vhnt, số 308
26 June 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Lãng du ........................................................Bích Hạ
2 - Phố mai .......................................................Cỏ Nhớ
3 - Bóng mình ..............................................Phạm Văn Tiên
4 - Mưa sành sứ ...................................................Cỏ May
5 - Quê hương ta đó, Bắc-Trung-Nam ....................Ðinh Yên Thảo
6 - Kẻ dại khờ ...........................................Ngô Minh Hằng
7 - Ngã tư Great America Pkwy ................................Khanh Nguyễn
8 - The dream / Áo trắng ngây thơ .................................Ý Nhi
9 - Biển và mưa .................................................Mặc Âm
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
10 - "Gió đưa" trong tục ngữ ca dao ..................Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Một buổi du ngoạn (bút ký)............................Thạch Thủy
Bạn,
Tôi đang nghĩ về sự sáng tạo trong văn chương. Tôi đang nghĩ về một dòng sông.
Ở một góc nhìn nào đó, đời sống cũng là một dòng sông - những khúc quanh, những cạn sâu, những nhánh nhỏ chia ra, những mạch lớn đổ về. Và con người. Và linh hồn.
Tác phẩm là một dòng sông khác. Ðưa người đọc vào nhiều chốn đến. Hay về lại với chính mình. Trong tâm tưởng. Trong ý niệm.
Cũng thế, tác giả với những điều mình viết, trong lúc mình đang viết. Mà điều quan trọng nhất, đôi khi, chỉ giản dị là biết phải mình làm gì khi đứng trước một dòng sông.
Số này vhnt giới thiệu những thơ văn của các bạn Bích Hạ, Cỏ Nhớ, Phạm Văn Tiên, Cỏ May, Ðinh Yên Thảo, Ngô Minh Hằng, Khanh Nguyễn, Ý Nhi, Mặc Âm, Lương Thư Trung, và Thạch Thủy... đã đưa chúng ta đến một nơi chốn khác hơn là chốn này, là nơi tác giả đã "làm gì" khi đứng trước một dòng sông.
Lại một ngày bình an đến với bạn.
thân ái,
Nguyễn Phước Nguyên/vhnt
Lãng Du
Chạy theo mây
Bóng núi râm ngày hạ
Lá hoàng hôn mục rã dưới chân trần
Em dừng lại
hôn anh
sầu phút nhớ
Hai đứa ngồi
mộng mị
tiễn ngày qua...
Hôn nhau nhé
môi-mi-xanh, thức giấc
Lá mùa mưa
rào rạt
giấc mơ nào
Núi một đời, chở nhẹ,
những chuyến mây
Sao ta nặng trên vai ngày-tháng-gió
Hãy bay đi những mưa phùn cuối dốc
Chiều vẫn buồn
như một trái tim
.
.
.
rơi
Những đoá vàng hoang phế
vỡ trong tay
Ai tụng niệm cho đời đang rã cánh.
Bích Hạ
24/6/96
Phố Mai
Mai em về bên phố
ngày mưa nắng chưa quen
đêm đất trời cây cỏ
lạ lùng một lòng riêng.
Biết rồi em có khóc
hiên phố nhà ai hay
chong đèn câu thơ cũ
ơi chim, đã lìa bầy.
Cuối cùng em vẫn nợ
loay hoay mãi đời nhau
đêm từng đêm hiên gió
khóc cả lần chiêm bao.
À ơi tình theo phố
mỏi mòn những mùa trăng
nhớ nhau còn tiếng thở
dài chưa, bao nhiêu năm?
Người mong em nước lớn
em chờ đợi nước ròng
thủy triều năm bảy bận
vẫn hai đầu con sông.
Thôi, em về bên phố
gởi người giàn ti gôn
tháng mười hai hoa nở
giống không người, tim em?
Cỏ Nhớ
vhnt: Phạm Văn Tiên sinh năm 1970 tại Hố Nai, Biên Hòa. Tiên đã góp bài đến mục "Góp Nuôi Tiếng Mẹ" trên nguyệt san Trái Tim Ðức Mẹ, những bài "Ðời Tu", "Tình Ðầu", "Nhớ Quê Xưa", "Diều Giấy Ðứt Dây", nguyệt san Dân Chúa (LA), Vietnam Weekly News (TX), Type (Dept. of English, SMSU, MO), các bài dự thi đăng trong các anthologies như + Lyrical Heritage, Through Sun and Shower, Best Poems of 1997, và được một vài Editor's Choice Award của The National Library of Poetry, và góp bài thường xuyên cho Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng.
Bóng Mình
Cúi đầu
Thấy bóng
Mình đi
Tiếng chân nện gót giầy
Khi trở về
Ánh đèn mờ
Ðường vắng hoe
Mình ta với bóng
Kết bè bạn thân
Vai mang nặng
Túi phong trần
Con đường sự nghiệp có ngần ấy thôi
Rời thư viện vắng
Teo người
Ôm đồm sách vở
Nửa đời
Tuổi xanh
Mái đầu tóc bạc
Ðiểm danh
Mắt mờ
Cận thị
Bóng
Mình
Một đôi
Ðường về vắng quá
Người ơi
Tiếng chân của mỗi mình tôi
Khua trời
Phạm Văn Tiên
MƯA SÀNH SỨ (*)
(Nhớ sinh nhật TrgChi)
Có một ngày mà tôi đong đưa đời tôi
Theo một nhịp ru rất buồn
Buổi chiều tê cóng
Còn đọng lại
vài giọt mưa sành sứ
Lanh canh đập vào giấc mơ tôi
Khẽ khàng
Vỡ mảnh hoang mang
Có một người vừa đi qua đời tôi
Không ngoảnh mặt lại nhìn
Con chim nào cất tiếng thất thanh
Mang tôi về rừng sâu thác đổ
Rửa sạch nỗi buồn dùm tôi
Có một ngày
Có một ngày vừa qua
Còn đọng lại vài giọt mưa sành sứ
Và tôi nhìn tôi thầm hỏi
Mình có sắp yêu thương loài người...
Tháng năm '97
CỏMay
(*) "Mưa sành sứ", chữ của Hoàng Cầm
Quê hương ta đó, Bắc-Trung-Nam
Anh mơ về bơi trên sông Hậu.
Chiếc thuyền ngo cưỡi ngọn sóng đầu,
Ðêm bập bùng, chày ba giã gạo
Ðiệu lâm thôn, múa hát mấy câu
Anh mơ về thăm lại chùa Cầu.
Hội an xưa, thế cũng đã lâu
Tuổi thơ anh là dòng cửa Ðại
Chè bắp Cẩm nam, bát cao lầu.
Anh mơ về ra thăm Hương tích.
Hội chùa hương, vào vái đền Trình,
Xem bến Ðục, giờ trong hay đục
Vái một xăm, đoán chặng đường tình.
Anh mơ về nhìn Nam, Trung, Bắc.
Lúa đầy đồng, hết những khổ đau,
Nằm xoải dài trên đê, trên ruộng,
Hết lưu đày một kiếp tha hương.
Ðinh Yên Thảo
Kẻ Dại Khờ
Nào ai hiểu được lòng ta
Mà ta trải rộng lòng ra với người
Tóc xanh nửa mái bạc rồi
Sao còn ngờ nghệch như thời hoa niên?
Ta đi giữa những lụy phiền
Chán chường giữa những đảo điên thói đời
Mệt nhoài với những trò chơi
Những canh bạc lận, những lời dối gian
Những cơn giông bão phũ phàng
Những ngày nắng hạn võ vàng niềm mơ
Những đau thương rất tình cờ
Những tan nát dạ, những ngơ ngẩn lòng!
Nửa đời đã đủ long đong
Có không hạnh phúc? Có không tình người?
Hay đời là bể khổ thôi
Cho ta chìm đắm một đời bơ vơ
Ôi, ta một kẻ dại khờ
Vẫn hy vọng một bến bờ bình yên!
Ngô Minh Hằng
Ngã tư Great America Pkwy
Gặp em ngã tư con đường
Như từ một cõi vô thường nhìn nhau
Trăm năm thưở ấy bao lâu
Một lần thôi lỡ ngày sau còn buồn
Thà như gió biển cánh buồm
Cùng như dâu bể chớp nguồn mà vui
Thà xem ngày ấy phù du
Trăm năm có dáng minh như vô tình
Khanh Nguyen
The Dream
I dreamed of You one night
Walking down the beach alone.
I thought of You by my side
My dreams remain unknown.
To be with You would fill my fantasies
Alone together, holding, caressing,
The stars, the sounds, all as one.
Again, dreaming...
You, me, the moon...
Could it be?
I dreamed of You one day.
It was beautiful.
Us, as one whole person,
Finally completed.
The most beautiful dream.
Then...
I woke from the dream.
I wept.
Because, as I dream alone
I also walk alone...
Áo Trắng Ngây Thơ
(gửi lại tuổi thơ)
Trắng trong tà aó vui ước mơ
Hạnh phúc bên trang vở đơn sơ
Mỗi ngày hai buổi em đi học
Áo trắng làm đẹp nét tuổi thơ
Ðôi tà áo trắng buổi sớm mai
Nghiêng nghiêng vành nón bóng in dài
Ngày ngày tâm sự cùng sách vở
Nhắc nhở nhau nghe một tương lai
Tà áo tung tăng khắp nẻo đường
Dịu dàng trông sao thật dễ thương
Ngây thơ màu aó trong như mắt
Cho hồn ngây dại lẫn vấn vương
Áo trắng hay là những nàng tiên
Tha thướt, ngây thơ lẫn dịu hiền
Ðể một mai đây khi ngoảnh lại
Áo kia chẳng vướng chút ưu phiền
Áo trắng ngập ngừng trong mắt nai
Hương thơm còn mãi sợi tóc dài
Hè về áo trắng bay đi cả
Ðể lại riêng người nghe gió lay!!!
Những ngày đầu hè '97
Ý Nhi
BIỂN VÀ MƯA
Em thần nữ đến thăm anh từ biển
Mang rêu rong đan đệt lưới tình yêu
Loài ngư nữ hát bài ca thánh thiện
Ru hồn người trong nỗi nhớ hiu hiu
Sóng vỗ về như tình anh rất rộng
Chở mùi hương biển cả dậy tâm hồn
Chim xoải cánh đại dương vào cửa mộng
Bao la quá tình mình em biết không??
Biển với mưa chiều nay sao nhớ quá!!!!
Em dến thăm từ giã vội vô chừng
Em đi về trong muôn làn ánh chớp
Ðể (bãi) cát buồn in đậm dấu yêu thương
Và từ đó mưa giao hoan cùng biển
Cơn yêu cuồng kích ngất tận trời cao
Mặc Âm
(06/20/1997)
"GIÓ ÐƯA" TRONG TỤC NGỮ, CA DAO
Ngày xưa, xã hội Việt Nam đã trải qua những năm tháng dài dưới chế độ phong kiến. Từ đó, mọi sinh hoạt trong đời sống đều bị lệ thuộc vào những ràng buộc của phong tục tập quán thời bấy giờ, cũng như thân phận con người nói chung, người phụ nữ nói riêng, cũng không thoát ra khỏi những lễ nghi, những nề nếp giáo dục của xã hội. Mà Việt Nam nằm sát bên nước Tàu và bị Bắc thuộc hơn một ngàn năm, nên tổ tiên chúng ta bị ảnh hưởng nền văn hóa của Tàu, đó là lẽ tất nhiên, không tránh khỏi. Qua những sách vở còn ghi chép lại ràng ràng về phong tục tập quán Việt Nam như quyển Phong Tục Việt Nam của Phan Kế Bính, trước kia; Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam của Sơn Nam, sau này; và còn nhiều tài liệu sách vở về nền văn hóa Việt Nam xưa, đều khẳng định tổ tiên chúng ta dựa vào sách Chu Lễ tức là lễ nghi đời nhà Châu, qui định đến 300 điều "lễ lớn" và thêm 3.000 điều "nghi tiết nhỏ". Mặc dù vậy, ngay cả trung Hoa còn chưa thi hành hết những điều lễ nghi này, huống hồ gì nước mình, bởi lẽ có nhiều điều không phù hợp về nhiều phương diện như nguồn gốc dân tộc, phong thổ, khí hậu, địa lý vân vân... Trong Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trải có viết rất minh bạch về điều này: "Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam đã khác." (Bắc là chỉ nước Tàu).
Với cái nhìn tổng quát như vậy, cho phép chúng ta hiểu được phần nào thân phận người phụ nữ Việt Nam ngày xưa, một thân phận thả trôi theo dòng đời, theo số mạng, theo duyên nợ tiền định... Một thân phận đã được an bài sẵn, người phụ nữ Việt Nam chỉ còn biết chấp nhận, cam phận mà chấp nhận, mà nhất là những phụ nữ sống ở thôn quê với đời sống ruộng đồng còn hẩm hiu bội phần!
Thể hiện rõ rệt nhất sự cam chịu để dòng đời đẩy đưa này, trong kho tàng văn chương bình dân, một kho tàng văn học được xuất xứ từ nông thôn, trong giới bình dân, dường như được truyền khẩu dưới những câu tục ngữ, ca dao không phải là hiếm hoi gì.
Trước nhất, cái quan niệm "nam trọng nữ khinh" hoặc "con gái ở nhà ngoài", rồi "tam tòng" nghĩa là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử... tất tất, cho thấy người phụ nữ Việt Nam không cách nào thoát ra khỏi cái vòng cương tỏa buộc ràng đó. Chẳng khác nào bị xô đẩy vào, bắt buộc trôi dạt vào bởi những ngọn gió do tạo hóa tạo ra như những cây chổi của Trời đùa đi, mà không ai có thể phản ứng gì: "Gió thổi là chổi trời. "
Nên họ phải tùy duyên để mà định phận với từng cảnh đời, tùy trường hợp để mà sống, vì:
Phận gái có hai bến sông,
Bến đục thì chịu, bến trong thì nhờ.
Và phải biết mình đang ở đâu, ngồi chỗ nào như: "Gió nam đưa xuân sang hè."
Chứ không thể ngồi đó mà mơ hoa mai vàng của mùa xuân lúc nào cũng rực trời trong lúc hè sang với những chùm hoa phượng đỏ ối ở góc sân trường...
Thông thường, tục ngữ ca dao là mượn cảnh vật để biểu lộ cảm xúc, cũng như nỗi lòng với những đắng cay, vui buồn, yêu thương, hờn giận, trách móc. Có biết bao trường hợp trong ca dao đã nhờ cảnh vật để chuyên chở những điều muốn nói bằng những lời nói bình dị mà thâm thúy. Nói như nói vậy nhưng cần hiểu theo mỗi cảnh đời, chứ không thuần nhất, nhưng cũng chẳng xa rời với mỗi một thực tế của cuộc sống đời thường mặc dù có khác nhau nhiều về những nét riêng tư. Ðặc biệt, dường như " gió đưa " là một thực tế của trời đất, sự chuyển dịch của không khí được dùng trong ca dao cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng thật linh động mà vẫn dễ nhận ra ẩn dụ. Chẳng hạn:
Gió đưa ông đội vào kinh
Bà đội thương tình cắp nón chạy theo.
Ở đây là một thực tế với sự gặp gỡ giữa hai người xa lạ rồi hợp nhau qua ánh mắt, qua giọng nói, qua tấm lòng rồi người con gái quê trở thành vợ một ông đội" như một xui khiến, một duyên nợ tự kiếp nào.
Chúng ta còn bắt gặp rải rác những "gió đưa" như vậy trong ca dao như:
Gió đưa tờ giấy lên mây,
Gió đưa cô tú vào đây ăn trầu.
Hoặc:
Gió đưa tờ giấy lên mây,
Gió đưa cô ấy lại đây ăn trầu.
Yêu nhau thì ném bã trầu,
Chớ ném gạch, đá vỡ đầu nhau ra.
Cả hai chùm ca dao trên đã ví von sự gặp gỡ như đã hẹn hò, đã ước nguyện từ kiếp nào rồi. Nên dẫu có thế nào, cũng nên nhường nhịn, nhỏ to để còn ăn đời ở kiếp với nhau, bởi tất cả đều là nợ duyên, là "gió đưa", không rời nhau được.
Ðến những chỗ khác, chúng ta cũng thấy vì nghèo hèn so với sự sung túc của chàng trai, nên không môn đăng hộ đối, người con gái nghĩ càng tủi hổ cho thân mình nên đành chấp nhận sự hẩm hiu đến mức độ nhiều lúc phải hy sinh cả danh dự của riêng mình, để cho chàng trai được tròn "danh thơm", có được vợ giàu sang, môn đăng hộ đối với đời:
Gió đưa buồm hạnh rảnh rang,
Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng danh thơm.
Quả thật, người phụ nữ nhà quê ít học ấy, sao mà cao thượng đến như vậy! Thật đáng để làm gương cho đời.
Trong lúc mới quen nhưng lại đã thầm yêu nhớ trộm, anh chàng đã liều lĩnh, táo bạo cũng do bởi những đưa đẩy như "gió đưa cành mận, gió lận cành đào" ngoài thiên nhiên với nghĩa đen thật hiển hiện, cùng nghĩa bóng như một gặp gỡ tiền định: nào "đào", nào "mận" để cho chàng vừa chìm vào cái thơm của hoa "mận" hay cái kiều diễm của hoa "đào" như mấy câu ca dao dưới đây:
Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em, anh phải ra vào tối tăm.
Tối tăm, thì mặc tối tăm,
Chờ cho bác mẹ đi nằm sẽ hay.
và rồi:
Thoạt vào anh nắm cổ tay,
nhưng anh chàng đã biết lo lắng cho sự đánh liều của mình:
Xin em đừng hô hoán việc này nên to.
Trong mỗi duyên phận, mỗi người như mỗi chiếc lá giữa dòng đời, mỗi thổ sản của mỗi vùng đất. Tùy theo dòng đời bằng phẳng hay phong ba, mỗi vùng đất chua phèn hay nước ngọt mà có những phước duyên hay những bạc bẽo cho từng hoàn cảnh:
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua.
Theo sách Phong Tục Miền Nam Qua Ca Dao của ông Ðoàn Văn Hội có dẫn chứng và qua những chữ dùng, cho chúng ta biết được câu ca dao này xuất xứ ở miền Nam. Do đó, ở "rẫy" thì được ăn "còng" vì như chúng ta biết những miếng đất thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long được gọi là đất rẫy phần lớn là đất bãi mới bồi, đất cồn dọc theo các dòng sông cái. Ở đó người ta thường trồng sậy, lau lách, cây bần dưới mé bãi... là những loại cây vừa có nhiều rễ phụ để giữ đất phù sa, vừa che bớt gió dông và cũng là những chỗ trú ngụ rất lý tưởng cho loài còng, gần giống như con cua lửa ở đồng, con ba khía ở biển, bò rất lẹ, mỗi lần kẹp thường hay bỏ càn lại. Những hang còng dọc theo mé rẫy dày đặt. Ở trong "bưng" nghĩa là trong chỗ còn hoang dã chưa khai mở, cỏ lác, lung vũng nhiều vô số kể, thì ăn "cá", vì ở đây cá sanh đẻ lưu lai, không thể nào bắt hết cá . Ở "đồng" ăn "cua" như một điều hiển nhiên, vì cua thường ở nhiều nhất trên ruộng, trên đồng.
Suy cho cùng, nghĩa bóng hai câu ca dao này chẳng khác nào số phận người con gái gặp phải duyên nợ nào được tấm chồng nấy, có thể gánh lấy những rủi may, những xấu tốt, những khổ sở, những hạnh phúc như một sự sắp đặt, an bài sẵn rồi.
Câu ca dao trên đây, có nơi còn viết khác đi đôi chút, nhưng cũng mang cùng ý nghĩa:
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về giồng ăn dưa.
Vì dưới sông lúc nào cũng nhiều cá như câu ca dao quen thuộc miệt sông Hậu Giang, với cù lao Ông Chưởng thuộc vùng Chợ Mới, Long Xuyên:
Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
hoặc có nơi còn viết:
Ba phen quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm.
Và những tỉnh thuộc vùng hạ lưu của sông Cửu long, người nông dân thường trồng dưa rất nhiều trên những đất giồng tức là những giồng đất cao ráo, không bị ngập nước vào mùa nước lụt từ tháng bảy đến tháng mười âm lịch.
Trong tình chồng nghĩa vợ cũng không ra khỏi cái thói thường đưa đẩy:
Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ. "
Có lẽ, nhiều người mỗi lần nghe đọc hai câu ca dao này, đều cho rằng người thiếu phụ bị chồng phụ bạc, ngồi một mình ruột héo gan sầu, chỉ còn biết nhìn cây cối, cảnh vật gần gũi chung quanh như "bụi chuối sau hè" trước ngọn "gió đưa" mà than trách, giải bày chút lòng xót xa của mình .
Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận ra một thực tế mà người thi sĩ bình dân muốn gửi gắm với hình ảnh "bụi chuối sau hè" đong đưa trước gió. Ðó là thói đời với bao biến đổi của lòng dạ con người cùng số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ luôn luôn nhận lấy cho mình những thua thiệt, không có một chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận điều mà họ không mơ ước bao giờ.
Trong vườn, có lẽ loài chuối là loại cây tầm thường, trồng chỗ nào cũng được. Chuối có thể trồng ở ngoài bờ, ngoài bụi, ở góc chái, góc hè, không được nâng niu, chăm sóc như các loài hoa quí để làm kiểng như mai, lan, cúc, thược dược hoặc cùng lắm như các loài hoa ở nơi thôn dã thường trồng như bông trang, bông điệp, bông vạn thọ... Sánh với thân phận người phụ nữ cũng tương tự, nghĩa là lúc còn trẻ đẹp kẻ đón người đưa, chồng yêu, chồng kính được coi như hoa quí, hoa hiếm, hoa thơm. Khi có một "bè con thơ" rồi cùng với bao cơ cực, chịu đựng, nhan sắc phai tàn, nắng mưa dầu giãi, bị chồng hất hủi, xem thường, bỏ bê, phụ bạc, người thiếu phụ trong trường hợp này chẳng khác nào đang ở vị trí một loài hoa bị đẩy xuống thân phận của những "bụi chuối" tầm thường, chỉ được trồng ở "sau hè", sau chái, ngoài bờ, ngoài bụi.
Còn đâu nữa của thời kỳ mới yêu nhau lấy trăng hẹn ước thề nguyền, không muốn rời nhau:
Gió vàng hiu hắt đêm thanh,
Ðường xa dặm vắng xin anh đừng về.
Mảnh trăng đã trót lời thề,
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai!
Hoặc tình tứ như người con gái quê mang nặng khối tình vừa chớm nụ qua mấy vần điệu sau đây:
Anh về Giồng Dứa qua truông,
Gió lay bông sậy để buồn cho em.
Thật là thơ mộng mà cũng thật là dạt dào, lãng mạn. Gió làm " lay bông sậy " mà cô nàng đã miên man tơ tưởng với cõi lòng vương vương nỗi nhớ, mang mang nỗi buồn... Cái thuở mà:
Thương nhau cởi áo cho nhau,
Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay.
Ðể mẹ biết được, hỏi dồn:
Gió bay cầu thấp cầu cao,
Gió bay cầu nào con chỉ mẹ coi. "
Và đứa con còn viện lẽ này lý nọ:
Tại mẹ may áo rộng tay,
Con quen gió mát, gió bay mất rồi.
Có lẽ đã hết rồi cái thời kỳ thơ mộng, gấm hoa với bao năm tháng mật ngọt trong yêu thương của tình chồng nghĩa vợ rồi chăng! ? Bây giờ chỉ còn lại một hiện tại "anh mê vợ bé" để cho người thiếu phụ bạc phận vò võ một mình phải lo nuôi dưỡng "một bè con thơ", mà người chồng nhẫn tâm có thấu hiểu cho vợ nhà không! ?
Ở một nơi khác, "gió đưa" còn là một cơ hội để cho thấy rõ lòng dạ của những đôi uyên ương khi sống chung nhau không trọn đạo vợ chồng, khi chia tay còn để vương bao phiền lụy. Hoặc đôi bạn thân không vẹn chữ bằng hữu, mà phản phúc nhau, gây bao tiếng oán tiếng than cho người ngay, người nghĩa lúc chia xa:
Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
Chẳng khác nào hai loài "cải" và "rau răm" cùng loài là rau, cùng được trồng chung một vườn. Thế nhưng, các giống cải được trồng đến đúng ngày tháng hạn kỳ, tất cả được nhổ lên làm dưa, nấu canh, ăn sống hoặc đem ra chợ bán... Rồi đến mùa khác được trồng lại lớp khác như cổi lốt về trời vì có một loài cải được gọi là "cải trời". Cải trời là môt loại cải mọc trong vườn hoặc theo mấy liếp cà, liếp hành, liếp rau thơm vào mùa nước vừa mới giựt, tháng mười. Dân quê có thể hái về ăn sống với cá lóc nướng trui cùng với những loại rau khác ở thôn quê như rau đắng, rau má, lá xoài non, lá lụa... hoặc nấu canh với cá trê vàng rất ngon, không thua gì bông so đủa, cải ngọt, cải bẹ xanh. Còn "rau răm" trồng một lần cứ để vậy ăn hoài. "Rau răm" lại có vị cay cay. Dựa vào những tính chất đó, các tác giả vô danh của ca dao tục ngữ đã cho chúng ta một bài học thực tế đầy ý nghĩa trong cuộc sống đời thường về những phản phúc, những tai tiếng không tốt đẹp về những người gần gũi của mình, mà tục ngữ đã có câu:
Lươn bò để tanh cho rỗ.
Ở phương diện khác, "gió đưa" còn mang một ý nghĩa gợi nhớ của người con hiếu thảo phải xa cha mẹ già, một tấm gương cho những ai ít để ý săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già thường hay yếu đau, bịnh tật:
Gió đưa cây Cửu lý hương,
Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,
Ðã bưng lấy bát, lại dằn lấy mâm.
Ðến "Gió đưa cành trúc là đà" mà ông Thái Văn Kiểm, trong quyển Việt Nam Gấm Hoa, đã giải thích câu ca dao sau đây, trước nhất là tả cảnh đẹp ở một vùng nơi cố đô vào buổi hừng đông và sau đó mang dấu ấn lịch sử về cuộc nam tiến của tiền nhân:
Gió đưa cành trúc là đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ xương.
Ðể chứng minh cho lời giải thích này, ông còn đưa ra hai câu ca dao sau đây, khi cuộc nam tiến đã đến được vùng đất mới ở phương Nam:
Gió đưa tàu chuối là đà,
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm.
Dù sao, đây cũng là cách giải thích của người am tường thế cuộc, có lý riêng của nó.
Chúng ta có thể có những hiểu biết về hai câu ca dao này theo cách khác, miễn sao phù hợp với ý nghĩa mà nó chuyên chở.
Chẳng hạn, chúng ta có thể cảm nhận đây là hai câu nhằm tả cảnh sáng sớm ở Huế với tiếng chuông chùa Thiên Mụ công phu ngân vang cùng tiếng gà gáy của làng Thọ Xương báo thức lúc hừng đông. Với nghĩa đen này thật rõ ràng, minh bạch.
Nhưng phần ẩn dụ có lẽ là tâm trạng của một vị công thần nào đây bị thất sũng, tự ví đời mình như trúc, một loài cây được dùng để ám chỉ những hạng người quân tử, trượng phu, mà nay phải "là đà" trước gió, rồi miên man tơ tưởng, nhớ về cố đô hay nhớ lại vương triều mà mình đã bao năm đem tài hèn sức mọn ra phò tá, rồi chẳng đặng gì. " Gió "vốn dĩ là chuyển vận của đất trời, là sức mạnh, là tượng trưng cho quyền bính triều đình chăng?
Hoặc tình tứ hơn, chúng ta có thể nghĩ đây là trường hợp chàng trai hay cô gái nào không trọn chữ yêu rồi chia tay, để thương để nhớ cho nhau, đêm đêm trằn trọc suốt năm canh dài, nghe văng vẳng tiếng chuông Thiên Mụ, tiếng gà làng Thọ Xương như nghe tiếng vọng của người thương trôi đi trong gió, vang động đến nơi khuê phòng... mà nhớ về những lần gặp gỡ, hẹn hò ngày nào.
Từ "cành trúc" đến "tàu chuối" đủ cho chúng ta thấy một nét đặc thù của những cư dân từ hai vùng đất dù cùng chung cội nguồn. Mỗi hoàn cảnh sinh ra mỗi hạng người. Nơi cố đô thì quân tử, công thần. Chốn thôn trang miền Nam thì dân dã tầm thường trong câu ca dao sau:
Gió đưa tàu chuối là đà,
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm.
Mỗi lần đọc câu ca dao này, rồi liên tưởng đến câu ca dao trên, khế hợp với hoàn cảnh lịch sử nước nhà, thấy như đâu đây hình ảnh của chúa Nguyễn với những năm tháng lưu lạc về phương Nam thời kỳ Tây Sơn chăng?
Hoặc bình dân hơn, câu ca dao này chuyên chở những cõi lòng của đôi trai gái trong thôn xóm miền Nam, vùng Bến Nghé, Gia Ðịnh, Nhà Bè, yêu nhau mà không gần nhau được, nhưng đêm đêm vẫn cùng nghe " tàu chuối " lao xao, nghe tiếng chuông chùa Xá Lợi, tiếng gà Thủ Thiêm như mãi hoài nhớ tưởng đến những lời tình tự như mật ngọt.
Ðại khái là vậy, mỗi người có những cảm nhận khác nhau, nhưng tựu trung, ca dao là một hình thái văn chương bình dân nhưng rất thực tế, phù hợp với từng trường hợp riêng tư của mỗi hoàn cảnh, mỗi vùng đất, giống như:
Gió bên Ðông, động bên Tây,
Tuy rằng nói đấy, nhưng đây biết rồi.
Trong kho tàng văn chương bình dân truyền khẩu, "gió" còn được dùng rất nhiều trong ca dao, tục ngữ, mặc dù cố gắng thế nào cũng không làm sao góp nhặt cho hết được. Và điều cũng phải nói thật thà là chúng ta không làm sao hiểu hết được những ý tứ, những ví von, những ẩn dụ mà các thi sĩ bình dân đã gửi gắm qua những vần điệu ca dao, những câu tục ngữ thật bình dị với những hình ảnh, những nghĩa đen thật rõ ràng nhưng nghĩa bóng thâm trầm, sâu sắc. Ở đó tiềm tàng những bài học, những tấm gương cho hậu thế, mà không phải lúc nào chúng ta cũng dễ nhận ra . Nào là lòng hiếu thảo, nào là những hẹn hò, nào là tình bằng hữu cư xử không tròn, nào là thói đời, thế sự thăng trầm, nào là thân phận hẩm hiu của những kiếp người...
Chỉ riêng mỗi một khía cạnh nhỏ như từ ngữ "gió đưa" trong tục ngữ ca dao cũng đã là một cách diễn đạt về một tập quán, một phong tục, một nền giáo dục thời phong kiến của một xã hội như xã hội của tổ tiên chúng ta, mà người phụ nữ trong đó được nói đến như bọt bèo, như chiếc lá bị bay đi theo gió, như những phụ thuộc vào tiền định mà không được chọn lựa, được quyết định cho đời sống của mình. Tất cả đều bị "gió đẩy gió đưa" như một định mệnh, một dòng nước trôi xuôi nhưng không phải không gặp những thác, những ghềnh. Bây giờ, cả thế giới đang ở vào những năm tháng cuối của thế kỷ hai mươi, chuẩn bị bắt đầu một thế kỷ mới, thế nhưng người phụ nữ Việt Nam ở những vùng thôn dã quê mùa vẫn còn bị ràng buộc bởi những lễ nghi, phong tục, tập quán có tự ngàn xưa . Chẳng hạn, họ còn bị ép duyên, ép nợ trong việc cưới hỏi hoặc mỗi khi ra đường họ không dám đi song đôi với chồng, mà vẫn còn phải luôn luôn đi phía sau người chồng như biểu lộ sự phụ thuộc suốt đời. Họ vẫn còn bị những "gió đưa gió đẩy" như thân phận hẩm hiu của họ nơi chốn ruộng đồng với heo, bò, gà, vịt, với quần vo áo vận, với đầu tắt mặt tối, lam lũ suốt ngày, với "một bè con thơ", với nghèo túng, thiếu thốn đủ điều. Cuộc đời họ luôn luôn gắn liền với một thực tế của làng quê như vậy cùng những khuôn thước, những lời khen chê, những dư luận khắt khe của chòm xóm chung quanh buộc chặt.
Biết đến bao giờ những người phụ nữ Việt Nam ở thôn quê mới thoát ra khỏi cảnh "gió đưa" trong biết bao câu tục ngữ, ca dao luôn ở cửa miệng mọi người! !
Lương Thư Trung
Boston, ngày 06-6-97
MỘT BUỔI DU NGOẠN
Mỗi năm cứ đầu mùa Thu là group của tôi lại làm một màn đi leo núi trước khi trời trở lạnh, tuyết xuống. Hôm nay cả đoàn bỏ một ngày làm việc, cùng nhau làm một chuyến du ngoạn ở Grey Rock, Poudre Canyon, gần Rocky Mountain National Park, sau đó hợp nhau lại đốt lửa trại, ăn uống. Họ có mang theo telescope để xem nguyệt thực. Năm nay tôi không tham đự, vì mấy tuần trước đó bị cảm nặng, người ngợm vẫn chưa khỏe hẳn. Theo thông lệ của Boss, nếu anh nào không đi, phải vào làm việc như thường. Cho nên năm nay tôi là người thủ dinh, chán thật, ai nấy đi chơi phây phây còn mình ngồi tiu nghĩu một mình ở đây. Thôi thì mình ngồi gõ keyboard, kể lại chuyện xưa tích cũ vậy:
Nơi tôi làm việc là chỗ sản xuất microchip cho computer. Nhóm kỹ sư làm việc chia ra làm 4 groups của Microprocess: Group chót là group tôi. Hằng năm Big Boss cho mỗi group một ngân quỹ để tỏ lòng appreciation sau những tháng ngày mệt nhọc [?] trong công việc. Manager của Group 1 là Yuppie type, nên mỗi năm group nầy thích đi ăn nhậu ở những nơi cầu kỳ và đắt tiền. Tôi thích mấy vụ đi ăn nầy, vì tính tôi ưa nếm những món ngon vật lạ. Trước đó tôi ở trong group nầy nhưng vì too much pressure nên bỏ, nhảy qua Group 4.
Năm đầu tiên khi tôi vừa chuyển qua Group 4 được vài tháng, thì nhóm tổ chức một buổi đi du ngoạn và leo núi ở Lake Isabelle và Glacier Isabelle. Mới đầu tôi hơi do dự, vì nghe nói cuộc hành trình hơn 7 dậm; vừa cho cả chuyến đi và về và đến đỉnh cao nhất là 11,300 feet. Nghe vậy ớn quá, tôi nhất định không đi, viện cớ là từ nào đến giờ chưa bao giờ leo núi hay đi khoãng đường dài như vậỵ Cô Lori cố thuyết phục tôi, nên tôi cũng vì nễ cô ta mới làm gan đi đại. Chương trình được sắp đặt như sau: mỗi người mang theo thức ăn cho buổi ăn trưa, lúc về sẽ ghé vào nhà hàng Moroccan ăn tối [vụ ăn nhà hàng "Maroc" là do lời đề nghị của cô M] và Boss là khổ chủ.
Tôi quên chưa giới thiệu các nhân vật trong group tôi:
Ông Boss của chúng tôi rất hiền lành cởi mở, tên ông là Jack, ngoài 50.
Kế đến Dan, anh khoãng 40, ngoài mặt trông nghiêm nghị chĩnh chạc như một thầy tu [Dan giả làm thầy tu vào lễ Halloween], nhưng anh có nhiều sense of humour. Anh là một tay leo núi, anh đã leo lên đỉnh núi Kilimanjaro!
Bob, anh nầy rất tếu, lúc nào cũng có joke để nói. Mỗi ngày đi làm bằng xe đạp, ngay cả những hôm tuyết lạnh.
Group tôi có hai anh tên Mike: một anh cao, anh lùn. Mike cao trông giống như Hitler vì bộ râu kẽm của anh và đầu chải kiểu năm sáu.
Anh Mike lùn thì giống như Inspector Clouseau trong phim hoạt họa Pink Panther vì cái mũ bất hủ cùng với bộ râu của anh.
Gary với đôi kính cận có nhiều khoanh, nhìn anh đúng là nerd, nhưng anh ta rất vui vẻ.
Pete vừa mới về lại Mỹ sau hai năm làm việc ở Nhật. Xe anh lúc nào cũng treo đầy những lucky charm anh đã mang từ Nhật Bản. Anh khoãng 34 tuổi rất vui vẽ cởi mở, anh cũng là một tay vô địch leo núi.
Cô M [tên cô ta là Mary, nhưng cô rất ghét tên cúng cơm đó nên ra tòa xin đổi lại là M, không có dấu chấm chít gì sau đó cả] Cô khoãng 30 tuổi, cô yêu KiKi hơn yêu người. Cô nuôi đến 4 con KiKi, tháng rồi cô và KiKi mới lãnh được huy chương ở Dog show for "The Best of Breed". Xe cô lúc nào cũng đầy lông chó.
Cuối cùng cô Lori, cô có mái tóc dài đến thắt lưng. Dáng người nhỏ nhắn, nhưng đi bộ nhanh hơn bậc mài râu. Cô ta cũng jumped ship như tôi, từ Group 1 qua group 4.
Xin trở lại cuộc leo núi ở Lake Isabelle. Sáng hôm đó tôi dậy thật sớm, sắp hành lý vào backpack: nào là bình nước, bánh mì, bánh lạt, trái cây, áo lạnh, khăn choàng, găng tay, mũ, [vì sợ lên cao bị lạnh] và quyễn tiểu thuyết đang đọc dỡ. Cùng một bộ quần áo để đi ăn tối.
Ngày hôm đó trời thật đẹp và trong. Chúng tôi hẹn nhau ở parking lot tại sở, bỏ xe tại đó, Jack và Lori lái hai chiếc xe mini van. Tôi đi xe Jack lái cùng với Pete, Bob và vợ chồng inspector Mike.
Trong suốt cuộc hành trình trên xe, Bob nói năng huyên thuyên, kể hết joke nầy đến joke khác. Tôi ngắm anh ta mà thầm thương hại cho cô vợ của anh, phải nghe anh lải nhải suốt năm nầy qua tháng nọ. Cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi. Ở đó là một cái park để đậu xe, có nhà tắm và nhà vệ sinh rất sạch sẽ để cho du khách tắm rửa sau cuộc băng rừng leo núi. Chúng tôi xuống xe, mỗi người lấy hành lý của mình đeo lên người. Tôi cảm thấy hồi hộp, sợ mình đi không kịp sẽ bị bỏ lại, rồi bị lạc không biết đường trở xuống v.v... và v.v...
Lúc đó vào khoãng 10 giờ sáng. Con đường mòn dẫn vào khu rừng thông rợp mát và thoai thoải, tôi nghĩ thầm "not too bad". Con đường mòn ẩm ướt, tuyết vẫn còn đóng ở hai bên đường, có lẽ rừng quá dầy cho nên mặt trời không xuyên vào đến tận đây.
Chúng tôi chia ra từng nhóm nhỏ: Nhóm đầu gồm có Dan Pete, Bob, Lori và Jack là nhóm đi nhanh nhất. Kế đến Gary, Mike cao và tôi [tôi cố bước mau cho kịp với 2 người].
Nhóm đi chậm nhất là vợ chồng Mike lùn và M.
Qua khỏi rừng thông rậm bóng là khu rừng đầy hoa dại đủ màu: tím, đỏ, vàng... lung lay trong gió đầu thu, trông như những cánh buớm chập chờn rất đẹp và nên thơ. Bên cạnh những cụm hoa dại, thĩnh thoảng lại có con suối chảy ngang.
Khỏi rừng hoa, con đường bắt đầu ngoằn ngoèo và lên dốc. Tôi cảm thấy hơi thở bắt đầu nặng nề và bước chân hơi chậm lại. Ðôi lần Gary phải dừng lại chờ tôi. Anh tìm được 2 khúc cây bên đường, anh đưa cho tôi một khúc để làm gậy.
Ðường đi bắt đầu có nhiều đá lởm chởm, phải trèo qua những hòn đá hoặc phải nhảy qua những nơi có hố. Tôi phải dùng cả tay lẫn chân [bò] để qua những nơi đó.
Con dốc bắt đầu đứng và khó đi. Không khí bắt đầu loãng khi càng lên cao. Có một lúc tôi cảm thấy như sắp tắt thở đến nơi, nhưng cũng ráng gượng đi.
Ði một đoạn khá xa, ba đứa tôi không thấy toán đầu và cũng không nghe tiếng của toán cuối. Mike Hitler lên tiếng:
"Gary, are you sure this is the right trail?"
"Yeah, I'm sure, it said back there this way leads to Lake Isabelle."
Tôi nhớ có thấy tấm bảng chỉ hai ngã: một đi vào Blue Lake, một chỉ đi Isabelle Lake. Tôi nói:
"I think we are on the right trail, I saw back there too."
Tôi muốn ngồi nghỉ chân một chút, nên đề nghị:
"May be we should stop here and wait for those three."
Mike bác bỏ đề nghị của tôi:
"Nah, we're better keep moving, they know the way."
Tôi vừa đi vừa rủa thầm: "You là Mẽo, xác của you to hơn con bò, cọp vật ba ngày cũng chưa chết. Ta là dân Mít làm sao bì kịp với các ngươi, ta mệt muốn đứt tim đây."
Tuy mệt, nhưng tôi không hề tỏ ra là người bỏ cuộc dễ dàng. Tôi cố gắng leo lên, có lúc dốc cao quá tôi phải đi xuống những khe suối, rồi tìm những dốc thoai thoải để đi lên, làm Mike và Gary phải đi chậm lại để chờ tôi.
Qua khỏi con dốc cao, đường bắt đầu đi xuống thung lũng. Lúc đó chúng tôi thấy toán đi đầu, Jack đi chậm lại chờ chúng tôi, ông hỏi:
"Where are the rest?"
"Way back there." Gary nói:
"I hope they aren't getting lost, I better go back and look for them."
Tôi mừng như mở cờ, liền tìm một cây thông ngã ngồi nghỉ chân. Trước khi đi Jack nhìn tôi:
"Don't make yourself too comfortable Thanh, or you won't be able to finish the trip."
Tôi nghĩ là ông nói đùa với tôi, nhưng Gary nói không nên ngồi nghỉ, vì như vậy sẽ cảm thấy mệt hơn khi bắt đầu đi lại. Tôi tiu nghỉu đứng lên đi chậm chậm theo Mike và Gary.
Qua thung lũng là rừng thông, dốc lên thoai thoải. Chúng tôi qua khỏi cụm rừng thông thì gặp Lake Isabelle. Lúc ấy đã hơn 12 giờ trưa. Hồ Isabelle rất đẹp, nằm giữa thung lũng, chung quanh hồ là những tảng đá to chen kẽ với những cây thông cao ngất. Nhìn xuống mặt hồ, nước trong xanh, tôi không biết nước trong hồ xanh hay chỉ phản chiếu từ nền trời xanh thẳm. Chúng tôi đi ven bờ hồ để quan sát rồi tìm những nơi có bóng mát để ăn trưa, quay phim, chụp ảnh để kỷ niệm cho chuyến đi.
Trong lúc ăn uống, những con sóc rất dạn dĩ chạy ra, đến gần chúng tôi để xin những miếng bánh mì, hoặc trái cây. Ngay cả những con chim có màu xanh biếc ở ức rất đẹp. Tôi không biết loại chim gì. Chúng đáp xuống mổ ăn những mẫu bánh rơi rớt.
Sau bữa ăn, Jack nói đường lên Glacier sẽ vất vả hơn đoạn chúng tôi vừa đi. Những ai muốn ở lại Lake Isabelle cũng được. Nghe vậy, tôi xung phong ở lại, M cũng ở lại luôn, vợ chồng Mike thoạt đầu định ở lại, nhưng sau đổi ý. Trước khi đi, inspector Mike bảo M và tôi:
"You two are staying here and investigating where is the water disappearing to?"
Chẳng là khi chúng tôi đi ven bờ hồ. Ðể ý thấy nước từ trong hồ róc rách chảy qua khe đá, rồi đột nhiên chảy biến vào đâu không biết.
Cả đoàn bắt đầu lên đường, Bob nói vói:
"We shall be back by 3 óclock."
M hỏi tôi:
"What do you want to do now, do you want to walk around?"
"No, I'm going to read for awhile" tôi trả lời.
"Sounds good," M lôi quyển sách từ backpack ra và đi tìm một nơi mát mẽ để đọc. Tôi tìm được hòn đá bằng phẳng ở dưới gốc thông, ngồi xuống dở quyển tiểu thuyết tôi đã mang theo. Ðọc được vài trang sách, mấy chú sóc nhỏ chạy ra chạy vào thập thò như muốn chui vào backpack của tôi. Tôi đuổi đi nhưng mấy chú ấy quá dạn, tôi đành phải lôi ra những mẫu bánh lạt bẻ ra chia cho các chú. Một lúc lâu các chú sóc mới để tôi yên đọc sách.
Bầu trời thật trong xanh. Cảnh vật thật yên tĩnh, chỉ nghe những tiếng hót của chim rừng cùng với tiếng rì rào của cành thông đong đưa trong giô Cảnh thiên nhiên quá đẹp, quá êm ả. Tôi không làm sao để tâm vào cuốn truyện. Phải chi tôi là nhà văn, hay nhà thơ sẽ viết lại những cảnh đẹp thiên nhiên đô
Ngồi một lúc lâu, tôi cất sách vào backpack và đi lần xuống hồ. Thấy tôi không đọc nữa, M cũng theo bước chân tôi, M nói:
"Do you want to walk around the lake, to see what's on the other side?"
"That's a good idea." Tôi hưởng ứng.
Chúng tôi đi ven bờ hồ và không quên dừng lại nơi nước rút mất. Chúng tôi quan sát cặn kẽ, tôi nói với M có lẽ ở dưới những khe đá là con suối ngầm, cho nên nước rút vào trong đô M nói có thể vậy. Chúng tôi đi sang bên kia bờ hồ. Ven bờ là những rừng thông rậm hơn phía chúng tôi ngồi. M chợt lên tiếng:
"Look Thanh, the foot prints!"
Nhìn theo ngón tay M, tôi thấy những dấu chân giống như dấu chân chó in trên cát, chạy dọc theo bờ hồ, tôi nói với M:
"May be somebody walked with the dogs earlier."
"No, the dog's paws do not have the claws, these are from the mountain tigers, they must have come down to drink the water or something."
Nghe thế, tôi hơi sợ nhưng cố cãi với M. Như tôi đã nói ở trên, M là người yêu chó và cô ta biết nhiều về thú vật hơn tôi. Chúng tôi nhìn lên rừng thông rậm, cả hai cùng sợ, không dám đi thêm nữa nên quày trở lại chỗ cũ.
Hai đứa tôi lại lôi sách ra đọc tiếp. Ngồi đọc chán chê, tôi xếp áo lạnh lại làm gối rồi nằm trên tảng đá nhìn lên bầu trời mênh mông. Ðếm từng cụm mây trắng nhỏ bay ngang, mà ước ao mình là những cụm mây trắng đó, cứ bay hoài bay mãi vào cỏi hư vô. Gió hiu hiu thổi, tôi chập chờn trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa mệ Chợt có tiếng vỗ cánh thật mạnh của chim rừng làm tôi tỉnh giấc. Tôi thầm nghĩ: "Nguy hiểm thật, trong lúc mình đang ngủ, nếu ông ba mươi từ trong rừng đi ra thịt mình thì hết đời mộng mị!"
Nghĩ thế, tôi ngồi bật dậy không dám nằm nữa. Nhìn sang M ở bên kia tảng đá, cô ta đang ngủ với quyễn sách úp lên mặt. Thôi thì mình ngồi canh cho cô ngủ vậy.
Nhìn đồng hồ đã hơn 3 giờ. Những người đi lên Glacier vẫn chưa thấy xuống, tôi hơi sốt ruột. M cũng đã thức dậy, cô hỏi tôi có thấy bóng dáng của họ không, tôi trả lời chưa. Hai đứa leo lên tảng đá cao nhất để nhìn, vẫn biệt tâm. Hai đứa tôi lại đi loanh quanh bờ hồ.
Chập lâu mới thấy bóng người thấp thoáng từ phiá xa xa. M lên tiếng:
"There they come!"
Khi họ xuống đến nơi, ngồi nghỉ trong chốc lát và kể cho tôi và M nghe cảnh đẹp ở trên Glacier quanh năm tuyết đóng.
Cuộc hành trình lúc về đỡ vất vã và nhanh hơn lúc đi nhiều. Vì đi xuống dốc, nên không mệt lắm. Chúng tôi đến bãi đậu xe khoảng hơn 6 giờ chiều. Chúng tôi rửa mặt thay đồ rồi lên xe để đến nhà hàng Moroccan.
Tôi sợ vì phải nghe Bob lải nhải trên xe, nên sang xe của Lori ngồi. Tránh ô mồ mắc ô mả! Con đường bên sườn núi có hơi quanh co, không biết cô Lori lái thế nào, mà tôi ngồi ở băng sau ruột gan cứ lộn tùng phèo. Tôi cố nhắm mắt lại để không phải nghĩ đến cái dạ dầy đang muốn cho ra.
Khoảng 45 phút sau chúng tôi đến nơi, trán tôi rơm rớm mồ hôi. Xuống xe, không khí dịu mát ban đêm làm người tôi dễ chịu đôi chút.
Bên ngoài khung cảnh nhà hàng rất đơn sơ. Trước cửa có một anh đứng chờ để tiếp đón thực khách. Chúng tôi theo bước của một anh hướng dẫn viên vào một căn phòng nhỏ. Ở đó có vài ba chiếc ghế và dựa vào bức tường là những kệ để đựng giày. Chúng tôi đang ngơ ngác, thì M giải thích rằng tất cả thực khách phải cởi bỏ giày, trước khi đi vào phòng ăn. Mấy anh Mỹ lại làm một màn càu nhàu trong khi tuột giày. Xong đâu đó, anh hướng dẫn viên đưa chúng tôi sang phòng ăn. Gian phòng ăn rất rộng, sàn nhà được trãi những tấm thảm hoa rất đẹp. Trên những tấm thảm đó là những chiếc bàn tròn thấp. Chung quanh là những chiếc gối, màu sắc sặc sỡ. Anh hướng dẫn viên mời chúng tôi ngồi trên những chiếc gối đó.
Sau khi cả bọn an tọa, tôi để ý lối trang trí của nhà hàng. Trên trần là những tấm vải bông được căng ra như căn lều trên sa mạc. Giống như những căn lều vải của vua chúa trong phim Ai Cập. Ánh sáng từ những chiếc đèn cổ điển kiểu Morocco ở hai bên tường tỏa ra, khiến khung cảnh của nhà hàng trở nên thơ mộng và huyền bí như phim "Một ngàn lẻ một đêm" mà tôi đã xem lúc còn ấu thơ. Một lúc sau, hai anh hầu bàn đến. Hai anh phục sức giống như Don Hồ trong bài Tuyết Muộn của Paris by Night! Một anh có lẽ người "Maroc", anh tự giới thiệu: anh tên John và anh kia [có vẽ Mỹ] cũng tên John, hai anh sẽ là người hầu chúng tôi đêm đô Sau khi chúng tôi chọn các các món ăn. Một anh John mang ra một chồng khăn lông trắng, phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc. Anh bảo chúng tôi vắt chiếc khăn đó lên vai trái và anh giải thích thêm: chiếc khăn đó dùng để lau tay trong lúc ăn. Anh John kia mang một bình nước ướp hoa và cái thau bằng bạc. Anh đến từng người bảo đưa hai bàn tay ra để anh rót nước rửa tay. Sau màn rửa tay, Gary không nín được, cất tiếng:
"We always go into the john to wash our hands before eating, now John comes out here to wash our hands!"
Món đầu là soup lentil nấu với trừu, mỗi người một chén. Chúng tôi ngồi nhìn nhau, không muỗng làm sao ăn soup. Dan hỏi xin muỗng, anh John nói:
"Sorry Sir, we don't have utensils, unless you bring it with you."
Thế là cả bọn cùng húp và xài năm quân để vớt cái.
Sau món soup là những món phụ như rau cải. Món nào cũng ngọt, và món nào cũng có mùi đinh hương và quế, có món thơm như hoa hồng hay hoa lài, rất khó ăn.
Mới đầu chúng tôi có vẻ bỡ ngỡ với cái vụ ăn bốc nầy, một lúc sau anh nào anh nấy có vẽ rành sáu câu. Thay vì dùng 3 ngón tay [ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa] để bốc thức ăn, Bob xài luôn cả 5 ngón.
Vừa ăn, Mike Hitler vừa càu nhàu:
"Today, Jack tortured us, when he made us climb the mountain, now he makes us sit on the floor and eat with our fingers."
Pete có lẽ hấp thụ tập tục của Nhật sau 2 năm sống ở đó, nói vơi Mike Hitler:
"Mike, stop whinning and do not forget that God created our fingers before He created utensils."
Tôi ngồi cạnh Jack, kế Gary và Inspector Mike, chúng tôi cùng thò tay bốc món ăn. Gary sụt sịt, anh bị allergy sao đó, anh rút mù soa ra định hỉ mũi. Tôi và Jack đồng lượt la lên:
"Gary, use your other hand! Otherwise we can't let you eat with us."
Sau đến là món ăn chánh, tôi và Jack cùng gọi món tôm nấu với nấm ăn kèm với Couscous [thứ lúa mì, hột rất nhỏ trông giống như cơm tấm]. Gary ordered thịt trừu nấu rượu, Inspector Mike thì gọi món thịt trừu nướng [hình như trừu là món thịt chánh của dân Morocco hay sao đó]. Chúng tôi trao đổi thức ăn với nhau để thưởng thức những gia vị khác biệt.
Món sau cùng là tráng miệng. Bánh nầy rất đặc biệt của dân Morocco, bánh ngọt nhưng bên trong có thịt. Nhân bánh nằm giữa những lớp philo [pastry sheets]. Trên mặt trình bày rất dễ thương: cảnh trăng lưỡi liềm, những cây dừa cùng với một con lạc đà trên bãi sa mạc [powder sugar]
Sau món tráng miệng lại là một màn rửa tay. Sau khi rửa tay, anh John bảo chúng tôi ngửa mặt lên và nhắm mắt lại. Hai anh rắc lên mặt chúng tôi một thứ nước có ướp hoa. Kế đến hai anh mang ra những ly có chân như ly rượu. Anh chất ly lên nhau làm 3 tầng. Xong anh rót trà vào những ly ấy. Anh rót một cách rất nghệ thuật, rót rất nhanh nhưng không có giọt nào đổ ra ngoài. Phải nói trà của Morocco rất ngon, tôi chưa hề được uống trà nào ngon như vậy.
Tự nhiên âm thanh của nhạc bắt đầu lớn lên, chúng tôi dáo dác nhìn nhau. Từ sau cánh màn xuất hiện một vũ nữ trên đầu đội cái mâm vàng và trên mâm ấy là những cây đèn [giống như công chúa đội đèn trong truyện cổ tích].
Cô vũ rất hay, không có ngọn đèn nào ngã cả. Chúng tôi vừa nhâm nhi trà vừa thưởng thức những màn vũ. Cô vũ nữ đến bàn chúng tôi mời một anh ra vũ với cô. Dan ra vũ, anh cố bắt chước cô lắc mình và mông, làm cả bọn cười đến đau bụng.
Màn vũ cuối cùng rất đặc biệt, cô mang ra 5 đồng tiền. Cô nằm rồi để 5 đồng tiền lên cái rốn sâu hun hút của cô [theo ông bà mình nói: Rốn sâu thì giàu lắm. Thế không hiểu sao cô phải đi làm vũ nữ múa rốn? :)] Cô vận dụng bắp thịt bụng làm sao mà chỉ có 3 đồng tiền lật qua mặt khác, còn hai dồng kia thì vẫn nằm im. Sau màn vũ ấy, chúng tôi ra về. Lúc ấy khoảng 12 giờ đêm. Ra đến ngoài, trời mát dịu, Lori mở cửa xe mời tôi lên, tôi vội từ chối, viện cớ là đồ đạc bỏ bên xe của Jack nên đi bên đó cho tiện. Thật ra tôi không dám ngồi xe cô lái, sợ ba đồ ăn "Maroc" trong dạ dầy bị"móc ra". Lên xe Jack, sau khi inspector Mike đóng cửa xe, thì máy phát thanh Bob bắt đầu chạy:
"Damn, we all smell like the belly dancer."
Quả đúng như vậy, ngồi trong xe bít bùng mới ngửi thấy mùi nước hoa mà hai anh John rắc rắc lên chúng tôi. Cả bọn cùng chế riễu nhau, là lúc về nhà phải làm một màn thanh minh thanh nga với người phối ngẫu...
Viết tại Loveland ngày 26/9/1996
Thạch Thủy