vhnt, số 284
1 April 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PN
T h ơ:
1 - Tự hỏi / Mắt sao...................................Ðinh Yên Thảo
2 - Copy..............................................Trương Trọng Hoàng
3 - Thơ cho Mẹ....................................................Cát Nhu
4 - Yêu trong hiện tại.......................................Khải Ðoan
5 - Viên sỏi bên đường.........................Nguyễn Ðăng Tuấn
6 - Trăng mơ......................................................Thảo Vi
7 - Nuối tiếc......................................Thiên Phượng Lynh
8 - Thương kiếp mây trôi...................................Thụy Phong
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Tâm sự ngày xuân của Nguyễn Du.........................Ðông-A
10 - Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc,
Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (kỳ 2)....................Khải Minh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Gửi em cõi an nhiên (tùy bút).......................Nguyễn B.C.
12 - Hoàng hôn...................................................Vũ Trung
13 - Chiến trường xa lắc.....................................Huy Văn
Tuần vừa qua có dịp lái xe băng qua rặng núi cao của miền Trung California nhằm vào mùa hoa "poppy" nở rộ. Những đóa hoa vàng hoa tím mọc gần nhau, át cả màu xanh của cây cỏ trông đẹp kỳ lạ. Và chợt biết ra mùa Xuân đã về. Trên khu vườn VHNT Liên Mạng, hoa vẫn nở đều. Có thêm những nụ hoa mới xuất hiện lần này, Ðinh Yên Thảo với con đường quanh co dõi theo gót ngọc, Khải Ðoan với tình yêu như cỏ hoa, Thảo Vi với vầng trăng lẻ loi, và Thiên Phượng Lynh với một trời hoài bão. Và Huy Văn lần đầu đến với chúng ta, mang theo với anh bãi chiến trường tưởng đã mịt mù xa lắc. Cùng với những cây bút đã từng xuất hiện trên VHNT, những khuôn mặt mới mang đến cho bạn, cho tôi những mảnh tâm tình hoặc cuồng nhiệt đắm say, hoặc êm đềm tha thiết.
Xin cám ơn những nụ hoa của mùa Xuân.
chào thân ái,
PN
(Viết thay PCL một kỳ)
TỰ HỎI
Giữa đường đi, gặp em vừa bẻ quẹo.
Lòng ngập ngừng...
...tự hỏi, thẳng hay theo?
Muốn đi theo, ngại đường theo không thẳng,
Ði thẳng thì...
...nhung nhớ, phải mang theo.
MẮT SAO
Ðưa em lên ngọn đồi cao.
Với tay hái tặng chùm sao trên trời,
Quanh em, ngàn ánh sao rơi,
Lại thêm sao sáng rạng ngời mắt em.
Ðinh Yên Thảo
COPY
Em có đĩa không?
Ðể anh copy tặng em đôi vần thơ
Cái đĩa điện toán vô hồn
Gói lòng anh trong đó
Khắc khoải
Ðợi chờ.
Em có đĩa không?
Ðể anh copy tặng em đôi dòng văn
Cái đĩa khô khan lạnh lùng
Gói trái tim anh
Nóng hổi
Say mê.
Thời đại điện toán
Copy
Dễ như trở bàn tay.
Sao anh chỉ muốn
Copy
Một lần
Chỉ một lần
Cho mình em thôi!
Trương Trọng Hoàng
23/03/97
THƠ CHO MẸ
Bao năm qua con là đứa vô tâm
Vẫn thản nhiên nhln mẹ ra vào bếp núc
Mẹ âu yếm lo cho con từng chút
Thế mà con... dửng dưng đến không ngờ
Ðể hôm nay trong một phút tình cờ
Cô ca sĩ nói về nỗi đau khi mất mẹ
Con thảng thốt nhận ra mình không còn bé
Nhưng vẫn mơ ước suốt đời được mẹ chở che
Cát Nhu
Yêu Trong Hiện Tại
Tặng Như Quý
Quá khứ đã bay xa
Tương lai như chợt biến
Thời gian là ảo vọng
Như khoảng cách hồn ta
Hãy yêu nhiều như thể
Tâm thức của nghìn hoa
Và sẽ không còn nữa
Những đóa sầu riêng ta
KTD
03/26/97
VIÊN SỎI BÊN ÐƯỜNG
vòng theo vũ trụ chuyển mình
vài viên sỏi nhỏ nhớ hình bóng em
viên lăn xuống suối mộng êm
viên lăn vào cõi êm đềm nhớ thương
còn viên sỏi nào em thương
ôm vào ngực ấm chút hương tình nồng
cho viên sỏi nhỏ mơ mòng
giật mình vươn dậy thành chồng của em
Nguyễn Ðăng Tuấn
Trăng Mơ
Trăng tôi trăng chỉ ở trong lòng
Nửa mảnh tình riêng trăng với tôi
Ai nỡ đem trăng tôi đi dấu
Ðể mảnh tình tôi bỗng ngẩn ngơ
Mảnh tình riêng tôi thêm thẩn ngơ
Người ơi trả lại ánh trăng mơ
Ðể đêm trăng sáng , soi mong nhớ
Tự nhủ lòng, thôi! chỉ là mơ
Lòng tôi ơi đây chỉ là mơ
Trăng ai đã có bóng soi rồi
Trăng người soi bóng soi đôi bóng
Trăng tôi lẻ bóng , soi bóng tôi.
Thảo Vi
NUỐI TIẾC
Lê gót phong trần trên đất khách
Tha hương lữ thứ kiếp bèo trôi
Gánh mãi trên vai giăm sách mục
Lỗi thời xưa cũ chẵng ai mua
Ta nhớ ngày xưa cũng một thời
Tung hoành ngang dọc kém chi ai
Bút ta sáng chói như gươm lệnh
Văn ta nóng bỏng tựa mặt trời
Một mớ kho tàng văn học Việt
Hôm nay hậu thế lãng quên rồi
Hỡi ai vốn là người tâm quyết
Cưu mang hoài bảo cấy tình người
Hãy cấy giùm tôi vườn văn học
Một mai xế bóng tàn cơn mộng
Tôi vẫn còn tìm được vần thơ
Xuân đến xuân đi xuân trẻ mãi
Thơ văn trăm tuổi vẫn còn xanh
Có tình có ý không sợ trể
Chỉ sợ không thơ sớm bạc đầu
Nhớ thương,thương nhớ,nhớthương ai
Nhớ chàng thi sĩ râu xanh có đầy.
Thiên Phượng Lynh
Thương Kiếp Mây Trôi
Mây bay tự thuở hoàng kim
Lửng lơ muôn kiếp đi tìm non cao
Nhân gian khéo lắm mộng đào
Cho người tình dệt gởi vào mây trôi
Mơ ngày hạnh phúc lên ngôi
Tình vui như nắng quyện môi thơm nồng
Nhưng mây lắm lúc tan bồng
Giữa trời gió lộng giữa lòng thế nhân
Cho người ngập nỗi sầu dâng
Những khi mây xuống, bâng khuâng xa vờị..
Mây trôi hờ hững trong đời
Bao giờ mới gặp đỉnh trời xanh xaỏ
Ðể người thôi phải lao đao
Tình yêu một bóng hư hao lụn tàn
Mây trôi vạn nẻo lỡ làng
Về qua phố lạ ngỡ ngàng heo may
Có người lỡ bước chân say
Nhìn mây hiu hắt nhạt phai men điều
Thương mây bóng vấp trăm chiều
Nên người còn mãi chịu nhiều đắng cay!
Thụy Phong
(1997)
Tâm sự ngày xuân của Nguyễn Du
Có lẽ từ xưa đến nay mùa xuân luôn luôn là mùa tạo nguồn thi hứng bất tận cho thi nhân. Nhưng có điều dường như trớ trêu và nghịch cảnh, những bài thơ cảm hứng trong mùa xuân thường lại là những bài thơ buồn. Từ cái buồn man mác của Lý Bạch, cái buồn tê tái của Ðỗ Phủ, cái buồn không tịnh của Mãn Giác, cái buồn day dứt của Nguyễn Du... đến những cái buồn muôn hình muôn vẻ của thơ Mới. Mùa xuân thường là lúc con người cảm nhận được sự thay đổi bất tận của thiên nhiên, là lúc con người hướng về chính mình, suy ngẫm những tháng ngày đã qua. Những bài thơ làm trong mùa xuân thường phản ảnh một cách rõ nét và chân thật nhất hoàn cảnh và tâm sự của con người. Sang hèn, vinh nhục, thành bại... gì cũng không dấu nổi ba ngày xuân. Ðặc biệt ở Nguyễn Du, đệ nhất thi nhân của chúng ta, hoàn cảnh và tâm sự của ông càng trở nên sắc nét trong những bài thơ mùa xuân. Có thể nói tâm sự của Nguyễn Du trải dài theo mùa xuân năm tháng của cuộc đời. Trong phạm vi bài viết này người viết không có tham vọng tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du, mà chỉ điểm qua một số bài thơ làm trong mùa xuân của ông.
Quỳnh hải Nguyên tiêu
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên
Y y bất cải cựu thiền quyên
Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc
Vạn lý Quỳnh chân thử dạ viên
Hồng lĩnh vô gia huynh đệ tán
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến
Hải giác thiên nhai tam thập niên
Rằm tháng giêng ở Quỳnh hải
Sân vắng rằm xuân trăng khắp trời
Như xưa không đổi vẻ xinh tươi
Một trời xuân hứng rơi nhà tá
Ngàn dặm Quỳnh chân tỏ dạ thời
Hồng lĩnh không nhà huynh đệ tán
Bạc đầu nhiều hận tháng ngày trôi
Ðường cùng thương cảm trăng còn gặp
Ba chục năm ven biển cuối trời.
(bản dịch của Ðông A)
Bài thơ này Nguyễn Du làm khi ở nhờ quê vợ ở Quỳnh hải trong bước đường "mười năm gió bụi" lưu lạc nơi đất khách quê người của ông. Mùa xuân năm Kỷ dậu (1789), Quang Trung đại phá quân Thanh cũng là mùa xuân gia đình Nguyễn Du tan tác, anh em mỗi người mỗi ngả. Không thể khảo cứu chính xác được bài thơ này làm năm nào, nhưng đoán chừng vào lúc Nguyễn Du trên dưới 30 tuổi vì trong bài thơ có nhắc "tam thập niên". Toàn bài thơ là một nỗi ngậm ngùi buồn rầu vô hạn. Mỗi câu mỗi chữ như nâng nẫng nước mắt. Trăng xuân vẫn đẹp như xưa, nhưng mùa xuân đến với ai đó chứ nào đến với ông, với gia đình của ông. Mùa xuân khi con người ai cũng muốn về cố hương, đoàn tụ với gia đình của mình thì với ông gia đình đâu, anh em đâu để mà về. Nỗi buồn này lại càng cô quạnh khi cả nước còn đang vui say trong hào quang đại thắng Kỷ dậu. Với ông chỉ có vầng trăng đơn côi như cùng cảm thông cho số phận con người.
U cư (I)
Ðào hoa đào diệp lạc phân phân
Môn yểm tà phi nhất viện bần
Trú cửu đốn vong thân thị khách
Niên thâm cảnh giác lão tùy thân
Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân
Lưu lạc bạch đầu thành để sự
Tây phong xuy đáo tiểu ô cân
Ở nơi u tịch (I)
Hoa lá đào rơi rụng tả tơi
Nhà nghèo xiêu vẹo cửa then rời
Trọ lâu quên bẵng làm thân khách
Năm mãi hay ru đến lão thời
Giả vụng quê xa phòng thói tục
Giữ mình đời loạn sợ luôn người
Bạc đầu lưu lạc nào nên việc
Thổi rớt khăn thâm trận gió đoài.
(Bản dịch của Ðông A)
U cư (II)
Thập tải phong trần khứ quốc xa
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch
Hoang trì thủy hạc xuất hà ma
Hành nhân mạc tụng "Ðăng lâu" phú
Cường bán xuân phong tại hải nha.
Ở nơi u tịch (II)
Mười năm gió bụi bỏ quê xa
Ðầu bạc bơ phờ ở trọ nhà
Xế bóng đường dài thưa bạn mới
Một nhà xuân lạnh lắm đau qua
Trăng suông vách nát thằn lằn chạy
Nước cạn ao hoang ếch nhái ra
Ðừng đọc "Ðăng lâu" người viễn xứ
Tuổi xuân quá nửa lạc trời xa.
(Bản dịch của Ðông A)
Hai bài U cư này được Nguyễn Du làm trong thời gian lưu lạc "mười năm gió bụi". Vẫn một âm điệu buồn rầu tê tái. Xuân đấy, nhưng xuân đâu. Trong cả hai bài thơ này chỉ thấy loáng thoáng hình ảnh mùa xuân, còn lại là tiếng thở dài não ruột, nỗi day dứt khôn nguôi về sự nghiệp của tuổi ba mươi. "Tam thập nhi lập", còn gì đau đớn ê chề hơn khi tuổi đã trưởng thành còn phải ăn đậu ở nhờ. Vương Sán thưở xưa lánh nạn ở Kinh châu, nhớ nhà lên lầu làm phú đến tóc bạc da mồi cũng chưa về được quê hương. "Hành nhân mạc tụng "Ðăng lâu" phú!", tiếng kêu thảng thốt ảo não và bất lực vô cùng.
3. Ðối tửu
Phu tọa nhàn song túy nhãn khai
Lạc hoa vô số há thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiêm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kỳ đãn đắc chung triêu túy
Thế sự phù vân chân khả ai.
Ngồi uống rượu
Ngồi xếp bên song chếch choáng say
Hoa rơi tơi tả xuống rêu đầy
Sống, vò không dốc say bầu cạn
Chết, mộ ai còn tưới rượu đây
Xuân đổi khiến oanh rời tổ khác
Năm qua dục tóc bạc đầu rày
Trăm năm mong được say sưa suốt
Thật đáng thương đời tựa đám mây.
(Bản dịch của Ðông A)
Bài thơ này Nguyễn Du làm khi đã trở về quê mình. Sau "mười năm gió bụi" không thành sự, rốt cục cuối cùng ông cũng phải về quê. Có thể vì Ðoàn Nguyễn Tuấn, anh vợ ông, bị triệu vào Phú xuân làm quan nhà vợ không còn ai để có thể nương cậy. Cũng có thể vì ông nhớ quê hương bản quán của mình. Nhưng nếu như ở "mười năm gió bụi", mỗi xuân đến khiến ông thẹn thùng day dứt về sự nghiệp của mình, thì khi ở quê nhà, chuyện anh hùng công danh không còn vật vã ông nữa. Tất cả bàng bạc một màu Trang, Lão về thiên nhiên, về con người.
4. Mộ xuân mạn hứng
Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật,
Phao trịch xuân quang thù khả liên.
Phù thế công danh khan điểu quá,
Nhàn đình tiết tự đãi oanh thiên.
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại,
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền.
Phù lợi vinh danh chung nhất tán,
Hà như cập tảo học thần tiên.
Cảm hứng cuối xuân
Một năm chín chục ngày xuân
Thiều quang phung phí muôn phần tiếc thay
Công danh nhìn tựa chim bay
Ngoài sân thời tiết theo bầy oanh đi
Hữu hình thân chẳng thoát chi
Ngàn năm lo mãi đến khi hết đời
Hão huyền danh lợi tan thôi
Thần tiên theo học kịp thời hẳn hơn.
(Bản dịch của Ðông A)
Âm điệu bài thơ này cũng giống như bài thơ trên. Phải chăng đây là sự yếm thế bất lực của con người trước tự nhiên? Nào có ai cản được xuân đến, xuân đi? Ðọc những bài thơ này người đọc có cảm giác tư tưởng của Nguyễn Du ngả màu Lão giáo. Sự phức tạp này tạo rắc rối khi xác định tư tưởng chủ đạo trong tâm thức của Nguyễn Du. Con người đâu phải là một khối đồng nhất tính thuần nhất. Nào dễ ai đã hiểu được lòng ai. "Bất tri tam bách" phải chăng là vậy?
5. Xuân tiêu lữ thứ
Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần,
Ám lý thiên kinh vật hậu tân.
Trì thảo vị lan thiên lý mộng,
Ðình mai dĩ hoán nhất niên xuân.
Anh hùng tâm sự hoang trì sính,
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần.
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo,
Ðoàn thành thành hạ nhất triêm cân.
Ðêm xuân lữ thứ
Bơ phờ mái tóc dạn phong trần
Kinh sợ ngấm ngầm vật hoán luân
Ngàn dặm chưa tan chằm cỏ mộng
Một năm lại đến gốc mai xuân
Anh hùng nguội lạnh không hoài dạ
Danh lợi khóc cười mãi lụy thân
Người cứ tiêu điều xuân cứ đẹp
Ðoàn thành đứng ngắm lệ đầm khăn.
(Bản dịch của Ðông A)
Bài thơ này được Nguyễn Du viết khi ông lên Lạng sơn đón sứ thần Trung quốc. Ðường hoạn lộ của ông giờ đây đã thông đồng bén giọt, nhưng tâm sự của ông vẫn phảng phất tư tưởng Trang, Lão. Ôi, sao con người dễ đa sầu đa cảm thế? Hơi một tý là mủi lòng, hơi một tý là nước mắt. Thưở hàn vi thì than thân trách phận hàn vi, khi công danh đang lên như diều gặp gió thì trách phận than thân chuyện công danh. Biết đến cõi nào mới cảm thấy vừa lòng? Con người luôn luôn có mâu thuẫn. Sự giằng co giữa làm quan và từ quan còn theo Nguyễn Du cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Chỉ có cái chết mới giải quyết được các mâu thuẫn.
6. Thanh minh ngẫu hứng
Ðông phong trú dạ động Giang thành
Nhân tự bì thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã thốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sanh.
Ngẫu hứng tiết Thanh minh
Gió đông sớm tối lộng Giang thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khoẻ
Trời bên không rượu tiết Thanh minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh.
(Bản dịch của Ðông A)
Bài thơ này ngờ được làm trong thời gian Nguyễn Du ở Quảng bình. Giang thành là thành xứ Quảng. Màu Trang, Lão đã nhạt, nhưng vẫn nỗi buồn quán trọ muôn thưở của ông. Buồn về con người, về hoàn cảnh. Nhưng trong nỗi sầu heo hắt đó đã lóe lên tia chớp tích cực với thế nhân, "mạc giao mao thảo cận giai sanh".
7. Ngẫu thư công quán bích (I)
Triêu san nhất vu phạn
Mộ dục nhất bồn thủy
Bế môn tạ tri giao
Khai song kiến kinh kỷ
Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường
Mỹ nhân du du cách cao tường
Ðỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ
Hồn hề quy lai bi cố hương
Ngẫu đề trên vách công quán (I)
Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một thau nước
Cửa cài giã bạn quen
Song mở nhìn gai góc
Ngoài song gai góc loạn la đà
Người đẹp cách tường vời vợi xa
Một tiếng cuốc kêu xuân đã hết
Hồn ơi, về đi thương quê nhà.
(Bản dịch của Ðông A)
Nguyễn Du làm bài thơ này khi ở Huế. Trong thơ của ông dường như vắng bóng mỹ nhân. Không hẳn vậy, nhưng những người phụ nữ xuất hiện trong thơ ông thường đi kèm theo tiếng khóc ai oán "đau đớn thay phận đàn bà". Nguyễn Du khóc những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh hay khóc cho chính thân phận của mình? Nhưng trong bài thơ này hình ảnh người đẹp đã loáng thoáng như làn sương buổi sớm không kèm theo lời than ai oán. Ðáng tiếc, một tiếng cuốc kêu đã phá tan giấc mộng mỹ nhân này. Nghĩ mà thương mà tội. Nỗi nhớ quê hương có bao giờ khuây khỏa trong lòng người lữ thứ tha hương. Lại một tiếng khóc, tiếng khóc đồng vọng về cố hương. "Hồn hề, quy lai bi cố hương".
8. Ngẫu thư công quán bích (II)
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan
Cách giang dao đối Ngự bình san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Ðào hoa mạc trượng Ðông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan.
Ngẫu đề trên vách công quán (II)
Trước cửa cung vua xuân sắp tàn
Cách sông núi Ngự xếp bình loan
Xuân theo dòng nước trôi đâu tá
Người mắc chân trời lụy chức quan
Rải đất đêm mưa nghe rả rích
Trên giường xuân lạnh quạnh trơ thân
Hoa đào chớ cậy chàng xuân quý
Dì gió hay ghen ở rất gần.
(Bản dịch của Ðông A)
Bài thơ này có lẽ cùng làm trong thời gian như bài thơ trên. Bớt mơ mộng và đã thực tế hơn. Nhưng vẫn buồn man mác vô hạn của thân phận kiếp người. Con người thật yếu ớt và bất lực, chỉ còn biết phó thác cho tự nhiên. Trong vòng lệ hụy của cuộc đời biết ai đã dễ hơn ai.
9. An huy đạo trung
Ðề nha á á loạn lăng thần
Từ bắc Từ nam hiểu sắc phân
Nhất đái tuyết điền thanh giả mạch
Tứ sơn tùng thụ bạch vi vân
Du du hương quốc bát thiên lý
Lục lục công danh nhất phiến trần
Cộng chỉ mai hoa báo tiêu tức
Xuân hà tằng đáo dị hương nhân.
Trên đường An huy
Quạ kêu quàng quạc rạng canh chầy
Nam bắc Từ châu sáng rõ bầy
Tuyết phủ trên đồng xanh sắc lúa
Tùng bao quanh núi trắng màu mây
Mịt mù làng nước ngàn trùng tận
Lận đận công danh cõi bụi đầy
Năm mới báo tin mai hé nở
Tha hương xuân chẳng đến xum vầy.
(Bản dịch của Ðông A)
Nguyễn Du làm bài thơ này khi đang đi sứ ở Trung quốc. Vẫn nỗi nhớ nhà, vẫn nỗi buồn công danh, nhưng khí thơ bớt âu sầu ảo não hơn như khi ở trong nước. Có lẽ thời gian đi sứ lại là thời gian mà tinh thần của ông thư thái thanh thản hơn cả. Chỉ có một nỗi buồn là mùa xuân không đến với ông. Không đến với ông, nhưng cũng không giống như "mười năm gió bụi" xuân đến nhưng không xuân.
10. Tây hà dịch
Thanh thạch kiều tây hạ
Y nhiên tiểu lý lư
Ðạo bàng nhân ngữ tạp
Ốc hậu trúc âm sơ
Hòa bản cung thần thiếu
Xuân liên đãi tuế trừ
Tương phùng vô biệt thoại
Nhất tiếu ý hà như?
Trạm Tây hà
Bờ tây cầu đá xanh
Xóm nhỏ tự nhiên thành
Người rộn tiếng đường cái
Trúc thưa bóng mái tranh
Gốc rơm cơm sớm thổi
Câu đối giao thừa dành
Gặp mặt không chào hỏi
Nhoẻn cười chẳng rõ tình.
(Bản dịch của Ðông A)
Cũng giống như bài thơ trên, hình ảnh mùa xuân cũng chỉ thoáng qua trong bài thơ này. "Xuân hà tằng đáo dị hương nhân" là vậy. Nụ cười của người bản xứ đã khiến ông băn khoăn. Họ cười chi vậy? Cười người lận đận trong cõi đời cát bụi? Không có câu trả lời.
Ðọc mãi thơ Nguyễn Du khó kiếm được một bài thơ vui. Không lẽ cả cuộc đời chỉ toàn nước mắt? Một ánh trăng xuân, một cánh mai hé nở, một tiếng chim oanh... không làm khuây khỏa cõi lòng của một con người? Cuộc đời của Nguyễn Du trải dài qua những biến động mạnh mẽ và phức tạp nhất của lịch sử Việt Nam. Trước những biến động đó số phận con người phỏng đáng là bao. Có lẽ trong những hoàn cảnh đó, những bài thơ buồn lại mang tính tích cực. Buồn với mình, không bằng lòng với mình để vươn tới một chân trời tươi sáng, chân trời của niềm tin yêu và khát vọng.
Ðông A
Phục sinh 97
Chú thích của vhnt: Với tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của mọi người, VHNT đăng bài viết phê bình của Khải Minh hoàn toàn với tính cách phổ biến và mong chỉ làm một diễn đàn để tác giả và độc giả có cơ hội trao đổi những chủ đề liên quan đến văn học, đó là mục đích của VHNT khi đăng loạt bài này của Khải Minh. Ðộc giả có thể đồng ý hoặc không đồng ý với nhận xét phê bình của tác giả Khải Minh về loạt bài góp ý với ba tác giả phê bình về thơ là Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quý Toàn và Thụy Khuê, VHNT sẵn sàng làm trung gian chuyển thư góp ý của bạn đọc đến tác giả KM về bài "góp ý..." này.
(Tiếp theo kỳ 2)
Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (*)
Quyển thứ 3: (Thơ v.v... và v.v...):
Cả quyển này NHQ xoay quanh chuyện "phê bình " mà ông đang lần mò tìm một cách thức luận lý nào đô Theo tôi, NHQ vừa bám vào một chiếc phao giữa biển, phủ nhận cái chết nhưng chưa biết chiếc phao kia đưa mình về đâu nên vẫn còn cái lôi thôi, mâu thuẫn, lẩn quẩn của một sự nhiệt tình nào đó, có thể là ảo sắc lạ của một hòn đảo phê bình văn học. Ngay trong lời nói đầu (đương nhiên là viết rất cẩn thận) NHQ đã dùng hai tiếng " vận động " (tr. xi) như là một khai phá mới để nói về cái sống động tự nhiên của văn hóa loài người. " Vận động " nghe không ổn mấy, nó có mùi chính trị, tuyên truyền, nó có vẻ áp chế văn học phải sống, phải sáng tác theo những " vận động " của những cái gì đó rất độc tài, xấu. Nếu có chọn lựa tôi chọn hai tiếng " sống động " thay vì "vận động" tuy cũ nhưng đỡ ngượng tai hoặc bớtù vẻ cơ khí hơn.
Cái sống động của văn hóa là một thực tại trong lịch sử và trong sinh hoạt hằng ngày của loài người. Bản chất của nó là sống động, là khai phá, là đi tới với những thăng trầm, đúng sai vì thế nó không bao giờ dừng lại hoặc bế tắc. Nó không bao giờ có "hiện tượng tự sát tập thể" (tr. xii) hay những "hiện tượng mùa văn học mất trắng" (tr. xii) như NHQ mâu thuẫn nhận xét. NHQ nêu nên 2 mục tiêu của tác phẩm. Mục tiêu thứ nhất thật không phải của một người phê bình khi ông nói: "một mặt, nó (tác phẩm thơ v.v..., và v.v...) cố phá vỡ những huyền thoại lâu nay vẫn chi phối cách làm thơ của chúng ta, những huyền thoại làm chúng ta nhận diện sai bản chất của thơ và ít nhiều làm tê liệt năng lực sáng tác cũng như cảm thụ của chúng ta".
Nói như vậy là phủ nhận tính sáng tạo, chối bỏ cái bản chất căn bản nhất của văn học. Văn học chân chính không cần vận động và không bao giờ chịu bị chi phối bởi bất cứ "huyền thoại" nào, nhất là trong thơ, thơ chính thơ là thơ không có vết chi phối của ngay cả chính thi sĩ sáng tác ra nó. Mâu thuẫn hơn nữa rải rác trong cả 3 quyển sách, NHQ đã không ngớt lộng ngôn ca tụng những bài thơ hay, những nhà thơ lớn, những thiên tài thời này, thời kia, có nghĩa là từ trước đến nay lúc nào văn học cũng sống động mạnh mẽ, không bao giờ mất trắng, không bao giờ tự sát tập thể bằng chứng như phong trào "Trăm Hoa Ðua Nở" nơi chế độ văn học bị nô lệ theo "vận động " của Cộng Sản.
Trong chương 1, NHQ nói về sự thay đổi về hình thức (thơ Ðường sang Thơ Mới) và nội dung (cái ta, cái tôi, cái tập thể, cái cá nhân v.v..), về cái khủng hoảng của văn học... Những cái này tưởng không cần thiết cho lắm, nó vốn có tự nhiên và tạo thành lịch sử văn vần. NHQ coi thơ như một nghệ thuật của thời gian nhưng theo tôi quan niệm này chỉ áp dụng cho văn (văn xuôi và văn vần). Khí thơ vốn là cái vĩnh cửu nó hiện ra bất chấp toàn diện con người thi sĩ, bất chấp thời gian, không gian, quan niệm trường phái. Cái thể thơ là cái đơn giản, Thể Ðường, thể Lục bát, thể từ, thể khúc, thể thơ Mới v.v.. đều là cứu cánh cho văn vần và chỉ là phương tiện, một chất liệu cho thơ. Nghĩa là có thơ mới sinh ra thể thơ, có thể thơ mới có văn vần. Thơ áp chế, sáng tạo ngôn thể nhạc điệu còn văn vần áp dụng những ngôn thể này.
Chương 2: NHQ nói bài thơ " Con Cóc " là một bài thơ hay và ra sức thuyết phục người đọc theo những nhận xét của ông dọc theo suốt quyển sách. Theo tôi nghĩ bài thơ "giá trị không nhất thiết là bài thơ" hay hoặc ngược lại. Bài thơ Con Cóc chỉ có giá trị vì nó là bài học cho thi sĩ học làm thơ (Thụy Khuê đã phân tích cái dở, chúng ta sẽ đề cập sau này) và cho trẻ con học tiếng việt. Hồi còn trẻ, mỗi lần sinh hoạt hướng đạo, thanh thiếu niên tôi vẫn thích hai trò chơi ghép tiếng để đối đáp, đó là trò chơi "Vân Tiên cõng mẹ":
Vân tiên cõng mẹ chạy ra
Ðụng phải cột nhà cõng mẹ chạy vô
Vân tiên cõng mẹ chạy vô
Ðụng phải cô bồ cõng mẹ chạy ra...
(lần lượt người này đối đáp người khác cho đến khi ai bí không tìm ra vần hoặc lập lại tiếng đã sử dụng thì bị thua)
và trò "thơ Con Cóc ":
Con cóc trong hang
con cóc nhảy ra
con cóc nhảy ra
con cóc ngồi đó
con cóc ngồi đó
con cóc nhảy đi
con cóc nhảy đi
con cóc tìm gì
con cóc tìm gì
con cóc tìm ăn (từ đây phải theo vần)
con cóc tìm ăn
con cóc rớt răng
con cóc rớt răng
con cóc ngậm trăng
con cóc ngậm trăng
con có lăng nhăng
con cóc lăng nhăng
con cóc rớt giếng
(vần "iếng" không đúng với vần "ắng" ) và mọi người đều hô: con cóc con cóc người nói sai sẽ bị loại và người bên cạnh phải ứng đối ngay sau tiếng hô " Con cóc, con cóc " và trò chơi cứ tiếp tục cho đến đủ số người thua ấn định trước để giao một công việc nào đô Trò chơi này đòi hỏi phải có kiến thức và sáng tạo và lanh trí nhiều hơn trò " Vân Tiên cõng mẹ " vì sau ba câu chuẩn bị, kể từ vần sau câu "con cóc nhảy đi " người này có quyền chọn những vần khó để người khác dễ bị bí.
Trở lại vấn đề, NHQ cho bài thơ Con Cóc là " hay " theo tiêu chuẩn thời gian, âm ngữ, dài ngắn.... Thụy Khuê cho là dở vì "cạn ý, nghèo chữ, vắng hình ảnh " (Cấu Trúc Thơ, tr. 69). Những tiêu chuẩn của trên của NHQ và của TK đều áp dụng cho văn vần. Theo tôi bài Con Cóc chỉ là một vài câu văn đơn giản, (không có khí thơ). Thơ không có cái "hay ", cái "dở", cái "hiểu" cái "nói được" mà nó chỉ có cái sống động, cái khí, cái hơi thở của chính nó.
Chương 3: NHQ nói về ý nghĩa của bài thơ với 3 hệ luận: "một là, một bài thơ có thể được diễn dịch (interpret) theo nhiều cách khác nhau; hai là, một cách diễn dịch mới có thể mang lại cho bài thơ một ý nghĩa mới; ba là, ý nghĩa mới có thể làm thay đổi hẳn diện mạo và giá trị của bài thơ " (tr. 56). Ba hệ luận này có thể viết lại gọn hơn như: Từ A suy ra B, từ B suy ra C v.v.. có nghĩa là ý tưởng bài thơ được hay bị chủ quan của độc giả đổi khác đi. Thí dụ như bài Con Cóc, nó hay với NHQ và dở với TK và là mấy câu văn vần có giá trị đối với tôi. Ở chương này NHQ đem tiêu chuẩn thời gian để biện chứng cho sự thay đổi về ý nghĩa thơ. Ðỗ Quý Toàn đã bàn rất kỹ và gọn gàng hơn NHQ về điểm này, chúng ta sẽ có dịp nói tới sau. Ðối với tôi, trước hết thơ là thơ. Nó bất chấp tác giả, độc giả và cái khí của nó bất biến đến vô nghĩa để vô cùng cảm xúc. Một lần nữa cái "ý nghĩa của bài thơ" không bao giờ có, nếu có thì bài đó là văn vần, văn xuôi. Thí dụ như tiếng " đầu " rất vô nghĩa trong câu "Ngỗng lạc đầu mây trắng", chính tôi và chắc chắn phần lớn độc giả không bao giờ hiểu ý nghĩa nó được vì nó là cái khí tinh tuyền, nó xác định thơ là thơ. Nó mới sinh ra và loài người chưa tạo ý niệm nào cho nô Ðơn giản vậy thôi.
Chương 4: NHQ khai triển dài dòng hơn những gì đã nói ở chương 3 nhưng rất mâu thuẫn khi ông viết: "Trong lúc mọi người coi Thơ con cóc như những lời nói thường của ba anh đồ dốt, tôi lại đọc nó như là một bài thơ." (tr. 79).
Câu nói này đầy mâu thuẫn và thiếu đứng đắn. Chương trước NHQ vừa tuyên bố 3 hệ luận ghê gớm, giờ đây ông phủ nhận khi nói chỉ có mình ông biết đọc bài Thơ con cóc như một bài thơ còn " mọi người " đều không biết đọc. Ðó là chuyện nhỏ về mâu thuẫn. Phần còn lại NHQ nói về Ngôn Ngữ và Phê Bình, cả hai đều không ăn nhập gì đến thơ vì từ thơ (trực giác, ẩn giác) chúng ta may ra có ít nhiều cấu trúc ngôn ngữ, từ ngôn ngữ (thỏa thuận văn học) chúng ta có phê bình (lý giải). Ði ngược con đường này xem ra không lý giải được bao nhiêu ngoài những lời lộng ngôn, những tiêu chuẩn " hay ", " dở " tầm thường.
Chương 5: NHQ nhai lại hệ luận " có thể diễn dịch " của thơ với điều kiện " tiền đề thích hợp và thuận lợi " (tr. 97). Với rất nhiều tên tuổi và lý thuyết, NHQ muốn nói rằng độc giả hiểu ý nghĩa của bài thơ theo trình độ và hoàn cảnh của hỗ Hồi con nhỏ xíu xiu tôi đã được dậy hát nghêu ngao một bài đại khái như 5 tiên tri đi coi voi: Ông thứ nhất nắn mũi nói giống cái vòi; ông thứ hai rờ tai, nói, giống cái quạt; Ông thứ ba xoa thân nói giống cái trống kêu làng nước treo ngoài đình; Ông thứ tư rờ chân mới nói lớn như cột nhà; cuối cùng ông thứ năm rờ đuôi nói giống như cái chổi. Rồi 5 ông tiếp tục cãi nhau. Một con voi cụ thể sờ mó được như vậy mà đã biến dạng theo đời sống khác nhau của mỗi người huống chi khi đối với cái trừu tượng vô thể như thơ.
Chương 6, 7, 8 ông tự tóm tắt: "nhà thơ có thể làm thơ từ một cảm hứng, một cảm xúc nào đó và coi bài thơ ấy như là một cách bày tỏ thái độ và kinh nghiệm của mình trước cuộc sống. Tuy nhiên, khi đã hình thành, do các quy ước đặc biệt của ngôn ngữ và thể loại, bài thơ thoát ra khỏi tác giả và hiện thực để trở thành một thế giới ảo. Qua việc đọc, người đọc lại biến thế giới ảo ấy thành một thế giới thực, thành kinh nghiệm của chính hỗ Quan hệ giữa tác giả và người đọc, do đó, là một thứ quan hệ chứa đựng đầy tranh chấp. Khi công nhận tính chất độc lập tương đối của văn bản và khi nỗ lực khắc họa hình ảnh củaz tác giả qua việc diễn dịch văn bản, nhà phê bình đã làm cái công việc Jesus đã nói: "cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar". Nói cách khác, vai trò của nhà phê bình là vai trò của người hòa giải. Hòa giải tác giả và người đọc ". (tr. 149)
Theo tôi, tất cả các qui ước ngôn ngữ và thể loại đều có tác dụng giam cầm và áp chế thơ. Nói về thơ là nói về khí thơ. Thơ tự nó bộc phát và sống động. Nó hiện hữu trong thi sĩ như hơi th Thi sĩ chỉ đóng vai trò trung gian để truyền đạt thơ mà thôi. Nó thường áp chế và phá thể mọi qui ước, thể loại để bảo vệ cái khí thơ tự nhiên của nó.
Nếu nói về Bùi Giáng thì tôi không như NHQ lấy ngôn ngữ làm dữ kiện, đó chỉ là " cách bày tỏ thái độ và kinh nghiệm của ông trước cuộc sống ", chỉ là văn vần, văn xuôi. Ngược lại tôi lấy chính cái mái tóc, cái vẫy tay, cái ánh mắt, cái hơi thở của ông để tìm ra cái khí thơ trong cái vô nghĩa ngôn ngữ tuôn ra qua Bùi Giáng. Thơ không có thái độ, không có kinh nghiệm. Nó là thơ trước khi có mọi vận động. Mọi vận động đều làm tan cái khí thơ và biến thi sĩ thành văn sĩ trong khoảnh khắc. Ðây là một lý do giải thích tình trạng lạm phát những ảo tưởng về thơ qua những tạp niệm, ý thức, văn hóa, kinh nghiệm. Kết quả: 8 năm qua bao nhiêu người viết về thơ, bao nhiêu người in thi phẩm nhưng thơ ở đâu?.
Phần còn lại của quyển sách là những bài " phê bình " gọi là " hòa giải " giữa tác giả và người đọc. ÐQT nói " (phê bình với thơ) không có ích là bao " (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, tr. 146). Theo tôi, vấn đề phê bình thơ không quan trọng. Khí thơ sẽ tạo cảm quan riêng cho mỗi độc giầ
Qua 3 tác phẩm của NHQ, với tôi, ông là một người yêu văn chương hơn yêu chính mình. Cái nhiệt tình và cái băn khoăn tìm kiếm một lý thuyết nào đó đã thể hiện và ám ảnh khắp nơi trong những trang sách ông viết. Nếu gạn lọc những mâu thuẫn, những cái xiên chéo, những cái mò mẫm phí công chắc chắn phải có nơi người muốn khai phá xây dựng một hướng đi, tôi nghĩ NHQ đã đem lại cho mọi người một cái nhìn khá đầy đủ về văn vần. Tôi sẽ nói thêm chi tiết về vấn đề này trong phần so sánh và tổng hợp giữa ba tác giả sau khi góp ý với ÐQT và TK.
Còn tiếp...
Khải Minh
(*) Chú:
- Nguyễn Hưng Quốc ((Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ, 1988; Nghĩ Về Thơ, Văn nghệ, 1989; Thơ, v.v...và v.v..., Văn Nghệ 1996)
- Ðỗ Quí Toàn (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, Thanh Văn, 1992)
- Thụy Khuê (Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ, 1996)
Gởi Em Cõi An Nhiên
1.
Nhiều lần, ra biển, nhớ em. Rảo mắt tìm kiếm nấy con chim biển "dáng hạc sắc lam" năm nào. Chim biển vẫn còn đó, lúc nào cũng mới, không mang một ý nghĩa phù phiếm bên ngoài. Làm sao ta tự giải thoát ra khỏi những ý nghĩa gán ép vào đời sống, để được an nhiên? Cái cõi an nhiên tự tại đó gần vậy mà xa vậy. Sóng dạt vào những ảnh hình cũ, cả thời thơ ấu.
Ðời sống luôn có những dằn vặt không ng Lạ nhỉ. Sao ta không có thể biến thế giới này thành một cõi an nhiên. Ðể gió luôn là gió, sông luôn là sông. Không hơn không kém. Vậy thì cái vô thường chen vào đâu được?
Hãy nhìn trời đất rộng mà thấy cái nhỏ bé của cõi người ta. Thấy cái vô nghĩa từ bản thể ta, cái hư phù của mộng ảo. Vậy mà Nguyễn Du còn hỏi "Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?". Cả một sự vô nghĩa, từ giọt nước mắt cho tới Tố Như, cho tới cái khoảng thời gian 300 năm. Cả cái buồn classic của Ðổ Phủ, "ngưỡng thị hoàng thiên bạch nhật tốc", cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Ôi, nhưng mà khó nhận ra lắm vậy. Ôi, cái lòng muốn thắng của lão ngư ông và bộ xương, sự vô nghĩa của con cá vĩ đại. Cuối cùng, rồi ta sẽ cũng chỉ ngã lên giường, giang tay chết như Chuá chết đóng đinh trên thập giâ
2.
Cái chỗ ngụ thênh thang thiên địa như ta đã đến mà quên đường. Ðâu đó lẫn khuất trong tiềm thức. Như Lưu Nguyễn, Từ Thức quên ngỏ về tiên. Này em, không có cái địa ngục nào rộng và tối cho bằng cái địa ngục của sự thất vọng và cô đơn. Có nhiều lúc tưởng mình ngụp lặn mãi ở cái địa ngục tâm linh do chính mình tạo nên. Chỉ cần một người bạn.
Mà thật ra, ai hiểu được ai? Caí thế giới bí mật của mỗi người đầy cây xanh thì hưởng, đầy cát đá thì chịu, mà đầy khoảng không thì tĩnh mịch thế thôi. Ta thầy mình mong thư em. Nhưng có lão Burton nào dịch Nam Hoa Kinh rằng: "Great understanding is broad and unhurry. Little understanding is cramp and busy".
Câu nói em đáng sợ: càng ngày ta càng cô đơn. Cái cô đơn tự biết rằng không thể thoát. Không thể có một ai giải toả nổi. Ngay cả Bá Nha và Tử Kỳ cũng chỉ cảm thông khi tiếng đàn gảy lên. Thế thôi. Mỗi người mãi là một xứ sở riêng. Saint Exupéry nói: "Thế giới của nước mắt là một vùng đất bí mật". Trang Tử nói quê hương rộng thênh thang mà có kẻ không biết chỗ về. Thì ra vậy, cái mê muội khiến ta không có nơi nương tựa, I don't have a home in any place. Chẳng biết ta là kẻ đã đến, hay kẻ đi lạc nửa đường mà tưởng đã đến nơi?
3.
Nhiều lúc thấy mình cô độc, confused, lost. Lòng đầy tham lam, ích kỷ, giận ghét nặng nề. Bụi bặm đóng đầy như những tầng đất đá trong ngành địa chất khảo cổ của mình. Ðã thế mà bạn bè tri kỷ đâu mất, như ông già Hàn San nọ:
Hỏi sao ta buồn
Ðời như nấm mai
Có ai mà chịu thấu mấy mươi năm
Nhìn tới lui, bạn bè mới cũ mất
Chẳng biết làm gì cho qua tháng năm
Ðem thân xác già dấu sâu vào núi
Cảm thấy mình cần giản dị hơn, tự nhiên hơn, gần gũi đời sống hơn, yêu thiên nhiên hơn. Càng lúc càng thấy cái quan trọng của sinh tồn. Nhìn phía kia, thấy cả những đám đông lấn át cá nhân. Mọi thứ, cần phải đẩy tới sự hiện diện và nguyện vọng của dân mình. Hướng đi mới là dịch, theo dòng sinh mệnh, không lờ đờ nước đứng. Phải thẳng, phải mạnh, phải giản dị, không hoa hoè hoa sói, lãng mạn trời mây. Hay ta muốn nói đến Văn Hoá.
Ta muốn nhìn thấy đời sống rõ hơn, không có lớp võ trang sức đẹp phù phiếm. Không xấu, không đẹp. Cuộc đời không chỉ là giấc mộng lớn, để mình sống hời hợt dửng dưng. Ðời sống chỉ là đời sống. Just life as it is.
nbc
(để nhớ em xưa)
Hoàng Hôn
Hoàng hôn. Giọt nắng cuối cùng vươn mình qua giải mây tím nhạt, le lói bên hàng thông lặng lẽ phía trời xa, thì thầm với những làn khói mảnh mai, lãng đãng giữa ngàn không vắng lặng. Từng con dốc tiếp theo con dốc, con đường thoai thoải uốn mình chạy vào vô tận, khoan thai như tiếng guốc nhịp nhàng. Trời cuối đông nên hơi lạnh còn đọng trên môi má của cô gái cao nguyên, xinh tươi, kín đáo như đóa hồng nhạt màu nở muộn màng trong nắng.
Buổi chiều ở đây dịu dàng như bài thơ vừa viết vội, êm ả như áng mây trời buổi vào thu. Người ta thường dìu nhau trên con đường sỏi, thả hồn theo tiếng xạc xào của lá khô, tiếng vi vu của cơn gió nhỏ ham chơi quên cả lối về giữa rừng vắng. Hoàng hôn ở đây đẹp như vậy cho nên em vẫn thường lang thang mơ mộng bên tôi lúc trời nhạt nắng, nhặt giọt sương lam cài lên tóc rối để rồi bị cảm cả tuần vì lạnh. Có lần tôi đã hỏi em một câu để rồi thương nhớ cả cuộc đời:
- Hình như hôm nay con đường ngắn quá phải không?
Em thật thà đáp:
- Dạ không, chỉ có con đường đó từ chợ đến nhà em thôi, ngày nào em cũng đi cả tiếng mới tới.
- Không phải đâu, anh chưa kịp nói với em một câu thì đã đến nhà rồi. - Tôi nheo mắt nghịch ngợm nói.
- Hồi sớm giờ mình anh nói không mà, anh nói thiếu câu gì chỡ - Em vô tâm hỏi.
Tôi hít mạnh hơi thở đầy lồng ngực rồi đáp:
- Anh định hỏi là anh có thể đi với em cho đến hết cuộc đời không đó!
Em chợt hiểu và ửng hồng đôi má; cuối đầu không nói đi thẳng vào nhấ Con đường về bỗng dể thương lạ cho tôi nghe lòng reo vui suốt chiều hôm ấy và những chiều kế tiếp.
Ðêm cao nguyên thường đến rất sớm. Những đêm trời trong, em thường ngồi ngắm ngàn sao soi mình bên hồ nước phẳng lặng. Có lần em hỏi: "Anh có nghĩ là tên Hoàng Hôn dể thương không?"
- Không, tên em dễ thương hơn.
- Không tin. Em nhăn mặt trả lời.
- Vậy em quên hay sao mà không nói với mẹ đặt tên đó cho em để anh có thể gọi "Hôn Hoàng" mỗi lần nhỡ - Tôi nheo mắt chọc trong khi em vừa đánh vào vai tôi vừa nói: "cho bỏ tật cà rởn nè".
Em hỏi tiếp:
- Nếu như có con, anh thích con trai hay con gái hơn?
- Em thích gì?
- Em đang hỏi anh mà.
- Một trai một gái. Tôi cười cười đáp.
- Không được ăn gian, anh chỉ được chọn một thôi.
- Uhm, con gái. Tôi nheo mắt trả lời.
- Sao lại chọn con gái. Em nhướng mắt hỏi.
- Thì tại em hỏi nên anh trả lời đó mà.
- Lãng nhách, nghỉ chơi anh luôn đi. Em phụng phịu nói.
Biết tính cô bé sắp rơi nước mắt nên tôi vội nói:
- Khoan rơi nước mắt đã, cô bé ơi, anh không biết bơi đâu. Nếu là con gái thì sẽ dễ thương như em vậy, được chưa?
- Em dễ thương hồi nào? Em nhướng mắt hỏi.
Cố tình chọc em nên tôi vờ nói:
- Vậy thì dễ thương như anh, chịu hông?
- Thấy ghét, ai nói anh dễ thương?
- Em chớ ai. Tôi đùa dai.
- Ðừng có ham. - Ngừng một giây em thì thầm: "Em thích con trai hơn, một đứa con trai sẽ như tàng cây lớn che chở cho gia đình."
Em nép vào tôi gần thêm một chút, đôi mắt nhuộm màu sương chiều của giải núi ngoài xa, mênh mông trải dài những đồi thông xanh thẫm.
Rồi những bước chân chợt xa những bước chân. Em ra đi để chẳng bao giờ về nữạ Màu hoàng hôn hình như nhạt phai dần. Chỉ còn có tôi, một mình lang thang phố vắng, thì thầm với em trong những ngày thật xa xưa, lặng nghe tiếng chuông chiều đưa tiển bóng tà dương, ngân nga buồn trên con dốc nhỏ, em vẫn trong tôi bên từng dấu chân kỷ niệm.
Tôi dừng lại tìm điếu thuốc làm bạn giữa đêm đen. Ngày xưa em không sao chịu được mùi khói cay, mỗi lần tôi hút thuốc là em ngoảnh mặt đi nơi khác. Tôi chợt thấy mình dụi tắt điếu thuốc vừa châm; có lẻ đêm nay tôi sẽ không cần nó nữa, tôi đã tìm lại được em sau những tháng ngày dài.
Ðêm Ðà Lạt se sắt cơn gió thoảng, vài giọt mưa cuối đông rơi nhẹ lên mái tóc nhuốm bụi đường xa, khe khẽ như cô gái vừa chớm tuổi ô mai. Hình như đâu đó giữa những con đường dốc đổ em vừa thì thầm gọi, tôi đứng lại lặng nghe lời em trong gió; êm đềm, ngọt ngào, dễ thương chi lạ. Ðôi giọt mưa khuya chợt rơi mềm môi mắt. Tôi thì thầm khẽ gọi: "Hoàng Hôn".
Vũ Trung
Chiến Trường Xa Lắc
Chuyến xe bus bắt đầu đổ đèo. Cô bé hướng dẫn viên du lịch trong chiếc áo dài xanh, tóc cắt ngắn ôm gọn lấy gương mặt ngây thơ, trong sáng. Cô nói tiếng Anh khá trôi chảy: "Quý vị đang đi trên quốc lộ bốn mươi hai và huyện Ðắc một thắng cảnh thiên nhiên với nhiều di tích lịch sử của Buôn Ma Thuột. Không bao lâu nưã chúng ta sẽ tới nhà sàn buôn Tong Yo. Trong chuyến du lịch năm ngày, quý vị sẽ ở trong căn nhà sàn dài ba mươi mét rộng hơm tám mét được xây dựng đúng theo lối kiến trúc cổ của dân tộc M' Nông. Ban ngày qúy vị có thể cưỡi voi băng rừng, vượt suối thăm các buôn sóc xa xôi, ghé buôn Tua nếm chút rượu cần, tạt qua buôn Yang La ăn con cá lóc nướng lá chuối, hoặc thả thuyền độc mộc trên hồ Ðắc ngắm cảnh hoàng hôn. Chiều đến, thay vì dùng bưã ăn tối thịnh soạn với rượu chát đỏ hay rượu mạnh, thì chúng tôi mời quý vị uống chút rượu cần, ăn thịt bò thui với cơm nếp dẻo nấu trong ống tre tươi, một cách nấu cơm đặc biệt của các dân tộc miền núi và thưởng thức nhạc dân gian của dân tộc M' Nông. Tiếng chiêng, tiếng khèn, tiếng trống mộc mạc đơn điệu bên bếp lửa hồng sẽ làm cho tinh thần quý vị thư giãn đi phần nào, quên đi cái ồn ào náo nhiệt của đô thị. Một điều khá quan trọng là quý vị có thể nhìn lại bãi chiến trường mà trước đây khoảng một phần tư thế kỷ, quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong một trận đánh lịch sử đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch."
Cô bé đảo mắt một vòng, hơi ngập ngừng rồi nói tiếp: "Nếu quý vị đã từng tham quan Củ Chi với mục đích tìm lại dấu vết của cuộc chiến ngày xưa thì Củ Chi với những địa đạo nằm sâu trong lòng đất, cong queo, ngoằn ngoèo hàng chục cây số sẽ đáp ứng được phần nào nguyện vọng của quý vị. Trái lại, chiến trường ở đây sẽ là một điều ngạc nhiên cho quý vị, bởi vì quý vị sẽ không còn thấy một chút dấu vết gì của trận đánh kinh hồn năm xưa. Chúng tôi xin đi ngược lại thời gian. Mùa xuân một chín sáu tám, lúc ấy quận Thanh Bình là thị trấn Lam Sơn bây giờ, một quận lỵ tiêu điều, xơ xác do một tiểu đoàn ngụy quân trú đóng được tăng phái bốn khẩu đại pháo một trăm năm mươi lăm ly."
Một bà người Mỹ trong xe buột miệng:
"Một tiểu đoàn có bao nhiêu người?"
"Thưa bà, theo tài liệu học tập một tiểu đoàn ngụy có vào khoảng năm trăm người."
Cô bé ngưng nói ý như chờ đợi, khi thấy mọi người trong xe đều im lặng, cô tiếp tục:
"Trong khuôn khổ chiến dịch "tổng nổi dậy" năm ấy, hai tiểu đoàn chủ lực quân đội nhân dân, một tiểu đoàn pháo phối hợp với du kích địa phương trong một trận đánh oai hùng đã diệt gọn lực lượng đồn trú của ngụy quân ở Lam Sơn. Chiến tích lẫy lừng này đã được báo Quân Ðội Nhân Dân đăng tải đầy đủ. Chúng tôi sẽ hướng dẫn quan khách đến thăm bãi chiến trường ngày xưa, giờ đây là thị trấn Lam Sơn sầm uất, phồn thịnh. Sau hết, chúng tôi thay mặt công ty du lịch tỉnh Ðắc Lắc, kính chúc quý vị năm ngày hạnh phúc trong chuyến du lịch buôn Tong Yo."
Ngồi bên cạnh tôi là một người Mỹ già, râu tóc bờm xờm, gương mặt xương xương khắc khổ, áo quần lôi thôi lếch thếch. Ngần ấy thứ khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh của vài người Mỹ với tấm giấy bìa cứng trên tay "làm việc vì cần thực phẩm", thường hay đứng ở những ngả tư đường đông đúc xe cộ qua lại. Ông ta bất chợt lên tiếng:
"Xin lỗi, ông là người Ðài Loan?"
"Ông đoán coi?"
"Nhật? Ðại Hàn?"
"Không, không phải, tôi là người Việt Nam"
"Ông hiểu cô bé nói gì chứ?"
"Vâng, tôi hiểu. Tôi sống ở Mỹ từ năm bảy lăm cho nên nghe và nói tiếng Mỹ được"
"Tôi hơi lơ đễnh, qua cử chỉ và giọng nói lẽ ra tôi phải hiểu ngay rằng ông đã sống ở Mỹ lâu rồi. Thế ông ở tiểu bang nào?"
"California."
Người Mỹ già mừng rỡ ra mặt:
"Con gái tôi đang sống ở đô"
"Còn ông?"
"Idaho."
Tôi mỉm cười với ông ta:
"Ông có định đem khoai tây sang bán cho dân Việt Nam không?"
Người Mỹ già cười híp cả mắt, lối cười thoải mái dân Mỹ vẫn cười:
"Khoai tây ở đây rẻ như cho, tôi đâu có dại chở củi về rừng."
Không khí bỗng trở nên thân mật, đang sống trên quê hương mình mà tôi có cái cảm giác tha hương ngộ cố tri. Người Mỹ già đưa tay qua ghế ngồi:
"Tôi tên là John, hân hạnh được biết ông."
Tôi hơi lúng túng nhưng vẫn cố gắng pha trò:
"Cánh tay phải của tôi chỉ là cái ống tay áo thôi. Ông có muốn bắt tay với cái ống tay áo không?"
"Xin lỗi, tôi thật vô ý."
"Có gì đâu, tôi là Ðinh, hân hạnh được biết ông. John nè, xưng hô bằng mày, tao được không? Cứ cái điều một thưa ông, hai thưa ngài nghe nó nặng nề, khách sáo quâ"
John vui vẻ:
"Có gì trở ngại đâu."
Tôi nhìn về phía cô hướng dẫn viên du lịch:
"Mày có nhớ cô bé dễ thương kia nói quý vị sẽ không còn thấy một chút dấu vết gì của trận đánh năm xưa không?"
"Nhớ chớ, nhưng chuyện ăn nhậu gì tới mày?"
"Tại sao không? Một cánh tay của tao bỏ lại nơi này. Bây giờ, tao hiện diện nơi đây thì ít ra cũng còn một chút gì đó chứ. Khúc đèo mình vừa đi qua vẫn còn đó, có khác chăng là ngày xưa thuốc khai quang đã làm chết cả một cánh rừng dài hàng vài chục dặm dọc theo hai bên đường. Hồi đó mỗi lần đóng quân ở đỉnh đèo tao lại có cái cảm giác như đang sống ở một tinh cầu xa lạ nào đô Một cọng cỏ cũng không còn, nói chi đến lá cây trong rừng. Màu xanh của lá hoàn toàn biến mất, chỉ còn trơ lại những thân cây khô khốc, khẳng khiu."
John nhìn tôi chậm rải:
"Mày đang nói tới chất độc màu cam?"
"Ðúng."
"Có định kiện chính phủ Mỹ về hành động rải thuốc độc lên quê hương của mày không?"
"Nước Mỹ đã cưu mang, đùm bọc tao hai chục năm rồi. Một bên là cha mẹ ruột, một đằng là cha mẹ nuôi, tao biết thương ai, bỏ ai bây giờ. Hơn nữa Việt Nam mà kiện chính phủ Mỹ chẳng khác gì chuyện con kiến đi kiện củ khoai."
"Con kiến-kiện-củ khoai, mày nói gì vậy?"
"Xin lỗi, tao quên khuấy đi mất mày là người Mỹ."
John quay người định nói điều gì đó với tôi thì giọng cô hướng dẫn viên chợt vang lên cắt đứt câu chuyện giữa tôi và John.
"Kính thưa quý vị, quý vị đang ở Lam Sơn. Nhà sàn buôn Tong Yo hân hạnh đón chào quý vị quan khách."
Buổi sáng, khi mọi người trong đoàn du lịch hãy còn cuộn mình trong những chiếc chăn êm ấm, thơm mùi vải mới và bên ngoài sương mù xuống thật thấp giăng mắc khắp núi đồi, cả một thung lũng mênh mông chìm trong làn sương mỏng, tôi men theo con dốc nhỏ lần lên ngôi biệt điện nằm chơ vơ một mình trên đỉnh đồi. Con đường này ngày xưa được tráng nhựa phẳng phiu giờ đây đã hư hại nặng nề. Mặt đường lỗ chỗ những ổ gà, nhiều nơi chỉ còn trơ lại đất đồ Càng lên cao lòng đường càng thu nhỏ lại bởi đủ thứ loại cỏ dại mọc chen chúc hai bên đường. Tôi đứng trước ngôi biệt điện mà lòng bồi hồi xúc động. Trước mắt tôi một ngôi nhà hoang phế, điêu tàn. Nguyên một mảng tường rêu xanh bám đầy, chới với giữa đống gạch ngói ngổn ngang. Phần sau mái nhà trống rỗng chỉ còn lại những hàng cột xiêu vẹo tựa vào nhau như chống đỡ lấy sự tàn phá của thời gian. Tôi còn lạ gì ngôi biệt điện này. Nếu đứng nơi sân trước của nó, người ta có thể phóng tầm mắt mình đến tận cuối chân trời, quan sát được toàn thể quận Thanh Bình. Trước mặt là hồ Ðắc, bên trái là thị trấn Lam Sơn, xa hơn chút nưã về phía nam là những buôn sóc của người Thượng nằm chênh vênh, im lìm bên sườn núi cạnh những con suối nhỏ lững lơ uốn lượn. Tôi chợt khựng người khi thấy John đứng một mình dưới gốc cây cổ thụ, trong cái im vắng của núi rừng cao nguyên. Ông ta như chết sững trước cái mênh mang trầm lặng của hồ Ðắc. Tôi đoán là John đã chạy bộ buổi sáng như ông ta vẫn thường làm theo thói quen ở Mỹ, bất ngờ lạc đến đây rồi sững sờ trước cái âm u, cô tịch đầy hoang dại của ngôi biệt điện.
Không muốn khuấy động đến riêng tư của người khác, tôi đổi hướng đi vòng ra phía sau. Ðược chừng mươi bước tôi nghe tiếng gọi ơi ới của John đuổi theo. Sau những câu chào hỏi xã giao lỉnh kỉnh, lẩm cẩm; chào buổi sáng, mày khỏe không? John bắt đầu gợi chuyện:
"Chạy bộ phải không?"
"Ừ, thì cũng như mày vậy."
"Lát nữa mày có đi cưỡi voi ghé mấy cái buôn uống rượu cần không?"
"Cưỡi voi thì è è... - bàn tay trái tôi lắc nhẹ theo giọng nói - còn chuyện uống rượu cần thì không có tao rồi. Khi nào về Mỹ mày khui một lon Budweiser rồi giấu trong kệ sách, sau đó chừng dăm, bảy ngày đem ra uống thì chẳng khác gì uống rượu cần."
John nhìn về phía hồ:
"Này Ðịnh, chèo thuyền độc mộc làm một vòng quanh hồ Ðắc cũng thú vị lắm chứ."
Không trả lời John ngay, tôi dẫn ông ta lên sân thượng của ngôi biệt điện:
"Mày có thấy khúc eo của hồ Ðắc không?"
"Tao thấy."
"Chỗ đó đo được đúng hai cây số và chiều dài của hồ hơn mười cây số."
"Sao mày biết?"
"Bản đồ quân sự một phần năm mươi ngàn nói như vậy. Liệu mày chèo thuyền độc mộc mấy ngày mới đi đủ một vòng? John à, nếu muốn cưỡi voi, đi thuyền thì tao tới Thái Lan, Mã Lai hoặc Cam Bốt cũng có vậy, tội gì phải khổ công lặn lội đến đây."
Trên đường về, John không nói với tôi một tiếng nào. Gương mặt ông ta lộ vẻ đăm chiêu, trầm mặc.
Ðêm cuối cùng trong chuyến du lịch, tôi ngồi một mình bên bếp lửa với ly cà phê đen đặc quánh trên tay. Bếp lửa được xây bằng đất theo kiểu của bộ tộc M' Nông, nó chỉ là một lớp đất nền vuông vức, mỗi cạnh khoảng hơn một thước, chiều dày độ một gang tay được đặt ngay chính giữa gian nhấ John lững thững đi về phiá tôi, vừa đi vừa dụi mắt:
"Ngủ không được?"
"Tao mất ngủ mấy đêm rồi. Tao có tật xấu là nằm cong như con tôm, gặp khi nắng quái, trở trời thì lại ngáy như gọi đò sang sông vì mặc cảm đó cho nên khi sống chung đụng như thế này tao có cảm tưởng như đời tư của mình bị dòm ngó."
"Mày bị Mỹ hóa rồi."
"Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Hai thập niên sống trong cái "nồi hầm" tạp chủng, tao đã thay đổi khá nhiều mà không biết. Cám ơn mày đã nhắc tao."
John nhìn tôi ngập ngừng:
"Xin lỗi mày, tao lại dòm ngó đến đời tư của mày. Trên chuyến xe bus vào đây, mày nói là một cánh tay của mày đã để lại nơi này. Mày có cái lối nói chuyện khi thì thiếu đầu, lúc thì hụt đuôi khiến tao cứ như con chuột, một loài chuột chỉ biết có hai chiều không gian, suốt ngày chạy vòng vòng trong chiếc hộp mở nắp."
Tôi đưa ly cà phê đen lên:
"Mày muốn một ly như vậy không?"
"Tại sao không?"
"Gọi nhân viên phục vụ, đòi một ly cà phê phin Việt Nam, đêm còn dài, còn khối thời gian, uống xong ly cà phê mày sẽ hết chạy vòng vòng. Ok?"
"Năm một chín sáu bảy, tao tốt nghiệp trường bộ binh Thủ Ðức, mang cặp lon chuẩn úy mới tinh đến đây nhận đơn vị. Lúc ấy quận Thanh Bình là một quận lỵ nghèo nàn, xơ xác. Cả một cái quận đếm được vài chục nóc nhà tranh vách đất, xiêu vẹo ngả ngiêng. Có lẽ đây là cái quận buồn tẻ nhất của đất nước tao thời bấy giỡ. Quận không đèn, không hàng quán, không xe cộ thậm chí không thấy bóng người lai vãng. Ngày tao đến đây, trời đổ mưa như trút nước. Tao vác túi quân trang đi một mình trong mưa dưới hàng phượng vĩ mà cứ ngỡ là mình sống trong mơ."
John chận lời tôi:
"Hàng phượng vĩ đâu rồi?"
"Ai mà biết, tao chỉ biết được căn nhà sàn mà tao với mày đang nằm đúng ngay vị trí hàng phượng vĩ ngày xưa. John nhìn ra cửa rồi gật đầu, cái lối gật đầu của Mỹ thì khó mà hiểu được.
"Rồi sao nữa?"
"Rồi sao? Tao giữ chức vụ trung đội trưởng trung đội một với hai mươi người lính dưới quyền. Ðại đội của tao có nhiệm vụ chính là tổ chức phòng thủ, bảo vệ cơ quan hành chánh quận. Trên lý thuyết thì quân số của một đại đội là một trăm hai mươi ba người, thế nhưng thực tế thì lại quá eo xèo, có đơn vị nào đầy đủ quân số đâu. Chín chục người khiển dụng là ngon lành lắm rồi. Trong quận còn có thêm một trung đội pháo binh một trăm lẻ năm ly. Ðó là tất cả quân lính cơ hữu của quận."
John hỏi mà như chất vấn tôi:
"Nhiêu đó thôi sao?"
"Chỉ nhiêu đó thôi."
"Mày chắc không?"
Tôi đổ quạu:
"Mày muốn bao nhiêu? Một tiểu đoàn? Nếu mày không muốn nghe tao nói thì thôi."
John khoát tay lia lịa:
"Không, không...Mày cứ tiếp đi."
"Cuộc sống của người lính tiền đồn quả thật là buồn tẻ, hết sửa sang giao thông hào thì lại tu bổ hàng rào phòng thủ, sau đó đi hành quân lục soát vài ngày. Hành quân về lại xây hầm chống pháo kích, lại lau chùi súng ống, lại uống rượu. Hết ngày này qua tháng nọ cứ bấy nhiêu chuyện nhàm chán đó làm hoài, cho đến một hôm... Một giờ sáng ngày mồng một tết, tao bỗng giật mình thức giấc vì những tiếng nổ tưởng như long óc, ù tai. Không biết bao nhiêu là quả đạn tám mươi hai ly, rồi sơn pháo một trăm ba mươi ly thi nhau chụp xuống đồn. Mặt đất rung chuyển dữ dội như có hàng ngàn ngọn núi lửa đồng loạt chuyển mình hoạt động. Tao vơ vội cây carbine M hai, chạy ra giao thông hào, thuộc khu vực trách nhiệm của mình. Chưa đến nơi tao đã nghe tiếng gào của trung úy đại đội trưởng xen lẫn tiếng hô xung phong của địch quân từ xa vọng lại. Dưới ánh hỏa châu vàng chiếu sáng một góc trời, tao kông tin nổi đôi mắt của mình. Ðịch quân đông như kiến cỏ, từng đoàn, từng đoàn chạy băng băng lên sướn đồi. Họ đang cố gắng vượt qua hàng rào kẻm gai phòng thủ số một. Tiếng đạn đại liên ba mươi, carbine M hai rồi AK bốn mươi bảy nổ dòn bốn phiâ Từng xác địch bay bổng lên không rồi nằm vắt vẻo nơi hàng rào kẽm gai. Hết lớp này đến lớp khác, họ như không biếr sợ, cứ nhắm ngay họng súng đại liên mà lăn xả vào."
John ngắt lời tôi:
"Mày có sợ không?"
"Ngay lúc đó thì tao không sợ. Một thằng chuẩn uý ra trường được sáu tháng, biết gì về chiến trường mà sợ. Sau này, thời gian nằm quân y viện, mỗi lần nhớ lại là một lần tao són đái trong quần."
"Mày lại khôi hài rồi."
"Chút đỉnh"
John đưa ngón tay cái lên trời.
"Bao nhiêu giờ giấc trôi qua không một ai biết được. Cấp số đạn cơ hưũ của mọi người đã hết, lính của tao lớp chết, lớp bị thương nằm la liệt dưới giao thông hào, trong khi đó địch quân mỗi lúc mỗi đông hơn, mạnh hơn. Tình thế càng lúc càng nguy ngập cho đến khi hai khẩu pháo một trăm lẻ năm ly trong quận hạ nòng trực xạ thì tao biết số phận của mình đã được định đoạt. Ðối với pháo binh đạn chống biển người chỉ được phép xử dụng trong tình trạng tuyệt vọng. Bấy giờ quân lính hai bên trộn lẫn như xôi đậu. Giữa lúc mạng sống con người như chỉ mành treo chuông ấy thì hai người lính nói như hét vào tai tao: "Chạy theo bọn này về mé sau hồ." "Tụi mày có điên không mà chạy vô bãi mìn?". "Chuẩn úy có muốn chết thì ở lại". Tao biết mé sau quận, chỗ tiếp giáp với hồ Ðắc là một sườn dốc khá cao với một bãi mìn phòng thủ. Ðịch quân không bao giờ tấn công vào mặt này trừ phi họ có ghe hoặc xuồng."
John gật đầu như hiểu rõ:
"Thì ra là vậy."
"Hai người lính kéo tao chạy băng qua bãi mìn dài hàng trăm thước trước khi chạm được mặt nước hồ. Tao mừng rỡ nói: "Bơi qua hồ là thoát." Hai người lính nhìn tao thương hại: "Cánh tay chuẩn uý bị thương làm sao bơi." Tao nhìn xuống, cánh tay mặt của tao đẫm máu tự lúc nào. Một viên đạn xuyên qua bắp tay mà tao hoàn toàn không biết. Hình như khi sự sợ hãi đã lên đến tột cùng thì con người hoàn toàn mất hết tri giác. Một chút tự ái của thằng sĩ quan còn sót lại trong người, tao nói với hai người lính: " Tụi mày bỏ tao ở đây, chạy đi." Hai người lính cúi đầu xầm xì một lúc, cuối cùng họ xé một mảnh vải nơi ống quần buột chặt cánh tay của tao theo cách cột đai chỉ huyết. "Thầy trò sống chết có nhau, bọn tôi sẽ kèm ông bơi qua hồ. Ráng giữ sức, đạp nhẹ hai chân, mọi chuyện có bọn này lo. " Tao nghe tiếng khua nước nhẹ nhàng đều đặn. Từng giọt nước long lanh vỡ vụn dưới ánh hỏa châu vàng. Mắt tao nhòa đi khi nghĩ đến mấy chữ "tình đồng đội". Lần đầu tiên trong đời, giữa đêm trừ tịch, tao thấy muôn vàn ánh sao rơi. Mặt trời vừa ló dạng ở phương đông. Cả một khu rừng hoang liêu tĩnh mịch chập chờn trong sương sớm. Bình minh mà không một tiếng chim kêu. Im lặng đến rợn người, tao nằm bên này hồ nhìn sang, quận Thanh Bình phơi mình trong nắng ấm, khói vẫn còn vươn lên từ những đống tro tàn."
John hỏi tôi:
"Còn đám cố vấn Mỹ thì sao?"
"Mày không đi lính thì làm sao mà hiểu nổi. Hãy tưởng tượng, hàng ngàn trái đạn pháo đủ loại chụp vào diện tích khoảng một cây số vuông, pháo binh một trăm lẻ năm ly trực xạ, sau hết là bom của B năm mươi hai dội xuống với mục đích là san thành bình địa ngọn đồi, thử hỏi còn ai mà sống được. Ba ngày sau, tại quân y viện Ban Mê Thuột người ta cắt đi một cánh tay của tao vì bị nhiễm trùng quá nặng. Cùng lúc ấy tao biết được có bốn người cố vấn Mỹ chết. Tất cả binh sĩ trong đồn thì chưa tìm thêm được một ai ngoài ba đứa tao."
Dường như khuya lắm rồi, núi rừng cao nguyên ngủ say trong hoang lạnh, bếp lửa đã tàn chỉ còn lại những đóm than hồng âm ỉ cháy. Tôi dùng một nhánh cây gom những cục than vương vãi đó đây quanh bếp. John nói với tôi, giọng nói của ông ta nghe trầm trầm, xa vắng:
"Mày tìm gì vậy?"
"Tao kể cho mày nghe rồi."
"Một phần tư thế kỷ đã trôi qua, ngần ấy tháng năm chưa đủ khỏa lấp đau thương, uất hận trong mày hay sao?"
"Với tao, đau thương và tủi nhục là một cái gia tài, tao gìn giữ nó làm của riêng và đem theo cho đến cuối cuộc đời."
"Ðịnh à, tại sao mày không quên quá khứ sống cho tương lai như cô bé hướng dẫn viên du lịch dễ thương kia. Mày không thấy sao? Cô nhắc đến lịch sử với một niềm tin ngời
sáng."
"Khi trận đánh năm xưa xảy ra, cô bé hướng dẫn viên nọ có thể còn nằm trong nôi hoặc chưa ra đời thì làm sao cô hiểu được quyền lực và lịch sử nằm trong tay người chiến thắng."
Một nửa gương mặt của John mờ mờ trong bóng tối, ông ta nói mà đôi mắt như nhìn vào cõi hư không.
"Ðêm đó, lực lượng phòng thủ trong quận ngoài đại đội của mày, một trung đội pháo binh còn có một trung đội cảnh sát dã chiến."
Tôi giật nẩy mình như chạm phải một giòng điện cao thế. Chỉ một phần trăm giây đồng hồ phản hồi, tôi thấy lại trung đội cảnh sát dả chiến năm xưa vẫn thường hay phối hợp với cố vấn Mỹ trong công tác dân sự vụ, đêm ấy họ trấn giữ mặt bắc của quận.
"Mày...mày lạ"
"John"
"Không, tao muốn nói mày lạ."
"Tao là một trong bốn thằng cố vấn."
Tôi lắc đầu:
"Còn sống được sao?"
"Chính tao là thằng gọi pháo đài bay B năm mươi hai từ Utapao tới - ông ta cầm ống tay áo của tôi giật nhẹ - còn một điều tao muốn nói với mày, chừng đó bom B năm mươi hai trút xuống quận Thanh Bình mà tao vẫn còn sống thì mày thắc mắc, băn khoăn làm gì chuyện thị trấn Lam Sơn giờ đây đã hoàn toàn đổi khác."
Huy Văn