bỗng vụt bay đi. Nhưng chúng không bay xa, chỉ lượn quanh quẩn vài vòng rồi lại chiu chiu lên tiếng gọi mấy con chim khác đến họp thành bày. Sau đó chúng sà xuống tung tăng nô đùa trên bãi cỏ non lung linh ánh nắng. Nhìn chúng đùa rỡn vô tư như vậy, tôi cảm thấy vui lây với cái hạnh phúc hồn nhiên của chúng. Nhớ lại những ý nghĩ đen tối vừa qua, tôi đâm hối hận và tự nhủ: "Ừ mà thôi, chẳng nên bắt nhốt mấy con chim ấy làm gì, tội nghiệp. Thử nhìn lại đôi chân chúng mà coi. Nhỏ síu cỡ đó cày cuốc sao nổi. Còn khối óc chắc chỉ bằng đầu tăm thôi, hệ số QI phỏng có là bao. Sức mấy mà chúng tiếp thu nổi ánh sáng chân lý Cách mạng.Thà cứ để chúng được sống tự do bay nhảy còn hơn.Cho dù chúng có lỡ ăn lầm một vài hạt giống thì chúng cũng loại trừ được không ít sâu bọ phá hoại mùa màng.Như vậy là chúng cũng đã biết đoái công chuộc tội rồi. A, có vậy chứ! Thì ra Đảng không bắt chúng đi lao động cải tạo, đâu phải là không có lý do. Đảng đâu cần nhờ tới tôi làm báo cáo.Với tai mắt nhân dân ở khắp nơi chúng làm gì mà Đảng không biết. Sở dĩ Đảng tha tội cho chúng vì biết rằng, ngoài cái công diệt trừ sâu bọ, chúng còn cần thiết cho việc đem lại ý nghĩa cho cuộc sống này. Giả thử không có tiếng hót líu lo của bày chim kia, biết tìm đâu những những nốt nhạc tươi vui làm tan loãng cái không khí ngột ngạt của đời sống tẻ ngắt này. Nếu không có những bước chân xinh xinh rỡn nắng của chúng, trước mắt tôi chỉ thấy sừng sững dựng lên những hàng rào kẽm gai nhọn hoắt, hình ảnh của một thế giới đày rãy ngục tù do con người, ở bất cứ đâu, chỉ chực tìm cách dựng lên. Và cuộc sống chỉ là một sự vận động đơn điệu, được lên giây cót bằng những khẩu hiệu bất di bất dịch: gia tăng sản xuất, phấn đấu vượt chỉ tiêu, gian lao khắc phục... Thế mới biết Đảng ta quả là biết trông xa nhìn rộng, xử lý chẳng những chí công vô tư mà lại có tình có lý nữa." (2).
Mấy ý nghĩ này làm tôi nhẹ nhõm, cảm thấy tìm được hòa giải với chính mình. Tâm hồn lâng lâng thơ thới, tôi như đang chắp cánh mon men lại gần bày chim. Mấy con chim tỏ vẻ không hề thù nghịch, trái lại chúng còn ra vẻ mừng rỡ, vồn vã mời tôi tham dự cuộc chơi của chúng. Tôi hân hoan phơi phới thấy mình được là chú chim sẻ đang sống cái hạnh phúc hồn nhiên của bày chim non vô tội...
"Không có gì quí hơn độc lập tự do..." Tiếng nói bỗng rống lên phá tan bàu không khí nặng chĩu làm mọi người đang mơ màng gật gù phải sực tỉnh. Ủa! Ra anh cứ nhất định đứng đó để nói mãi sao ? Bây giờ đã sang trưa rồi; những tia nắng rọi thẳng lên mái tôn đang biến căn phòng này thành một lò lửa. Hơn trăm con người tập trung nơi đây đã trở thành những pho tượng sáp trong tư thế ngồi chịu đựng. Riêng tôi, cơn đói lại trở về hành hạ khiến tôi chỉ mơ tưởng tới chén bo bo tiêu chuẩn đang chờ đợi ở chỗ chiếu nằm. Thế nhưng anh quản giáo vẫn không chịu ngưng nói. Anh nói. Anh nói. Anh nói. Độc lập Tự do, mặt đỏ bừng anh hăm hở nói. Vâng! Hạnh phúc ấm no. Tôi nghe. Tôi nghe. Tôi nghe. Cái bụng xẹp lép, toát mồ hôi tôi nghe. Từ nãy tôi nghe đến ù tai chóng mặt, mắt đổ hào quang mà anh vẫn cứ mải mê nói.
"...Dưới ánh sánh của chủ nghĩa mác-lê vô dịch, Đảng sẽ lãnh đạo nhân dân ta tiến lên chủ nghĩa xã hội ưu việt. Mai mốt khi học tập tiến bộ trở về rồi các anh sẽ thấy. Trong xã hội mới mọi người đều bình đẳng, và sẽ vĩnh viễn xóa bỏ mọi bất công xã hội . Sẽ không bao giờ có chuyện kẻ chỉ biết móc ngoặc, làm ăn lươn lẹo được ngồi mát ăn bát vàng, còn người lương thiện chân chính cứ phải nai lưng lao động tối ngày vẫn không đủ sống. Cũng sẽ chẳng bao giờ ta còn phải chứng kiến cảnh con cháu những kẻ cửa quyền nghênh ngang xe ngựa, còn con cái thường dân phải bỏ học đi moi rác kiếm miếng ăn như thời Mỹ-Ngụy trước đây. Vậy anh em hãy an tâm học tập cho tốt. Mai mốt khi được Cách mạng tha cho, anh em trở về sẽ thấy..."
Nhìn anh hăm hở nói, khuôn mặt đỏ gay như anh say rượu, còn cặp mắt giờ đây muốn bốc lửa như người bị đồng nhập, tôi chợt lên cơn thịnh nộ. Tôi giận anh. Tôi giận tôi. Tôi giận lây cả đến lũ chim kia. Tôi muốn trái đất này nổ tung để khỏi phải thấy anh, thấy tôi, khỏi phải chứng kiến cái hạnh phúc hồn nhiên của bày chim hèn mọn đó. Tôi muốn vạn vật đều tan thành tro bụi để được quên đi hết thảy. Quên anh, quên tôi, quên cái không khí ngột ngạt trên mảnh quê hương rách nát này, nơi đó có những khối óc, có những con tim, nơi đó có những con người biết nói đến tình, đến nghĩa, biết nói dến yêu thương, biết lựa lời hay ý đẹp để nói cho nhau nghe; nhưng thực tê lại là cuộc sống địa ngục với hận thù còn chồng chất và đói khổ, dốt nát, bệnh tật vẫn tràn lan.
Ôi ! Địa ngục ! Ôi ! Địa ngục !
Thì ra địa ngục không phải chỉ là tha nhân như ta vẫn thường hiểu qua câu nói của một triết gia (3). Địa ngục nhiều khi do ta tự tha hóa nơi ta để trở thành một tha nhân với chính ta và đem reo rắc địa ngục cho kẻ khác.
2
Trảng lớn, Phú quốc, Long giao, Suối máu!
Ôi! Những năm tháng sống phấn đấu để khỏi bị nhận chìm trong vũng lầy tuyệt vọng.
Năm giờ kẻng báo thức. Tập họp điểm danh. Phần ăn tiêu chuẩn chưa kịp giắt lưng đã nghe tiếng thúc giục cuốc sẻng lên đường. Lại những con đường cỏ ngập lối đi. Lại những mảnh đất sỏi đá chưa hề mang dấu vết khẩn hoang. Thế là một ngày lao động cải tạo lại bắt đầu. Và vẫn chỉ là một động tác liên tu bất tận?: cuốc. Hôm nay thứ hai hay thứ bảy? Cuốc. Đây là Phú quốc hay Long giao? Cuốc. Mùa hè nắng thiêu đỏ lửa? Cuốc. Mưa dầm gió bấc lạnh căm? Cuốc. Cuốc nữa đi. Cuốc mạnh vào. Còn phải phấn đấu cuốc nhiều hơn nữa. Cuốc! Cuốc! Cuốc! Cuốc miệt mài... Cuốc vô vọng...
Năm giờ chiều. Lại tiếng kẻng báo hiệu thu gom cuốc sẻng. Lại tập họp điểm danh. Lại chờ lệnh di chuyển về trại. Thế là một ngày trong đời sống cải tạo lại sắp chấm dứt. Một ngày như mọi ngày. Một ngày không buồn nhớ. Một ngày chỉ muốn quên. Như một ngày không tên. Một ngày chỉ mong chóng tới giây phút được coi đáng kể nhất trong một ngày?: Cái giây phút được quyền để cho thân xác rớt bịch trên khoang chiếu mà nằm. Nằm. Nằm. Nằm... Nằm bải hoải. Nằm rã rượi. Nằm đầu óc trống rỗng để được nghe rõ niềm hoan lạc của cơn mệt nhừ tử rần rần lan khắp cơ thể như một chất độc dược giúp ta sớm được thiếp đi trong một giấc ngủ vùi... Đã tự bao lâu rồi, như một người mắc bệnh mang thú đau thương, tôi tự hành xác trong ngày cho cơ thể rã rời để có thể tìm lẩn trốn trong những giấc ngủ mệt nhọc. Để rồi sớm hôm sau khi nghe tiếng kẻng báo thức tôi lại bật dậy và, như con chó pavlop (4), vội vàng đi kiếm cuốc sẻng để tiếp tục thêm một ngày hành xác. Cứ thế, cứ thế... Ngày này qua ngày khác. Tôi như đi tìm ở nơi hành xác này một món linh dược hay đúng ra một thứ cháo lú để quên đi thân phận hiện tại của mình, để chấp nhận được chỉ còn là sự tồn tại của một thân xác. Tôi e sợ những giây phút tâm trí thảnh thơi, đầu óc bắt đầu phải suy nghĩ là những lúc tôi phải đương đầu với những trận bão tố khốc liệt của những câu hỏi lại dồn dập hiện ra. Tại sao ta bị đăt trong hoàn cảnh này? Ta đã làm gì nên tội? Vợ con ta giờ này ra sao? Đến ngày nào ta mới thoát ra khỏi trại này? Liệu ta có thể chịu đựng nổi mãi cảnh sống này không? Tôi biết rằng nếu cứ để những câu hỏi này cứ luẩn quẩn xoáy mãi trong não, sẽ có lúc chúng làm đầu óc tôi muốn nổ tung, làm tôi bỗng lên cơn khùng xé quần xé áo, la hét om sòm, chửi rủa văng mạng để rồi bị đem nhốt vào nơi dành riêng cho những thành phần bị coi là điên dại. Hoặc đêm khuya tôi sẽ lao thẳng ra hàng rào như là một thách đố để hoặc là trốn thoát hoặc là bị bắn hạ, coi đó cũng là một con đường giải thoát. Nhiều lần tôi đã xiêu xiêu như muốn ngả theo lời kêu gọi mời mọc này. Nhưng tự đáy lòng dường như có tiếng thân quen nào đó lại vọng lên, ân cần nhắc nhở tôi chớ có dại dột, hãy kiên nhẫn chờ đợi. Và cuối cùng lời kêu gọi thì thầm nhưng tha thiết ấy đã làm sống dậy bản năng sinh tồn nơi tôi. Nhờ vậy mà tôi còn sống, vẫn sống, tiếp tục sống... Nếu ta có thể gọi như thế cũng là sống!
Trảng lớn, Phú quốc, Long giao, Suôi máu!
Năm giờ chiều. Kẻng báo hiệu thu gom cuốc sẻng. Thế là một ngày lao động cải tạo sắp chấm dứt. Một ngày rồi cũng như mọi ngày. Nhưng một ngày lại không hẳn như mọi ngày. Một ngày tưởng không buồn nhớ. Nhưng một ngày chắc gì đã dễ quên. Tuy cũng chỉ là một ngày không tên.
Bữa nay nhờ sớm hoàn tất công tác khai quang, chúng tôi được phép ngưng tay cuốc dễ có đến gần một giờ trước khi có lệnh về trại. Trong đời cải tạo viên có thêm một giờ nghỉ xả hơi trong ngày lao động thật không khác gì gặp ngày lễ lớn, tới giờ chia cơm may mắn bốc thăm trúng được phần thịt có dính lẫn cục xương (5). Cũng như mọi người, vừa buông tay cuốc tôi vội tìm một bóng mát làm chỗ ngả lưng. Tiếp đến là bắn một bi thuốc cối để tận hưởng cái khoái lạc do món quà một giờ nghỉ phụ trội khi không đùng đùng dẫn xác đến. Phải đã từng nếm mùi đói khổ trong đời sống cải tạo mới biết đến cái sướng đã đời chỉ nhờ có bi thuốc nhỏ nhoi hèn mọn. Khói thuốc rít vào làm bụng ta đang cơn đói càng thêm cồn cào, chân tay đã bải hoải càng thêm rã rời. Nhưng cũng chính nhờ cái đói mệt sẵn có mà ta càng dễ bị đảy tới giới hạn tận cùng của hiệu quả say khiến mọi cảm xúc rã rượi cồn cào hầu như tan biến. Còn lại chỉ là một cảm giác lâng lâng sảng khoái tưởng như hồn ta đang tách rời cái thân xác hệ lụy và cõi lòng ta đã có lúc sớm dược phiêu diêu nơi miền cực lạc... Không biết tôi đã nằm trong tư thế này để kéo dài niềm hoan lạc ấy từ bao lâu rồi. Năm phút? Mười phút? Nửa giờ đồng hồ. Rất có thể... Cuối cùng biết không thể lẩn trốn mãi trong ảo tưởng được, tôi đành mở mắt để lại phải nhìn ra cái thực tại đang sống của mình. Đây rồi, mảnh đất vừa được cuốc xới vẫn còn ánh lên một chất nâu non màu mỡ. Nhưng hình ảnh những người bạn cùng tổ đang nằm rúm ró quanh quất khiến tôi lại rơi vào tâm trạng chán chán nản rã rời hơn bao giờ hết. Mảnh đất mới đây còn hoang dại, nay đã trở thành màu mỡ, cũng là do công sức lao động của tôi đó. Nhưng thành quả lao động này phỏng có ích gì và liệu có giải quyết cho tôi được gì? Tôi đã phải đổ mồ hôi để chân được thêm cứng, đá phải trở nên mềm không biết tự bao lâu rồi? Vậy mà công dã tràng vẫn hoàn công dã tràng; và mọi hứa hẹn khuyến khích cũng chỉ là những bãi bọt biển. Có ra sức cầy cuốc cho lắm thì sáng sáng vẫn thấy mình đứng trước một mảnh đất tưởng như trải dài bất tận. Và cuộc sống, rút cục, vẫn chỉ gom thành động tác duy nhất : cuốc. Bất chợt tôi liên tưởng tới nhân vật trong tập tiểu luận của A. Camus và tự nhủ : "A thỉ ra mình cũng đang làm công việc của Sisyphe đây." Ý nghĩ hiện ra bất chợt trong khoảnh khắc được nghỉ bất thường này không ngờ cứ lởn vởn trong óc tôi để trở thành một ám ảnh không rời. Suốt chặng đường về và ngay cả sau khi đã ngả lưng trên chiếu, ý nghĩ này vẫn bám riết lấy tôi như một con đỉa đói bắt tôi phải thao thức. Thế là tôi hết tìm lại được giấc ngủ lấp lú như thường lệ. Thế là tôi lại bắt đầu phải trực diện với điều mà cho tới nay tôi vẫn tìm cách lẩn tránh. Tôi buộc phải đi tìm giải đáp cho những câu hỏi mà tôi không muốn thấy đặt ra. Cớ sao ta lại lâm vào cảnh sống này? Ta có thể chấp nhận tồn tại trong thân phận hiện nay bao lâu? Việc làm hàng ngày của ta liệu có mang một ý nghĩa cứu rỗi nào chăng? Càng tự vấn tôi càng đâm bế tắc và cảm thấy mình còn mang thân phận bi đát hơn cả Sisyphe.
Sisyphe, nhân vật thần thoại Hi lạp, vì can tội chống lại các thần linh nên bị đày xuống địa ngục và chịu thêm hình phạt là phải đẩy một khối đá nặng từ chân một ngọn núi lên tới đỉnh. Nhưng vì mỏm núi nhọn hoắt nên tảng đá khi được vần sắp tới đỉnh, do sức nặng của nó, lại lăn trở về vị trí cũ. Vì thế Sisyphe cứ phải hì hục làm mãi công việc đảy đá một cách vô ích và vô vọng. Các thần linh đã chọn hình phạt này để trừng phạt đích đáng tội cả gan nghịch thượng của Sisyphe. Họ cho rằng không có gì nghiệt ngã cho bằng bắt tội nhân phải kéo lê một cuộc sống đọa đày vô nghĩa. Sisyphe đã phạm tội gì để các thần linh muốn trả thù độc địa như vậy?
Truyền thuyết Hi lạp lưu lại cho ta rất nhiều sự tích nhưng lại không nhất quán về hành vi phạm pháp của Sisyphe. Theo lời Homère kể thì Sisyphe, chẳng đặng đừng trước cảnh thần Pluton để mặc cho đàn em là thần Chết gây tang tóc nơi cõi trần, nên đã tìm cách trói tay thần Chết lại. Bực tức vì thần Chết làm mất đi của mình một trò đùa vui mắt, Pluton bèn ra lệnh lùng bắt Sisyphe đày ải địa ngục. Nhưng có sự tích lại kể rằng Sisyphe, để cứu nhân dân thành Corinthe khỏi nạn hạn hán, có mách cho cho thủy thần Asophe là chính Jupiter đã bắt cóc con gái ông ta. Tức giận vì Sisyphe dám tiết lộ hành vi xấu xa của mình, Jupiter mới buộc Sísyphe phải lãnh án đảy đá để trả thù. Lại còn một sự tích khác theo đó Sisyphe khi sắp chết, muốn thử vợ, đã căn dặn là phải đem xác mình ra bêu nơi công cộng. Bất mãn vì vợ thi hành y lời, như vậy là ăn ở không đúng tình người, Sisyphe bèn xin với Pluton được một lần trở về cõi dương để trừng trị vợ. Nhưng khi thấy lại ánh sáng mặt trời, Sisyphe đâm ra luyến tiếc cuộc sống thế gian nên tìm cách trốn ở lại để tận hưởng thú vui trần thê. Cũng vì sự đam mê hạnh phúc thế gian này, bất chấp mọi đe dọa của thần linh, nên Sisyphe mới phải chịu cực hình của tên nô lệ khổ sai chung thân. Sự tích tuy nhiều, nhưng tựu trung ta vẫn chỉ có một mớ giả thuyết trái ngược về hành vi phạm pháp của Sisyphe. Chính tình trạng hỗn tạp mơ hồ này mới là yếu tố kích thích trí tưởng tượng dân gian khiến câu chuyện càng được thêu dệt hoang đường và tăng thêm tính huyền thoại của nhân vật Sisyphe. Nhưng huyền thoại phát sinh không cốt để được nuôi dưỡng bằng óc tưởng tượng hoặc để thỏa mãn nhu cầu về fantasme. Huyền thoại vẫn sống động trong không gian với thời gian bởi vì nó còn mang một ý nghĩa biểu tượng: đằng sau những sự tích hoang đường, số phận của mỗi nhân vật huyền thoại còn muốn nhắc nhở ta cần tra vấn ý nghĩa bí ẩn của cuộc đời. Là đứa con của mảnh đất Địa Trung Hải, dĩ nhiên là Albert Camus không thể không chú ý tới số phận của Sisyphe. Và cuốn tiểu luận "Le mythe de Sisyphe"ông viết ra không ngoài chủ đích đi tìm giải đáp cho một trong những tra vấn này.
Qua ngòi bút Camus, tôi tưởng như tìm thấy ở Sisyphe hình ảnh một con người tha thiết với cuộc sống thế gian. Nhưng hạnh phúc cõi trần lại nằm trong tay các thần linh chuyên quyền dộc doán với những sở thích tai ngược của họ. Bởi thế Sisyphe mới sinh nổi loạn. Sự nổi loạn này được coi như biểu tượng cho thái độ phản kháng trước những quyết định phi lý và Sisyphe, nạn nhân của các thần linh, cũng chính là nạn nhân của tính phi lý ở đời. YÙ nghĩa biểu tượng của huyền thoại là thế đó: bi kịch của Sisyphe cũng có thể là bi kịch của mỗi chúng ta ở đòi. Có khác chăng là thần linh thời đại chúng ta thiên hình vạn trạng không dễ gì nhận diện ngay được. Họ có thể là những chủ nghĩa, học thuyết, ý thức hệ mang khuôn mặt của những từ có tiếp vĩ ngữ isme như impérialisme, capitalisme, nazisme, communisme, stalinisme, maoisme, polpotisme...Cũng như Pluton trong truyền thuyết Hi lạp lấy cảnh Thần chết ra tay sát hại sinh linh làm thú tiêu khiển, mấy ông thần linh hiện đại thuộc dòng dõi họ nhà isme đã không ngần ngại ném hàng triệu sinh linh vào lò thí nghiệm cho cái lý thuyết mà họ cho là hay ho và tưởng rằng, nếu đem ra thực hiện, chúng sẽ biến họ thành những bậc cứu thế. Nhưng các thần linh đương đại còn có thể là những khối quyền lực, những liên minh tài phiệt, những tổ hợp buôn vũ khí, những chúa trùm ma túy, những băng đảng mafia... Thuộc thành phần nhân loại xuất chúng nhưng cao ngạo, đầy dục vọng và vị kỷ như các thần linh trong thuần thoại Hi lạp, họ đeo đuổi mộng bá quyền nên chỉ thích tạo dựng lên những vương quốc hòng được nghênh ngang trị vì. Để thực hiện tham vọng, họ thường cấu kết với nhau và không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả đảo lộn các bậc thang giá trị, thay đổi luật tạo hóa hay đúng hơn đặt ra những luật chơi mới cốt sao phù hợp với quyền lợi, tham vọng đeo đuổi... Và cho dù các thủ đoạn ấy có gieo rắc tai ương, gây ra chiến tranh, đem lại bịnh tật, đói khổ cho đồng loại họ cũng không cần biết; miễn sao thỏa mãn được ý đồ phô trương thanh thế hoặc dụng vọng sân si của họ. Nhưng khôn ngoan hơn các thần linh thuộc dòng dõi họ nhà isme, các thần linh thuộc loại sau này không chỉ có dựa trên bạo lực để mà đàn áp, thống tri. Trái lại họ khéo léo ngụy trang các mưu đồ vị kỷ bằng những mặt nạ nhân nghĩa mang chiêu bài đẹp đẽ như thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ nhân quyền, tái lập tự do dân chủ, cứu trợ nhân đạo, mưu cầu hạnh phúc thế gian... để khuyến dụ, mê hoặc hay ru ngủ quần chúng thành những thần dân tự nguyện hay làm con rối trong bàn tay phù thủy của họ. Bởi vật ta thường thấy các thần linh này xuất hiện với khuôn mặt đạo mạo khả kính. Và, cũng như Jupiter, chỉ khi nào ý đồ đen tói, hành vi ám muội bị tật tẩy, họ mới để lộ rõ bộ mặt thật gian ác của mình.
Nhưng cuốn tiểu luận của Camus không chỉ đem ánh sáng soi tỏ nhằm giúp ta ý thức hơn về những vấn đề của thời đại chúng ta. Chủ đích của ông là đi tìm giải đáp cho vấn đề mà ông cho là cơ bản nhất: đó là xác định thái độ sống thích đáng trước ý thức về phi lý cuộc đời. Và ông đã dành trọn chương chót mang tiểu đề "Le mythe de Sisyphe" như tựa cuốn sách, để xác định một thái độ cho Sisyphe trước ý đồ trừng phạt của các thần linh. Theo ông chính thái độ này mới là chìa khóa cho vấn đề nêu lên. Camus cho rằng trước quền uy của các thần linh, Sisyphe không thể làm khác hơn là đành thọ phạt. Nhưng không vì thế mà Sisyphe chịu khuất phục. Đành rằng Sisyphe không thể phá bỏ sợi xích cột chặt mình với tảng đá, cũng như không thể khước từ công việc đảy khối đá mỗi ngày. Nhưng có coi việc làm nặng nhọc như một nhục hình khổ sai hay không điều này lại tùy thuộc vào thái độ lựa chọn của Sisyphe. Tảng đá kia có thể là khối nặng ngàn cân các thần linh muốn dùng để đè bẹp Sisyphe đấy. Nhưng Sisyphe cũng có thể bằng nghị lực, bằng ý chí biến tảng đá kia thành thước đo khả năng đương đầu với thử thách của mình. Tảng đá càng nặng, ý chí phấn đấu càng cao và chiến thắng của Sisyphe càng hiển hách thêm bấy nhiêu. Bởi thế mỗi lần tận lực vần được tảng đá lên tới đỉnh là một lần là một lần Sisyphe có thể tự hào đã chiến thắng bản thân, khắc phục được nỗi tuyệt vọng để đánh bại các thần linh trong ý đồ trả thù của họ. Và như vậy, thay vì là một nhục hình khổ sai, từ nay Sisyphe có thể tìm thấy ở công việc đảy đá một lẽ sống, một nguồn hi vọng, lấy đỉnh cao ngọn núi làm mục tiêu chiến thắng để động viên tinh thần. "Ta phải tưởng tượng Sísyphe có hạnh phúc" (Il faut imaginer Sisyphe heureux), đó là lời kết cho cuốn tiểu luận và cũng là thông điệp nhà văn Albert Camus muốn gửi đến chúng ta. Tôi có thể rút tỉa gì được ở bài học này?
Xét cho cùng việc làm cuốc đất hàng ngày tôi thấy nó cũng vô vọng vô ích không khác chi việc làm của tên nô lệ khổ sai Sisyphe cả. Nhưng liệu tôi có đủ nghi lực can cường để dám phấn đấu nổi loạn như Sisyphe và tìm ra hạnh phúc trong lao tác cuốc đất hàng ngày hay không? Cha mẹ ôi! Câu hỏi bỗng hiện ra khơi khơi vậy mà căng lắm, đâu có phải chuyện chơi. Tôi phải ráng trả lời cho khách quan và chính xác mới được. Biết đâu trong thân phận một tên tù cải tạo tối ngày chỉ mơ tưởng tới bữa chia cơm bốc thăm trúng được phần thịt dính thêm cục xương, tôi lại chẳng là nhân vật đang được đi vào huyền thoại mà không hay. Nhưng hãy tự hỏi tôi có được cốt cách của một Sisyphe hay không trước đã?
Áp dụng phương pháp đánh giá bản thân mới tiếp thâu qua học tập, trước tiên tôi thấy có điểm mạnh cho phép tin tưởng rằng, nếu không phải là con cháu đích tôn, thì ít ra tôi cũng có giây mơ rễ má với dòng họ nhà ông Sisyphe: đó là sự đam mê hạnh phúc trần thế. Tôi yêu đời lắm các bạn ơi! Cũng như Sisyphe, tôi chỉ mong tồn tại mãi trên thế gian này để được hưởng đầy đủ các mục du hí đớp hít ở đời. Tôi vẫn nhớ cái lần đầu tiên tôi nhận được lệnh trình diện nhập ngũ. Hồi đó mặt tôi đang mọc mụn, giọng nói chưa hết ồm ồm, còn chân tay thì hễ gặp đàn bà con gái lại ngứa ngáy quíu quáo cả lên chỉ chực vồ bắt cào cào mà không biết đặt vào đâu cả: Nghĩa là hồi đó tôi mới ở cái tuổi đang thòm thèm muốn biếtsự đời là cái chi chi, chứ tôi đâu đã được biết:đời, c'est cái la vienó như thế nào. Bởi thế tôi ham sống sợ chết lắm, chỉ tính chuyện kiếm cách để được gài số de thôi. Sẵn có vóc dáng thư sinh nho nhã, tôi cố nhịn ăn lại còn mỗi ngày tập đốt hơn bao thuốc với hi vọng biến nó thành tấm thân cò vạc và một buồng phổi lủng để được xếp vào loại bị lính chê (chứ không phải là chê lính), tha hồ mà ở nhà vi vút. Nhưng rút cục sau hai lần được hoãn dịch, tới lần tái khám thứ ba, mắc dù chỉ nặng có ba mươi lăm kí mốt và một bên phổi có lỗ chỗ chấm đen, tôi vẫn được ban giám định ưu ái tuyên bố trúng tuyển cuộc thi chọn người hùng kiểu mẫu đứng ra bảo vệ thế giới tự do.
Khỏi phải nói, các bạn cũng đoán ra là khi được gọi tên lãnh ấn tiên phong, cái bu di của tôi nó bị teo đi mất chừng nào. Ta thường nghe nói: "Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh". Lúc đó, tự xét mình tôi mới thấy chỉ đáng thừa hưởng của nhà ông Sisyphe có cái lông thôi; chứ tôi đâu có đủ uy dũng để mà vỗ cánh vẫy vùng như ổng ấy được. Bởi vì đam mê cuộc sống thì có, còn như cả gan cưỡng lại mệnh lệnh thần linh thì không. Cũng vì thế nên khi mấy ông đại diện cho thần linh quốc gia bảo tôi phải cầm súng ra tuyến đầu để bảo vệ quê hương dân tộc, chính nghĩa quốc gia, bụng dạ tuy nghi hoặc nhưng tôi đâu dám chống lại. Tôi chỉ thi hành lệnh miễn cưỡng thôi. Hễ có tiếng hô xung phong, bao giờ tôi cũng lon ton xách súng chạy sau anh em dăm ba thước và chỉ chực kiếm chỗ nào có mô cao là nhào xuống nằm thủ thế. Tôi ghìm súng hé mắt chờ, thấy ai sấn tới tôi mới xả súng tự vệ; bằng không tôi cứ nín thinh để khỏi lộ mục tiêu. Khoan khoan, xin ai chớ có vội cười. Tôi biết rằng hành động như vậy là hèn nhát, là sống trên xương máu đồng đội, là không dám liều mình cứu chúa. Nhưng các bạn cũng nên thông cảm dùm. Tôi mới tròm trèm hai mươi tuổi. Tâm hồn tôi hãy còn ngây thơ trong trắng, tấm thân tôi vẫn chưa được lấm bụi trần. Dại gì mà xung phong hăng tiết vịt. Chẳng may trúng phải hòn tên mũi đạn, ngỏm mất củ tỏi, có phải là uổng phí một đời trai tơ không? Mà chết như thế liệu được ăn cái giải rút gì? Để được gắn thêm một cục (6) và truy tặng anh dũng bội tinh với nghành dương liễu? Chỉ được có vậy thôi à? Thế còn mấy người em gái ở hậu phương Sài Gòn, em nào em nấy đều thơm phưng phức cứ như là múi mít cả í, chết đi để các em lại cho ai hưởng? Để cho mấy tay hoạt đầu chính trị chuyên cấu kết với gian thương lũng đoạn thị trường, để cho đám tướng tá bất tài tối ngày chỉ lo tính chuyện áp phe, để cho con cháu họ được quyền trốn lính nhởn nhơ ăn chơi ấy à? Bảo tôi di thí tấm mạng cùi để bảo vệ cho mấy người ấy được sống phây phây tha hồ mà đớp hít thụ hưởng? Còn lâu í, tôi đâu có ngu gì. Ít ra tôi cũng đậu nổi tú tài một mới được cho đi học trường sĩ quan Thủ Đức chứ bộ. Bởi vậy, mặc dù bất mãn tôi cũng chỉ lo thủ cẳng thôi. Tôi chỉ biết lo thủ cẳng vì tôi sợ uy các ông thần linh quốc gia lắm. Tôi sợ uy các ông thần linh quốc gia đến độ mà khi họ đã leo lên máy bay trực thăng, noi gương ông đại sứ nước cờ huê giàu mạnh tới phút chót chỉ kịp ôm vội lá cờ biểu tượng để bảo toàn danh dự cho chính nghĩa tự do còn lại đành bỏ của chạy lấy người, tôi vẫn mắm môi mắm lợi ôm súng tử thủ. Tôi vừa ôm súng vừa run muốn vãi đái ra quần nhưng vẫn cố tử thủ vì chót được nghe một ông tướng huênh tuyên bố quyết tâm sẽ biến Sài Gòn thành một Stalingrad thứ hai, thề sống chết một lòng một dạ với quốc gia dân tộc. Để rồi phút chót ổng vụt đổi ý, nhảy phóc lên chiếc trực thăng áp dụng bài bản "tẩu vi thượng sách". Rút cục chỉ có đám lau nhau chúng tôi dại khờ ở lại, nhưng không có được cái hào khí của các vị tướng lãnh như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ ...đã chọn cái chết vinh quang để trung thành với lý tưởng và bảo toàn danh dự, nên đành ôm phận tép riu lãnh nguyên cái cán búa.
Giờ tới lượt ông thần linh cách mạng lại trăm dâu đổ đầu tầm. Chúng tôi bị kết đủ thứ tội: nào là làm lính đánh thuê, nào là theo chân đế quốc bán nước, nào là cầm súng chống lại nhân dân, nào là các anh đã giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng để được mang quân hàm sĩ quan... Càng nghĩ càng đau, càng ngẫm càng thấy chỉ có dân thấp cổ bé miệng là luôn luôn chịu thiệt thòi. Hồi đó tôi có khoác bộ quân phục chẳng qua cũng vì cái lệnh gọi nhập ngũ cứ nhất định được nhét vào tay. Có vậy thôi. Tôi có ôm mộng công hầu khanh tướng gì đâu mà bảo là thích hăng say giết giặc. Thực ra tôi chỉ giỏi đánh võ mồm thôi. Nếu được trổ tài đáu hót với ăn tục nói phét tôi đâu có chịu thua kém ai. Còn hơn nữa là đằng khác. Nghề của chàng mà. Chứ bảo tôi lao đầu vào nơi dầu sôi lửa bỏng ý à. Xin lỗi nhờ anh tí, không có em đi hàng đầu. Của đáng tội, hồi đó thỉnh thoảng tôi cũng khoái lên bộ rằn ri làm ra vẻ ta đây cũng thuộc loại lính ngầu; nhưng thực ra chỉ cốt để lấy le mỗi lần xuống thăm các em dưới xóm thôi. Tôi có định gây gổ ức hiếp ai đâu. Tôi con nhà lành mà. Tôi hiền như ma sơ í. Và tôi cũng hãy còn ngây thơ lắm. Không ngây thơ sao được mà khi có lệnh tập trung trình diện mang theo mười ngày cơm, tôi lại dặn vợ phải sắp đủ mười lăm ngày, nghĩa là cộng thêm năm ngày trừ hao để được chắc ăn như bắp. Đã thế bữa ra đi tôi còn phấn khỏi hồ hởi ngoái cổ lại dặn vợ nhớ kiếm mua con gà thật béo nuôi để dành, chờ mai mốt học tập thành tài được thả về sẽ đem ra làm thịt, trước là để tạ ơn cúng tổ, sau cho cả nhà ăn mừng tôi đã học tập thành tài nên người. Vậy là tôi ngon. Tôi chịu chơi. Tôi đi tiền rất đẹp. Thế mà ông thần linh cách mạng lại đi nỡ tháu cáy tôi. Vậy mà ông thần linh cách mạng lại nỡ đem ngâm tôm tôi hết năm này qua năm khác thử hỏi làm sao tôi không oai oái kêu trời như bọng cho được? Tôi bị thua đau quá các bạn ơi! Đời tôi ba chìm bảy nổi cũng nhiều. Tôi đã từng bị đời và các em đá lên đá xuống không biết bao lần; tấm thân có lúc tơi tả bèo nhèo còn hơn cả tấm mền rách nữa. Nhưng chưa bao giờ tôi lại thua đau thê thảm bằng cái vố này. Các bạn thử nghĩ coi. Vợ con với đời sống gia đình này. Sinh hoạt Sài Gòn nay trở lại bình thường vì đất nước đã sạch bóng quân thù, giang sơn đã thu về một mối này. Niềm tin vào chính sách khoan hồng nhân đạo trước sau như một của Cách Mạng này. Hi vọng sẽ được góp phần vào việc làm cho đất nước tươi sáng hơn này. Ngần ấy thứ tôi nhất nhất gom góp đem đặt hết lên chiếu bạc. Vậy mà nay tôi còn lại có thân xác tả tơi, bao tử lúc nào cũng trống rỗng, chỉ biết lấy khói thuốc cầm hơi ngậm ngùi ca bản "chiều mưa mút chỉ anh đi về đâu?", thử hỏi tôi không cay cú sao được? Đôi lúc tôi cố lấy giọng định cất lời ca "Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng!", nhưng chỉ có toàn hơi thở phều phào không còn nghe ra tiếng nữa.
Hình ảnh Sisyphe toàn thân ướt đẫm mồ hôi, khuôn mặt dán chặt vào phiến đá tưởng như đã hóa đá, chân tay gân guốc cuồn cuộn ra sức vần cho được tảng đá lên tới đỉnh núi lại hiện ra trong tâm trí. Tôi cũng nghe như vọng lên lời kết trong cuốn tiểu luận của Camus: "Ta phải tưởng tượng Sisyphe có hạnh phúc". Nhưng tôi đâu có phải là một Sisyphe. Tôi thấy mình thuộc loại dân quèn như ai và cũng chỉ mong được an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi hàng ngày. Phải chi tôi có được cái bản lãnh với khí phách hiên ngang của một Sisyphe nổi loạn. Như vậy ít ra tôi cũng hiểu được lý do của sự trừng phạt để tìm ra nguồn an ủi. Và ít ra, cũng như Sisyphe, tôi có thể lấy quyết tâm đánh bại ý đồ trả thù của các thần linh làm nguồn vui lẽ sống. Đằng này... Còn nhớ khi ông thần linh quốc gia bảo tôi nhập ngũ, tôi cũng cắn răng cầm súng nói là để bảo vệ quê hương. Rồi đến lượt ông thàn linh cách mạng quyết định gửi tôi đi học tập để rèn luyện cho thành người, tôi cũng hăng hái ghi tên theo học. Như vậy là tôi biết điều, tôi ăn ở phải đạo. Kế thừa truyền thống giáo dục của ông bà, tôi cũng tâm niệm rằng thế giới này trật tự đã an bài: mọi sự trên đời đều do một Đấng tối cao quyết định và trao quền sinh sát thưởng phạt cho các đại diện là những vị thần linh. "Con ơi, tôi vẫn nhớ lời bà tôi khuyên nhủ, người ta ở đòi ai cũng có số cả. Con ráng ăn ngay ở hiền, Trời Phật thương, rồi con sẽ được mọi chuyện tai qua nạn khỏi." Tôi ngoan ngoãn, tôi biết nghe lời và tôi tin tưởng sẽ được sống yên ổn. Bởi vậy tất cả những điều được nghe giảng dạy, từ tôn giáo đến chủ nghĩa, lý thuyết, ý thức hệ... tôi đều cho là hay là đẹp. Thậm chí những lời thề thốt yêu thương trọn đời của mấy vị thần linh ái tình tôi được gặp tôi cũng tin tuốt luốt. Tôi cứ nghĩ lời phán của thần linh bao giờ chẳng là công bằng, chẳng là lẽ phải. Dại gì ta không phó mặc sự đời cho thần linh lo liệu giải quyết, lấy thần linh làm nơi nương tựa gối đầu. Như vậy ta sẽ được sống an tâm, khỏi phải ưu tư thắc mắc với những câu hỏi ấm ớ hội tề thuộc loại sao ta lại có mặt trên cõi đời này, cứu cánh hành động của ta là gì, cuộc sống này có ý nghĩa gì chăng?
Ai ngờ vận nước nổi trôi, vật đổi sao dời, các biến cố thời sự dồn dập đã làm sụp đổ mọi niềm tin ảo tưởng nơi tôi. Các bức màn ngụy trang đều bị xé toạc, tôi nay đã thấy mọi tín điều, tất cả những lý thuyết chủ nghĩa, ý thức hệ, thậm chí cả tình yêu đều không giải quyết được cho tôi vấn đề ý nghĩa của sự sinh tồn. Thực ra cho tới nay tôi chưa dám sống với mình cho trung thực. Cho tới nay tôi chỉ biết tồn tại bằng cách tìm thỏa hiệp với cuộc sống hàng ngày. Cho tới nay tôi chỉ sống theo kiểu tầm gửi bằng cách bám vào các lý thuyết, chủ nghĩa, ý thức hệ như là những giải pháp sẵn có ở đời để tìm ra một lẽ sống, một cứu cánh cho hành động. Thực ra cho tới nay tôi chỉ tìm cách tự ru ngủ, tự phỉnh phờ trong sự ngụy tín (la mauvaise foi) để khỏi phải trực diện đương đầu với vấn đề thân phận con người. Nhưng vấn đề đó nay đã hiện lên với tất cả những sần sượng của thực tế phũ phàng. Tới nay tôi đã ý thức được rằng mọi hành động đều là vô ích và cuộc sống, thực ra, không có ý nghĩa gì hết. Trong thân phận của một cải tạo viên giờ này tôi chỉ thấy dựng lên, sừng sững, một bức tường phi lý dày đặc. Tôi phải có thái độ sống ra sao đây? Tôi có thể chấp nhận cuộc tiếp tục cuộc sống vô nghõa với động tác cuốc đất liên tu bất tận? Làm sao tôi có thể khoát khỏi nỗi tuyệt vọng trước công việc vô bổ nhàm chán ấy? Phải chi tôi dám có hành động hiên ngang khí phách như Sisyphe. Đằng này... Càng nghĩ tôi càng thấy bế tắc và ý tưởng tự tử lại hiện lên. Nhưng lần này nó không chỉ hiện ra để rồi biến mất. Trái lại nó cứ lởn vởn quanh quất trong đầu, mỗi lúc thêm có xương có thịt để trở thành giải pháp ngày càng tăng sức quyến rũ. Ta có nên quyết định tự tử hay không? Câu hỏi hiện lên đột ngột phũ phàng làm tôi hoang mang bối rối. Và tôi chợt hiểu tại sao Camus đã dành nguyên chương đầu cuốn tiểu luận để bàn về vấn đề tự tử(7), coi đó là câu hỏi triết học nghiêm túc hàng đầu. Đúng vào lúc này tôi bỗng thấy hiện lên mồn một nhưng dòng, những đoạn của một số chương mà trước đây tôi đọc không mấy quan tâm, chỉ đọc lướt qua, nhiều khi đọc cốt để được khoe là đã có đọc. Và giờ đây tôi mới thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc của những dòng, những đoạn chữ ấy.
Nguyễn Bảo Hưng
***
18- Buổi Sáng, Bóng Tôi, Cô Đơn
BUỔI SÁNG
Bức tranh sống động của con đường ra biển vào 5 giờ sáng ngày nào cũng hệt nhau không thay đổi: góc đường đầu tiên là đôi vợ chồng trẻ bày bàn ghế chén đĩa lên vỉa hè rộng trước nhà. Hai lò than to ngọn lửa hiu hiu từ từ hực lên nhờ cây quạt trời buổi sáng rất "ấn tượng". Cô vợ xinh xắn lúi húi bên mấy nồi nước dùng to chảng, anh chồng lo dựng mấy cây dù vĩ đại nặng nề. Đi thêm vài trăm mét sẽ nghe nước chảy róc rách từ hòn giả suối mà tôi thường bảo là phí năng lượng, ban đêm thì ngoài sân để điện làm gì. Ở góc đường tiếp theo một bà kéo tủ bánh mì ra lề đường, bật đèn, đàn "bò cười" khúc khích sắp hàng bên trong lớp kính nháy mắt với khách bộ hành. Góc đường đối diện một ông bận may dô trắng ngồi quay lưng ra đường rót đầy mắm hay tương ớt hay gì gì linh tinh vào chai lọ lủ khủ trên bàn, hẳn là theo lịnh vợ. Vừa qua khỏi là quán cà phê giờ này thường năm ba ông trò chuyện râm ran. Thêm ít bước nữa ở ngã ba con đường nhỏ, hàng bánh canh chả cá đang xun xoe bàn ghế mà sáng nào bà mẹ trẻ cũng được cô con gái nhỏ lăng xăng phụ giúp. Thêm ba bước cũng rộn rịp ghế bàn cho riêu cua, bún cá. Đối diện bên kia là hàng bún bò có hàng phở nằm kề. Rồi ngay ngã ba đường chính thì đủ loại xôi thơm lừng mùi hành phi sáng sớm. Băng qua đường, "quán" cà phê nữa gồm ba chiếc bàn con sát vách hè, cô chủ luôn luôn đội mũ sụp che kín, giờ đó hãy còn tối và vành mũ rộng nên chỉ đi ngang qua thì không bao giờ thấy mặt. Chiếc ra dô hay máy hát hay điện thoại đi động phát ra những bản tình ca thời trước 75, mùi mẫn. Rộn ràng các sinh hoạt đầu ngày phục vụ bao tử và khẩu vị mỗi người. Là sự sống. Gần tới biển thì khỏi nói, không có lề đường cho người đi bộ, bàn ghế đã chiếm hết rồi và mỗi lò than có một chiếc quạt máy thổi vù vù, đi gần tàn lửa bén quần áo như chơi. Các nồi nước lèo sôi sùng sục, lỡ trượt chân ngã vào đấy sẽ thành thịt luộc. Rồi cái chợ chồm hổm bất thành văn dọc đường dành cho người đi biển về tiện mua, bắp, sữa đậu nành, đậu hủ, khoai lang khoai mì, bánh dầy, bánh đập... Chẳng thế còn rau cỏ và mùa nào trái ấy cây nhà lá vườn tươi rói, những ngày gần Tết còn có gà sống mà người bán chẳng ngần ngại cắt tiết luôn nếu khách yêu cầu. Một bức tranh sống động trong khi trời chưa rõ mặt. Không ai to tiếng. Bây giờ từng nhóm người đi ngược trở về đã nhiều, dám họ ra biển từ ba giờ sáng.
Những hôm trời mưa hay vì lý do gì không ra biển thì đúng 6 giờ, tiếng cây "chổi xương" nhà ai thong dong đưa đẩy. Tiếng suốt cây chổi lên mặt đất nhẹ nhàng, hơi dài, trong trẻo, thanh tao. Đúng bảy cái thì ngưng. Mười lần như một, nhất định không trước hay sau sáu giờ, không ít hay nhiều hơn bảy lần chổi quét. Thường tôi nằm im và đếm, không có ý tò mò ra xem nhà ai mà đều đặn ngăn nắp vậy. Cứ để nó vẫn là huyền bí, bởi bảy suốt chổi đó vừa dễ thương vừa đằm thắm. Nó đặc biệt quá, ấm cúng quá, dịu dàng quá. Không cố đánh thức ai dậy muộn, không vội vàng tất bật cho xong, không nặng nề đuổi rác, nó thong dong điệu đàng như con gái vừa đi vừa ngoáy lại mỉm cười. Không biết người quét có cố ý đúng bảy cái thì ngưng hay tới đó vuông sân đã hết. Bảy suốt chổi mà đã hết thì sân hẹp lắm, ngắn lắm. Vậy mà nó nổi bật trong buổi tinh mơ nhờ người chủ quét. Ta có thể tưởng tượng bà chủ hay cô chủ nhỏ cầm cán chổi yểu điệu như cầm chiếc quạt trầm, phe phẩy lịch sự đuổi bóng đêm và mấy chiếc lá đi mà không nỡ thẳng tay. Rồi cầm chổi lững thửng quay vào nhà, bỏ mặc mấy chiếc lá vàng vừa túm tụm có thể nhởn nhơ với gió sớm theo chân người vào sân trở lại cùng ánh sáng mỗi lúc một hồng hào.
Nhớ lại thuở nào nhà bà chị ở Hàng Xanh nằm đầu con hẻm, có cái chợ nhỏ. Buổi sáng chưa rõ mặt, trong khi các bà âm thầm bày thúng mủng và khẽ khàng trò chuyện thì mùi các loại rau thơm rau ngò từ từ len vào khe cửa. Mùi thơm tinh tuyền thanh tao quá đỗi, nó lách vào khứu giác và cả thân hình như được ươm hoa. Sách vở nói xưa kia Đức Phật nghỉ trưa trong phòng ướp hương sen, chẳng biết thơm cỡ nào, nhưng dạo đó chẳng cố ý mà sáng nào cũng được rau ngò lừng lững bước vào, nhẹ nhàng đánh thức dậy với nụ hôn ngọt ngào khiến mình sảng khoái vô biên. Những lá ngò mỏng manh trêu ghẹo, lẳng lơ một cách kín đáo. Tô canh nóng hổi bỏ hành ngò xắt lát sực lên nồng nàn quyện mùi tôm thịt, trong khi rau ngò buổi sáng chỉ có mùi hương mát dịu đượm sương đêm, thơm và thanh. Dạo đó tôi nằm im miên man hít thở nhẹ nhàng, cảm nhận từng hạt không khí thông vào phổi mình có hơi hướm rau lá, một sản phẩm thiên nhiên tao nhã. Người ta nói bộ nhớ của khứu giác dai dẳng lắm, nên giờ nhớ đến vẫn cảm nhận được mùi hương rau cỏ năm nào...
BÓNG TỐI
Trưa nắng, nhà tôi vừa ra khỏi cổng, bà cụ bên cạnh đang ngồi dưới bóng mát cây sứ đứng bật lên:
- Chú ơi, con nhỏ cháu tui đi mô từ sáng chừ chưa về, bỏ học.
Rồi bà hớt hải tỉ tê:
- Tui đang nấu cơm, hắn đi học thêm toán bên nhà thầy Bình về, dắt xe đạp ra nói nụi ơi con ra ni mua cái ni chút xíu rùi về. Tui biểu ăn cơm để mười hai giờ cha hắn về đưa đi học, hắn nói hắn về ngay. Vậy mà chừ chừ chưa về chú ơi. Cha mẹ hắn đi hỏi khắp nơi rùi, nhà thương, nhà bạn hắn, mà bạn thì đứa mô cũng đi học đầy đủ.
Chiều, con đường nhà chúng tôi ngắn, nhỏ, càng lúc càng đầy người đứng ngồi. Ai cũng băn khoăn. Và rất nhiều giả thuyết được đưa ra, rằng chắc nó làm mất xe đạp nên trốn luôn chẳng dám về, cô ruột nó đính chính ngay là nó không thuộc loại sợ kiểu đó, rằng con nhỏ suốt ngày ôm mạng, mẹ nó đã cấm rồi, đi học về là líu lo điện thoại di động nên mẹ nó cũng rút cạc Sim ra rồi, nghĩa là cắt đứt con bé với thế giới máy móc, chỉ bắt nó chúi mũi vào sách vở thôi, cho nên con bé nghe lời ai trên mạng dụ dỗ rồi, chuyện đó đã xảy ra cho (ai ai đó, ở xóm gì gì đó) rồi, rằng nó rất ganh tỵ với con em (mới lên ba) sao mẹ chỉ lo cho em mà không lo cho nó, cho nên áp dụng một cú đi hoang cho cả nhà hoảng, rằng với cái tuổi đó mà không trông nom cẩn thận là chết, rằng cái dở nhất của người mình là cứ nói (gì gì đó, nghe có vẻ chê chê là gia đình không biết cư xử với con). Chưa bao giờ thấy xóm mình biểu lộ lòng đoàn kết và cùng lúc nhiều ý kiến... siêu phàm như vậy. Ai cũng có ý để góp, có ý để khuyên nên cư xử với con cái như thế nào thì mới không bị xất bất đi tìm...
Bố mẹ con bé chẳng ăn gì từ trưa, chạy xe hết nổi, cô hàng xóm đèo mẹ, anh hàng xóm đèo bố, tìm ngoài bãi biển, trong các tiệm ăn, tiệm sách. Trời ạ. Đứa em gái nó được cô hàng xóm có con cùng tuổi đem về ăn tối, xong một cô khác vào nhà bà cụ lấy bộ đồ dắt về nhà tắm cho nó, một cô khác đi mua cháo về ép bà cụ ăn để còn uống thuốc tiểu đường. Trời càng tối nỗi lo càng ghê gớm. Tôi cũng lóng ngóng như thể nếu vào nhà lấp đầy bao tử là có tội. Bà cụ mệt mỏi hụt hơi:
- Giờ nì mà hắn chưa về thì chắc hắn hư đời con gái rùi cô à. Bị ai dụ dỗ đi rùi, chứ hùi giờ hắn có rứa mô.
Lại tìm lời an ủi mà trong bụng cũng sợ quá. Hàng xóm mà mình còn thắt ruột huống chi gia đình. Bố mẹ nó về nhà. Mới một ngày mà mặt tọp xuống, thất thểu già nua, đen gần bằng cột nhà cháy. Chị hàng xóm nhà giáo nói nhỏ vào tai tôi:
- Tiêu rồi, kiểu này là tiêu đời rồi. Đáng lẽ phải báo công an ngay từ hồi trưa, công an hình sự họ có cách truy tìm, họ biết đối tượng nào hoạt động khu vực nào là tìm ra ngay. Phải vào khách sạn tìm nữa chớ. Mà hồi trưa đáng lẽ phải chận ở bến xe, bến tàu lửa. Chớ giờ này dám nó đã ra tới Huế rồi. Cái gì chớ chuyện này em kinh nghiệm lắm.
Và chị kể hồi nẵm, thằng cháu hơi "mát giây" ở Sài Gòn tuyên bố sẽ ra Nha Trang tự tử. Chắc nó nghĩ chết dưới nước biển thì thân thể mặn mà mát mẻ. Buổi tối không thấy nó về ngủ sau một vòng đảo khu Nhà thờ Đức Bà như thông lệ, là gia đình Sài Gòn điện ra, sáng sớm hôm sau gia đình chị ở Nha Trang đã túc trực ở bến xe, nhà ga. Tóm gọn thằng nhỏ vừa loạng quạng bước xuống toa tàu với cái túi ny lông đựng hai bộ áo quần, xuống nước cũng cần có cái mà thay. Cuộc du hành của nó ngắn ngủi một đêm, mộng nằm chết thênh thang trong nước muối bị vỡ tan, nhưng ít nhất cũng cho dì nó là bà bạn hàng xóm của tôi tự hào là "có kinh nghiệm" trong việc tìm bắt thanh thiếu niên muốn sống máu giang hồ. Mà con bé đó ghê lắm nghe chị, nó cá tính lắm, nó nói mẹ nó cái miệng cứ loẹt choẹt suốt ngày. Còn bố nó thì hiền hơn Bụt, vì Bụt thì còn lên giọng dạy đời chớ bố nó con mà còn không dạy đừng nói chi đời, bố nó cũng câm hơn hến, vì hến vào nước sôi còn mở miệng. (Xin lỗi, tôi quên kể chi tiết là hồi chiều trong một lúc tạt về nhà, mẹ con bé lên lầu lục lọi một hồi, xuống tuyên bố với bà con đang tụ tập là nó đem theo một quần rin, cái áo thun vàng và hơn năm trăm tiền lì xì mà mẹ nó không lấy cất). Chị thấy không, như vậy là nó có chủ ý đi rồi, bị dụ dỗ rồi, chớ phải ai bắt cóc gì đâu. Mắc cỡ nỗi gì, cứ đưa hình cho công an và đài truyền hình, họ đăng tin lên thì thằng nào dụ dỗ nó đi cũng biết sợ chớ.
Và rồi như thám tử tồi trong phim trinh thám, một đứa thiếu niên nào đó gõ tên con bé lên Gù gồ Mép, ông Gù này cho điạ chỉ nhà một ông Tây ở con phố khác, vậy là thiên hạ lại khẩn thiết gào lên "Tìm ra nó rồi!". Có người bắt thang leo vào nhà Già Hù coi các địa chỉ meo cũ mà nó không dùng nữa cố tìm ra manh mối nó "chát" với ai thì sẽ tóm được kẻ dụ dỗ... Mà dĩ nhiên là chẳng tìm ra cái gì. Nhưng như người bịnh nan y chẳng biết cứu cách nào, ai nói sao làm vậy, với hy vọng mong manh vô lý là tìm ra con bé. Thấy đứa con gái đạp xe ngang nhà, một bà tướng lên "Nó về kia!... Ủa, sao mà giống nó vậy". Nhà bên cạnh có nhóm người đang nhậu, một ông bỗng hào sảng phán hồi khoảng hai giờ rưỡi chiều, chiếc taxi Mai Linh bần thần dừng ngay cây sứ, có ba đứa con gái cỡ tuổi con bé bước xuống, phân vân nhìn nhìn cái gì rồi lại leo lên xe đi. Một cô hàng xóm cầm hình con bé vù qua rồi vù về, hớt hải phấn khích:
- Anh này nói ảnh chắc chắn bảy mươi phần trăm là một trong ba đứa con gái đó là nó.
Điên đầu nên không ai nghĩ là anh này đang quàng vai Lưu Linh, cho nên chuyện "chắc chắn bảy mươi phần trăm" gây chấn động gần cỡ tháp đôi bên Mỹ bị tàu bay đâm sụp. Người ta bàn chắc là nó muốn về "lấy thêm cái gì rồi nghĩ sao lại thôi". (Quái, đúng là con nít, đã cố tình trốn đi mà lại về "lấy thêm cái gì". Và nếu có người dụ dỗ thì non tay quá, lại cho con bé ghé nhà!). Mẹ nó vội phôn cho hãng Mai Linh, rồi cô hàng xóm lại vụt qua nhóm đang nhậu hỏi thấy xe mấy chỗ, biết là xe bảy chỗ rồi thì mọi người tràn trề hy vọng Mai Linh sẽ hỏi chú tài nào đó đã thả ba cô gái xuống đâu. Là sẽ ra tông tích con bé thôi. Kể ra cũng khá giản dị. Tìm trẻ đi hoang kiểu này thì thám tử không còn đất dụng võ rồi.
Rồi nói một cách rất cải lương chi bảo nhưng chính xác là "thời gian không đợi ai bao giờ", nên đêm vẫn rất đen dù có đèn đường, dù bà con xóm tôi đang có nỗi niềm. Mọi người lác đác ra về. Nhà bà cụ im lìm như đi vắng cả, bình thường mẹ con bé sảng khoái oang oang (mà bà cụ thường nói hắn nói to quá hả cô, tôi cười cười đâu có sao dì, mau mắn vậy thì vui). Chắc không ai yên giấc nổi đâu, mình đây mà còn nao nao xót ruột. Nhưng rồi mình cũng ngủ được, bên kia bức vách ba tâm hồn hẳn đang quằn quại, hẳn là mỗi người tự... kiểm thảo mình có gì quá trớn với con bé không, ngay cả bố nó không nói gì vẫn là quá trớn. Suốt ngày bà cụ đã trả lời bao nhiêu lần cùng một câu hỏi là mấy hôm nay có ai la rầy mắng mỏ nặng lời không. Mấy bữa trước có la chớ hôm qua thì không, mẹ hắn còn khích lệ vì hắn đem về cái giấy khen học sinh giỏi... Và cụ đã bao lần lặp lại hoạt cảnh Tui đang nấu cơm, hắn đi học thêm toán bên nhà thầy Bình về, dắt xe đạp ra nói nụi ơi con ra đây mua cái ni chút xíu rùi về. Tui biểu ăn cơm để mười hai giờ cha hắn về đưa đi học,... Chắc trong đêm cụ bóp trán cố hồi tưởng nhiều điều mà với trí nhớ bận bịu tuổi đời và lo âu hoảng hốt, cụ có quên gì không. Cháu ơi là cháu.
Sáng sớm trước khi về Sai gòn, cháu tôi đi thăm biển, bà cụ đứng trước cổng như mỗi sáng mỗi chiều, như hôm qua, kéo tay áo nó (lần đầu tiên gặp nhau):
- Cô ơi, con nhỏ cũng chưa về.
Rồi cụ kể lể, cũng là những chuyện hôm qua mà cụ lặp lại như mới lần đầu, vừa hăng hái vùa ủ ê, thì điện thoại reng. Rồi chẳng biết từ đâu hàng xóm ào ào kéo đến hân hoan ra mặt, câu nó về rồi, nó về rồi trên mọi đôi môi. Nhanh thiệt. Nhưng nó chưa về, chỉ là bác nó ở Sài Gòn điện ra cho biết nó vừa chân ướt chân ráo bước vào nhà bác. Ouf. Nhẹ nhõm. Bà cụ cười như mếu. Hôm sau cụ nắm tay tôi nói say sưa:
- Cô biết tại răng hắn đi không, hắn viết tờ kiểm thảo kể hết rùi, tại vì bữa tê làm bài, hắn không thuộc mới giở sách ra, con phó lớp bắt gặp, nói với thằng trưởng lớp, hai đứa hắn đòi con ni đưa ba trăm nghìn nếu không sẽ trình lên hiệu trưởng, con ni nói không có tiền, hai đứa hắn nói thôi hai trăm cũng được, con ni cũng nói không có tiền, hai đứa hắn viết giấy bắt con ni ký nợ, bắt phải hứa là mỗi tháng trả một trăm, con ni xé toạc tờ giấy rồi chiều nớ bỏ đi để trốn khỏi lên lớp.
- Khoan khoan, dì nói từ từ chớ cháu chưa hiểu lắm. Nó học lớp mấy?
- Lớp sáu cô nờ.
- Lớp sáu mà biết tống tiền?
- Rứa mới ghê chớ cô. Tụi hắn biết chi, bắt chước người lớn đó. Hắn nói nhiều đứa bị lắm, cái chi cũng có giá, phải thuê, mượn cây bút chì là năm trăm, cây kéo là một nghìn. Hồi giờ chỉ nghe nói, tưởng chuyện nhảm nhí chi chi, chừ con cháu bị rứa mới biết cô nờ. Hắn kể hết trong tờ kiểm thảo rùi, để mai tui đưa cô coi.
Tôi không muốn hỏi mượn bút mượn kéo của ai mà phải trả tiền, chẳng lẽ học trò phải tới tận... nhà cầm đồ hay cho vay lấy lãi? Mắt bà cụ tràn lan bóng tối.
CÔ ĐƠN
Sách anh ấy viết thì phải nói lấy thước mà đo, nắn nót đẹp lắm, nhưng nhất định không chịu in. Có người ở ngoại quốc về đề nghị đưa tiền in, bản quyền vẫn của anh, chỉ là giúp anh in ra thôi, nhưng anh vẫn không chịu. Chẳng biết anh có... khùng không, ai cũng muốn cái gì mình viết ra, hay dở chẳng biết, nhưng muốn in cái đã.
- Chẳng giấu gì anh, ba mươi triệu đối với tôi là to lắm, là cả gia tài. Không phải tôi không tin anh bạn muốn bỏ tiền in, nhưng có một kỷ niệm chẳng hay ho gì cứ ám ảnh tôi hoài. Chẳng là vợ tôi đi làm nuôi tôi, tôi nói bà nuôi cơm tui đi, tui sẽ viết những cái sạch sẽ để không phụ hạt cơm của bà. Rồi con của một đại văn thi hào, nói quyển nào anh cũng đề tặng vợ mà bây giờ chỉ bịnh nằm đó anh không có tiền thuốc men cho chỉ thì mấy quyển sách này giúp gì cho chỉ đâu. Có lý quá nên tôi đồng ý để họ lấy đi một quyển hứa in và trả tiền để tôi lo thuốc men cho vợ. Chờ mãi chẳng thấy tăm hơi. Tôi có hỏi thăm một đại văn hào khác và được bắn tin là tôi muốn mất chỉ một quyển hay muốn mất hết các quyển đã viết? Tức là nó có thể lấy hết anh à, mà tôi đã gửi tản mác hết rồi. Đó, để thấy như vậy đó anh. Cho nên tôi chán nản, những gì mình viết chỉ là chuyên môn chẳng đụng đến ai, tất cả đều rất sạch sẽ đàng hoàng, mà nản lắm anh. Cô đơn lắm anh.
Biết an ủi anh ấy bằng cách nào đây. Sống giữa xã hội tất bật rộn ràng của một trong những xứ dân số vẫn tăng vù vù dù kế hoạch gia đình, mà không ít người vẫn rất cô đơn.
Nhưng tiểu thuyết Buổi sáng Bóng tối Cô đơn của Quỳnh Dao là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn.
MIÊNG
***
17 - CHA
Quỳnh Chi
Y chỉ là người ở trọ, thuê một căn phòng trên gác nhà ông bà.
Một buổi tối đầu tháng 2 và là ngày đầu tiên trong năm ấy Tokyo có tuyết rơi, cũng là ngày đầu tiên đến Nhật, Y đã tới căn nhà trọ này, do một cô sinh viên đã giới thiệu và thuê dùm. Dạo ấy mỗi khi đọc địa chỉ nhà trọ của Y ở quận Setagaya, các bạn đều trầm trồ là sao lại ở một khu dân cư đắt đỏ nhất nhiø Tokyo như thế. Số là vì nhà ông bà chỉ toàn con trai, nên họ muốn có một cô con gái trong nhà, do đó bà chủ nhà mới đến trường đại học -của người bạn ấy - ở gần đó xin yết bảng cho thuê phòng, với điều kiện là chỉ nhận nữ sinh.
Y về tới nhà trọ thì mệt đừ vì say sóng từ khi còn ở trên máy bay, lại thêm một chặng đường dài trên xe buýt về nhà, phần vì lạnh cóng, nên vào tới cửa liền được bà chủ đưa lên phòng, trải nệm cho nằm nghỉ luôn tới sáng.
Sáng hôm sau, khi Y thức dậy ông chủ nhà đã đi làm. Tới trưa có người con thứ ba của ông bà chủ là T, cũng cùng tuổi với Y, đi học về. T có ý đưa cô bạn gái tên M về nhà gặp Y để hướng dẫn trò chuyện với Y. Hai người này là bạn học cùng lớp môn Pháp văn, nên M có thể nói được vài câu với Y, trước khi Y học tiếng Nhật và có thể nói chuyện bằng tiếng Nhật với ông bà chủ nhà.
Tới tối, ông chủ nhà về tới, Y mới được gặp ông để chào. Thật ra thì Y cũng hoàn toàn chưa nói được tiếng Nhật, chỉ thấy bà chủ nhà nói huyên thuyên (mà Y được nghe dịch lại), còn ông chủ nhà thì hầu như chẳng nói chẳng rằng. Vừa về tới nhà ông đã thay ra chiếc áo kimono màu đen của đàn ông Nhật, thắt lưng bằng một sợi vải to bản màu xanh thẫm quấn vài vòng ngang hông và buộc lại thành một búi. Mãi về sau, Y luôn luôn thấy ông khi ở nhà trong bộ áo kimono này. Chỉ khi đi làm ông mới mặc âu phục, và khi nào cũng trong bộ com lê màu thẫm. Nghe đâu ông là giám đốc một công ty xây dựng nho nhỏ, văn phòng đặt ở nội thành Tokyo.
Ngoảnh đi ngoảnh lại Y đã quen dần với sinh hoạt trong nhà và hầu như đã trở thành cô con gái của bà chủ nhà, đúng như bà mong ước.
Sáng sáng Y cùng với bà làm cơm sáng, chờ ông ngồi vào bàn cầm đũa rồi mới làm theo. Hai ông con trai lớn của ông bà đã ra ở riêng, chỉ còn hai người con còn ở nhà là T và em trai út là S, nhưng hai ông tướng này khi thì ngủ trưa, khi thì dậy sớm - những ngày đi trượt tuyết, đi chơi xa - thỉnh thoảng mới cùng ăn cơm sáng chung với cha mẹ. Ban ngày đi học, Y thường ăn trưa ở trường. Chiều về Y cùng nấu cơm chiều với bà chủ nhà và bữa tối hầu như vẫn lại chỉ có ba người.
Tầng một là nơi sinh hoạt của gia đình, có một hành lang, bên kia hành lang là nhà tắm nhà kho và cầu thang, bên này hành lang là phòng ăn, nhà bếp, phòng khách và căn phòng sinh hoạt lát chiếu có kê một chiếc bàn thấp- nơi ban ngày là phòng cho bà khâu vá, chơi đàn, tối là nơi cả nhà ngồi ăn tối và xem tivi.
Tuy ngồi ăn chung một bàn, và bà vợ cũng thường kể lại cho ông chồng nghe chuyện này chuyện kia - phần lớn là về mấy ông con trai-, xong Y chỉ thấy ông chủ nhà nghe rồi ậm ừ, mà chẳng bao giờ thấy ông nói một câu nào.
Và không biết có phải vì bà mau mắn, nhanh nhẩu, đã nói trước cho ông nghe tất cả những điều ông cần biết, nên cũng chẳng bao giờ ông hỏi hay nói chuyện gì với Y, tuy rằng trong bữa cơm có khi ông ra dấu bảo bà gắp cho Y món này món kia đặc biệt của Nhật.
Khổ người tầm thước, mắt đeo đôi kính cận, vẻ mặt ông khá hiền từ. Y cũng chẳng mấy khi dám nhiøn thẳng vào mặt ông, nhưng có cảm tưởng như đó là một nét mặt không mấy khi tỏ ra cáu giận, cũng chẳng tươi cười. Mỗi khi cần nói với bà, Y thấy ông chỉ dùng một vài từ. Ví dụ như khi ông muốn bà dọn các cốc trà dùng sau bữa ăn trên bàn- để ông mở trang báo ra đọc- ông chỉ cần gạt nhẹ cốc trà ra dấu, hoặc nói 2 từ đại ý là " Đủ rồi". Đọc báo xong, ông đứng dậy và nói 1 từ " Tắm", thế là bà liền vội chạy vào buồng tắm chuẩn bị khăn áo sẵn cho ông. Thời gian đầu mới đến ở trọ, sau bữa cơm tối, Y thường đem sách vở xuống ngồi học nơi chiếc bàn thấp, trong khi ông đọc báo, bà lại tiếp tục may. Bà tốt nghiệp khoa cắt may âu phục một trường đại học nữ nên bà tự may hầu hết quần áo cho bà, còn nhận may cho mấy bà bạn. Và cũng vì thế bà bắt Y học đủ các môn nữ công gia chánh với bà. Chỉ có mỗi môn đàn ba dây shamisen rất khó, và vì bà còn phải bận dậy cho các bà Nhật khác trình độ khá cao, nên bà không bắt Y học. Mỗi tuần các bà đến đàn shaminsen này vào ngày thứ ba, có những hôm Y ở nhà nhằm ngày này thì thế nào các bà cũng gọi Y xuống cùng ăn trưa.
Nửa năm trôi qua, Y đã có thể trò chuyện và nghe hiểu lõm bõm tiếng Nhật, lại nhằm mùa hè nên mấy bà rủ nhau đến biệt thự vùng núi để cùng tập đàn suốt một tuần, mấy bà cũng dắt cả Y cùng đi. Trong lúc các bà tập đàn thì Y ngồi học. Ai cũng bảo rằng Y với bà chủ trọ như hai mẹ con, như bóng với hình. Và không biết từ lúc nào, khi nói về ông với Y, bà cũng dùng chữ "ô - tô- san" ( "Cha"), như khi nói với mấy người con trai của bà.
Mùa thu tới, mùa phong lá đỏ và người Nhật có lệ đi xem lá đỏ. Các công ty cũng tổ chức những buổi du ngoạn xem lá đỏ cho nhân viên. Ông chủ nhà đi vắng mấy hôm, không biết là đi xem lá đỏ với bè bạn hay với nhân viên, khi ông vừa về tới cửa, Y lại nghe tiếng ông gọi quen thuộc" Michiko !"( tên bà).
Ngày hôm sau, bà đưa cho Y một cô búp bê Nhật đầu đội nón tay cầm cành hoa đậu tím(hoa fuji). Tháng 5 là mùa hoa này đã qua lâu rồi, nhưng bà bảo đó là vì búp bê cho con gái nên ông mới chọn cô búp bê này. Bà còn bảo Y: " Nhà này toàn con trai, nên có bao giờ mà ô-tô-san mua quà về đâu, đây là lần đầu tiên mới thấy ông mua quà đem về đấy". Buổi tối trong bữa cơm, Y lí nhí cám ơn, ông vẫn chẳng nói năng giø, chỉ thấy hình như là ánh mắt hiền từ sau cặp kính quen thuộc.
Một năm trôi qua, sắp sang niên khóa mới vào đầu tháng 4, cũng sắp đến ngày Y lập gia điønh và sẽ phải rời khỏi căn nhà trọ thân yêu đầy kỷ niệm những ngày đầu tiên đến Nhật và nhất là những kỷ niệm với bà chủ trọ. Y vẫn gọi bà là ô-ba-san (bác), nhưng tình cảm quyến luyến như mẹ với con. Y nhớ nằm lòng tất cả những sở thích của bà, những thói quen của bà, nhớ giọng nói, nhớ tiếng bước chân của bà mỗi khi bà vội vàng lịch kịch ngoài hành lang, tiếng đập nệm phơi ngoài sân, dáng điệu nghiêm trang khi cầm chiếc đàn shamisen chuẩn bị gẩy đàn... Còn về ông, Y chỉ nhớ một dáng người tầm thước trong chiếc áo kimono màu đen nơi chiếc bàn thấp trong phòng lát chiếu tatami. Đó là vì sau vài tháng đầu Y phải đi học sớm nên cũng không còn ăn cơm sáng với ông bà ở phòng ăn.
Một ngày cuối tháng 3, trời còn lạnh và hôm ấy buổi chiều có mưa, nghe đâu buổi sáng lúc đi làm ông quên đem theo ô, nên chiều về tới ga ông gọi điện thoại về nhà, bảo đem ô ra cho ông. Bà bảo bà còn đang bận nấu cơm, và nhờ Y đem ô ra nhà ga thay cho bà.
Quanh các nhà ga xe điện ở Tokyo thường là các khu phố buôn. Quanh ga Chitosefunabashi gần nhà trọ của Y cũng thế, nhưng khu phố buôn chính ở bên kia đường rầy, còn phía nhà trọ của Y phần lớn là nhà ở, chỉ có một đoạn đường ngắn gần ga có vài phòng mạch, nhà bưu điện, với hai dẫy cửa hàng như hiệu giặt ủi, hiệu hoa, hiệu sách, hiệu thuốc, hiệu bánh kẹo, một hiệu cà phê, hai ba hiệu ăn bán mì ramen, và một khu chợ bán thịt cá hoa quả rau cỏ tạp hóa v.v. Trời mưa không to lắm nhưng cũng còn giá buốt vì chưa sang xuân. Y đưa chiếc ô đen to lớn của đàn ông cho ông chủ nhà, và lặng lẽ bước theo ông.
Thật bất ngờ, khiến Y rất đỗi ngạc nhiên, ông đã quay lại và lần đầu tiên ông nói chuyện với Y:
-Vào hiệu cà phê uống một chút cho ấm nào.
Trước nhà ga chỉ có một hiệu cà phê duy nhất, cũng không rộng lắm. Ông gọi một ly cà phê cho ông, và một cốc sữa nóng cho Y. Y ngồi đối diện với ông, nhưng rốt cuộc cho đến khi uống xong ra về, tuyệt nhiên ông không hỏi Y thêm một câu nào, và Y cũng đã quen với sự yên lặng của ông nên cũng không thắc mắc. Ra khỏi hiệu, ông che ô đi trước, Y lẽo đẽo theo sau. Về tới nhà, Y giải thích cho bà biết là vì vào hiệu cà phê nên bây giờ mới về tới nhà. Bà gật đầu, ra chiều thông cảm, khẽ bảo: " Con gái sắp về nhà chồng rồi nên ô-tô-san buồn đấy ".
Đó là lần đầu tiên và duy nhất. Và cũng là lần cuối cùng.
Trong bao nhiêu năm sau đó, mỗi khi Y về thăm thường chỉ có bà ở nhà. Và rồi đến một ngày bà gọi điện thoại cho Y báo tin ông qua đời. Tang lễ cử hành trong một ngôi chùa do ông em trai của bà trụ trì. Nghe đâu trước khi mất ông căn dặn bốn người con trai phải chăm lo cho mẹ thật chu đáo. Mỗi lần Y đến thăm là M- bạn gái của T xưa kia, nay là cô con dâu thứ ba, cũng được nghe M phân bua đủ điều. M thường nói:
- Cô Y biết rõ tính nết của mẹ chúng tôi đấy, nhưng mà cha chúng tôi đã căn dặn là phải chăm lo cho mẹ, nên mẹ muốn gì mấy ông con trai cũng chiều theo ý mẹ.
Bà chủ trọ của Y sau đó bị lẫn, rồi qua đời, thấm thoát mà đã hơn mười năm. T và M cũng chỉ có hai con trai nay đều đã có gia điønh ra ở riêng. Y chợt nhớ ra là không biết từ bao giờ, gần đây T cũng không còn nói chuyện với Y như những năm đầu khi Y đến thăm, mà lúc nào cũng chỉ có Y và M cùng mấy người nàng dâu xúm xít nói chuyện với nhau.
Chắc rồi một ngày nào đó T sẽ lại giống hệt như cha của anh ta.
Quỳnh Chi
***
17 - Em Là Nàng Tiên Của Anh
Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh
Bị lay gọi, nàng vùng dậy với tư thế của một con hổ đang chuẩn bị tấn công con mồi. Hai bàn tay xòe ra rồi từ từ co những ngón lại như móng vuốt vươn thẳng hai cánh tay về phía trước sẵn sàng cho một động tác...cào,cấu! Cùng với vẻ mặt căng thẳng, mắt lừ lừ nhìn vào "đối phương", quai hàm bạch ra, tiếng nói nghẽn giữa hai hàm răng:
-Gư...ư...ư...gừ! anh giải thoát cho nó phải không? Tui sắp bắt được quả tang thì anh phá đám phải không? Nó đâu rồi hả?
Chàng ngơ ngác hỏi lại;
-Cái gì bắt quả tang? Nó nào?
Nàng òa lên khóc:
-Tui thấy rõ ràng anh và "nó" ôm nhau tình tứ, tui núp trong bụi cây, sắp nhảy ra bắt tại trận thì anh giải thoát cho nó...
Chàng càng sửng sốt:
-Hồi nào? Ở đâu?
-Vừa mới tức thì! Tui nằm mơ thấy rõ ràng...
Chàng ngẩng lên trần nhà, mắt nhắm lại, vẻ mặt nhăn nhó, như khẩn thiết cầu xin đáng tối cao ban cho điều gì:
-Trời ơi! Ngó xuống mà coi, đã đến nước này rồi.
Nhưng ngay tức khắc chàng đủ thông minh để chuyển tình hình sang hướng có lợi, chàng sực nhớ ra một cách để vỗ về nàng, mà chàng biết sẽ làm nàng hạ hỏa, dù chàng đã xử dụng nhiều lần nhưng kết quả bao giờ cũng thành công:
- Như vậy là em vừa nằm mơ thấy anh có mèo đúng không? Thảo nào em dãy dụa la lối quá xá nên anh phải gọi em dậy. À! Anh nhớ ra rồi, người ta nói giấc mơ thường ngược lại với đời thật, có nghĩa là em thấy anh ngoại tình, ngược lại là anh không...ngoại tình! Em thấy bắt được quả tang tức là ...không bắt được quả tang! Túm lại ngược với giấc mơ em vừa thấy thì anh là người chồng chung thủy, còn em vẫn là nàng tiên của anh...
Vừa nói chàng vừa quan sát vẻ mặt của ...Nàng tiên! Được vuốt ve bởi hai tiếng ngọt ngào ấy, con hổ bỗng biến ngay thành con mèo (Không biết bắt chuột) hiền lành, quẹt nước trên đôi mắt ràng rụa, nàng còn tỏ ra ngờ vực một chút nên hỏi lại:
-Thật chứ? Mơ là ngược lại đời thật, vậy em thấy em còn sống là em ...chết ư?
-Ồ! Điều đó thì lại khác, bởi vì em là ...nhân vật chính! Em làm sao mà chết được. Giống như trong phim ấy, nhân vật chính mà chết là hết phim sao?
Nàng lại nghe có lý, nên gật gù:
-Nhưng anh cũng phải hứa với em không được để mắt đến ai...
-Tất nhiên rồi, nhìn mỗi mình em đã đầy hai con mắt, còn nhìn ai được nữa!
Nàng lại có vẻ muốn...vùng lên:
-Ý anh muốn ám chỉ là em mập quá phải không?
Hơn ai hết, chàng là người biết phải đối phó với vợ của mình ra sao, trong bất cứ tình huống nào:
-Phụ nữ mập mới đẹp, mới lâu già. Chứ ốm á? Nhìn khô khan hổng có tí nhựa sống. Anh chỉ thích nhìn phụ nữ...mập thôi!
Nàng sửa lại:
-Nhìn vợ chứ cấm nói chung chung là nhìn phụ nữ!
Chàng cao giọng:
-Đúng! Vợ anh nói rất chính xác, anh vừa nói lộn. Phải nói là chỉ thích nhìn vợ thôi!
Nàng nhoẻn miệng cười, rồi sực nhớ ra một điều quan trọng, nàng hỏi:
-Trong ví anh chưa để tấm hình nào của em phải không? Sao em vô ý thế cà...Sáng mai anh đưa em đi chớp một tấm hình chân dung, anh phải cất trong ngăn đầu trong ví, để mỗi lần mở ví ra là anh nhìn thấy em ngay, cũng là để nhỡ có ai nhìn vào cũng biết là anh có vợ rồi, các cô đừng hòng tơ tưởng, mơ mộng đến anh nữa...
Vế cuối cùng trong câu nói của nàng chợt làm chàng thấy mình còn có... triển vọng! nghĩa là nếu chàng chưa có vợ, thì các cô (tức là số nhiều nhé) tha hồ mà tơ tưởng, mơ mộng được chàng ghé mắt đến. Rồi chàng sẽ ứng phó sao nhỉ? Tha hồ mà lựa chọn chứ sao! Tuyệt thế đấy, khi ấy hẳn là chàng sẽ bận tâm lắm vì biết chọn ai, bỏ ai? Bỏ thì thương mà vương thì tội, thôi thì cứ tuyển ra vài cô xinh nhất ( nhưng hổng có tính ghen tuông giống như cái cô nàng đang bên cạnh chàng đây) thế rồi chàng sẽ "bố trí " cho mỗi nàng ở một chỗ, gió mát trăng thanh chàng thích ghé đến cô nào thì ghé, còn các cô thì tranh nhau để lấy được lòng yêu thương của chàng, chẳng cô nào dám làm phật lòng chàng, chàng thích đi đêm về hôm tùy thích. Tan sở thay vì về thẳng nhà chàng sẽ tụ họp bù khú với bạn bè, rượu chè thâu đêm cũng chả bị ai gọi điện thoại kêu về hay lùng xục tìm kiếm. Chàng cũng không bị bạn bè gọi là anh chàng ...râu quặp! chàng cũng chả cần vận động đầu óc để nghĩ ra cách "đối phó" với những cơn tam bành vì cái máu hoạn thư của vợ.
-Anh nghĩ gì mà thích chí cười hớn hở vậy?
"Hồi tỉnh" khỏi... giấc mơ! Chàng nói trớ đi bào chửa cho sự tưởng tượng của mình, vì không khéo, nó có thể trở thành tưởng...voi!
-Ờ...ờ ! Anh đang nghĩ có tấm hình của em trong ví, cô nào nhìn thấy cũng quay khỏi anh một trăm tám mươi độ, anh khỏi cần tìm cách mời đi nơi khác đó mà...
Nàng vỗ hai tay vào nhau một cái đầy vẻ dứt khoát:
-Thế nên không chần chờ gì nữa, sáng sớm là phải đi chớp bóng ngay!
Chàng gật gù:
-Phải...phải, còn bây giờ thì yên cho anh ngủ. Sáng mai anh còn phải đi làm, đến công ty mà ngủ gục thì còn ra gì. Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện, lại xì xào nọ kia.
Chàng cố tình ngoác miệng ngáp dài một cái, rồi kéo chăn trùm kín (chủ yếu là hai lỗ tai) giả vờ ngáy đều đều. Nàng cũng không muốn chàng bị lỡ giấc ngủ, nàng cũng hiểu sức khỏe là thứ rất cần thiết đối với chàng, vì chàng là trụ cột của gia đình, cơm áo gạo tiền đều từ cái sức khỏe đó mà ra, ôi nghĩ mà thương quá, chàng đâu thể tưởng tượng rằng nàng yêu chàng quá chừng. Nếu không có chàng thì đời nàng vô nghĩa, nên lúc nào nàng cũng sợ một cô ả xấu xa nào đó cướp mất chàng đi. Phải giữ gìn sức khỏe cho chàng để chàng có thể vừa làm việc kiếm tiền nuôi nàng, vừa sống đến răng long đầu bạc với mình. Nên nàng thôi không nói nữa để chàng ngủ, còn nàng nằm yên mà không ngủ được thì tư tưởng lại...làm việc rất tích cực. Nàng nhớ lại giấc mơ vừa rồi, cố nhớ lại nét mặt của "cô ả" nhưng không thể nào nhớ được, dường như nàng chưa từng gặp ả ở bất cứ đâu, vậy mà giờ đây ả bất ngờ xuất hiện trong giấc mơ của nàng còn cả gan kề vai, cận má với chàng, thật đáng ghét, nếu có một phép lạ nàng sẽ ước trên đời này biến mất hết không còn giống cái, à! Như vậy không ổn, biến mất hết giống cái thì tất nhiên mẹ, chị, em gái, con gái và thậm chí cả nàng cũng không phải là ngoại lệ! Thôi vậy, chỉ ước biến mất những người con gái đẹp chung quanh chàng, còn bi nhiêu cứ tự nhiên mà ...tồn tại! Và bỗng nhiên nàng chợt sực nhớ câu nói vừa rồi của chàng "Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện..." Á à , vậy là chỗ làm việc của chàng có đến mấy cô, mấy cô phải rất thân mật với chàng thì mới có thể tán chuyện với chàng chứ, thậm chí còn quan tâm, để ý mới biết chàng ngái ngủ. Hừm! Nàng lay mạnh vai chàng:
-Anh nói mấy cô ở nơi làm việc của anh là chúa lắm chuyện, như vậy là trước đây họ thường la cà nói chuyện gì với anh lắm nên anh mới biết như vậy phải không???
Chàng cựa mình, lè nhè đáp:
-Ai thèm nói gì chứ?Nghe nói đến vợ của anh là ai cũng xanh mặt liền...
Nàng vùng dậy :
-Cái gì ?Tại sao phải xanh mặt? Em dễ sợ lắm sao?
Chàng tỉnh người, vội vàng bào chửa:
-Không phải em dễ sợ mà là anh dễ sợ, bởi vì cô nào có ý định "xáp" vô anh là anh bảo ngay rằng, tui có vợ rồi đi chỗ khác dùm cho, chứ vợ tui biết tui nói chuyện với mấy cô là...là..tui không được tiếp tục nói nữa..., bởi vậy các cô hay nói rằng chỉ đi ngang qua anh thôi cũng...sợ! Đâu ai còn dám đến gần anh..
-Thật chứ?
-Thề với em!
-Được rồi anh ngủ tiếp đi, phải ngủ nhiều thì mới khỏe anh ạ.
Mắt của chàng đã díp lại, thầm mong nàng thôi đừng nhớ ra điều gì nữa trong vô số điều trong đầu mà đối với nàng thì điều gì cũng quan trọng.Còn nàng thì tiếp tục nằm suy nghĩ. Nhớ lại những ngày còn trăng mật, trong những câu chàng nói, nàng thích nhất là câu "Nếu sau này em chết trước anh, anh thề không lấy ai nữa, sẽ nguyện sống độc thân thờ em ...". Dường như lâu lắm rồi nàng không nghe chàng nhắc lại câu này, một câu quan trọng như vậy mà sao nàng lại quên nhỉ? Phải hỏi chàng ngay bây giờ rằng chàng có còn nhớ câu nói hay nhất thế kỷ ấy không, chứ sáng mai lỡ quên mất. Nàng lại lay chàng, nhất định hỏi thêm một lần này nữa rồi sẽ để yên cho chàng ngủ, sức khỏe là quan trong nhất đối với con người mà.
-Này anh ơi dậy em hỏi một câu này nữa thôi...
Chàng vẫn nhắm mắt,nhưng sử dụng miệng rất nhuyễn:
-Gì nữa hả nàng tiên của anh?
............................................
Tôi (Người nghe chuyện của họ) mới nghe đến đây đã xanh mặt. Hú hồn! May quá, vì tôi là phụ nữ, chứ nếu là một trang nam nhi? Thì tôi phải làm sao nếu gặp được một nàng tiên ...quá yêu chồng như thế. Trời ơi! Chắc là tôi đành phải chọn cách thờ chủ nghĩa độc thân tới già, không dám lấy vợ...
Nhưng tôi lại là phụ nữ? À...ờ...Thì ...thì nếu lập gia đình tôi cũng giống như "Nàng" vậy thôi. Phụ nữ ai chả thế.
Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh
***
16 - PHÂY
Xuân Sương
Mình tối kỵ với phây. Mua cái áo mới, diện vào, lên phây. Ăn gì, nấu gì, lên phây. Trong tiệm ăn, bà mẹ quát thằng con khoảng sáu, bảy tuổi đang chọc em gái: "Ðầy bàn rồi nè, không lo chụp hình đưa lên phây đi". Cô ấy chưa biểu con ăn, mà biểu nó lên phây mời ảo bà con bạn bè và cả người dưng những món mình sắp xơi thiệt cái đã. Kiểu cúng ông bà, nhưng cũng chẳng hưởng được mùi. Cho nên nghe nói phây là "cái chợ trời", ngại. Nhưng chuyện ghét đó là đời xưa rồi, cái thời mới "biết một" mà chưa "biết hai".
Biết hai là vì tình cờ nghe những tin mà chỉ phây mới có, là các bài viết công phu trí tuệ, lại hiện diện ngắn gọn, có thể đọc qua cho biết "tình hình rất là tình hình" tới cỡ nào trong dăm mười phút, có bàn ra tán vào, thì cũng tiện. Và cũng hiểu hơn "con người thời đại". Vậy là mình nhờ cháu "tậu" cho một cái phây, chỉ đọc tin thôi, chẳng tìm bạn bốn phương, chẳng khoe áo khoe quần hay hàn huyên tâm sự. Đúng kiểu đọc báo.
Ðọc, gặp bình luận vui thì được một mẻ cười là coi như xơi mười thang thuốc bổ miễn phí. Cập nhật từng giây phút. Tin nóng hổi vừa thổi vừa đọc, thẳng thắn, gan góc bởi toàn là "phóng viên nhân dân", nói năng không cần cong lưỡi, viết không cần lách, không có chỉ thị, không phong bì. Cho nên họ luôn "đi trước thời đại", báo chính thống chỉ lặp lại một số tin mà phây từng bàn tán đã đời rồi, đang cho bà con "phượt" nhiều tin giật mình khác rồi. Còn phần lớn thì báo chính thống không hề nhắc tới, có tin còn nêu nguồn lấy từ Facebook! Hiểu tại sao thiên hạ thích phượt phây. Trễ còn hơn không bạn nhé. Có lần nghe một cụ bà tám mươi ở Hà Nội phượt phây, phục quá, cả chục năm sau mình mới bắt chước để xứng mặt... "em hào" của cụ.
Như phần đông huy chương nào cũng có mặt trái, phây cũng có, dù chủ yếu báo động cái gì không "đúng quy trình", kêu cứu chuyện khẩn trương, nêu thắc mắc điều gì hơi bị lạ, thường với tư cách người dân nêu lên với chính quyền, v.v... mà điện thoại cũng không nhanh chóng thuận tiện bằng, hoặc những điều mà "vô phây" thì vô phương.
Dù sao đây là mạng xã hội, công cộng, bất kỳ ai cũng có tiếng nói, tự do, chín người có tới mười ý lận, thì làm gì mà chẳng có "mặt trái". Nhưng ví dụ đọc sách hay đọc tin chẳng khác nào tìm bạn, cũng đều phải chọn. Dĩ nhiên thỉnh thoảng cũng có tin vịt, nhưng nó sẽ tự biến mất, sẽ bị phây-búk-cơ đào thải.
Riêng mình thì từ ngày phượt phây, biết được rất nhiều điều mà nếu chỉ nhắm theo sách vở hay truyền thông chính thống thì kiếp sau chưa chắc biết, vì lịch sử càng ngày càng dài, nếu giữ hết thì e... thiếu giấy. Cho nên cái gì không tiện cho ta thì cứ cắt ngọt nó đi. Phây cũng cho ta xem nhiều video hoặc hình ảnh rất thú vị và cái thú vị nhất có lẽ là kể cho người "vô phây" nghe để nhận được cái nhìn đồng lõa.
Ví dụ nghe đâu sách giáo khoa ngoài bắc dạy là Mỹ-Ngụy ăn thịt người, và một số nhà văn (cũng hơi lơn lớn) đã viết như vậy vào tác phẩm. Một hôm trên phây có hình anh lính Mỹ ngồi trên hè với mấy lính Việt, nhìn xuống sân bà mẹ đang tắm cho thằng con nhỏ khoảng hơn 1 tuổi. Tất cả đều tươi cười âu yếm. Và phây chú thích "Tắm cho sạch rồi ăn nhé", thì ai mà chẳng bật cười?
Có những bình luận của học sinh về lịch sử, về xã hội "đúng theo sách vở" đến mức ngớ ngẩn, để rồi người ta chê bai những bình luận đó, dè bỉu "coi giáo dục bây giờ như vậy đó"... Nhưng xin lỗi, đừng cái gì cũng đổ thừa giáo dục. Bởi những người làm trong ngành giáo dục chưa hẳn là ai cũng có giáo dục, và nếu có, thì con đường giáo dục luôn chật hẹp quanh co, còn con đường internet thì thênh thang, dù tùy cái phải chịu khó bắc thang leo tường lửa mới vào được. Những trẻ tự học ngoài đường thường khôn hơn, già dặn hơn trẻ ngoan mài đũng quần trên ghế. Và thời buổi công nghệ thông tin như ngày nay mà không biết tự học thêm thì lỗi của mỗi người. Internet không phải chỉ dùng để chơi game, nghe nhạc hay theo sát gót các siêu sao. Chỉ tại học sinh không hề tham khảo bất cứ thứ gì ngoài sách giáo khoa, thì đúng là lỗi hoàn toàn của ngành giáo dục - bởi vì hình như ngành giáo dục hiện tại thì chẳng ai khen. Nhưng quyển bách khoa toàn thư về mọi chủ đề, bộ óc vạn năng có thể dạy ta và lý giải mọi điều, sự tự do không bến bờ và tính phóng khoáng tận tình truyền đạt cho ta không giấu giếm... là internet. Dân ta phải biết sử ta, nếu mà không biết thì tra Gu Gồ. Có người nói ông Gu Gồ và đồng nghiệp "là công cụ tuyệt vời để giải ngu hiệu quả". Ai cũng có thể học miễn phí, tha hồ.
Ngoài chuyện giải ngu, các mẹ mà phượt phây cũng sẽ giải quyết được vài thắc mắc ẩm thực. Ví dụ ngại nước mắm ngộ độc ư, thì trên phây có nước mắm sản xuất kiểu gia đình. Kiểu này không dám làm ẩu đâu, vì nếu không nghiêm chỉnh là bị phây thủ bao vây trong một ngày là tiêu tan sự nghiệp. Hoặc tội gì bỏ tiền mua bánh trung thu từ đâu đâu của năm ngoái cải biên, trên phây sẽ có bánh trung thu cây nhà lá vườn an toàn, ngon lành đẹp mắt.
Ngộ cái, nhiều người thích được khen, được thiên hạ lưu tâm quá thể, nên có những lời phàn nàn buồn cười. Ví dụ một nhà giáo viết: từ nay ai không "like" những gì ông viết thì ông sẽ "unfriend", là cắt cầu, vì "like" thì cũng như lời chào hỏi. Một em giải thích thầy ơi thông cảm, vì nhiều bạn không có máy, cả tuần mới ra tiệm một lần... Mình là ma mới, dốt, nên hơi ngạc nhiên. Cứ tưởng "like" là khi nào người đọc thấy đồng cảm, thấy thích mới "like" chớ, tự điển Anh - Việt giải nghĩa rõ ràng "Like" là "Thích" mà. Và điều này thì cần gì "friend" hay học trò mới "like", cứ viết hay ho đúng đắn thì thiếu gì người "like", tại sao phải bắt bí làm khó học trò hay bạn?
Cũng có chuyện ngồ ngộ nữa là một ông viết gì đó than buồn, ông khác bấm like, ông buồn hỏi tui than buồn mà sao bạn lại like, ông vui ngớ, hỏi ý bạn là sao, ông buồn nói cái gì vui mới like chớ sao tui than buồn mà bạn like, ông vui bèn giải thích like không chỉ là thích, mà là chia sẻ, là có đọc qua, ông buồn nói tui hổng thích vậy, ông vui than thở với trời : ủa, vậy anh ta viết lên phây làm gì?
Vì những "chuyện độc" thường là đúng, mới khổ, nên có lời khuyên chân tình: nếu bạn là người ưu thời mẫn thế, Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha kiểu Lục Vân Tiên, thì đừng phượt phây, hoặc nếu phượt thì liếc xem cái gì dính tới chuyện nước chuyện nhà thì bỏ qua đừng xem nhé. Trừ phi bạn phì cười nghĩ "toàn là chuyện như đùa", chớ không thì thức vo ve cùng muỗi đấy. Chẳng mấy thuở có chuyện hỉ hả vỗ đùi kiểu Kim Thánh Thán "cũng chẳng khoái ru" đâu!
Tại vì Phây mà, có phải "phây phây" đâu mà khỏe!
Xuân Sương
***
15 - Vị Ngọt Mùa Xuân
Hai Hùng
Cầm gần Bảy triệu đồng trên tay với những tờ giấy bạc mới tinh hãy còn thơm mùi mực in, Thằng Đực nó mừng rỡ vô cùng vì cả tiền lương và thưởng tết do ông chủ thầu xây dựng trao cho nó, nó nhẫm tính trong đầu với số tiền này thì chuyến về quê năm nay mới thật sự về quê ăn tết .
Vài năm trước đây cũng với ông chủ thầu này, do làm ăn không thuận lợi ông chỉ thầu được những công trình sửa lặt vặt nên lời lãi không bao nhiêu từ đó ông trả lương cho thợ cũng có phần eo hẹp, nhưng vì là những người gắn bó chí cốt với ông chủ thầu từ lâu nên đám thợ hồ như thằng Đực chẳng phàn nàn gì, hơn thế nữa do Đực nhà ta vẫn còn độc thân vui tính nên tiền bạc với Đực cũng không cần thiết lắm, lương tuần nó dành dụm gửi về phụ ông bà Hai mua thêm gà vịt heo về nuôi, nhờ gia đình bà Hai chịu thương chịu khó và mát tay nên thu nhập về chăn nuôi và lúa thu hoạch từ những mảnh ruộng cũng đủ xoay sở trong nhà, nay với số tiền thật lớn so với nó cầm trong tay trong dịp tết con gà này thì gia đình nó mặc tình ăn tết, Đực còn nghĩ ngoài số quà cáp bánh trái mua nó mua ở các khu chợ dọc lề đường trên thành phố, nó sẽ tặng thêm cho con Mén người yêu bé bỏng ở quê nhà một số tiền kha khá để Mén cùng có cái tết đầm ấm như nhà mình.
Ngồi yên vị trên băng ghế trên chiếc xe đò về quê sáng hai mươi chín tết, ngồi kế bên thằng Đực là một cô gái trẻ, chắc cô nàng cũng là công nhân về quê đoàn tụ gia đình nhân dịp cuối năm, cô gái có nụ cười thật hiền với gương mặt dễ thương, thằng Đực vốn tính thật thà chất phát nó nghĩ ngay đây là cô gái cũng hiền lành chất phát như mình nên nó hỏi thăm:
- Em gái ơi ! Anh về Sóc trăng còn em về đâu vậy?
Thoáng chú e ấp, cô gái cười hiền rồi đáp :
- Dạ em về Châu đốc anh hai ơi ! Chắc anh cũng đi mần trên thành phố về quê ăn tết hả ?
Một chút vui trong lòng, Đực nhanh nhẩu đáp :
- Đúng rồi em gái,cũng gần cả năm anh mới về thăm nhà, chuyến này về chắc anh bị đòn một trận vì bỏ đi quên cha quên mẹ lâu lắm rồi .
Cô gái cười thành tiếng rồi nói:
- Ngộ quá hén, anh già đầu rồi mà cũng còn bị đánh đòn hả , vậy thì chắc chưa có " dợ" rồi phải không?
Đến lượt thằng Đực cười vang khiến mất bà khách ngồi gần trố mắt nhìn, thằng Đực biết mình hơi quá trớn nó ra hiệu xin lỗi vì đã làm phiền, rồi nó nói vừa đủ cho cô gái nghe :
- Trời , "dợ gì mà dợ", anh còn tham ăn lắm nên " Chửa dợ" đâu .
Nghe xong cô gái cười rồi cả hai đều thả hồn cho chuyện riêng tư của mình...
***
Đang lơ mơ trong giấc ngủ gà ngủ gật, thằng Đực nghe tiếng anh lơ xe la lên:
- Bà con mình xuống đi vệ sinh ăn uống dừng chân cho giản gân cốt, nửa tiếng là mình đi tiếp nha bà con, hành lý tư trang bà con nhớ giữ gìn cẩn thận .
Choàng tỉnh dậy thằng Đực không thấy cô gái khi nãy ngồi bên cạnh, nó lấy làm lạ cô gái xuống xe khi nào mà nó chẳng hay biết gì, nó nghĩ trong bụng:
"Cô gái chắc nói dóc rồi, nhà ở Châu đốc mà chưa tới Mỹ Tho cô ta dong mất tiêu, bởi bậy bây giờ sao khó tin người lạ ghê".
Loay hoay ôm cái Xách tay đựng quà trong người, khom lưng đứng dậy để xuống xe, bất chợt thằng Đực rờ cái túi quần phía bên cô gái ngồi cạnh, thằng Đực điếng hồn vì phân nửa cọc tiền nó để ở túi bên này đã "không cánh mà bay", bao nhiêu nghi ngờ nó dồn hết vào cho cô gái, thằng Đực lẩm nhẩm trong miệng:
- Coi đẹp người đẹp nết vậy mà đi ăn cắp tiền của mình, người gì sống hai mặt dễ sợ , trước mặt mình thì ăn nói vui vẻ dễ thương, sau lưng thì lấy tiền của mình, chà không lẽ cô này xài bùa mê thuốc lú chi đây, khi không đang nói chuyện vậy mà mình ngủ hồi nào không hay .
Thất vọng trong lòng thằng Đực ngao ngán bước xuống xe, trời gần về chiều mặt trời còn lấp ló phía ngọn tre của dãy nhà phía sau chiếc xe đang đậu, cái nóng cũng đã dịu bớt mọi người túa vào trạm dừng chân, dăm ba người đi về phía nhà vệ sinh, một vài người túa ra mấy hàng bán quà bánh để mua thêm một số về làm quà , thằng Đực ngồi vào bàn nó gọi một dĩa cơm Sườn bì chả và một ly trà đá, nó nhai nuốt vội vàng sợ ăn chậm chạp nhà xe sẽ bỏ nó lại nơi này, ăn xong cầm cây tăm xỉa răng Đực gọi tính tiền, bà chủ dáng người mập mạp vàng đeo đỏ tay vội đến bên nó rồi bà nói :
- Cậu cho tui trăm hai nhe cậu .
Nghe tính tiền thằng Đực tá hỏa tam tinh, tưởng mình nghe lầm nó bèn hỏi vặn lại cho chắc ăn :
- Bà nói bao nhiêu vậy bà chủ ?
- Trăm hai chục ngàn đó cậu, ly trà đá mười ngàn, dĩa cơm trăm mốt.
- Gì mắc dữ dậy bà, có tính lộn không ? Ở trên thành phố dĩa này mắc lắm năm chục ngàn hết cỡ, ở thôn quê mà bán trăm mốt ai mà dám ăn .
- Cậu ơi! Tui buôn bán ở đây cả chục năm rồi, tết nhứt giá cả phải khác ngày thường chứ cậu, mà tui nói cho cậu biết tại cậu không xem kỹ cái "mơ nua" tui ghi giá cả đàng hoàng hết chú đâu cố ý gạt gẫm gì ai đâu.
Ngưng chút xíu bà chủ nói tiếp:
- Cậu trả tiền đi tui còn làm công chuyện nữa, ở đây đôi co với cậu mất thì giờ quá
Thằng Đực định phản ứng tiếp, nó dự định hù bà chủ quán bằng cách kêu Công an địa phương lại xử, bổng đâu có ba tên ăn mặc thật bụi đời , họ xâm mình khắp thân người hầu như chỉ còn khuôn mặt là chưa xâm, họ kéo ghế ngồi cái bàn bên cạnh bàn thằng Đực, một trong ba tên cất tiếng hỏi bà chủ :
- Vụ gì đó má Bảy, có cần tụi con nhúng tay vô không ?
Thấy mấy tay bậm trợn này thằng Đực điếng hồn thò tay vô túi nhanh chóng thanh toán tiền cơm cho bà chủ rồi lật đật leo lên xe ngồi chết trân .
Đắc thắng bà chủ chưa tha cho thằng Đực, bà còn buông một câu ghẹo nó:
- Bữa nào " Quành" lên Sài gòn cậu nhớ ghé ủng hộ quán Dì bảy này nghe, có trăm mấy mà làm cái giọng thấy ớn...
Nghe câu chọc quê của bà Bảy chủ quán thằng Đực giận cành hông nhưng thấy ba thằng " cô hồn" còn đưa mắt nhìn mình như muốn ăn tươi nuốt sống nên thằng Đực đàng " xếp re" ngồi im như pho tượng cho đến khi xe tiếp tục lăn bánh rời khỏi quán bà Bảy .
Xe lao vun vút trên Quốc lộ, chừng đến gần các thị trấn, chợ búa phố xá dọc đường, anh lơ xe đưa tay vỗ mạnh vào thân xe vừa la um sùm :
- Dô dô bà con ơi !
Cứ như vậy, xe chạy đến một chiếc cầu đang sửa chữa, tài xế giảm tốc độ bò từ từ qua cái cầu sắt bắt tạm kế bên, xe qua khỏi cầu sắt thì có ba người đàn ông vẫy xe, bác tài cho xe đậu lại ba ông hành khách nhảy tót lên xe một cách điệu nghệ, xe tiếp tục chạy một đoạn ngắn cũng ba ông khách đón xe dọc đường khi nãy bày trò chơi bài ba lá ăn tiền, ban đầu chỉ có ba người chơi với nhau giữa lối đi của hành khách trên xe, rồi một , hai người phụ nữ ngồi gần đó cũng tham gia, hai người phụ nữ này quả thật có con mắt tinh đời, họ đặt đâu trúng đó khiến tay làm cái mặt mày nhăn nhó trông thật khó coi, chừng thua nhiều quá hắn lên giọng nói:
- Hai bà có chơi bùa ngãi gì hông mà đặt đâu trúng đó vậy ?
Không bà nào lên tiếng, chỉ đặt vào lá bài rồi ăn tiền tên làm cái, có ông già đứng gần đó cũng móc tiền đặt theo hai bà này, và lần nào cũng ăn nhà cái hết.
Thằng Đực lần đầu đi xe thấy họ chơi trò dễ thắng quá, bằng chứng là ba người chơi gồm hai bà và một ông khách chưa thua ván nào, thấy coi mòi dễ kiếm tiền để gỡ gạc lại số tiền bị cô gái kia lấy cắp, thằng Đực mạnh dạn móc tờ năm mươi ngàn đặt theo mấy người kia, đúng là vận may thằng Đực thắng năm chục ngàn, cứ vậy nó đánh theo mấy người nọ trúng được vài lần nữa, nó vui mừng khôn xiết, nó bắt đầu nổi máu tham đánh một lần hai trăm ngàn, lần đánh này số nó không may bị thua, dĩ nhiên những người chơi kia cũng thua, càng đánh nó càng thua, còn lại ít tiền thằng Đực quyết chí " được ăn cả, ngã về không" , nó đánh vào cửa ngược lại những người chơi kia , không may cho nó bọn người kia trúng chỉ có mình nó là bị nhà cái ăn trọn lần này, Hết sạch tiền Đực bàng hoàng trong lòng, vì ham vui vì lòng tham Đực muốn lấy tiền của người khác thông qua cờ bạc, không ngờ nó bị cháy túi qua con đường này , đến cây xăng phía trước ba người đàn ông, hai mụ đàn bà , và ông già tham gia đánh bài khi nãy cùng xuống xe một lúc, xe tiếp tục lên đường một đoạn ngắn thì anh lơ xe đến bên thằng Đực anh ta nói:
- Nãy giờ tui ra hiệu cho chú em mầy quá chừng mà chú em mầy không chịu để ý, cái đám cô hồn này nó mần ăn trên đoạn này liên tục, tụi anh biết hết trơn nhưng nếu không để chúng làm ăn thì chúng nó phá xe trả thù hết đường làm ăn, xe nào cũng sợ nên cứ im lặng mặc cho chúng tung hoành trên xe. Tụi nó là đám cò mồi không hà chỉ có mình chú em mày là bị vướng chiêu thôi, thôi thì bài học nhớ đời nghe chú em.
Nghe anh lơ xe cho biết cách thức làm ăn của đám người này, nó ứa nước mắt trông thật tội nghiệp, lúc này nó mới chực nhớ lại lời anh thầu khoán nói với đám thợ hồ:
- Ở công trường xây dựng buồn thì anh em chơi bài tiêu khiển cho vui thì được , nhưng đừng ăn thua cay cú, ông bà mình có câu:
" Cờ bạc là bác thằng bần "
Ông chủ khi phát tiền cho thằng Đực ông còn căn dặn:
- Đực nè ! Đường về nhà thì xa , tiền bạc cẩn thận nhớ cất kỹ lưỡng , tốt nhất chẻ nhỏ số tiền ra cất, có bị mất chổ này thì còn chổ khác, tập trung một chổ mất thì mất hết nghe chưa, cho anh gửi lời chúc tết gia đình, sau tết mình gặp lại nghe Đực.
Giờ thì không còn gì rồi, nó xuống bến xe lấy hành lý để đón xe lôi về nhà, trong người không còn một xu dính túi, Đực thấy tủi nhục, thấy thương cho ông bà Hai, thương cho con Mén không có phần phước hưởng số tiền nó dự định cho Mén, chưa biết tính cách nào để về nhà, nếu lội bộ thì xa quá, còn đi xe lôi thì lại không có tiền để trả , thằng Đực bổng thấy cái dáng thấp thoáng từ xa y như thằng Tèo bạn học của nó ngày xưa, anh chàng này cũng ba lô trên lưng , tay xách nách mang quà cáp ê hề, khi đến gần, thằng Đực mừng như bắt được vàng nó đến bên Tèo rồi la lớn :
- Cái thằng quỷ Tèo, trời ơi lâu lắm rồi tao mới gặp mầy, đâu về vậy, thành phố về phải hông? Mày ở quận nào? Tao ở Gò vấp mần công trình lớn lắm...
Thằng Tèo chới với, vì nó kịp nhận ra thằng Đực bạn rất thân thuở nào, cuộc sống miền quê khó khăn mạnh ai nấy lên thành phố kiếm sống, không ngờ chiều cuối năm gặp nhau , hai đứa kéo nhau vào quán nước mía bên đường, sau một hồi hàn huyên tâm sự biết được bạn bè đang gặp cơn thắt ngặt, Tèo nhanh chóng cho Đực mượn một ít tiền để xoay sở trong mấy ngày tết:
- Tao cũng không có nhiều, cũng công nhân như mày, có điều tao kiếm tiền dễ hơn mày, mầy cầm chút đỉnh về xài tết, sau này có tiền gửi lại tao sau .
Rưng rưng nước mắt Đực lí nhí cảm ơn thằng Tèo , rồi hai đứa lên xe về nhà...
***
- Má mày đâu rồi, thằng Đực hổm nó nói chừng nào dìa , tối om rồi mà chưa thấy tăm hơi nó đâu?
Nghe ông Hai hỏi, bà Hai vừa chụm củi thêm vô nồi bánh tét bà nói :
- Thì hôm nay nè , còn sớm mà ông, chưa gì mà nóng ruột dữ rồi đa .
Bà Hai vừa dứt câu, thì Đực đã đứng ngay trước ngõ, nó lên tiếng:
- Con nè, nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, hôm nay nói dìa là dìa , là lá la .
Nghe cái giọng thằng Đực vui vui, ông Hai " đế" cho nó một câu:
- Cha chả , bộ bây trúng số sao tao thấy điệu bộ bây dui dữ đa.
Thằng Đực nhảy xổ lại ôm ông Hai rồi nó hôn lên đôi má gầy gò của ông mấy cái làm ông Hai không biết trời trăng mây gió vụ gì mà tự dưng thằng Đực lại hôn ông như vậy, rồi Đực sà vào lòng bà Hai nũng nịu như hồi còn nhỏ nó nói nhỏ cho mình bà Hai nghe:
- Con thương má nhất đời.
Rồi như có hẹn trước con Mén cũng từ đâu ngoài ngõ chạy ào vào ôm thằng Đực khóc như mưa:
- Anh , anh dề rồi , kỳ này ở luôn đi , đừng lên thành phố nữa nhớ anh muốn chết nè. Hai bác kêu em nói với anh dậy đó.
Rồi Mén quay sang hỏi ông bà Hai :
- " Con dâu" của tía má nói dậy đúng hông tía má.
Ông bà Hai khẻ gật đầu thay cho câu nói khiến thằng Đực khóc như mưa, nó nhớ lại gặp bao chuyện không may trên đường về quê, tưởng đâu cuộc đời đi vào ngõ cụt khi nó trắng tay, không ngờ mọi người lúc nào cũng yêu thương nó , rồi sự giúp đỡ của thằng Tèo, cái chân tình của ông chủ thầu, những hình ảnh đó hiện lại như cuốn phim chiếu chậm, nó ân hận trong lòng vì sự cả tin người lạ để phải mất tiền , rồi không chiến thắng được lòng tham khi sa đà vào việc đỏ đen, bài học đầu tiên nó vừa nếm trải, Đực tự hứa không bao giờ nó để tái diễn tình cảnh này một lần nữa, bằng không sẽ không có sự ngọt ngào nào mà sẽ là vị đắng của mùa xuân nếu nó còn lòng tham và sự cả tin này .
Hai Hùng
***
14 - Gã Biết Chữ...
Nhưng Chữ Không Hề Biết Gã
Phi Ngọc Hùng
Trong làng xóm văn chương ai chả hay biết là đã làm văn hóa thì phải có văn chương, một tác phẩm hay là có văn có truyện. Một truyện ngắn hay là truyện khó viết, không phải ai cũng viết được. Thêm nữa, chỉ một dúm chữ không thôi nhưng vẫn có hồn, có cốt tráng qua nét văn chương. Chữ đẻ ra chữ, có khi chỉ phảy vài nét, mà tóm lược được thần thái, lột được hết hồn vía của nhân vật, tình tiết. Chữ để đọc. Gã nhai văn nhá chữ, nhá chữ chứ không nuốt chữ. Thế mà gã cũng chẳng biết. Chuyện là đắp chữ vá câu thì gã cắc củm có một vốc chữ, lại mắc bệnh từ ám, nói cho ngay gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã. Chữ để viết. Vậy mà gã cũng không biết. Chẳng qua số gã ruồi vì không một ngày theo học Trường viết văn Nguyễn Du.
Chả là bấy lâu nay gã đau đáu với văn chương, vì vậy gã phải đi tìm thầy để ăn mày chữ nghĩa. Gã ghé quán bia hơi ở Phố Huế mà ông dế mèn gọi là bia bơm. Ông thường ngồi ở đấy nhưng gã đến lại không gặp. Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã bèn lò dò đến trụ sở Hội nhà văn ở 65 đường Nguyễn Du, để hỏi và được trả lời thầy dậy chữ đang ở nhà viết hồi ký.
Gã tạt qua để học viết chữ.
Im ắng...Bước lên bậc tam cấp...
Gã gõ cửa và hỏi:
- Có ai ở nhà không?
Ông dế mèn thò đầu ra:
- Đi vắng rồi.
***
Tháng sau có nhút nhít thì giờ, gã tìm Ông ấm đất để kiếm ông dế mèn.
Gã trộm nghĩ muốn đi vào làng xóm văn chương nên ghé vỉa hè ồn ào, mắt gã đảo tít như rang lạc thì gặp ngay ông ta thật. Trước mặt ông ấm đất là một đĩa lạc rang, một chai rượu cuốc lủi và một đĩa thịt chó. Ông vẫy gã lại gần và rỉ rả chuyện ông từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục vừa thanh, vừa có vị chát của nhựa sen vừa có hương thơm của hoa sen thế mới hay. Gã nghĩ bụng, thịt chó mà cho vào toà sen thì...chó thật
***
Lấy cái ba toong đập đập vào cạnh bàn kêu đĩa tiết canh cho gã. Rồi hỏi gã vác xác đi đâu thế!. Gã nhúm nhím là vừa ghé Hội nhà văn tìm ông dế mèn, tới nhà cũng không gặp nên mò tới đây.
Ông ấm đất chép miệng bồ bã:
- Cậu tới đó làm đếch gì cho nhọc sức, nhìn chung đám hội nhà văn ấy, họ viết như đang lè nhè giữa một đám chén chú chén anh. Họ nhai chữ những miếng to tướng, vừa ăn vừa nhằn ra nham nhở, chẳng nghệ thuật vị nhân sinh tí ti nào. Cứt láng giềng thì thối, cứt đầu gối thì thơm, thế là họ vãi cứt vào mặt nhau. Họ đội khăn đống áo dài vái nhau như tế sống, bốc thối nhau.
Thì đấy, Nguyễn Huy Thiệp gọi họ là bọn vô học. Cụ tiên chỉ Nguyễn Tuân được thể nước ao mà vỗ lên bờ, cụ viết truyện tiếu lâm đăng trên báo Người Hà Nội: "Có một ông nhà văn nọ dựng chuyện khơi khơi các nhà văn nước ta "50% là vô học. Bị phản bác, ông ta xin lỗi ngay vì sai thì phải sửa và mau mắn sửa sai là 50%...có học".
Ông cười đánh hậc một cái và tiếp rằng một đĩa tiết canh đánh giỏi là "tiết canh xâu lạt" treo lên được. Gã càm ràm không hiểu tiết canh xâu lạt là...chó gì thì ông đã rề rà:
- Cậu làm văn mà sao ngu thế! Làm văn phải biết quan sát. Thí dụ, nhìn lề đường có bao nhiêu cây me, cây sấu, cây gạo, cây bàng? Nhìn cái nhà biết cửa chính, cửa phụ, cửa thật, cửa giả.Làm văn giỏi là biết quan sát và kể chuyện. Viết văn tức là kể một câu chuyện. Tất nhiên, trong quá trình kể, có rất nhiều tình huống, nhiều chi tiết vụn vặt như đĩa thịt chó với rau thơm là... lá húng chó, là lá mơ trong Nam bộ gọi là...lá thúi địt.
Và ông cười lủng lẳng:
- Ông dế mèn nói đi vắng vì ngỡ cậu đến ve con gái ông ấy!
Khuôn mặt gã như bát tiết canh sũng nước, lúc này gã quan sát gương mặt nửa thực nửa hư của ông, cái mặt của những cư dân nghĩa địa vì cũng sắp gần đất xa trời. Gã lậu bậu với ông là gã muốn viết truyện ngắn, mà chữ nghĩa nông choèn, văn vẻ nhắm khi tối như hủ nút. Ấy là chưa kể cái tai tệ nạn là đang bí lối, bí rị...đề tài.
Ông bổm bảm:
- Giả sử cậu bảo tôi viết về ‘’Rượu’’. Thế là sẽ có truyện ngắn với nhan đề ‘’Cái chai’’. Hình ảnh sinh động làm nên tư tưởng, chứ không phải tư tưởng tạo ra...cái chai.
Ực cốc cuốc lủi một cái tót, chống cái ba toong, ông khật khừ:
- Hay nhất là đi thực tế trại bồi dưỡng sáng tác Quảng Bá gặpông dế mèn đang dậy văn ở đấy. Mỗi người một khác: Tôi viết ký. Ông ta viết truyện ngắn.
Móc cái điện thoại cầm tay bấm số ông dế mèn. Cái máy kêu tít tít. Vì hoài bão chết tiệt, vì túng truyện viết để hóng cái viết nên gã đèo ông ấm đất đi tìm ông dế mèn.
***
Đang phóng nhanh, gã giảm tốc con @ còng, phía trước có người ngồi vệ đường chăn bò. Gã thắng xe sát cạnh: "Cho hỏi thăm, Trại bồi dưỡng sáng tác Quảng Bá gần đây không?". Người chăn bò vểnh vành nón lên nhìn. Hai con mắt sắc, sắc lẹm, hiện rõ sự dò xét, cân nhắc. Mắt như thế gì cũng biết, không gì qua mắt được. Ông ấm đất nhận xét và nói nhỏ thật nhỏ với gã: "Ấy là ánh mắt của ông dế mèn". Gã lặp lại câu hỏi: "Thưa ông, tôi..." - "Anh tìm ai nhẩy?" - "Tìm ông dế mèn... nhà văn." - "Các anh mua văn à?" - "Không. Chỉ học văn thôi" - "Đất nước ta nhiều trại văn lắm, Trại sáng tác văn học Đồ Sơn này, Trại dậy văn Tam Đảo này, Trại viết Đà Lạt này, Trại bồi dưỡng sáng tác Vũng Tầu này, v...v..." - Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã hỏi: "Vậy trại bồi dưỡng nằm ở đâu?". Người chăn bò chỉ về phía xa xa: "Đấy, một dãy xanh xanh tre lá ấy." - "Có đường vào không, thưa ông?" - "Đi một đoạn nữa sẽ thấy bờ đê thì rẽ trái vào."
Ngồi sau lưng, ông ấm đất vừa xỉa răng vừa nói chuyện nhậu văn chương với gã:
- Ông dế mèn bảo dậy văn chả khó gì, na ná như mổ lợn, thao tác chính là lọc phần thịt, để trơ ra phần cốt tức cái nội dung của tác phẩm. Cậu học văn nên học mổ lợn hay học theo cái bệnh của nhà văn, nói như Nietzsche, là: Không viết lên được gì nếu không dựa trên trích dẫn từ kẻ khác. Tính sáng tạo viết lách chẳng qua là sự nấu nướng những gì có sẵn thành một món ăn mới. Đó là một quá trình dàn dựng sự kiện nhân sinh vào một mâm cỗ ngôn ngữ. Ẩm thực là một quá trình văn hóa chuyển hóa từ nấu nướng là thịt, là cá, là gạo và bày biện món ăn với thật nhiều gia vị.
Như cậu biết đấy, người Việt ở bắc thì ưa viết văn, người trung thì làm thơ, người nam thì viết báo. Người bắc viết văn mang cái bệnh đểu, "sâu sắc", "ẩn dụ", bóng gió, nói cay, nói đắng, lấy cái gia vị của gừng, của ớt làm cái ngon miệng. Vì thức ăn chả có gì, như một chén cơm sống trộn tỏi với nghệ. Vậy mà người đọc cứ ào lên khen hay.
Gã nổ máy, phóng vút, để lại một làn khói vẩn vơ trên khóm mai vàng. Gã im lặng lái xe, gã đảo mắt về phía trái để kiếm con đường vào làng, nhưng chạy mãi vẫn không thấy! Gã chợt nhận ra...một dãy xanh xanh tre lá ấy ở phía sau lưng mình.
Bèn nói: "Quay xe lại, hỏi lần nữa xem sao." Ông cau mày: "Cái thằng mặt lợn đó cũng đếch biết đâu!". Gã quay xe, chạy ngược lại để gặp người chăn bò. Người chăn bò vẫn còn ngồi đó. Gã rà xe lại hỏi: "Không thấy con đường nào cả!". Ông ta mắt e dè, nhưng đầy láu lỉnh, ma mãnh: "Anh hỏi gì nhẩy! Anh phải đi ngược lại như thế này chứ." - "Vậy đi như thế này đúng chưa?" - "Đúng." - "Nhưng con đường rẽ vào làng... Xin lỗi, trại Quảng Bá nằm phía tay nào?" - "Ban nãy tôi chỉ anh phía tay nào?" - "Phía tay trái." - "Vậy là tay trái." - "Nếu thế, trại nằm bên này đường, đâu phải bên kia?" - "Anh muốn bên này à? Ừ bên này đường." - "Ông có phải người làng Quảng Bá không?" - "Anh hỏi gì nhẩy!".
Búng cái que tăm cái tách bay thật xa, ông ấm đất phẩy tay thêm mắm thêm muối:
- Dân trung mang cái thi ca vớ vẩn biến thành cuộc đời với ý chí đi làm cách mạng hay vào chùa tu. Các nhà tu, chính trị gia chỉ là các nhà thơ thất chí với cuộc đời. Xứ càng khổ càng nhiều thi sĩ hiện sinh.
Còn dân nam ưa nhậu ở các quá cóc. Khi nhậu say lên là dân nam ta nói chuyện làm báo. Vì báo chí là một kiểu nhậu khác: Nhậu...văn chương.
Nếu văn chương bị bày biện vụng về trên các mâm cỗ quá tràn ngập đồ ăn chưa được nấu, sống sượng. Sự tiêu hóa của người đọc sẽ bị ngộ độc hay bội thực. Bây giờ vẫn còn như thế, nhìn đâu cũng thấy "văn học", kể cả những gì rất là "vô văn học". Trở lại để trích dẫn Nietzsche lần nữa: Con gà mà đẻ nhiều thì trứng sẽ nhỏ đi. Cái dở của văn chương ta là nhiều chữ quá mà chẳng nói lên được điều gì!.
Gã lại phóng xe, chạy quá năm phút vẫn không thấy hai bên có bờ đê nào! Gã bực dọc: "Thằng cha chăn bò chơi xỏ mình! Em nhớ là...là...". Gã bỏ lửng câu nói, la lên: "Đằng trước có phụ nữ rồi. Hỏi phụ nữ là chắc cú." Gã nhìn thấy đằng trước có một phụ nữ mặc đồ chàm, dắt một con nghé đi gặm cỏ. Gã rà rà con @ còng, và thắng lại: "Chị, cho hỏi thăm trại Quảng Bá nằm chỗ nào?". Chị ta ngước nhìn vào mắt hai người. Gã giật mình. Ánh mắt nhí nhoáy của chị ta đầy ma mãnh của người chăn bò ban nãy. "Quảng Bá nào?" - "Trại bồi dưỡng ấy mà" - "Không có trại nào ở đây sất cả". Gã chập cheng: "Thế, chị biết ông dế mèn không?" - "Nhiều ông dế mèn lắm." - "Dế mèn ranh mãnh?" - "Ranh mãnh cũng nhiều lắm." - "Dế mèn viết văn đó?" - "Văn ở đây cũng nhiều lắm."
Ông ấm đất đập đập vai gã bã bời:
- Cậu nên học quan sát theo ông dế mèn để viết văn. Ở vườn nhà ông có một cái núi non bộ lớn, ông nuôi cá, nuôi khỉ, nuôi bồ nông, cò, vạc... Cứ xích chân, xích cổ vào hòn giả sơn. Tôi thấy ông cứ đứng hàng giờ quan sát các con vật và thỉnh thoảng lại phát hiện ra một điều gì lạ ở chúng, như chân con vạc nó thế nào đấy, hay con khỉ lại biết chơi trò thủ dâm...
Hay nói khác đi, như Henry Lewis Mencken chỉ vẽ:Mấy ông nhà văn viết văn là thủ dâm với chữ nghĩa, ông ta tự làm sướng, làm khoái cho chính mình đấy thôi. Mệt!
Ông vừa dứt lời gã bực bội vọt xe. Đột dưng ông ấm đất reo lên như ấm nước sôi: "Có bờ đê rồi." Nghe thế, gã nhìn sang hai bên. Quả nhiên, bên trái có một con đường nhỏ, lát bê tông xi măng dẫn vào nơi,,,xanh xanh tre lá như người chăn bò vừa rồi chỉ. Gã rẽ xe vào. Gió nam gió nồm quét mặt đường sạch tưng. Nhưng khi đã vào làng, đường sá chỉ là đường đất. Đường ngắn, hẹp, liên tục rẽ trái, rẽ trái... Hai bên đường liên tu bất tận những tre tàn tàn tre toả bóng. Gió nồm gió nam giày vò những cành tre kêu ken két. "Quái! Làng vắng hoe, chả thấy người.". Ông ấm đất nói, giọng chắc nịch, làm như mình đã từng sống ở đây: "Họ đi làm đồng cả rồi. Đây đúng là làng Quảng Bá." - "Sao biết?", gã hỏi. Giọng ông ngang ngang: "Bệnh thằng chăn bò đấy!" - "Là gì?". Ông nói như chọc vào tai gã: "Là nó đã lây sang anh mà anh không hay! Mà này, anh có nhớ đường ra khỏi làng không?". Gã chạy xe chậm. Chó sủa vang. Nhà nào cũng nuôi chó. Chúng phóng ra cả đàn, nhỏ, to, đực, cái đều có...Chúng không đuổi theo, không bỏ nhà chạy rông. Ông bảo: "Đi ra ngay khỏi làng. Nhiều chó quá" - "Bác chỉ em đường ra nào?".
Ông ấm đất đánh trống lảng, giọng dậy văn dài, văn ngắn:
- Tôi chịu ông dế mèn dậy văn trên mặt bằng văn học chính quy. Ôngđăng đàn phát biểu: Người viết nào cũng tìm cách tiến từ truyện ngắn sang truyện dài. Dừng lại ở truyện ngắn, sợ không phải là nhà văn. Thực ra truyện dài chưa chắc đã khó. Họ viết như phóng ngựa chạy, chẳng rõ mặt mày gì cả. Nhưng họ chưa biết bố cục. Viết dài một chút, độ ba trăm trang trở lên, tôi cảm thấy có những phần đã phải độn rồi. Độn, lấy cái nọ đỡ cho cái kia, kéo nhau đi. Mệt!
Ông dế mèn thích truyện ngắn. Ông cho rằng truyện ngắn là một thể văn tập cho người viết, viết từng cái ngắn là vừa sức hơn cả. Chỉ với truyện ngắn, là nơi người ta có thể thử tìm phong cách cho mình. Người ta mới biết tận dụng từng câu, lo săn sóc từng chữ, rèn luyện đến việc dùng từng dấu phẩy, dấu chấm.
Đã có nhiều cách định nghĩa về truyện ngắn, nhưng nếu nói nôm na với nhau, đưa ra một định nghĩa thì truyện ngắn chính là cách cưa lấy một khúc đời sống. Ở đây, có thể nói ngắn gọn, nói trực tiếp. Cái ngắn thích hợp với cuộc sống nhanh bây giờ.
2
Đường có nhiều lối rẽ, hơn nữa tầm nhìn bị tre che khuất. Ông ấm đất than: "Chạy mãi thế này, hết xăng phải đổ nước mất". Gã hô hoán "A! có thằng bé cõng em đằng trước kìa.". Thằng bé khoảng mười hai tuổi, đen nhẻm, đang địu đứa em thò lò mũi xanh. Gã thắng xe và tắt máy. Thằng bé lõ mắt nhìn con @ còng. "Cháu cho bác hỏi..." - "Hỏi gì?" - "Cháu là con ông dế mèn phải không?" - "Không." - "Ông ta là gì với cháu?". Thằng bé láo liên nhìn gã: "Ông ta là người nên cháu không biết.". Gã hỏi: "Thế cháu biết gì?" - "Bò". Gã đâm nghi nghi vì ông dế mèn rất thích chuyện loài vật, như bò chẳng hạn. Bèn hỏi tiếp: "Nhà cháu ở đâu?" - "Xa lắm." - "Xa là ở đâu?" - "Làng bên kia, hai bác cứ lội bộ tàn tàn, tìm cái xe bò nào đó mà nhảy lên. Xe bò tự hành không có chủ đâu!". Gã đực ra, thằng bé tung tẩy: "Xe bò chở rơm, rạ trong làng ra. Người ngoài này đón. Xong, chỉ cần dắt nó đến đầu đường, thả ra, tự khắc nó kéo xe về lại nhà!".
Đường xa ướt đất, ông ấm đất được thể thêm đũa thêm bát:
- Ông dế mèn có lúc chủ trương viết những truyện không rắc rối như trên. Hay nói khác đi là truyện chẳng cần có cốt truyện. Và viết càng nhạt càng hay, có lần ông nói với tôi như thế. Nhưng đừng quên, đừng viết theo thị hiếu của người đọc mà bắt họ đọc những gì mình viết. Phải hé lộ những điểm thắt nút, gợi mở những gì sắp sẩy ra, những chi tiết tinh tế. Viết sao cho người ta đọc văn mình, đọc đi đọc lại, vẫn thấy hay. Có truyện đọc lần đầu hay. Đọc lại không thấy hay nữa. Văn phải đọc đi đọc lại...Cứ theo Nguyễn Công Hoan thì: Viết truyện tức là bịa. Nhưng phải dựa trên chuyện có thật, thật quá thì khô cứng nên phải hư cấu. Hiểu theo nghĩa là...bịa như...thật.
Nghe chuyện bịa cứ như thật lẵng nhẵng quá thể, gã nói với ông ấm đất: "Bác với em hút thuốc thư giãn nhá.". Ông gạt phăng: "Nhá nhem gì, biến đi". Và tiếp: "Lão chăn bò, con mẹ dắt con nghé, cả đến thằng bé kia đều là người làng thổ tả Quảng Bá này ". Ông chỉ gã: "Kìa... Có ông già kia kìa... Vào nhà hỏi trẻ nhỏ, ra ngõ hỏi ông già...". Lúc này, một cụ già chọt gậy bước tới. Lưng cụ khòm, đeo kính lão, đầu ngước lên trông như con đà điểu. Gã dựng xe, bước xuống: "Thưa cụ, cho hỏi thăm nhà ông dế..." - "Dế nào?" - "Dế mèn có râu đó." - "Dế nào mà chẳng có râu. Ông dế này có râu nhưng cạo nhẵn thín rồi" - "Sao vậy?" - "Phát tâm Bồ Đề đi tu!"- "Sao? Cụ nói sao? Đi tu rồi à?" - "Tu hú rồi." - "Chùa nào vậy?" - "Chùa nào có giời biết!" - "Xin cám ơn cụ".
Cụ già gật đầu, chấp nhận lời cảm ơn, và chọt gậy, lững thững đi tiếp ra khỏi làng. Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã ngước mặt lên dòm thấy con tu hú có hai con mắt to như đeo kính lão, giống như con đà điểu lưng còng đang đậu trên ngọn tre.
Nhìn theo cụ già, ông ấm đất nhăn mặt tắp lự:
- Ông dế mèn một lần nói với tôi thì đường ra khỏi làng này đây cũng dễ thôi. Dễ hiểu như tiếng Việt trong sáng. Sao cứ bịa ra những tiếng khó hiểu. Nhiều chữ họ không hiểu: Tại sao gọi là "bát đàn, bát sứ, bát kiểu". Ông ta rất chú ý học chữ. Ông chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Tiếng Việt ta có chữ "ăn nằm" rất hay, tránh nói thô. Ông phân biệt "mồm" với "miệng". Nói "miệng" sang hơn nói "mồm". Nhưng mồm miệng thì lại khác. Cờ nhà chùa thì phải gọi là cờ "điều" chứ không phải là cờ đỏ, sơn đen thì phải gọi là sơn "then", quần đen thì phải gọi quần "thâm". A! Chữ...
Mặt gã vẫn lặng như nước ao tù. Ông dắng dả.
- Chữ như cái búa. Không có chữ, không tạo ra hình ảnh đập vào đầu người đọc. Cuối cùng phải tìm từ, tìm chữ đích đáng để diễn đạt. Một bài viết hay là có được một hai từ đích đáng kết tinh được cái hiểu, cái ý của mình. Đó là cái thần của bài viết.
Đột ngột, gã đuổi theo ông cụ: "Cụ biết chú bé cõng em kia là con ai không?" - "Nó là con ông đánh xe bò". Cụ trả lời, chân vẫn cứ đi mà không ngoái lại, mồm miệng í a: Nà bò cỏ ống... Nà bò cỏ ống.... Gã trở lại chỗ ông ấm đất và nhúc nhắc cái đầu...
Ông cười khịch khịch, gật gật đầu:
- Ông phát hiện rất tinh những nhược điểm của người viết: Như văn Anh Đức là thứ văn cải lương, có lúc viết anh hùng là "hùng anh". Nguyễn Khải dựng nhân vật theo lối ghi chép rất sáng tạo, nhưng văn chưa thoát được lối biền ngẫu. Nguyễn Đình Thi xa đời sống, nên mắt không chọc thủng được tờ giấy để nhìn vào hiện thực. Thi tả cảnh chùa có cây bạch đàn. Xưa làm gì có bạch đàn ở chùa! Thơ Hoàng Cầm là thứ vàng mã trang kim. Thơ Kinh Bắc diêm dúa, lượt là xiêm y xanh đỏ, thực chất không có gì. Họ chỉ lo sản xuất cho nhiều, còn sống thế nào cũng được, cốt sao cho khoẻ, cho sướng. Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi...là như thế. Còn Tô Hoài thông minh, nhưng thẩm định xoàng, dậy văn ở trường Nguyễn Du với những lời dậy và giảng cứ lợn cợn và bốc mùi thoang thoảng của những thứ kiến thức chưa tiêu đã cũ mèm.
Gã lại nổ máy xe, rẽ trái. Gặp một chị phụ nữ đi ngược chiều, ôm bó rau muống. Gã dừng xe. Chị phụ nữ nhìn chăm chăm vào hai người, mắt chị ta lộ ánh mắt dò xét, cân nhắc như ông chăn bò. Gã vén môi: "Chị cho hỏi thăm nhà ông dế?" - "Dế nào?" - "Dế đi tu." - "Nhiều dế lắm." - "Dế mèn đó." - "Bỏ mẹ! Thế là đi tu rồi." - "Tu chùa nào?" - "Chùa Một Cột." - "Ối giời! dế mèn đi tu à?" - "Đã bảo đi tu rồi mà." - "Mà chùa Một Cột ở đâu?" - "Ai biết đó là đâu!". Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã hỏi tới nữa: "Chị cho hỏi thăm đường ra khỏi làng?" - "Đi mãi thì ra." - "Chúng tôi muốn ra đến con đường xi măng bê tông." - "Thế thì đi theo hướng mặt trời." - "Nếu đến chiều mặt trời lặn không ra được thì sao..." - " Thì thôi." - "Xin cám ơn." - "Chuyện nhỏ mà."
Đợi chị rau muống đi khuất. Ông bày mực tàu giấy đỏ bên phố đông người qua:
- Theo ông dế mèn thì Lưu Trọng Lư giờ hết thời rồi. Tài năng cũng chỉ có một thời thôi. Người ta viết có thời, hồn thơ có thời, có một lúc nào đó thôi. Như ông Lư ngày xưa làm thơ mới chân thật, có hồn thơ, sau này chẳng còn nữa. Nhiều người như thế. Thơ Huy Cận, thơ Tố Hữu giờ chỉ còn là thơ thù tạc. Nguyễn Huy Thiệp giỏi viết cái ác nhưng cũng sắp cùn rồi. Phạm Thị Hoài trí thức, lại muốn làm ra vẻ dân dã...Ông dế mèn đọc cả những cây bút trẻ. Ông cho là bọn này viết được. Nhưng thiếu một cái gì đó. Thiếu chữ của riêng mình, thiếu phong cách. Họ viết mới đấy. Nhưng rắc rối, khó hiểu. Chưa mấy hay. Bọn trẻ nói chung kiêu, ngông, bất cần đời như Nguyễn Tuân.
Lúc này đã đúng ngọ. Gã lái xe về hướng mặt trời, nên xe chạy lạc bố nó mất. Nhưng gã không lạc. Ông ấm đất nhắc khéo: "Cứ đâm đầu chạy vào trung tâm làng, lẽ tất yếu là phải...ra khỏi làng". Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã lau mồ hôi trán: "Cứ rẽ trái, rẽ trái mãi", ông nhắc: "Rồi cũng ra khỏi. Nhớ trái... Nhớ trái suốt nhá..."
Khi không ông ấm đất cười khùng khục chuyện ông dế mèn:
- Ông ta bia rượu, gái ghệ chẳng kém ai, có 7 con. Vợ cứ đẻ sòn sòn. Tôi thì rất ghét người đẻ nhiều, vô kế hoạch. Đi đâu ông cũng tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch. Tôi bực với ông ấy: "Sao đẻ lắm thế?". Ông ta có câu trả lời rất lạ là: "Sướng con cu mù con mắt". Rồi cười nhạt nhách: "Vì vợ tôi nó xấu". Tôi không hiểu được ý ông muốn nói gì. Ông dế mèn lại hay đánh vợ. Quái thật! Chả lẽ vì vợ ông ấy...xấu! Hỏi ra ông ấy tống cho một câu gọn lỏn: "Ông không biết chứ đánh vợ xong, nó chiều lắm".
Gã cứ rẽ trái, rẽ trái một chặp là ra khỏi làng thật. Nhưng không gặp con đường bê tông xi măng, mà tiến vào một nghĩa địa. "Gã bảo: "Chạy luôn vào nghĩa địa. Nghĩa địa lúc nào cũng bên ngoài làng. Khỏe quá!". Đây là một nghĩa địa nhỏ, cả hai thấy một bà đang vái hương nơi ngôi mộ mới xây. Gã dựng xe, cả hai đi bộ lại. Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã hỏi bà: "Vợ ông dế mèn mới chết tháng trước, có chôn nơi đây không ạ?" - "Ông dế mèn?". Bà vỗ vỗ trán: "À, đúng là chết rồi! Tội nghiệp" và tiếp: "Không biết ông ấy học ở ai đó cầm bút viết chữ như cầm búa gõ vào đầu người ta để tạo cái của nợ gì ấy. Rồi chính ông búa vào đầu ông chết tốt!". Rồi lắc đầu: "Không chôn ở đây." - "Thế ở chỗ nào?" - "Qúy ông hỏi gì?" - "Hỏi để thắp nhang. Mà mộ ông dế mèn ở đâu" - "Chôn ở phía vợ." - "Phía vợ ở đâu?" - "Ai rỗi hơi!" - "Cám ơn bà." - "Ờ ".
Ông cằn nhằn: "Láo thật! Láo đến thế thì thôi, đến chết rồi cũng không chịu chỉ cho người ta cái mộ". Gã cãi nhắng: "Ông dế mèn chưa chết, biết mộ đâu mà chỉ". Ông ấm đất cười đánh bịp một cái như con bịp bịp gáy: "Cậu làm văn mà sao ngu thế! Làm văn phải biết quan sát. Cậu không thấy bà ta xấu lắm à! Bà ta là vợ ông dế mèn đấy".
Ông ấm đất có cái cười khinh đời, khinh mạn. Cái cười của ông không phải nụ cười, mà chỉ là sự nhăn răng, nhăn nhó:
- Nhưng nghiệm ra thấy ông dế mèn tinh đời, tinh như ma vì nói: Bọn văn xuôi chúng tôi rất dại, chỉ có bọn làm thơ là khôn. Sự thật quả có thế. Mấy ông văn xuôi thường hay bị đánh như Nguyễn Tuân (Phở, Tình rừng...), Nguyên Hồng (Con hổ ở suối Cát), Nguyễn Huy Tưởng (Một ngày chủ nhật), Tô Hoài (Mười năm), Nguyễn Khải (Đối mặt)...
Bọn thơ thẩn, phần lớn là quan chức được đảng tín nhiệm như Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi. Sau là Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa...
Từ nghĩa địa thoáng đãng, tầm nhìn không vướng lũy tre nữa, gã thấy con đường bê tông xi măng nằm phía bên trái. Cả hai thở phào, lôi thuốc ra hút để thư giãn. Khi bà đi ngang qua, gã hỏi: "Bà về ạ?" - "Ờ." - "Nơi đây có phải là trại không?" - "Không trại, mà chỉ là làng" - "Làng tên gì?" - "Trại nào?". Nghe vậy, ông ấm đất vỗ đét vào đùi gã: "Không có làng Quảng Bá. Tiên sư cái thằng dế mèn chết rồi mà vẫn còn nói láo!". Gã lạc quan thấy rõ: "Dám cái nghĩa này là trại bồi dưỡng sáng tác Quảng Bá lắm ạ!".
Đột dưng ôngấm đất đột gầm ghè ông dế mèn:
- Trời phú cho ông dế mèn có khả năng sống trong nước đục, sống giữa những cái nhờ nhờ, tối tối mà vẫn sống được. Giữa đời sống, ông ta xoay sở có chục khuôn mặt khác nhau, táo tợn một cách kín đáo, để ý từng tí một, tinh tế trong những cái vặt. Trong văn nghiệp, ông nhẩn nha kể mọi việc, ghép chuyện nọ với chuyện kia, không thuyết phục ai, ấy thế mà lại đọc được. Cái chất văn của ông nó nằm trong một cái gì ẩn dưới câu văn, ẩn dưới chữ nghĩa. Là sự kiện, là con người với những vui buồn. Ông mang khuynh hướng dân gian, nhưng nặng về bản năng, thiếu lý tính. Nhưng truyện ông viết sau 1975 là chỗ sắc sảo, lọc lõi của ông. Nhất là sau 1986 với hồi ký mới thực sự là ông dế mèn với: Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Ba người khác...
Ông ấm đất đột biến vặc gã: "Thôi, quên cái trại bồi dưỡng sáng tác dấm dớ ấy đi. Giờ tôi phải vào làng kiếm đĩa thịt chó cái đã..." rồi thả bộ bước một và rẽ trái vào làng một mình.
Gã nổ máy xe. Đám gà tre trong mấy cái mộ đất giật mình nhao lên một lượt kêu "tác...tác...". Nhưng con @ còng lại kêu "tít...tít...", và tịt máy chắc vì hết xăng!
***
Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã xục giày rời nghĩa địa. Mặt nặng như đeo đá vì đi mãi, chỉ thấy con đường vắng hoe. Trời đất ánh lên những tia hấp hối của ngày. Cuối cùng cũng xuất hiện một đốm đen phía cuối con đường. Gã tăng tốc, chạy. Nhưng chỉ mươi bước thấy sức lực tuột xuống hai chân. May cho gã, đốm đen quả thật là một chiếc xe bò. Đúng là xe bò chở rơm, rạ trong làng ra như thằng bé chỉ và chỉ cần dắt nó đến đầu đường, thả ra, "tự hành" nó về làng. Con bò bước còn chậm hơn gã. Gã đu lên nằm ngửa trên sàn xe. Cái túi kê làm gối. Mùi phân và nước đái bò ngợp vào mũi. Nao nao buồn tênh. Nắng đang dần lịm. Gã giơ tay vẫy vẫy chào...một dãy xanh xanh tre lá. Và nói lớn: "Chào!" Đoạn gã hôn "chụt" vào bàn tay mình rồi quăng bàn tay ra xa...
3
Gã nghe thoảng mùi khói trầm. Trên cái sàn xe bò lung linh một bó nhang đỏ quạch. Có ai đó vừa đốt nó lên. Nhà đóng cửa. Đèn đã tắt. Bầy chó sủa hực hực. Ông đánh xe bò quay lại bật quẹt để che gió hút thuốc. Gã sững người vì hai con mắt sắc, sắc lẹm. Hay là gã chăn bò ngồi bên vệ đường hồi nãy. Thế nhưng gã thấy gần gũi vì ông này ma lắm, ma đến tận xương thịt. Mà ma sống cao tay không biết sợ người là gì nên có mắt ở mọi nơi. Mà dám ở trên xe bò này lắm a! Cái quẹt máy nháng lửa. Gã bắt gặp đôi mắt ve vé, nhỏ, dài và hẹp của ai đó....
Bất chợt gã mừng rỡ hỏi như reo: "Ông...".
Ông vẫn cái tật nhấm nháy mắt:
- "Hà...hà...chú bảo không ma sống sao được. Sau vụ Nhân văn, tội tôi còn to bằng mấy tội bọn ấy, thế mà chúng nó đều phải đi cải tạo tận Lào Cao, Yên Bái. Còn tôi cứ ở Hà Nội làm đến Bí thư đảng uỷ Hội Nhà văn. Phải là ma để mà sống chứ!.
Ông đốt thuốc, gương mặt lập lòe như di ảnh. Ông dịch sang một bên: "Ngồi đây cho vui". Và hỏi: "Đi Hà Nội?" - "Vâng" - "Đi làm ăn?" - "Thăm bạn" - "Phố hay ngõ?" - "Phố" - "Phố nào?". Gã đang hâm hấp đến Trường dậy văn Nguyễn Du, tới cơ sở văn hóa cực kỳ xung kích là Hội nhà văn. Cả hai đều ở đường Nguyễn Du, cụ Nguyễn Du bị tra tấn hơi kỹ thì phải, gã nghĩ thế. Sáng tai họ điếc tai cầy, thế nên vừa nghe hỏi, gã lúng búng: "Nguyễn Du" - "Đến đâu?" - "Đến Trường dậy văn Nguyễn Du" - "Xa vấy".
Ông tháo ống cống: "Trước tôi dậy ở đấy, trường được thành lập qua sự mô phỏng Học viện văn học Gorki của Liên Xô. May mà họ không gọi là viện văn học...mà là trường dậy văn". Ông rị mọ tiếp: ‘’Dậy khỉ gì, rồi sinh ra cái quái thai là Hội nhà văn, vì họ thiếu ngoại ngữ, họ chỉ có hai cửa sổ ngó qua Trung Quốc và Liên Sô. Họ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc là lẽ đương nhiên rồi, xưa nay vẫn thế. Họ quên là Đừng vác trên vai mình con khỉ của người khác.
Vẫn chưa tha, ông hỏi gã: "Hồi nào đến giờ chú lên truờng mấy lần rồi?" - "Lần này nữa là một trăm" - "Hà...hà...Vậy là có ghệ ở đấy rồi!" - "Không, em chỉ đi thăm ông bạn văn để ăn thịt chó, uống rượu cuốc lủi" - "Ai vẩy" - "Ông ấm đất".
Con bò bước ngoằn ngoèo như vệt trâu đái. Xương hông nhô lên. Đầu cúi gục. Ông dế mèn trườn tới vỗ vào mông. Thuận tay lấy chai bia hơi bên đùi mở nút và nói:
- Vậy hả! Vậy thì chú hãy coi chừng. Cáo cụ đấy. Ông này thì tôi biết quá! Rất khó chơi, rất kiêu ngạo, ngông nghênh quá lắm. Không bao giờ nói yêu ai, mến ai bao giờ. Ghét ai thì ghét ra mặt, nói thẳng, nói công khai rất ác. Tôi nói thật đấy...Đấy!".
Vui chuyện, gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã cũng theo ông tháo ống cống là gã đang học văn, nhưng viết truyện chẳng ra chuyện với câu đọng chữ thừa. Ai chả biết khâu viết văn là đục chữ đẽo câu, vậy mà gã vẫn câu thừa chữ thiếu. Chả là gã thiếu "lãng mạn văn hóa" thế nên văn vẻ cứ nhạt nhạt thèo lèo như nước ốc ao bèo làm sao ấy.
Ông dế mèn ngửa cổ chai tu, khà một cái, khẽ đánh mắt:
- Vậy thì chú cứ viết ký như ông ấm đất ấy đi. Có người hỏi ông làm thế nào để viết ký cho hay, không nhạt. Ông ấm đất cho rằng phải có vốn văn hoá, vốn kiến thức. Kiến thức lịch sử, địa lý. Viết văn học sử thì không phải cứ có tài liệu nhiều mà đủ. Phải viết có hồn. Có tài liệu và có hồn.
Còn bọn mới thì chả có tài liệu gì, cứ phóng ý ra thôi. Rồi vận dụng các ngành nghệ thuật. Mà nói chung thì nghệ thuật nào chẳng phải vay mượn nghệ thuật khác để thể hiện. Như không chỉ tả mặt mà còn tả cái gáy, cái vai, tả người cúi xuống, cái mông cong lên, bóng lên, là vô tình đã phải vay mượn điêu khắc rồi.
Ông hươu vượn nhiều lắm. Lâu lắm... Gã không nghĩ mình ngủ trong lúc nhắm mắt, khi mở mắt ra đã thấy ngoại thành. Xe bò xuống dốc. Phía sau những mái nhà im ngủ.
Một mình ngồi lặc lè ở phía trước, ông vẫn khề khà nói chuyện với chai bia bơm:
- Lại có người nhận xét ông ấy viết tùy bút lan man, trộn lẫn thời gian không gian, chuyện này sọ qua chuyện kia, không phải không đúng. Nhưng kể chuyện là lan man vì bài văn đâu phải bản báo cáo mà phải có các mục 1, 2, 3. Cũng không phải bài thơ Đường luật có đề, thực, luận, kết....Lan man là hiện tượng. Nó không có hại gì về bố cục. Viết tùy bút đưa ra kết luận rõ ràng, dứt khoát. Có cách viết không kết luận, để tự người đọc kết luận lấy. Tôi thích lối thứ hai này của ông ấm đất.
Vẫn theo như ông ấy: Viết văn tức là kể một câu chuyện...Nhưng người kể chuyện không nên có giọng điệu giảng giải, không nên hướng dẫn cho độc giả. Mà cần tôn trọng sự thông minh và khả năng thẩm thấu tác phẩm theo cách riêng của họ. Bằng cách người viết cần viết một cách thông minh hơn mình...thông minh.
Cái đầu gã lắc đều theo nhịp xe. Xe chạy vặt. Lâu lâu lại dừng lúc ông dế mèn vãi đái. Gã ngủ chập chờn. Gã vẫn để cái đầu gập ghềnh theo bánh xe bò. Chán. Chấm hết. Gã suýt bật tiếng thở dài. Ông lại giở cái điếu cày ra hút. Khói thuốc có mùi tanh nhiều hơn khét. Hai bàn tay ông ta khum lại thật cẩn thận, be chặt đốm lửa và ve ve mắt liếc sang gã. Gã giật mình, khép vội mắt lại. Với mô-típ ông này, chỉ cần bật ra câu hỏi đại loại như ngã ba, rẽ trái là có chuyện. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Chỉ có giời biết. Chó dại từng mùa người dại quanh năm, bỗng khi không gã buột miệng nói ông ấm đất đang chiếu trên chiếu dưới ở trong làng với con khoang, con mực.
Thế là ông dế mèn lậu bậu mắt, miệng luận về ông ấm đất với chiếu hoa một cõi:
- Vậy sao! Ông khí khái và khảnh ăn. Không tạp uống như Nguyên Hồng. Tôi thấy vậy, chẳng có biết đúng không. Nói dại chứ tôi thấy ở ông ấy có một cái gì rất cổ điển, không phải chỉ trong văn mà trong lối sống, tác phong sống. Ông không chỉ viết văn cho đẹp mà còn sống đẹp nữa. Chất cổ điển chính là ở chỗ đó. Tôi nói thật đấy...Đấy.
Trong vỏ não là một khoảng trống không. Đôi khi gã cố nhắm mắt chỉ là để tránh cái háy háy con mắt của ông dế mèn. Gã vén mắt thấy cái điếu cầy gục gặc theo đầu con bò. Cuối cùng, gã ngủ nốt. Một giấc ngủ khô. Trong gió thoảng nghe mùi phân và mùi khói thuốc. Trời mù. Gió mát. Gã ngồi dậy. Bên đường có nhà le lói đỏ đèn qua cánh cửa khép hờ. Ông dế mèn nhảy khỏi xe, bước thẳng về phía ngôi nhà nọ.. Một con chó hực lên. Ông gõ cửa và hỏi : "Xin cho hỏi đi Hà Nội rẽ trái phải không?". Có tiếng làu nhàu: "Hà Nội nào?" - Và tiếp: "Hà Nội chừng bao nhiêu tuổi?" - "Một ngàn năm".
Ông Hà Nội ba đời uống nước máy nhong nhóng mắt với gã:
- Viết ký, tùy bút phải đọc nhiều như ông ấm đất. Thượng vàng hạ cám, đọc tuốt. Đọc xong phải có cái ý của mình, ghi lại. Có chỗ phải đánh dấu vì hay, để đọc lại. Đó là kinh nghiệm viết. Viết truyện, phải có nhân vật. Nhân vật truyện không bị gò bó trong không gian, thời gian. Ký không bắt buộc phải có nhân vật, hay đúng ra chỉ có bóng dáng của nhân vật. Nên nhân vật không cần có lý lịch rõ ràng. Ký ghi sự việc, ẩn ẩn hiện hiện thoáng một tý hình ảnh một nhân vật nào đó như...ông ấm đất đã từng. Không có tài không viết ký được.Tôi nghe láo quáo ở đâu đó nói ký là truyện ngắn, không đúng. Ông A. France, nhà xuất bản bảo ông viết truyện ngắn. Ông trả lời: "Tôi làm gì có thời giờ viết...truyện ngắn".
Gã căng mắt nhìn đêm tối mênh mang, đi thêm chút nữa nghe tiếng chó sủa. Từ xa, có một đốm sáng mông lung. Ông dế mèn sục vào đốm sáng như con thiêu thân. Đốm sáng lay lay nọ phát ra từ ngọn đèn, treo đu đưa dưới mái hiên một căn nhà bên đường. Một người đàn bà đang sàng cái gì đó trong sân. Ông đánh tiếng. Người đàn bà bước ra. Con chó nhũng nhẵng sủa. Ông hỏi: "Phố Trần Hưng Đạo ở đâu" - "Nhiều Trần Hưng Đạo lắm, đợi vào hỏi đã". Một người đàn ông để ria mép, ngậm píp, cầm ba-toong theo bà đi ra. Bà quay lại nói với ông này: "Có người hỏi thăm ông Trần Hưng Đạo".
Gã suýt giật mình cái thót, ông đây trông rất quen quen...Mà quen quá lắm. Gã dòm thấy ông quen quen đang lắc đầu, đờ đẫn cười và to nhỏ với ông dế mèn:
- Ừ thì như ông đã biết đấy...Chẳng ai có dũng khí được đâu, kể cả Phan Khôi, và tôi. Chẳng sợ rượu vào nói cà khịa, phiền, thế nên tôi đã nói với ông: "Không phải tôi sợ nói sai mà sợ nói đúng mới gay go!". Tôi vẫn được tiếng là ngang bướng. Vậy mà...
Vậy mà lần uống rượu với Đồ Phồn, tôi khóc: "Tôi được như thế này là vì biết sợ".
Trời sáng hẳn. Ông dế mèn tấp vào gốc cây bên đường vẩy vẩy làm một bãi thật to.
Xong, tay lần xuống nhay nhay đáy quần và trở lại xe. Ông hỏi gã: "Đêm qua chú ngủ ngon không?". Mắt dòm xa thấy một ngã ba, không biết rẽ trái khúc nào, gã thấy ông rối như gà mắc tóc, nửa như nói một mình, nửa như hỏi: "Đây là đâu ta?".
Tất nhiên gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã...không biết. Ông dế mèn lấy chai bia bơm quay trở lại với ông quen quen vừa rồi. Cả hai cùng ngồi xuống gần rặng chuối bên hè. Ông quen quen tay đang cầm chai cuốc lủi, tay vỗ vỗ đầu con chó nằm cạnh. Ông cười khặc một cái chó khạc xương và nói với ông dế mèn: "Tôi từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen..."
Gã thiếp đi. Con bò kéo chiếc xe vào thành phố lúc nào gã cũng chẳng hay. Bên ghế đá công viên có người phu quét đường đêm đêm nghe tiếng đại bác vọng về...
***
Xe vào đến Hà Nội, trời không mây nên càng rối. Gã ngại lạc mất chiếc xe bò, sẽ lạc luôn cả đường. Nhưng quả thực con bò đã biến mất, như thể một cỗ xe ma. Như ông dế mèn vừa biết mất như con ma sống, ma đến tận xương thịt. Gã căng óc nhớ có ngã ba không? Theo gã thì...không. Nhưng biết đâu với con bò lại khác! Rút điện thoại hỏi con bò. Màn hình lóe lên, một tiếng bíp nhỏ, rồi tắt ngấm, rồi lóe lên. Trên màn ảnh, con bò đang bước ngoằn ngoèo.... Số là vì gã vừa được bổ xung văn hóa đầy ấn tượng, bước theo vệt trâu đái của con bò, gã đột biến tư duy ra đã làm văn hóa thì phải có văn chương. Tan trọn vẹn vào đêm giữa ban ngày trên cơ sở văn hóa cực kỳ xung kích này, gã hội chứng ra với một cuốn sách hay là có văn có truyện. Vì vậy chân gã cứ thung thăng mà bước theo văn mà không bị vướng vào câu. Tay gã cứ tự do vung vẩy theo truyện mà không ngại va vào chữ. Thế là êm. Vậy mà đã 8 giờ hơn.
Miệng gã lủng bủng ngay ngã ba đường giữa lòng phố thị: Mày đúng là thằng rồ hoa mướp.
***
Gã quan sát bên lề đường nhà ông ấm đất cây nào là cây me, cây sấu? Nhìn cửa nào là cửa thật, cửa giả. Rồi chả hiểu nghĩ sao gã móc cái điện thoại cầm tay bấm số ông ấm đất. Cái máy kêu tít tít. Từ lề đường Trần Hưng Đạo nhìn lên nhà số 90 ở trên tầng 3, gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã gọi vọng lên như gọi đò sang sông. Không ai trả lời.
Ắng im. Gã bò lên cầu thang để khoe chữ...
Gã gõ cửa và hỏi:
- Có ai ở nhà không?.
Ông ấm đất thò đầu ra:
- Đi vắng rồi.
Phi Ngọc Hùng
NOV 6 - 2025
***
13 - Vòng Vía
Truyện Ngắn - Bùi Thị Như Lan
Đêm tháng năm. Gió mang hơi thở của đá từng đợt, từng cơn ào ạt trượt từ núi xuống, ùa ập vào nhà sàn, nhấc bổng hương thơm man mác của gạo nương bay lượn. Gió lùa ngón tay vô hình bới mái tóc, làm những sợi tóc màu mây trên trán ta dựng ngược lên, nghiêng ngả, rối tung. Gió vô tư lôi nhau lách qua vách ngăn, vào trong buồng, miên man cùng mé thằng con ta đếm tháng ngày trôi. Gió mơn man ve vuốt gương mặt vô tư, trong trẻo rồi nhẹ lướt ngang người con trai, vỗ nhè nhẹ cho nó trôi vào giấc ngủ say nồng. Gió nô đùa cùng vật dụng trong không gian nhỏ bé của lòng nhà, ngân lên tiếng lanh canh bay bổng... Bất chợt, gió thích thú nhởn nhơ leo lên những cây cột gỗ, ôm ấp, bủa vây, hòa quyện vào quầng sáng diệu kỳ từ vòng vía của con trai lắc lư, nhảy nhót làm nên vũ điệu ảo huyền, sống động...
Ta khẽ thở dài, bó gối lặng lẽ ngắm thằng con say sưa ngon giấc. Gương mặt nó ngời ngợi, bừng rạng. Lửa bếp, nhập cùng hồn sáng vòng vía con đeo trên người, tạo quầng sáng phiêu diêu, xoay chuyển trong không gian nhỏ bé của gia đình ta. Con trai à, còn mấy ngày nữa là con bước vào thời khắc làm thằng trai mười sáu tuổi. Cái tuổi ấy ta tính từ lúc bồng con trên tay.
Nhanh thật! Vừa mới hôm nào con tựa như cây mầm nhỏ nhoi, yếu ớt chồi lên trên đá, qua bao tháng ngày đồng hành cùng nỗi cay cực của ta mà lớn dần lên, phổng phao. Bây giờ con là thằng bé khôi ngô, tuấn tú, thông minh... Ừ, nhìn con lớn lên từng ngày mà ta thấy những vết cắt tứa máu trong lòng thành sẹo. Cái sẹo ấy tuy chai lỳ, sơ cứng trong bụng ta, thế nhưng mỗi năm một lần, vào độ tiết trời đầu hè đong đầy gió thì sẹo lại sưng tấy, nhức buốt như thể có ai đó cầm cật giang, cật nứa cắt cứa, băm vằm.
Giá như ta có thể chia sẻ cùng con thì tốt biết mấy! Là ta nghĩ thế thôi con ạ, nếu con có hỏi thì nếp nghĩ trong đầu ta sẽ mất phương hướng, ta trả lời quanh quoéo, qua quít, rồi biến thành người nói dối trước sự trong trẻo của con thôi. Ta đã từng dối trá rồi phải không con? Nhưng mà ta không thể nói ra sự thật phũ phàng ấy, vì ta lo nếu như ta nói ra những điều chưa thể nói thì sự tủi thân, hờn giận của con bùng nổ, kéo theo những hệ lụy khó lường. Và biết đâu đấy, từ cay đắng, phũ phàng, con không thể trở thành thằng trai đi bằng đôi chân vững chãi trên đá núi, mây ngàn này...
Ngày con là thằng bé tóc khét mùi nắng, con hỏi ta, sao mé không biết nói, cười mà suốt ngày giống như cái bóng lầm lụi thế? Bàn chân mé sao chỉ có một bên thôi? Còn một bàn chân nữa đâu rồi? Sao nhà mình không có họ hàng bên ngoại hả cha?... Những câu hỏi vu vơ của con làm bụng ta có lửa cháy. Con hỏi mãi, hỏi nhiều lần làm ta bối rối, ta thở dài rồi bảo, con ăn nhiều vào, sau này cao lớn ngang ta thì con sẽ biết thôi. Từ hôm ấy, con không hỏi nữa nhưng thư thoảng đo chiều cao với ta.
Lâu rồi ta nghĩ con quên lời hỏi, không nhớ chuyện chiều cao nữa, thế nhưng ta đã nhầm phải không con? Mấy ngày trước con bảo cao hơn ta rồi, con muốn biết chuyện về mé... Hóa ra, con vẫn canh cánh nỗi buồn mà không nói. Ta phải nói với con thế nào đây? Mười sáu năm qua đi mà cái tên mé con ta không biết, bà ấy ở nơi nào đến đây ta cũng không rành, vậy thì làm sao ta có thể nói ngọn ngành cùng con?
Ta những tưởng cuộc đời của một gã trai trẻ bị lưỡi lửa nơi thâm sơn cùng cốc liếm quanh sau vụ cháy rừng năm xưa sẽ an bài với định mệnh. Lửa làm cho ta mất cha mé. Lửa ngăn ước mơ trở thành thầy giáo bản của ta... Nếu như gương mặt, thân thể ta không bị biến dạng méo mó, dị mọ thì ta cũng sẽ có một cuộc sống khác, một cuộc đời rộng mở...Nhưng ta không buồn vì điều ấy. Ta còn sống được ở bản Mạ này là may mắn và phúc phần rồi, ta đâu mong mỏi gì hơn? Và ta có một mái ấm gia đình cùng hai mé con. Thế là mãn nguyện lắm rồi.
Ừ, cũng vào một chiều nhập nhoạng giữa lằn ranh của ánh sáng và bóng tối trong tiết trời ăm ắp sương, cuộc sống đơn thân của gã đàn ông như ta đổi khác bởi sự xuất hiện của mé con cùng sinh linh bé bỏng là con. Dường như tạo hóa trao con vào tay ta như một sự ngẫu nhiên nhưng không vô tình. Ta ôm ấp, đón con trong vòng tay chai sần, gân guốc mà ngỡ lạc vào cõi mê. Tiếng khóc của con yếu ớt giữa gian nhà tràn căng trống trải làm tâm can ta rối bời. Đấy, mùa nối mùa chạy qua, nhưng cái nút thắt ngày ta có hai mé con vẫn nguyên sự thảng thốt, bàng hoàng...
*
* *
Bản Mạ của ta nằm vắt ngang sườn núi Phja Vài, bao quanh là rừng đại ngàn xanh rợp chân mây. Từ đỉnh núi đặc sương ngó xuống, bản tựa con ngựa khoang, cổ đeo chuỗi lục lạc hoa trắng, đầu vươn cao, bờm dựng ngược hòa quyện vào ngút ngát mây, bốn vó của nó vững chãi nhoài bước từ những khoảnh màu nham nhở đỏ, lam, vàng...về hướng mặt trời. Trên mình ngựa khoang cõng những nếp nhà sàn bốn mùa rực rỡ hoa trái, thấp thoáng mây bay.
Nhà ta ở giữa đỉnh đầu của ngựa khoang, là nơi cao nhất bản, cũng cao nhất xã. Nơi này giáp ranh với hai xã liền kề, thế nên người bản gọi bằng cái tên nôm na ngã ba đầu ngựa. Người trên núi xuống, người dưới thung lên thường lấy nhà ta làm chốn dừng chân, uống chút nước lá mát, ăn vài ba trái cây trong vườn, lấy lại nhịp thở trước khi bước tiếp hành trình.
Từ khi bản Mạ có con đường láng nhựa chạy vòng quanh, leo qua những con dốc dài, dốc ngắn lên bản Nà Xa, Nà Háy...trên đầu nguồn con nước, rồi thong thả xuôi thị trấn thì cuộc sống người dân đỡ khổ. Xuống huyện không phải đi bộ như trước, có ô tô khách đón đầu bản. Nhiều người trong bản bây giờ khắc tự đi bằng xe máy. Có con lợn, con gà, quả hồng, quả quít... không phải cho lên lưng ngựa thồ đi bán từ nửa đêm như ngày trước nữa. Nhiều thương lái dưới chợ huyện lên nhà hỏi mua. Nếu không bán cho họ thì cứ mang ra ngoài rìa đường bày bán cũng có người mua. Thuận tiện lắm.
Vẫn biết cuộc sống khá lên, thế nhưng bản Mạ không yên bình. Những con đường mòn trên núi, trong rừng bỗng rộng rênh mãi ra. Ô tô chở hàng kêu phành phành lên xuống đông như mùa cây rụng lá. Người lạ ở đâu đó già trẻ, trai gái kéo đến từng tốp, từng hàng đông lắm. Họ đến núi Phja Vài để đào đá, lấy quặng từ trong lòng núi chở đi. Người từ các bản trong vùng bỏ ruộng nương, nườm nượp vào khoét núi, cõng quặng thuê. Đi làm lấy tiền nhanh hơn trồng ra hạt thóc, bắp ngô. Cái bụng nhờ có tiền mà căng đẫy. Trẻ con các bản xung quanh núi Phja Vài mới hơn chục tuổi đã bỏ học chữ, mê mải theo chân người lớn kiếm tiền.
Ngày trước bản Mạ êm đềm, thanh bình, bây giờ bỗng trở nên huyên náo trong vòng xoáy của người, xe cộ. Bản trên cao mà bụi ngày một nhiều. Quầng bụi đỏ ối một vùng. Bụi bám vào lá rừng dày đến nỗi cành cây trĩu xuống. Đến mùa mưa lá cây mới được gột rửa, nước chảy xuống khe núi đỏ rực. Suối Nậm Ri chạy qua cổ con ngựa ngày trước đeo lục lạc màu trắng, bây giờ cũng bị nhuộm đỏ. Người bản mỗi khi ra đường về nhà là đầu tóc, quần áo phủ dày bụi. Cũng vì thế mà ngày nắng ráo cũng như khi mưa to hễ có việc ra đường đi xuống chợ, hay đến nhà đám ăn cỗ là khoác áo mưa.
Ta không biết ông chủ khai thác quặng là ai, nghe người bản kháo nhau, ông chủ áng chừng hơn ba mươi tuổi, đầu cạo trọc, cái bụng phưỡn về phía trước nặng nề như người đàn bà mang bầu sắp đến kỳ ở cữ. Nghe nói đây là cháu vợ của một vị chức sắc to lắm. Là nghe phong thanh thế, chứ thật giả ra sao cũng không nắm rõ. Người bản nói thế thì nghe thế. Ông chủ thoắt ẩn, thoắt hiện, thư thoảng lên trên này bằng chiếc xe ô tô đen nhoáng. Nó chỉ to bằng ba tảng đá mồ côi cộng lại, thế nhưng chạy nhanh hơn con chim bay. Việc cai quản, thuê người khoét quặng trong núi do khoảng hai chục người đàn ông, mặt mũi ai cũng bặm trợn, hùng hổ. Trong đám ấy, người có vết sẹo chạy từ đuôi mắt xuống cằm làm thủ lĩnh.
Quặng khai thác xong chở đi đâu thì không ai biết. Người ta đục núi lấy quặng để làm gì thì ai mà biết được. Cũng không biết ai cho phép họ vào cày xới rừng, khoét rỗng núi như thế. Người dân hỏi chủ tịch, bí thư xã thì bảo, ông chủ có giấy trên tỉnh, trên huyện cho phép rồi. Cái giấy phép ấy ai là người kiểm tra? Chịu thôi, không tò mò. Người bản là thế. Không phải việc của nhà mình hay của dòng tộc thì cũng không thắc mắc nhiều cho cái đầu nó nặng. Vả lại, từ khi mọc ra chỗ khai thác quặng thì dân quanh vùng có việc làm, kiếm tiền dễ như người ta nhắm mắt, mở mắt, thế nên cái miệng cứ thế ngậm lại.
Người bản không nghĩ nhưng cái đầu của người làm công an xã thì phải nghĩ nhiều. Địa bàn này giáp ranh các xã trên núi Phja Vài, cách nơi khai thác quặng vài trăm nhịp thở thôi. Từ ngày bổ bụng núi lôi quặng ra, đẻ ra nhiều chuyện phức tạp. Ngày trước người bản đi ra khỏi ngõ, nhà mở cửa không phải đóng. Trâu, bò thả vào rừng khắc lớn, đến chiều tối thì lùa đàn, con nọ nối đuôi con kia tự kéo về chuồng. Con gà, con lợn thả rông chật vườn. Nhà nào cũng có nhiều, chẳng ai lấy của hàng xóm mang về nhà mình.
Bây giờ nạn trộm cắp, cướp giật diễn ra thường xuyên. Chuyện mất trâu, bò, dê, gà... ở quanh vùng xảy ra như người ta ăn cơm. Đấy, vừa mới hôm trước lực lượng công an, dân quân xã phải tập trung trấn áp đám người dữ dằn, họ vì một vài bao quặng nhặt lại ở bãi đá thải mà chém nhau đến sứt đầu, mẻ trán. Người bản ở trong nhà của mình mà giật mình. Đêm ngủ chập chờn, không đẫy giấc, lo thằng trộm đến cướp miếng ăn của con cháu. Gà chưa lên chuồng đã phải cài then, khóa cổng... Mà canh chừng người gian thì khó lắm, mình ở chỗ sáng, còn nó ngồi chỗ tối rình mò.
Ôi dà! Nhiều chuyện lắm, toàn điều không hay, không muốn nhắc đến. Thế nên anh Sỉnh, Trưởng công an xã mới đề cử ta làm công an viên. Ừ, làm việc gì tốt cho dân bản thì làm. Ta nói với anh Sỉnh, em tham gia giữ an ninh thì thích rồi, chỉ hiềm một nỗi, cái mặt em nham nhở, nhăn nhúm dị dạng thế này, có ngại không? Anh Sính khoát tay, nói chắc như đinh đóng cột: "Mặt mũi em thế là do cứu rừng, vùng này ai mà không biết. Làm việc này phức tạp, đụng chạm nhiều. Cốt cái tâm sáng, nếp nghĩ tốt, người đi chắc, đứng thẳng...".
*
* *
Chiều ném bột tím vào rừng. Những sắc tím pha bụi đỏ mênh mang, phiêu diêu đậm dần, trải dài vô tận trong không gian tràn gió. Sương tí tách rơi. Bản trên cao là thế. Tiết trời vào đầu hè rồi nhưng nắng tới muộn, có nơi lá rừng chưa với được nắng mà bóng chiều lại đến rồi, sương cũng lũ lượt rủ nhau kéo về nhanh. Ngày ngắn mà đêm dài. Ta nhẩn nha, chậm dãi thong thả địu bó lá từ rừng về nhà. Năm nào trước ngày mùng năm, tháng năm như đã thành thông lệ, người bản không đi đào quặng thuê nữa mà nô nức vào rừng hái lá. Hái lá đủ cho nhà mình xong, hái hộ nhà người khác. Lá thì nhiều loại, dùng nhiều việc. Lá mát để đun nước uống sáng sớm cho mát mẻ, không mụn nhọt. Lá ngâm gạo nếp làm xôi ngũ sắc cúng tiên tổ... Riêng lá "Mạy ta lạng" nhà nào cũng phải leo lên núi lấy bằng được mang về, để từ tờ mờ sáng mùng năm, trước lúc mặt trời lên, cắm xuống nương ngô, ruộng lúa ngăn sâu bọ phá hoại.
Còn chừng hơn hai sải chân là ta trượt dốc rừng xuống đường. Tiếng ô tô gầm rú vang rền trời đất đập vào tai làm ta nhăn mặt. Đã cuối ngày mà ô tô bốn chân, sáu chân địu quặng vẫn đua nhau chạy ầm ầm trên đường núi. Bỗng tiếng rít "Ke...e..e...ke...é...t...két..." chói tai thảng thốt dội vào đá, rơi vào hoang vu...
Ta nhìn sững vào chiếc ô tô đen nhẫy, nó không to kềnh, không địu quặng, mà tựa con bọ giang khổng lồ thôi. Chẳng biết trong bụng nó có nhiều người không, thế nhưng sau tiếng rít, có ai đó đẩy người đàn bà từ trên xe xuống giữa đường, người ấy chưa kịp đứng dậy, nó lao vút đi như tên bắn.
Tích tắc bất thường ấy chưa qua nửa nhịp thở, cái mắt ta chưa kịp chớp, người đàn bà lồm cồm khom lưng đứng chưa vững thì từ phía sau, ô tô cõng quặng lao tới, hất người ấy ngã lăn ra... Âm thanh rú rít của ô tô nặng quặng gào lên hoang dại, rầm rầm lao nhanh xuống núi, để lại phía sau người đàn bà bất tỉnh, máu tuôn đầm đìa giữa đám bụi đỏ quạch trong trời chiều...
Bàng hoàng, thảng thốt. Ta cuống cuồng gọi anh Sỉnh mang xe máy, bế người đàn bà có cái bụng lùm lùm, máu me be bét xuống bệnh viện huyện... Người ấy là mé con. Mé con không giấy tờ tùy thân, chỉ có chiếc bộc vải, trong đó đôi vòng vía bằng bạc được bọc kỹ giữa mớ quần áo hỗn tạp cùng một nửa chiếc ảnh bị xé.
Mà đôi vòng vía ấy khác nhau đến lạ kỳ. Một chiếc vòng vía hình hoa mộc vương nhỏ nhắn, giản dị, đẹp thanh tao. Chín bông hoa dính kết cùng chín chiếc lá, tựa như đang tỏa ra hương thơm dìu dịu, quyến rũ.
Còn chiếc vòng vía thứ hai to hơn vòng vía bình thường. Trên mình nó là hai con rắn có mào, chụm đầu, thè lưỡi nâng hình mặt trời. Những đường nét chạm trổ tinh vi, cầu kỳ, khiến cho từng chiếc vảy trên mình hai con rắn nom rõ nét, như thể nó đang oằn mình trườn tới. Song, điều đáng sợ hơn đó là mắt đôi rắn này ánh lên tia giận dữ, quoái đản, rõ khiếp.
Không biết có phải do ông "phạ" thương mé con mà ngay sáng hôm sau, con đã cất tiếng khóc chào đời trong tiếng dao kéo rợn người cùng mùi thuốc ete nồng bay. Ngày hôm ấy là Tết Đoan Ngọ, mùng năm, tháng năm. Năm ấy, lần đầu ta không làm xôi ngũ sắc cúng tổ tiên, không đun lá mát, không cắm lá xuống ruộng... Ta ở trong bệnh viện chăm sóc hai mé con. Dường như, do duyên trời định, nên ta không mảy may suy nghĩ khi nhận với các bác sĩ bệnh viện ta là chồng của mé con, là cha của con.
Hai mé con con nằm viện ba tháng thì ta đón về nhà. Bác sĩ dặn dò kỹ, mé con bị ch?n thương não, giờ đã ổn, nhưng không được làm mé con suy nghĩ, lo lắng. Nếu sống trong môi trường vui vẻ, hạnh phúc ấm êm, sẽ biến chuyển tốt.
Ta không biết tại sao mé con không nói được, cũng không hiểu có phải do tai nạn gây ra hay là mé con không biết nói từ trước. Mười sáu mùa nắng mưa qua đi, mười sáu lần làm Tết Đoan ngọ, thế nhưng không một lần cái miệng mé con biết nói. Ta không biết mé con vui hay buồn, sướng hay khổ khi sống dưới mái nhà cùng ta. Cho đến bây giờ ta không phân định nổi, tình cảm ta dành cho mé con như thế có đúng không?
Làm sao đếm nổi những đêm ta thao thức ngồi tựa khung cửa trước buồng mé con nằm. Nghe rõ tiếng thở thao thiết của mé con nhưng ta không thể cất bước vào trong ấy. Vì sao ư? Vì ta tôn trọng sự lựa chọn của mé con. Cho dù mé con không nói ra, nhưng ánh mắt, cử chỉ của buổi sáng làm đầy tháng tuổi cho con đã nói rồi...
Sáng ngày Tết Đoan Ngọ năm con là đứa bé bảy tuổi. Cái tuổi mang vía lành của bé trai. Nắng vàng nhảy nhót trên tán lá rồi miên man chảy tràn khắp bản. Chim bách thanh hót ríu ran. Ta thắp hương trên ban thờ, xin tổ tiên đeo vòng vía của dòng tộc họ Lý cho con. Có lẽ khắp vùng núi Phja Vài này không người nào lại đeo ba chiếc vòng vía như thế. Con vừa ăn xôi ngũ sắc, vừa thích thú reo ầm lên vì có nhiều vòng bạc đẹp trên người. Tiếng cười rộn vang của con lan sang ta, sang mé con. Lần đầu ta thấy mé con cười.
Lúc ấy, bỗng nhiên cái miệng ta như có gió thổi. Ta nói nhiều, nhiều lắm, rằng ta thương hai mé con, rằng con đã là người họ Lý rồi, ta muốn bù đắp thiệt thòi cho hai người... Mé con nhẫn nại nghe, đến lúc ta cầm tay thì mé con rụt lại, gương mặt thoắt trắng bệch, miệng ú ớ muốn nói điều gì đó mà không thể nói được, mắt mé con ánh lên sự hoảng hốt. Bất ngờ, mé con vào buồng, lấy tấm ảnh xé đôi còn hình mé con, nhìn đăm đắm vào đó rồi òa khóc tức tưởi, con ôm chầm lấy mé khóc ré lên. Tiếng khóc của hai mé con như có trăm ngàn mũi tên nhọn bắn vào ta, cắt cứa, băm vằm vụn vỡ nếp nghĩ của ta... Từ đấy ta sống cùng hai mé con, chăm sóc con mà không than vãn, không ảo tưởng, không trách cứ...
*
* *
Thoắt đấy mà đã mười sáu năm. Bây giờ con học lớp mười một dưới trường nội trú huyện. Nhìn những tờ giấy khen dán trên vách gỗ, đủ nói lên con học giỏi đến nhường nào. Bước chân con phầm phập, rung chuyển cầu thang, tỏa ra sức vóc thằng trai khỏe khoắn. Không bao lâu nữa con sẽ như cánh chim bay đi xa, học cái hay, điều tốt. Giờ thì nỗi lo tụi người khai thác quặng thổ phỉ không còn nữa. Công an từ tỉnh xuống huyện, đến xã phối hợp với lực lượng chức năng giải tỏa khu vực khai thác quặng hơn chục năm nay rồi. Mỏ quặng trong bụng núi Phja Vài đã được ngủ yên.
Thế nhưng, vết sẹo trong ta vẫn bỏng rát. Ta canh cánh nỗi lo chưa tìm ra người đẩy mé con xuống đường. Người ấy có biết mé con không? Sao mé con lại ngồi trong chiếc xe sang trọng ấy? Còn người lái xe chở quặng cán mé con nữa... bây giờ họ ở đâu? Lương tâm họ có lúc nào đó cắn dứt không? Có phải mé con không biết nói từ trước, hay di chứng tai biến của tai nạn khiến mé con trở nên im lặng? Tấm ảnh xé đôi kia, người bí ẩn là ai?... những câu hỏi nhức buốt ấy xoáy tròn, cuộn lại rồi làm kén trong đầu ta... cho đến trưa nay.
Nắng nhuộm vàng núi rừng. Nắng kéo người lạ vào ngõ nhà ta. Bước chân lên cầu thang rón rén, nói lên cái chân quen đi đường bằng. Ta chưa kịp mời ngồi, thì người ấy bước tới, thả phịch thân hình phốp pháp xuống phản gỗ, cái miệng thở như bễ lò rèn, lúng túng:
- Chào công an xã.
Thoáng chút nhăn trán, nếp nghĩ trong đầu ta căng ra, rõ ràng người này chưa gặp bao giờ. Ta vừa chọn đỗ, vừa thủng thẳng:
- Ừ, uống nước đi, vừa pha đấy. Lên nhà ai chơi thế, còn đi xa không?
Cái đầu người lạ quay trước, ngó sau tựa như con sâu đo, rồi ậm ừ: - Lên trên xã này thôi.
Ta thăm dò: - Qua đây báo tạm trú à? Khách nhà ai đấy? Khách bản thì chủ nhà khắc báo mà.
Gương mặt đỏ au của khách thoáng ngẩn ra, bối rối. Người ấy ngập ngừng:
- Đến nhà công an xã nhờ một việc. Mong giúp cho...
- Có gì mà phải rào đón, cứ nói đi.
Người lạ thở dài thườn thượt, mặt thoáng biến sắc, tay người lạ run run, chìa ra nửa tấm ảnh bị xé. Trong nhịp thở gấp gáp, người ấy bảo, là lái xe cho người đàn ông trong ảnh, rằng người đàn ông này đang mắc bệnh ung thư di căn, mạng sống đếm từng ngày thôi. Ông ấy là chủ khu khai thác quặng trong núi Phja Vài ngày trước. Gia đình ông ta giàu có, nhưng bất hạnh. Hai người con trai của ông ta chết trong nghiện ngập. Ông ấy mong trước khi nhắm mắt, gặp người phụ nữ...
Ta sững sờ. Ngực ta thoắt đau nhức như thể ai đó đang cầm đá nhọn ghè vào.
Từ trong buồng, tiếng đập chân bành bạch liên tục dội ra, rồi tiếng khóc ai oán cất lên. Tiếng khóc như những vết dao liên hồi chém vào đá. Mé con khóc.
Miệng người lạ vẫn tuôn lời như thóc rơi vách máng.
Mé con cà nhắc thậm thịch nhào ra, một tay cầm cây gậy gỗ, tay kia nửa chiếc ảnh ố vàng, ném phịch xuống sàn nhà, mặt tím bầm giận dữ, cái miệng nhỏ nhắn liên tục há ra rồi ngậm vào... chừng mấy phút rồi đột nhiên, gào lên hoang dại:
- Ô...ô..ng...ông.. Th...ải... ông... đi ra... tôi kh...ông không...quen, ...khô...ông...không...không quen... đi...cút đi...
Người lạ hốt hoảng đứng phắt dậy, cái chân lùi dần...lùi dần rồi bổ nhào ra cổng trong tiếng nức nở, thổn thức của mé con.
*
* *
Đêm khuya. Những hạt sáng li ti từ vòng vía của con trai ngày thường bàng bạc, hai dòng xanh trắng lấp lánh như sao sa, bỗng nhiên đêm nay hồng rực lạ kỳ. Từng hạt, từng hạt như những cánh hoa hồng quấn quít, ôm ấp, loay xoay làm thành vòng tròn đỏ rực phiêu du, bay bổng. Và kìa, mé con đã ra ngoài từ bao giờ, dang tay tung hứng, loay xoay theo vũ điệu huyền diệu vòng vía, miệng mé con khe khẽ hát, gương mặt ngời ngợi trong tiếng gió ào ạt thổi.
Bùi Thị Như Lan
***
12- Người Dẫn Hôn Lễ
Truyyện Ngắn
Anh soi gương lần nữa để chỉnh lại chiếc nơ bướm trên cổ, trong gương phản chiếu một hình thể "bóng nhoáng". Chả hiểu chúng "nhoáng" từ đâu, bởi cặp kính trắng lóa, bởi mái tóc vuốt keo óng mượt hay bởi khuôn mặt lúc nào cũng trơn tru, nhẵn nhụi. Anh lấy mảnh giấy ra nhẩm lại lần nữa tên cô dâu chú rể, đây là việc cực kỳ cẩn thận, nếu nhầm lẫn giữa hai đám cưới buổi trưa và buổi tối thì có mà... mo!
Nhìn thiên hạ đi dự cưới sẽ đánh giá được tình hình phát triển của một Quốc gia. Càng ngày, người ta càng đầu tư nhiều vào áo quần, còn kiểu dáng cũng... thêm "cởi mở": Mấy đứa teen bắt chước phong cách các ngôi sao Hàn: diêm dúa và ẻo lả. Các "mợ" sồn sồn thường theo hai trường phái: Cổ truyền và Hiện đại. Nhưng đa số các "mợ" tự "design" nên coi kỳ kỳ: "Phái Cổ truyền" mặc những bộ áo dài nhung, gấm với đủ loại cườm, hoa văn rồng phượng dày đặc...trông hoành tráng và cổ kính như trong viện bảo tàng. "Phái tân thời" thì lại na ná như đang dự buổi lễ trao giải gì đó của... Hollywood: Các "mợ" thỏa sức để ngỏ cổ, ngỏ lưng, ngỏ ... vân vân ngỏ, mặc dù đôi khi cái sự ngỏ ấy lại... phản bội chủ nhân!
- Kính thưa quý vị, hôm nay, ngày lành tháng tốt , khách sạn chúng tôi được vinh dự tổ chức buổi lễ thành hôn cho đôi tân lang và tân nương...
Câu ấy anh nói nhuần nhuyễn về độ nhanh chậm, độ vang, độ dẻo đến mức làm mọi người liên tưởng đến cái máy ghi âm. Anh còn có một "chiêu độc" nữa: một bài thơ "ấn tượng" do chính anh "độc quyền sáng tác", và hiện nhiều kẻ đang "lăm le" muốn "vi phạm bản quyền":
Hôm nay đám cưới ...( tên cô dâu chú rể nào thì điền vào)
Gặp nhau như đôi chim nhỏ
Tung cánh bay bay trong gió
Xa xôi từ khắp miền quê
Duyên tình hẹn nhau hội ngộ
Kết tơ se chỉ hẹn thề
Đến ngày răng long đầu bạc
Cháu con tràn một giấc mơ...
Vỗ tay váng trời. Thời kinh tế thị trường buộc người ta phải nghĩ ra nhiều chi tiết cho một vấn đề với mục đích duy nhất là câu khách. Khách sạn này có chiêu " tắt đèn" tạo cảnh Thần tiên, xuất hiện các "thiên thần giáng thế" áo sống trắng toát, đôi cánh phất phơ, lù lù một đoàn, trên tay cầm ngọn nến dài nghều "đón đầu" cô dâu chú rể, dẫn từ cổng hoa lượn mấy vòng qua những "chặng đường" khúc khuỷu và "dừng bước" tại sân khấu. Người xem nếu "nhạy cảm" sẽ rất "hoang mang" trước khung cảnh "Thiên đường" tối mù kia với nến le lói và...rợn tóc gáy! Rồi lại một đoàn "nam thanh nữ tú" mặt mũi nom rất "kịch tính" rước từng tầng bánh kem to tướng... lừ lừ tiến vào, tiếp đến ... một tốp các trai trẻ ăn mặc trông na ná "lính Hoàng gia Ăng lê" chịu trách nhiệm "nắm tay dắt " các phụ huynh của cô dâu chú rể "đi đúng hướng". Mọi con mắt sẽ bắt đầu dồn vào "Đại gia đình hạnh phúc" khi họ được "dẫn giải" đến "đích" cuối là sân khấu.
Có trường hợp, bố chú rể dù đã chuẩn bị bài phát biểu trước cả tháng, nhưng do hồi hộp bởi sự "hoành tráng " của sân khấu với muôn đèn rực rỡ và phút im lặng theo dõi của gần một nghìn "khán giả hâm mộ" thế là ông... quên tịt và... lên cơn... đau bụng (!) Báo hại anh lại phải trổ tài "cứu nguy" để từng ấy khán giả đang ngặt nghẽo cười... ổn định lại trật tự !
Sau đó anh bắt đầu vai trò "đạo diễn" nhắc cô dâu chú rể "diễn" :
- Cười tươi tươi cho có vẻ tình cảm chút!
Anh nhắc khi thấy mặt chú rể cứ lạnh như băng, mặt cô dâu hằm hằm.
- Nắm tay cô dâu rồi cùng nhau cắt bánh chứ!
Anh lại nhắc. Đôi uyên ương mỉm cười, lia mũi dao vào cái bánh cưới đồ sộ gần chục tầng dầy cộp kem, hoa, trái ngất ngưởng như toà lâu đài. Rồi màn rót rượu tân hôn cho tháp li gồm mấy chục cái li xếp chồng chất và phải rót thật tỉ mẩn cho rượu len lỏi xuống từng li một...
- Rót chậm chậm thôi, vội gì?
Anh nhắc chú rể vì thấy anh này có vẻ sốt ruột.
- Thưa quý vị, để chứng minh cho tình yêu bất diệt của mình, chú rể sẽ trao cô dâu một nụ hôn... nồng cháy, xin quý vị tràng pháo tay động viên !"
Vốn đã quen hôn cô dâu ở những nơi "vắng và kín" giờ phải hôn "công minh chính đại", nhiều chú rể cứ lúng ta lúng túng còn cô dâu thì lo nhoè môi son, má hồng nên "đáp lại" cũng hững hờ... Thế là cái nụ "nồng cháy" ấy thường hoá ra "lạnh ngắt" !
Có đám cưới, vợ cũ của chú rể đến "quậy" bên ngoài và dọa vào "làm thịt" MC! (Vì họ cho là anh tiếp tay đắc lực) thế là anh còn phải phòng thân vài "đường quyền" nhỡ ra có gì thì... tự vệ! Có đám cưới, bố cô dâu "nhậu tới bến" rồi nổi máu mê... ca cải lương, sau khi đã "cầm " được micro, thế là "quyết không trả" cho MC, vừa "tự dẫn chương trình" rồi " mần " liên tục... ba bài vọng cổ lại toàn là chủ đề "phụ tình não nề "... khiến anh dở khóc, dở cười "xuống nước năn nỉ" mãi "thân phụ tân nương " mới chịu "nhường lại vị trí" !
Khi anh nói câu :
- Kính thưa quý vị, bây giờ là lúc chúng ta nâng cốc chia vui hạnh phúc cùng đôi bạn trẻ... Một-hai-ba zô!
Và thiên hạ bắt đầu cắm cúi vào " khai phá" món đầu tiên của buổi tiệc, công việc của anh mới đến hồi thảnh thơi chút chút... Anh ra chiếc ghế kín đáo gần sân khấu và ngồi xuống lặng lẽ...
Nhận phong bì thù lao, anh trở về căn phòng vắng vẻ. Nồi thịt cũ trên bếp đậy nắp không kín, kiến đang mở tiệc liên hoan. Chồng bát đĩa chưa rửa bắt đầu bốc mùi khó ngửi... Anh nằm vật ra giường, nơi góc chăn bỗng phảng phất mùi nước hoa dịu dàng, át mùi bát đĩa một lát... Anh nhớ lại đêm thứ Bảy, cô ca sĩ Hạ Huyền đã trốn chồng ghé nhà anh... Từ khi vợ anh bỏ đi, nhiều người phụ nữ đã nằm trên chiếc giường này rồi họ lần lượt về ...
Anh có học hát mấy năm nhưng "hình thể" của anh lại lấn lướt "tài năng", nói một cách khác là người ta "ưa nhìn" anh hơn là "ưa nghe" anh hát. Nên nếu hát "khuyến mãi" ở các phong trào văn nghệ "tự nguyện" thì rất nhiều fan hâm mộ nhưng kiếm sống bằng nghề hát thì gian nan vô cùng. Cát-sê mỗi bài thường "khiêm nhường" đến tận cùng, nhận xong mà rơi nước mắt nhưng anh vẫn cắn răng không dám tỏ thái độ với các ngôi sao đương thời có khi được trả gấp 100 lần. Tình cờ, anh trở thành MC cho một cuộc hôn lễ và anh thể hiện mình rất thành công trong trong vai trò này.
Vẻ ngoài bóng bẩy, đẹp trai của anh dễ dàng ăn điểm trong mắt phụ nữ, nhất là những phụ nữ "ưa hoàn hảo ". Họ dan díu cùng anh, lên giường với anh, thậm chí yêu đương rất day dứt... nhưng khi anh cầu hôn, họ bắt đầu ngắc nga ngắc ngứ... rồi họ có những cái cớ để "câu giờ": Nào là hoàn cảnh gia đình, công việc, thời gian... rất mù mờ khó hiểu...
Rồi anh cũng ngộ ra khi một ngày, anh đột ngột gặp người tình của mình: khuôn mặt nàng rạng ngời hạnh phúc, cong lưng, áp ngực ngồi sau chiếc @ láng coóng của tay chủ quán Phở... và anh chợt thấm thía điều giản đơn...
Chiều nay, ông Giám đốc Khách sạn Prince, khách sạn số một Thành phố gọi anh lên phòng riêng. Anh rón rén gõ cửa, đích thân Giám đốc ra mở và nhã nhặn mời anh ngồi xuống bộ sa-lông sang trọng. Ông còn tự tay rót ly trà thơm lựng, mỉm cười mời anh, rồi bảo:
- Thế này nhé, đám cưới chiều nay là của một Đại gia, tôi muốn tìm người dẫn chương trình hoàn hảo nên mời bằng được cậu.
Anh bối rối. Trong nghề, có quy ước ngầm là không đạp lên niêu cơm của nhau. Anh biết khách sạn Prince là nơi Ngọc Thúy, cô MC xinh đẹp đã dẫn đám cưới bao năm nay, nếu anh đột ngột nhảy vào như thế cũng khó nhìn nhau. Anh chần chừ:
- Thưa, Giám đốc báo cho em gấp quá, em lại nhận dẫn một đám cưới bên khách sạn Royal rồi... ở đây có cô Thúy đã quen...
- Không - Ông giám đốc khoát tay - Cô Thúy dẫn nghiêm trang quá, chú rể là một Đại gia Việt kiều nhưng ... - Ông trầm ngâm một chút và thầm thì thân mật - Hồi còn nhỏ ở Việt Nam, ông này bán kẹo kéo dạo, rất thích pha trò và hát những bài nhạc nhại... Tôi nghĩ rồi, chỉ có cậu là thạo món này thôi.
- Nhưng đám cưới mà pha trò... Còn nhiều thành phần tham dự nữa ...
- Cậu không nên bình luận nhiều quá. Khách mời là bạn của chủ nhân, họ sẽ phù hợp sở thích của nhau. Chú rể là người giàu có, ông ta có thể mua cả tôi. Tôi trả thù lao cho cậu gấp 10 lần. Cậu nhận không thì trả lời luôn!
Anh lí nhí nhận lời và vội vã ra về vì ngại chạm mặt Ngọc Thúy.
- Kính thưa quý vị, hôm nay, ngày lành tháng tốt, khách sạn chúng tôi được vinh dự tổ chức buổi lễ thành hôn cho đôi tân lang Tony Trần và tân nương Nguyễn Thị Lan...
Âm thanh quen quen. Tiếp đến, anh hào sảng ngâm bài thơ "độc quyền". Đèn phụt tắt. "Đám thiên thần" bắt đầu "dẫn dắt" cô dâu chú rể "vòng vèo" đến "Thiên đường" tối mù . Anh pha trò: "Chú rể có thể tranh thủ hôn cô dâu mà thiên thần không biết đâu!" Tiếng cười rộ lên. Đèn bật sáng. Anh nói :
- Xin mời quý vị hướng lên sân khấu để cùng chúc phúc cho Gia đình cô dâu chú rể ...
Bỗng anh ngắc ngứ vì nhận ra cô dâu... Lan ! Đúng là Lan ! Mới đầu anh chỉ nghĩ trùng tên... người vợ đã bỏ anh ra đi...Anh đưa mắt qua "tân lang", người đàn ông gấp đôi tuổi nàng, cao chưa đến mét rưỡi, khuôn mặt béo mập cùng cặp mắt ti hí, rồi anh ngắm lại khuôn mặt xinh đẹp của người vợ xưa... Lan nhìn anh mỉm cười... tự hào. Cô dâu chú rể bắt đầu cắt bánh, rót rượu và dàn nhạc trỗi lên khúc nhạc vui vẻ... Anh cầm micro và cất lên một bài hát vui nhộn :
Ngày ấy yêu em không làm sao biết tên
Nên anh cứ đợi chờ có dịp làm quen...
Tỏ tình nghe anh nói
Nói mà run quá đi thôi...
...Ngày cưới anh đưa em về bên bến mơ
Bao nhiêu gã đợi chờ thất vọng ngẩn ngơ...
Tự dưng câu chuyện 10 năm trước ùa về... Ngày anh yêu thầm Lan mỗi khi nàng tan học đi qua cổng nhà anh... rồi anh kiếm cớ làm quen, ngày họ yêu nhau vượt qua sự cấm đoán của gia đình vì bố mẹ Lan không chấp nhận nghề "xướng ca vô loài" của anh... Ngày cưới giản dị và vui tươi của họ... rồi ngày nàng không chịu nổi những gian nan của cuộc sống mà bỏ anh đi... Hôm nay, anh đang hát và làm trò vui cho đám cưới của nàng với gã đàn ông "mặt thịt" kia... Có gì đó nghẹn nơi cổ và cay cay nơi mí mắt. Giọng anh lạc đi và anh thấy mấy tay trong ban nhạc nhìn anh ngạc nhiên.
-Thưa quý vị, để chứng minh cho tình yêu bất diệt của mình, chú rể sẽ trao cô dâu một nụ hôn... nồng cháy, xin quý vị tràng pháo tay động viên !
Đây là phần "hấp dẫn nhất" trong chương trình, những tràng pháo tay động viên váng trời. Tay "mặt thịt, mắt híp " nghiêng đầu, kiễng chân đặt lên đôi môi chúm chím của Lan nụ hôn say mê, kiêu hãnh... Anh quay đi, bước nhanh từ sân khấu xuống, đi qua các dãy bàn tràn ngập bia rượu và thức ăn ngon, đi qua những bộ quần áo sặc sỡ, những bộ trang sức kệch cỡm cùng những nụ cười hể hả trên những khuôn mặt nung núc, bự phấn son.... Anh nghe có tiếng gọi sau lưng. Kệ, anh không quay lại. Viên quản lý khách sạn đã đuổi kịp anh :
- Cậu bị điên sao? Làm hỏng một hợp đồng hậu hĩ thế ?
- Xin lỗi. Tôi bỏ nghề từ hôm nay !
- Quay lại đi... chúng tôi biết chữa cháy thế nào - Viên quản lý rút ra tập tiền dày cộp đưa anh - Cậu nhận tạm, chúng tôi sẽ đưa thêm sau...
- Ông cất đi !
Anh quát lên rồi hạ giọng, cúi xuống nói trước sự sững sờ của viên quản lý :
- Ông gọi cô Ngọc Thúy và bảo tôi tặng toàn bộ tiền thù lao cho cô ấy. Chào ông !
Anh ngạc nhiên khi thấy Ngọc Thúy cũng đứng ở bãi gửi xe. Bước đến bên anh, nàng bảo :
- Em hiểu tất cả rồi anh ạ. Em cũng bỏ nghề. Anh chờ em đi với.
- Em...
Anh chỉ nói vậy và nàng nhẹ nhàng ngồi xuống sau chiếc xe cũ kỹ của anh. Xe lao vút đi...
Viên quản lý khách sạn đứng há hốc mồm một lúc rồi ôm đầu, chạy vội vào đám cưới đang náo loạn.
Vũ Thanh Hoa
***
11- Cọn Nước Đôi
1
Bùi Thị Như Lan
Tôi dựa lưng vào gốc cây kháo già bên bờ suối Nậm Le, lặng lẽ nhìn ngắm không biết chán hai cái cọn nước đang nhẫn nại vòng quay. Những tiếng "cót... két...ụp...xòa...xòa" mạnh mẽ của cọn nước đôi bay bổng, phiêu diêu như muốn lấn lướt âm thanh réo dắt muôn đời của tụi nước nhàn hạ nô đùa, chạy đuổi nhau dưới lòng suối Nậm Le. Tôi đứng từ lúc những hạt nước li ti trốn vào đám mây trôi bồng bềnh, chốc chốc bị gió lôi kéo, tung từng đám bụi trắng đậu trên đám hoa mí mèng, đến lúc những bụi nước ngày một dày thêm, có vẻ như nặng nề khi bấu víu trên lá cây, ngọn cỏ, cánh hoa thì tôi vẫn mải mê nhìn ngắm, mặc cho vai áo chàm ướt dượt. Tôi muốn con mắt xuyên qua cọn nước đôi, nhìn thật lâu vào vòng tròn chắc chắn được kết nối bằng những gióng tre ngà vàng rực, để rồi mỗi vòng quay, nước đan xen, xòe nở màu trắng tinh khôi, thanh tao làm nên hai đóa hoa nước sống động, hòa quyện giữa bạt ngàn bụi phấn mưa xuân mà mỗi năm một lần đúng hẹn lại trở về. Năm nào hai cái cọn nước cũng phô diễn vẻ đẹp rực rỡ vào độ xuân sang, bởi khi ấy hai bên bờ con suối Nậm Le, những bông hoa mí mèng hé mắt, khe khẽ xòe nở những cánh hoa màu hồng, tỏa hương thơm dìu dịu làm thành thảm hoa rực rỡ, rộng ngút ngát. Thảm hoa hòa quyện vào vòng quay nhịp nhàng của cọn nước lung linh, kỳ ảo, hoang sơ giữa núi rừng.
Năm nay trời ấm lên, vì thế mùa xuân đến sớm, còn gần tháng nữa cái tết mới về, nhưng gió xuân đã nhẹ nhàng, hây hây gọi mí mèng lác đác nở hoa. Tôi chẳng biết điều này nên vui hay buồn. Từ lâu rồi, tính đốt tay đã qua gần năm mùa xuân đến, xuân đi, cái mắt tôi nhìn đôi cọn nước, chứng kiến mí mèng hồng rực mà dày thêm nỗi buồn. Nhiều lần, tôi đứng bên bờ con suối Nậm Le này ao ước, giá như ở cuối con dốc Sun bờ bên kia, cái bóng cao lớn của anh Sấn hiện ra, dù chỉ một lần thôi cũng được, anh về rồi anh lại đi, đủ để nhìn thấy thằng Di lớn lên đến chừng nào, đôi mắt to sáng, cái đầu húi cua giống anh ra sao... thế nhưng mong mỏi của tôi luôn rơi vào khoảng không lặng lẽ. Nhiều lần thằng Di nhìn thấy tôi đứng ở đây, cái mắt nhìn mà như không, cái đầu miên man mải nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, không nghe thấy tiếng nó gọi ời ời, cho đến lúc nó cầm tay tôi kéo mạnh thì tôi mới quay về thực tại, lúc ấy đôi mắt trong veo của thằng Di đã mọng nước. Tôi vội ôm nó xuýt xoa, vỗ về, cù vào nách thằng bé cho nó cười ré lên...
*
* *
Nhà tôi có ba người. Mé, anh Sấn và tôi. Anh em tôi không biết tại sao nhà mình không có cha. Muốn hỏi mé nhưng sợ mé đau lòng nên thôi. Trong nhà thì mé vừa làm cha, vừa làm mẹ. Mé có sự quyết đoán của người đàn ông trụ cột trong nhà, nhưng lại là người đàn bà rất đỗi dịu dàng, hiền hậu. Cái miệng cười tươi trên khuôn mặt trái táo, cùng tấm lưng ong thon thả dấu trong lần áo chàm kia nói lên rằng ngày trước, mé là người đàn bà đẹp. Người trong họ, ngoài bản chưa thấy mé to tiếng với ai. Có điều lạ, mé làm mẹ nhưng chưa biết hơi ấm của người đàn ông. Mé cũng không nếm trải cái nhọc nhằn của người đàn bà mang nặng, đẻ đau. Đấy là mé nói thế với anh, em tôi vào cái ngày giỗ ông ngoại cách đây sáu mùa con nước đầy, con nước lại vơi. Chuyện hôm ấy, không biết anh Sấn thế nào, nhưng nó làm tôi lần đầu biết đến cái khó ngủ trong đêm. Tôi cố nhắm mắt nhưng lời ké Pàng, trưởng họ cùng với lời của mé cứ âm âm trong đầu.
Tháng chín. Tuy mới ngang chiều nhưng sương đã sà xuống mái nhà. Gió hun hút thổi mang theo cái lạnh se se. Người trong họ đến ăn giỗ ở nhà tôi, lục tục rủ nhau ra về từ lúc bóng nắng tròn dưới chân. Nhà còn có ba mé con tôi với Ké Pàng quây quần bên cái sập gỗ trước ban thờ. Từ dưới bờ suối, tiếng cọn nước đôi vọng lên giai điệu ngân nga mà thủ thỉ. Ké Pàng nhìn hai anh em, thủng thẳng bảo:
- Cái cây đứng vững là nhờ gốc rễ. Là con người phải biết tổ tiên mình là ai. Giờ thì chúng mày có cái chữ hơn nhiều đứa trong bản, hai anh em phải sống tốt với mé mày.
Mé cúi đầu, giọng mé nói như hụt hơi:
- Trưởng họ à, hay là... để cái giỗ sau cho chúng nó biết vẫn chưa muộn mà.
Ké Pàng lắc đầu nhẩn nha:
- Ây da! Cho chúng biết sớm thì tốt mà. Để trong bụng mãi thì nặng lắm. Sau này nó biết thì nó lại trách ta sao không nói sớm.
Hai anh em tôi hết nhìn mé, lại chăm chắm ngó sang ké Pàng không hiểu, không biết vì sao? Có chuyện gì mà mé không muốn nói thế? Tôi nghe rõ tiếng thở ngắt quãng, khó nhọc như cố nén điều gì đó của mé.
Ké Pàng nhẩn nha nói. Giọng ké trầm xuống.
Anh Sấn với tôi là con của hai gia đình khác nhau, được mé cưu mang, nuôi nấng. Sấn là con của một gia đình ở bản Pháy, cách đây mấy ngàn nhịp chân thả bộ. Cái chuyện bố mé đẻ của anh Sấn cho con trai ở với mé thì dài lắm, khó có thể kể ra. Chỉ biết rằng, cái ngày Sấn cất tiếng khóc chào đời, chưa kịp hé mắt nhìn ánh mặt trời thì thầy mo bấm ngày giờ sinh của anh bảo, tuổi của anh xung khắc với tuổi bố đẻ, sau này gia đình lụi bại, nuôi lợn chết lợn, nuôi trâu thì trâu bỏ đi. Người với của trong nhà cứ đội mũ, nón khắc đi thôi. Phải cho anh làm con nhà khác. Chuyện đến tai mé, cứ như ông "Phạ" xui giục, mé cuống lên, chạy đi tìm ké Pàng, nói với dòng họ Lý đón anh về làm con trong nhà. Ké Pàng bảo cái ngày anh về, họ Lý làm cơm cúng tổ tiên, ông bà. Trong mâm cúng có đĩa xôi bảy màu, bảy thứ quả hái trong rừng, bảy bông hoa đang nở chúm chím... nhiều thứ lắm, mỗi thứ đếm đủ đến con số bảy, đấy là tượng trưng cho bảy vía của anh. Chính ké Pàng đã đứng trước nhà thờ dòng họ mà khấn rằng:".... Ơi thần núi, thần rừng, ơi ông bà tổ tiên, về đây chứng dám cho dòng họ Lý từ hôm nay có thêm sinh linh bé bỏng, mong các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho nó hay ăn, mau lớn thành thằng trai cứng cáp, khỏe mạnh...". Hôm ấy mé lội xuống cạnh cọn nước đôi, múc chậu nước giữa nguồn, thả vào bảy giọt rượu nếp nương, rửa mặt cho Sấn. Khi mé rửa xong thì Sấn cất tiếng khóc to, người trong họ bảo cái tiếng khóc vang núi như thế, cho biết nó sẽ là chàng trai tốt. Sau ngày cho Sấn đi làm con mé, gia đình bố mé đẻ của Sấn đã chuyển nhà đi xa lắm, vào làm ăn sinh sống mãi trong Nam. Dường như họ ra đi là để chạy trốn...
Còn chuyện tôi về ở với mé, với anh thì như là định mệnh. Một buổi sáng mé xuống chợ huyện, vào cái lúc mặt trời bơi trên ngọn cây mác kham, thả những ngón tay vàng xuống, cũng là lúc chợ đông người lắm. Khi bán xong hai thạ đỗ tương, còn mấy chai mật ong rừng, có người phụ nữ trẻ, đẹp đến hỏi mua. Cứ nhìn cách ăn mặc cũng biết không phải người vùng núi. Trên tay người ấy ôm đứa trẻ con bé xíu đang ngủ. Mua xong mật ong người ấy nhờ mé bế đứa trẻ, dúi vào tay mé cái túi đựng nhiều đồ trẻ con, bảo với mé đi tìm mua cái túi to. Mé bế đứa trẻ bụ bẫm ngóng trông, đợi đón mãi mà không thấy người ấy quay lại. Mấy chai mật ong vẫn còn ở đấy, nhiều người hỏi mua mà mé bảo của người ta gửi. Mé hết nhìn ngược, lại nhìn xuôi, trong bụng nóng như có lửa đốt. Đến lúc chợ tan, người ta về hết, mé mới vội vàng cùng đứa bé ngược núi. Đứa bé ấy là tôi.
Nghe chuyện ké Pàng kể, anh Sấn mặt đỏ như uống rượu, anh mím môi bảo:
- Ké Pàng với mé à, con là người họ Lý, con không biết ai khác.
Còn tôi, tự nhiên thấy cái buồn tủi dâng lên tưng tức trong ngực. Mắt tôi cay xè, ứa nước.
Nhưng rồi cái chuyện buồn ấy cũng nhanh chạy theo gió. Ba mé con còn nhiều việc phải lo, không ai muốn nhớ đến cái chuyện không vui ấy. Cái gì không hay, không tốt thì cho qua đi. Mà cũng đừng trách người mang nặng, đẻ đau ra mình. Dù sao thì chuyện cũng đã xảy ra lâu rồi mà. Giờ thì chúng tôi chỉ biết có mé thôi.
Nghe người bản nói, cái lúc anh Sấn về ở với mé, thì mé là người con gái đếm gần ba chục mùa mưa, nắng. Không biết là do số phận hay do người trai hò hẹn đi bộ đội không trở về mà mé không gắn đời mình với ai. Tuy mé không nói, nhưng tôi biết, mé phải tần tảo, vất vả lắm mới nuôi hai anh em tôi thành người.
Đứng từ trên sàn nước đầu nhà tôi, ngước cái mắt về phía dãy núi Phja Leng, thấy dòng nước trắng màu bạc, ở đâu đó trong bụng núi, trào ra ngoài qua miệng hang to, rộng, ào ào tuôn xuống chân núi làm nên đầu nguồn suối Nậm Le. Tụi nước kéo nhau chạy đến bãi đá mẹ, đá con đầu bản Pẻn thì cọn nước đôi chặn lại bằng những bàn tay lực lưỡng làm từ cật tre ngà, vốc nước vào những cái máng vầu. Theo như người già trong bản thì đôi cọn nước này không có tuổi, đấy là vật báu của bản, nó có lâu lắm rồi, từ lúc các cụ tiên tổ lên vùng núi Phja Leng này khai khẩn, lập bản. Không biết bao nhiêu mùa mưa, nắng, từ hạ sang đông, từ xuân qua hè trôi đi, hai cọn nước vẫn miệt mài đứng giữa đầu nguồn con suối, đưa nước về bản gần, bản xa, đến từng nếp nhà sàn trong bản, đổ đầy biết bao cái "lìn" đựng nước. Dòng nước từ những cái máng vầu đá còn chảy vòng vèo ngược lên, nhảy xuống, bước sang lớp lớp thửa ruộng bậc thang, làm nên những ruộng lúa trĩu hạt, chắc bông, nương ngô xanh mướt trổ cờ...nuôi người bản cái chân đi vững, cái tay chắc khỏe, con người rắn rỏi. Đôi cọn nước này được người trong vùng gọi bằng cái tên cọn poò và cọn meè. Theo tiếng địa phương ở đây cọn poò là cọn đực và cọn meè là cọn cái. Cọn poò làm bằng những ống tre ngà tốt lấy từ cây tre đực, còn cọn meè làm bằng cây tre ngà cái. Nhìn vào đôi cọn nước này thì biết, cái cọn nước poò bao giờ cũng có những vòng quay chắc khỏe, từng gióng tre đực hất tung nước lên cao, mạnh mẽ mà dứt khoát, tạo nên âm thanh "ụp...xòa...ụp xòa" trầm hùng mà kiêu hãnh. Riêng cọn nước meè uyển chuyển như múa, mỗi khi vớt nước nó như nghiêng mình, soi bóng rồi mới từ từ, nhẹ nhàng đổ nước vào máng, tiếng "cót...két...ụp...xòa" thanh thoát, bay bổng như là tiếng reo mừng vui.
Mỗi khi cái đầu ngơi việc học chữ, cái tay không làm giúp mé việc nhà là hai anh em tôi lại ra bờ suối thỏa thuê ngụp lặn, vẫy vùng rồi thi nhau đếm vòng quay của cọn nước. Anh Sấn nói với tôi, cọn nước poò là anh, cọn nước meè là tôi. Thường thì những lúc ấy, tôi tròn mắt, nhỏ nhẹ bảo anh đừng có ví vật báu của bản với hai anh em, như thế không tốt đâu, nhỡ ra các thần linh phạt thì sau này sẽ khổ nhiều đấy. Anh Sấn cười vang núi, bảo ví như thế vì muốn hai anh em mãi ở bên nhau. Sau này tụi trẻ trong bản có nhiều chữ, sẽ cùng nhau đắp đập, chặn dòng nước, làm thành cái trạm phát ra ánh sáng giống như dưới phố huyện, rồi bản cũng có vô tuyến, có đài điện... Rồi nơi đây sẽ là khu du lịch sinh thái giống như trong sách cô giáo dạy, có nhiều người đến tham quan, đông vui nhiều đấy. Ôi da! Những việc ấy của anh Sấn sao mà xa thế? Tôi nghĩ anh hào hứng nên nghĩ ra đủ thứ chuyện viển vông, cái ngày ấy biết bao giờ đến?
***
Đêm. Sương rơi lộp độp trên mái nhà. Dưới suối tiếng cọn nước đôi đánh nhịp vọng lên, nó không hát vui như mọi hôm, mà cất lời tỉ tê, thủ thỉ, trầm đục, buồn buồn. Tụi nước chảy vào máng lớn, máng bé không réo rắt mà lặng lẽ, rầm rì. Bên cái bếp vuông đỏ lửa, mé bực mình lấy tay dúi mãi gốc củi to vào lòng bếp, cho tàn than đốm đỏ quấn quít cùng đám khói theo gió bay lên, tản mát khắp nhà. Mé nói mãi, nói nhiều. Những lời của mé sao xót xa, nghiệt ngã đến thế? Từng câu, từng lời có vị mặn mòi của mồ hôi, nước mắt, có nỗi nhọc nhằn, gian truân của người đàn bà vừa làm cha lại vừa làm mẹ. Nhưng biết mấy lời mé là tình yêu thương con đến thắt ruột, thắt gan.... Mé nói nhiều rồi mé khóc. Tiếng khóc của mé cứa vào thịt, vào da anh Sấn và Tôi. Mé khóc. tôi khóc. Anh Sấn cắn môi, miệng đắng ngắt, cái mắt sẫm lại. Ba người trong nhà từ sáng đến giờ chưa có cái gì lót bụng, nhưng cũng không thấy đói. Còn đâu bụng dạ mà ăn uống nữa, chuyện đã đến nước này thì cũng không ai nuốt nổi cơm mà ăn. Cái nồi cơm tôi đặt từ sáng sớm vẫn vần bên bếp, chốc chốc bén than tỏa ra mùi khen khét. Tôi rùng mình ớn lạnh, có cái gì đó nhộn nhạo trong bụng, ứ đầy lên cổ muốn trào ra ngoài. Tôi cố nuốt khan để ngăn nó lại. Khổ nỗi, mỗi khi mùi khét của cơm cháy thoảng bay là tôi lại sởn gai ốc...
Mé dằn giọng: - Hai đứa mày có chữ mà sao lại nghĩ tối như thế? Con người khác cái cây, con thú là biết nghĩ cái phải, cái hay. Giờ chúng mày muốn bôi nhọ vào người hay sao? – Sau phút ngưng lời mé thở dài: - Mà chúng mày nói đi, không dám cạy răng ra a?
2
Tôi sợ. Mắt nhìn mãi xuống sàn nhà dát gỗ, tôi cố thu người cho nhỏ lại trong dáng ngồi so ro. Tôi sao dám nói gì bây giờ? So với anh Sấn thì mé giành tình thương yêu cho tôi hơn. Có miếng ngon mé chia cho tôi nhiều, nếu tôi mắc lỗi thì mé cũng nói ít. Từ nhỏ tôi chưa biết cái đau của roi vọt quất vào người. Mé dạy tôi từ cái nết ăn, nết ngủ, đến dệt vải, nhuộm chàm, thêu thùa... Mé vẫn thường nói, là đàn bà, con gái thì phải khéo cái tay, giỏi cái làm, nếu không thì thành gái đoảng thôi. Thế mà bây giờ tôi nỡ làm mé đau lòng. Tôi mang lửa đốt bụng mé rồi.
Từ lúc nghe mé hết than vãn, lại trách mắng, cái miệng anh Sấn dính lại không thốt ra lời. Tuy thế, cái đầu anh không đổi nếp nghĩ. Nhìn vào khuôn mặt cương nghị của anh đủ nói lên rằng, cái việc anh thương yêu tôi thì làm gì có tội? Cho dù mé có nói những lời khó nghe, anh cũng cho là mình đúng. Khổ nỗi, ké Pàng trưởng họ thúc giục mé quá, ké bắt phải họp họ Lý. Mà đã họp họ là chuyện lớn rồi. Nghe mé nói còn hai hôm nữa là người trong họ kéo đến đây. Mỗi nhà một người thì đông lắm. Vùng núi Phja Leng này người họ Lý không nhiều bằng các họ khác, nhưng khi có việc trong họ thì người chủ trong từng nhà, dù có bận đến mấy cũng phải thu xếp mà đến. Đây là cái nếp có từ thời ông bà rồi, đời này sang đời khác cứ theo như thế. Mỗi năm thường niên họp họ một lần trong dịp cái tết về để nhớ là người trong họ, còn nhà ai có việc cưới xin, ma chay mới được xum vầy cùng nhau. Nhà nào xảy ra chuyện lớn thì họp họ để khuyên giải. Nghe nói lâu lắm rồi, trong họ không có chuyện trái chiều xảy ra làm họ hàng phải để mắt, lưu tâm. Bây giờ chuyện nhà tôi phải để họp họ là bị phạt nặng đấy. Phải bày ra cái ăn giống nhà có đám, có việc. Như thế thì khổ rồi. Có con bò, con lợn nào trong chuồng cũng phải thịt làm cỗ thôi. Biết thế, nhưng trong bụng anh chỉ có tôi thôi. Nghĩ sâu xa thì anh với tôi kết thành đôi cũng được mà, có làm sao đâu?
Đầu tôi nhức nhối, tai ù ù như có gió quẩn. Tôi nghe mé nói mà bụng đau nhói như có ai đó cầm nứa nhọn cứa cắt. Anh Sấn nhăn mãi cái trán lại, hai chân lông mày muốn dính vào nhau. Dường như anh đang cố vắt óc ra nghĩ cách nói để mé thương hai đứa. Anh vân vê xoáy hai bàn tay vào nhau, ngập ngừng:
- Mé à, tụi con có lỗi làm mé buồn bực, héo hon, nhưng... nhưng con thương em Liển. Không có em, con sống cũng như chết thôi. Tụi con có gì sai đâu mà dòng họ phạt nhà ta?
Mé bực mình, đứng bật dậy như dẫm vào lửa, chỉ tay vào anh bảo:
- Mày dám nói thế a? Mày muốn đi bằng cái chân hay muốn đi bằng đầu? Mày sắp được đi học làm bộ đội nhớn rồi sao nghĩ quẩn thế? Bao nhiêu đứa gái bản, mày ưng ai tao hỏi nó làm vợ cho mày. Còn cái Liển tao cấm!
Anh nài nỉ: - Mé, mé đừng thế, con chịu dòng họ phạt mà. Con mong mé gật đầu thôi.
Bỗng dưng, mé dậm chân thình thịch, sàn nhà rung bần bật, mé trợn mắt, quát to:
- Mày u mê, lú lẫn rồi. Mày ra khỏi nhà, đi cho khuất mắt tao. Tao không có thằng con như mày.
Tôi ôm chân mé, nước mắt đầm đìa:
- Mé! Con xin mé, mé đừng... mé đừng đuổi anh con. Tại con mà, tại con...
Mé cúi xuống, hất mạnh tay, gạt tôi ra, dằn giọng: - Còn con này nữa, cướp công tao, chúng mày là cú, là cáo cả rồi, đừng có gọi tao là mé nữa.
Nói xong, mé bậm bịch đi vào trong buồng. Đến vách ngăn bằng nứa, mé quay lại, bảo:
- Tao cho chúng mày suy ngẫm, đến lúc tụi "cáy cúm" nó gọi sáng thì cho tao biết cái điều chúng mày nghĩ. Nhớ là đi vào đường sáng, đừng lao xuống vực sâu mà khổ.
Càng về đêm, trời càng lạnh. Lửa trong bếp không đủ để sưởi ấm. Cái lạnh từ trong bụng người lan tỏa ra, ngọn lửa cháy to cũng không làm ấm lên được. Anh Sấn nhẹ nhàng ôm tôi. Người tôi run lên lẩy bẩy như cái hôm cách đây một mùa con trăng.
... Trưa tháng tám, nắng vàng tưới đẫm nương trên, nương dưới. Nắng miên man chạy từ trên núi xuống rừng. Tụi chim noộc thúa, từng cặp, từng đôi ríu rít cất lên bản hoan ca trên những vòm cây, chúng sà xuống vạt bắp, nhảy lên đầu hồi chòi canh, lách tách nhẩy nhót, ngó những cặp mắt đen lay láy nhìn tôi. Hai anh em tôi hái xong vạt bắp, xếp đầy mấy cái thạ mang vào chòi canh trên nương. Ui da! Tôi vừa bê cái thạ lên thì anh Sấn chạy tới, anh bảo để anh làm. Những cái thạ ngô nặng trĩu, thế mà anh nhấc lên nhẹ nhàng, loáng cái là xong. Anh cười hồ hởi:
- Việc nặng để anh nha, đừng có làm cố không tốt đâu.
Bỗng nhiên, anh ngẩn mặt nhìn tôi. Cái mắt anh lạ thế? Nó như có lửa.
Tôi đỏ mặt: - Anh à, mặt em có...có nhọ đúng không?
Anh lắc đầu, đôi bàn tay to chắc cầm lấy tay tôi: - Em là người đẹp nhất vùng này đấy Liển à.
Anh nói qua hơi thở gấp gáp:
- Anh muốn nổi xung khi thấy những thằng trai theo em.
Người tôi như có gió chạy vào, tôi rùng mình ớn lạnh. Thật ra, linh cảm của người con gái mách bảo tôi nhiều lắm. Những việc anh làm cũng vì tôi thôi. Mới cái tết tháng bảy vừa qua, hai anh em tôi xuống nhà ké Pàng, tụi trai bản Páy theo chân tôi, thả lời ong bướm bị anh chặn lại, không biết anh nói gì mà chúng nó tản ra, nhìn anh nem nép. Hôm nay, nghĩ đến chuyện ấy tôi thấy bụng cồn lên nỗi lo...
Đúng lúc tôi đang mải mê nghĩ thì từ trong bìa rừng, tiếng ầm ào nổi lên, mỗi lúc một gần, rồi gió rú rít, quăng quật, bẻ cành cây dẻ răng rắc, lá rụng rào rào. Anh Sấn căng con mắt nhìn lên, anh chỉ về phía trên nương cao, kêu thất thanh:
- Trăn gió!
Tôi hoảng hốt, run rẩy nhắm nghiền mắt lại vì sợ. Anh vơ vội những đám cỏ khô, mấy cành cây, nhen lửa. Khi ngọn lửa bén cành, anh kéo tay tôi, chạy nhanh vào chòi canh, đốt khói bếp bay lên. Cứ theo lời già bản thì đi rừng mà gặp con trăn gió nếu không mang theo lửa thì nguy lớn rồi. Trăn gió nó sợ mùi khói, sợ cái nóng rừng rực của lửa. Tiếng gió quăng mỗi lúc một gần, chòi canh rung bần bật. Tôi ôm chặt anh, mặt tái mét. Anh thầm thì:
- Nó đi ngay thôi, em đừng lo, có anh mà.
Anh ôm tôi trong vòng tay khỏe khoắn, nằm lăn ra sàn chòi canh, lấy những túm rơm nếp dành để bện chổi trong góc chòi phủ đầy hai người. Tôi nằm sát bên anh, mùi rơm nếp thơm nồng hòa trong mùi mồ hôi của anh làm tôi như ngấm thứ men say kỳ lạ. Nó làm tôi chếnh choáng. Tôi cố thu mình lại sao cho tôi có một chút khoảng cách với anh mà không thể. Trống ngực tôi đập từng nhịp, từng hồi như sắp vỡ. Tôi run lên, ấp úng nói với anh mà như tự răn mình:
- Anh! Mình là anh em mà.
Anh ôm tôi chặt hơn, ghì tôi vào vồng ngực khỏe mạnh, tràn căng của anh mà nói nhiều lắm. Anh bảo, tôi với anh không phải là anh em ruột. Rằng anh yêu tôi lâu lắm rồi, rằng tôi sẽ là vợ anh... Tai tôi ù đi, người tôi mềm như muốn tan chảy thành nước. Anh ghì chặt tôi. Hai thân thể bừng bừng sức sống như muốn hút vào nhau. Đôi môi nồng nàn, bỏng cháy của anh mơn man tìm bờ môi trái chín của tôi. Anh đam mê, khao khát và mãnh liệt. Không biết từ lúc nào, tôi với anh quấn vào nhau như dây mây bện xoắn. Anh đưa tôi phiêu diêu bay trong gió, rồi lại êm ái nhẹ lướt trên mặt đất bồng bềnh. Tôi mê đi trong vòng tay anh, cho đến lúc tiếng chim nháo nhác gọi chiều về, sương buông lành lạnh, chúng tôi mới giật mình tỉnh giấc. Và chúng tôi cũng không biết, con trăn gió ấy bỏ đi từ khi nào...
Đêm dần tan, trong buồng mé trằn trọc trở mình. Cái mắt mé dường như không nhắm nổi để gọi giấc ngủ về. Con "cáy cúm" đầu đàn trong bản đã cất tiếng gọi trời sắp rạng. Anh vuốt nhè nhẹ mái tóc tôi, lấy đôi môi lau nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt buồn của tôi, anh dặn tôi phải thương mé, mé ngày một yếu không để mé làm việc nặng nữa, ở nhà tôi thay anh đối tốt với người trong bản. Anh bảo, tôi cố mà học xong cái chữ, còn một năm nữa thôi, rồi thi vào trường sư phạm, làm cô giáo dạy chữ cho tụi trẻ trên quê. Còn anh, các giấy tờ gọi nhập học, hồ sơ lo đầy đủ rồi, còn chờ đến ngày nhập trường nữa thôi. Học trong Trường Sĩ quan Lục quân 1 thì không phải lo gì cả, đã có quân đội lo cho rồi. Anh dặn đi, dặn lại rằng tôi phải đứng vững như cái cây trước gió to, cố đợi anh trở về. Anh thầm thì:
- Em à, anh phải ra đi thôi, anh đi là mọi chuyện êm mà, dòng họ nhà mình không đòi nộp phạt nữa.
Tôi lắc đầu quầy quậy mà không thốt lên lời, nước mắt tong tả đầy vơi.
Anh lấy cái áo chàm sờn vai, bạc màu của mé cùng cái khăn mặt của tôi treo ở trên dây phơi, ấn vào tay nải. Anh bảo để có hơi ấm của mé, của tôi, và cũng để anh vơi đi cái nhớ thương đang đè nặng trong người. Đeo cái nải vào vai, anh thở dài nặng trĩu:
- Bao giờ anh học làm bộ đội xong, mé hết buồn, dòng họ cho anh lấy em thì anh về.
Nói xong anh lướt nhẹ xuống cầu thang. Tôi cuống cuồng chạy theo anh mà không thể cất lên tiếng gọi. Bóng tối cùng hơi sương duềnh lên của trời đêm về sáng như nuốt trôi anh. Tôi chạy đến chỗ cọn nước đôi, nhoáng nhoàng lội ào xuống. Nước lạnh ngắt làm chân tôi tê cứng. Đá cuội trơn truội khiến tôi ngã dúi dụi, quần áo ướt sũng. Mặc, tôi phải chạy theo anh, để nói anh biết trong bụng tôi có gì đó đang hình thành và lớn dần lên. Anh đừng bỏ mé với tôi ở lại trong nếp nhà trống vắng mà đi biền biệt. Đôi chân trần ran rát của tôi mải miết chạy mãi, đến khi vấp vào hòn đá trên dốc Sun, ngã lăn ra triền hoa mí mèng tỏa mùi ngai ngái, thơm nồng, thì tôi không thể chạy nổi nữa. Tôi nằm gục xuống, úp mặt vào những cây mí mèng, tiếng thổn thức của tôi lẫn vào nhịp vòng quay của cọn nước mãi không thôi. Đến khi có tiếng khỏa nước của ai đó, tôi mới vùng dậy, ào qua suối. Trời ăm ắp sương mù. Mé đứng ở bậc đá chỗ cây kháo già nhìn tôi. Mắt mé đỏ như quả vả rừng trên khuôn mặt đầy âu lo. Mé thở dài, tiếng mé như lạc đi:
- Nó không thương tao, thương mày con ơi. Nó mang tro trấu đổ đầy nhà rồi.
Cái mắt mé trào nước. Tôi run lẩy bẩy. Mé cầm tay tôi:
- Về thay quần áo đi, cảm lạnh bây giờ.
Tôi bước về nhà mà cái chân trĩu nặng. Đầu tôi đầy ắp cái lo. Tôi phải nói với mé thế nào đây? Chuyện đã như thế này rồi làm sao dấu nổi mé? Liệu mé có tha thứ cho tôi, cho anh không? Mé và tôi sẽ nói thế nào với họ hàng, người bản khi cái bụng tôi ngày một to ra? Còn cái chữ nữa, tôi phải bỏ dở dang giữa chừng rồi. Biết làm sao bây giờ? Mé đã khổ, giờ tôi lại làm mé khổ thêm. Tôi lo mà không biết phải làm thế nào. Còn con tôi nữa, liệu cái ngày tôi sinh nó ra thì anh có biết lối mà về không? Nếu anh không về thì tôi sẽ đứng trước những cái khó, cái khổ của người làm mẹ. Thế thì cũng cố mà cắn răng chịu thôi. Nói ra không có ai thương mà người ta còn cười thêm.
*
* *
Nước suối trong vắt nhìn rõ tụi rong rêu đung đưa, nhún nhảy lẫn giữa bạt ngàn đá cuội trắng, cuội đen. Mà sao hôm nay tụi nước réo rắt mãi thế? Nó như muốn cùng cọn nước poò, cọn nước meè tấu lên giai điệu nhân nga, vời vợi. Mưa bụi ngày một dày lên, mây trắng từ trên núi, trong rừng sà xuống suối, quấn quít lấy tôi. Hương hoa mí mèng nồng nàn. Cái tụi hoa này đến lạ, càng về tối lại càng ngát hương. Ngày ấy anh Sấn thường nói, người tôi đẫm ướp hương thơm mí mèng. Tôi không biết anh nói có đúng không? Mới đấy mà đã mấy mùa mí mèng qua đi, anh không về. Cũng không biết vì sao nữa. Tôi muốn đi tìm anh, để nói với anh là anh đã làm cha, rằng thằng Di ngoan lắm, nó mới ăn được gần năm mùa lúa mà đã biết ghép vần, đọc chữ trong những quyển sách ngày xưa của anh với tôi học rồi. Nó luôn mồm hỏi sao cha đi đâu mà không về nhà? Tôi cũng muốn khoe với anh, năm trước, cho dù thằng Di còn bé, nhưng tôi đã thi xong Trường Trung học phổ thông, nghe lời anh thi đỗ vào Trường Cao đẳng sư phạm tỉnh rồi. Kết quả này, tôi xin được bảo lưu để sang năm thằng Di cứng cáp thêm, tôi sẽ xuống trường nhập học. Nhưng bây giờ tôi biết anh ở đâu mà tìm? Anh cũng lạ thật đấy. Cái chân đi là đi thẳng một mạch, anh không nhớ tôi không sao, nhưng anh không thể mang tiếng là người con không có hiếu thuận. Bao năm nay mé vẫn ngóng chờ anh đấy thôi. Mé không nói ra, nhưng mỗi khi thằng Di nghịch ngợm, mé mắng:
- Dà! Cái thằng này cái nết giống hệt cha mày.
Như thế đủ biết mé nhớ anh đến chừng nào rồi.
Mà tôi rất sợ, một ngày nào đấy, thằng Di nó biết anh bỏ đi từ lúc nó là một sinh linh bé bỏng trong bụng tôi, thằng bé sẽ buồn nhiều đấy. Tôi tủi thân vì cha mẹ bỏ rồi, giờ tôi không muốn con tôi lại gặp cái chuyện buồn ấy. Hằng đêm, tôi vẫn mong mỏi anh trở về. Bây giờ thì họ Lý cũng không bắt tội anh nữa. Ngày tôi sinh thằng Di, mé nộp phạt cho dòng họ và người bản hai con trâu, ba con lợn tạ rồi. Tôi bỗng thở dài day dứt...
Thằng Di đến bên bờ suối từ khi nào tôi cũng không biết, nó nhẫn nại vớt những viên đá cuội đủ hình thù đẹp mắt từ suối lên, xếp thành hình tròn. Nó chọn những viên đẹp nhất, ngắm nghía một lúc lâu và nói:
- Đây là đá bà, đá pò, đá mé và đá Di.
Thằng Di chợt đứng phắt dậy, chạy ào đến bên tôi, bàn tay bé xíu, ướt dượt của nó chỉ sang thảm hoa mí mèng. Tôi dụi mắt, ở giữa đám hoa, có ai đó không mặc quần áo chàm của người bản, mà mang bộ quân phục màu xanh, vai đeo cái ba lô to tướng đang ve vuốt những cánh hoa hồng rực. Trước mắt mé con tôi, dáng cao cao của người trai ấy nhòa trong vòng quay của cọn nước đôi, quấn quít cùng thảm hoa mí mèng, làm nên đóa hoa lung linh rực rỡ sắc màu. Bất chợt, từ trên vòm trời đầy mây trắng, từng bầy chim rừng nghiêng cánh, ríu rít rủ nhau bay về tổ trong bóng chiều chạng vạng.
Bùi Thị Như Lan
***
10 -Con Phố Nhỏ Quyến Rũ
Lê Lành
Cả kinh thành bao la nghìn năm này chỉ độc một con phố ấy không ngang bằng sổ ngay quy chuân phố xá đô thị văn minh mà lại uốn như rồng lượn khúc. Hơn nửa cây số, nó lượn theo đường sin hàm số bậc hai - đầu xiên lên đường Lê Duẩn tấp nập người và xe xuôi ngược tối ngày, đuôi hạ xuống vào phố Nguyễn Thái Học xô bồ, huyên náo ngày đêm xình xịch xe lửa vắt ngang . Nơi đây vốn là đường hào chân tường thành Thăng Long thời Nguyễn, từ cửa đông-nam sang cửa tây-nam.
Người Pháp trọng phép phong thủy của người bản xứ mà du di qui tắc qui hoạch khoa học ô vuông kỉ hà khoa học văn minh châu Âu. Song giữ nghiêm nguyên tắc qui hoạch đến đâu trồng cây đến đó. Nhờ thế, con đường không bề thế thênh thang như đại lộ Hoàng Diệu oai phong đâm ngang, cũng tăm tắp hàng cây xanh rì làm tươi xanh hai hè phố, khiến "Người ra đi đầu không ngoảnh lại. Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy " (Nguyễn Đình Thi), tôn nét yên ả những ngôi biệt thự xinh xắn không chọc lên thô kệch ống khói lò sưởi , nhưng thấp thoáng qua kẽ lá ô cửa sổ uốn vòm mềm mại kiến trúc Pháp miền nam ôn hòa hoa oải hương Provence .
Dạo trước, những đôi lứa lãng mạn chọn con phố nhỏ này làm nơi hẹn hò, lần bước thủ thỉ những lời ngọt ngào tình yêu . Con phố quyến rũ ở nét duyên thầm kín, thanh cao. Về khuya lại đằm hương hoa nhài, hoa sói, hoa lan... từ vườn cây bên trong các ngôi nhà im lìm kín cổng cao tường lan tỏa . Đôi khi còn được thả hồn phiêu lãng theo sóng nhạc dặt dìu từ ngón đàn ghi ta Hạ uy di diệu nghệ của tài hoa Đoàn Chuẩn
Giữa thập niên 50 thế kỷ trước, ca khúc Gửi ngươi em gái miền nam vừa mới viết chỉ đề tặng người tình "... tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương..." đã bị chính quyền cấm ngặt, Đoàn Chuẩn khí khái lẳng lặng ở ẩn, giam mình trong ngôi nhà tự chọn trên con phố êm ả này cho đến ngày xa lánh cõi đời, để lại dấu ấn tài hoa yêu nhạc, yêu người
Phải lòng cô ca si Saigon qua một lần tao ngộ, Đoàn Chẩn lẳng lặng đặt khoản tiền lớn cho một tiệm hoa trên đường Nguyễn Huệ để mỗi sáng cô ca sĩ mở cửa liền được trao tay bó hoa hồng thắm Giọng hát Mộc Lan được mến chuộng tài sắc thời ấy nào biêt người tặng hoa là ai, vì đâu, Với tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ, Mộc Lan dần quyến luyến với người ẩn danh và nôn nóng mỗi sớm mai được ôm bó hoa thơm ngây ngất vào lòng.
Suốt ba tháng trời, không thể dằn lòng được nữa, Mộc Lan ra tiệm hoa nhờ chuyển lá thư mong manh cho người ấy với lời cám ơn tha thiết và một chút ẩn ý ngọt ngào. Được lời cởi tấm lòng, ngay trong đêm, Đoàn Chuẩn ngây ngất thả hồn để sớm hôm sau ra bưu điện, gởi thư chuyển phát nhanh. Mộc Lan sững sờ trước nhưng khuông nhạc kẻ bằng tay , ca từ nắn nót "gửi bướm muôn màu tìm hoa, gửi thêm ánh trăng màu xanh, lá thư về đây với thu trần gian..." Ca khúc ấy do vua slow Đoàn Chuẩn ở Hanoi viết tặng cô ca si Sai gon. Ngay hôm sau, trên sân khấu Sài Gòn, Mộc Lan cất tiếng hát "Gửi gió cho mây ngàn bay" để thành giai điệu nằm lòng nhưng người yêu nhau... nhưng không thành.. Khi ấy, cả Đoàn Chuẩn và Mộc Lan đều đã yên bề gia thất.
Tốc độ đổi mới phi mã làm vỡ òa con phố nhỏ thanh bình, hướng tới sự phồn thịnh ồn ào . Đối nghịch với trầm tư mặc tưởng một thời nơi đây là lối sống mới gấp gáp, bạo liệt. Chen lấn các cơ ngơi bề thế, tôn nghiêm Bảo tàng mỹ thuật quốc gia, Văn phòng giáo dục - văn hóa Liên hợp quốc, Trường quốc tế tiếng Anh... cơ man nào là hàng quán, dịch vụ, môi giới...đủ hạng khang trang, kiểu cách, màu sắc lẫn tuềnh toàng, nhếch nhác. Không gian bị co lại, trật trội, tiều tụy, ô nhiễm... Chỉ riêng khách từ khắp nơi tới tấp đến rủa xe, bảo dưỡng máy, làm đỏm ô tô, xe máy cũng đã hơn nửa nghìn lượt người mỗi ngày. Không ít thực khách lẩu bình dân bực bội bị khước từ vì không còn bàn. Đôi khi lại còn ầm ỹ tiếng tru tréo của chị em phản bác phun màu mắt, hút mỡ bụng, trị mụn cóc...không như quảng cáo lẫn vào tiếng xập xinh xăm ba của nhà hàng đồ nướng liên doanh Việt - Ba Tây. Khiếp nhất mỗi khi dân anh chị sinh sự.
Ngày xưa, khi nhà Nguyễn rời đô vào Huế , tránh sỹ phu Thăng Long bất thần phục, đất kinh kỳ phong lưu, đài các liền xuống cấp , kẻ chợ, dân tứ chiếng nhập thành làm ăn sinh sôi , Bà huyện Thanh Quan tức cảnh đến ba bài tuyệt tác tiếc nuối "Thăng Long hoài cổ" : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Nhưng, Thăng Long xưa, Hà Nội nay vẫn được xếp hạng tốp đầu những địa điểm hấp dẫn trên thế giới.Theo nhà xuất bản du lịch Frommer ở Mỹ , Hà Nội đậm nét châu Á , lại phát triển mạnh phong cách cổ điển Pháp.
Sức cuốn hút hấp dẫn của một đô thành, một con phố đâu chỉ ở cảnh vật do tạo hóa hay con người đắp lên mà còn ở bề dày quá khứ những ký ức, hoài niệm.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp năm 45, con phố này mang tên Cao Bá Quát lạ lẫm. Nguyễn Tuân chỉ dám ám chỉ trong truyện ngắn Chũ người tử tù là Huấn Cao, thế mà vẫn bị kiểm duyệt lên xuống, khiến một số câu, chữ đến này chưa được phục nguyên. Trong sách sử ký thưở trước ,Cao Bá Quát là giặc, bị chu di cả nhà, thơ phú bị cấm lưu hành. Trong dân gian, bị gán tiếng kiêu ngạo chiếm hai trong số bốn bồ chữ của cả thiên hạ, lại đam mê ả đào xướng ca vô loài. Thực ra Cao Bá Quát không những văn hay chữ tốt mà còn là thủ lĩnh khởi nghĩa chống cường quyền. Đúng chí khí, nhân cách sỹ phu Thăng Long : " Mười năm giao thiệp tìm gươm báu. Một đời chỉ cúi trước hoa mai " Trên hết, Cao Bá Quát vừa làm thơ, vừa cầm trống chầu, đưa ca trù thăng hoa thành di sản văn hóa đặc sắc thế giới hôm nay.
Người đặt tên phố ấy, đốc lý Hà nội đầu tiên người Việt, bác sỹ Trần Văn Lai không chỉ đức độ - mở phòng mạch không lấy tiền người bệnh nghèo , làm quan đầu tỉnh vẫn ở nhà riêng trong ngõ Tức Mạc, sát ga Hàng Cỏ... mà còn thâm nho. Trước khi gắn biên tên phố mới đặt, đốc lí Trần Văn Lai vào Văn miếu, bên này đường, đôi diện với chân con phố được đổi tên , dâng hương, đánh trống, dóng chuông, khấn vái, thỉnh Cao Bá Quát về ngự trị với dân chúng Hà nội ngàn năm văn vật.
Thật tiếc, nặng lễ giáo và quá khích, ông đốc lí Trần Văn Lai trực tiếp ra lệnh hạ ngay tượng Bà đầm xòe ở vườn hoa Cửa Nam, đầu đường Nguyễn Thái Học, để xóa nhanh dấu tích thực dân. Mà không hay nôm na tượng Bà đầm xòe ấy là một trong hai phiên bản tượng Nữ thần tự do người Pháp tặng người Mĩ thực hiện lý tưởng của C.L Montesquieu, F-M Voltaire J.J.Rousseau :. Tự do - Bình đẳng - Bác ái, trên đất thuộc địa Anh. Nhưng không thể nào khác.
Thế kỉ trước, nặng " Mối tình lớn, mối tình con " , Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã ngao ngán : " Dân hai lăm triệu không người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con " Mà nay, trong bài thơ tự tình " Đất nước mình ngộ quá phải không anh " Trần Thi Lam, sinh năm 1973, dạy văn chương bậc tú tài, cũng tỉnh ra vì đâu Hà Tình mình chết biển " Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa " vì buộc phải chấp nhận để người ta làm " sắt thép " thay vì " chọn con cá, con tôm " đắp điếm cuộc sống hằng ngày : " Nước bốn nghìn tuổi dân không chịu lớn "
Lê Lành
***
9 - Phóng Sinh
Xuân Sương
Mình vốn rất ghét chuyện phóng sinh. Nhiều phóng sự đã viết về đề tài này, thấy hình đám chim bị nhốt mỏi mệt lừ đừ sắp chết, có con chỉ còn lơ thơ lông cánh, xót lắm. Nghe nói phóng ra, chim bay không nổi, người bán lại bắt về bán tiếp. Thành ra phóng sinh mà thành hành hạ chúng. Lại có lần nhân dịp lễ gì gì hay đầu năm, truyền hình chiếu cảnh hai ông to diện bộ áo dài khăn đóng bằng gấm đỏ có chữ thọ tròn vo tổ bố, khiêng cái thùng có con cá ghi cá chép gì đó, đổ xuống hồ Tây, đám đông bộ hạ xun xoe chung quanh vỗ tay chẳng khác banh sút vào lưới đối phương. Thấy hoàn toàn trình diễn, đóng tuồng. Mệt quá. Càng ghét cái vụ phóng sinh.
Ấy nhưng nghe cô làm tóc ca tụng nhuần nhuyễn sự kỳ diệu của phóng sinh, mà chẳng nói gì chi tiết. Còn đề nghị chở đến Tịnh xá nơi cô thực hành nghi thức này. Thì đi, hơi xa thành phố, vòng vèo nhiều con đường. Tịnh xá nho nhỏ hai hàng dừa thẳng tắp cao vút trên lối vào từ cổng, bên dưới ảng nước thả bèo xen kẻ ghế đá công viên. Nhiều cây xoài đang mùa, cây sa kê trái chưa chín tới, chớ chín rồi thì chiên ngon phải biết (miệng ăn mắm ăn muối, nhìn gì gì cũng nghĩ đến cái soong cái chảo). Phía sau là con sông rộng nước ngầu ngầu, nơi lát nữa sẽ đón chào đoàn sinh vật được may mắn kéo dài tuổi thọ. Hai bên bờ nhà cửa cây vườn sum suê mát mẻ trông thật thanh bình. Vài ba chiếc thuyền nho nhỏ neo bên mép nước. Nhà Phật cứ ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, chớ dại kiểu "nhà sàn bác Hồ" này không phải ai cũng được dại.
Trước đó cổ đi mua cá, nhìn mình khích lệ, thì mua. Nhưng chẳng biết đọc kinh Phật nên cổ bảo vái tên tuổi rồi muốn cầu xin gì thì nói. Tên tuổi thì dễ, từ nhỏ đã thuộc làu làu, nhưng cái mục cầu xin chuyện gì thì chưa chuẩn bị.
Cầu xin gì bây giờ? Cái gì cũng đã ở phía sau rồi, và đói có rau đau có thuốc rồi, thì cầu xin gì đây. Chợt nhớ 2 chiếc máy bay SU và CASA mới rớt với 10 quân nhân tử nạn trên biển Đông, mà theo những kẻ xấu miệng thì là kẻ lạ chơi khăm Việt Nam. Nghĩ sợ chiến tranh quá, bèn van vái đừng đánh nhau cho dân Việt Nam đỡ khổ. Rồi hoan hỉ mở miệng bao ny lông đổ ra, đàn cá tung tăng bơi đi, uốn éo như nhảy đầm, chúng nó khỏe mạnh, mang theo thông điệp cầu nguyện hòa bình.
Xong xuôi ra ngồi ghế đá, cổ kể các sự nhiệm mầu bản thân từng trải nghiệm. Nhiệm mầu thiệt. Nhưng các nhà khoa học sẽ trố mắt ngạc nhiên tại sao mẹ cổ bán ốc luộc, khi đau ốm thì lưỡi le ra, mà cổ lại cho là quả báo? Bèn đi mua ốc, tháng 2 kỳ, đem ra sông phóng sinh. Đâu ba lần, một hôm tình cờ có anh chạy xe ngang qua, A Di Đà Phật, chị ơi chị hoan hỷ cho em góp ý nghen. Ốc nó sống ở đồng ruộng mà chị bỏ xuống sông thì nó chết hết. Chú bèn dẫn tới chỗ ngoại ô xa hơn, có ruộng. - Chị ở đây em đi xem tình hình cái đã. - Ủa chớ anh ơi, đi phóng sinh gì mà giống đi ăn trộm vậy, phải xem tình hình? - Chẳng là chị ơi, ruộng lúa mà thả ốc xuống nó ăn lúa của người ta, họ thấy là chửi chết.
Rắc rối. Có nơi biết thiên hạ phóng sinh thì bên dưới đã có lưới dọc lưới ngang đón tiếp rồi. Từ đó nghe lời chú, cổ tới Tịnh xá này phóng sinh, mua cá trê loại còn nhỏ cho nhiều, thay vì vào nồi canh chua ngay thì chúng vẫy vùng thêm được vài ba tháng nữa. Lại lặn hụp trong cuộc nước đầy rẫy khổ đế chớ ích gì. Nhưng tâm cổ an lành, với các lời niệm cầu bài bản có pho có phách không nhớ nổi, Nhờ vậy mới có kết quả nghe cô. Từ đó mẹ con hết vặn vẹo, hết le lưỡi như ốc. Mầu nhiệm ghê chưa cô, vì tất cả những gì con làm đều xin hồi hướng cho mẹ con… Bắt tức cười, vậy mà mình chỉ mới phóng lần đầu tiên 120-125 con cá trê (nếu đúng theo lời bà bán), mà lại xin cho cả dân tộc bớt khổ, thì mỗi con vui vẻ lướt mình trong nước phải có bổn phận cõng suýt 700.000 mạng người tránh đạn! Chúng nó mà biết vậy thì sẽ lắc đầu chui ngược vào bị, thôi cho tui vào nồi canh chua cho khỏe.
Phúc cho những kẻ nào không thấy mà tin. Một lần cô kia cực kỳ ngoan đạo nhất định muốn mình đọc quyển Kinh mỏng, bìa sau có vẽ hình Chúa trắng đen với lời dặn nhìn chăm chú vào đó một lát rồi nhìn lên tường. Thế là ai cũng gặp Chúa hiển hình, sinh động. Cô này có con em coi chồng không bằng cái núm vung, khi làm theo lời dặn thì thấy rõ ràng Chúa đang lung linh bước đến, còn mim mỉm cười nữa mới kinh, mặc dù hình vẽ Chúa không có miệng. Sợ quá, bèn từ đấy cải tà quy chánh, thành vợ hiền dâu thảo. Niềm tin cao độ vậy quả là tốt, ai ai cũng như bụt và cuộc đời sẽ thuận hòa, an lạc. Xét thế này chứng tỏ là dân VN bây giờ "vô phúc" lắm, vì họ chẳng còn tin vào cái gì nữa cả!
Chả bù một lần dịp lễ Phục Sinh, khi Cha xướng lên đại khái Có tin là Chúa toàn năng không. Có. Có tin là Chúa sẽ làm sống lại thế gian không. Không. Tiếng Không chìm nghĩm giữa 400-500 tiếng Có, nên mình còn nguyên vẹn tứ chi sau buổi lễ. Mà thiệt tình, nếu Chúa đứng trước mặt bảo Thầy sắp làm phép cho thế gian của anh em sống dậy đây, thì mình sẽ khẩn khoản cầu xin Chúa đừng. Bởi nạn nhân mãn chưa đủ khổ sao Chúa ơi, còn tạo ra rắc rối gia đình cha mẹ sống lại mà trẻ hơn con cái! Chỉ cần trong hơn 90 triệu sinh linh đang thở đây, Chúa làm phép lạ để trên biết yêu nước thương dân cho dưới an cư lạc nghiệp là đủ rồi.
Cứ gì phóng sinh. Và dù không có mẹ đang ốm đau le lưỡi hay gì gì, ở cuộc đời rẫy đầy cái ác này, cứ dang tay ra, giúp con cá con chim trong cơn hoạn nạn cũng là một cách tạ ơn Trời mình được còn khỏe mạnh. (Nhưng lạy Chúa, thấy con gián nằm ngửa con cứ lờ đi, để nó tự chết, tòa chỉ phạt con "không cứu gián trong cơn nguy khốn" thôi, Chúa ạ).
Xuân Sương
***
8 - Tuổi Dại
Hai Hùng
Ngày nào cũng vậy, tan học về khi tắm rửa cơm nước xong, tôi thả bộ đến xóm trên để ráp lại với lủ trẻ nơi này bày trò mghijch ngợm, cái khoảnh sân nhà ông Sáu là nơi lý tưởng để cả đám nô đùa, vì nơi đây nó rợp bóng mát bởi tàn của những cây Vú sữa được trồng khá gần nhau, ở đây được bày nhiều trò chơi do thằng Cảnh cầm đầu, nào là chơi ăn ô quan, chơi trò trốn tìm, đánh bông vụ ( con quay), bắn bi, đá cầu, dá dế . v.v... Nhưng cái trò đám con trai hồi đó thích nhất là chơi u và chơi Rồng rắn lên mây, sở dĩ cái đám " Đực rựa" mê trò này vì có dịp để nắm tay mắm chân thậm chí ôm eo ếch các cô nàng trong xóm mà không bị xem là "Dê xồm" , vì trò này bắt buộc phải có những động tác như vậy mới thành trò chơi, cũng thành thật mà nói mấy cô nàng ngày xưa tuy to xác mà trong tâm hồn thật hồn nhiên vô tư trong các trò chơi, thậm chí các nàng khi nắm tay nắm chân hoặc ôm eo ếch thì giữ thật chặt, vì các nàng ta sợ nắm hoặc ôm lỏng lẻo sẽ bị vuột ra thì sẽ thua phía bên kia khiến cho đám con trai ngượng ngùng, đám con trai tuy tinh ranh phá phách kèm theo chút tò mò nên có thằng trong bọn biết thằng này ,thằng kia có lúc làm bộ quá trớn té vào các nàng để có điều kiện khám phá cái cảm giác thơm ngất ngây mùi bồ kết trên mái tóc dài của các nàng, cái hương thơm toát ra từ làn da mái tóc của các cô nàng làm cho cả bọn khoái chơi cái trò "Chung đụng" này là vậy.
* * *
Từ lúc có thêm vài ba gia đình dọn về cư ngụ trong xóm, cả nhóm chúng tôi thầm mừng bởi lẽ từ đây sẽ có thêm vài ba đứa trong số gia đình này nhập bọn để cùng đi học cùng chơi với mọi người , trong số họ có gia đình của cô Hai chạy nạn chiến cuộc từ một tỉnh miền núi về đây, tôi công nhận cô Hai là một người thật giỏi giang, một thân một mình mà cô lo cho cả bầy con sáu đứa an học đến nơi đến chốn, Mai con gái lớn của cô Hai nàng cũng giỏi giang không kém mẹ, thấy mẹ nhà đơn chiếc bởi cha của mình tử trận nơi chiến trường ví như căn nhà mất đi trụ cột có thể xiêu vẹo và sụp đổ lúc nào không hay, ý thức của đứa con gái đầu lòng , Mai vùa đi học vừa làm thật chăm chỉ khiến đứa nào trong nhóm cũng phải kính nể, và điều làm cho cả đám con trai thật sự kính nể là nàng Mai nhà ta học rất giỏi vì lúc nào bảng vinh dự trong lớp nàng ta đều nằm ở ngôi vị "Bá chủ võ lâm" thử hỏi làm sao chúng tôi không phục...
Mai về ở cũng gần cả tháng, tôi cố lân la làm quen mãi nhưng chưa có dịp thuận tiện, vì khi đi học về cô nàng ôm cái cặp trước ngực, nàng đi thật nhanh về nhà , từ xa xa tôi nhìn đôi tà áo dài trắng của nàng phất phới bay trong gió , tôi liên tưởng nàng như cánh bướm trắng vờn bay, biết được trong lòng tôi đang cố đeo đuổi làm quen với Mai, thằng Cảnh bạn tôi nó bèn này tôi một " Chiêu thức" để lấy tình cảm với Mai, tôi thấy cũng hợp lý bà hợp với hoàn cảnh thời bấy giờ nên tôi nghe theo lời thằng "Quân sư" , nhưng tôi cũng làm bộ nói như không quan tâm lắm đến chuyện này để thằng Cảnh nó không có cớ ghẹo tôi sau này, tôi nói với nó :
- Ái chà , ông bày cách này tui thấy cũng có lý à nghe, nhưng ....
Tôi chưa kịp bày tỏ hết sự e ngại thì bị thằng Cảnh nói chặn họng tôi liền:
- Ông này ngộ ghê, cái vụ này tui áp dụng rồi, lúc trước mần quen với nhỏ Thúy tui áp dụng y chang kiểu này nè
Nóng ruột muốn biết kết quả ra sao, tôi bèn cướp lời nó:
- Vậy là em Thúy quen với ông bằng cách này đó hả, chắc ăn không ông, ông xúi dại , nàng Mai mà lắc đầu thì có nước tui độn thổ nghe ông .
Thằng Cảnh nó lườm tôi bằng cặp mắt " mang hình viên đạn" , nó nói:
- Thôi , nếu ông ngại thì thôi đi, ông muốn làm quen kiểu nào thì tự lo, coi như tui chưa nói gì hết nhe.
Bết cái tánh hờn mát của thằng quỷ này lớn hơn cái tuổi của nó nhiều, chơi với nhau hàng ngày ai nói gì không vừa ý nó hay làm mặt giận, tôi bèn nói :
- Nói vậy thôi, cảm ơn ông không hết chứ có gì đâu mà nghi ngại, ngày mai tui áp dụng liền :
( Thằng Cảnh nó bày kế cho tôi, mua một phong bánh in nhân đậu xanh ở tiệm tạp hóa của cô Ba bán trong xóm, gói ghém cẩn thận rồi viết vài dòng chữ kèm theo bảo đảm nàng Mai sẽ nhận lời làm quen,vì đâu có cô gái nào mà không hảo ngọt).
Vài ngày sau, tôi chắt mót được một ít từ số tiền tôi được ba má cho đi học mỗi ngày, vậy là dư sức mua một phong bánh in và có thể mua được thêm cái kẹp tóc màu hồng có con Bướm trang trí bên trên, chưa có mua quà cho nàng mà tôi đã thấy vui sướng lâng lâng trong lòng rồi, khi mua xong phong bánh in và cây kẹp tóc, lúc này tôi mới lúng túng không biết trao cho Mai bằng cách nào, lúc này tôi mới thấy mình lơ đễnh không hỏi kỹ càng cách thức trao cho Mai bằng cách nào, chặn đường đưa tận tay thì thú thật tôi không có thừa can đảm để thực hiện, mà nhờ trung gian thì không nên vì sẽ " Lộ bí mật", suy đi nghĩ lại chỉ còn một cách tự mình thực hiện ...
Tôi canh giờ nàng học bài xong Mai sẽ ra sau nhà để lo cơm nước cho gia đình, chắc chắn phía nhà trên chẳng còn ai, tôi rón rén đến bên cửa sổ , may là cửa sổ nàng không đóng tôi nhìn vào bên trong , giật mình vì có thằng Bình em nàng nó đang nhìn tôi , thời may Bình lúc này còn nhỏ và nói chuyện chưa rành nên tôi cũng tạm yên tâm, tôi có nhoẻn miệng cười với Bình cho nó đừng sợ hãi khóc thét lên bất tử, lại thêm một cái may nữa thằng Bình nó cười với tôi, cười với một kẻ lạ hoắc,.. Tôi đặt phong bánh in và cây kẹp tóc cùng một lá thư ngắn bày tỏ ý muốn làm quen, tim tôi lúc này nó đạp thình thịch trong lòng ngực vì hồi hộp , lúc này mà Mai xuất hiện bất chợt chắc tôi sẽ vỡ tim mà chết vì sợ sệt. Cố nén lòng tôi đưa tay ra hiệu chào từ giả thằng Bình rồi cười với nó lần nữa và Bình cũng cười với tôi khiến tôi thấy vui vui trong lòng vì đã làm trót lọt mưu tính của riêng mình ...
Hôm sau nàng đi học về , vẫn tha thước trong tà áo trắng học trò, tôi đạp xe đến gần Mai và cố tình đạp thật chậm , tôi nín thở và tưởng tượng sẽ nghe được tiếng gọi tên mình thốt ra từ cửa miệng của nàng, thời gian trôi thật chậm tôi cố đợi chờ, chừng nghe tiếng của thím xẩm đang gánh cái gánh chè la lên tôi mới hoàn hồn :
- Cái thằng nhỏ này, chạy xe "li lâu", để con mắt lên trời hả, may thôi "lụng" tui té xỉu rồi "ló" .
Tôi lật đật nói lời xin lỗi thím rồi nhấn " pê đan" vọt thẳng về nhà trông thật bẽ bàng, chừng tỉnh táo lại tôi tự đặt câu hỏi , bánh và thư có tới tay nàng không? Nếu tới tay nàng rồi, bánh in đã ăn rồi sao không trả lời thư hoặc nói lời gì với tôi cho phải phép, nàng làm thinh có nghĩa là có thể nàng không thích tôi nên cố tình làm lơ, hoặc có thể món quà không đến tay của màng, nếu thất lạc thì quà đó ai đã cưỡm mất rồi, tôi bèn nghĩ ra cái kế để kiểm tra lại thật sự món quà ở đâu , nàng có sử dụng rồi mà làm lơ với tôi chăng, nghĩ là thực hiện ngay , tôi nóng ruột muốn tìm ra đáp số cho " bài toán" này, chờ đến trưa khi mọi nhà đều nghỉ trưa, tôi đến nhà nàng, tôi chạy ngay đến thùng rác để bên hông nhà , tôi dùng cái que nhỏ lục tung cái thùng rác ra xem coi có cái chứng tích gì của phong bánh in hoặc tờ giấy gói quà thì sẽ hiểu được vấn đề, " Dã tràng se cát biển đông" đó là ám chỉ cho hành động moi thùng rác nhà của Mai, tôi thất vọng không thấy gì ngoài rác của gia đình Mai bỏ ra, tôi thất thiểu ghé nhà thằng Cảnh, đến trước nhà tôi bắt gặp nó đang nhai mấy cái bánh in đậu xanh, dưới chân nó cái kẹp màu hồng nằm chỏng chơ, cạnh đấy đúng là lá thư của tôi viết bị ai vò nhàu nát, tôi hiểu ra sự việc bèn nhào tới cốc lên đầu thằng Cảnh một cái khiến nó đau điếng, tôi lên tiếng trách nó :
- Ông ngon quá há, quà tui tặng cho Mai mà ông dám " chôm chỉa" về đây ngồi ăn ngon lành vậy hả?
Tuy đang bị đau vì cái cốc của tôi, thằng Cảnh cũng lên tiếng phân bua:
- Ai nói ông tui chôm chỉa quà của ông tặng cho Mai.
Thấy bị “bắt tận tay, day tận mặt” mà thằng quỷ này còn lên tiếng chối bài hãi, giận qúa tôi lớn tiếng với nó :
- Cái này là cái gì đây ông , sờ sờ ra đó ông còn chối nữa hả , nghỉ chơi với ông luôn, bạn gì xấu hoắc.
Thay vì bực tức khi bị tôi mắng xối xả, vậy mà nó vẫn cười thành tiếng, nó nói với tôi :
- Ông bình tĩnh nghe tui nói nè , ông tặng quà cho Mai đúng không?
Tôi hỏi vặn lại nó :
- Ừa thì sao nữa ?
- Mai nhận rồi, nhưng Mai không xài, Mai đem lại đây nói Mai tặng cho tôi, nói xong nàng bỏ thí trên bàn rồi quầy quả quay về, màng không xài thì tui xài cũng vậy thôi đúng không, còn phân nửa phong bánh in kia chừa ông đó ăn đi cho hạ hỏa ông ơi! .
Thế là đã rõ , Mai đã gián tiếp cho tôi biết nàng không chấp nhận tình bạn với tôi, khỏi nói chắc mọi người cũng hiểu, tôi buồn đau vô cùng , nhìn đâu cũng thấy bầu trời u ám, tôi không tha thiết với mọi việc chung quanh nữa ,ánh mắt của Mai nhất là nụ cười thật tươi và không kém phần duyên dáng nó đã hốt hồn tôi trong cái nhìn đầu tiên khi nàng chính thức cư ngụ trong xóm tôi , sau này lớn lên tôi mới biết mình lần đầu bị "sét đánh" là đây.
Dân gian mình câu " Thua keo này, bày keo khác", tôi nỗ lực rất nhiều lần để cố lọt vào đôi mắt xanh của Mai nhưng càng ngày càng vô vọng , vậy là tôi mang cái bệnh thất tình từ dạo ấy, tôi học hành bắt đầu sa sút, khi biết được tình trạng của tôi mắc phải, ba tôi giận dữ ông cho đã bố tôi một trận bằng cây " chả lông gồi" đau điếng, sau trận đòn này dường như hiểu được tình cảm và nỗi đau trong lòng tôi, ba lấy lời khuyên giải.
- Tụi con còn nhỏ , chuyện bạn bè yêu đương sẽ ảnh hưởng việc học , con Mai nó làm vậy phải rồi con cũng đừng buồn, nhà Mai nghèo , đông anh chị em nó cố gắng học hành đỗ đạc để sau này còn phụ cho thím Hai nữa, yêu đương sớm qúa không nên con ạ.
Nghe ba tôi phân tích về Mai như thế,chẳng những tôi không để tâm ghét bỏ nàng, vì nàng chẳng thèm đoái hoài gì đến tấm chân tình của tôi mà tôi còn cảm phục Mai nhiều hơn.
* * *
Tôi lên đường nhập ngũ, đi chinh chiến miệt mài nơi những vùng xa tít tận miền trung nắng gió, nhớ nhà, nhớ bạn bè trong xóm nhỏ thân yêu, dĩ nhiên trong lòng tôi cũng còn chổ để chứa cái tình đơn phương với cô bạn nhỏ ngày nào, nhưng cuộc chiến khốc liệt khiến tôi tạm quên những chuyện buồn nơi miền hậu tuyến, một hôm tôi được một phong thư, phong thư mà tôi nghĩ chẳng bao giờ mình sẽ vinh hạnh có được, Mai gửi cho tôi một lá thư kể về tình hình hậu phương, chuyện xóm làng , chuyện những đứa bạn thuở nhỏ , đọc thư của Mai tôi thấy mình sống lại tuổi còn thơ, như cuộn phim chiếu chậm , tôi đã khóc khi hay tin vài ba đứa bạn đã " Ra đi" không hẹn ngày về, và tôi đã khóc trong Hạnh phúc nàng cố tình đối xử tàn tệ với tôi không phải nàng không hiểu tình tôi, mà nàng đã nói y như ba tôi phân tích sau trận đòn bằng chổi lông gà , tôi xúc động thật sự, tôi không thể là người tình của nàng , nhưng tôi có vị trí đặc biệt trong trái tim nàng, là một người anh kính mến của nàng .
* * *
Miền Nam gãy súng, cuộc sống hàng ngày của mọi gia đình bị đão lộn, gia đình của cô Hai trở về quê sinh sống, riêng Mai thì theo bạn đi định cư nơi xứ người quanh năm giá rét, tôi trở về sống lại nơi xóm nhỏ ngày nào, mỗi lần có dịp đi nganh căn nhà cũ của Mai nó làm lòng tôi lại xao động như Thuở nào.
Được tin cô Hai mang căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, tôi thẩn thờ cả ngày, tuy không bà con họ hàng gì với cô nhưng đã từ lâu tôi xem cô như mẹ mình, nên tôi thật sự sốc khi nghe hung tinh này, tôi lật đật vào bệnh viện thăm cô , mấy chục năm gặp lại mừng mừng tủi tủi, cô nằm trên giường bệnh mặt vẫn tươi cười cho dù tóc trên đầu cô rụng sạch nhẵn, cô nói đùa với tôi một câu khiến tôi già hai thứ tóc trên đầu mà phải bẻn lẻn vô cùng:
- Bây giờ bây còn thương con Mai không? Mầy là thằng rể hụt của cô đó.
Tôi xúc động tột cùng với câu nói đùa của cô, bởi vì rốt cuộc cũng đã hiểu được tấm chân tình tôi dành cho cô và cho cả gia đình Mai bấy lâu, từ giả cô tôi ra về với tâm trạng buồn vui lẫn lộn trong người.
Cô Hai .mất một chiều cuối đông sau ba ngày tôi gặp cô nơi bệnh viện, cô ra đi rất thanh thản không chút vướng bận, vì cô đã dốc hết sức để nuôi nấng , dạy dỗ cho đàn con yêu dấu thành đạt nên người, trong đó có Mai cô em gái của tôi đang là một khoa học gia danh tiếng nơi xứ người.
Cô Hai ơi! Con chúc cô " an giấc ngàn thu" nơi miên viễn cô nhé.
Hai Hùng
***
7 - Kích Cổ Thôi Hoa
Truyện Ngắn Quý Thể
" Kích cổ thôi hoa" là đánh trống giục hoa nở. Điển tích nầy lấy từ sự tích Võ tắc Thiên hay còn gọi là Võ Hậu mùa xuân ra thăm vườn thượng uyễn, thấy muôn hoa còn run rẩy trong ngọn gió cuối đông, chưa chịu khoe sắc.Võ Hậu giận lắm, hạ chiếu cho hoa viên quan bảo lính ngự lâm đem trống chầu, trống đại ra vườn hoa mà đánh thật mạnh, tiếng trống như tiếng sấm rền đánh thức hoa, giục cho hoa nở. Uy lệnh đức vua bà nghiêm khắc vô cùng, khiến bao nhiêu loài hoa vườn ngự, tuân chỉ răm rắp, nở ra những đóa hoa đẹp nhất kính dâng lên đấng kim thượng ngự lãm. Có một loài hoa, cây cao, lá to, hoa đỏ, một màu đỏ ánh lên sắc tím cánh sen, là loài hoa ngoan ngoãn hơn cả, mới nghe tiếng trống đầu tiên, cả họ hàng thức dậy, đồng lọat nở ra những đóa hoa màu đỏ rực rỡ tràn lan khắp nơi. Đó đây trong nhà ngoài sân ,ngoài vườn, một màu đỏ, màu của niềm vui, phúc lộc tràn trề. Vua bà hài lòng lắm hạ chiếu ban cho hoa ngự danh Mãn đường hồng( đầy nhà một màu đỏ). Hoa trà khoe sắc trinh trắng, hải đường khoe lòng chung thủy sắc son đỏ vui mắt, rồi thì mẫu đơn đủ màu sắc, nguyệt quế trắng trinh nguyên, mấy nàng hồng mang danh hoa hậu, huệ của hoa của nhà thờ, sen cua chùa chiền, phong lan vương giả. Chỉ riêng nàng cúc không chịu nở hoa.
Thời sơ khai ấy hoa cúc chỉ có mấy cánh, cánh to thô, mộc mạc, nhạt sắc phai hương, rất ít được yêu chiều và cũng chỉ mọc ở miền Hoa bắc. Có một nàng cung nữ lớn tuổi hết duyên bị thất sũng, biếm vào lảnh cung, suốt ngày chỉ biết ngồi bên hoa trò chuyện với hoa. Hoa với người đều tủi thân. Cả hai cùng chung cảnh ngộ và tâm sự. Nàng cung nữ nói, để ta ban cho ngươi sắc đẹp. Hoa không tin, hỏi:" Nàng là tiên nữ giáng trần sao? Nàng có phép lạ sao?" Cung nữ: - Không, ta chỉ là một cung phi bất hạnh, phép lạ của ta phát xuất từ lòng tốt. Chỉ với lòng tốt con người bình thường cũng có thể hóa thần thánh, đoạt quyền thượng đế phóng tay tạo phép màu nhiệm làm cho thế gian nầy tốt đẹp dễ chịu hơn. Ta sẽ tặng cho ngươi nhan sắc mới làm món quà xuân. - Cúc không tin. Cung nữ lấy chiếc trâm vàng mũi nhọn tước mấy cánh hoa to thành rất nhiều cánh nhỏ và dài uốn cong, phả vào hoa hương thơm. Từ đó cúc mới có nhiều cánh dài và toả hương, và sau nầy tự hoàn thiện và làm phong phú hơn lên bằng cách lai tạo với nhau và với loài khác thành nhiều loài như cúc ngày nay. Hoa cúc chỉ chịu rét, rất ghét cái nắng nóng phương nam.
Hôm "kích cổ" Cúc còn say giấc đông miên, không nghe tiếng trống " thôi hoa" chưa kịp thức dậy đón vua bà. Lệnh bà giận lắm, cho cúc phạm tội khi quân, xuống chiếu đày cả họ nhà cúc từ nay xuống ở miền hoa nam , không cho bén mảng lên hoa bắc.
***********
Anh Viễn tìm đọc sách xưa xem thử có truyền thuyết nào về hoa mai vàng của ta không? Không thấy, phương bắc cũng có mai nhưng khác, loài ấy là mai cho quả, trong Kiều có câu : " Quả mai ba bảy đương vừa..." Phương Bắc không có hoàng mai như miền nam. Hoàng mai là cây của phương nam, cây của miền nhiệt đới nắng lửa. Hiện tại Viễn cũng đang có" Vấn đề" với cây mai. Vấn đề cũng tại anh. Anh rất cần giục cho cây mai nhà mình nở hoa để chào đón người anh yêu là nàng ca sĩ ngôi sao tên Liễu Mai, một người nổi tiếng trong làng ca nhạc thành phố và cả nước nầy.
Có một lần anh đi phòng trà nghe hát. Nàng hát rất hay, anh vô cùng cảm phục, đợi nàng hát xong anh vội vàng cầm bó hoa lên sân khấu tặng. Anh được nàng kề má sắc hương. Hát xong nàng ca sĩ Liễu Mai cảm cái lòng ái mộ của anh, nàng xuống ngồi chung bàn. Bao nhiêu cặp mắt nam thanh nữ tú đổ dồn về phía anh. Họ không biết anh là ai , tất cả đều đoán anh là chàng công tử hào hoa giàu có ở nơi nào mới đến. Hai người quen nhau từ đó. Anh nhớ hôm ấy trong bài hát có câu:"...và anh sẽ tặng em mùa xuân..." Lúc nầy đã qua hạ nhiều tháng rồi. Song trong cơn hứng khởi không kềm chế được, anh âu yếm nhìn nàng nói :" Vâng, anh sẽ tặng em mùa xuân, đúng như lời bài ca..." Cô ca sĩ nghe thế chỉ thốt lên :" Xạo hoài ! Đang giữa mùa hè nóng thấy mồ nầy ông lấy mùa xuân đâu tặng tui?" Theo cô " xạo" nghĩa là láo, không thật, nói khóac, nói tướng... Tóm lại đều mang ý nghĩa xấu. Liễu Mai cô ca sĩ đầy thanh sắc song lại xuất thân trong cảnh quê mùa bần hàn, học vấn thấp, văn hóa kém, biểu lộ rất rõ trong cách nói năng. Thế nhưng đã yêu rồi anh thấy cách ăn nói đó thật hay, anh vẫn yêu, và tự hứa, với tình yêu khi cô ta về làm vợ, anh sẽ mài giũa để, nói theo kiểu cường điệu anh biến đá thành ngọc và sắt thành vàng, than hoá kim cương! Tình yêu làm được nhiều thứ kì diệu. Anh sẽ biến hóa để nàng thành người thuộc đẳng cấp thượng lưu, quí phái, học thức...Hôm ấy anh đã hứa chắc :" Cứ chờ đó! Không lâu đâu. Lúc nào thuận tiện dù mùa xuân chưa đến anh sẽ đem tặng công chúa của anh, một mùa xuân đẹp"
Nhà anh có cây mai, năm nào mai cũng ra hoa rất đẹp. Tết đến người ta tốn tiền mua mai, riêng anh thì không. Năm nay cũng như mọi năm cây mai nhà đã trổ hoa rất đẹp, hoa nở lai rai từ 27 tết đến đêm giao thừa sáng mồng một hoa nở rộ lên, rồi sau đó nở chậm lại cho tới hết tháng giêng. Nhờ anh biết chăm sóc và năm nào cũng trảy hết lá mai vào đúng ngày rằm tháng chạp, nên hoa nở đúng kì , trước tết mấy ngày và nở rộ vào ngày đầu xuân. Khách khứa vào nhà thấy cây mai đầy hoa từ gốc đến ngọn, hoa kép, nhiều cánh, tỏa hương thơm lừng ai cũng quở:" Năm mới hoa nở như thế nầy thì tha hồ hưởng tài hưởng lộc nhé!"
Thế nhưng không rõ tại sao năm nay mai lại chẳng cho một hoa nào. Viễn nhớ suốt năm qua anh vẫn bỏ công chăm sóc mai, lâu lâu lấy bớt đất cũ ra, vô phân mới, đất mới và đôi khi được bạn bè tặng gói phân phun lá, nhúm phân vô cơ, phân vi sinh anh đều bón cho hoa. Và hồi tháng chạp, nhân dịp nghỉ phép năm anh dành nhiều thời gian cho khu vườn nhỏ. Trước tết 20 ngày anh đã vặt trụi lá từ gốc tới ngọn. Sắp đến tết Viễn không còn hồi hợp chờ hoa như những năm đầu, vì giờ đây anh đã có nhiều kinh nghiệm và hiện tại cây mai đã nhú những mầm non trông như những chiếc ngòi bút tí hon. Anh hi vọng năm nay mai còn đẹp hơn mọi năm. Thế nhưng năm nay lạ quá, những mầm nhọn như đầu ngòi bút ấy chỉ là mầm lá. Tòan mầm lá, không hề có lấy một chiếc búp. Lúc đầu anh nghĩ tại thời tiết khác thường, năm mất mùa mai, song không phải, mai vườn nhà người ta cũng đã vàng rực. Thế thì tại cây mai nhà anh trở chứng hay có vấn đề gì đây? Mùa xuân này cũng là lần đầu tiên anh phải thân hành ra chợ mua mai, chở xích lô đem về chưng tết, vừa tốn tiền lại không được như ý. Mai không ra hoa làm anh buồn, song cùng với nỗi vui chung của mùa xuân, anh chóng quên.
Bây giờ đã giữa tháng năm dương lịch, hết xuân lâu rồi mà vì yêu vì rượu, vì hứng bất tử, dám nói tặng người ta cả mùa xuân. Mai là loài hoa riêng của mùa xuân. Lấy mai tượng trưng cho mùa xuân trên đất nước mình là tốt nhất. Mấy năm trước, thường vào ngày 20 tháng chạp anh đã nhờ người bê chậu mai rất to rất nặng vô nhà, đặt nơi phòng khách và những năm trước thời kì đó trên cành đầy nụ xanh và đã lác đác vài đóa hoa vàng. Anh cũng đã bắt đầu trang trí cành mai, treo chùm đèn nhấp nháy nhiều màu và cột các tấm danh thiếp bạn bè gần xa gởi tới chúc tết.
Riêng năm nay cây không ra hoa nên anh không bê chậu mai vào nhà. Những chiếc búp như ngòi viết chỉ nở ra chùm lá xanh tươi, thay áo mới cho cây, thắp lên màu xanh lá non cho những cành khô trông cũng đẹp , nhưng vẫn thiếu sắc vàng điểm xuyết . Giờ đây, sau mấy tháng cuối xuân khô hạn, thêm một nửa mùa hè không được tưới giọt nước mưa nào, lá non trở thành lá già. Trừ truyền thuyết " Nhị độ Mai" thì mai không thể nở hai lần. Viễn nghĩ, cây mai nhà mình còn nợ mình một mùa hoa, còn giấu trong nó cả một mùa xuân, làm sao cho nó bật ra? để mừng sinh nhật Liễu Mai.
Anh nghĩ ra rồi. Chẳng cần "kích cổ thôi hoa" như sự tích xưa. Anh đã có cách "thôi hoa". Cách ấy là phải làm một mùa xuân giả để lừa cho cây ra hoa. Viễn bắt đầu thay thế quyền tạo hóa làm thêm cho năm nay một mùa xuân nữa, ấy phải là mùa xuân thứ hai trong năm, đi ngược qui luật đất trời song anh nghĩ , với sự giúp đỡ của khoa học kĩ thuật bây giờ anh có thể làm được. Vậy thì chỉ cần đánh lừa cây, làm ra một mùa xuân nhân tạo.
Muốn thế việc trước tiên là phải chống nóng, chống nóng đã có máy lạnh. Anh nhờ người khiêng chậu mai vào phòng làm việc, họ hỏi khiêng vào trong đó làm gì? Anh nói để nơi làm việc có màu xanh nhìn cho mát mắt. Viễn mở máy lạnh để chạy suốt ngày đêm. Không khí lúc nào cũng 20 độ, anh quan sát thấy cây có vẻ tươi tốt hơn lúc ở ngoài vườn chịu cái nắng tháng năm. Thế nhưng nhiều ngày sau, mọi thứ trên cành đều trở nên nhợt nhạt. Anh chợt nghĩ ra, trách mình ngốc. Cây xanh cần ánh sáng để quang hợp. Nhưng không lẽ ngày nào cũng nhờ người khiêng ra khiêng vào? Anh cần phải làm ông mặt trời giả thôi. Anh bắt thêm mấy ngọn đèn néon thước hai mở sáng suốt ngày. Cây có khá hơn, lá lại xanh tươi. Thế nhưng vẫn còn thiếu một cái gì, anh nghĩ ra rồi. Thiếu độ ẩm trong không khí, lạnh làm cho bao nhiêu hơi nước trong không khí ngưng tụ thành sương, không khí khô quá, cây không chịu. Anh đặt mấy thau nước gần cây, song thấy không hiệu nghiệm, mấy chậu nước có mặt thoáng nhỏ quá, bốc hơi chậm, không đủ, phải tạo mặt thóang rộng hơn, có một cách hiệu quả và đơn giản hơn cả là đổ nước lên sàn nhà. Bây giờ nhà anh lúc nào cũng lênh láng nước. Rất bẩn, không quét nhà được, nhưng đã lỡ hứa làm ra mùa xuân nên anh đành chịu bao khổ sở bực mình. Bây giờ chẳng cần máy móc đo độ ẩm , mới bước chân vào phòng đã thấy không khí đầy hơi nước.
Cái "tiểu thế giới " ( Biosphère) đi ngược qui luật đất trời cốt tạo một miền cao nguyên mát mẻ đầy hoa giữa lòng thành phố nắng nôi ngột ngạt nầy đã thành công. Một lần anh ngồi ghế mây nhắm mắt lại tưởng tượng thấy chỉ còn thấy thiếu tiếng thông reo tiếng, tiếng chim hót, tiếng suối róc rách, nữa là hoàn toàn giống Đà Lạt. Anh tính toán thời gian và thấy đã đến lúc ép xác cây, bỏ nó nhịn khát, và tuốt lá. Sau thời gian ngừng tưới, cây có vẻ khô cằn. Nó đang trong thời kì thối lui để lấy đà lao vào mùa xuân, nở ra những bông hoa đẹp nhất. Sau thời kì khắc khổ anh cho cây thêm phân thêm đất và thêm nước. Trên những cành trụi lá đồng loạt nhú lên những chồi non, chồi lá và rất nhiều chồi nụ.
Hoa chẳng phụ công người. Cây mai sống trong mùa xuân giả, một mùa xuân nhân tạo cũng theo qui luật sinh học, làm tròn nhiệm vụ thiên phú, nghĩa là đến kì cũng nở nhụy khai hoa... Cũng vừa đúng lúc sinh nhật lần 22 của nàng Liễu Mai. Viễn tính toán phi phỏng thôi nhưng sao lại đúng phóc, sinh nhật của người yêu cũng là lúc cành mai nở rộ! Viễn vô cũng mừng rỡ, anh chắc Liễu Mai sẽ ngạc nhiên, còn hơn cả sự ngạc nhiên, là sự thán phục, về điều chỉ có người yêu của nàng làm được, và có lẽ chưa ai yêu ai, chưa ai khổ vì một lời hứa một cách công phu như chàng. Đó là cách anh nghĩ.
Hôm nay Liễu Mai chưng diện rực rỡ như những lần nàng lên sân khấu, một bà hòang ca nhạc. Nàng cũng chính là một đóa hoa đầy hương sắc. Mới bước vô nhà, Mai nhìn xuống nền nhà ẩm ướt, ái ngại than: " Nhà cửa..." Anh Viễn thực thà không hiểu hỏi:" Gì? Nhà cửa ai?..." Mai không cần trả lời. Nàng mang đôi dép gót cao cả tấc, thấy cao hẳn lên hơn ngày thường, cái váy nàng mặc hôm nay thuộc loại maxi kiểu rất mới, rất dài, thấy tha thướt lượt là, đứng thẳng váy chỉ còn cách nền nhà một vài phân. Ngồi xuống, thế nào chiếc váy viền đăng ten nầy thế nào cũng chấm nước. Mai kéo váy rón rén bước vào. Khi đã ngồi lên ghế ý tứ gác đôi chân thon dài và rất đẹp, nàng rất kiêu hãnh về đôi chân dài và rất sung sướng khi nghe bọn đàn ông, giới ăn chơi thì thầm " Trường túc bất tri lao"( Chân dài chẳng biết mệt) nàng nhìn quanh, ánh mắt khó chịu, than: " Anh sống trong căn phòng kín như cái hang nầy mà chịu được, cũng lạ. Sao không mở tung cửa sổ ra cho ánh sáng vào nhà? Ban ngày lại thắp làm gì hai ba ngọn đèn thước hai?"
Viễn thấy không nên giải thích, chàng cần giành cho nàng sự bất ngờ, sự kinh ngạc. Anh ngầm quan sát từng cử chỉ nhỏ nhặt của người yêu, trước tiên là ánh mắt rất khó chịu khi nàng nhìn xuống nền nhà. Sau đó là khó chịu vì sự chật chội và ngột ngạt. Nàng xít xoa nho nhỏ, lấy hai tay xoa vào nhau và xoa hai cánh tay để trần, rên rỉ: " Lạnh quá, tay chân nổi da gà hết trơn hết trọi rồi đầy nè! Da thịt người ta ngày thường được tiếng trắng mịn màng mới ngồi có một tí nổi cả mốc meo lên, gớm chưa?" Viễn cầm cái điều khiển chỉnh số nhỏ cái máy điều hòa không khí. Mai nói vẫn còn lạnh, gắt: "Thôi tắt mẹ nó đi!" Mai nói: " Mở toang cửa ra, ngột ngạt quá ai chịu cho nổi?" Anh đứng lên làm theo, ánh sáng tràn vào căn nhà lâu nay đóng kín cửa, mọi thứ đều sáng trưng, đẹp nhất là những bông mai vàng đa cánh rực rỡ.
Liễu Mai tỏ ra hoàn toàn không thích thú gì về cái vi khí hậu, cái mùa xuân nho nhỏ người yêu mình bỏ ra bao nhiêu công sức tiền bạc. Nàng chú ý đến mọi thứ lặt vặt song không hề nhìn cây mai vàng đang khoe sắc vì nàng. Viễn ban đầu mới hơi buồn, sau thì hơi thất vọng, sau nữa thì hoàn toàn thất vọng rất buồn về cô gái nầy. Anh thấy mất hết hứng thú. Anh mong nàng về để anh còn lại một mình với hoa. Hoa đẹp thơm tho tử tế còn người vô duyên ngốc nghếch, xấu xí, người chỉ gây sự thất vọng. Anh tức giận mình vô cùng, sao lại chọn người như thế để khổ công yêu dấu và tôn thờ?
Lúc gần về Liễu Mai mới vờ ngạc nhiên:
- Ủa! Anh mua cành mai giả nầy hồi nào? Bao nhiêu tiền? Mình người tử tế nhà cửa đàng hòang, chưng chi đồ giả?
Viễn thất vọng chua cay, anh thấy với người kém cỏi như thế. chẳng cần biện bạch, phân trần chi cho mệt, anh trả lời cho qua chuyện:
- Ừ , chưng cho vui , rẻ thôi...
Chẳng cần nhìn lâu, Mai nói:
- Không đẹp chi cả! Xấu òm! Không giống bông thiệt , mới bước chân vô nhà đã biết đồ dỏm... Mùa hè chưng cây mai làm chi? Thấy lãng xẹt!
Rồi Mai tiếp, giọng tỏ ra rất sành sõi:
- Nơi góc đường Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Đạo trong quận 5 Chợ lớn, có hàng bán vật liệu làm bông giả, bông, búp, lá, và cả cành nữa...Mua mỗi thứ vài trăm cà-ram đem về, lượm cành cây khô gắn vô, đẹp mất hồn giống hệt thứ thiệt, mà lại còn rẻ nữa. Còn nếu có tiền bỏ ra kha khá mua cành mai giả bằng nhựa, bằng vải. Hoa vải đẹp mất hồn! Còn cành mai nầy mua bao nhiêu tiền, mới liếc qua đã thấy là đồ giả, đồ dỏm trăm phần trăm !!! ./.
Quý Thể
***
6 - Tắm Bến Sông Xuân
Quý Thể
Sông Hương đêm trăng trông như dải lụa xám ánh bạc màu da con rái cá, mềm mại thướt tha uốn lượn giữa hai bờ, lấp lánh ánh đèn trong hàng cây ven bờ run rẩy ngã bóng xuống mép nước. Vài con thuyền cắm sào đậu giữa dòng giống những chiếc đinh đóng trên mình lụa tạo thành nếp nhăn hình mũi tên nhọn kéo về phía hạ lưu . Mặt sông mát rười rượi, ngồi trên thuyền nhắm mắt lại tưởng như có muôn vàn chiếc bong bóng mỏng như bọt xà phòng chứa đầy hơi mát vỡ ra làm mặt sông tràn ngập trong làn hơi lạnh và ẩm. Không khí đứng yên hoặc xao động nhè nhẹ như hơi sương bên sườn những chiếc thuyền nan .
Dòng Hương đêm nay vắng lặng lạ thường, đến khuya ngưng cả tiếng súng. Thành phố nhọc nhằn lịm trong giấc ngủ vội vàng để mai đây lao vào cuộc trường chinh sinh tử tìm chút hy vọng tiến về phương Nam, phương của tự do. Phải rất lâu dòng sông mới có được một đêm êm ả lạ thường bất ngờ như đêm nay. Đó là đêm vào tháng hai năm bảy lăm. Thời điểm này thành phố Huế sục lên như một nồi nước sôi. Những tin tức dồn dập đưa về báo trước sẽ có một cuộc biến chuyển long trời lở đất, thay chủ đổi ngôi, may rủi ra sao chưa ai lường trước được. Đủ sắc lính từ vùng một, địa đầu hoả tuyến hốt hoảng dồn về đây, mang theo cả sự hỗn độn náo loạn cho một vùng đất vốn xưa nay yên tĩnh. Huế trông như chiếc túi đựng đầy người với bao nỗi hoang mang và bằng mọi thứ phương tiện cố tìm cách chạy về phương Nam trong một chuyến đi cuối cùng định mệnh, trên con đường vô vọng không chắc đã có đích tới .
Chỉ có tôi, một con người thường làm chuyện ngược đời và điên rồ, lựa đúng vào cái thời điểm hấp hối của một chế độ, làm cuộc len lỏi giữa dòng người hằng hà sa số như con cá ngược dòng ra chốn đế đô tìm chút hương vị phong lưu muộn màng của đất thần kinh. Và giờ đây, mười hai giờ khuya tôi đang nằm trên chiếc đò dọc thả trôi trên dòng Hương Giang thơ mộng. Có lẽ đêm nay tôi là lữ khách duy nhất, con đò này là con đò suy nhất, và người chèo thuyền là kỹ nữ cuối cùng, tìm hưởng chút phong lưu trong giờ phút mà lịch sử chuyển mình sang trang. Cô lái đò lúc đầu tưởng tôi là người điên, sau lại tưởng tôi là triệu phú vì tôi trút hết cho cô ta số tiền rất lớn mà tôi đang có. Tôi biết nay mai nó sẽ hoá thành giấy lộn cùng với cái chế độ đã sinh ra nó và ngự trị trên đất này hơn hai mươi năm .
Lên thuyền không hẹn mà chúng tôi vẫn không đá động chuyện thời cuộc sôi động trên bờ. Mấy ngày hôm nay mắt và tai chúng tôi đã tràn ngập tin tức và hình ảnh tang thương hỗn độn chết chóc rồi. Tôi bảo cô gái chèo ra giữa sông, bỏ mặc đó cho thuyền muốn trôi đi đâu thì đi. Tôi cũng phó mặc đời mình cho dòng đời đưa đẩy tới đâu cũng được. Chúng tôi vừa tìm thấy một đề tài thú vị : bàn chuyện mấy món ăn xứ Huế, những thức ăn tiêu biểu mà nghĩ đến ai cũng thấy nhớ Huế. Cũng may cô lái đò sành chuyện nấu nướng, bánh trái. Tôi hỏi về cách làm bánh bèo, bánh nậm, bánh ướt...Lúc này mà lại đem cái thú phong lưu ăn nhậu ra bàn thì hẳn phải là kẻ đại anh hùng hào kiệt, còn không thì phải là một thằng điên mới có thể chịu đựng nỗi sự tác động mạnh mẽ như những nhát búa của tin tức thời sự đập vào đầu óc, trái tim và hệ thần kinh của mọi người. Tôi nhờ có cách riêng của mình để thoát tục. Cô gái nói giọng Huế, giọng cô rặt một thứ âm sắc lờ lợ như muối pha đường. Cô nói:
- Bánh chi thì bánh, gạo chi thì gạo, ngon dở cũng ở cách lấy trùng...
Về sau tôi mới hiểu "lấy trùng" là tuỳ kinh nghiệm mà dùng bột lỏng hay đặc, xay nhuyễn hay xay thô. Riêng món bánh khoái (bánh xèo) xay bột hơi thô bánh mới giòn, còn mấy thứ khác xay càng nhuyễn càng tốt. Tôi hỏi :"Gạo gì làm bánh ngon nhất?". Cô đáp:"Gạo gie An Cựu". Sẵn dịp tôi hỏi luôn :
- Có phải "Gạo gie An Cựu, cá rô bà Bầu" không ?
Cô gái sửa :"Không phải cá rô bà Bầu, mà cá rô bàu Bà" rồi cô giảng bàu là chỗ đất trũng chứa nước ở cánh đồng rộng. Chỗ này mọc đầy sen súng có nhiều cá, nhất là cá rô. Về mùa khô hạn bàu là nơi lấy nước làm đồng, cũng là chỗ trâu dầm. Bàu Bà là cái bàu ở làng Lang-Xá-Bàu, muốn đi tới đó đến An Cựu qua cống Phát Lát đi tiếp sẽ gặp. Cá rô bàu Bà ngon có tiếng, cá vàng ươm đầy mỡ vì chúng được ăn lúa gie cánh đồng An Cựu. Những hạt lúa rơi rụng ngoài đồng sau mùa gặt mưa trôi xuống bàu cho cá ăn. Cũng có khi nước lớn cá tràn lên đồng kiếm lúa, nước rặt lại trở về bàu. Cô gái giải thích : "Bà đây không phải là bà nào cả. Người mình cái chi to thì gọi là bà, như dơi bà, bướm bà, trầu bà..." . Cô còn cho biết gạo gie nhưng phải là gạo lúa mới, mới dẻo và thơm. Gạo lúa cũ, mùa trước, nấu lợi cơm, hạt nở, ăn "hiền" người già và người bệnh ăn rất tốt. Lúa mới ngon nhưng độc, khó tiêu. Tôi bắt chước giọng Huế hỏi :
- Còn "dưng, dụy" (nhân bánh) thì sao ?
Cô gái cười đáp :" Nói như rứa là theo kiểu Huế nhà quê, như "xuốt cái dà" (quét cái nhà), người Huế thành thị không nói như rứa mô! ". Theo cô thì nhân mấy loại bánh này đều làm bằng thịt heo nạc, thịt mỡ, nấm mèo, hành tiêu và cần nhất là tôm. Cô dừng lại giải thích rất rõ về khoản này :" Có tôm bạc mỏng vỏ thì ngon nhất, không có mới dùng tôm đất, tôm sú. Tôm tươi mới tốt, cực chẳng đã không có mới lấy tôm khô. Đã là tôm nó có màu tự nhiên, cho màu là dở rồi. Bánh nậm gói bằng lá chuối hột, lá không già không non, hơ qua lửa cho héo mềm, lấy mỡ heo bôi trơn, đổ bột đã lấy trùng nửa sống nửa chín lên lá, cho nhân vào gói lại, không dày lắm, không mỏng lắm, hấp vừa chín, ăn nóng bánh còn mềm chưa ngon, phải ăn khi bánh âm ấm. Cô gái dừng lại bàn chuyện hành mỡ. Theo cô dùng mỡ heo tốt nhất, dầu chi, khử cách chi, người sành ăn cũng chê, gia vị vừa phải. Cô nói :" Ngày xưa đâu có vị tinh (bột ngọt, mì chính, từ chữ "min-chin" tiếng Tàu ) mà vẫn đậm đà ý vị."
Cô gái sành chuyện bếp núc này tự nguyện cung cấp cho tôi khoảng hơn hai mươi cái công thức chế biến món nước chấm, vì theo cô nước chấm quyết định giá trị món ăn. Tôi mở sổ ra ghi, cô đọc tỉ mỉ cân lượng chẳng khác gì công thức chế tạo ngòi nổ cho bom hạt nhân và cô bảo tôi giữ bí mật mấy loại nước chấm này như bí mật quốc phòng! Cô mở bánh nậm dọn ra dĩa cho tôi thưởng thức. Bánh còn ấm, bột dẻo mềm, nhân thơm phức. Cô hỏi tôi :
- Anh thấy nước chấm bánh nậm ra răng ?
Tôi thấy nó mằn mặn, lờ lợ, ngòn ngọt, có quả ớt gì không biết nhưng còn xanh, xắn ra bằng muổng, hột ớt rất to nổi lềnh bềnh. Tôi chịu không trả lời được. Cô nói :
- Nó ngọt là vì dùng nước mắm Lăng Cô hạng nhất pha với nước luộc tôm, không dùng bột ngọt mô. Bột ngọt ăn lủng bao tử !
Chiếc thuyền trôi chầm chậm. Tôi nằm ngữa nhắm mắt để không thấy thuyền đã trôi về đâu. Con thuyền thật giống với cảnh đời tôi, đời cô gái và cảnh đời của hàng vạn con người đang ngủ thiếp trong những căn nhà hai bên bờ sông Hương đêm nay. Tôi lắng nghe sóng vỗ róc rách mạn thuyền, mở mắt ra, một trời chi chít đầy sao như ai ném những vụn thuỷ tinh lên đầy trời. Mặt trăng cuối tháng méo mó trắng bệt như khối bạch lạp gọt không được tròn. Tất cả bầu trời lệch nghiêng về một phía giống như có ai cầm đầu dốc xuống. Thuyền và rượu làm cho tôi chóng mặt. Tôi thấy sao và trăng lặn về phương Nam . Đêm nay trong giấc mơ của hàng vạn con người, chắc cũng hiện cảnh trôi dạt về một phương trời vô định .
Thuyền chúng tôi chẳng bị ai quấy rầy như mọi khi, các khách làng chơi, những thuyền bán chè cháo, thuốc lá bia rượu trốn đâu cả. Thực là một đêm để nhớ sông Hương suốt đời. Tôi ước chi có tiếng hò. Cô gái nói cô không biết hò mái đẩy, nam bình nam ai, cô chỉ biết nhạc mới. Tôi nói không muốn nghe nhạc mới, chắc cô buồn song cô cũng nên thông cảm cho kẻ này đã chán ngấy cảnh đờn ca son phấn nói cười nhộn nhịp ồn ã "xứ đàng trong" rồi. Tôi hỏi :
- Người ta chạy hết sao em không chạy?
- Chạy mô?
Hồi đó tôi cho rằng thực là một câu trả lời ngớ ngẩn. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy đó là câu trả lời thông minh nhất. Phải chi mọi người đều biết trả lời như thế thì sẽ đỡ biết bao nhiêu hao tốn vô ích cho cuộc Nam tiến đầy thất vọng này. Tôi hỏi :
- Sông có sâu không ?
- Sâu, hỏi làm chi ?
- Để nhảy xuống ...
Cô gái hốt hoảng thét lên :"Đừng!". Tội nghiệp cô tưởng tôi tự tử, cô đâu có biết tôi là quán quân bơi lội trên biển. Sông Hương thì sá gì. Cô gái sợ cũng phải, trên dòng sông rộng mênh mông, giữa đêm khuya không một bóng người, trên con thuyền tre mỏng manh với một thằng say, còn hơn say nữa, có thể đây là thằng điên chán đời. Cũng may lúc đó bỗng đáy thuyền chạm cát lòng sông kêu sạt sạt. Cô gái nhìn lên bờ kêu :" Mới đó mà đã trôi đến cồn Hến rồi ! ". Con thuyền mắc cạn dừng hẳn lại. Cô gái xắn quần lội xuống đẩy thuyền. Tôi là nam nhi, đấng trượng phu, người quân tử không lẽ vào phút nguy nan nằm đờ ra đó cho gái thuyền quyên lôi thuyền đi ? Tôi cũng leo xuống đẩy. Một lúc thuyền đã ra chỗ nước sâu. Tôi nổi máu càn rỡ, lao tới ôm cô gái. Cô la oai oái, áo quần ướt sũng. Tôi thường hay bị kích thích bởi cảnh trí thiên nhiên hoang dã thế này. Bỗng tôi "giác ngộ" khám phá ra một diều... Không biết các nhà bác học mỗi khi tìm ra chân lý có sung sướng như tâm trạng của tôi đêm nay không? Tôi cũng vừa phát hiện ra một bí mật hay ho tuyệt vời. Tôi cười rú lên. Cô gái tưởng tôi hoá điên hỏi :
- Cười chi dữ rứa ?
- Tôi hiểu ra do đâu thức ăn ở Huế ngon rồi.
- Nghĩ ra rồi sao, nói nghe thử coi .
- Thực là bí ẩn, nếu không có cuộc tắm sông với em đêm nay... thì không thể nào biết được. Không phải nhờ gạo gie An Cựu, cá rô bàu Bà, cũng chẳng phải cách "lấy trùng" bột, cũng chẳng phải tôm bạc, tôm đất, hay tôm sú... mà thức ăn Huế ngon là "dờ"...
- Nhờ cái chi?
- Thức ăn ngon là nhờ ...
- Nhờ chi ?
- Nấu bằng nước sông Hương...
- Nước nào chẳng là nước. Chỗ mô cũng có sông có nước.
Tôi bắt chước giọng Huế:
- Chỗ mô cũng có sông có nước, nhưng nước sông Hương là ngon "dất"( nhất)
- Mần răng mà nước sông Hương lại ngon dất?
Bây giờ tôi mới lật con bài tẩy:
- Nước sông Hương ngon là nhờ gái sông Hương !!!
Cô gái ngẫm nghĩ một lúc, thấm ý, cười rú lên :
- Đồ quỉ quái! Ăn nói chi lạ rứa ?
Sông Hương lặng lẽ trôi. Dòng đời chậm rãi trôi, không ngờ hai mươi năm sau tôi vẫn còn "trôi". Tôi trôi khắp nơi kể cả trôi qua bên kia bờ đại dương, đến nay vẫn chưa có bến đỗ. Hồi đó ai ngờ có ngày mình sẽ ngồi viết lại câu chuyện "Dòng sông xuân " này.
Quý Thể
****
5 - Qua Rồi Đêm Trung Thu
Truyện Ngắn Phan Trang Hy
Gần đến Trung thu. Bọn trẻ con đứa nào cũng náo nức đón chờ. Không phải chúng chờ bánh kẹo, chờ phá cỗ. Mà chúng chờ được làm lân, được múa lân.
Thằng Bảo tập hợp bọn trẻ lại phân công làm lân. Đứa mua dây thép, đứa kiếm tre làm khung đầu lân. Đứa thì tìm giấy dán, đứa thì tìm sơn xanh, sơn đỏ...Rồi đầu lân hoàn thành. So với lân bán ở thị trường thì lân của chúng không đẹp bằng, nhưng được cái là tự chúng làm thì mới thú.
Bọn chúng bỏ ra ba đêm để tập múa. Tiếng trống lân làm ồn cả xóm. Bà Sáu thường có tính không ưa ồn ào vì bà đang chữa bệnh, thế nhưng, những ngày này bà như khoẻ ra. Bà cười nói với bọn trẻ. Bà lại xuất tiền hưu của bà thưởng cho bọn chúng gói quà to tướng để chúng bồi dưỡng tập múa. Mấy đứa con nít hay làm nũng, giờ thì cũng hết, không cần dỗ, cũng ăn nhanh để còn kịp xem lân tập múa. Đến nhà cô Hải mở trò chơi điện tử, ngày thường đông bọn trẻ đến chơi, còn giờ thì vắng tanh, những chiếc máy được giải lao. Cả xóm xem bọn trẻ tập múa. Cả xóm ồn theo tiếng trống. Cả xóm vui theo tiếng trống. Cả xóm rộn ràng theo tiếng trống.
Trăng lên. Hoà trong ánh điện là ánh sáng bập bùng của những ngọn đuốc. Tiếng trống rộn ràng như mờị mọc mọi nhà mở cửa đón lân. Tiếng trống đánh thức tuổi già về với trẻ con ; đánh thức đàn ông, đàn bà về với tuổi vô tư ; đánh thức con trai, con gái về tuổi mới lớn ; đánh thức cả trời cổ tích về mừng Thạch Sanh chém được Xà tinh... Tiếng trống đánh thức giấc ngủ cả năm ở cái xóm này.
Lân đi từng nhà. Không nhà nào từ chối bọn trẻ. Bọn trẻ như làm chủ cả xóm. Lân của xóm khác không dám đến đây múa. Phần vì sợ lân ở đây đánh, phần vì không có ai mời múa. Hầu như đã thành lệ, lân xóm nào thì múa ở xóm đó, trừ trường hợp những đoàn lân chuyên nghiệp.
Trăng đã lên cao. Bọn trẻ đã múa hết các nhà trong xóm. Bọn chúng mệt. Từng ngọn đuốc rụi dần. Cả xóm hầu như không còn đoái hoài đến chuyện múa lân.
Gần hết rằm. Thi thoảng từng tiếng trống rời rạc ở đâu đó như nuối tiếc đêm rằm Trung thu.
Bọn trẻ tập trung ngoài ngã ba. Bọn chúng kháo nhau:
- Anh Bảo! Múc chè ra ăn đi! Múc chè ăn đi!
Bọn trẻ đã chuẩn bị chè hồi chiều tối. Lệ thường, năm nào cũng vậy, sau khi múa lân xong là chúng ăn chè quanh lân được đốt. Thằng Bảo nói như ra lệnh:
- Mấy đứa bay đợi đốt lân đã.
Thằng Nhật mới tham gia múa lân lần đầu, thắc mắc hỏi:
- Sao đốt uổng thế, anh Bảo? Để dành sang năm múa.
Một thằng như từng trải, nói:
- Đốt để lấy hên. Để lại xui lắm. Sang năm làm cái khác.
Bọn chúng chẳng biết có xui hên không. Nhưng thằng Bảo thì biết rất rõ là mỗi lần gần tới tết Trung thu, được làm lân, được múa lân là niềm vui. Bỗng thằng Bảo thở dài:
- Đốt đi bay!
Ngọn lửa bùng lên. Từng tiếng húp xột xoạt quanh những chén chè. Bọn trẻ nhìn ngọn lửa rụi dần. Thằng Bảo nói với bọn trẻ:
- Bọn bay nghe tau nói đây. Trung thu này, sau khi làm đầu lân, mua dầu lửa, mua nước uống, nấu chè, nói chung là mọi thứ mua sắm, thì còn được hơn năm chục ngàn. Số tiền này, tau giao lại cho thằng Long giữ để sang năm làm đầu lân mới.
Thằng Nhật lên tiếng:
- Sao anh Bảo không giữ để sang năm làm?
Thằng Bảo giọng buồn buồn:
- Tau lớn rồi! Sang năm tau không còn làm lân, không còn múa lân nữa đâu.
Bọn trẻ nhao nhao:
- Còn chè không? Cho thêm chén!
Trăng xuống dần...
Phan Trang Hy
***
4 - Ngõ Hẻm Tận Cùng
Truyện Ngằn - Vũ Thanh Hoa
Có tiếng đổ rầm của vật nặng rồi tiếng rên rỉ. Chị đoán là một con chó. Cái góc cống nằm tận cùng con hẻm bẩn thỉu và lắt léo này thường tiếp đón những con chó ốm hoặc bị đánh vì ăn vụng vào những buổi khuya khoắt. Kệ, chị cố nhắm mắt. Đêm đông Sài Gòn không rét nhưng vẫn đủ giá lạnh cho người đàn bà cô độc đang tuổi hồi xuân. Đôi mắt vẫn mở chong chong vì cơ mắt chẳng co kéo được hàng mi dày đã bị biến dạng hai mươi năm nay. Hai mươi năm, chị chưa một lần dám nhìn lại khuôn mặt mình. Chị nhớ trước đó, chị đẹp lắm, đẹp mê hồn và lãng đãng...Hai mươi năm, chị chỉ bước ra ngoài khi trời xâm xẩm tối, khi đã trùm kín mặt mày .
Tiếng rên to hơn, như khắc khoải cầu xin, chị nhận ra tiếng người...Khiếp quá! Chị co rúm lại trong chiếc chăn dày, lần này thì nghe rõ: "Hừ hừ...đau quá...cứu tôi, đau quá...”. Chị bật dậy hé cửa và giật bắn mình: Một người đàn ông đang quằn quại, máu loang bê bết trên đầu, cổ, ngực...
- Làm sao thế này ? - Chị run rẩy hỏi và toan đóng cửa lại.
- Cô ơi, hãy làm ơn...tôi chết mất...- Người đàn ông lết tới và túm được đầu gối chị. Chị sợ run bần bật. Chung quanh vắng lặng và tối tăm, lâu lắm rồi chả có ai mò vào tận cuối con hẻm nơi có góc cống bẩn thỉu và căn phòng dột nát của người đàn bà ẩn dật. Bàn tay càng bíu chặt, hình như người đàn ông bật khóc. Chị sẵng giọng:
- Buông chân tôi ra!
- Tôi không hại gì cô đâu, tôi sắp chết rồi, mong cô làm phước cứu giúp một con người... - Giọng gã đứt quãng và yếu dần. Chị bối rối. Chưa ai "làm phước" cho chị và chị cũng chưa từng "làm phước" cho ai. Cuộc đời chị đong đầy bội bạc. Nhưng giờ chị có thể mặc gã đấy và đóng cửa ngủ lại được không nhỉ? Chị mở cửa, bảo:
- Thôi được. Vào đi.
Người đàn ông ráng sức gượng dậy nhưng lại ngã vật ra, gã thì thào:
- Cô ơi, tôi...không nhìn thấy gì, tôi... mệt quá...
Chị nhìn gã: Từ hai hốc mắt, máu vẫn đang ri rỉ, khiếp thật! Chị gắng sức giúp hắn bò vào căn phòng của chị. Gã còn cẩn thận quờ tay đóng ngay cánh cửa lại. Chị lấy khăn mặt, vắt nước lạnh rồi chấm qua khuôn mặt loang lổ máu me. Gã rú lên khi khăn chạm vào những vết thương. Ánh đèn soi rõ dần: một người đàn ông khoảng hơn ba mươi tuổi, lực lưỡng, dữ tướng, tóc húi cua, râu ria lởm chởm, xăm trổ khắp người. Chị giã mấy viên thuốc kháng sinh trong cái lọ vẫn để dành dưới gối, rắc lên vết thương của gã. Gã nhét cái khăn vào miệng để dằn những tiếng kêu đau đớn. Chị đặt nồi nước lên bếp, thả nắm gạo vào. Bát tép định để sáng mai ăn, chị đổ vào luôn. Cháo chín. Gã gục đầu vào bát cháo, húp một hơi. Hai bát, ba bát, bốn bát...Nồi cháo cạn. Gã nằm vật ra. Khi chị rửa xong nồi niêu thì thấy gã đã ngáy rung cả góc nhà. Khe khẽ nằm xuống chiếc giường ọp ẹp cạnh cửa, chị trở mình mãi rồi mới thiếp đi...
Những tia nắng chả bao giờ phân biệt biệt thự hay góc cống, nơi nào chúng cũng len vào lúc sớm mai. Chị choàng dậy, nhìn về phía góc nhà. Gã vẫn nằm nguyên. Chị bỗng lo lắng: Gã còn sống chứ? Chị chạy lại chỗ gã. Bất động. Chị đặt tay lên ngực gã: tim vẫn đập.
- Tôi vẫn còn sống cô à nhưng tôi không thấy gì hết.
Chị giật mình nghe giọng nói phát ra từ khuôn mặt đã sưng phù của gã, chị hỏi:
- Thanh toán nhau à?
- Ừm...Tôi ẩu một chút nên thua.
- Người ta thuê hả?
- Chứ tôi có cái mẹ gì để người ta thịt chứ!
- Giờ mà thò đầu ra là kể như xong hẳn!
- Đúng vậy. Cô làm ơn cho chót cô nhé.
Chị quan sát các vết thương của gã, đôi chỗ bắt đầu mưng mủ, hai mắt nề phù. Chị bảo:
- Nhưng vết thương nặng lắm, không đi bệnh viện rồi cũng toi.
Gã chồm lên:
- Không được, không được! Nếu vậy thì thà cô bỏ tôi chết từ hôm qua hoặc bây giờ cho tôi liều thuốc chuột. Tôi không thể ra bệnh viện, không thể!
- Sợ bị tóm hơn chết à?
- Sợ cả hai...
Gã bỗng khóc nấc lên, chị thấy bần thần cả người. Kể cũng tội, nếu mình là gã, có lẽ cũng sợ vậy. Chị lúi húi nhóm bếp chuẩn bị cơm. Khi bưng lên tô cơm và tô canh nóng hổi, chị hoảng hồn thấy gã đang run bần bật, toàn thân nóng rẫy... Chị cuống quýt gọi nhưng gã cứ mê man ú ớ không còn biết gì... Chị vội trùm chiếc khăn quen thuộc, đeo cặp kính đen che kín mặt, lao ra đường. Bây giờ tìm ai đây? Chị bối rối. Chị chưa bao giờ dám vào một phòng mạch tư nhân nào, nơi y tế công cộng thì lại không thể...nhưng bây giờ...gã ấy sắp chết? Làm sao đây? Chị không nghĩ ra gì thêm được nữa thì chợt trông thấy trên một cánh cửa cũ kỹ trong hẻm nhỏ bên đường có treo tấm biển xộc xệch đề "Bác sĩ Thắng". Vừa mừng vừa lo, chị liều đẩy mạnh cánh cửa... Một căn phòng tồi tàn chẳng có gì ngoài cái bàn và tủ thuốc nghèo nàn. Một ông già đang ngủ gật. Chị lên tiếng:
- Bác là bác sĩ Thắng?
- Đúng tôi đây - Ông già vội mở mắt, cười niềm nở - Cô bệnh gì?
- Không phải tôi - Chị lúng túng - Người nhà tôi ốm nặng, mời bác sĩ đến khám giúp...
Ông bác sĩ nhìn chị e dè, có lẽ ông hơi ngạc nhiên bởi bộ dạng trùm kín mít của chị. Chị nói, chưa bao giờ mạch lạc và quả quyết như thế :
- Bác sĩ hãy làm ơn giúp gia đình tôi, khó khăn thế nào tôi cũng xin chịu cả !
Ông bác sĩ ngẩn ra một chút rồi gật đầu, xếp vài dụng cụ cần thiết vào cái túi vải có gắn hình chữ thập rồi dắt xe máy ra cổng, bảo chị ngồi sau chỉ đường.
- Tình hình khá nặng, bệnh nhân này để ở nhà tôi không bảo đảm đâu!
Ông lắc đầu sau khi xem xét vết thương của gã. Chị nói nhỏ :
- Nhưng anh ta không thể đến bệnh viện được.
- Tội phạm à ? - Bác sĩ do dự - Tôi ngại quá, chắc cô tìm người khác vậy nhé...
Chị đứng chặn cửa, hai tay chống nạnh, chị nói nhỏ nhưng giọng đanh lạnh :
- Chúng tôi đã đến bước đường cùng, xin bác sĩ rủ lòng nhân từ cứu giúp. Chúng tôi không còn cách nào nữa...
Bác sĩ nhìn khuôn mặt trùm kín mít và cặp kính đen của người đàn bà, nhìn người đàn ông đang run bần bật dưới sàn nhà với những vết chém và những hình xăm trổ trên vai... Ông gật đầu :
- Được rồi, tôi sẽ gắng hết sức, cô làm theo những điều tôi dặn nhé.
Ông cẩn thận lau rửa vết thương, tiêm thuốc tê và khâu vài chỗ rách toác. Gã đàn ông quằn quại, mê sảng. Sau khi uống liều thuốc ngủ nhẹ, trông sắc mặt hắn có vẻ ổn hơn. Bác sĩ bảo :
- Cô mua toa thuốc này cho anh ta uống trong 10 ngày, cố gắng giữ vệ sinh các vết thương, nhất là cặp mắt. May mà tôi đến kịp, mắt anh ta còn hi vọng, không thì...
- Vâng... vâng, tôi nhớ. Vậy là xong hả bác sĩ ?
- Tôi chữa miễn phí, cô để tôi về là được rồi...
Chị chần chừ. Rồi chị vội mở nắp cái rương gỗ dưới gậm giường, lôi ra một bức tượng nhỏ bằng đồng hình một cô gái khoả thân tuyệt đẹp, chị bảo :
- Đây là bức tượng một đại gia đã thuê đúc trên hình mẫu tôi cách đây 20 năm. Xin bác sĩ nhận coi như chi phí.
Ông bác sĩ ngẩn người ngắm pho tượng , thốt lên : " Trời ! Đẹp quá ! ” Rồi ông lắc đầu lia lịa :
- Ồ, không không, tôi không dám nhận đâu, bức tượng này chắc đắt giá lắm! Tôi là bác sĩ, chữa bệnh từ thiện là việc tôi thường làm mà...
- Bác sĩ ơi...- Chị quỳ xuống - Bác sĩ đã làm một việc không gì trả nổi, xin bác sĩ nhận cho tôi an lòng. Chỉ mong bác sĩ giữ bí mật cho chúng tôi.
- Ôi, kìa, cô đứng lên đi ! Trời ơi, cô làm tôi khó xử quá ! Rồi rồi, tôi nhận vậy. Cô mở cửa cho tôi về nhé, tôi xin hứa sẽ không nói gì cả !
Ông bác sĩ đi như chạy ra khỏi con hẻm ngoằn ngoèo, âm u.
- Sao cô lại làm vậy ?
Chị giật mình khi nghe tiếng hỏi như từ cõi âm của gã. Chị quay lại, gã đã tỉnh lại từ lúc nào. Chị bảo :
- Tôi không biết nhưng tôi không muốn nợ nần ai...Anh đỡ rồi hả ?
- Tôi nợ cô suốt đời.
- À - Chị cười - Mình mắc nợ người này, người khác lại mắc nợ mình, tùm lum ấy mà. Nhớ làm chi cho mệt !
Trời xẩm tối, chị mua toa thuốc về bắt gã uống cẩn thận như lời bác sĩ dặn. Gã đã ngồi dậy được, sau bữa cơm ngon lành, trông gã khá hẳn lên.
- Cô làm tôi nhớ mẹ tôi quá. - Gã bảo.
- Sao ngộ vậy ? Anh có thấy tôi đâu ? - Chị bật cười.
- Chỉ mỗi mẹ tôi là chăm sóc và lo cho tôi như vậy, tôi toàn bị đàn bà " ép phê " từ trước tời giờ.
- Là sao ?
- Tôi xài họ rồi họ xài tôi và tôi trở mặt với họ, họ lại trở mặt với tôi. Sòng phẳng.
- Ủa, chẳng lẽ không gặp ai tốt sao ? - Chị nghi ngờ.
- Có, nhưng cô ấy chết rồi, sốc thuốc.
Giọng gã nghẹn lại. Chị không dám hỏi nữa, chị bảo :
- Bác sĩ nói viên thuốc hồi nãy uống là thuốc ngủ cho đỡ đau đó, ngủ sớm cho mau khỏe nghe.
Gã nín lặng. Chị tắt đèn và đặt mình xuống giường, chị thấy mắc cười vì gã đâm thuê chém mướn giờ nghe lời mình như con nghe lời mẹ, vui thiệt. Rồi giấc ngủ đến với chị thật dễ chịu...Đêm thăm thẳm...
Chị giật mình vì ai đó chạm vào chăn...Vẫn còn đang mơ màng, chị nghe hơi thở gấp gáp và giọng gã thì thầm bên tai :
- Anh đây...
- Ôi, ôi...
Chị chưa kịp nói gì thì nụ hôn mãnh liệt, hun hút sâu đã cuốn lấy chị, vòng tay cường tráng, hừng hực sức mạnh ôm siết chị...Chị như nghe thấy tiếng nhạc du dương bổng trầm quấn đôi chân thon dài của chị trong các bộ váy áo lộng lẫy tha thướt, chị thấy những anh chàng hào hoa đang quây chung quanh chị cố gắng trổ hết tài nghệ mong được người đẹp để mắt đến... ...mùi đàn ông, những sợi râu lởm chởm, những sợi lông mịn màng... phủ ồ ạt lên chị như cơn sóng... Chị buông hết mình vào cơn sóng ấy...Hai mươi năm...chị tưởng mình sẽ không bao giờ còn được đón nhận đợt sóng đam mê tràn trề ấy nữa, không bao giờ...Chị ôm chặt gã, ôm chặt... Chị ngấu nghiến gã, chị cười rồi chị khóc...
- Thân hình em đẹp không thể ngờ...- Gã nằm vật ra, vừa thở vừa nói.
- Trước đây em là vũ nữ, nhìn thấy em khiêu vũ, không người đàn ông nào có thể thờ ơ được...
- Anh may mắn quá, chưa bao giờ anh được chạm vào một cơ thể hoàn hảo thế...
- Anh có nhìn thấy đâu nào, anh chỉ tưởng tượng thôi...
- Không, anh có nhiều kinh nghiệm ngủ với đàn bà rồi.
- Nhưng nếu anh nhìn thấy mặt em, anh sẽ phát khiếp!
- Tại sao?
- Gần hai mươi năm trước, em cặp bồ với một đại gia khét tiếng, vợ ông ấy đã thuê người tạt axít vào mặt em.
Gã lặng đi. Gã muốn khóc. Gã ôm chặt chị. Gã bảo:
- Dù trông em kinh khủng đến đâu thì anh vẫn yêu em.
- Anh đừng nói gì cả. - Chị nói và lấy tay che miệng gã.
- Tại sao? - Gã ngạc nhiên.
- Khi còn là một vũ nữ hơn hai mươi tuổi nổi tiếng xinh đẹp, em nghe không biết bao lời hứa hẹn, thế rồi khi em thành thế này, chẳng một ai đoái hoài...
- Cả tên đại gia khốn kiếp kia sao? - Gã phẫn nộ.
- Hừm...Ông ta trốn chạy trước tiên, căn phòng này lại do chính bà vợ mua cho em.
- Vậy hả?
- Sau khi thuê người tạt axít em, bà ta suốt đời sống trong dày vò. Ông chồng cũng quá khiếp sợ, bỏ đi luôn. Bà ấy mò đến bệnh viện, lén lút thăm nuôi em rồi chuyển cho em số tiền khá lớn, em dùng một ít mua căn phòng này.
Không nghe gã nói gì. Gã đã ngủ ngon lành, chị vuốt ve khắp người gã và gối đầu lên vòm ngực nở nang của gã, chị chìm vào giấc mơ...
Bữa cơm hôm ấy , chị làm một nồi cá kho với ớt xanh thơm lựng, rau lang luộc, tép rang. Gã ăn phăm phăm, chị nhìn gã ăn, vui lắm. Chị bảo:
- Khi nào anh "thua", anh lại về với em nhé.
- Nghề của anh không được phép "thua", không có lần thua thứ hai đâu.
- Nếu hai đối thủ cùng thuê anh thì làm sao?
- Dễ ợt, ai thuê nhiều thì anh theo, có lần vậy rồi.
- Anh có bao giờ do dự khi ra tay không?
Gã có vẻ nhớ rất lung rồi gật:
- Có.
- Khi nào?
- Có lần người ta thuê anh tông xe một ông giám đốc, khi coi kỹ mặt ông ấy, anh thấy giống cha mình quá nên lúc hành sự, thay vì đâm thẳng vào ông ta, anh lại né qua một bên và vụ đó anh suýt mất mạng.
- Sao vậy? Mấy người thuê anh định thịt anh à?
- Không - Gã cười chua chát - Chính tay giám đốc ấy định thịt lại anh chứ! Và anh có bài học: Hắn giống cha mình chứ đâu phải là cha mình. Không có ai giống cha mẹ mình đâu.
Chị mủm mỉm cười khi nhớ đến hôm nọ gã từng nói chị giống mẹ gã. Chị không để bụng nhưng sẽ nhớ mãi, chị thu xếp sớm để mau lên giường với nhau...
Gã bừng tỉnh, cảm giác chói gắt làm gã vội đưa tay lên che mắt...gã thấy cái cửa lờ mờ rồi rõ dần dần màu xanh cũ kỹ, thì ra tia nắng sớm len qua khe cửa đã đánh thức gã...căn phòng dột nát, đồ đạc xiêu vẹo hiện lên rõ nét...Gã quay qua bên cạnh, người đàn bà khoả thân đang quay mặt vào tường ngủ ngon lành, thân hình nàng quả là tuyệt mỹ: sóng eo quyến rũ, bầu ngực căng tròn và cặp đùi thon dài nuột nà... Gã khẽ ngồi dậy, bỗng nàng cựa mình rồi quay hẳn về phía gã...Gã giật bắn mình, toan rú lên nhưng rồi kìm lại được : Một khuôn mặt dúm dó, hai con mắt ngủ nhưng vẫn mở trừng trừng kéo hàng mi méo mó, hốc mũi biến dạng...Chỉ còn đôi môi chúm chím là vẫn nguyên vẹn, đôi môi đẹp và đa tình...Gã hốt hoảng tụt xuống giường. Cửa không chốt, gã chần chừ một chút rồi đẩy cửa...Lâu lắm rồi, không khí quen thuộc của buổi sáng lại ùa vào gã...
Chị nghe thấy gã dậy, chị biết gã đã hồi phục và nhìn thấy tất cả, chị ghé mắt qua khe cửa để nhìn thấy gã lần cuối cùng, chị nghĩ thế.
Chị thấy gã đi rất nhanh rồi bỗng dưng gã quay ngược lại, dừng trước cửa. Gã quỳ xuống, nói: "Anh sẽ quay lại nếu anh còn sống." Nước mắt chị rơi lã chã từ đôi mắt tật nguyền, chị cố lấy tay gạt đi để nhìn rõ hình dáng của gã khuất dần sau những ngoằn ngoèo, dích dắc của con hẻm.
Vũ Thanh Hoa
***
3 - TỘI
Xuân Sương
Tiếng Việt có nhiều từ riêng lẻ, độc thân, dùng toàn quốc hay vùng miền, địa phương, thổ ngữ..., và ngữ nghĩa thay đổi muôn hình vạn trạng nhưng khó giải thích nghĩa chính là gì, mà lại được nam phụ lão ấu dùng thường xuyên, dùng kiểu nào trong trường hợp nào, mọi người đều mặc nhiên... thẩm thấu. Ví dụ chữ TỘI.
Tội ở đây đơn thân độc mã, nó không đi kèm với Lỗi để thành gánh nặng đè vai rồi ân hận sám hối, cũng không đi cùng với Nghiệp để thành cái nhân duyên cho kiếp luân hồi, không đi với Tình để tỏ bày một tâm trạng não nùng bi thiết... Nó không đi với từ nào cả vì vậy nó như tấm lụa đào phất phơ giữa chợ, cô độc mà kiêu kỳ, chẳng cần quấn vào anh nào cũng mang mang tình ý.
Đủ kiểu tội
Năm 1997 về VN ăn cưới đứa cháu gọi cô, bố chồng cháu nhìn mình cực kỳ ... ấn tượng (mà trong ngữ cảnh nào khác có thể dám bị chụp mũ), chép miệng: Từ bển mà về đây ăn cưới cháu, tội chưa ! Ở bển mấy chục năm chẳng bao giờ nghe chữ đó, bất chợt nghe lại, thấy ngồ ngộ là lạ mà cũng chưa thấm lắm mình... tội chỗ nào, chỉ biết là nhìn ánh mắt âu yếm bao la tình cảm thế kia (tiếng thời thượng là "tình thương lan tỏa" đây) thì mơ màng hiểu có ẩn chữ nghiệp trùm khăn theo sau, nghĩa là cái nghiệp trần ai gia đình ràng buộc mà Đức Phật gào khản cổ bảo hãy rũ bỏ đi để cầu tìm an lạc.
Đứa bé phá phách hay làm bậy gì đó, bà mẹ vừa chép miệng vừa nói Tội quá con ơi, sao con hư vậy. Chỗ này tội gì đâu, đáng lẽ nói khổ quá con ơi mới phải chớ. Nó phá phách với tất cả niềm thú vị thì chẳng tội gì nó cả, ở đây cũng chẳng cho phép chữ lỗi hay bất kỳ chữ gì khác theo sau, vậy thì phải chăng tội nghiệp mẹ nó phải dọn dẹp? Không tầm thường vậy đâu. Nên xin làm ơn vẫn cứ gọn gàng một chữ tội giùm cái đi. Phải là tội thì mới thấm. Có thể chính tả sai bét, nhưng ý rất hàm súc, diễn đạt trọn vẹn, mà nếu kêu khổ quá con ơi thì nghe lại kém phần ai oán càm ràm, là bà mẹ này chưa kinh qua môn ngôn ngữ học, nói tiếng Việt chưa rành.
Thường người ta dùng rất đa dạng, rất trái ngược, rất gọn cho nên nhiều khi rất bí hiểm, nhưng khỏi cần nhờ pháp sư can thiệp, chỉ là kiểu lời vắn tình dài rồi tự nó làm ảo thuật gỡ khúc mắc ra. Ví dụ chị đó nghèo mà tội lắm; anh đó giàu mà tội lắm; con bé đó học giỏi mà tội lắm; hay nhiều khi nói khơi khơi : thằng nhỏ đó tội lắm. Không cần đố trời mới biết ai tội cái gì, chỉ cần nói vậy là quý nam phụ đều gật gù kiểu ta đây thấu suốt ngõ ngách ruột non ruột già những kẻ giàu nghèo học giỏi dù mơ hồ chưa rõ kiểu tội nào, nhưng có tội cái đã, và thường mang ý tử tế ngọt ngào. Nếu không tử tế ngọt ngào, lạ chưa, là sẽ không có tội! Chớ nếu thằng nhỏ đó học dở tội lắm thì đã rõ ràng chữ nghiệp vô minh níu đuôi, lại phải trình lên Đức Phật cầu xin hóa giải cho rồi.
Loại tội này rất thường, như cứ bảo đừng nói vậy tội ảnh tội chỉ; tội ghê, nó không tới được; thấy người ta có vẻ quan tâm tới ai thì nói với nhau tội ha; nó nói nghe tội lắm (chỗ này là thương lắm đây, nhưng thương thì thường quá, cạn quá, hẹp quá, ngữ nghĩa nghèo quá, cho nên xin làm ơn vẫn cứ gọn gàng một chữ tội giùm cái đi). Còn biết bao tội nữa mà dùng kiểu gì cũng khó nêu đích tội danh và vì phải là tử tế ngọt ngào mới có tội thì chẳng phải là tội ác gì ghê gớm nên chẳng bao giờ thành tội trạng cho nên cứ thoải mái nêu tội đi bởi dẫu sao cũng chẳng là một thứ tội đồ khiến mình trở thành tội phạm thì tội quái gì không dùng nó một cách vô tội vạ để tỏ ra mình có lòng biết tội người ta mà chẳng cần phải là tội nhân mới bẽ bàng thấm thía bao nỗi tội tình? Ouf !
Nghĩ cho cùng, các kiểu tội này coi bộ ít nhiều ai ai cũng có. Bởi vì dù gì đi nữa thì cũng có vẻ có bé nghiệp rình đòi đi theo. Nếu "chị đó nghèo tội lắm", tức là nghèo tàn canh, cái tội quấn chiếu co ro dưới mái tranh vách đất; còn nghèo mà tội lắm tức là đang bồng chén cơm trên tay mà thấy có người rách rưới liểng xiểng đi ngang biết là họ bụng trống bèn xẻ chén cơm làm hai, nôm na là miếng khi đói bằng gói khi no. Nếu "anh đó giàu tội lắm" thì phải nhanh trí hiểu ngay là tội của ảnh đếm không xuể, kín đáo có kèm chữ lỗi bên cạnh, thì nên tức tốc tấp vào lề ngay kẻo vạ lây; còn giàu mà tội lắm, là tiền bạc thừa mứa lột da tôm hùm căng trống búng nút rượu XO làm ná bắn chim hít xì gà thượng hảo hạng cho thơm lừng thành phố thường đổi xe khủng liên miên chích thuốc lắc lái ngược chiều trên xa lộ rượt đuổi bạn bè giải trí ngoài ra còn nhớ để vài mẩu da tôm hùm nấu cháo thết người nghèo, nôm na là lá lành đùm lá rách. Học giỏi mà tội lắm là không ta đây hợm mình điểm cao nhất lớp vì biết bước ra khỏi cửa là có đứa còn giỏi hơn mình, nghĩ cho cùng là sành mấy câu chữ nho Tri bỉ tri kỷ và Cao nhơn tất hữu cao nhơn trị. Vân vân và vân vân. Ai dám bảo tiếng Việt ta nghèo ?
Nói chung đây là loại tội mở, ngữ nghĩa nó mênh mang được hiểu không bằng từ vựng mà bằng ý, đậm đà tình dân tộc. Cứ nói tội lắm là mọi người tha hồ diễn cảm, diễn sao cũng không sai, không đúng bề ngang cũng đúng bề dọc. Nếu cắc cớ dài dòng thêm chữ nghiệp vào thì tội lại bị nhốt kín trong chùa chiền, thiền viện hoặc tịnh xá suốt ngày nghe kinh kệ chớ không được ôm Iphone 6S "phượt phây", sẽ kém sang đi.
Vậy nói chung có tội là tốt, là ở đời muôn sự của chung hơn nhau một tiếng tội mà thôi. Dù vậy Đức Phật vẫn khều khều Tội quá, nghe lời Phật dạy đây nè chúng sanh, rũ bỏ hết đi con, tội gì mà cứ ngoằn ngoèo trong vòng khổ đế luân hồi.
Xuân Sương
***
2 - Chuyện Cô Gái Rượu
Đặng Hà Nội
Đời người có bốn cửa ải phải trải qua: sinh, lão, bệnh, tử với đầy hỉ, nộ, ái ố.Cuộc sống như là món ăn Việt Nam phải đầy đủ hương vị ngọt bùi, cay đắng, mặn nồng, chua chát thì mới cho là ngon, cuộc sống mới xứng đáng là đầy đủ. Nhưng có lẽ phải thêm một cửa ải nữa mà phần đông ai cũng phải bước qua đó là lúc hai người đồng ý ăn ở với nhau thành gia thất. Chúng tôi vừa mới làm đám cưới cho cô gái rượu duy nhất và bây giờ mới có thì giờ rảnh rang tạp ghi lại vài trang giấy để kỷ niệm ngày Thanh bước lên xe limousine cùng với người bạn trăm năm.
Tôi được may mắn di tản sang Mỹ bốn ngày trước khi thành phố Sài Gòn bị cưỡng chiếm. Lúc đó tôi là sinh viên Đại học Sư phạm ban Anh Văn năm chót và đang khám sức khoẻ để hai tháng sau ra trường nhận nhiệm sở. Lúc đầu sang bên Mỹ´ chỉ mong đi dạy và đi học ban đêm không màng tới việc vợ con. Các bạn trong lớp tôi sang Mỹ đều "mất dạy". Phần đông không chịu theo nghề giáo, cái nghề bạc bẽo ít lương nhưng đối với tôi đó là một nghề lương thiện có nhiều ngày nghỉ để giang hồ ngày tháng hè. Thấy tôi còn đọc thân anh chị họ từ Pháp sang chơi có giới thiệu cho tôi một cô Việt Nam mới sang Mỹ ở California. Sang gặp cũng thấy hay hay ngộ ngộ nhưng cô giáng cho một câu: "Anh đã mua nhà chưa?" nên đành nói gút bai hẹn kiếp sau.
Vào khoảng năm 1980 người tị nạn sang Mỹ ào ạt. Trường tôi dạy ở Minneapolis số học sinh tị nạn gia tăng gấp bội làm giáo sư Mỹ than phiền quá. Nhưng tôi thì vui mừng quá cỡ vì là giáo sư song ngữ nên job vững vàng. Thời gian này thì bà xã tương lai của tôi cũng di cư sang Mỹ cư ngụ tại Georgia với gia đình. Nàng là em của bạn bà chị tôi. Nàng bị ở lại Việt Nam trong khi phần đông gia đình đã sang Mỹ. Thấy tôi còn cô đơn mà nàng thì cũng lẻ loi nên bà chị tôi và bà chị nàng đồng ý giới thiệu chúng tôi với nhau. Hơn năm sau chúng tôi làm đám cưới tại Georgia và nàng theo tôi về Minneapolis.
Hai chúng tôi đều là người lấy nhau muộn, nàng ba mươi ba còn tôi ba mươi lăm nên chúng tôi tranh thủ thời gian có con sớm. Năm sau đứa bé đầu lòng ra đời. Lúc mang bầu mẹ tôi nói thế nào cũng là con trai. Chúng tôi cũng tin tưởng lắm vì mẹ tôi là người có kinh nghiệm đẻ ba con trai và sáu con gái. Khi nàng đi khám bác sĩ chúng tôi muốn biết thằng cu hay cái hĩm thì bác sĩ nói không biết. Hóa ra bé Thanh là con gái. Bé xinh xắn nhất nằm trong nôi tại phòng sơ sinh. Chúng tôi nghĩ rằng bác sĩ Mỹ họ cho rằng dân Á châu thích có con trai đầu lòng nên bác sĩ không giám nói thật. Hai năm sau, một bé nữa ra đời. Cũng đi khám và hỏi trai hay gái thì bà bác sĩ nói ngay:" Ông bà sẽ có con trai. Nè! Thấy cái bị dái của nó không?" trong khi bà cho coi hình ultrasound. À! Ra thế!
Thanh lớn lên là chị cả với hai thằng em trai. Ra tay đàn chị từ nhỏ nên nó nói gì hai em đều phải nghe răm rắp. Nhưng khi ra ngoài Thanh rất nhút nhát và hay ngượng ngùng không thích giao thiệp với người lớn. Dạy học bên Mỹ cũng gay go lắm nhiều khi sáng không muốn ra khỏi giường đi làm nhưng khi mà nghe bé Thanh cười một cách hồn nhiên rộn rã là quên nỗi buồn lo và sẵn sàng đến lớp dạy học.
Vì là thầy giáo thích du lịch mà bà xã tôi cũng có máu giang hồ nên chúng tôi hè nào cũng đi chơi xa. Nhét ba đứa nhỏ trong xe mini van với đầy đủ lều chõng có khi còn thêm con chó. Chúng tôi lên đường khi thì cắm trại khi thì ngủ motel, hotel. Chúng tôi đã đi California, Canada, Washington DC, Chicago, Disneyland, Disney World... và các công viên quốc gia hùng vĩ như Bryce, Zion ở Utah, Yosemeti ở California, Yellowstone ở Wyoming, Badlands ở South Dakota và Grand Canyon ở Arizona.
Có lần tôi lái xe hơn 6,000 dặm từ Minnesota qua các tiểu bang miền Tây và lên tận Vancouver, Victoria ở Canada và về lại Minnesota. Có năm cũng đi California bằng xe mini van, tôi vì mệt quá buồn ngủ xe bay xuống ruộng ở Wyoming. May không ai bị thương. Nhưng xe không chạy được nên hãng bảo hiểm bồi thường vài ngày sau chúng tôi mua xe mini van kh´ác tiếp tục hành trình.
Có lần đến Công viên Yosemite cắm trại nhưng không đặt chỗ trước nên chúng tôi phải ngủ ngoài cửa công viên mà không có điện, nước hay cầu tiêu. Thức ăn phải treo lên cây sợ gấu đến lục ăn. Tôi phải lái xe hơn 10 dặm lấy nước đem về để uống, xúc miệng. Nàng Thanh thấy sô nước thích quạ cho chân vào rửa!
Tụi trẻ ngồi trong xe lâu và mệt. Có khi chúng trêu chọc nhau, đánh nhau trong xe nhưng chúng tôi thông cảm hứa hẹn cho đi ăn fast food, ngủ motel có hồ bơi hay đốt lửa trại. Thanh vẫn có tính ngang bướng không chịu xuống xe khi đến chỗ thưởng ngoạn, hai đứa em cũng làm theo không thèm bước ra nhìn dù có cảnh đẹp thiên nhiên như Grand Canyon và Bryce Canyon.
Chúng tôi còn bay sang Trung hoa, Nhật bản và Việt nam vào dịp hè với cả gia đình. Lương giáo sư không cao thì làm sao có tiền đi chơi ngoại quốc? Tôi thường viết grant trong chương trình "Funds of Teachers" và họ cung cấp ngân khoản đi du lịch với điều kiện phải dạy lại cho học sinh những gì đã học trong chuyến phiêu lưu. Các nhà giáo nào muốn biết thêm chi tiết về chương trình này cứ tìm kiếm trong google. Tôi may mắn được ba lần về thăm Việt Nam dẫn theo cả gia đình. Có lúc tôi đi dạy hè ở Trung hoa và Việt nam tại Phước Lộc gần Bà Rịa và thăm trường ở Nhật bản trong chương trình khác. Nhà giáo như tôi không bị giam cầm trong lớp của mình nhưng có cơ hội bay nhảy mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn thế giới nhờ tài viết văn của tôi.
Các con tôi cũng nhờ các chuyến đi xa này mà chúng học được nhiều điều không có trong sách vở. Chúng biết được quê hương nơi chúng sinh ra và quê hương của bố mẹ chúng. Đó là cách cho chúng biết chúng là người Việt nam. Cuộc đời như một cuốn sách mà khi đi du lịch´ như là mở một trang sách mới. Nếu cứ ở nhà với mẹ mãi thì chỉ biết một trang biết ngày nào khôn!
Hiện giờ Thanh là một cô giáo ESL được sáu bẩy năm´. Hai chúng tôi là đồng môn tại Đại học Minnesota và tôi có bằng nào nó có bằng đó.Có năm tôi được đi sang Xian, Trung hoa dạy Anh văn mùa hè cho học sinh tiểu học.trong chương trình "Teaching in China". Họ cung cấp nhà ở, ăn uống và thăm viếng miễn phí. Bà hiệu trưởng phái tôi dạy một lớp còn nhà tôi lớp khác. Nhưng vì ngại không quen dạy nên nhà tôi phái cho Thanh và hai đứa em. Tuy lúc đó Thanh mới 15 tuổi nhưng nó có khiếu dạy học và làm cho lớp vui nhộn với các bài hát, các bài đàm thoại. Bà hiệu trưởng thích lắm. Kinh nghiệm quí giá này đã quyết định nghề nghiệp tương lai của nó.Chúng tôi chỉ hơn ngạc nhiên chút ít khi Thanh sau khi ra trường trung học và nói muốn làm giáo sư Anh văn.
Trước khi nhận dạy học ở Xian, chúng tôi đến Bắc Kinh trước. Điểm đầu tiên là chúng tôi đến thăm Thiên An Môn. Với con chúng tôi sau khi vượt nửa trái đất, đánh thức tụi nó khi hãy còn say ngủ mà dẫn đến đây như cái bãi đậu xe mênh mông chả có gì là đáng coi nên mặt ba chị em bí xi khi phải đứng chụp hình tại quảng trường này. Chúng nằng nặc không chịu vô thăm Cấm Thành. Sau khi dạy xong chúng tôi tính bay về nhà nhưng không có chuyến bay thẳng nên chúng tôi ghé qua Narita, Nhật ở mấy ngày. Narita có ngôi chùa rất lớn và đẹp nhưng tính nào tật nấy cô con gái rượu và hai thằng em ngồi ngoài không chịu vào. Nhưng chúng lại cười tươị hơn bao giờ hết khi thấy thấy tiệm Mc Donald's trong thành phố vì suốt hai tuần phải ăn cơm Tàu, cơm Nhật chúng nhớ cơm Mỹ.
Lâu lâu các con tôi ngồi ôn lại những kỷ niệm du lịch đáng ghi nhớ. Chúng thật là may mắn sống trong nước tự do có nhiều cơ hội đi chơi đó đây trong khi bố mẹ chúng trưởng thành trong chiến tranh ít khi được ra ngoài vòng đai thành phố.
Ngày mà Thanh thời trung học đi hẹn hò với anh bạn Mỹ lần đầu tiên chúng tôi cũng lo lắng lắm. Tôi phải làm tài xế đưa đón hai cặp này. Sau buổi này hai anh chị bỏ nhau không biết vì sao nhưng sau đó Thanh lại có anh chàng bạn trai Mỹ khác. Đứa này kém Thanh hai tuổi học cùng lớp với thằng em. Chúng tôi thấy thằng này cao ráo trông tàm tạm được nhưng tính tình ít nói, đến nhà không chịu chào hỏi một câu, học hành kém xa Thanh của tôi. Một hôm nó gõ cửa nhưng Thanh bảo chúng tôi đừng mở và nằm trốn trong phòng. Chúng tôi nghe bài 'Tình Lỡ" sao thấy thấm thía và mừng quá!
Chẳng bao lâu Thanh lại có bạn trai khác. Chúng tôi lại mừng hơn lúc trước vì anh chàng này là người Việt Nam sinh tại Mỹ, cao ráo, đẹp trai, trẻ hơn Thanh hai tuổi và có nghề đàng hoàng. Chúng tôi bắt đầu quen biết gia đình của bạn trai Thanh. Họ là người Bắc, theo đạo Công giáo và nhà có tám người con trai. Tuy khác đạo với chúng tôi nhưng thật là quí hóa thấy Thanh có chồng là người Việt nam. Anh chàng xin hỏi cưới Thanh khi tôi ở nhà một mình. Sau đó nó cầu hôn với Thanh theo kiểu Mỹ. Nó bí mật không cho Thanh biêt´ và rủ Thanh tới công viên ngay cạnh dòng sông ở Saint Paul và quì xuống xin bàn tay và trao nhẫn đính hôn với sự chứng kiến của các bạn bè. Trời ơi sao mà lãng mạn thế!
Sau đó đôi trẻ lo tổ chức đám cưới.. Bốn tháng trước ngày cưới chúng gửi thiệp "Save the Date" in bằng tiếng Anh tức là người nhận dành ngày này cho tụi nó. Sau đó hai tháng trước ngày cưới chúng mới gởi thiệp cưới, thiệp mời và thiệp phúc đáp. Người nhận có thể trả lời đi hay không bằng online hay gửi thư. Chúng tôi về Việt nam chơi và mua vải, kiếm thợ may áo dài cho cô dâu, chú rể và sáu cô phù dâu.
Sống ở đất Mỹ mà là người Việt nam khi có đám cưới hay đám ma là cả một vấn đề phải làm sao hợp với phong tục cổ truyền mà cũng không quá´ cổ hủ. Ma chê cưới trách không ai tránh khỏi. Khi hai đứa con Mỹ này viết gửi thiệp cưới mà chúng không biết cách xưng hô chỉ đề tên không. Thế là chúng tôi bị hai bà chị la. Con dại cái mang!
Thế là đám cưới cũng xong. Lễ gia tiên bắt đầu khi sáu chàng phù rể mang lễ vật tới với bánh quế, trà, rượu, trái cây và xôi gấc để trong mâm quả đỏ cùng con heo quay. Chú rể xúng xính trong áo dài thụng xanh đi sau. Anh tôi và chúng tôi ra chào đón nhà trai.. Sau khi nhà gái có sáu cô phù dâu nhận mâm quả nhà trai được mời vào trong nhà.
Cũng có bàn thờ với hai cặp nến đỏ, hai mâm ngũ quả và hình người đã khuất của hai họ. Tuy nhiên không được đốt nhang nên chúng tôi phải dùng nhang điện. Sau khi giới thiệu hai họ bởi anh của tôi và người đại diện nhà trai., Thanh, cô con gái rượu bước ra trong chiếc áo dài voan đỏ tân thờỉ, vạt sau dài lê thê và hở nửa lưng. Sau đó đôi trẻ đứng trước bàn thờ làm lễ gia tiên.
Cô dâu được hai bà mẹ tặng nữ trang. Sau đó cô dâu chú rể rót trà mời bố mẹ hai bên và họ hàng. Hai đứa gọi lễ này gọi là lễ trà "Tea Ceremony". Và chúng được trao tặng phong bì với những lời chúc trăm năm hạnh phúc. Sau đó là tiệc trưa potluck cho hai họ và bạn bè.
Ngày hôm sau thì là lễ cưới tại nhà thờ. Vì Thanh không vào đạo Công giáo nên lễ cưới cử hành đơn giản nhưng không kém phần trang trọng. Tôi khoác tay Thanh trong chiếc áo đầm dài trắng diễm lệ hở lưng đi vào nhà thờ với bao nhiêu mắt theo dõi. Đây là lần đầu và cũng là lần cuối.cho tôi. Thật là cảm động. Nhớ ngày nào tôi còn bế bé Thanh, dỗ dành´ khi bé khóc và dạy vài câu tiếng Việt. Bây giờ bé đã trưởng thành, sắp sửa nắm tay đi với chồng quãng đời còn lại.
Sau lễ nhà thờ là tiệc cưới tại Minneapolis Event Center ngay gần bờ sông Mississippi. Đám cưới thiệt là vui vì phần đông là giới trẻ bạn của hai đứa, khách gần 350. Đánh trúng tâm lý khách Việt nam, hai đứa chọn thực đơn Trung hoa phần đông là đồ biển và cho uống rượu thả dàn. Tiệc bắt đầu đúng giờ ´´ không như các đám cưới khác khách chờ bụng đói meo. Sau màn giới thiệu hai họ và trình diện đoàn tùy tùng và đôi trẻ là thức ăn nóng hổi được đưa ra. Chúng cũng mời chúng tôi đi chào bàn nhưng chỉ vài bàn người lớn tuổi thôi. Các bàn sau với đám khách trẻ ồn ào hơn, chúc tụng vang trời. Sau khi ăn xong, hai cặp ra sàn khiêu vũ mở đầu. Sau đó tôi được hân hạnh nhảy với cô con gái rượu lần đầu tiên trong bài "La Vie En Rose". Còn gì sung sướng hãnh diện bằng tay trong tay với cô dâu con mình!
Không như đám cưới bên Việt nam, bố mẹ thường chọn vợ chồng cho con cái, bố mẹ đặt đâu con ngồì đó, tổ chức lễ lạc ăn uống cũng do bố mẹ. Nhưng với chúng tôi thì khác hẳn. Chúng tôi chỉ giúp phần tài chánh và tổ chức lễ gia tiên còn bao nhiêu đôi trẻ lo lấy. Ngay cả việc ngồi bàn tiệc, chúng xếp chỗ cho chúng tôi. Đúng là con cái đặt đâu bố mẹ ngồi đấy! Tuy hai đứa sinh đẻ bên Mỹ, nói tiếng Anh sõi hơn tiếng Việt nhưng không quên văn hóa Việt nam. đó là một điều vinh hạnh cho chúng tôi. Mong trong tương lai con của chúng cũng vẫn giữ phần nào văn hóa Việt Nam trên đất Mỹ.
Đặng Hà Nội
***
1 - Tôi Sẽ Là Tôi Thôi...
Trong đời, tôi rất sợ bất cứ cái gì có liên quan đến...thi! Tôi cũng không hiểu tại sao người ta vô cớ lại nói là "thi cử" mà không nói là "Cử thi", nếu gọi như vậy thì có phải là vẹn vẻ cả đôi đường cho những người như tôi! Ít ra thì tôi cũng còn có cớ mà nói rằng "Đấy! Người ta bảo cử thi có nghĩa là kiêng thi, mà đã kiêng thì còn thi làm gì cho...xúi quẩy!". Nhưng ngôn ngữ vốn đã vậy nên tôi chả có cách nào khác để mà tránh nó, nên dù không thích, tôi cũng ngậm ngùi đối mặt với cái sự thi vài lần.Đầu tiên là thi tốt nghiệp...tiểu học! Hành trình để chuẩn bị bước vào lớp đệ thất của tôi "gian nan" không thể nào kể xiết, mẹ tôi là người đồng hành với tôi trên từng cây số đoạn trường, vì lo tôi ôn luyện quá sức mà tổn hao sức khoẻ nên bà tuyển không biết bao nhiêu là loại đậu đem về tẩm bổ cho tôi, nhân thể lấy cái hên từ chữ "đậu". Thế là đậu đỏ, đậu nành, đậu xanh, đậu ngự tôi ăn tuốt luốt mấy chục loại đậu nên yên chí lớn chữ rớt đừng hòng còn chỗ chen vô.
Đến ngày, khu vực thi dù giám thị đi qua đi lại dòm dòm, ngó ngó tôi cũng chẳng lo gì sất. Tôi làm bài một mạch là xong, chắc ăn như một với một là ba rồi. Chưa kịp rời bàn thì từ ngoài cửa sổ phía sau lớp ai đó bắn vèo vào một tờ giấy, tôi tò mò nhặt lên vừa mới mở tờ giấy chưa kịp đọc thì tôi bị bắt quả tang! Thế là tôi bị trân trọng mời ra khỏi phòng thi và không cần phải hỏi, sau đó kết quả số phận của tôi ra sao cũng biết rồi. Cuộc thi đầu tiên trong đời tôi bị trượt vỏ chuối. Tôi ngờ rằng trong các loại đậu mẹ cho tôi ăn có nhằm một loại là Đậu-Phải-Cành-Mềm nên tôi lộn cổ thẳng vô một trường tư thục thay vì trường công như các bạn bè của tôi. Tiếp đó tôi vẫn ba chìm bảy nổi thi với chả cử, có lẽ vì yêu mến chiếc bàn lớp cũ nên cứ hai năm tôi mới nỡ lòng từ giã nó để lên lớp trên. Mẹ tôi bực quá nói "Học dốt quá thì thôi nghỉ học ở nhà tập nấu cơm, nội trợ cho quen việc bếp núc đi, con gái học cho lắm cũng chỉ để viết thư cho...mèo thôi!". biết làm sao được, thực ra tôi rất muốn mình...thông minh để không phụ lòng cha mẹ, nhưng chữ nghĩa tại nó không chịu ở trong đầu tôi chứ nào phải tôi không cho nó ở!
Nhắc lại việc mẹ tôi mắng!Nói câu gì không nói lại nói câu "...học cho lắm cũng chỉ để viết thư cho mèo...", nên câu này ám ảnh vào trí nhớ khiến tôi suy nghĩ mãi đến chữ "mèo". Mèo là gì? Tất nhiên không phải là con mèo tam thể suốt ngày lười biếng nằm khoanh ngay bục cửa nhà chỉ chờ dịp để ỏng ẹo mỗi khi có ai đưa tay vuốt vào bộ lông mượt êm của nó. Tôi nghiền ngẫm và hiểu rằng mèo phải là một thứ gì đó quan trọng lắm với con người để đến nỗi có học cho nhiều vào thì (trước hết) cũng chỉ để viết thư cho "nó" thôi.
Hết lòng khám phá điều gì người ta sẽ đạt được điều đó! Cuối cùng tôi cũng biết khi một hôm tôi nghe bác hàng xóm ngắm nghía anh con trai của mình rồi buột miệng:
-Dạo này mày cứ hay cười mím chi một mình, tóc tai còn xức dầu dừa láng mướt, có mèo rồi hả con?
Rồi thím láng giềng khác quở con gái:
-Tự nhiên mày chững chạc hẳn ra, một ngày mấy sắc áo. Chắc có mèo rồi chứ gì?
Và trong một đoạn vọng cổ, tôi nghe chú Văn Hường diễn tả nỗi nhớ:
-...nhớ em như tết nhớ bánh chưng, hừng đông nhớ rượu, nửa đêm nhớ mèo...
Tôi vỗ tay vào trán la lên "Tôi hiểu ra rồi!". Như vậy "mèo" đích thị là tên gọi để chỉ một người được yêu thương, là hai người dưng khác họ như ba với má tôi. Vậy có mèo, có nghĩa là có người yêu sẽ giúp người ta biết trau chuốt nhan sắc của họ hơn và dĩ nhiên ở nhiều phương diện khác, họ cũng sẽ hoàn thiện hơn, chứ đâu có gì là xấu...
Nhưng với tôi lại khác, từ khi mẹ tôi kết thúc cuộc đời học sinh thơ mộng của tôi bằng câu "...học cho lắm cũng chỉ để viết thư cho mèo..." thời gian thấm thoát cứ đi qua mà việc ấy vẫn không xảy ra dù tôi đã đến tuổi cặp kê. Trong khi bạn bè của tôi ai cũng có một mảnh tình vắt vai để đêm nằm thao thức nhớ nhung thì tôi vẫn không lọt được vào mắt xanh của ai để mà có cơ hội...viết thư! Không phải là tôi thiếu những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với bạn khác phái, nhưng tôi không hiểu tại sao chỉ qua vài câu chuyện là họ tìm cách lảng đi, hoặc tiếp tục thì họ cũng lơ là có vẻ không nghe tôi nói. Tôi phải gây sự chú ý bằng cách cười thật to, nói thật lớn và nếu vẫn không khiến họ quay lại nhìn thì tôi sẽ tìm cách chen ngang vào câu chuyện họ đang nói với nhau, nhưng cuối cùng tôi chỉ nhận ở họ cái cau mày, lắc đầu rồi im lặng...
Nhưng phận tôi sao mà hẩm hiu được, vì tôi còn con Mận, con Đào, thằng Vui, thằng Tốt. Tụi nó là bạn học cũ của tôi, tụi nó rất có tình nghĩa. Con Mận nói:
-Tụi mình là bạn với nhau, dù lúc còn đi học mày luôn đội sổ không theo kịp tụi tao thì cũng là học cùng thầy, cùng lớp. Tụi tao không phân biệt nên rất thương mày...
Con Đào an ủi tôi:
-... mấy người kia nói mày ăn nói vô duyên. Nồi nào thì úp vung đó, bộ trên đời này không có ai vô duyên để hợp với mày? Chắc chắn có ngày sẽ gặp, chỉ là chưa đến lúc thôi. Cứ lo bò trắng răng...
Thằng Vui trấn an tôi:
-Mày yên tâm không sợ ế, sau này nếu tao không tìm được ai là người thích hợp, thì tao sẽ cưới mày...
Thằng Tốt gợi ý:
-Sách luôn cho ta những điều hay, mày nên dành thời gian đọc nhiều sách để học hỏi. Dần dà đầu óc cũng mở mang ra, mày sẽ biết cách làm sao cho mình tốt hơn khi đã tiếp xúc nhiều với kiến thức của nhân loại.
Vì tôi là người biết lắng nghe lời góp ý của người khác nên tôi thực hiện ngay theo lời các bạn thân mến của tôi. Tôi ra quày sách đầu tiên là thuê truyện chưởng về đọc ngấu nghiến mong học hỏi từ sách như lời khuyên của bạn. Tôi ráng học những câu đối thoại của các nhân vật trong đó để áp dụng khi gặp trường hợp tương tự. Rồi tôi cũng có vài đổi thay nhờ...sách! Nhưng con Mận phản đối:
-Dạo này mày dùng ngôn ngữ thấy kỳ kỳ sao ấy. Cái gì mà bổn cô nương với tại hạ rồi còn đòi điểm huyệt...
Tôi thay truyện chưởng bằng truyện trinh thám, lại ghi nhớ những điều mà tôi thấy đáng nhớ. Tôi kể lại những gì xảy ra quanh tôi;
-...tao thấy có một anh chàng mới xuất hiện, hình tung rất khả nghi không biết có phải là học trò không? Cần phải theo dõi rồi mới kết luận được, hôm qua hắn hát bài gì đó hay lắm, tao đang điều tra xem đó là bài gì...
Con Đào lắc đầu ngao ngán khi nghe tôi nói chuyện:
-...Cứ vắn tắt là có một anh chàng mới đến thuê nhà trọ gần nhà mày, chưa biết anh ta là người thế nào, chứ phải rắc rối suy diễn làm gì rồi điều tra với lại theo dõi...
Tôi không đọc truyện trinh thám nữa mà chuyển sang truyện...ma! Lần này thì các bạn của tôi không dám bén mảng đến nhà tôi ban đêm vì tụi nó nói nghe tôi nói chuyện cứ tưởng đang lạc vào nghĩa địa. Trời ạ! Thế thì tôi sẽ là tôi thôi với những cái mà ai đó cho là nói chuyện vô duyên! Trời sinh sao để vậy, tôi có cố thành...người khác cũng không xong.
OoO
Vỹ! Tên gã con trai mới đến làm hàng xóm của tôi chồm qua hàng rào đưa cho tôi một tờ giấy, tự nhiên nói:
-Lan này! Đây là bài Gởi gió cho mấy ngàn bay tui chép dùm cho nè, Lan hát hay lắm nhưng sai lời tùm lum.
-Tui thích hát sai cho nó đặc biệt mà, sao có người tốt chép dùm...(Rồi tôi đưa tay đón lấy tờ giấy chứ ngu gì không nhận)
-Lan vui tính quá... (hắn cười nhận xét trước khi quay lưng)
...thời gian thấm thoát thoi đưa, Vỹ lại chồm qua hàng rào đưa cho tôi một tờ giấy. Lần này thì không tự nhiên như lần trước:
-...ơ...ơ...Lan! Cho tui gởi cái này!
-Gì vậy? (Tôi nhướng mắt nhìn tờ giấy trên tay Vỹ)
Vỹ đưa tay gãi gãi đầu không nhìn tôi, ngập ngừng:
-Thì...thì nhận đi, chút nữa xem rồi biết.
Tôi đưa tay ra đợi:
-Thì đưa đây.
Vỹ thả tờ giấy vào tay tôi rồi quay lưng chạy nhanh vào nhà. Tôi cũng vội vàng trở vào để xem hắn viết cái gì. "...từ hôm đến đây làm hàng xóm của Lan, tui rất muốn xin làm bạn với Lan mà sợ Lan không chấp nhận.Hôm nay sau mấy đêm suy nghĩ, tui quyết định viết đôi dòng gởi đến Lan, mong Lan đừng từ chối tấm chân tình này. Tui xin thành thật nói rằng tui rất mến Lan...được làm bạn với Lan chắc là tui hãnh diện lắm..."
Tôi đứng ngớ ra mấy giây! Hổng lẽ đây là người vô duyên mà các bạn tôi nói chắc chắn có ngày tôi sẽ gặp, đã xuất hiện rồi sao?...
Hồ Thị Mỹ Hạnh