vhnt, số 305
17 June 1997
Trong số này:
T h ơ:
1 - Bài ca thác trắng............................Nguyễn Xuân Thưởng
2 - Không còn gì tất cả.........................................Cỏ May
3 - Bến bờ...............................................Phạm Văn Tiên
4 - Phôi pha................................................Lillian Nguyễn
5 - Hè ơi................................................Cát Bụi Tình Xa
6 - Ðôi mắt giã từ..........................................Hàn Trân
7 - Tình đầu trót lỡ (15).........................Nguyễn Quốc Vinh
8 - Trương Chi.............................................Ðinh Yên Thảo
9 - Vô đề........................................................Cát Nhu
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Ðể hiểu tục ngữ ca dao........................Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Có nhớ tôi không........................................Tường Vi
12 - Trần văn Tông.......................................Bùi Thanh Liêm
Có những người viết hay đọc như là một nhu cầu giải toả của chính họ. Và sự thể hiện hay đề taì cũng thật đa đạng. Có thể đó làsự rung động về thiên nhiên, tình yêu. Có thể là những trăn trở, thậm chí nổi loạn, về con người, về cuộc đờị Và cũng có thể là sự hoài niệm hay nỗi ám ảnh về thời gian, quá khứ.
Sự thể hiện nào cũng đẹp, cũng hay. Bởi vì chúng là những cảm xúc có thật, dù đôi lúc ta bắt gặp sự huyễn hoặc, sương khói trong ngữ nghĩa. Và ở khía cạnh nào đó, chúng mang lại sự cân bằng cho họ, cho người đọc.
Vậy thì mời bạn. Chúng ta cùng ngồi xuống - không có ranh giới giữa người đọc hay viết - để nhân lên những nụ cười và chia nhỏ những ngậm ngùi lẫn nhau, bằng những câu thơ, lời văn. Ắt thế cũng quá đủ cho một ngày nắng ấm trong cái gọi là " ba vạn sáu ngàn ngày...".
Thân ái,
DYT/vhnt
bài ca thác trắng
đường vắng rộng mông mênh
mây vần ngọn nắng sót
rừng hai bên chuyển mình
đón chờ cơn bão rớt
một cõi âm u,
bụi mù gió cuốn
quạ đen vội cánh
bão rụng chiều thu
mưa xối vẫy vùng lá nước
hồi sấm nổ,
vang như tiếng trống gọi hồn
năm trăm năm trước
ăm trăm năm trước
ngay nơi này
thần linh ngự giữa rừng
núi dựng nơi đầu gió
người và mặt trời hoà chung nhịp thở
có bộ tộc hiền lành
lớn lên theo hồi trống đêm
bập bùng ánh lửa núi rừng thiêng
trai gái mình trần
nước da đỏ lẫy lừng
đầu giắt lông chim ưng
vai đội da chó sói mắt người
nhảy theo chiều lửa gọi
hú Orenda về giữa đêm đen chứng kiến.
mới đây thôi
mặc cho bão động gió gầm
những thanh niên Cherokee nét mặt kiêu hùng
vai đeo cung tên
bước chân rắn rỏi
rủ nhau đi săn trong mưa dầm xẻ núi
những cô gái Sioux,
cô gái Shawnee mắt ngời
bím thắt ngang lưng
cười vui ríu rít như chim
vẫn man mác khi rừng mưa lá đỏ
mới đây thôi
bà cụ già da mặt răn reo
ngồi bên tippi
chờ con về
sau buổi đi săn mùa bão rụng
ngay nơi này,
đã bao lần bình minh tuyết phủ trắng lũng sồi
đã bao lần trời hồng chìm dốc núi
bao lần gốc hồ đào cằn cỗi nẩy mầm non
rừng phong đã bao lần thay lá
thú hoang sống trong nhịp điệu hài hoà
đêm xuống
uống nước bên suối nguồn
tràn bờ sau chiều mưa thác lũ,
rừng thẳm
rợn hồn năm cũ
căng tràn sức sống nhiệm mầu
về hiện diện cùng muôn nỗi chết
trùng trùng từ bờ đại tây cho đến biển thái bình
cuối cùng ta đã gặp nhau
chưa từng xa lạ
như đã gặp từ muôn vạn kiếp
trong một ngày giông bão đụn mưa
mặt chạm mặt.
ta gặp nhau
đẹp như chuyện thần tiên kỳ lạ
đất trời tầm tã
rúng động lập loè sáng tối
ngươi thong thả đường hoàng bước tới
từ giáp giới mặt đất chân trời
mắt nhìn nhau sức mạnh man rợ tình người
và hương núi rừng bát ngát.
ngươi sừng sững hát ta nghe bài ca thác trắng
ta chỉ ngồi yên xúc động bùi ngùi
nước mưa xoá vùi thanh sắc
tiếng hát vút cao núi rừng cúi mặt
hát rằng:
nước bạc từ núi cao dội xuống
thác đổ đá rừng cũng tan
bên thác mùa xuân hoa gấu nở tròn bông
đàn ong rừng ca vang
ta đã gặp nhau
kể từ lúc những con người hiên ngang
ưỡn ngực hú dài trước cơn giông đầu núi
vẫn phải quằn quại
trong mưa đạn đồng đỏ
kinh hoàng trước khí giới lạ lùng
sức tàn phá gấp vạn lần cung nỏ
ta gặp nhau
từ những buổi tản cư ly tán
trên bước đường lây lất xác người thân
ta gặp nhau trong tàn hoại rất gần
gần hơn cả màu da nước tóc
ta nắm chặt tay nhau, không khóc.
ta gặp nhau
từ độ người tù trưởng cuối cùng tử trận
những đứa bé mình không chăn
bụng đói
mắt hoẵng tơ mắc bẫy
ngơ ngác nhìn cha lìa bỏ núi
giữa Ðường Mòn Nước Mắt
cha quỳ trên hai đầu gối
đất khô cằn đau chấn động bờ môi
mỏi mệt bảo rằng
trái tim đang buồn và nhức
mặt trời giữa đỉnh đầu
thề mãi mãi không bao giờ tham gia cuộc chiến.
mưa nặng hạt
mây sập mấy tầng vần vũ
ta im lặng.
ngươi mỉm cười nhắn nhủ
hãy trọn hưởng thanh bình
ngày đến thăm bộ tộc
nhưng hãy để hoà bình lại trước khi đi
và dù tang thương hãy để lại tấm lòng
vằng vặc sáng như trăng đầu núi
tiếng rền ấm cơn mưa
xối xả tắm sạch trần gian
hằng vạn cây rừng vươn lên trăm thước
đón mưa rơi
triệu lá vàng xanh ngửa mặt chiếu rạng ngời
đâu đây
nhịp trống đập dập dồn thiên cổ
mang mang đập nhịp tim trái đất
suối đồi chuyển rung theo từng hơi thở
người anh em
da đỏ hào hùng
sống mãi cho đến ngày gặp nhau
trao mầm sống thoát thai từ nỗi chết
nhiệm vụ hoàn thành giữa phút linh thiêng
trăng biêng biếc cùng trời hồng
hiện sau đám mây đỏ sẫm,
xuyên xói,
phập phồng,
sau cơn bão dội
ngươi im lặng ngắm nhìn thật lâu
rồi thong dong quay bước
bỏ lại sau lưng đuôi gió bồi hồi
vũ trụ vần ngang tai như thác đổ
miệng vẫn còn ca vang
bài ca thác trắng
lời không bịn rịn
sau cơn bão
núi rừng vẫn bình yên
sức sống lạnh lùng huyền bí
dinh dưỡng nẩy mầm
chồi non hoa búp
tiết hương thơm chầm chậm, âm thầm.
trời chạng vạng
gió hiu hiu
cuối con đường
chỉ còn những thớt mây tím ngắt
từng bước chân
bỗng trở nên rắn chắc
Nguyễn Xuân Thưởng
KHÔNG CÒN GÌ TẤT CẢ (*)
(Của J.v.O.)
Cơn bão vừa qua đây
Gió cuồng điên cuốn trôi tất cả
Hạnh phúc, khổ đau, buồn vui bất tận
Ký ức hoang tàn
Trơ lại
những hôm nay
Còn gì chăng?
Vài con sói ngóng trăng
hát mòn hơi thở
Giải ngân hà lặng câm
Buông vì sao rụng trắng miền âm u
Còn gì chăng?
Khuôn mặt tình yêu biến dạng
Chẳng buồn điểm trang,
cuộc tình cuối
nhầu nếp nhăn mệt mỏi
Dấu dung nhan dưới lớp tro tàn
Còn gì chăng?
Không còn gì
không còn gì tất cả
Không còn ngày qua, chẳng còn ngày mai
Chỉ còn tôi
đang nhìn tôi quá ơ hờ.
CỏMay
(*) một câu thơ của Nhã Ca
Bến Bờ
Dòng sông
Nước chảy
Chia hai
Nửa xuôi biển cạn
Nửa hoài bến cao
Ðục
Trong
Ai biết thể nào
Làm cho hòa hợp
Kết giao một mầu
Ðời em một chuỗi khổ đau
Ðời tôi một gánh u sầu thê lương
Bởi đâu
Nước lũ lầm đường
Ðem phù sa đỏ như tương nhập dòng
Bến bờ sao giữ
Ðục
Trong
Ðất phèn
Chua mấy
Cũng không đổi mầu
Dâng chi
Cho thủy triều sầu
Ðầy
Vơi
Nước vẫn
Ðỏ ngầu phù sa
Phạm Văn Tiên
PHÔI PHA
Muôn hồng nghìn lục đã phôi pha
Nắng cũ tôi về thăm phố gầy
Anh hồn xơ xác đường cơm áo
Tôi mộng mây trời khóc lá bay
Ðâu ân tình cũ, đâu thần tuợng?
Ðâu những nguồn thơ nguôi nắng trưa
Ðâu lời khuyên nhủ lời chăm sóc
Nâng dắt đời tôi qua bão mưa
Cay đắng đời anh nguời bỏ cuộc
Aó khăn thực tế phủ lên đời
Cho sông vây kín đuờng anh buớc
Cho nát con thuyền chở uớc mơ
Xa nhau cứ ngỡ trong tầm với
Ðối mặt sao tìm nhau cõi sương
Thời gian, vết thuơng đời sâu cứa
Vá víu không lành một chút xưa.
Lillian Nguyen
Hè ơi...
Lớp tan bóng đã xế chiều
Hàng cây im dáng cô liêu sân trường
Nhắc gì ngày tháng thân thương!
Mùa xuân chuẩn bị lên đường dặm xa...
Hè sang khoe ánh náng ngà
Gió đâu chợt nhẹ bay qua giao mùa
Tiếc gì hè ấy duyên xưa?
Áo em màu trắng che mờ lối đi
Ve xưa nức nở thầm thì:
"Người đi rồi cũng có khi nhớ trường"
Tóc ai nhẹ tỏa mùi hương
Lối xưa hàng giậu bên vườn nở hoa
Ong bay bướm nhịp la đà
Vài cô bạn gái như hoa nô đùa
Thế rồi ngày tháng đong đưa
Một thân biền biệt... thương mùa hè sang!
Ở đây cũng có nắng vàng
Ve kêu phượng đỏ râm ran...đâu rồi?
Quên giùm kỷ niệm đi thôi
Mai sau còn biết rằng đời dễ thương
Hè ơi cũng dưới mái trường
Nhớ dòng mực tím nên vương vấn nhiều
Gió chợt lạnh buốt bao nhiêu,
Thương tà áo trắng một chiều đổ mưa...
Cát Bụi Tình Xa
9-Tháng-4, 97
ÐÔI MẮT GIÃ TỪ
Sáng thật sớm buổi lên đường vội vã
Mắt mẹ hiền nhắn nhủ cuộc đi xa
Lòng rưng rưng sợ tiếng nấc khóc oà
Quay nhanh gót lẩn trốn phút từ tạ
Chuyến xe lửa khởi đầu đời xa xứ
Dữ hay lành mẹ lặng lẽ ưu tư
Giữa đêm đen bãi biển sóng sật sừ
Ðôi mắt mẹ bao dung tròn một chữ
Rồi những sóng ầm vang thuyền rất nhỏ
Sóng cuộc đời xứ lạ tiếng âu lo
Con bập bẹ từng bọt trắng vỡ nhòa
Lần hạnh phúc phong thư mẹ về đó
Người ta nói, con mỉm cười, không hiểu
Con nói gì, người biết chẳng bao nhiêu
Thư mẹ ơi! Tội gian dối thật nhiều
Sung sướng lắm đời bên này! Thất thểu.
Những đêm dài lẩm bẩm bài chữ lạ
Ánh mắt nào ve vuốt đời phong ba
Cứu rỗi con cô quạnh, chữ về nhà
Lời vui lắm nhưng lòng con lã chã
Con chợt thấy đôi ngươi trìu mến quá
Chuyện bên này, bên ấy, chuyện thiết tha
Chuyện nát tan, chết chóc, chuyện mù lòa
Vùng đau đớn. Mẹ nhìn, hoa một đóa
Con ôm ấp ánh hiền từ buổi đó
Sưởi hồn con từng chập chuổi đói no
Những lầm than, mẹ đó rộng cánh chờ
Nghìn xa cách chỉ gần trong nhịp thở
Hàn Trân
Tình đầu trót lỡ (15)
Ôi người xưa nay còn đâu....
có biết chăng tơ sầu
vương lòng ai đêm vắng
trắc trở cùng mưa Ngâu....
Nguyễn Quốc Vinh
TRƯƠNG CHI
Trương Chi ơi, chàng hỡi,
Tài hoa chi lắm tiếng tiêu ai
Lầu son dệt tưởng phù hoa giấc,
Tấu khúc duyên thiên bến mộng vàng.
Trương Chi ơi, chàng hỡi,
Trách mà chi những giấc mơ đời,
Tiếng tiêu lòng đâu thay gấm sắc
Chở hư trần ra đến mù khơi
Trương Chi ơi, chàng hỡi,
Sông hiền hòa, cũng đầy thứ tha
Sao chàng trầm vẫn tiếng tiêu hoa
Mồ côi chiếc thuyền nan lẻ bạn,
Trương Chi ơi, chàng hỡi,
Sao chàng không hiểu, những bến đợi
Biết đâu nơi ấy, những Mỵ nương
Yêu tiêu và yêu chàng nghệ sĩ.
Những nhịp lòng tấu bằng những nhịp lòng,
Trên sông chiều loang loáng tiếng tiêu vui.
Ðinh Yên Thảo
VÔ ÐỀ
Tình anh đó - lẽ nào em bỏ ngỏ
Vạn lời yêu - chỉ tim biết mà thôi
Chưa gặp nhau nhưng dạ đã bồi hồi
Anh có biết hồn em tràn ngập nắng?
Thơ anh gởi chứa cả mùa hạ trắng
Ðể đường về em thơ thẩn, ngẩn ngơ
Tự hỏi mình những câu thật vu vơ
Tự trả lời - nhưng chẳng vào đâu cả
Và cứ thế thời gian qua vội vã
Em vẫn cùng anh chung một con đường
Nhưng cả hai đều giấu kín niềm thương
(Em - con gái - nên nhường anh nói trước!)
Lời tỏ tình anh tập hoài không được
(Vì sợ nói ra mộng sẽ không thành?)
Ngồi một mình giữa bóng tối vây quanh
Em khẽ trách sao anh... "khờ" quá đỗi!!!
Cát Nhu
ÐỂ HIỂU TỤC NGỮ CA DAO
Với hơn 6,500 câu tục ngữ và trên 850 bài ca dao ( mỗi bài từ ba, bốn câu trở lên ), đủ cho chúng ta thấy kho tàng văn chương bìnnh dân truyền khẩu của tổ tiên chúng ta phong phú biết dường nào.
Thế nhưng, với chừng ấy vốn liếng đó, chúng ta thấy cụ ÔN NHƯ Nguyễn Văn Ngọc, tác gỉa bộ Tục Ngữ Phong Dao, còn khiêm nhượng xác nhận: "Chúng tôi sưu tập đây, hoặc có chỗ sai lầm hay còn có câu bỏ sót, chửa ghi chép. Chúng tôi dám mong rằng độc gỉa chỉ bảo giúp, để chính đính lại, để bổ cứu vào, cố vun trồng cho cái gốc văn Việt Nam của Tổ Tiên xưa được chắc rễ, bền cây; ngộ sau này nhờ đấy mà mở ngành xanh ngọn, thêm tươi the6m tốt, cóbổ ích chút nào cho bạn thiếu niên ta chăng. "
Và Cụ cũng khẳng định: 'Dù chúng tôi cố công góp nhặt thế nào, cũng còn bỏ sót mất nhiều câu. Nhưng chúng tôi xin quyết nói: không ai dám tự phụ rằng mình đã thâu thái được hết cả những câu tục ngữ, phong dao trong nước."
Qua những nhận xét như vậy, chúng ta thấy người xưa đã quan tâm như thế nào về nền văn chương truyền khẩu này, nó bao la mà hàm chứa những điều bổ ích, nó bình dị mà không dễ gì biết hết, hiểu hết. Nhất là chúng ta, những thế hệ sanh sau đẻ muộn, không có nhiều cơ hội để học hỏi tiếng Mẹ đẻ tới nơi, tới chốn, lại càng bị cái bao la của tục ngữ ca dao vây bủa dữ dội, nhiều lúc không biết đựa vào đâu để biết tường tận một câu tục ngữ, một bài ca dao.
Từ đó, tôi xin nêu lên vài ý kiến riêng tư để có thể hiểu được phần nào trong muồn ngàn câu nói của người xưa một cách gần đúng nhất.
Trước nhất nên đọc những sách biên khảo về tục ngữ ca dao. Chẳng hạn những sách sau đây: Vè miền Nam của Tiền Giang - Hò miền Nam của Lê thị Minh - Câu hát huê tình của Ðinh thái Sơn - Câu hò và xay lúa của Nguyễn công Chánh - Hát và hò góp của Nguyễn công Chánh - Câu hát đối đáp của Nguyễn Bá Thời - Việt nam ca dao toán học của Ðào Trọng Ðủ - Dân tộc tính trong ca dao của Hoa Bằng - Văn chương Bình dân của Thanh Lãng - Ca dao giảng luận của Bẵng Phong - Tục ngữ luợc giải toàn bộ của Văn Hoè - Phong tục miền Nam qua ca dao của Ðào Văn Hội - Hoa đồng cỏ nội của Minh Hương - Tục Ngữ Phong dao của Nguyễn Văn Ngọc. Và còn rất nhiều những sách báo viết về văn chương bình dân cần phải tra cứu lại.
Thêm vào đó, và phần này tôi nghĩ rất quan trọng, đó là kinh nghiệm sống cùng những nơi mà câu ca dao tục ngữ xuất xứ hoặc ít ra cũng phải hoà nhập vào nơi thôn quê với tất cả những phong tục, tập quán, nề nếp sinh hoạt ở đồng quê, cùng tính chất cây cỏ, chim muông, thú vật trời đất mà người xưa đề cập tới qua tục ngữ ca dao.
Nếu thiếu những yếu tố làm nền tảng này, tôi nghĩ rằng chúng ta chỉ hiểu một phần rất nhỏ của ca dao, tục ngữ mà thôi. Và dĩ nhiên, trình độ nhận thức của mỗi người cũng là yếu tố chính yếu, làm cho ca dao sâu sắc hoặc hời hợt, nông cạn. Bên cạnh đó, còn phải có tấm lòng nữa, một tấm lòng yêu đồng quê, yêu ca dao tục ngữ, yêu tiếng Việt.
Dường như, bất cứ sự tìm tòi nào cũng đòi hỏi sự rông lượng, khách quan, đừng cố chấp và nhất là đừng bao giờ tự phụ cho rằng sự hiểu biết của mình là đúng nhất, vì như thế dễ bị đi vào ngõ cụt của vấn đề mà nhất là vấn đề tục ngữ ca dao thì bao la, vô bến vô bờ, trong khi sự hiểu biết của mình chỉ có hạn.
Lương Thư Trung
Một sáng thứ sáu, tháng 6-97
Có Nhớ Tôi Không...
Tuần sau tôi có việc phải đi xa. Thân trai "mười hai bến nước" rày đây mai đó như tôi, chuyện đi xa chẳng có gì là lạ, mà sao giờ đây lòng tôi lại lo lắng khôn nguôi. Tôi lo lắng vì không biết nàng có nhớ tôi không, những buổi tối êm đềm vắng tôi có còn là gì trong lòng nàng, và những đêm thâu, không có tôi lấy ai cho nàng nói chuyện mỗi khi thức giấc. Ôi tôi nhớ tiếng nàng cười trong đêm khuya, hồn nhiên và dễ chịu như tiếng suối reo, thương giọng nàng ậm ừ lúc buồn ngủ hiền như mấy câu thơ Nguyên Sa:
Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm,
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển...
Vâng, tôi rất thèm làm nước biển để thay thế những giọt nước mắt của nàng lúc mưa rơi, thèm làm bàn tay để vuốt ve con mèo còn ngái ngủ, cho dù thật ra lúc nào nàng và tôi cũng cách xa nhau gần nửa vòng trái đất. Bên này là đêm thì bên kia là ban mai, bên đây vàng trăng soi thì bên kia tràn nắng ấm. Hay "trời mùa đông Paris suốt đời làm chia y...", và những cuộc tình chia ly lại luôn luôn là mối tình đẹp nhất?... Những sáng chủ nhật không mây, tôi thườn g tản bộ trên bờ sông Seine, có khi tôi đi đến tận cuối bờ cũng chẳng tìm thấy nàng đâụ Tôi thấy ghét ngày thứ bảy, tôi thấy giận ngày chủ nhật với những cách ngăn vời vợi...
Dạo bến sông Seine vẫn độc hành
Marie cổ độ vẫn làm thinh
Cuối tuần thứ bảy thư không tới
Chủ nhật làm chi khiến bực mình...
Rồi tôi nhớ nàng với thật nhiều bài thơ tình và những lời chối quanh. Nàng không bao giờ chịu nhận đã làm thơ riêng cho tôi, hay chỉ một lần nhớ đến tôi. Có hỏi nàng nhiều lần, nàng cũng chỉ bảo là làm thơ như vậy cho có vần, và bài thơ thì nói chung chung chứ không dính gì tới chuyện nàng quen tôi cầ Thơ nói c hung chung gì sao tôi thấy rõ ràng có câu chuyện của tôi vừa mới kể cho nàng hôm qua, và viết cho có vần gì sao tôi thấy mùi tận mạng, cứ y như là chỉ nói riêng cho mình tôi nghe vậy. Có đem ra vặn nàng bao nhiêu, nàng cũng chỉ trả lời bằng giọng cười suối reo. Rồi tôi lại chịu thua, và thấy chuyện tình của tôi kỳ quặc. Nhưng tôi vẫn muốn làm nước biển mỗi khi nàng sắp làm cá se mình và hoá thành tră ng soi đêm đêm, dõi bước nàng đi trong mặt trời bên ấy.
Vậy mà lần này trước khi đi xa, tôi bỗng cảm thấy rất cần thiết được nghe một lời nhớ của nàng. Tôi muốn hỏi nàng có nhớ tôi không, vì tôi sẽ rất nhớ nàng. Chiều tôi xuống khu Latin rồi qua St Germain des Prés, ghé váo "Les Deux Magots" tìm ly cà phê quen. Tôi bỗng cảm thấy khoảng thời gian trước mặt sao dài vô tận, cái ghế cái bàn vô tri có lẽ cũng chẳng muốn rời xa tôi, th ì có thể nào nàng lại thản nhiên bảo rằng không nhớ? Nhưng xét cho cùng, nàng và tôi có bao giờ thật sự gần nhau đâu mà nay tôi muốn nàng nói lên lời tha thiết? Có chăng là lòng tôi đã vượt qua giông bão xa xôi của không gian để tìm gặp nàng trong viễn mơ và biến nàng trở thành của tôi như "Nga" là của Nguyên Sa...
Tháng sáu, Paris chưa vào đông mà sao trời đã làm chia ly. Tôi muốn hỏi nàng trăm lần là nàng có nhớ tôi không. Và tôi biết rất rõ trăm lần, như khi nàng viết thơ tình chỉ để cho có vần, nàng sẽ trả lời là không...
tường vi
Trần Văn Tông
Tên gã là Trần Văn Tâm, nhưng thiên hạ quen miệng gọi gã là Trần Văn Tông. Tại sao vậy? Có lẽ bạn sẽ tự hỏi. Xin bạn hãy kiên nhẫn theo dõi câu chuyện sau đây, để tìm câu trả lời.
Người đời thường ví rằng: "Người gầy thầy rượu". Trường hợp Tâm thì ngược lại. Gã mang một vóc dáng rất uy nghi, bệ vệ. Muốn biết gã phát tướng cỡ nào, bạn chỉ cần liên tưởng đến các tướng tá của chế độ cũ, với khuôn mặt nung núc và cái bụng như cái trống lúc nào cũng đi trước. Không cần phải người gầy, nhưng gã lại uống bia không thua ai.
Ðịa điểm bọn Tâm hay đóng đô là quán Mây Bốn Phương nằm trên đường Tully thuộc thành phố San Jose. Vào giữa thập niên tám mươi, đây là nơi tụ tập của các anh em binh sĩ Việt Nam cộng hòa. Chủ quán là phi công thứ thiệt, đa số khách nhậu là bạn của chủ quán và họ cũng có một thời phục vụ trong binh chủng không quân. Có lẽ vì vậy mà ông ta đặt tên quán là Mây Bốn Phương. Tuy nhiên, thi thoảng cũng có những cựu quân nhân của các binh chủng khác, như nhảy dù, thủy quân lục chiến, bộ binh, hải quân. Cứ mỗi thứ sáu là họ lại tụ tập ở đây, ăn tục, nói phét, và ôn lại cái quá khứ một thời oanh liệt nay còn đâu. Có nhiều anh, chỉ là hạ sĩ nhất, nhưng khi có bia vào, tự nhiên phong cho mình là sĩ quan. Không khí lúc nào cũng ỏm tỏi cả lên, không khác họp chợ.
Tâm không có thời cầm súng, ngoại trừ vài lần đi gác nhân dân tự vệ ở trong xóm. Cái vai trò mà gã còn nhớ thiên hạ gọi đùa là nhân dân tự dận, lý do là mấy tên gà mờ này không biết xài súng, trong lúc trực, tụi nó táy máy bóp cò, nhiều lần gây ra án mạng. Ðến tuổi đôn quân, dạo mùa hè đỏ lửa 1972, nhìn thấy bạn bè chung quanh gục ngã như sung rụng, làm Tâm cảm thấy rét run. Có đứa mới ngồi nhậu với Tâm tuần trước trước vào Quang Trung, tuần sau nó đã nằm gọn trong tấm áo quan. Có đứa tuần trước đi chơi với người yêu, tuần này còn đang nằm trong bệnh viện Cộng Hòa, chỉ còn một tị! Anh mới ra đi hôm nào, mà hôm nay đã trở về, anh trở về có thể bằng nhiều phương tiện khác nhau, như theo lời nhạc sĩ Phạm Duy, có thể bằng chiếc băng-ca bên trong trực thăng sơn màu tang trắng, hay trong hòm gỗ cài hoa, hay có thể trên đôi nạng gỗ, hay có thể là đại úy cụt chân. Tâm ngao ngán, ngày ngày nghe tiếng kèn đám ma trong xóm, mỗi khi người ta khiêng quan tài tử sĩ về trao trả cho gia đình nạn nhân. Gã còn đang yêu đời. Ði lính, gã biết rõ, nếu không đỏ ngực thì cũng xanh mồ. Thế là Tâm quyết định trốn quân dịch. Cuộc đời của chàng trai khói lửa sau đó êm trôi theo ngày tháng trong ngôi chùa của một làng quê ngoại ô, cho đến ngày miền Nam đổi chủ. Giá mà không bị lính địa phương quân đi săn lùng, không phải trốn chui trốn nhủi trong lu chứa nước đằng sau hiên chùa, thì có thể nói là Tâm hưởng được một cuộc sống thanh bình giữa lúc chiến tranh.
Thế sự đổi thay, ngày hôm nay Tâm ngang nhiên ngồi chung bàn với những người mà đúng ra hồi xưa gã phải chạy mặt. Hơn nữa, Tâm là người được anh em thích nhất trong quán, có lẽ là tại vì trong khi nhậu gã ít nói, mà suy cho cùng, gã biết gì về chuyện lính tráng để nói, cho nên gã lúc nào cũng phải kiên nhẫn ngồi yên để thiên hạ tha hồ tra tấn hai lỗ nhĩ của gã.
Những ngày thứ sáu và cuối tuần, họ tụ tập ở Mây Bốn Phương, nhậu xã láng, trong khi bên ngoài xe cảnh sát xếp hàng dài, đèn xanh đèn đỏ chớp nháy liên hồi, chờ mấy anh Mít tị nạn leo lên xe để họ chộp mang về bót. Họ đậu xe công khai, không cần núp như thường lệ. Thế mà cũng có kẻ bị bắt như chơi. Có bia rượu vào, mấy ông tướng này coi trời bằng vung, xá gì mấy thầy phú lít Mẽo. Có ông muốn khỏi làm phiền cảnh sát, chui thẳng vào xe cảnh sát cho tiện việc.
Riêng Tâm thì khác, gã rất cẩn thận, chưa bao giờ sa lưới cảnh sát. Gã nhậu rất cơ bản, một tiếng đồng hồ trước giờ nhổ neo, gã ngưng uống, chỉ cà phê hay trà nóng cho tỉnh táo. Hôm nào xỉn quá thì gã điện thoại gọi vợ ra đón về hoặc kêu tắc-xi. Hôm nào thấy gã dắt theo người bạn không biết nhậu đến phá mồi tức là hôm đó gã sẵn sàng xã láng. Có hôm quá chén, khuya quá không dám gọi về nhà kêu vợ ra chở về, tắc-xi cũng không có, gã đành phải ngồi đó chơi cái tình lì, đợi cảnh sát đi hết rồi mới ra xe. Dĩ nhiên là chủ quán sẽ theo lời yêu cầu của gã, tắt đèn trong quán đi để cảnh sát tưởng không còn ai trong quán.
Ði đêm có ngày gặp ma. Cho đến một hôm, gã uống đến độ không còn biết trời trăng gì hết, nhưng vẫn ráng đợi cho chiếc xe cảnh sát cuối cùng rời bãi đậu gã mới lảo đảo bước ra xe.
Tâm loay hoay mãi vẫn không mở được cánh cửa xe, mặc dù gã đã thử hết từng chìa một trong chùm chìa khóa. Gã bực mình chửi thề luôn miệng, nhưng nhìn qua nhìn lại, thấy chỉ có mình, gã tắt đài, vì thấy làm vậy không khác nào tự chửi mình. Phải mất đến mười phút sau Tông mới nhận thức ra đây không phải là xe của gã. Gã lại lui cui đi tìm xe. Gã không phải tìm lâu, vì trong bãi đậu chỉ có 2 chiếc xe.
Tâm đề máy, tống ga thật mạnh, con ngựa sắt lồng lên trong giận dữ. Tâm cứ phóng ào về phía trước trong khi mắt mở không ra vì say quá.
RẦM!
Cú va quá mạnh, làm hai bánh sau nhổng lên, và chết máy ngay lập tức. Hên quá lúc đó không có ai trông thấy. Trời cũng đang rạng sáng, gã biết rõ gã phải rời khỏi đây càng sớm càng tốt, không thể nằm yên đây mà phó thác cho số mệnh. Nhưng vào giờ lúc này đầu óc và cơ thể của gã không còn liền một khối nữa, trong cơn mê gã thấy mình chuồn êm, không để lại một vết tích.
Khi trời sáng tỏ thì người ta thấy ở ngay góc đường Tully và Senter một quang cảnh trớ trêu. Chiếc xe hơi mới toanh nằm tênh hênh giữa đường cái, 2 bánh sau chìa ra ngoài mặt lộ, 2 bánh trước leo lên lề, hướng về phía cột đèn. Cây cột đèn bị cong vòng, lấn vô mui xe một khoảng khá sâu. Chung quanh, xe cảnh sát vây kín với đèn đỏ chớp nháy liên hồi. Họ đang lập biên bản, phạt Trần Văn Tâm 2 tội; một tội uống rượu lái xe và một tội phá hoại tài sản công cộng.
Và cái tên Trần Văn Tông đã bám theo gã từ ngày ấy.
Bùi Thanh Liêm
Tháng 6, 1997