vhnt, số 295
8 May 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................PCL
T h ơ:
1 - Tiễn mẹ / Sinh nhật tháng Năm...........................Ý Liên
2 - Lưu đày......................................................Ðan Hà
3 - Please! Friend.................................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
4 - Ðà Nẵng, thiên thần tuổi ấu thơ...........Trần Thái Vân
5 - Tôi cỏ dại.........................................Hoàng Mộc Linh
6 - Một người...............................................Thu-Hồng
7 - There are hiđen feelings....................Nguyễn Quốc Vinh dịch
8 - Xuân nhắn nhủ................................................Ý Nhi
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh Việt Nam - Phần 2/2...............Nguyễn Vy-Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Tìm việc...................................................Ý Liên
Chào tái ngộ bạn đọc,
Văn nghệ là tình người. Một định nghĩa đầy cảm tính và hàm súc. Trong tình người có sự cảm thông, và chỉ khi con người có cảm thông thật sự thì mới có được tự do để tìm đến với nhau, tìm đến thế giới riêng của nhau với hy vọng khơi mở dòng chảy mới cho những con suối nước ngọt tinh lọc của mình vào đời sống.
Hy vọng chúng ta sẽ mang đến cho nhau được phần nào sự đồng cảm qua những sáng tác văn chương chân thực, qua phong cách viết và bộc lộ, những giòng nước mát từ tâm hồn những người viết đóng góp đã gửi đến để xoa dịu lòng nhau.
Khoảnh khắc thời gian rồi sẽ qua đi vô tình, chỉ có dấu ấn của con người con ở lạị Dấu ấn ấy là những gì không thuộc về thời gian, mà tùy thuộc vào lòng người ghi nhận, vào tình người, vào tâm hướng thượng.
Chúc bạn đọc có những giây phút bình an, yên tịnh nhất trong ngày hôm nay.
thân ái,
PCL/vhnt
Ý Liên: là bút hiệu của một cây viết nữ đã xuất hiện trên VHNT từ hơn một năm qua. Hiện làm về nghành điện toán tại Cali. Sáng tác của Ý Liên là phản ảnh của chằt chiu con tim và cảnh huống nội tâm.
Tiễn Mẹ
Trầm hương chưa đốt cho Người
Nhớ thương con mãi buồn nghi ngút buồn
Mẹ về với cõi thiên thu
sớm mai dòng lệ mịt mù tim con
đau cành lan tím héo hon
áo quan khép lại hồn còn đớn đau
hoang vu giọt thánh ca sầu
rưng rưng hồng đỏ gục đầu rưng rưng
đường trần mẹ đã dửng dưng
nẻo về Thành Thánh bỗng chừng xót xa
mẹ về ngủ giữa đồi hoa
khăn tang con chít, mẹ già còn đâu
nắng mưa đời hết bể dâu
Vĩnh An mong mẹ giữ màu thiên thu
Thiên Thai gió lộng mây mù (+)
phím đàn xưa rụng, nghìn thu nét cười
vòng hoa dâng mẹ héo rồi
mà lòng con mãi còn tươi nét buồn
Sinh Nhật Tháng Năm
Tháng 5 ngày mười hai sinh nhật của mẹ
con không còn được hạnh phúc
hát một bài thánh ca
và cài cánh hồng đỏ lên áo mẹ
như chúng con vẫn thường làm
chỉ có những hoa hồng trắng
con đặt trên nấm mộ của mẹ sáng nay
thay cho vòng tay con ôm quanh mẹ
sinh nhật ngày nào
Tháng 5 không còn mẹ
để con chúc mừng sinh nhật
qùa của con gửi đến mẹ
là tấm mộ bia đá xanh
người thợ vừa khắc xong chiều qua
có thánh giá
có hoa hồng
có tên quê hương
nơi mẹ đã sinh ra
nhưng chưa kịp trở về
và có nụ cười thiên thu của mẹ
trìu mến giữa tên của chúng con
Tháng 5 không còn ai đến chúc mừng
qùa sinh nhật gửi mẹ
là những giọt lệ con khóc thầm đêm qua
khi chỗ mẹ nằm lạnh giá
khi bước chân đầu hiên vẫn vọng về
trong giấc mơ con nhìn thấy mẹ
lần đầu tiên mẹ khóc mà không cần che dấu
vì mẹ đã cách xa chúng con.
Ý Liên
04-30-97
(+) Nhạc Bản "Thiên Thai" mà Mẹ vẫn đàn ngày xưa
Ðan Hà: Tên thật là Trần Văn Huyền, sinh năm 1945, tại Cam Lộ, Quảng Trị. Rời Việt Nam năm 1982 qua Phi Luật Tân. Và định cư tại Reutlingen, Ðức Quốc năm 1983.
Lưu Ðày
Ta đã lang thang tận cuối trời
Giờ đây ngồi nhặt bóng chiều rơi
Nửa đời mệt mỏi vì chinh chiến
Còn nửa đời kia sống ngậm ngùi
Muốn hát cho đời bớt lẻ loi
Nương về theo tiếng Mẹ ru hời
Bỗng nghe khúc hát "vong quốc hận"
Mà thấy đau lòng kiếp nổi trôi
Chẳng biết bao thu trút lá vàng
Mấy đông tuyết phủ trắng màu tang
Lạnh run ngày tháng mơ hoa nắng
Hạnh phúc đời cho đã muộn màng
Năm tháng dần vơi quá hững hờ
Mang theo hết thảy những tình thơ
Mơ tìm một chút xưa yêu dấu
Ðã lạc đâu xa tít tận giờ
Hồn lắng chìm theo nỗi hận đầy
Sầu dâng chất ngất đến cung mây
Ngoảnh nhìn đời đã chim cánh mỏi
Chốn lạ lê thân kiếp lưu đày
Ðan Hà
PLEASE! FRIEND...
the cups of tea
i'd poured:
grew cold...
the long waited for
guest
had not arrived!
my teardrops
fell
and broke my longing
into
pieces of shattered hope
in
the tea cup.
Nguyễn thị Hoàng-Ân
(Richardson, Tuesday, 4/29/97)
Ðà Nẵng, Thiên Thần Tuổi Ấu Thơ
tặng ntlt và những người quảng rất hiền
Cảm ơn trên điạ cầu có một nơi gọi Ðà nẵng
Bãi biển ầm vang
Thơ ấu thênh thang
Sân trường Ðào Duy Từ mịt mờ cát bụi
Những tiếng nói cười ầm vang như hội
Học trò áo trắng quần xanh
Hàng phượng thắm màu lá xanh
Tản cây vông đồng rợp bóng
Ôi, kỷ niệm của một thời bé bỏng
Những trò chơi bịt mắt bắt dê
Ðá cầu, hò hát ngô nghê
Chiếc bảng con, cục phấn nhỏ
Những lời phê mực son đỏ
Trăm năm còn thắm một màu
Nghĩa nặng, tình sâu
Qua chặng đời có khi ta không nhớ
Qua nửa địa cầu đôi khi ta cứ ngỡ
Những thâm tình đã phai lạc từ lâu
Nhưng như những nhánh sông sâu
Ký ức chỉ lặng nằm chờ mưa trổi dậy
Như chiều hôm nay ta thấy
Những thầy cô gương mặt hiền từ
(Và cũng dữ như cơn ác mộng hoang vu)
Này cô Cầm, cô Song, cô Ánh
Này đứa bé nào đó tóc màu đen nhánh
Những Mỹ Hạnh, Thu An
Những Võ Văn Thành, Huỳnh Văn Toan
Những cái tên nghe quen đến lạ
Ký ức, cảm ơn trời, vẫn chưa tàn tạ
Ðà nẵng thiên thần của tuổi ấu thơ
Biển Thanh Bình sóng nhẹ lặng lờ
Những buổi chiều xây lâu đài tưởng tượng
Những đêm trăng soi đèn bắt ghẹ
Sáng nhữ chuồn chuồn đốt rún tập bơi
Trong cơn đau tiếng hét chưa ngơi
Từ lớp này trao sang lớp khác
Như con sóng muôn đời đầu trắng bạc
Xin cảm ơn những kỷ niệm nhỏ nhoi
Những màu rất hồng như môi em bé
Những vu vơ rất là đơn lẻ
Một tiếng cười, một tiếng khóc, một trái banh
Một vỏ ốc, một miếng phim, trái me xanh
Một gốc cây, một chén chè, một bình nước
Ôi, tuổi thơ như hài hước
Như Thiên Thần chắp cánh tung bay
Này em, chiều hôm nay
Làm anh nhắc một khung trời thơ ấu
Ðà nẵng ngàn năm yêu dấu
Trong anh mãi mãi màu xanh
Trong anh ánh mắt long lanh...
trần thái vân
Tôi Cỏ Dại
Em mắt ướt xuôi lòng tôi cỏ dại
Một chiều buồn chân đất đến thăm tôi
Kiêu sa quá, mà trông như gần gũi
Bởi trong tôi
yêu dấu
đã thực rồi!
Một lần đến để lòng thêm khao khát
Nước mắt nào chảy tự suối tinh nguyên
Hạnh phúc có trên bơ vơ mùa hạ?
Cỏ tôi khô, khô héo những thệ nguyền
Chiều nay nhớ
mang niềm đau sót lại
Tự thuở nào thôi trổ nhánh hoang vu
Tôi là cỏ
dại
muôn đời vẫn dại
Dù dấu chân em
trên lối đã mịt mù
hoàng mộc linh
Một người
Tôi có quen một người
Vào một chiều cuối đông
Ðường buồn màu hoa trắng
Giá lạnh buốt môi hồng
Bên tôi, người thầm bước
Nặng trĩu niềm bơ vơ
Tóc đời phai màu bạc
Nhưng chưa hiểu chữ ngờ
Người bảo: Một lần yêu
Mười năm rồi Thu ạ
Nàng đi không từ giã
Lá đổ phủ một chiều
Nặng tình, anh tìm quên
Trong phím nhạc cung đàn
Dư âm. Ðêm. Từng đêm.
Se thắt tiếng tơ vàng
Mười năm rồi Thu ạ
Nàng về một chiều mưa
Dáng nghiêng. Người cô lữ
Lời đau nói sao vừa
Mười năm, anh học được
Tình người trắng thay đen
Mười năm, không giọt lệ
Máu thắm cả môi mềm
Trái tim yêu khắc khổ
Nên giá lạnh rồi Thu
Thôi đành tình dang dở
Không còn mộng thiên thu...
Ly cà phê mặn đắng
Trong một quán ven đường
Tôi. Người. Ðều im lặng
Câm nín những sầu vương
Người đàn cho tôi nghe
Tang thương ngày bố mất
Anh viết vội bài này
Khóc cha ngày khuất mặt
Nhạc buồn vang trong đêm
Long lanh lệ anh mềm
Hồn anh như trầm lắng
Giữa dòng nhạc dịu êm
Quen nhau một chiều đông
Tôi. Người. Sầu lẻ bóng
Ðường anh sẽ về đâu?
Tôi. Buồn. Ðời vô vọng...
Thu-Hồng
4/30/97
Có Những Niềm Riêng
nhạc & lời: Lê Tín Hương
Có những niềm riêng, làm sao nói hết,
như mây như mưa, như cát biển khơi.
Có những niềm riêng, làm sao ai biết
như trăng trên cao cách xa vời vợi.
Có những niềm riêng lệ vương khoé mắt
như cây sau mưa long lanh giọt sầu
Có những niềm riêng làm tim thổn thức
nên đôi môi xinh héo hon nụ cườị
Này niềm riêng như nước vẫn đầy vơi,
đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời...
Ôi, nỗi sầu đong chất ngất
như một ngày, như mọi ngày, như vạn ngày,
không thấy đổi thay!
Có những niềm riêng lòng không muốn nhắc
nhưng sao tâm tư cứ luôn mộng mơ.
Có những niềm riêng gần như hơi thở
nuôi ta cô đơn, nuôi ta đợi chờ...
Có những niềm riêng một đời giấu kín
như rêu như rong đắm trong biển khơi.
Có những niềm riêng một đời câm nín,
nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi...
There Are Hidden Feelings
trans. Nguyen Quoc Vinh
There are hidden feelings - far too many to let all out -
like clouds, like rain, like sands of the vast deep sea.
There are hidden feelings - too deep for people to know -
like the moon on high ever so far away in the distance.
There are hidden feelings when the eyes brim with tears,
like trees after the rain sparkling droplets of sorrow.
There are hidden feelings to make the heart throb in pain,
and to make those pretty lips put on a withered smile.
Here are such hidden feelings like water flowing and ebbing,
and here and there resounds the inviting voice of melancholy.
Oh, such mounting sorrow in boundless measure,
for a day, for everyday, for myriad days,
it never seems to change!
There are hidden feelings that the heart wishes not to recall,
and yet, why are these pensive feelings still lost in reverie?
There are hidden feelings that are as precious as lifés breath
nurturing us in our solitude, nurturing us in our expectation.
There are hidden feelings to be buried away all life long
like moss and like seaweed drowning in the vast deep sea.
There are hidden feelings to be kept muted a whole life,
and thus upon the moment of expiration, some regret remains.
6/19/96 & 5/5/97
Xuân Nhắn Nhủ
Xuân đã về, mang niềm tin tới
Xuân đã về, cùng với muôn nơi
Nhắn ai đang ở xứ người
Ðừng quên nguồn gốc ở nơi quê nhà
Chính xứ sở ông cha ta đó
Luật sinh tồn mới có hôm nay
Cả từ ngọn cỏ lá cây
Mồ hôi hoà máu , trước nay bao thời
Giống Tiên Rồng, vốn nòi Hồng Lạc
Công tiền nhân, gánh vác sơn hà
Việt Nam đất tổ quê cha
Sống chung giải đất ông bà khi xưa
Tình đồng hương chung màu huyết thống
Nghĩa tương đồng, cùng giống, một nòi
Vì thời tạo, đến xứ người
Gặp nhau niềm nở, góp lời yêu thương
Người đi sau , theo đường dẫn bước
Hoà yên vui, anh trước em sau
Tình thương gắn bó bên nhau
Bỏ tị hiềm nhỏ, mưu cầu tương thân
Trên đất khách, vui xuân thế đó
Ðược phong lưu , lại có tự do
Nhìn về đất Mẹ hiện giờ
Màn đêm còn phủ , mong bình minh rơi
Ý Nhi
(Little- Xuân '97)
Lời Giới Thiệu:
VHNT hân hạnh trích đăng phần II của tập biên khảo "Nhìn lại Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh Việt Nam" của Nguyễn Vy Khanh. Bài khá dài nên sẽ được đăng liên tục kể từ số này. VHNT cũng dự định sẽ đăng các phần còn lại của tập biên khảo công phu này để bạn đọc có được một cái nhìn khái quát về những diễn biến văn học đã xảy ra trong suốt 40 năm qua tại quê hương cũng như trên xứ người.
VHNT chân thành cảm tạ tác giả Nguyễn Vy-Khanh đã chia sẻ cùng chúng ta cái nhìn của anh về một giai đoạn văn chương đầy dâu bể của đất nước và con người Việt Nam - BBT
oOo
Văn Học Trong Nước Từ Thời Ðổi Mới (1986- ):
11 năm sau khi "chiến thắng" và thống nhất hai miền và đến nay sau gần 40 năm văn nghệ điều khiển, giới văn học và văn nghệ sĩ trong nước tiếp nối nhau phê bình và xét lại các tác phẩm và cả cái nền văn học chiến tranh nói trên. Những xét lại này đã công khai bắt đầu từ sau 1986 khi Hà Nội đề ra chính sách Ðổi Mới kinh tế và nghị quyết 05 (12-1987) của bộ Chính trị "Ðổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới" thì Cởi Trói văn nghệ trở thành một phương tiện hợp lý đúng lúc, một cứu vãn chế độ khi mà quan thầy Mạc Tư Khoa đã có Perestroika và Glasnost, khi mà quan thầy cận kề họ Ðặng mở cửa Trung quốc đón mời thực dân và tư bản cứu vãn nền kinh tế trầm luân sau những cách mạng văn hóa quá khích. Văn hóa và văn học lúc này được coi là có giá trị kinh tế - một loại phương tiện nhỏ hèn.
Một nền văn học phản tỉnh và có tính cách phê bình xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhiều tạp chí văn nghệ ở các tỉnh như Ðất Quảng, Cửa Việt, Langbian, v.v... Ðây là một khuynh hướng hiện thực x ã hội có tính cách phê phán, kiểm thảo. Gọi là hiện thực phê phán vì các nhà văn nhà báo đưa nhiều thực tế đau lòng lên chữ viết, lên báo công khai. Văn chương nhìn thẳng sự thật, vượt mọi cấm kỵ, kiêng khem, đặt lại nhiều vấn đề, đặt lại cả niềm tin, lý tưởng và nhân sinh quan. Những Chuyện Như Ðùa của Mai Ngữ, Người Ðàn Bà Quỳ của Trần Khắc, Cái Ðêm Hôm Ấy... Ðêm Gì? của Phùng Gia Lộc, Lời Khai Của Người Bị Can của Trần Huy Quang. Hào quang thần thánh bị nghi ngờ, những lời vàng ngọc bổng trở nên lố bịch vì đây sẽ là một văn chương đời thường, sẽ bị phê đầy "âm tính, tiêu cự c, tiểu thuyết, nhân văn" - thay vì vẫn tiếp tục thứ văn chương "lịch sử, dương tính" với những cảm hứng sử thi, anh hùng chủ nghĩa, một thứ "chủ nghĩa hiện thực phải đạo" (10).
Ðược phép hoặc thời đã phải thế, một thiểu số người nghiên cứu và cầm bút chính thức lên tiếng phê phán văn học chiến tranh nói trên, nói là chính thức vì đã có những bước đầu từ 1978 như đa ~ trình bày ở một phần trên. Một số nhà văn từng tham gia tích cực cuộc chiến (chứ không phải chỉ là quan văn nghệ ngồi ở hậu phương) bắt đầu dám viết ra những quan sát, nghiền ngẫm thật của họ về cuộc chiến, về con người, về số phận đất nước. Vẫn Nguyễn Minh Châu khai pháo với bài "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa" (29): "... Nhà văn chỉ được giao phó công việc nh ư một cán bộ truyền đạt đường lối, chính sách bằng hình tượng văn học sinh động (...) các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh (...) Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng cảm thấy mình hèn? Cái sợ làm cho mình hèn. (...) sự độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn nghệ trong những năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó với cách mạng, với Ðảng, suốt đời cảm thấy phạm tội". Sau đó trên báo Văn ông khẳng định "chúng ta đang sống trong một cái thời những người anh hùng và các đức thánh đang phấ n đấu để trở thành người bình thường giữa cõi đời" (30). Mảng văn học chiến tranh do Hà Nội điều khiển và chủ động bắt đầu bị phán xét là công thức xơ cứng, là giáo điều, là minh họa, là mộ t giỏi lắm chỉ là nửa sự thật và bị coi là non yếu, sơ sài, chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời - một loại "văn học tư liệu". Văn học vô sản chuyên chính từ 1950 không hề nói đến con người, nếu co ' chăng là hạ thấp khinh miệt on người vì những "lỳ tưởng" xa lạ. Mặt khác mảng văn học này bị chê là một loại lãng mạn ảo tưởng. Hoàng Ngọc Hiến tóm lược giá trị "mảng" văn học này như sau: "Trước, một thời gian dài, có những người - viết gì cũng vậy - chỉ quan tâm nhiều đến sự thông báo, sự bày tỏ lòng trung thành của mình với hệ tư tưởng chính thống, thành ra đã làm giảm sút đi sự cảm hứ ng tìm tòi chân lý, phát hiện cái đẹp" (31) viết Có nhà phê bình đi xa hơn khi cho rằng sau Thơ Mới và Tự Lực Văn Ðoàn, cho đến những năm 1980-90, chưa có một cuộc cách mạng văn học nào khác dưới chế độ cộng sản.
Có thể không hẹn hò, tổ chức, nhưng những nhà văn này sẽ tạo nên một mảng văn học chiến tranh mới, khác, con người hơn và, gần thực tế hơn với dĩ nhiên đủ nét đẹp và xấu. Anh hùng, người hèn, như ~ng cái giá phải trả cho chiến tranh và chiến thắng. Chiến tranh sẽ được mỗ xẻ, sự thật được nhìn dưới nhiều khía cạnh. Cái ác không chỉ ở kẻ thù mà ở ngay bản thân và đồng đội người lính bộ d dội anh hùng cách mạng. Xấu tốt, vui buồn, nỗi đau, vết hằn, cái ám ảnh của quá khứ, cái riêng tư được đưa ra thanh thiên bạch nhật. Cái thiện cái tốt cái đạo làm người đơn sơ được nhiều văn ngh ệ sĩ hướng đến sẽ thay thế những lý tưởng trừu tượng của chê độ. Nhà văn đem cái tâm tình, tâm hồn, kinh nghiệm sống tư riêng và ngôn ngữ của nhân vật thay thế cho cái kết cấu sử thi "lịch sư? - sự kiện" trước đó (và yếu ớt cho đến bây giờ). Vết thương chiến tranh bị cứa ra máu, máu sẽ loang lổ khắp nơi. Ðó là lý do tại sao các quan văn nghệ phê là đầy "âm tính, tiêu cực, phản bội, d dổi màu" (chơi chữ "đổi mới").
Chính sách Ðổi Mới (32) đối với chính quyền cộng sản thực ra chỉ là một nới lỏng tránh nỗi loạn. Nhưng lần này văn học được coi là công cụ của kinh tế do đó không thể giật lùi, một khi đà đã có. Cho đến gần đây (1997), các quan văn nghệ như Diệp Minh Tuyền, Trần Mạnh Hảo, Ðỗ Minh Tuấn, vv kịch liệt chống những lý luận họ gọi là "chủ nghĩa nhân văn" nhắc nhở những Tố Hữu, Hoàng Xuân Nhị, H oài Thanh, Nguyễn Ðình Thi... thời Trăm Hoa Ðua Nỡ (1957) cũng tố cáo những nhà văn không cùng quan điểm cũng một chủ nghĩa nhân văn (lúc bấy giờ những Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tưởng, Trần Ðức Thảo, vv bị thêm những nhãn hiệu "tư bản, tiểu tư sản"). Riêng nhà văn Trần Dần đã viết đề cao "nhân văn làm lớn con người". Cái chủ nghĩa lấy con người làm gốc hoặc hứng cảm này tiếp tục bị Hà Nội đả kích vào thời Ðổi Mới 1986 và cho đến những ngày gần đây: họ sợ "nhân văn", tình con người, tư duy của con người. Cái cho phép hài hước thay vẫn là chủ nghĩa "nhân đạo" phải hiểu là thứ văn chương phải đạo với cấp trên và đảng. Hai nhà văn cởi trói thời này là Lê Lựu, Dương Thu Hương.
Lê Lựu với Thời Xa Vắng (1986) trong đó anh chàng Giang Minh Sài tự kiểm thảo con người thấp hèn làm thuê đã khiến cho anh mất bản lĩnh, không thể làm chủ con người và cuộc đời anh. Một mẫu người lý tưởng của xã hội cộng sản: nông dân, học giỏi, đi bộ đội, được thâu nhập vào Ðảng, đời cứ tiến, nhưng không hạnh phúc.. Anh hùng khi nhân danh tập thể, nhưng trong cuộc đời không bao giờ anh ta tự quyết, thấy được hạnh phúc. Hai lần lấy vợ, một bị mẹ ép bỏ thì thương, vợ sau do tự chọn nhưng hư hỏng, đỏng đảnh không ra gì; "nửa đời người phải yêu cái người khác yêu, nửa còn lại đi yêu ca 'i mình không có". Truyện trực diện người đọc một người lính quê mùa, anh hùng khuôn mẫu của văn học minh họa, tác giả đặt lại vấn đề lý lịch: giữa những người cùng chung lý tưởng vẫn có những x ung khắc, khác biệt trầm trọng. Không riêng gì Sài, cả cái xã hội cũng đang khủng hoảng không tương lai!
Dương Thu Hương mất hết Những Ban Mai Yên Ả vì nhận ra Bên Kia Bờ Ảo Vọng (1986). Ðây là bản tố cáo những thần tượng ác ôn và lên án cái xã hội giả dối của xã hội chủ nghĩa, cả trong giới làm văn ho.c dối trá ti tiện, hèn mọn và thảm hại. Tiểu Thuyết Vô Ðề (1991) phá huyền thoại của cuộc chiến tranh "thần thánh và dân tộc" chống Mỹ: "lý tưởng" có mặt trái, những mỹ từ tuyên truyền vừa sáo vừa độc ác. "Thế cậu tưởng rằng chúng ta là những kẻ vô thần hay sao? Không phải thế! Khi chúng ta đập phá đình chùa miếu mạo, ấy là để dọn chổ treo ảnh khác, là để tạo dựng hình ảnh của một tân chúa cho đám đông".
Những người lính ngây thơ đáng thương đi không trở về dù mẹ già vợ trẻ mỏi chờ. Nếu sống sót trở về thì trở nên lãnh cảm, mất tính người hoặc không còn là con người. Bộ máy chiến tranh đã c ướp mất tâm linh con người và phá hủy hết những gì là văn hóa, tinh thần.
"Từ hòn xôi miếng thịt trong làng vinh thăng lên tới phần cỗ trong Sứ mệnh lịch sử. Mưới năm trước, tôi đã choáng váng vì những ảnh tượng này. Các danh từ ấy làm tôi mê mẫn. Lần ngủ với gái tôi cũng không cũng không mê mẫn đến như thế! (..) Nhưng rồi năm tháng qua trong bùn và máu, các danh từ ấy bị mài dũa, sờn mòn đi như đôi giầy cũ của chú lính già..." (tr. 81)
Nguyễn Minh Châu viết Mảnh Ðất Tình Yêu (1987) là Hiền An, một làng biển miền Trung, nằm bên cạnh căn cứ Nước Mặn của Mỹ. Truyện đả động đến cái xấu và cái ác, nêu lên những mâu thuẫn giữa bọn cán bộ cách mạng như lão Bạng, "vừa thối nát, tham lam, vừa lắm quỷ kế, lắm thủ đoạn" "vu khống, dọa dẫm khiến người ta sợ phải són đái ra, từ đó mà khuất phục, mua chuộc" (tr. 167) chống lại những người dân lao động hiền lành vẫn luôn là nạn nhân "lúc nào cũng mắt trước mắt sau, nhớn nhác, hốt hoảng chực chạy" như con dã tràng - cũng là hình ảnh thường trực ám ảnh của cả cuốn tiểu thuyết. Mộ t nhân vật, người bí thư chi bộ xã mới tên Quy, đã phải kêu: "Nếu cứ như thế này, chúng ta làm cách mạng để làm gì, đổ xương máu ra để làm gì? Nếu giành được chính quyền để trao vào tay lão Ba.ng, trao chính quyền vào trong tay cái bọn xấu đội lốt cách mạng thì có khác gì công dã tràng? Tại sao người ta sợ chủ nghĩa xã hội? Tất cả chỉ vì ta để cho cái bọn vừa dốt nát, tham lam, vừa lắm quỷ kế, lắm thủ đoạn có quyền nhân danh cách mạng để làm sai lạc cách mạng, đến nỗi những người cách mạng cũng phải sợ chúng chứ đừng nói đến người dân" (tr. 168). Tác giả hy vọng một ngày nào đó đê? tái lập phẩm giá làm người "một thế hệ con người không còn biết sợ hãi ra đời" (tr. 247).
Một đề tài tế nhị khác được Nguyễn Minh Châu tỉ mỉ đưa ra, là lòng thương yêu, nhân hậu giữa con người với nhau, qua nhân vật Hoa, "con Mỹ trắng" kết quả của một lầm lỗi trong chiến tranh. Hoa bị cả làng ghét bỏ, đánh đập "chỉ để được nhìn thấy nó lộ vẻ sợ hãi; bởi mỗi lần nó đã sợ hãi đến cùng cực, thì tròng mắt nó không còn màu xanh (...) mà chỉ còn cái màu trắng nhợt nhạt của một nô ~i tuyệt vọng đầy đau đớn (...) y như một con dã tràng bị lật ngửa phơi bụng lên trời...". Chỉ có ông ngoại của Quy, một dân chài, là yêu thương Hoa và khi ông chết, Hoa "cũng đòi mẹ cột lên mái tóc vàn g hươm một dải khăn sô trắng" và "cứ chực lao xuống theo ông " khi hạ huyệt. Tiếng khóc gào đứt ruột của Hoa đã khiến dân làng "mới thực sự thương nó, coi nó như mọi đứa trẻ khác trong làng. Người t a mới nhìn thấy trên cái thân hình gầy như que rào luôn luôn nhí nhảnh và ưa hoạt động của nó như vẫn còn in những con mắt nhìn đầy dè dặt, ngờ vực hoặc khinh bỉ, cùng không biết bao nhiêu làn roi mây hoặc roi cá đuôi đã in trên lưng, trên mông nó" (tr. 182). Nhưng lớn lên, Hoa yêu Quy, bí thư mới của chi bộ xã; vì yêu Quy cũng như thương ông ngoại của anh, Hoa đã không di tản. Mối tình nhiều mâu thuẫn, có lúc Hoa không muốn Quy yêu cô có lẽ vì sự căm ghét người Mỹ và Quy người của cách mạng. Hoa tự chối bỏ mình, mẹ con Hoa hành hạ, cắn xé rồi thương nhau hơn,... cuối cùng lúc gà gáy sáng, Hoa bỏ nhà ra đi để đền món nợ máu mà "cha cô" người Mỹ đã gây ra, "trước hết để lương tâm của chính mình được yên ổn" (tr. 223).
Nhà thơ Nguyễn Duy trong tập Mẹ Và Em (1987) có những bài nói lên sự phản kháng mạnh mẽ như Mười Năm Bấm Ðốt Ngón Tay và bài thơ dài Ðánh Thức Tiềm Lực viết từ những năm 1980-82 tỏ thái độ bất mãn với cuộc đời. Sau đó ông đăng trên tạp chí Sông Hương số 37 (4-5/1989) bài Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc đi xa hơn - ông sẽ bị kết tội đã "thóa mạ Tổ quốc" với những câu thơ viết từ "Mát-cờva":
Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên thum thủm cả tim gan.
(...) Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc
Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
(...) Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục dịch nhà quan..."
Phạm Tiến Duật tiếp tục "Cuộc chạy tiếp sức của bệnhsốt rét rừng chặng cuối":
... và hôm nay, người chiến sĩ lên chùa
thắp một nén nhang khải hoàn
ngón tay nóng và run
cơn sốt rét chuyền cho nén hương
nén hương khe khẽ run lên
thân hương chuyền lên đầu hương
cháy đỏ
cháy hết cả màu mai mái xanh của bấy nhiêu thế kỷ..."
Xuân Cang trong Những Ngày Thường Ðã Cháy Lên và Xuân Thiều qua Huế Mùa Mai Ðỏ đều muốn thoát khỏi lối viết minh họa. Âm Vang Chiến Tranh đặt lại vấn đề dũng cảm trong chiến tranh: có thật dũng cảm không khi phải hy sinh con người, kể cả chồng con cho một... lý tưởng khả nghi.
Cuộc đời, chế độ rồi cũng như cuộc hôn nhân, cũng có lúc: "Thế là tôi đã bỏ nhà ra đi, từ giã người vợ ba mươi mốt năm xưa đã lấy theo chỉ thị. Tôi đã đến cuộc đời này bằng hai bàn tay tra ('ng, và sắp tới sẽ trỏ về thế giới bên kia bằng sự trắng tay. Ðầu vào và đầu ra, như vậy là huề. Cuộc đời đã tước đoạt của tôi cũng có nghĩa là tôi đã trả hết nợ nần trong suốt năm mươi tám năm sống nhạt nhẽo và dối trá". Ly Thân của Trần Mạnh Hảo là ly thân với một chế độ lãnh đạo văn nghệ, tổng kiểm soát, chế độ của những chính ủy Tràng Giang. Cuộc "hôn nhân" cưỡng bách vì nhâ n vật họ Trần đã không có lựa chọn và yếu đuối do đó cứ lao vào bùn lầy, làm ác, gây tội. Sa bẫy, lỡ phóng đao, nhưng cuối cùng nhà thơ Khuất Nguyên tìm được bạn tri kỷ là một anh thương binh Cộng Hòa và một tổ ấm tự xây. Trước khi có Cởi trói, họ Trần, vốn là một nhà thơ bộ đội xung kích, đã có lần làm thơ ví đảng cộng sản như con sâu đo sự vật qua chính mình (bài Con Sâu Ðo Ði Tết).
Nguyễn Văn Bổng trong Tiểu Thuyết Cuộc Ðời (1988) kể những mất mát của con người trong chiến tranh, ở với vợ này lại nhớ đến vợ đã chết; cuộc đời mới không thay thế được cuộc sống cũ trướ c chiến tranh. Còn Bến Không Chồng (1990) của Dương Hương viết về hậu quả của chiến tranh đối với những người phụ nữ.
Trần Văn Tuấn trong Ngày Thứ Bảy U Ám kể chuyện những người xưng là "cách mạng" nhưng bản chất tồi bại, xấu xa, tàn nhẫn... có người sẽ lên tới chức... thứ trưởng. Cuộc Ly Hôn Cuối Cùng (1988) kể chuyện "đồng sàng dị mộng" của một cặp vợ chồng phải đi đến ly hôn như là giải pháp hợp lý đồng thời tác giả muốn chứng minh rằng chủ nghĩa duy ý chí của thời chiến tranh đã qua nay đã mất hết g iá trị do đó không thể dùng nó để giáo dục con người và xã hội hôm nay. Người ta có thể đồng nhất về thể xác nhưng không thể về tinh thần.
Ngoài ra có những truyện chiến tranh khác mà nội dung là những đòi hỏi cởi trói hoặc đề cập đến những biến cố vả sự cố cấm kỵ như Ăn Mày Dĩ Vãng của Chu Lai, Một Giờ Trước Lúc Rạng Ðông của Ng uyễn Quang Lập, Chim Én Bay của Nguyễn Trí Huân, Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Không Phải Trò Ðùa (1987) của Khuất Quang Thụy, v.v... Về kịch nói, có Lưu Quang Vũ với vở Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt viết từ 1981 nhưng chỉ được diễn vào 1987 và một năm sau thì ông bị tai nạn lưu thông chết cùng vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh. Vở kịch lẫn cảnh đời và cảnh tiên, thần thánh tham ăn xôi đã xóa Trương Ba trong sổ sinh. Vợ họ Trương lên trời khiếu nại cho chồng sống lại, nhưng trên thiên đình cũng tham nhũng, hủ hóa, cho anh sống lại nhưng phải nhập vào xác anh Hàng Thịt. Trương Ba sẽ đổi tính, từ hiền lành thành háo ăn, háo rượu. Một cuộc chiến tranh dai dẳng giữa hồn và xác mà thằng lợi sẽ nghiêng về xác. Bi kịch làm người có hồn lẫn xác và thất vọng về những kẻ đầy quyền uy và bất tử như Nam Tào, Bắc Ðẩu và Ðế Thích!
Hai nhà văn mới của thời Ðổi Mới là Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp. Phạm Thị Hoài qua các truyện ngắn và tập Mê Lộ (1989) có cái nhìn vừa lãng mạn vừa hiện thực, vừa lạnh lùng vừa nồng nhiệt về con người, tình yêu, dục vọng, xã hội. Một xã hội và con người đen tối, tàn độc. Ðến Thiên Sứ (1989), PTH phạm thượng về một số nhân vật của xã hội nhưng sẽ đi xa hơn bảy năm sau với Marie Sến (1996). Trong Thiên Sứ, chiến tranh (với Khmer Ðỏ và Trung cộng!) lại lôi kéo người tình ra đi "Anh ta đã vui sướng chọn ngọn lửa chiến tranh để thắp sáng và tôi luyện mình. Có những dân tộc chưa hề biê 't chiến tranh, và vẫn không ngừng sản sinh những đứa con vĩ đại, những ngọn đuốc tự thắp sáng mình bao thiên niên kỉ tối tăm..." (tr 51). Man Nương (1995) với những cảnh đời ô hợp của xã hội hậu chiến... chống lại truyền thống công cụ hóa văn học.
Nguyễn Huy Thiệp dùng ẩn dụ đa nghĩa và phép ấn tượng vừa sắc bén vừà tàn nhẫn đặt lại một số vấn đề lịch sử, đánh đổ thần tượng lịch sử, vẽ lại mặt thật một số lãnh tụ tai to mặt lớ n để lại một gia tài nát đau hơn là phúc lộc cho con cháu hôm nay, những trì trệ bảo thủ bắt nguồn từ quá khứ. NHT dùng chuyện xưa để nói chuyện nay, chuyện xã hội bất ổn, tha hóa, xuống cấp, dùng lịch sử, tự do và nghệ thuật để đối lập lại với lãnh đạo và chính trị, để quét sạch cái cũ hèn dọn đường cho cái mai sau vì thông qua các truyện, kịch của ông, con người luôn thường trực muốn sô 'ng và sống thực. Con người trở nên ô trọc, trần trụi, xác cũng như hồn. Bản chất con người được đào sâu với những cái nhỏ nhoi, tầm thường như ông Tướng Về Hưu. Người dân thường, mà ông tươ 'ng cũng thường - ở đây không còn cái văn học "sử thi", không còn tính nhân dân. Hoặc sự ngu dốt của người gọi là có học trong xã hội hôm nay "... vừa phản động, vừa nguy hiểm, lại vừa mất dạy (...) vi ` chúng giả hình. Chúng nhân danh lương tâm, đạo đức, mỹ học, trật tự xã hội, thậm chí nhân danh cả dân tộc nữa. Chính trị không cao siêu sẽ nhầm lẫn" (Những Bài Học Nông Thôn). Người làm đầu, như vu a Gia Long dưới con mắt họ Nguyễn: "Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ, ông đóng trò rất giỏi trong triều đình". Cô đơn, vì "Ông khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với Tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho chính bản thân mình". Vua như thế thì con dân cũng chẳng ra gì: "Chúng ta sống vô nghĩa, nghèo khó và đau khổ trong lý thuyết chắp vá đầy ngụy biện; những mối bất hòa kỳ t hị dân tộc và đẳng cấp; những kinh nghiệm sống của chúng ta mong manh và vụn vặt xiết bao. Ðến bao giờ, hỏi đến bao giờ, trên mặt đất này xuất hiện tiến bộ?" (Vàng Lửa). Chuyện vua xưa hay đỉnh c ao họ Hồ thời nay?
Phong trào Văn nghệ Cởi trói và hiện thực này kéo dài hơn 3 năm, đến cuối năm 1989 như tắt lụi, tức là sau Ðại hội IV Hội Nhà Văn (1-11-1989). Trước đó không lâu, Nguyên Ngọc bị cách chức tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ, trong hơn một năm là nơi xuất phát những truyện thơ và bút ký, phóng sự "hiện thực", giới văn nghệ mất đất đứng, sẽ dời sang Sông Hương, Lang Bian, v.v... Cởi Trói yếu đi nhưng ảnh hưởng còn đó trong giới trí thức, văn hóa, văn nghệ sĩ, bằng chứng là tiếp đó có hiện tượng Bảo Ninh và Nguyễn Khắc Trường. Những truyện thơ "phải đạo" lại rời rạc tiếp tục sứ mạng yếu ớt của nó - yếu ớt như danh xưng đảng bị tránh nói đến. Vũ Ðức Sao Biển viết Hoa Hồng Trên Cát (1990) dày 200 trang nhưng bao quát cả cuộc chiến trong Nam từ những năm 1960. Một loại Mùa Biển Ðộng nhưng cuối truyện người cộng sản trẻ từ bung biền trở về thành phố tiếp tục chế độ chuyên chính thế chỗ cha chú.
Nguyễn Khắc Trường với Mảnh Ðất Lắm Người Nhiều Ma xuất bản năm 1990 (nhưng viết 1988 và được giải Hội nhà văn năm 1991 cùng với Bảo Ninh và Dương Hương) là không gian đời sống bẩn chật đầy thù hằn dòng họ phe phái ở nông thôn - một nông thôn ngầm chứa nhiều mâu thuẫn mà chiến tranh làm trầm trọng hơn. Nông nghiệp xã hội chủ nghĩa đầy lý tưởng và có vẻ có quy củ trên lý thuyết, nhưng trong thực tế là một thất bại lớn. Chiến tranh thì tàn khốc, bộ đội chết vì bom, vì gian nan, vì đói. Chính trị viên Thông đã phải tự sát vì cả đơn vị đã bị tàn sát, mất cả súng dự phòng. Nhưng guồng máy chiến tranh sẽ chuyển tin về làng là Thông đả "hy sinh". Sự nói dối trở thành "một sự nghiêm trọng lâu dài". Một số sự thật khác về những người lính bị vắt chanh "đầu làng đại tá vá xe, cuối làng trung tá bán chè đỗ đen, thiếu tá thì buôn dầu đèn, để cho đại úy thổi kèn đám ma". Từ đầu đến cuối truyện là những tệ lạm xã hội, mê tín, đàn áp, đói khổ, vv co ' nghĩa là người ta nấp bóng đảng và nhà Nước cũng như chiến tranh để duy trì phong kiến, quan liêu trong một xã hội nghèo đói, hủ lậu, một lôi kéo lùi lại cả nửa thế kỷ! Cuối truyện là sự thắng tr ận kín đáo của tình yêu giữa hai người thuộc hai dòng họ thù nghịch nhau, hạnh phúc riêng thắng đặc quyền phi lý của gia đình và dòng họ. Tác giả như bi quan khi tả những con ma vẫn tiếp tục lộng hành và đàn áp cả những người sống lên tiếng. Có nhân vật như ông bí thư đảng và trưởng tộc họ còn mượn danh ma nấp bóng ma để chiến thắng kẻ thù đang tấn công gia đình họ lên là nhờ lợi dụng thần th ế. Truyện như không có hậu, có thể vì ma hãy còn đầy rẫy trong xã hội chăng?
Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh (1990) được giải thưởng của Hội Nhà Văn 1991 với tựa đầu là Thân Phận Tình Yêu. Chuyện người lính trinh sát tên Kiên; anh gia nhập chiến tranh với lý tưởng, được g ửi vào Nam, nhưng đã bị thực tế chiến trường làm hèn đi. Những trận mưa mọt xương, chui rúc hầm hố, lượm xác đồng đội, những đồi ma ở cao nguyên Ban Mê Thuột, những xác chết và những xương người chết. Những tuyệt vọng của Kiên và đồng đội, những nỗi sợ máy bay thả bom, những tàn bạo của cuộc chiến, những thấp hèn của chỉ huy, đồng đội. Hèn, thay đổi, Kiên không còn xứng với người đẹp tên Phương. Chiến tranh "không tiêu diệt được cái gì hết" (bản NXB Hội Nhà Văn, 1991, tr. 275) nhưng đã hóa thân Kiên thành một tàn tật tâm hồn, què quặt tình người. Hậu phương trở về đã đổi thay, bạn bè anh nay là những thương binh chờ chết, bạn gái nay bán dâm, Phương của anh cũng đã khác, nay ở với mọi người đàn ông trong làng. Kiên là hậu quả trái ngược của chính sách "chiến tranh thần th ánh, bộ đội anh hùng", vì với anh "Vinh quang của cái thời đã qua ấy dẫu rằng tột đỉnh nhưng chỉ một sớm một chiều. Hào quang choáng ngợp buổi đầu sau chiến tranh đã chóng vánh mai một trong từng thân phận. Những người đã chết đã chết cả rồi, người được sống tiếp tục sống song những khát vọng nóng cháy từng là cứu cánh cả một thời, từng xoi rọi cho chúng tôi nội dung lịch sử, thiên chức v à vận hội của thế hệ mình, rủi thay đã không thể thành ngay hiện thực cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến như chúng tôi hằng tưởng. Ðến bây giờ, đến lúc này đây, bạn hãy xem thực chất quanh ta có gì khác hơn ngoài cuộc sống tầm thường và thô bạo của thời hậu chiến?" (tr 50).
"Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả trong đời anh. Chỉ còn những mộng mị hảo huyền. Sau cuộc chiến tranh ấy anh dường như chẳng còn ở trong một "kênh" với mọi người. Càng ngày Kiên càng có c ảm giác rằng không phải mình đang sống mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này" (tr 86-87). Chiến tranh đã tan nát bao gia đình, ác thay, "những gì bị chiến tranh nghiền nát thì dư âm lại bền lâu (tức t hương binh, cô nhi), bền lâu hơn cả các tàn tích của chiến tranh và chính biến" (tr 66)
Nỗi Buồn Chiến Tranh gây sôi nỗi một thời, oái ăm là được giải thưởng của Hội lại bị chính Hội kết án khi thấy dư luận không hợp cho Ðảng. NBCT bị phê là phá hoại huyền thoại về người lính bộ d dội và chiến tranh chống ngoại xâm, "thay vào đó những cảm xúc, hành vi, khẩu khí và toan tính thời hậu chiến. Ðó là sự đánh tráo linh hồn, nhân danh một tòa án tối cao của chủ nghĩa NHÂN VĂN để ép cun g và xáo trộn hiện trường lịch sử (..) làm vỡ luôn cái bình quý là hình ảnh người anh hùng có thật trong lịch sử (33). Ngược lại, Hoàng Ngọc Hiến trên tạp chí Văn học (4-1995) cho rằng Bảo Ninh có cảm nhâ.n sâu sắc về "cõi chập chờn bất định" là cõi đắc địa của tiểu thuyết (...) và một sự cảm nhận sâu sắc về cõi này đâu có làm chúng ta kinh hãi"
Năm 1992, Hội nhà văn kỷ niệm 35 năm, tờ Văn Nghệ số 27 (4-7-1992) đã đăng một lúc ba truyện đều có "vắn đề" cho các tác giả nhưng cũng chứng tỏ sự chống đối vẫn còn dài dài. Trần Huy Quang qua truyện Linh Nghiệm (1992) viết về người buôn mộng có thể ám đả kích họ Hồ, đã gây tranh luận sôi nỗi một thời, bị quan văn nghệ Vũ Tú Nam phán là đã không phân biệt "đổi mới" với "đổi màu" (cấm kỵ) nên đã "dám phủ nhận con đường cách mạng của nhân dân ta đã chọn". Trang Thế Hy từng nằm vùng nay viết Người Bào Chế Thuốc Giảm Ðau chửi bề trái của xã hội chủ nghĩa, chửi lãnh đạo Mafia nhưng luô n mị dân giảm đau trong khi xã hội thối nát. Triệu Huấn với Gã Con Trời là chuyện một cán bộ mafia coi trời không ra gì, mướn một nhà văn viết hồi ký tô son cái vỏ cách mạng của y, nhưng rồi không ngơ ` gậy ông đập lưng ông!
Sau Bảo Ninh, sóng gió có lặng hơn. Tháng 1-1993, Hội nghị 4 của Ban Chấp hành Trung Ương Ðảng khóa VI ra nghị quyết về nhiệm vụ văn hóa văn nghệ vẫn đề cao vai trò của Ðảng trong văn học "nâng cao tinh thần chiến đấu của các hoạt động văn hóa và văn học, nghệ thuật... Các hoạt động văn hóa, văn nghệ của Nhà Nước, tập thể và cá nhân theo đường lối của Ðảng và sự quản lý của Nhà Nước". Yên, dậm chân nhưng có những bảo ngầm bảo lớn, như Nổi Loạn của Ðào Hiếu tuy không sâu xa gì nhưng động tới chuyện cấm kỵ của luân lý cộng sản: truyện kể một tình yêu hạnh phúc của Ngọc, vợ một cán bộ uẩn ức sinh lý tìm thấy tình yêu trễ tràng với Phan, một cựu sĩ quan ngụy. Những khát tình sôi nỗi của một tình yêu không giấu diếm của người dám sống thực. Ðây là một đề tài không gì mới mẻ, ít đ ược khai thác vì tabou; trước 1975, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn viết Tình Cao Thượng để chứng minh tình yêu lý tưởng là sự hòa hợp tình ái với nhục dục. Trong Nổi Loạn, sĩ quan ngụy nhưng đẹp trai và cao thu +ợng hơn cán bộ cù lần, tức là đã gián tiếp chửi chế độ. Một nhà văn nữ, Lê Minh Khuê xuất bản Bi Kịch Nhỏ (1993) phác họa bi kịch của một vài cá nhân nhưng cũng là bi kịch chung của xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Ký vãng dịu dàng của một mối tình trong chiến tranh, một y sĩ "ngụy" tù binh được một nữ y tá cộng sản săn sóc rồi nẩy nở thành mối tình, Phan Thị Vàng Anh viết Khi Người Ta Trẻ (1993 ). Gần đây có cuốn Ác Mộng của Ngô Ngọc Bội trở lại kinh nghiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc.
Ngoài ra, có những nhà văn vì nói thật lòng đã bị mất chức, bị quản thúc như Tiêu Dao Bảo Cự. Cuốn Nửa Ðời Nhìn Lại (1994) của ông phải in ở ngoài nước. Ðây là phản tỉnh của một đảng viên, hội viên Hội nhà văn, viết về những phản bội trong tình yêu và guồng máy chính trị phi nhân, về những con người hèn nhát, đố kỵ, tham lam. Một giải tỏa thảm kịch nội tâm, những mơ ước và khát vọng dở dang của tuổi trẻ bị lợi dụng thành công cụ, đồng lõa. Tác giả trước 1975 hoạt động nội thành cho Việt cộng ở Huế. Có người như Trần Thư bị tù, được thả vì bệnh nặng viết Câu Chuyện Của Một Tên Tù Xử Lý Nội Bộ gửi in ở hải ngoại. Một truyện ký nhân chứng của một người cộng sản bị vắt chanh bỏ vỏ. "Tôi muốn viết thành một cuốn tiểu thuyết vì đủ chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết. Nhưng trong đời tôi chưa viết cuốn tiểu thuyết nào, cho nên nếu viết chắc chắn phải cần thời gian. Mà tôi thì không còn thời gian. Tôi bị bệnh ung thư, sống chết không biết t hế nào, đành chọn cách viết kể chuyện thật, tuy cũng có cái phiền của nó nhưng cũng có thể nhanh hơn, may ra kịp..."
Từ khi có chính sách Cởi Trói, một số nhà văn thơ miền Bắc từng bị tù tội, treo bút, nay dù tuổi đã cao cũng xuất hiện trên một số tạp chí như Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan,...hay có tác phẩm xuất bả n như Lê Ðạt: tập thơ Bóng Chữ (1994), tập truyện Hèn Ðại Nhân (1994). Một số nhà thơ văn từng theo cộng sản rồi bị thất sủng cũng lần hồi thấy sáng tác trở lại, đó là trường hợp cùa Trần Duy Phiên, Trần Vàng Sao, Ðông Trình, Ngụy Ngữ... Một số tác giả từng có sáng tác xuất bản trước năm 1975, trong số có người đã có tên trong danh mục tác giả bị cấm sau 1975, cũng xuất hiện trở lại dù không nhiều: Võ Hồng, Hồ Nam, Nguyễn Bắc Sơn, Mường Mán, Tô Kiều Ngân, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Từ Kế Tường, Tần Hoài Dạ Vũ, Vũ Ðức Sao Biển, Ðinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường, v.v...
Nhà thơ Trần Vàng Sao từng nằm vùng nay ê chề thất vọng. Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình diễn bày cái trăn trở riêng tư, những đau khổ trong một xã hội bất công. Thơ ông như tiếng nói lương tr i gào thét mong con người tương lai tốt đẹp hơn. Những tức tối vì lỡ lầm đường nói ai nghe, thành vất vơ. Người Ðàn Ông Bốn Mươi Ba Tuổi Nói Về Mình: "... thường không có một đồng trong túi... (...) mả cha cuộc đời quá vô hậu cơm không có mà ăn ngó lui ngó tới không biết thù ai những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất (...) Bạn bè có đứa giàu có đứa nghèo Ðứa ngụy, đứa cách mạng, đứa tiền của đời tiêu mấy không hết Ðứa không có được một cái áo lành Ðứa đi kinh tế mới ba, bảy. tám năm trở về xách một cái bị lát mặt cắt không co một hột máu Ðứa đạp xe thồ ngồi vắt chân ăn củ sắn chờ khách ở bến xe Ðứa vô tích sự ở nhà không coí việc chi làm Có đứa râu tóc dài che kín mặt. Có đứa tàng không nhớ mình tên chi Có đứa chịu không nổi dắt vợ con vào Nam ăn đường ngủ chợ Mỗi lần gặp nhau mở to mắt cười húy một điếu thuốc lá lắc đầu Hết chuyện nói..."
Trần Duy Phiên, một nhà văn khác cũng từng theo Việt cộng, vô bưng dịp Tết Mậu Thân; sau 1975 đã im hơi lặng tiếng cho đến gần đây xuất bản tập truyện Kiến Và Người ở hải ngoại. Trong tập truyện n ày, ông tấn công những cái tiêu cực, những bất nhân, tàn ác trong xã hội.
Nguyễn Vy Khanh
Chú:
(19) Trích từ Văn Hóa Văn Nghệ Miền Nam Dưới Chế Ðộ Mỹ Ngụy (Hà Nội: Văn Hóa, 1977). Tr. 8.
(20) Văn Nghệ số 26 (5-7-1975).
(21) Xem Vương Trí Nhàn. "Những chuyện xảy ra ở một khu vực đề tài mới". Ở Phía Nam (Hã-nội: Tác Phẩm Mới, 1981), tr 173-180.
(22) Ở Phía Nam, Sđd, tr. 165
(23) Ở Phía Nam, tr. 46.
(24) Ngô Thị Kim Cúc. "Ðông xuân ở Duy Xuyên", tr. 121
(25) Văn Học Và Cuộc Sống. Sđd. Tr. 49.
(26) Bản đề cương này chỉ được in trên báo Lang Bian 9 năm sau (số 3, 4-1988).
(27) 45 Truyện Ngắn 1975-1985. Hã-nội: Tác Phẩm Mới, 1985. Tr. 49-61.
(28) 45 Truyện Ngắn 1975-1985. Sđd, tr. 61.
(29) Văn Nghệ số 49&50, 5-12-1987.
(30) Văn (tp HCM) số 2, 1988, tr. 3
(31) "Nhà phê bình cần phải có văn". Tạp chí Văn Học (HN) số 2 (1989), tr. 39.
(32) Xem Nhị-Khuê Nguyễn Vy Khanh. "Hiện tượng văn nghệ 'cởi trói' ở VN". Tạp chí Liên Hội số 29 (5&6-1989); "Thực chất của văn nghệ "Cởi trói' ở VN". Tạp chí Liên Hội số 30 (7&8-1989) tr. 62-67.
(33) Ðỗ Minh Tuấn. "Văn học cần bảo hiểm cho sự thật lịch sử". Văn Nghệ số 43 (1994).
TÌM VIỆC
viết để tưởng nhớ mẹ và lần đi tìm việc đầu tiên trong đời của con.
Quỳnh trở thành khuôn mặt quen thuộc của trung tâm nghề nghiệp của đại học Los Angeles đã hơn một tháng. Còn một muà học nữa Quỳnh mới xong chương trình bốn năm nhưng cái cảnh mấy đứa bạn vừa tốt nghiệp xong lại nằm nhà gác chân coi phim tập làm Quỳnh lo canh cánh cho thân mình. Sáng nay , vừa xong lớp kiến thức tổng quát về nghệ thuật Quỳnh chạy ngay đến trung tâm nghề nghiệp. Không cần nhìn thẻ học sinh của Quỳnh cô thư ký cũng biết rõ Quỳnh là ai và có hẹn với người nào. Martell, người đàn bà đứng tuổi gốc Ý Ðại Lợi, tầm thước , nước da trắng, mái tóc hoe, xuất hiện với nụ cười bao dung đón Quỳnh vào văn phòng của bà. Sau câu chào hỏi xã giao thường lệ bà Martell bắt đầu công việc của bà là xem lại hồ sơ của Quỳnh trong buổi phỏng vấn thực tập ở trường tuần rồi để góp ý kiến giúp cho Quỳnh kiếm được việc làm nhanh chóng. Câu kết luận của bà cũng như lần trước:
"... e lệ, nhút nhát, nhỏ nhẹ là những yếu điểm trong khi xin việc làm cô nhất định nên tránh.."
Bà Martell, cố vấn nghề nghiệp của đám học sinh nhốn nháo sắp ra trường tìm việc làm trong đó có Quỳnh, xếp hồ sơ lại sau khi nêu một lô khuyết điểm lớn lao Quỳnh phạm phải trong buổi phỏng vấn thực tập. Có lẽ khuôn mặt thiểu não của Quỳnh làm bà ái ngại, bà vuốt mái tóc nhuốm bạc nhìn Quỳnh với nụ cười rộng lượng:
"trang phục xuất sắc, trình độ kỹ thuật vững nhưng cô cần phải mạnh dạn, cương quyết hơn nữa để cho người ta tin rằng cô có những khả năng ấy. Tin tôi đi rồi cô chắc chắn sẽ thành công."
Lại những dặn dò Quỳnh đã thuộc lòng mà không lần nào Quỳnh thực hiện trọn vẹn ở cái mục "sell yourself". Quỳnh chán nản đi ra khỏi văn phòng của bà Martell. Nắng đã lên cao, mặt trời cáu kỉnh nhìn Quỳnh qua những ngọn lá khuynh diệp xanh. Sân trường lác đác vài tên học sinh "là học trò không sách vở cầm tay" trên bãi cỏ nhai vội mấy cái sandwich nhìn Quỳnh mệt mỏi đi qua tay ghì chặt một lô đối thoại mẫu mà bà Martell phúc hậu đã dúi vào tay Quỳnh khi nãy. Bà dặn dò thực tập ở nhà, trong phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn , phòng tắm, bất cứ lúc nào và nơi nào thuận tiện. Bà bảo ngày xưa thuở bà còn chân ướt chân ráo từ Ý Ðại Lợi đến Mỹ bà còn rụt rè khi đi xin việc hơn cả Quỳnh bây gi Nhờ bà đã học thuộc lòng những đoạn văn, những mẫu đối thoại bà nói năng lưu loát và bà đã kiếm được việc. Bây giờ không ai tin rằng tiếng Mỹ là ngôn ngữ thứ hai của bấ Quỳnh bỗng thèm có tên Kelly bên cạnh để Quỳnh cãi cọ cho bớt thất vọng. Cái tên bạn người Mỹ vẫn than phiền rằng Quỳnh nói nhiều vô kể mỗi lần hai đứa học bài chung. Và như thế Quỳnh bước vào cafeteria.
Cafeteria vắng vẻ, Kelly không xuất hiện. Ngồi im lặng bên hộp thức ăn trưa Quỳnh cố nhớ lại sự vụng về của Quỳnh trong hôm phỏng vấn. Có phải Quỳnh nhút nhát hay chỉ vì Quỳnh nói thật cả những điều không nên nói thật. Quỳnh phải nói năng và trình diễn như thế nào cho thích hợp? Bộ đồ lớn mà Quỳnh đã năn nỉ nhỏ em mấy lần đi mua sắm và bao lần mỏi miệng lẫn chân tay đứng trước gương vẫn không mang lại kết quả tốt đẹp nào. Quỳnh không có gì để đổ thừa cho sự yếu kém của mình. Không lẽ bảo tại vì cái bà phỏng vấn Quỳnh mặt mũi dữ dằn khó ưa không phúc hậu giống như bà Martell làm Quỳnh nói năng lận cận. Hay là vì tại hôm đó bị mấy con vi khuẩn bệnh cúm hoành hành nên Quỳnh nói không rõ ràng. Hay có lẽ sợ câu trả lời của mình không đúng sự mong đợi của các vị giám khảo nên Quỳnh cứ lí nhí và ấp a ấp úng câu giờ để dò xét tình hình đối phương. Cũng có thể tại mẹ của Quỳnh cứ mãi dặn dò "chim khôn hót tiếng rảnh ranh, người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe" mỗi lần mẹ nhìn thấy Quỳnh phùng mang trợn mắt quát mấy đứa em vì một lỗi nho nhỏ nào đó, hoặc cái tật hùng hổ tranh cãi với mấy ông anh vì cái một tin lá cải nào đó trên Tivi. Bắt chước cái dịu dàng từ tốn của mẹ để làm "người khôn" thì chưa đến đâu nhưng khổ nỗi cái "dịu dàng" ấy lại xuất hiện đúng ngay khi Quỳnh được phỏng vấn. Thôi thì "thua keo này bày keo khác" Quỳnh tự nhủ như Quỳnh đã tự nhủ Quỳnh bao lần và mỗi ngày ra sức học thuộc lòng mấy câu đối thoại của bà Martell đưa cho.
Cơ hội lại đến, một buổi career fair tổ chức tại trường. Một rừng biểu ngữ quảng cáo giăng đầy trung tâm nghề nghiệp, thư viện, khu học tập, khu giải trí, cafeteria, các cổng ra vào. Các học sinh ngành kỹ thuật như Quỳnh lại náo nức, sửa soạn resume, nghiên cứu, thực tập. Quỳnh canh đồng hồ báo thức thật sớm, để sẵn bộ đồ lớn thẳng tắp và áo sơ mi trắng muốt vừa lấy ở tiệm giặc ủi về. Cặp da trong tay với một xấp resume thẳng nếp bên trong, lần này Quỳnh ra quân hăng hái , bước đi mạnh mẽ, đầu ngẩng cao, miệng gắn sẵn nụ cười tươi mặc dù vẫn còn ngái ngủ. Mấy tên học sinh đi lại trong sân trường nhường lối cho Quỳnh, tưởng chừng Quỳnh là một trong những vị recruiter đầy quyền uy. Quỳnh hiên ngang bước vào trung tâm và dừng lại để hít một hơi mạnh vào lá phổi đang teo nhỏ của Quỳnh theo lời bà cố vấn Martell khi nhìn thấy trước mặt một rừng người. Ai ai cũng có dáng dấp thông thái, chững chạc và chuyên nghiệp luôn cả mấy nhỏ bạn lè phè Quỳnh gặp trong mấy lớp học. Quỳnh ngạc nhiên liếc nhìn từng đứa, thấy vẻ ngơ ngác quê mùa của Quỳnh mấy tên cùng lớp phớt tỉnh. Một bàn tay đập mạnh vào vai làm Quỳnh quay lại:
"Hi Chris, how are you doing",
Ồ tưởng ai , hoá ra Phong, cái tên học cùng lớp toán với Quỳnh đây mà, mọi bữa hắn lười nói chuyện sao bữa nay thân thiện thế. Quỳnh cũng vậy, thay vì cau mày Quỳnh gắng nở nụ cười duyên dáng hơn thường ngày. Hắn chuyển sang tiếng Việt nhỏ giọng:
"Ðã thảy được cái resume nào chưa?"
Quỳnh ngượng ngập:
"Chưa! mới tới, chưa biết hãng nào."
"Trời đất, sao mà chậm chạp thế, lựa hãng nào lớn, nổi tiếng thì thảy đại vô."
Thấy Quỳnh còn lớ ngớ, hắn kéo tay Quỳnh:
"Coi Phong nè"
Phong kéo Quỳnh lại trước một bàn đại diện có vài tên học sinh vây quanh. Hắn vồn vã bắt tay với người phụ trách rồi tự giới thiệu về hắn và cả Quỳnh, rồi hỏi han, rồi cuối cùng hắn mở cặp rút ra tờ resume trao cho người đàn ông. Quỳnh cũng đưa tờ resume cho ông ta. Quỳnh nhìn Phong khâm phục. Hắn nói năng trôi chảy hơn Quỳnh tưởng, không những về tình hình phát triển kỹ thuật của hãng mà có cả mưa nắng, thể thao quốc tế. Nụ cười tươi tắn và giọng nói hùng hồn của hắn làm người đàn ông gật gù lắng nghe , còn Quỳnh chỉ biết cười phụ họa. Ông ta hí hoáy ghi chép rồi đưa cho Phong và Quỳnh tấm thiệp của ông, hứa hẹn sẽ liên lạc với bọn Quỳnh trong vòng hai tuần tới. Phong đi rồi còn lại Quỳnh với chiếc cặp lang thang từ bàn này sang bàn khác, e dè nhìn mấy tấm bảng liệt kê mấy công việc cần người rồi thu hết can đảm mà chào hỏi. Mãi đến một lúc thì xấp resume của Quỳnh cũng cạn dần, và Quỳnh lễ mễ xách về một lô giấy tờ, sách báo quảng cáo, hãng càng lớn thì sách, báo, giấy, càng nhiều. Ðợi chờ mãi vẫn không thấy hãng nào gọi như lời hứa hẹn, Quỳnh gọi đến thì lại được bảo cứ kiên nhẫn chờ đợi, và rồi Quỳnh ngày lại ngày kiên nhẫn ngồi bóc những lá thơ từ chối. Bạn của Quỳnh bảo cứ yên tâm mà bóc thơ cho đến hàng trăm lá họa may sẽ có việc.
Còn hai tháng Quỳnh sẽ ra trường mà vẫn chưa có nơi nào để nương thân trong lúc mấy cô bạn của Quỳnh thì có người quen này đưa vào hãng nọ, mấy tên học giỏi hàng đầu cũng đang chờ các hãng rước đi. Quỳnh lại quay vào trung tâm nghề nghiệp, ghé mắt hàng giờ vaò các khung kiếng lồng mấy cái quãng cáo về công việc. Quỳnh miệt mài sau buổi học với mấy cuốn sách dày cộm liệt kê hàng trăm hãng mà hãng nào cũng đòi hỏi ít nhất là 3 năm kinh nghiệm trở lên. Quay sang mấy cái việc bán thời gian không đòi hỏi nhiều hoặc gần nhà thì hãng nào cũng bảo vừa mướn đủ người. Cuối cùng chỉ còn mỗi hãng "Ðiện Toán Ngày Nay" hình như không mấy ai để ý có lẽ vì hãng ở tận mãi Santa Monica, cách nhà Quỳnh chừng một giờ lái xe. Quỳnh mừng qúa vội vàng lấy hẹn ngay vaò sáng hôm sau. Quỳnh lại vào trung tâm nghề nghiệp nhờ bà Martel lại hì hục sửa tới sửa lui cho tờ resume ngắn ngủn của Quỳnh dài ra đủ một trang. Bà Martel phúc hậu lại nhắc nhở Quỳnh về cái mục "sell yourself" và như mọi lần bà thân ái ôm Quỳnh ngỏ lời tạm biệt và chúc Quỳnh may mắn trước khi Quỳnh rời phòng của bà.
Buổi sáng Quỳnh dậy thật sớm để chuẩn bị cho buổi phỏng vấn. Chỉ cần 1 giờ là dư sức đến nơi nhưng Quỳnh vẫn dành ra 2 tiếng đi đường cho cái hẹn lúc 8:00 sáng. Mẹ Quỳnh dù không được khỏe vẫn gượng dậy làm thức ăn sáng cho Quỳnh và mẹ cầu nguyện cho Quỳnh được may mắn nữa. Quỳnh vưà ăn vưà ôn bài. Quỳnh đứng trước gương tập nói chuyện một mình. Mẹ Quỳnh cẩn trọng đưa Quỳnh ra tận cửa làm như Quỳnh đi thi hương thi hội ngày xưa và người vẫn đứng đợi cho đến khi xe Quỳnh khuất dạng. Buổi sáng trời tháng mười, Los Angles phủ đầy sương mù và khói xe. Mặc dù hôm qua Quỳnh đã đi dò đường nhưng cái bận rộn của xa lộ ngày hôm qua khác hẳn cái bận rộn hôm naỵ Xa lộ 10 thật giống như nhà thơ Nguyễn Du mô tả "Ngựa xe như nước", một vùng nước đọng, từng chiếc, từng chiếc lăn được vài vòng bánh xe lại nằm yên. Ðịnh luật Murphy bất chợt từ đâu nhảy vào cái đầu lo lắng của Quỳnh: "Cứ mỗi lần tôi có hẹn tôi lại bị kẹt xe". Mồ hôi Quỳnh nhỏ giọt, xe không nhúc nhích, xa lộ dầy đặc những xe là xe làm Quỳnh ngán ngẩm, cái hẹn 8:00 sáng của Quỳnh không khéo phải kéo đến 9:00 giờ mất. Quỳnh không dám mở nhạc sợ dòng nhạc sẽ cuốn phăng mớ câu đối thoại Quỳnh vừa ôn sáng nay. Quỳnh mở đài phát thanh để nghe tin tức về lưu thông buổi sáng.
Chẳng có tai nạn nào xảy ra chỉ nghe người tường trình vui vẻ nói: "buổi sáng hôm nay trên freeway 10 thật là một buổi sáng bận rộn, qúi vị có thể chọn freeway 60, 405, v.v...". Quỳnh thở dài vì chỉ biết có mỗi con đường này. Cuối cùng ngã rẽ giải thoát Overland mà Quỳnh mong đợi cũng hiện ra, và đồng hồ trên tay cũng vừa cho Quỳnh thấy rõ chỉ còn 20 phút cho cả đoạn đuờng còn lại. Hi vọng sẽ đến nơi hẹn kịp giờ nhưng Quỳnh vẫn không giảm tốc độ. Nhưng hỡi ơi, luật Murphy quái ác lần nữa lại xuất hiện, trước mặt Quỳnh một màu cam đỏ khó thương của mấy tên công chánh sửa đường đang chắn ngang chắn dọc. Cái mũi tên nhấp nhánh lia lịa như thể nháy mắt trêu ghẹo Quỳnh. Dòng xe dừng lại, bất động, Quỳnh nhấp nhổm. Ðại lộ Pico bây giờ chỉ còn một đường hẹp, xe cứ thế mà bò, cứ thế mà chờ đợị. Ði thẳng không xong quẹo trái cũng không được, Quỳnh đang căng mắt nhìn chừng dòng xe thì nhận ra mình đã đi qúa hãng "Ðiện Toán Ngày Nay" một dãy phố. Ôi! Quỳnh chỉ còn vỏn vẹn 5 phút. Quỳnh cuống cuồng xin rẽ trái bằng đèn hiệu lẫn bàn tay thò ra van xin và chìa cả khuôn mặt tội nghiệp ra ngoài cho thiên hạ nhìn thấy. Vài chiếc xe có chủ nhân độ lượng thương hại nhường cho xe Quỳnh được quay đầu trở lại. Ði đằng tây cũng thảm hại hại như đi đằng đông nhưng cuối cùng Quỳnh cũng tìm được chỗ đậu xẹ Người gác dan thoáng chút bực bội đặn dò điều gì khi thấy Quỳnh phóng như bay vào thang máy lên tầng lầu thứ ba.
Quỳnh vừa xuất hiện ở số phòng 300 thì một người đàn bà từ trong bước ra. Thấy nét mặt hơ hãi của Quỳnh bà hỏi:
"Aren't you Christine Nguyen?".
Ðoán bà là người phỏng vấn, Quỳnh nhanh nhẹn chào bà và khéo léo nói về việc kẹt xe không ngờ của mình mà không cần nhớ mấy câu đối thoại bà Martell đã tận tình trao cho. Người đàn bà có vẻ thông cảm bảo Quỳnh:
"lưu thông giờ này thật kinh khủng, lại thêm sửa đường nữa, tôi cũng vừa bị kẹt xe đấy".
Quỳnh thở ra nhẹ nhõm khi người đàn bà mời Quỳnh vào phòng. Ngồi đối diện với bà, Quỳnh bị nét thông minh và duyên dáng lạ lùng của bà ta lôi cuốn mà quên đi nỗi hồi hộp cố hữu. Bà không giống những vị phỏng vấn khác lúc nào cũng nhìn Quỳnh với cặp mắt soi mói để tìm ra khuyết điểm trong cái thật thà của Quỳnh. Quỳnh bỗng dưng có thiện cảm với bà ta và thấy dễ dàng hơn trong khi trò chuyện. Bà tự giới thiệu tên là Linda, sợ lược về công việc của hãng và hỏi Quỳnh về vài kỹ thuật mới mà Quỳnh chỉ nghe qua nhưng chưa bao giờ dùng đến. Quỳnh thú thật Quỳnh chưa có kinh nghiệm về việc này, bỗng sực nhớnhững gì bà Martell huấn luyện , Quỳnh nói thêm rằng với phương pháp điện toán Quỳnh đdã được đào tạo trong trường Quỳnh sẽ không trở ngại gì khi học những kỹ thuật mới. Bà Linda bảo Quỳnh đưa cho bà xem cái program mới nhất Quỳnh vưà làm xong ở trường. Quỳnh đứng lên , trịnh trọng, hồi hộp, đưa tập giấy của Quỳnh cho bà nhưng than ôi lần này Quỳnh càng thấm thía định luật Murphy rằng "mỗi lần đưa tài liệu quan trọng cho ai thì tôi lại lóng cóng đánh rơi tài liệu xuống đất". Cả cái cặp da của Quỳnh giữ trên tay khi không lại theo sức hút của quả đất mà rơi tòm xuống thảm. Tập chương trình điện toán của Quỳnh và các giấy tờ lỉnh kỉnh khác văng tứ tung trên sàn nhấ Quỳnh cố che giấu nỗi ngượng ngùng trong khi mặt bắt đầu nóng ran. Quỳnh xin lỗi nhưng bà Linda từ tốn mỉm cười "đừng lo , không có gì đâu" và chờ cho Quỳnh thu nhặt mọi giấy tờ. Chừng vài phút sau bà chấm dứt buổi phỏng vấn và hẹn sẽ liên lạc sau nếu bà thấy khả năng của Quỳnh thích hợp. Ðó là một lời từ chối khéo léo, cầm lấy tấm thiệp của bà, cái chức vụ "president" đập vào mắt, Quỳnh than thầm "thế là xong" , nhưng Quỳnh cũng đủ bình tĩnh gửi nụ cười tươi tắn chào bà trước khi ra về.
Trên đường về chiếc xe thuộc loại đồ cổ mà Quỳnh mượn của Thảo, cô em gái, cứ khật khưỡng ho rồi ngang nhiên tắt máy dường như cũng đã kiệt sức theo Quỳnh sau cái buổi phỏng vấn chớp nhoáng. Trên lối vào xa lộ chiếc xe của Thảo cứ thản nhiên nằm vạ không cần biết bao nhiêu là tiếng còi bực bội từ đoàn xe dài ngoằn ngoèo phía sau. Quỳnh mở đèn báo hiệu khẩn cấp rồi cũng ngồi thừ trong xe chịu trận. Ðộ chừng nửa tiếng Quỳnh lại thử thời vận, mở máy, chiếc xe chừng như cảm thông Quỳnh nên gắng gượng lăn bánh theo tốc độ khiêm tốn rồi lại húng hắng họ Nhiều chiếc xe vượt qua mặt Qùynh không quên ném cho Quỳnh mấy cái nhìn thiếu thiện cảm. Không dám chần chờ Quỳnh vội vàng chạy ra khỏi xa lộ để tránh cản trở lưu thông và đâm ngay vào khu bảo hiểm sức khỏe Kaiser Permanente gần đô Chiếc xe bệnh hoạn vẫn còn đủ sáng suốt chờ cho Quỳnh lái vào khu dành riêng cho khách rồi nằm ì ra. Quỳnh chui ra khỏi xe rồi thất thểu đi tìm diện thoại công cộng. Khu bảo hiểm rộng bao la, nắng tháng mười sao chói chang, bộ đồ lớn Quỳnh mang trên người càng làm Quỳnh nóng bức. Thức ăn sáng mẹ đã chăm chút nấu cho Quỳnh bây giờ đã biến mất trong lòng Quỳnh nặng nỗi âu lo. Quỳnh gọi cho người bạn thì chỉ nghe cái giọng nhắn nhủ thoải mái rằng "tôi không thể có mặt vui lòng để số điện thoại và lời nhắn tin". Quỳnh muốn dập mạnh cái đdiện thoại cho đỡ thất vọng nhưng chợt nhớ mình chỉ còn 25 xu để gọi cho mễ Quỳnh đành ngọt ngào dặn dò nhỏ bạn:
"Quỳnh đây, xe tao bị hư, đang ở khu Kaiser Permanente ở đường La Brea. Làm ơn đến đón tao giùm nghe, không thì ở đây đến tối tao sợ bị bắt cóc lắm. Số điện thoại công cộng là 213-456-7890. Cám ơn nhiều nghe ".
Quỳnh không dám đi đâu cứ đứng luẩn quẩn bên cạnh máy điện thoại nhưng không một tiếng chuông reo. Nhỏ bạn của Quỳnh hôm nay không đi học nhưng có lẽ đã đi mua sắm vì cái máu mê thời trang của cô ầ Quỳnh gọi điện thoại về nhà cho mẹ vắn tắt báo cho mẹ hay rằng xe bị hư nhưng Quỳnh bình an trong khu đậu xe và sẽ về trễ. Mẹ bảo "may quá có Thảo ở nhà" Giọng nói của cô em gái của Quỳnh vang lên như một vị cứu tinh. Quỳnh nói một tràng dài làm như Thảo là nguyên nhân của vụ hỏng xe cho đỡ bực dọc:
"Cái xe bị chứng gì mà kỳ cục vậỷ khi không tắt máy, khi không nằm giữa đường. Xe hư sao không bảo trước, bây giờ nằm ụ ở đây thật chẳng biết làm sao".
Em gái của Quỳnh vẫn trả lời rất dễ thương:
"em đâu có biết tại sao chứ, để em gọi bạn em đến xem sửa cho, cho em cái địa chỉ và số điện thoại nhanh lên".
Quỳnh lấy lại bình tĩnh và thầm phục em gái, con bé thế mà lanh lẹn hơn Quỳnh nhiều. Thế là Quỳnh nhẩn nha chờ đợi, cô bạn và cô em của Quỳnh đều không thấy xuất hiện. Quỳnh vừa nhón chân định gọi thêm một cú điện thoại về nhà thì Thảo xuất hiện bên cạnh người bạn. Trông Thảo thần sắc mệt mỏi như vưà đi xa về, Quỳnh vừa mừng vừa tội nghiệp nhưng vẫn làm bộ gắt:
"sao lâu qúa vậy , chờ đói bụng muốn xỉu rồi."
Thảo lắc đầu:
"La Cienaga mà chị bảo La Brea. May mà chỉ có một Kaiser ở khu này.".
Quỳnh cười vả lả:
"La Brea hay La Cienaga cũng giống nhau thôi."
Thảo nguýt mắt, vùng vằng:
"Cái gì, hai nơi cách xa tới mấy cái exit lận. Em tìm muốn khùng luôn."
Người bạn của Thảo là một tên sửa xe có tầm cỡ vừanhìn vao máy xe thì hắn đã la lên:
"Thôi rồi , xe bị nóng máy mà chị cứ chạy nên máy cháy rồi, không sửa liền được đâu. Tụi em đưa chị về trước rồi trở lên kéo xe."
Quỳnh rầu rĩ , việc làm chưa có mà thay máy xe chắc phải tốn gần một ngàn bạc. Thảo và bạn đưa Quỳnh về nhà sau khi kéo Quỳnh vào Mc Donnald để cấp cứu cái bao tử của Quỳnh.
Mẹ của Quỳnh ngồi lắng nghe Quỳnh kể chuyện phỏng vấn, nào là kẹt xe, nào là đánh rơi giấy tờ, nào là hư xe, mẹ cứ xuýt xoa "thật xui quá, mà con vô ý nữa, lần sau nhớ cẩn thận nghe". Buồn rười rượi, Quỳnh vaò phòng thu tóm sách vở đến trường lòng tự nhủ "thôi quên đi mấy cái vụ phỏng vấn". Anh của Quỳnh từ xa gọi về an ủi "em cứ lo học cho xong rồi kiếm việc, không thì mất cả chì lẫn chài". Quỳnh không vào trung tâm nghề nghiệp, Quỳnh dấu mình trong mấy cái phòng học trên lầu thư viện như dấu nỗi buồn của Quỳnh, nhưng buồn qúa Quỳnh lại nhìn xuống mấy chùm bông giấy đỏ bên dưới hay ngắm mấy chiếc lá rơi lác đác trong sân trường. Quỳnh thầm hỏi đời học sinh có vô tư như mấy chùm hoa giấy kia hay buồn như đời lá mỗi lần hỏng thi hay rớt phỏng vấn. Quỳnh lại về nhà khuya như mọi lần sau khi thư viện đóng cửa. Mẹ vẫn còn thức chờ Quỳnh, mẹ bảo "con có cái nhắn tin trong máy và có một người Mỹ để số điện thoại cho Thảo nữa". Thảo đã ngủ ngon, Quỳnh không muốn đánh thức cô em gái tội nghiệp mấy hôm rày phải đi xe buýt vì chiếc xe duy nhất Quỳnh mượn của nó đã nằm cú rũ đằng sân sau. Quỳnh mở máy nhắn tin, một giọng nói đàn bà vang lên chậm rãi:
"Christine, could you come for the second interview. We'd like to discuss with you about our offer if you're still available."
Quỳnh la lên, nhảy tung tăng ra khỏi phòng tìm mẹ Quỳnh, có lẽ đang còn thức mẹ Quỳnh hỏi vọng ra:
"Người ta từ chối rồi chứ gì hở con?".
Quỳnh chạy vào phòng của mẹ, ôm lấy bàn tay trái nơi có vết sẹo thương tích của mẹ vì cái ngã vào mấy tháng trước cười hạnh phúc:
"Người ta chịu mướn con rồi đó mẹ".
Mẹ Quỳnh vuốt tóc Quỳnh dịu dàng:
"Con giỏi lắm, mẹ mừng cho con, nhưng làm sao cũng phải học cho xong con nghe".
Quỳnh úp mặt vaò tay mẹ thầm thì "cám ơn mẹ, nhờ mẹ, nhờ có mẹ chăm sóc lo lắng cho con mỗi ngày , cầu nguyện cho con nên con mới thành công. Mẹ ngủ ngon nha mẹ".
Quỳnh nghĩ đến khi Quỳnh đi làm điều trước hết Quỳnh phải lo trả tiền làm máy xe cho em gái của Quỳnh và Quỳnh sẽ có một món quà đầu tiên mà mẹ ưa thích trong dịp lễ các bà mẹ sắp đến. Món quà đó cũng là quà mừng sinh nhật của mẹ thêm vào đóa hồng mà mỗi năm chị em Quỳnh vẫn cài lên chiếc áo muà xuân của mẹ khi bài hát bất hủ đầm ấm giữa lòng Quỳnh một nỗi yêu thương:
"Ðoá hoa nào vừa cài lên áo đó em
thì xin em hãy cùng tôi vui sướng đi
Nhỡ mai này mẹ hiền có mất đi
như đóa hoa không mặt trời
như bé thơ không nụ cười... "
Quỳnh đang rạng rỡ dưới bóng mặt trời của mẹ dẫu đang nửa đêm. Quỳnh sẽ không quên báo tin vui của Quỳnh cho bà Martell, chắc chắn bà sẽ hài lòng khi biết rằng công bà chẳng phải công toi. Bà đã chảng nhắc nhở đến con gái bà khi dạy Quỳnh viết resume sao. Quỳnh vui vẻ cuộn mình trong chăn khi nghĩ đến định luật Murphy: "Mỗi lần tôi tưởng tôi thất bại tôi lại thành công".
Ý Liên