DÒNG HỌ PHAN Ở HẢI NGOẠI
Nguyễn Văn Thành
Thân tặng anh Phan Thanh Tâm, hậu duệ đời thứ 5 của cụ Phan Thanh Giản
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giòng người tị nạn đầu tiên với tổng số khoảng 130 ngàn người của 3 nước Đông Dương: Việt Nam, Ai Lao và Cam Bốt tới tị nạn tại Hoa Kỳ. Trong số 130 ngàn người đó, người Cam Bốt và Ai Lao chiếm khoảng 30 ngàn và khoảng 100 ngàn người còn lại xuất xứ từ Việt Nam. Tuy nhiên, trong số 100 ngàn người Việt cùng nhau từ Việt Nam tới Mỹ thì khoảng 30 ngàn người Việt gốc Trung Hoa vì họ là những người kinh doanh có đủ phương tiện nhanh chóng rời Việt Nam trước khi toàn miền Nam rơi vào tay của quân Cộng Sản miền Bắc. Còn lại 70 ngàn người mà đại đa số là gia đình của các chiến sĩ Không quân bay đêm 28 tháng 4 năm 1975 từ Sài Gòn tới Thái Lan với tất cả những phi cơ nào có thể bay được. Đại bộ phận Hải Quân gồm tàu lớn hay tàu nhỏ kể luôn một số lớn đơn vị Hải Quân tập trung ở Phú Quốc đều trực chỉ ra biển khơi ngày 30 tháng 4. Các tàu thương mại, tàu đánh cá cũng ra hải phận quốc tế, nơi đó có hạm đội số 7 túc trực giúp đỡ, sẵn sàng tiếp tế, và hướng dẫn chạy tới Phi Luật Tân, và được vận chuyển tới đảo Guam, đảo Wake,.v.v...
Xem như vậy với một dân số trên 20 triệu người trong đó gốc Việt Nam chính thức chỉ có khoảng 70 ngàn người rời bỏ Việt Nam mà đại đa số là các quân nhân, công chức, thương nhân và gia đình. Thế mà ngày nay ước lượng khoảng gần 3 triệu người Việt Nam ở rải rác trên 50 quốc gia trên toàn thế giới từ những nước lớn như Mỹ quốc, Anh, Canada, Đức, Bắc Âu, Pháp, Na Uy, v.v.., đặc biệt tập trung nhiều nhất tại Hoa Kỳ khoảng gần 1 triệu rưởi người.
Trong số các người Việt Nam ở hải ngoại có dòng họ danh tiếng: dòng họ Phan. Dòng họ Phan mặc dầu chưa từng làm vua như các dòng họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Nguyễn nhưng cũng có một vị từng làm Quốc trưởng một thời tại nước Việt Nam Cộng Hòa.
Xét từ thời Thượng cổ, trong thời Hồng Bàng tức là thời đầu tiên lập quốc thì đã thấy các danh nhân mang họ Phan. Họ Phan xuất hiện từ thời Kinh Dương Vương. Hùng Vương có 18 đời, Hùng Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương có một tướng là ông Phan Tây Nhạc hiện nay còn đền thờ trong đình xã Xuân Phương huyện Từ Liêm Hà Nội. Trong thời Bắc Thuộc khi hai bà Trưng nổi lên chống quân Hán thì 2 anh em Phan Cung và Phan Lượng cũng nổi lên cùng với 2 bà chống quân nhà Hán. Hiện nay có đền thờ 2 ông này ở làng Vĩnh Tường Nam Định. Tới đời Đông Ngô (thời Tam Quốc) có người họ Phan là Phan Miêu đã nổi lên chống quân Tàu giết chết được tên Thái Thú là Đam Manh. Cuộc khởi nghĩa này sau bị Thái Thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp và Thứ sử Giao Châu là Lữ Đại kéo quân vào đánh mới dẹp được.
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng mở đường cho quân bà Triệu sau này chống quân Tàu. Tới thời họ Lý có ông Phan Trường Nguyên, một nhà tu hành ở huyện Kiên Du, tỉnh Hà Bắc là một học giả. Cuối đời nhà Lý có ông Phan Lân ở Thái Bình, ông Phan Thế ờ Phù Lạc phò tá nhà Lý. Ông Phan Lân ở huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình đã có công giúp đỡ vua Lý Huệ Tông lúc còn là Hoàng Tử Sảm chạy lánh nạn ở kinh thành. Đến triều Trần có ông Phan Hách ở tỉnh Hà Tĩnh vào giúp triều Trần dạy con vua học. Cuối thời Trần sang nhà Hồ có tướng Phan Mãnh có công giết chết Chế Bồng Nga. Đến thời nhà Minh chiếm nước ta, có tướng Phan Cường nổi dậy chống quân Minh. Ông Phan Vân là tướng giúp vua Lê, tướng Phan Vân mở màn cho vua Lê tiến thẳng ra Bắc chiến thắng quân Minh.
Nói về ông Phan Thanh Giản:
Đến thời Tự Đức có ông Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê tại Ba Tri Bến Tre. Ông đậu Tiến Sĩ và làm quan trong triều vua Tự Đức. Tới khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông, vua Tự Đức muốn chuộc lại 3 tỉnh này nên cử ông đứng đầu phái đoàn thương nghị sang Pháp để điều đình nhưng người Pháp lúc đó muốn theo chân người Anh chiếm thuộc địa tại Á Châu. Anh chiếm Ấn Độ, Pháp thì muốn chiếm 3 xứ Đông Dương nên cuộc điều đình thất bại. Năm 1863 triều đình Huế cử ông Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Khắc Đồng và một đoàn tùy tùng 63 người đi sang Pháp, nhưng Pháp dùng kế hoãn binh nói rằng sẽ trả lời một năm sau. Phái đoàn về Việt Nam thì Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây.
Theo Việt Sử Toàn Thư viết, tác giả là Phạm Văn Sơn: vì nhờ có sương mù nên đoàn tàu của Pháp đậu trước thành Vĩnh Long mà quân ta không biết rồi họ cho đổ bộ binh sĩ chĩa súng vào thành. Quá 7 giờ sáng thành bị vây hoàn toàn, quân ta mới biết. Bộ Tham Mưu Pháp gửi tối hậu thư đòi ta phải đầu hàng Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Cụ Phan Thanh Giản và Án sát Võ Doãn Thanh xin hội kiến với Tư lệnh Pháp là De la Grandière. Cuộc hội kiến không kết quả và khi 2 người trở về thành thì thành đã bị mất. Như vậy, quân Pháp đã dùng kế "điệu hổ ly sơn" để chiếm thành, đó là ngày 20 tháng 6 năm 1867. Cụ Phan bắt đầu tuyệt thực và cấm các con hợp tác với Pháp, cụ nhịn ăn 7 ngày không chết và phải uống thuốc độc mới chết. Sau đó, Cụ được chôn cất tại làng Bảo Thành, Bến Tre, thọ 71 tuổi. (Theo tài liệu của Việt Sử Toàn Thư tác giả là Phạm Văn Sơn).
Vua Tự Đức tức giận về việc mất thành, liền lột chức Cụ và đục bỏ tên của Cụ ở bia Tiến Sĩ. Mặc dù vậy, hai con của Cụ Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm và một số quan lại lập phong trào Cần Vương chống Pháp. Hai ông này về sau theo giúp vua Hàm Nghi chống Pháp.
Xem như vậy, Phan Thanh Giản theo lệnh của Vua, cố điều đình lấy lại 3 tỉnh miền Đông nhưng vì Pháp nhất định muốn chiếm Việt Nam làm thuộc địa cho nên không trả lại. Còn việc mất thành xảy ra lúc cụ Phan Thanh Giản điều đình với Pháp và trong khi đang điều đình, quân Pháp lừa đánh chiếm thành Vĩnh Long. (Sở dĩ cụ Phan phải điều đình vì bên Pháp có các súng tối tân, còn bên ta có toàn là súng hỏa mai cho nên nếu ta có chiến đấu cũng bị thua mà thôi nhưng cụ Phan nhất định không đầu hàng Pháp).
Còn tiếp
Nói về ông Phan Đình Phùng:
Ngoài Cụ Phan Thanh Giản còn có Cụ Phan Đình Phùng cũng là một nhà Văn Thân cứu quốc. Ông Phan Đình Phùng người tỉnh Hà Tĩnh đỗ Đình Nguyên, làm quan đến Ngự Sử trong đời Vua Tự Đức.
Sau khi Cần Vương tan rã năm 1888, Vua Hàm Nghi bị bắt rồi bị đày đi Algérie, ông Phan Đình Phùng dùng đồn điền Vụ Quang làm chỗ tập họp binh sĩ và các đồng chí. Ông có tài tổ chức quân đội theo lối Âu Châu, binh đội của ông mặc đồng phục chiến đấu hăng hái và đoàn kết. Một người tướng của ông tên là Cao Thắng đúc được súng theo kiểu súng trường 1874 của Pháp chỉ tiếc rằng nòng súng không xẻ rãnh nên bắn không được xa như súng của Pháp.
Tóm lại Cần Vương phù trợ Vua Hàm Nghi. Văn Thân là các nhà trí thức Nho học theo ông Phan Đình Phùng chiến đấu chống giặc Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi đã bị đày sang Algérie, Ông Phan Đình Phùng còn chiến đấu trường cửu theo lối du kích chiến được khoảng 11 năm nhưng về sau thì giặc Pháp càng ngày càng bao vây cô lập và ông không chết ở trận tiền mà mất vì bệnh kiết lỵ. Sau khi Cụ Phan Đình Phùng mất thì đảng Văn Thân cũng dần dần tan rã nhưng nước ta còn 2 nhà họ Phan đứng lên chống Pháp bằng 2 cách khác nhau:
Ông Phan Bội Châu thì có khuynh hướng phò Hoàng thân Cường Để và hô hào Đông Du để chống Pháp.
Còn ông Phan Chu Trinh thì muốn chống Pháp nhưng xóa bỏ chế độ vua quan.
Nói về ông Phan Bội Châu:
Ông Phan Bội Châu sinh năm 1867 tại tỉnh Nghệ An, mất ngày 29 tháng 9 năm 1940 tại Huế. Ông Phan Bội Châu còn có tên là Phan Sào Nam.
Năm 1905 đến 1908, ông thấy rằng Pháp quốc đã hoàn toàn bảo hộ Việt Nam nên ông sống lưu vong tại Nhật Bổn và hô hào các thanh niên du học Nhật Bổn. Nhật Bổn sau khi Minh Trị Thiên Hoàng canh tân đã đánh bại hạm đội Nga cho nên hy vọng Phan Bội Châu theo gương Nhật Bổn để chống lại thực dân Pháp. Sang Nhật, Cụ Phan Bội Châu đã yêu cầu Nhật giúp khí giới và huấn luyện các thanh niên Việt Nam. Năm 1904, ông lập Việt Nam Duy Tân hội. Năm 1909, Nhật lấy lòng Pháp trục xuất ông khỏi Nhật, nên ông sang Hồng Kông hợp tác với Hoàng thân Cường Để. Năm 1912, ông Phan Bội Châu lập Việt Nam Quang Phục hội, Chủ tịch là Hoàng thân Cường Để, Phan Bội Châu là Phó Chủ tịch. Sự hoạt động cách mạng của ông Phan Bội Châu đã khiến cho thực dân Pháp phải yêu cầu chính phủ Trung Hoa bắt ông Phan Bội Châu và dẫn độ. Ông bị bắt và giam tại Trung Hoa và được thả ra năm 1917, ông trở về Việt Nam. Sau đó, ông Phan Bội Châu hoạt động tại thành phố Thượng Hải nhưng bị an ninh Pháp bắt đem về Việt Nam và giam trong nhà giam Hỏa Lò đến ngày 24 tháng 12 năm 1925 thì được thả ra và bị giam tại gia.
Nói về ông Phan Châu Trinh:
Ông Phan Châu Trinh sinh năm 1872 hiệu là Tây Hồ thuộc tỉnh Quảng Nam. Thân phụ của ông là Phan Văn Bĩnh đã chiến đấu trong hàng ngũ Cần Vương.
Năm 1900, Phan Châu Trinh thi đỗ Cử Nhân và năm 1901 ông đỗ Phó Bảng. Năm 1903, ông được bổ làm Thừa Biện ở Bộ Lễ. Trong thời gian từ 1902 đến 1905, Phan Chu Trinh có dịp đọc những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean-Jacques Rousseau, Voltaire, Montesquieu..... Càng tiếp xúc với các quan trường càng thấy thối nát hủ bại trên đưởng cử nghiệp (học gạo cốt có bằng ra làm quan kiếm tiền). Sau khi thấy lực lượng Cần Vương tan rã, sự bất lực của triều đình Huế, Phan Châu Trinh từ quan và hoạt động chính trị. Phan Châu Trinh tán thành phong trào xuất dương du học của cụ Phan Bội Châu. Ông có sang gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng rồi về nước hoạt động mạnh, tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Thực dân Pháp bắt ông Phan Châu Trinh và giam ông tại Côn Đảo rồi Pháp cho ông qua Pháp. Ở Pháp ông làm nghề rửa ảnh để sống, ông viết báo chống đối việc đào lăng Tự Đức. Năm 1925 ông về Việt Nam, ông vận động với nhà cầm quyền Pháp để xin ân xá cho Phan Bội Châu nhưng ông mất ngày 21 tháng 3 năm 1926.
Nói về ông Phan Quang Đán:
Trong các nhà chính trị thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, có một nhân vật chính trị là Bác sĩ Phan Quang Đán. Ông Phan Quang Đán tổ chức mặt trận dân chủ đối lập đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Bác sĩ Phan Quang Đán là Bác sĩ hành nghề tại Hà Nội thuộc mặt trận quốc gia hoạt động năm 1945 khi Việt Minh chiếm chính quyền, ông lưu vong tại Trung Quốc. Ông trở về Việt Nam tháng 9 năm 1955 để thành lập một phong trào đối lập; ông ra tranh cử Quốc hội và thắng cử một nhân vật được Tổng Thống Ngô Đình Diệm hậu thuẫn. Tháng 5 năm 1957, Bác Sĩ Phan Quang Đán thiết lập khối Dân Chủ (Democratic Block), có báo Thời Luận lúc ấy là tiếng nói. Cũng nên nhắc lại là báo Thời Luận bán chạy nhất, bán 8 vạn số một ngày. Tuy nhiên vì báo Thời Luận chỉ trích chính phủ nên bị đóng cửa tháng 9 năm 1957. Sau đó, Bác sĩ Phan Quang Đán thiết lập đảng Tự Do Dân Chủ, (Democratic Party) và thiết lập tờ Tin Bắc. Năm 1959, Người Việt Tự Do cũng bị đình bản. Bác sĩ Phan Quang Đán là một Dân biểu trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Nói về ông Phan Khắc Sửu:
Ta cũng kể thêm một vài họ Phan khác như Phan Khắc Sửu và Phan Huy Quát. Hai họ Phan này nằm trong một nhóm gọi là nhóm Caravelle gồm 18 nhân sĩ chống đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Các vị này là các nhà nhân sĩ yêu nước muốn rằng nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam phải có khối đối lập, tiếc rằng Tổng Thống Diệm không lưu ý mà chỉ củng cố gia đình và làm cuộc chống Cộng của toàn dân thất bại.
Ông Phan Khắc Sửu vốn là Kỹ sư Canh nông, ông theo đạo Cao Đài. Ông làm Quốc trưởng thời Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng từ năm 1964-1965, ta nhớ lại ông Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống trong khoảng năm 1955-1963, Dương Văn Minh từ 1963-1964, Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý tháng 8-1964 và Dương Văn Minh chỉ làm Quốc Trưởng vô quyền còn Nguyễn Khánh làm Tổng Tư lệnh nắm thực quyền. Tháng 9 năm 1964, một cuộc đảo chính nữa do các tướng trẻ cầm đầu làm cho Nguyễn Khánh phải lưu vong. Hội đồng Quân nhân đề cử Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng trong khoảng tháng 9 năm 1964 tới tháng 6 năm 1966, sau đó đến Nguyễn Văn Thiệu. Ông Phan Khắc Sửu được đưa lên làm Quốc Trưởng thay Dương Văn Minh vì lúc đó quân đội chưa dứt khoát yểm trợ ai cho nên đề cử một ông Dân sự ra nhận lãnh, tức là ông Phan Khắc Sửu. Ông Phan Khắc Sửu tạm thời lưu dụng Nguyễn Xuân Oánh làm Thủ tướng.
Nói về ông Phan Huy Quát:
Ông Phan Huy Quát là Bác sĩ. Ông thuộc đảng Đại Việt Cách Mạng mà đảng trưởng là Trương Tử Anh. Năm 1948 vì đảng Đại Việt hậu thuẫn cho Cựu Hoàng Bảo Đại trong việc ký hiệp định Hạ Long với Pháp, nên được cử làm Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục của chính phủ Việt Nam Quốc Gia đầu tiên tại Sài Gòn.
Ông làm Thủ tướng từ 15 tháng 2 năm 1965 do ông Phan Khắc Sửu đề cử. (Ông thay thế ông Nguyễn Xuân Oánh). Trong thời gian làm Thủ tướng, ông cho quân đội Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng tháng 3 năm 1965. Ông làm Thủ tướng trong giai đoạn khó khăn của đất nước. Lúc này Mỹ bắt đầu oanh tạc miền Bắc Việt Nam. Trong nước, quân Cộng Sản tấn công nhiều quận lỵ. Tại Sài Gòn, một số người Công giáo và Phật giáo quá khích tổ chức biểu tình làm cho tình thế càng ngày càng suy sụp.
Khi ông Phan Huy Quát muốn thay thế 3 vị Bộ trưởng, Ông Phan Khắc Sửu không thông qua cho nên Ông Quát xin quân đội vào can thiệp. Nhưng quân đội chỉ mong có dịp nắm chính quyền nên ông từ chức ngày 11 tháng 6 năm 1965.
Ngày 14 tháng 6 năm 1965, Hội đồng Quân nhân Cách mạng liền giải tán chế độ dân sự và cử ông Nguyễn Văn Thiệu (Chủ tịch Hội đồng Quân nhân) thay thế ông Phan Khắc Sửu, và ông Nguyễn Cao Kỳ (phó Chủ tịch Hội đồng Quân nhân) thay thế ông Phan Huy Quát.
Kể từ đó nước ta hoàn toàn dưới chế độ quân nhân trị cho đến ngày mất nước.
Nói chung, dòng họ Phan gồm các nhà ái quốc từ thời Thượng cổ đến giờ lúc nào cũng cố gắng bảo vệ nền độc lập của nước nhà cũng như toàn thể các dòng họ khác vậy.
***
TÌM HIỂU CÁC DÒNG HỌ CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Ở HẢI NGOẠI
8
DÒNG HỌ NGÔ Ở HẢI NGOẠI:
Nguyễn Văn Thành
Trong tập thể các người tị nạn Việt Nam của gần 50 quốc gia trên thế giới, Mỹ quốc tập trung nhiều nhất khoảng trên 1.2 triệu. Kế đến Pháp Quốc, Gia Nã Đại, và Úc Đại Lợi có số người tị nạn trên 200 ngàn và những quốc gia còn lại có số người tị nạn dưới 200 ngàn. Trong các dòng họ Việt Nam ở hải ngoại hầu hết được niêm yết trong cuốn niên giám điện thoại, họ Ngô cũng chiếm một phần lớn sau họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê. Xem như vậy, nếu họ Ngô không được nhắc tới trong cộng đồng người tị nạn thì đó là một điều thiếu sót nghiêm trọng.
Sử nước ta nhắc rằng các vua Hùng Vương có công dựng nước và người đầu tiên đánh thắng quân Tàu lập nên nền tự chủ cho nước Việt Nam, chính là Ngô Quyền. Lịch sử Trung Quốc có ghi rằng khi nhà Đường mất ngôi năm 907, dân Việt Nam lúc ấy dưới danh nghĩa là dân Giao Châu, cầm đầu là ông Khúc Thừa Dụ đã thừa cơ hội nhảy lên chiếm chính quyền khỏi tay người Trung quốc. Tới khi việc bên Tàu ổn định, nhà hậu Lương kế tiếp tìm cách chiếm lại Giao Châu.
Khi quân Nam Hán xua quân một lần nữa thôn tính Giao Châu thì Ngô Quyền vốn xuất thân là tướng của Khúc Thừa Dụ, tìm cách chống đỡ. Ông đã dùng gỗ nhọn đầu bọc sắt cắm ở lòng sông Bạch Đằng, rồi chờ nước thủy triều lên mới ra tay dụ làm kế khiêu chiến với quân Nam Hán. Đợi khi nước rút, quân Ngô Quyền mở trận tấn công cực mạnh làm cho tàu Nam Hán chạy đâm phải cọc vỡ tan tành và quá nửa lực lượng Nam Hán bị tiêu diệt. Thái tử Hoàng Thao bị bắt sống và bị giết chết. Sau đó, Ngô Quyền chính thức tuyên bố nước Nam dành lại độc lập năm 939 sau hơn 11 thế kỷ, tức hơn 1146 năm bị Tàu cai trị. Đây là khoảng thời gian dài nhất nước ta hoàn toàn lệ thuộc vào nước Tàu; sau này nhà Minh hay nhà Thanh chỉ có thể chiếm nước ta trong thời gian ngắn chừng vài chục năm mà thôi. Xem như vậy, nhà Ngô đã có công vô cùng to lớn trong việc dành lại tự chủ mở đường cho nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn sau này.
Ngô Quyến xưng vương và lập thành Cổ Loa tại Phúc Yên. Nhà vua tổ chức triều nghi, đặt các chức tước trong triều đình và phục sắc chỉnh đốn mọi việc chính trị quy mô đế vương kể đã đầy đủ. Ông muốn gây dựng một sự nghiệp lâu dài nhưng chỉ ở ngôi được khoảng trên 5 năm thì qua đời năm 944, thọ 47 tuổi. Con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn tiếp tục nối ngôi phụ vương. Đến khi các vị này chết, con là Ngô Xương Xí lên làm vua nhưng vì ông không có tài và không ai phục cho nên loạn thập nhị sứ quân xảy ra. Sau nhờ có Đinh Bộ Lĩnh thắng toàn thể 11 sứ quân khác lên làm vua xưng tên là Đinh Tiên Hoàng.
Lịch sử nước ta ghi chép rằng dưới thời Hoàng đế Quang Trung cũng có các danh tài họ Ngô là Ngô Văn Sở (tướng của nhà Tây Sơn) và Ngô Thời Nhậm. Khi Nguyễn Huệ thanh toán được quân nhà Thanh lên làm vua, Ngô Thời Nhậm vốn làm quan với triều Lê lâu dài và có vốn kiến thức nên đã hết lòng giúp vua Quang Trung làm tờ trình giao hảo với nhà Thanh bên Tàu tức là Việt Nam sau khi dụng binh thì dùng ngoại giao để lập quốc.
Lịch sử nước ta còn có họ Ngô làm quan lớn trong triều đình nhà Nguyễn. Nhắc lại ngày 28 tháng 1 năm 1888 vua Đồng Khánh mất, triều đình rước Hoàng tử Bửu Lân con vua Dục Đức, lúc ấy đang ở trong tù với mẹ, lên làm vua lấy hiệu là Thành Thái lên ngôi lúc 10 tuổi. Kể từ năm 1884, quân Pháp đã hoàn toàn kiểm soát Việt Nam và lợi dụng vua còn nhỏ nên Pháp cử những người thân Pháp thay mặt vua cai trị cho tới khi vua khôn lớn, lúc được 18 tuổi thì ngài cầm quyền. Vì ông Bửu Lân bị bỏ vào tù lúc còn 10 tuổi cho nên khi được làm vua trong lòng ngài vẫn căm hận người Pháp. Thực tế Pháp hoàn toàn quản lý nước ta nhưng trong hòa ước 1884 có cho phép vua Việt Nam cai trị miền Trung như bổ Tổng Đốc, Tri Phủ, Tri Huyện v..v... Tuy nhiên, các kẻ thân Pháp càng ngày càng lấn quyền vua, tự cử các quan địa phương rồi bắt vua ký nhưng đôi khi vua từ chối không ký làm cho các quan khâm sứ của Pháp càng ngày càng muốn tìm cách loại bỏ nhà vua. Sau một thời gian cai trị khoảng 19 năm tức năm 1907 tên khâm sứ người Pháp là Lévéque bắt Trương Như Cương là quan đại thần dân biểu và toàn thể các quan trong triều ký dâng ép vua Thành Thái thoái vị vì lấy cớ nhà vua chống Pháp, nhưng chỉ có một vị quan đại thần là Ngô Đình Khả không chịu ký lấy cớ là âm mưu này do Pháp chủ trương không phải do các quan. Vì vậy ngoài Huế có câu vè:
“Đày Vua không Khả"...
Vua Thành Thái bị Pháp bắt, mới đầu giam tại Vũng Tàu sau đó thực dân Pháp đày nhà vua tận Phi Châu.
Năm 1926, vua Khải Định băng hà, truyền ngôi cho vua Bảo Đại, lúc ấy ông còn học tại Pháp. Tới năm 1933, Hoàng đế Bảo Đại mới đích thân nhiếp chánh. Vua Bảo Đại tuy được người Pháp giáo dục nhưng lúc nào cũng muốn làm cho nước ta được khá hơn. Nhà Vua biết việc ông Ngô Đình Khả trung thành với họ Nguyễn chống việc truất phế Vua Thành Thái, nay con của Ngô Đình Khả là Ngô Đình Diệm làm quan trong triều nên Vua Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm làm Thừa tướng nhưng vì ông biết rõ thực dân Pháp nắm toàn bộ quyền cai trị cho nên ông Ngô Đình Diệm từ chối không nhận. Mãi đến năm 1954, Hiệp định Paris ký kết chia đôi đất nước, miền Bắc trao cho Cộng Sản và miền Nam trao cho chính phủ Quốc Gia, vua Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng nhớ đến Ngô Đình Diệm và mời thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam.
Sau khi thành lập Chính phủ Quốc Gia tại Sài Gòn, ông Ngô Đình Diệm có công lớn đem được 1 triệu đồng bào tị nạn Cộng Sản vào Nam. Theo Hiệp định Genève, cuộc di cư này bắt đầu ngày 1 tháng 8 năm 1954 và chấm dứt ngày 28 tháng 5 năm 1955. Những người di cư vào miền Nam ban đầu dùng những chuyến bay từ Hải Phòng hoặc Hà Nội, sau đó dùng tàu vận tải của hải quân Mỹ có sức chuyên chở khoảng 3000 người tị nạn mỗi lần. Người tị nạn dùng phương tiện tàu hải quân Mỹ thường đi từ Hải Phòng và tới Vũng Tàu hoặc Bà Rịa.
Mặc dầu Pháp ký Hiệp định Genève nhưng họ vẫn muốn để ảnh hưởng lại miền Nam như Tướng Nguyễn Văn Hinh đồng thời từ bên Pháp họ thấy rằng ông Ngô Đình Diệm muốn thiết lập tại Việt Nam một nền Độc Lập Dân Chủ không thân Pháp nên yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại triệu tập Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về Pháp. Kết quả, có cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Việt Nam, và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được bầu làm Tổng Thống của nước Việt Nam Cộng Hòa. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có công trong việc thiết lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa và muốn rằng Việt Nam không theo Cộng Sản vì vậy miền Bắc Việt Nam lập ra mặt trận Giải Phóng miền Nam đánh phá trong Nam. Ông Ngô Đình Diệm hiểu rõ Cộng Sản và muốn giữ chánh nghĩa và nền độc lập của quốc gia Việt Nam nên muốn để cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tự chống Cộng Sản mà không muốn người Mỹ đem quân đến Việt Nam để chống Cộng thay cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Ông chỉ yêu cầu chánh phủ Mỹ yểm trợ khí giới, huấn luyện quân sự, và viện trợ tài chánh. Vì vậy nên mới có cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm do các tướng lãnh thân Mỹ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, và kết quả 2 anh em: Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn tài giỏi Ngô Đình Nhu bị giết chết vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.
Khi được tin hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết chết, chính Hồ Chí Minh miền Bắc cũng nói rằng ông Ngô Đình Diệm là "một nhà đại ái quốc theo cách của ông đó".
&&&
TÌM HIỂU CÁC DÒNG HỌ CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Ở HẢI NGOẠI
7
Dòng Họ Hồ
Họ Hồ là một trong những họ danh tiếng của nước ta. Xét theo lịch sử, ta thấy có hai họ Hồ làm vua, họ Hồ đầu tiên là Hồ Quý Ly, họ Hồ thứ hai là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.
Họ Trần chiếm ngôi của nhà Lý do âm mưu của Trần Thủ Độ bắt vua Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 8 tuổi truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh cũng 8 tuổi. Lợi dụng tuổi còn nhỏ của hai người này cho nên Trần Thủ Độ đã sắp xếp để cho nhà Trần chiếm ngôi nhà Lý một cách hòa bình.
Éo le thay cuối đời nhà Trần, vua Trần Nghệ Tông lại tin và giao cho người ngoại họ tức là Hồ Quý Ly, toàn quyền quyết định việc nước và vì thế Hồ Quý Ly mới chiếm được ngôi của nhà Trần. Lần này Hồ Quý Ly vang danh hơn cả Trần Thủ Độ vì rằng Trần Thủ Độ chỉ chiếm ngôi vua cho cháu nhưng đích thân ông không làm vua. Trong khi Hồ Quý Ly sau nhiều lần sắp xếp đã chiếm ngôi vua cho chính ông ta.
Thật ra lúc đầu, nhà Trần đã cố gắng không cho người ngoại tộc chiếm các vị trí trọng đại vì vậy đã thi hành chính sách loạn luân chẳng hạn cô lấy cháu, anh em họ lấy nhau thậm chí Trần Cảnh còn bị Trần Thủ Độ bắt lấy chị dâu (vợ của người anh ruột) đã có mang sẵn để chắc chắn có con nối dõi tông đường. Chính sách loạn luân nghĩa là không cho những người khác họ kết hôn với nhà Trần chỉ cốt làm sao ngôi vua khỏi lọt vào tay của người khác họ. Còn Trần Thủ Độ lấy chị họ là Trần Thị mà Trần Thị là mẹ của Lý Chiêu Hoàng và là vợ của Lý Huệ Tông. Cũng nên nhắc lại cô của Hồ Quý Ly là mẹ của Trần Nghệ Tông tức Trần Nghệ Tông và Hồ Quý Ly là con cô cậu ruột. Nhưng Trần Nghệ Tông đã quên bài học lịch sử lại trọng dụng Hồ Quý Ly bằng cách cho nắm hết toàn quyền, hoàn toàn thay vua để quyết định mọi việc. Hồ Quý Ly càng ngày càng lộng quyền phạm tội giết vua Trần Thuận Tông rồi phế bỏ Trần Thiếu Đế.
Âm mưu của Hồ Quý Ly được tóm tắt như sau:
Mới đầu, Trần Thuận Tông bị bắt buộc phải truyền ngôi cho con mới có 3 tuổi và phải đi tu nhưng sau đó, Hồ Quý Ly sai người đến giết Trần Thuận Tông. Ta thấy rằng âm mưu này giống hệt âm mưu của Trần Thủ Độ đã thi hành với vua nhà Lý. Rồi sau đó, ông cướp ngôi của Trần Thiếu Đế và tự lên làm vua năm 1400. May cho Trần Thiếu Đế thoát chết vì mẹ của Trần Thiếu Đế là con của Hồ Quý Ly tức cháu ngoại của Hồ Quý Ly nên Hồ Quý Ly đã tha tội.
Hồ Quý Ly biết trước việc quân Tàu nhân cơ hội nước ta có chính biến, sẽ sang xâm chiếm cho nên ông cố gắng phát triển quân lực và bắt các người thợ rèn giỏi, rèn luyện khí giới để chống với quân Tàu. Hồ Quý Ly bắt chước nhà Trần lên ngôi Thái Thượng Hoàng truyền ngôi cho con vào năm 1401. Năm 1407, nhà Minh đem quân sang xâm chiếm nước ta, và vì họ Hồ mới cướp ngôi nhà Trần cho nên nhiều người dân đã không phục nhà Hồ. Lợi dụng, quân nhà Minh dùng chiêu bài "diệt Hồ phò Trần" cho nên nhà Hồ bị thua trận và cha con đều bị bắt về Tàu. Khi về Tàu, vua Tàu giáng Hồ Quý Ly xuống làm lính. Nếu sau này không nhờ người anh hùng áo vải Lam Sơn tức Lê Lợi diệt nhà Minh thì thật là một tai họa vô cùng lớn cho nước ta.
Ngoài tội cướp ngôi nhà Trần và thất trận với quân Tàu, nhưng Hồ Quý Ly lại là một nhà cải cách tài ba.
Về kinh tế, Hồ Quý Ly đã cho phát hành tiền giấy thu về tiền đồng để đúc súng đạn. Đây là một cuộc cách mạng về tiền tệ đầu tiên xảy ra trên thế giới. Ngoài ra, ông có chương trình cải cách ruộng đất cho dân giữ từ 10 mẫu ruộng trở xuống và phần dư được nhường cho người khác hoặc biến thành công điền. Chỉ những người nào là công thần giữ chức lớn thì mới có nhiều hơn 10 mẫu theo chế độ phong kiến nghĩa là chia đất cho các quan.
Hồ Quý Ly có công mở mang bờ cõi, năm 1402 sai tướng Đỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành, vua Chiêm dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) và Cổ Lũy (Quãng Ngãi), Hồ Quý Ly chia làm 4 châu, đặt quan An Phủ Sứ cai trị và đưa dân vào khai khẩn.
Thêm vào đó, Hồ Quý Ly lại cải tổ thi cử và đặt ra thêm một trường thi là thi Toán. Trong thời Hồ Quý Ly đệ nhất trường thi Kinh Nghĩa, đệ nhị trường thi Phú, đệ tam trường thi Chiếu chế biểu, đệ tứ trường thi Văn Sách và đệ ngũ trường thi Toán.
Sau khi đậu thi Hương, năm sau vào Kinh thi Hội. Thi Hội để làm thêm bài Văn Sách để định cao thấp và lấy Thái Học Sinh tức là Tiến Sĩ năm 1400, ông Nguyễn Trãi đậu Tiến Sĩ thời nhà Hồ.
Họ Hồ thứ hai làm vua là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.
Ông Hồ Phi Phúc có cùng tổ tiên với Hồ Quý Ly, sinh ra 3 người con là Hồ Phi Nhạc, Hồ Phi Lữ và Hồ Phi Huệ. Nước ta trong thời Nam Bắc phân tranh, vua Lê và chúa Trịnh cai trị ở phía Bắc và các chúa Nguyễn cai trị ở phía Nam, dân 2 miền đánh nhau nhiều trận làm cho dân tình khốn khổ. Sâu trong phía Nam, đất đai chưa được khai khẩn nhiều lại thêm cảnh chiến tranh dày xéo làm cho dân tình đói khổ, nên ba anh em họ Hồ có đầu óc cách mạng và không muốn ngăn dòng họ Hồ do Hồ Quý Ly đã từng thất trận với quân Tàu nên quyết định đổi theo họ mẹ tức là họ Nguyễn vì thế ta có các ông Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.
Sau khi đánh chiếm được một phần Trung Bộ, ông Nguyễn Nhạc lên ngôi Trung Ương Hoàng Đế và phong cho các em làm Đại Tướng. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào trong Nam để đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn thua trận và phải sang Thái Lan cầu cứu; vua Thái Lan cấp cho 300 chiến thuyền và 2 vạn quân cùng nhiều tướng lãnh sang giúp chúa Nguyễn Ánh. Quan trấn thủ nhà Tây Sơn trình Trung Ương Hoàng Đế Nguyễn Nhạc, vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ vào dẹp quân Thái Lan. Nguyễn Huệ dàn quân tiêu diệt toàn bộ quân Thái Lan tại địa phận Mỹ Tho, kết quả quân Thái Lan chỉ còn lại vài trăm tàn binh tháo chạy về nước. Trong khi đó, ngoài Bắc có loạn kiêu binh nổi lên nguyên do vì năm 1782 Trịnh Sâm chết. Trước khi chết, Trịnh Sâm vì ưu ái Đặng Thị Huệ nên bỏ con trưởng là Trịnh Khải, lập con thứ (con của Đặng Thị Huệ) tên là Trịnh Cán lên làm chúa. Rồi con trưởng Trịnh Khải đem quân về giết cả hai Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ và tự xưng làm chúa.
Đám binh sĩ sau khi đã phò Trịnh Khải thành công, đâm ra kiêu căng kéo đến các nhà quan giết người cướp của làm cho kinh thành rối loạn và vì vậy thành Thăng Long sống trong cảnh hỗn loạn không có thể thống gì cả, không có quan nào chỉ huy đám kiêu binh đó. Nguyễn Hữu Chỉnh là quan của thời này, đã vào trong Nam yêu cầu Trung Ương Hoàng Đế cử quân ra dẹp loạn.
Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc dẹp loạn. Quân Nguyễn Huệ đi đến đâu, đám kiêu binh chạy đến đó rồi tan rã. Nguyễn Huệ vào tới thành Thăng Long bắt giết chúa Trịnh và các người theo chúa Trịnh nhưng Nguyễn Huệ đã không cố ý cướp ngôi nhà Lê nên trả lại quyền cho vua Lê Hiển Tông. Vua Lê lúc đó dù bệnh rất nặng nhưng muốn tạ ơn Nguyễn Huệ bằng cách gả con gái là Ngọc Hân Công Chúa. Sau này Ngọc Hân Công Chúa lên làm Hoàng Hậu và Nguyễn Huệ thành Hoàng Đế.
Khi vua Hiển Tông mất đi, cháu đích tôn là Lê Duy Kỳ được tôn lên làm vua năm 1787, hiệu là Lê Chiêu Thống. Sau đó, Nguyễn Huệ đề cử Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại để giúp vua và ngài rút về Nam.
Nguyễn Hữu Chỉnh lại chuyên quyền và xử sự như là chúa Trịnh vì vậy trong Nam phải cử Vũ Văn Nhậm ra thanh toán Nguyễn Hữu Chỉnh. Thi hành xong, nhà Tây Sơn bổ Vũ Văn Nhậm thay Nguyễn Hữu Chỉnh giúp vua Lê Chiêu Thống. Vũ Văn Nhậm một lần nữa lại chuyên quyền cho nên Nguyễn Huệ đã phái Ngô Văn Sở ra giết Vũ Văn Nhậm. Lúc này, Lê Chiêu Thống đã không biết rằng nhà Tây Sơn không có ý định cướp ngôi nhà vua mà chỉ muốn tiêu diệt các phản thần và để cho vua nắm lấy chính quyền nhưng vua bất tài vô tướng, thấy quân nhà Tây Sơn ra, Lê Chiêu Thống bèn đem Hoàng Hậu và các quan chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Nhà Thanh nhân cơ hội này quyết tâm giúp vua Lê Chiêu Thống nhưng tình thực muốn xâm chiếm nước ta nên đã cử Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 20 vạn quân tiến chiếm Thăng Long. Vua Lê chiêu Thống mỗi ngày được hộ tống với 10 tên lính đi sang trình tâu Tôn Sĩ Nghị và nhiều lần Tôn Sĩ Nghị đã không thèm tiếp mà cho lính nói rằng hôm nay không có việc gì và cho vua đi về.
Trong lịch sử nước ta chưa từng có nhà vua nào bị nhục quốc thể đến như vậy, chướng tai gai mắt, Nguyễn Huệ bèn lên ngôi Hoàng Đế năm 1788 rồi kéo quân ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh không đầy 10 ngày. Sau đó, nhà Thanh phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc Vương.
Như vậy trong lịch sử nước ta, họ Hồ Quý Ly làm mất nước nhưng họ Hồ sau là Hồ Phi Huệ tức Nguyễn Huệ trái lại có công đánh thắng quân Tàu và giữ vững nền độc lập cho tổ quốc. Ta nên nhớ rằng vua Quang Trung chẳng những là một nhà quân sự danh tiếng nhất của nước ta lại có lòng ái quốc không ai bằng. Vua Quang Trung có công thống nhất đất nước và cũng chính ngài đã ra lệnh cho các kỳ thi, các quan ra đề thi phải bằng chữ Nôm và các giao dịch của vua và các quan cũng dùng chữ Nôm nhưng tiếc rằng người trị vì có 4 năm thì mất. Con của ngài là Nguyễn Quang Toản lên làm vua làm mất nước sau 10 năm bởi vua Gia Long.
Nếu Trời thương cho Nguyễn Huệ sống thêm 10 năm nữa thì lịch sử nước ta không có dòng vua nhà Nguyễn (dòng Gia Long) và tất nhiên sẽ không bị Pháp cai trị và không lạc hậu như ngày nay.
***
TÌM HIỂU CÁC DÒNG HỌ CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Ở HẢI NGOẠI
6
Họ Đinh ở nước ta là một họ danh tiếng.
Dưới thời nhà Ngô, thứ sử Hoan Châu (hiện nay thuộc tỉnh Nghệ An) là Đinh Công Trứ, sinh ra Đinh Bộ Lĩnh. Vì Đinh Công Trứ mất sớm cho nên mẹ đem Đinh Bộ Lĩnh về động Hoa Lư ở tỉnh Ninh Bình sinh sống. Đinh Bộ Lĩnh ngay từ bé đã tỏ ra là một người chỉ huy giỏi cho nên lũ trẻ mục đồng coi ông ta như là một lãnh tụ.
Lớn lên gặp lúc nước ta bị nạn Thập Nhị Tướng Quân đến cuối đời nhà Ngô, cứ đánh nhau lẫn lộn làm cho dân bị điêu đứng, Đinh Bộ Lĩnh bèn đầu quân cho sứ quân Trần Minh Công, rất có thế lực lúc bấy giờ. Trần Minh Công thấy Đinh Bộ Lĩnh có tài nên được trọng dụng làm tướng cho đến khi Trần Minh Công mất đi thì toàn bộ quân trực thuộc dưới quyền điều khiển của Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh thắng tất cả 11 sứ quân khác và lên làm vua lấy tên là Đinh Tiên Hoàng Đế.
Đinh Bộ Lĩnh có các con là Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang và Đinh Tuệ. Đinh Hạng Lang là con út được vua Đinh Tiên Hoàng thương nhất và cho làm Thái tử. Đinh Liễn có công đánh giặc theo vua nhưng không được làm Thái tử nên ganh tị tìm người giết Thái tử.
Mãi đến năm 979, tên Đỗ Thích nằm mộng thấy ngôi sao rơi vào trong mồm, tưởng mình có số làm vua nên nhân cơ hội vua Đinh Tiên Hoàng và Thái tử say rượu, tên Đỗ Thích giết cả hai người. Triều đình lúc đó có Đinh Điền và Nguyễn Bặc đem quân bắt giữ được tên Đỗ Thích sau khi tên này trốn trên mái nhà 3 ngày vì quá đói nên leo xuống nộp mạng. Sau đó, triều đình giết chết tên Đỗ Thích.
Triều đình suy tôn Đinh Tuệ lên làm vua nhưng vì Đinh Tuệ quá nhỏ, năm sau quân nhà Tống chuẩn bị xua quân đánh nước ta. Triều đình tôn quan Thập Đạo Tướng quân là Lê Hoàn lấy hiệu là Lê Đại Hành lên làm vua và như vậy nhà Đinh mất từ đây.
&&&
5
Nguyễn Văn Thành
Cuối đời họ Lý, thời Lý Cao Tông có loạn lạc tại Kinh Thành cho nên vua Lý Cao Tông phải chạy lên mạn bắc Phú Thọ, trong khi đó Thái tử Lý Sam chạy về làng Tức Mặc thuộc phủ Xuân Trường, Nam Định, và tá túc tại nhà Trần Lý. Vì Trần Lý là một nhà phú hào ở vùng này nên nhiều kẻ giúp việc của ông đã che dấu Thái tử có chỗ ẩn núp. Trần Lý có một người con gái xinh đẹp tên là Trần Thị được Thái tử xin cưới làm vợ. Lợi dụng chức cha vợ, Trần Lý lấy danh nghĩa của Thái tử tuyển mộ quân đội rồi phò Thái tử về Kinh Đô.
Khi vua Lý Cao Tông mất, Thái tử lên ngôi lấy tên là Lý Huệ Tông. Lúc này, Thái tử cho quân rước Trần Thị về triều đình làm Hoàng hậu và đã hạ sinh được hai người con gái. Anh của Hoàng hậu là Trần Thừa và Trần Khánh đều được phong chức lớn trong triều làm cho các địa vị của họ Trần càng ngày càng gia tăng. Sau đó, anh họ của Trần Thị là Trần Thủ Độ được vời vào cung giúp việc. Trần Thủ Độ tuy ít học nhưng là kẻ gian hùng và có tài tổ chức, càng ngày y càng lộng quyền đã bắt ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái của vua lên làm vua tức là Lý Chiêu Hoàng và ngài phải đi tu.
Trần Thủ Độ muốn giết vua Lý Huệ Tông nhưng sợ mang tiếng ác, nên lên trên chùa thấy Lý Huệ Tông đang nhổ cỏ thì Trần Thủ Độ có nói rằng:
-"Nhổ cỏ thì phải nhổ cho tận rễ"
Lý Huệ Tông trả lời:
-“Ta đây đã hiểu ý của ngươi rồi".
Khi Trần Thủ Độ ra về, Lý Huệ Tông bèn treo cổ tự vẫn.
Muốn chiếm ngôi nhà Lý một cách ôn hòa, Trần Thủ Độ bắt ép Lý Chiêu Hoàng (mới có 7 tuổi) phải lấy cháu của Trần Thủ Độ tức là con của Trần Thừa, tên là Trần Cảnh. Không lâu sau đó, Lý Chiêu Hoàng bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.
Trần Cảnh lên ngôi năm 1225 lúc có 8 tuổi, lấy hiệu là Trần Thái Tông.
Lúc này, Trần Thủ Độ nắm toàn bộ binh quyền và tìm cách tiêu diệt cho hết dòng họ Lý bằng cách khuyến cáo tất cả những dòng họ Lý đi tế lễ tổ tiên nhà Lý trên một cái sàn rồi giật sập cái sàn này chôn sống toàn bộ những người họ Lý để dòng họ Lý không còn cách nào chống lại nhà Trần. Giết xong chưa đủ, Trần Thủ Độ còn giả dạng sắc vua bắt toàn thể những người họ Lý còn sống sót phải đổi sang họ Nguyễn vì lý do ông nội của vua Trần Thái Tông là Trần Lý. Và như vậy nhà Lý đã thực sự chấm dứt.
Đối với nhà Lý, Trần Thủ Độ là một đại gian thần nhưng là một đại công thần đối với nhà Trần vì nhờ Trần Thủ Độ sửa sang việc binh, nhất là sửa sang thủy quân đủ lực lượng chống với quân Mông Cổ sau này.
Lúc ấy, quân Mông Cổ ở phía Bắc Hắc Long giang tấn công đánh chiếm nước Tàu. Vua Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn, một mặt chiếm nước Tàu, mặt khác phái quân sang đánh Việt Nam làm vua tôi nhà Trần phải bỏ Kinh Đô chạy về phía Nam nhưng vì không hợp với thủy thổ nên một ít quân số bị chết . Các tướng nhà Trần đứng đầu là Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo Vương) đứng dậy đánh đuổi quân Mông Cổ về nước.
Quân Mông Cổ đánh tan được quân nhà Tống, rồi lên ngôi bá chủ Trung Nguyên, xong đổi tên là nhà Nguyên. Sau khi, Thành Cát Tư Hãn chết, Hốt Tất Liệt lên ngôi vua thay thế và xua quân đánh chiếm một phần Âu Châu, chiếm tận xứ Trung Đông và Ba Tư (Iran). Nhưng vì thua Việt Nam ta lần thứ nhất nên Hốt Tất Liệt muốn trả thù và xâm chiếm nước ta lần thứ hai vào năm 1284. Lần này, Tướng Toa Đô bị chết trận còn Thoát Hoan bị thua phải chui vào ống đồng chạy về Tàu.
Hốt Tất Liệt phẫn uất, dấy binh xâm chiếm Việt Nam lần thứ ba năm 1288. Tướng quân vẫn là Thoát Hoan làm Tổng chỉ huy cùng Đại tướng Ô Mã Nhi đem một lực lượng hùng hậu gồm 500 chiến thuyền và 30 vạn quân tiến chiếm. Vua ta lúc này dưới đời Trần Nhân Tông phải rút quân bỏ Kinh Đô về Thanh Hóa lập mưu chờ đến khi quân địch đem một đoàn chiến thuyền tải lương thực để tiếp tế cho quân Mông Cổ được Đại tướng Trần Khánh Dư chận đường tiêu diệt, cướp sạch quân lương và khí giới tại trận Hàm Tử.
Đại tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão và nhiều tướng lãnh khác đã mở cuộc tổng phản công tại trận Bạch Đằng tiêu diệt toàn bộ quân Tàu gồm có 400 chiền thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi cùng nhiều tướng khác và vài chục ngàn quân Mông Cổ. Thoát Hoan phải tháo chạy về Tàu bằng đường bộ. Lúc xâm chiếm nước ta, quân Mông Cổ có 30 vạn quân nhưng chỉ còn độ 3 nghìn quân sống sót về lại Tàu trong cánh quân của Thoát Hoan. Một số lớn bị bắt trên biển, đại đa số chết ở trên mặt trận hoặc chết ở dưới biển nhất là sau trận Bạch Đằng, thuyền bè bị vỡ tan vì đụng phải cọc nhọn đã đóng tại đáy biển.
Sau trận này, vua Trần Nhân Tông muốn hòa để cho dân đỡ khổ nên cử sứ giả sang Tàu yêu cầu hai bên hòa giải. Vua ta trả lại mấy chục ngàn tù binh nhưng vì Ô Mã Nhi giết quá nhiều người Việt Nam nên Ô Mã Nhi được trả về bằng đường thủy rồi bị đánh đắm chìm tàu ở biển để vua Tàu không phản kháng được.
Vua Nguyên, Hốt Tất Liệt căm phẫn nên chuẩn bị đánh lần thứ tư nhưng chẳng bao lâu Hốt Tất Liệt chết và nhà Nguyên đã bỏ mộng tấn công Việt Nam lần chót.
Nhà Trần Lý vốn dòng dõi thuyền chài nên quen đi trên thuyền và vì vậy khi tổ chức hải quân Việt Nam có nhiều kinh nghiệm đánh thắng quân Mông Cổ. Ngoài ra Đại tướng Trần Quốc Tuấn chẳng những rất giỏi văn chương làm ra hịch để khuyến khích tướng sĩ dốc lòng đánh giặc, mà lại còn đọc sử, thời trước học tập kinh nghiệm của Ngô Quyền đánh thắng quân Tàu để áp dụng chiến thuật và mưu lược tại sông Bạch Đằng.
Những cọc này còn nguyên ở dòng sông Bạch Đằng, các du khách ngày nay vẫn có thể quan sát được để nhớ lại chiến công hiển hách của nhân dân ta chống lại giặc Mông cổ.
Xem như vậy, nhà Trần cũng có công rất lớn giữ vững nền độc lập của Việt Nam ta chống được kẻ cường địch thời bấy giờ là quân Mông Cổ.
Ngoài chiến công hiển hách của nhà Trần lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, nhà Trần đã đặt ra cuộc thi Tiến Sĩ đầu tiên, vì rằng trong nhà Lý chỉ đặt ra thi chữ Hán để tuyển lựa nhân tài giúp việc cho vua mà không đặt ra học vị Tiến Sĩ.
Hiện nay, dòng họ Trần cũng có nhiều ở trong cộng đồng Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại. Ta nhớ lại, năm 1945, có một Thủ tướng họ Trần tên là Trần Trọng Kim, ông cũng là một sử gia danh tiếng của Việt Nam. Cuốn Việt Nam Sử Lược của ông hiện nay vẫn là cuốn Sử tốt nhất mà tất cả người Việt Nam trên toàn thế giới đều dùng để biết lịch sử của Việt Nam ta.
***
TÌM HIỂU CÁC DÒNG HỌ CHÍNH CỦA VIỆT NAM
Ở HẢI NGOẠI
4
DÒNG HỌ LÝ Ở HẢI NGOẠI:
Nguyễn Văn Thành
Từ thời vua Hùng Vương lập quốc, nước ta không có một nhân tài nào của họ Lý xuất hiện. Sau khi nhà Triệu mất nước, nước ta hoàn toàn dưới sự đô hộ của Tàu và được coi như một quận huyện của Tàu đặt tên là Giao Chỉ hoặc là Giao Châu. Danh từ Giao Chỉ do người Việt Nam đặt ra (đã có từ đời vua Hùng Vương trong nước Văn Lang trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim - trang 9) vì rằng hai ngón chân cái quay về phía nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ, còn Giao Châu tức là một châu có người dân Giao Chỉ ở.
Các quan cai trị toàn là người Tàu áp dụng chính sách rất hà khắc dân ta chỉ cốt bóc lột dân địa phương thí dụ bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai hoặc lên rừng kiếm sừng tê giác để làm giàu cho các dân cai trị người Tàu. Cho đến thời Đông Hán, vua Tàu mới cử một người Việt Nam tên là Lý Tiến làm Giao Chỉ Thứ Sử nghĩa là toàn quyền Giao Chỉ. Mãi đến thế kỷ thứ 6 sau Thiên Chúa giáng sinh, nước ta có ông Lý Bôn đánh đuổi được quân Tàu ra khỏi bờ cõi rồi lên làm vua xưng là Lý Nam Đế (nhưng vì sử nước ta có hai dòng vua họ Lý cho nên dòng đầu tiên gọi là nhà tiền Lý). Khi vua mất, tướng Triệu Quang Phục được giao quyền làm vua. Sau đó, Lý Phật Tử là em họ của Lý Tiến đánh đuổi và giết được Triệu Quang Phục, lên làm vua gọi là hậu Lý Nam Đế.
Xét theo sử nước ta thì sau khi Lê Đại Hành lên làm vua, truyền đến đời thứ 3 là Lê Long Đĩnh. Đến khi Lê Long Đĩnh mất, các quan trong triều tôn Lý Công Uẩn, lúc đó đang làm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, lên ngôi vua năm 1010 xưng hiệu là Lý Thái Tổ. Ngài thấy kinh đô ở Hoa Lư là nơi thôn dã thuộc tỉnh Ninh Bình cực kỳ nhỏ hẹp không xứng đáng là thủ đô của một nước cho nên ngài dời đô ra Hà Nội bây giờ.
Khi tới vùng sông Hồng Hà, ngài thấy đám mây có rồng vàng xuất hiện cho nên ngài đặt tên kinh thành là Thăng Long và vì vậy Hà Nội đang chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào năm 2010. Hà Nội có nghĩa là ở phía trong sông do vua nhà Nguyễn đặt (vua Minh Mạng).
Nhà Lý là dòng vua rất anh hùng của dân ta, đã cầm quyền được khoảng 215 năm cho tới khi Lý Chiêu Hoàng bị Trần Thủ Độ bắt nhường ngôi cho chồng bà là Trần Cảnh thì nhà Lý hoàn toàn bị mất. Trong đời nhà Lý có nhiều chiến công mở đất về phía Nam và có một chiến công vô cùng lừng lẫy mà không một vị vua nào của nước ta đã làm được, đó là đời vua Lý Nhân Tôn nhân vì quân Tống chuẩn bị xâm lăng nước ta, vua sai tướng Lý Thường Kiệt lên đánh phá bên Tàu và đã tiêu diệt được khoảng 100 ngàn quân Tàu đến nổi rằng nhân dân Tàu mỗi khi nói đến tên của Đại Tướng Lý Thường Kiệt thì con nít đang khóc phải ngưng ngay lập tức vì quá sợ. Ngoài ra, quân ta còn bắt được nhiều tù binh của Tàu đem về nước và các tù binh chỉ được trả về sau khi quân Tống rút khỏi một phần Quảng Nguyên, miền Bắc Việt Nam, thuộc tỉnh Cao Bằng ngày nay.
Ta cũng nên nhớ rằng, sau khi nhà Trần cướp ngôi nhà Lý thì Trần Thủ Độ dùng chính sách tàn ác bắt toàn thể họ Lý đi tế lễ rồi giật sập chôn sống và vì vậy một đại tướng họ Lý là tướng Lý Long Tường đem một chiến thuyền đi tị nạn tại Hàn Quốc có mang theo đầy đủ gia phả họ Lý. Đến nay, trưởng tộc họ Lý gốc Việt Nam kiểm kê những người họ Lý gốc Việt Nam cả thảy có 250 gia đình gồm trên 1000 người và người trưởng tộc họ Lý tại Hàn Quốc đã về lại Việt Nam tìm lại gốc tổ tiên và hiện nay họ thuộc dòng thứ 29 kể từ Lý Công Uẩn.
Sau khi giặc Mông Cổ chiếm toàn bộ nước Tàu và nhiều nơi khác trên thế giới, họ đã tiến quân đánh chiếm Cao Ly. Lý Long Tường với các chiến binh Việt Nam là những chiến sĩ rất tài giỏi có kinh nghiệm chiến trường nên được vua Cao Ly trọng dụng và đề cử đem quân chống giặc và đã đánh tan giặc Mông Cổ một cách dễ dàng.
Như vậy, quân Mông Cổ thắng trên toàn thế giới nhưng chỉ có 3 nơi là thất bại gồm có: Việt Nam, Nhật Bổn và Cao Ly.
Sử chép lại rằng quân Mông Cổ dùng thuyền tấn công Nhật Bổn đã bị tan rã vì gặp bão. Như vậy, quân Mông Cổ chỉ thật sự thua người Việt Nam ta mà thôi. Một bên là Việt Nam có Trần Hưng Đạo chỉ huy, một bên là Cao Ly do Lý Long Tường chỉ huy.
Do chiến công hiển hách đó, vua Cao Ly rất tin dùng Lý Long Tường và các dòng họ Lý nên chức vụ của Lý Long Tường là quan võ cao cấp trong triều đình Cao Ly, còn bây giờ dòng họ Lý cũng chiếm nhiều trọng trách trong chính trường cũng như trong kinh tế. Thống kê cho biết có tỷ phú (đô la Mỹ) dòng họ Lý hiện nay ở Nam Hàn.
Cựu Tổng Thống Lý Thừa Vãn cũng đã có lần tìm hiểu gốc tích của ngài tại Việt Nam.
Xem như vậy, dòng họ Lý có mặt nhiều nơi trên thế giới kể cả Nam Hàn.
&&&&
DÒNG HỌ NGUYỄN Ở HẢI NGOẠI:
Phần 3
DÒNG HỌ LÊ Ở HẢI NGOẠI:
Nguyễn Văn Thành
Riêng trong năm 1975 kể từ cuối tháng 4, có khoảng 100 ngàn đồng bào di cư rời khỏi Việt Nam; trong số ấy có ít nhất 10 ngàn người mang dòng họ Lê.
Giòng di dân đã không chấm dứt năm 1975 mà vẫn tiếp tục sau đó, đặc biệt những người gốc Trung Hoa đã được phép ra đi khỏi Việt Nam sau tháng 5 năm 1978. Một số người Việt không muốn ở lại Việt Nam cũng tìm đường tẩu thoát trà trộn với các người Hoa kiều cùng vượt biên. Do đó, số người Việt Nam vượt biên bằng tàu và cả bằng đường bộ qua ngã Lào, Cao Miên, Thái Lan tăng lên gấp bội.
Sự vượt biên này theo thống kê của Liên Hiệp Quốc rằng cứ 3 tàu ra khơi thì chỉ có hai tàu tới các hòn đảo mà thôi. Vì vậy khoảng 1 triệu rưởi người vượt biên đã được kiểm kê ở ngoại quốc thì trong số một triệu người tới đích có khoảng 500 ngàn người đã mất xác ở dưới biển. Nếu chúng ta là những người từng vượt biên và may mắn tới đích, đại đa số các tàu thuyền của chúng ta đi đều chết máy giữa biển vì rằng các tàu đó với máy móc cũ thường dùng để đi trên sông hoặc đánh cá sát bờ chứ không dủng để vượt đại dương và nếu không có Trời Phật hay Chúa giúp đỡ thì chắc chúng ta đã bỏ thây dưới biển và không có cơ hội may mắn để đọc những dòng chữ này.
Trong cuộc di tản vĩ đại đó, ngoài dòng họ Nguyễn chiếm đa số, dòng họ thứ hai chính là dòng họ Lê vậy.
Xét lại lịch sử nước ta dưới đời vua Đinh Tiên Hoàng có văn thần cao nhất là Nguyễn Bặc và võ tướng cao cấp nhất là Lê Hoàn với cấp bậc Thập Đạo Tướng Quân tương đương với chức Tổng Tư Lệnh Quân Đội bây giờ. Sau khi vua Đinh Tiên Hoàng bị tên Đỗ Thích giết chết, con của vua Đinh là Đinh Tuệ lên ngôi lúc mới 6 tuổi. Nhân việc quân Tống tìm cớ xâm chiếm Việt Nam nên bà hoàng Thái Hậu cùng với một số cận thần tôn Lê Hoàn lên làm vua. Ta nhớ lại, Nguyễn Bặc và Đinh Điền chống lại quyết định này nên bị Lê Hoàn giết chết, và Lê Hoàn lên làm vua lấy tên là Lê Đại Hành.
Vua Lê Đại Hành có công đánh tan quân nhà Tống giữ vững nền độc lập từ đời vua Đinh để lại, lập nên nhà tiền Lê. Nhà tiền Lê chỉ có 3 vua mà thôi và chấm dứt bởi vua Lê Long Đĩnh (còn có tên là vua Lê Ngọa Triều).
Sau khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, nước ta bị nhà Minh bên Tàu xâm chiếm và cai trị rất tàn ác. Người anh hùng áo vải xuất phát từ Lam Sơn tên là Lê Lợi, đã phất cờ khởi nghĩa chống quân nhà Minh ròng rã suốt 10 năm trời. Lúc đầu vì nghĩa quân còn quá ít, đánh đâu thua đó, không thể nào kháng cự với quân nhà Minh đến nổi quân ta phải tìm kế dùng tướng Lê Lai giả làm chủ soái Lê Lợi ra trận tiền đánh nhau với quân Minh.
Ngài bị chết nhưng đã có công làm cho nhà Minh tưởng rằng tướng quân Lê Lợi đã thác cho nên không tìm đường tấn công nghĩa quân nữa. Sự hy sinh của tướng Lê Lai đã mua được thời gian cần thiết để cho nghĩa quân trưởng thành và đợi đến khi nhà Khổng Minh Việt Nam Nguyễn Trãi đến giúp sức Lê Lợi. Và từ đấy thế trận dần dần bất lợi cho quân Tàu cho tới khi quân của Lê Lợi hoàn toàn quét sạch quân nhà Minh ra khỏi bờ cõi. Nhưng với lòng nhân đạo cao quý vốn có của dân Việt Nam lấy "Nhân Nghĩa Thắng Hung Tàn" Bình Định Vương Lê Lợi với danh hiệu là Lê Thái Tổ (lên ngôi năm 1428, quốc hiệu là Đại Việt) đã tha toàn bộ những hàng binh của Trung Hoa về nước. Sự việc này chẳng những chứng tỏ lòng nhân đạo của vua Lê Thái Tổ mà còn làm cho dư luận bên Tàu hiểu rõ sức mạnh của quân dân ta do hàng binh kể lại để làm tắt hẳn ý muốn của vua Tàu muốn báo thù dân Việt ta.
Tiếc rằng những anh hùng dân tộc không sống được lâu, vua Lê Thái Tổ mất sau 5 năm trị vì cũng như vua Quang Trung sau khi đánh đuổi quân nhà Thanh, ông trị vì chỉ được 4 năm rồi mất.
Trong nhà hậu Lê, ngoài Lê Lợi chỉ có Lê Thánh Tôn niên hiệu là Hồng Đức là nhân tài xuất sắc. Vua Lê Thánh Tôn đã lập ra bộ luật Hồng Đức mà tới bây giờ giáo sư Stephen Young kiêm Luật sư và nguyên Khoa trưởng Đại Học Luật Khoa tại Minnesota đã chuyển ngữ ra tiếng Việt và công nhận rằng những luật này trong thời kỳ vua Lê Thánh Tôn rất là nhân đạo và cấp tiến. Người dịch chung với Giáo sư Stephen Young là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
Tiếc rằng, thời hậu Lê trị vì khoảng 100 năm thì bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi và sau này nhờ ông Nguyễn Kim cùng với người con rể là Trịnh Kiểm và các chúa Trịnh sau này đánh thắng nhà Mạc lập lại nhà Lê nhưng thực quyền thì trong tay của chúa Trịnh cả. Vì vậy con cháu của Nguyễn Kim là các chúa Nguyễn buộc lòng đi vào phía Nam để tránh họ Trịnh tiêu diệt và vì vậy xảy ra Nam Bắc phân tranh lấy sông Gianh làm ranh giới trong hàng trăm năm. Cho tới khi Lê Chiêu Thống sang Tàu cầu cứu quân nhà Thanh tìm cớ giúp họ Lê chiếm Việt Nam, thì một vị anh hùng áo vải thứ hai, Nguyễn Huệ tức vua Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế năm 1788, mới dàn quân ra Bắc đánh trận Đống đã tiêu diệt hết quân Tàu, lúc này nhà Lê mới thực sự bị mất. Như vậy, nhà Lê trị vì trước sau từ năm 1428 tới khoảng 1788. Xem như vậy, 10% dân số Việt Nam mang họ Lê là có nguyên do vì gốc tích có họ vớí vua Lê hoặc do vua Lê cho đổi họ hoặc tự động đổi thành họ Lê.
Tập hợp của dân ở hải ngoại cũng giống như ở trong nước vậy, nghĩa là 10% dân số mang họ Lê. Trên các Niên Giám Điện Thoại ở hải ngoại, ngoài họ Nguyễn đứng đầu, họ Lê cũng đông gấp bội.
Những người dòng họ Lê nổi tiếng:
Học giả Lê Quý Đôn
Giáo sư Lê Bá Kông
...v...v..
&&&&
DÒNG HỌ NGUYỄN Ở HẢI NGOẠI:
Phần 2
Các họ của chúng ta trước khi có chữ quốc ngữ đều dùng chữ Hán để viết, thí dụ như bên ta có họ Nguyễn, Trần, Đinh, Lê, Lý ; bên Tàu cũng có những dòng họ đó nhưng không có nghĩa là họ Nguyễn ở Việt Nam xuất phát từ bên Tàu.
Sự mượn chữ Hán có nhiều khuynh hướng phát triển như ở Việt nam, phát triển thành chữ Nôm (biến thể của chữ Hán), bên Đại Hàn biến thể thành tiếng Đại Hàn, bên Nhật biến thể thành tiếng Nhật và ngay cả bên Tàu bây giờ cũng đang thay đổi từ dạng phồn thể sang dạng giản thể.
Vậy mượn cách viết xuất phát từ chữ Hán, các dân tộc Việt Nam khi dùng vẫn đọc theo tiếng Việt, dân tộc Nhật Bổn vẫn phát âm theo tiếng Phù Tang, còn dân Đại Hàn vẫn đọc theo tiếng Cao Ly. Trong khi đó, tiếng Tàu được đọc theo tiếng Quan Hỏa (Quan Thoại: Phổ Thông) hoặc tiếng Quảng Đông.
Ta nên nhớ ở Việt Nam trong phần Văn Học có hai phần:
Một phần chữ Hán nguyên gọi là văn chương Hán tự và một phần nữa gọi là văn chương chữ Nôm thí dụ như truyện Kiều, thơ văn của Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, v…v….
Văn chương chữ Nôm là nguồn gốc của văn chương hiện đại. Từ những chữ Nôm dựa theo chữ Hán mà đại đa số nhân dân Việt Nam bây giờ không đọc được nhưng nếu phiên âm ra chữ Quốc Ngữ, thí dụ như:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
thì đại đa số nhân dân Việt Nam đều có thể thưởng thức được.
Xét ở Việt Nam ta đầu tiên có họ Hồng Bàng làm vua với các vua Hùng. Hồng Bàng là tên của một con chim cực lớn, do vậy các cụ trong họ Hồng Bàng dùng tượng trưng tên con chim vĩ đại để tỏ rõ sức mạnh của dòng họ mình nói riêng và của nước ta nói chung cũng như là nước Mỹ chọn con chim ưng (eagle) làm biểu tượng của dân tộc Hoa Kỳ.
Rồi thì trăm họ của nước ta dần dần thiết lập, ta thấy họ Nguyễn xuất hiện với bậc đại thần văn quan đời Đinh đó là ông Nguyễn Bặc. Trong khi đó đầu ngành võ quan là thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Sử chép rằng khi vua Đinh chết, hoàng thái hậu tức là vợ của vua Đinh Tiên Hoàng tư thông với Lê Hoàn nên bắt con nhường ngôi cho Lê Hoàn nhưng ông Nguyễn Bặc đã cử binh chống lại cuộc đảo chính này vì thế bị Lê Hoàn giết, nguyên do ông Nguyễn Bặc là văn quan không thiện chiến bằng Lê Hoàn là võ tướng.
Tuy nhiên, vì Nguyễn Bặc có chính nghĩa là phò ấu quân và chống sự chiếm ngôi của Lê Hoàn cho nên Lê Hoàn đã không ra tay "tru di tam tộc" đại thần Nguyễn Bặc và vì vậy sau này dòng dõi của Nguyễn Bặc là tướng Nguyễn Kim đã có công phò vua Lê và con cháu của Nguyễn Kim tức là Nguyễn Ánh đã có công thống nhất đất nước và lập quốc hiệu là Việt Nam.
Năm 1802, khi lên ngôi, vua Gia Long đã yêu cầu vua nhà Thanh bên Tàu cho lập tên nước là Nam Việt. Nước Nam Việt của Triệu Đà trước kia đóng đô ở Phiên Ngung thuộc Quảng Đông bên Tàu. Vì vua Tàu sợ Việt Nam lại lấn đất sang Tàu như trường hợp vua Quang Trung đã xin lại Quảng Đông và Quảng Tây cho nên đổi ngược Nam Việt thành Việt Nam và tên Việt Nam còn được giữ đến ngày nay.
Ta cũng nên nhớ rằng trước kia nước ta chỉ có giới hạn từ Thanh Hóa lên phía Bắc nhưng nhờ công lao của chúa Nguyễn dần dần lấn chiếm Chiêm Thành và Chân Lạp từng bước mở mang bờ cõi, và vì vậy nước ta mới có ngày nay.
Sài Gòn sắp sửa kỷ niệm 300 năm có nghĩa là trên 300 năm trước thì vùng này thuộc địa phận của xứ Cao Miên (Cam-Bốt). Như vậy tổ tiên ta đã có công mở nước làm cho nước rộng hơn trên hai lần và làm cho con cháu ngày nay có một diện tích rộng lớn và dân số trên 80 triệu người trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á và đủ sức đứng độc lập không bị Trung Quốc lấn chiếm như là nội Mông, Mãn Châu và Tây Tạng.
Trong nước ta có nhiều danh nhân họ Nguyễn như:
Nguyễn Du (tác giả truyện Kiều),
Nguyễn Bỉnh Khiêm (tức Trạng Trình người tiên tri danh tiếng của Việt Nam đã tiên đoán các việc cả trăm năm sau),
Nguyễn Trường Tộ thời Tự Đức,
Nguyễn Thái Học đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã khởi nghĩa chống thực dân Pháp dành độc lập cho tổ quốc, mặc dầu đã thất bại vì lực lượng cách mạng rất nhỏ bé khoảng chừng vài trăm người mà phải đối đầu trên 100,000 quân của quân đội Pháp cho nên ông đã bị thất bại và bị Pháp tử hình, nhưng ông đã nói một câu bất hủ là: "Tuy không thành công nhưng đã thành người quân tử yêu tổ quốc".
Mặc dầu sau này trong năm 1945-1946 đảng Cộng Sản tiêu diệt Quốc Dân Đảng nhưng tại Hà Nội đường Nguyễn Thái Học vẫn được tôn trọng cho đến ngày nay, vì chính nghĩa của Nguyễn Thái Học rất sáng ngời là đấu tranh cho nền độc lập của quốc gia.
Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh - Văn Học Nghệ Thuật) đã thiết lập Tự Lực Văn Đoàn
Nguyễn Khuyến (Văn Học Nghệ Thuật)
Nguyễn Công Trứ (Văn Học Nghệ Thuật)
Nguyễn Xuân Vinh (Giáo sư trường Đại Học Michigan, nguyên Đại Tá Không Quân Việt Nam)
Nguyễn Đình Hòa (Giáo sư Anh Văn và là tác giả của nhiều quyển Tự Điển Anh Việt)
.......
Có một vị vua rất danh tiếng của Việt Nam là đại anh hùng dân tộc đã từng thắng quân Thanh trong vòng 5 ngày là vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhưng ta không kể ở đây vì ngài là gốc họ Hồ.
Số danh nhân họ Nguyễn thì nhiều lắm ta không thể nào kể hết được, nhưng ta cũng nhớ rằng khi nhà Trần cướp ngôi nhà Lý thì ngoài việc tìm cách tiêu diệt họ Lý lại còn bắt đổi những người họ Lý sang họ Nguyễn.
Ấy là chưa kể nhiều người dòng họ khác dưới triều nhà Nguyễn cũng lại đổi sang họ Nguyễn hoặc do vua nhà Nguyễn cho đặc ân hoặc là tự đổi và vì vậy họ Nguyễn bây giờ mới là dòng họ danh tiếng trên toàn thế giới vì khi giở cuốn Niên Giám điện thoại của bất cứ địa phương nào trên thế giới đều tìm thấy họ Nguyễn. Ta có thể nói rằng họ Nguyễn trên toàn thế giới còn nhiều người biết hơn hẵn những họ danh tiếng của Mỹ như Johnson, Nelson, Kennedy,,, vì lý do rằng sau khi tị nạn, người Việt đã đi lan tràn khắp thế giới để sinh sống...
&&&
Tìm Hiểu Dòng Họ Chính
Phần 1
Nhập Môn
Cho đến ngày nay chưa ai biết rõ các họ ở Việt Nam có từ lúc nào và tại sao lại đặt tên như vậy. Qua lịch sử của nước ta, ta thấy có những triều vua ban họ cho một số làng xã chưa có họ. Ngoài ra, một số đời vua lại còn đổi họ của một số công thần cho theo họ vua và một số người vẫn tiếp tục giữ họ vua cho và truyền cho con cháu. Vậy ta thấy tìm nguồn gốc và xuất phát của các họ, rất ư là khó khăn. Ta chỉ biết rằng một số họ của nước ta như Nguyễn, Trần thì cũng có ở bên Tàu nhưng những họ đó có thực do từ Trung Hoa di sang Việt nam hay không, không một ai có bằng cớ.
Ở nước ta có một số họ chính như Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn, Phạm.., chúng ta thử tìm hiểu nguốn gốc của các họ ấy phát xuất từ đâu và đời nào.
Trước năm 1975, rất ít người Việt sống ở nước ngoài, một thiểu số của những sinh viên du học ở lại bên Nga, Đông Âu, Mỹ rất ít không đáng kể. Chỉ có ở Pháp tương đối là khá đông đảo nhưng chỉ khoảng vài trăm người hoặc là các sinh viên đã tốt nghiệp Đại Học mà không chịu về nước vì không muốn tham gia vào cuộc chiến. Hơn nữa, một số cựu quân nhân người Việt Nam đã từng tham gia đệ nhất (1914-1918) và đệ nhị thế chiến (1939-1945) trong quân đội Pháp vì lý do gia đình (lấy vợ Pháp) hoặc nghề nghiệp như làm nghề kỹ sư, giáo sư, thương gia đã quen sống ở Pháp và cũng không muốn về VN vì không muốn tham gia chiến tranh ở phía bên này hoặc phía bên kia.
Nhưng sau năm 1975, làn sóng tị nạn ố ạt hoặc đi xung quanh ngày 30 tháng 4 hoặc là thuyền nhân trong những đợt kế tiếp, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 1978 đến năm 1981 đạt cao điểm của thuyền nhân, gây sự cảm xúc của toàn thế giới mở đường đón nhận các người tị nạn. Nhiều nhất là Hoa Kỳ do quyết định sáng suốt của Tổng Thống Jimmy Carter có lúc thu nhận cả 200 ngàn dân tị nạn Việt Nam trong một năm vì vậy số người tị nan trên toàn thế giới bây giờ trên 2 triệu người trong đó Mỹ chiếm kỷ kục gần 1 triệu rưởi.
Ngoài Mỹ Quốc, Pháp, Úc và Gia Nã Đại nhận nhiều người tị nạn, sau đó là tới Anh, Đức, Na Uy, Thụy Điển, Nhật Bổn … và ta cũng không quên Trung Quốc vì họ nhận lại các người Việt gốc Hoa trong khoảng thời gian từ 1978 đến 1981.
Như vậy, ta thấy rằng số người Việt khoảng 2 triệu rưởi ở ngoại quốc, tuy rằng nước ta kể có 100 họ nhưng chỉ có họ Nguyễn là có đông dân số nhất.
Thống kê cho biết cứ khoảng 100 dân Việt Nam thì có khoảng 40 người họ Nguyễn và như vậy, tổng số họ Nguyễn hiện tại sống ở ngoại quốc trên dưới một triệu người. Ta cứ mở cuốn Niên Giám Điện Thoại của hầu hết từng tiểu bang thì ta thấy họ Nguyễn nhiều ngang ngửa với những họ đông dân ở Mỹ như Nelson, Johnson, Kennedy...
Vậy chúng ta thử bỏ chút thời giờ để tìm hiểu từng họ chình và nhất là họ Nguyễn bắt đầu từ đâu ?
Nguyễn Văn Thành
April 2023