vhnt, số 303
10 June 1997
Trong số này:
T h ơ:
1 - Thuyền nhân......................................Nguyễn Lam Ðiền
2 - Nàng thơ..............................................Phạm Văn Tiên
3 - Lục bát tháng sáu..........................................Song Vinh
4 - Mộ khúc / Dạo khúc cho mùa hạ...............................Chinh
5 - Vĩnh Long phố cũ..........................................Hàn Trân
6 - Ai? / Không đề...............................Trương Trọng Hoàng
7 - Trăng quê hương.........................................Mai Phương
8 - Lịch áo trắng.............................................Trầm Tư
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Thưởng thức thơ.........................................Khải Minh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Peanuts' Pigpen..............................................Hoàng-Ân
Thuyền Nhân
Sóng xô đẩy con thuyền mục nát
Chở nặng người, chở nặng ước mơ
Mơ gì đây, không thấy bến bờ
Trời với nước, chỉ trời với nước
Lượn sóng trắng vô tình bạc bẽo
Cứ dập vùi mặc tiếng khóc la
Kiếp lênh đênh, cuộc sống đọa đày
Ôi Chúa hỡi, thương người vô tội
Thương em nhỏ mồm khô khát sữa
Tiếng oe oe, yếu ớt, giọng khan
Ðêm hôm qua, hải tặc bạo tàn
Mẹ em đã chết trên biển vắng
Thương cụ già tóc đầu bạc trắng
Bảy mươi năm giờ phải tha hương
Ði về đâu? Phó thác phận già
Mặc cho biển đẩy đưa, đưa đẩy
Thương em gái tuổi vừa mười bẩy
Mặt bôi đầy dầu nhớt lọ đen
Tránh bàn tay hải tặc dập vùi
Cho trọn kiếp sống đời tỵ nạn
Hỡi người anh tuổi còn trai tráng
Vẫn đứng nhìn về phía Việt Nam
Mắt rưng rưng dòng lệ tuôn tràn
Ðành ôm nhục, xa rời Ðất Mẹ
Màn đêm xuống, tử thần rình rập
Trêu chọc người, tàn nhẫn vô tâm!
Trăng trên cao trăng cũng nghẹn ngào
Ngoảnh mặt tránh cảnh người tuyệt vọng
Gió vẩn thổi, sóng càng dồn dập
Thuyền lênh đênh, thuyền vẫn lênh đênh
Biển mênh mông, lạnh vắng như tờ
Ðâu bờ bến, biết đâu bờ bến.
Nguyễn Lam Ðiền
(Tặng thuyền nhân của Pulau Bidong)
Nàng Thơ
Khép khung cửa điện toán
Ðể nàng thơ ngủ vùi
Trong nhu liệu yên tĩnh
Tiếng đánh máy chữ im
Lời là lời ru ngủ
Ðưa nàng vào cõi mơ
Cõi mộng du huyền ảo
Trốn hiện tại xôn xao
Gọi tên nàng lục bát
Dịu dàng tựa ca dao
Hay thất ngôn bát cú
Khép nép như hoa quì
Yêu nàng thơ năm chữ
Vừa tròn tuổi đôi mươi
Yêu nàng, ta yêu chữ
Yêu ngôn ngữ con người
Phạm Văn Tiên
Lục Bát Tháng Sáu
THÀNH PHỐ
ở đây đời sống ta bà
người đi người đến như là chợ phiên
hôm qua lục đục, sầu lên
hôm nay tươi rói mà quên giận người
MƯA
từ đâu không biết từ đâu
đổ sầm một đống đục ngầu trường yêu
chen nhau thư viện một chiều
gần em tí xíu mà nhiều nhớ nhung
VÔ THƯỜNG
khi không lại thấy xôn xao
cầm ba cuốn sách đi vào đi ra
đi ra lộn ngõ đường xa
đi vào ngơ ngẩn cửa nhà ai đây
NGƯỜI EM "Thorned Bird"
tạ từ quê mẹ bay hoài
bay đau biển bắc bay dài biển nam
bay qua xứ lạ xa xăm
gởi cây gai nhỏ số phần hẩm hiu
KA ZAO
ví dầu bậu muốn bỏ đi
bậu gieo tiếng dữ làm gì mất công
ở đây nói có là không
nói không là có who cares bậu nè
SÁU THÁNG QUA MAU
nửa năm
rồi buồn
khắc khoải
ta được gì bên ngày mãi qua mau
đêm
về sáng ôm niềm đau
biết không em
tình yêu đầu
dấu ái
Song Vinh
Mộ Khúc
Chiều lênh đênh mãi theo đời gió
Tôi còn mơ mộng đuổi chiêm bao
Sương giăng khoác áo mù cho phố
Ai đắp đời tôi những lở, bồi
28/3/97
Dạo Khúc Cho Mùa Hạ
(gửi H/B)
Sài Gòn những buổi chiều rất quen
Sáng rực ánh đèn con dốc phố
Mùa hạ khúc dạo đầu
Khói sương
Tắm mát cuộc tình đi dạo.
Em đánh thức mặt đường bằng đôi dày cao gót
Môi đen trầm lặng thiết tha
Tóc bay màu phượng đỏ
Khơi dậy trong tôi một trời chiều
Lang thang kiếm tìm dạo khúc.
Tôi ngồi quán bên đường
nhìn em ngưỡng mộ
Nổi hứng hát tặng Sài Gòn một bản tình ca.
Sài Gòn, buổi chiều rất quen.
Quen như những cốc rượu trên lầu pagode.
Muà hạ tím.
Tôi đã theo em trên nhiều con dốc
Minijupe khoe đôi chân dài.
Một ngày tặng ai.
Dạo khúc tôi,
những câu thơ mini, gầy, khô
Nào đuổi kịp em trên đường phố
Xanh ngắt lá me xanh ngắt mặt mày
thở dài lao đao theo giọt cà phê hờn tủi.
Khúc dạo đầu,
mãi phong phanh.
Mùa hạ, mệt.
Treo trên phố.
Những mặt trăng mới nhú trời chiều.
Nằm dài ở công viên
Ghế đá, cũ
thả giấc mơ giữa bụi bặm
bập bùng lửa than.
Chiều Sài Gòn thơm mùi bắp nướng.
Bầy én bay quanh nóc nhà thờ
Làm thành dãi lụa trắng thinh không.
Mắt nhìn lên trời cao.
Mùa hạ bay.
Sài gòn, chiều, âm u tiếng còi tàu.
Bến cảng nước đục.
Dạo khúc mùa mưa rào tháng bảy
Nụ hôn dài suốt đa.i lộ tháng tư.
Tôi xin em trở lại dốc lao đao
để tôi còn những câu thơ bất chợt
như những cơn mưa rào Sài Gòn
Rũ sạch bụi hồn tôi.
Một ngày, phiêu hốt, muộn.
Mùa hạ,
sót.
Tháng 7/89
Chinh
Vĩnh Long Phố Cũ
Ai có về Cần Thơ cho nhắn nhủ
Một đôi lời nhớ lắm Vĩnh Long tôi
Khi ghé bến xe đò xưa bến cũ
Nơi đã từng đưa đón mấy cuộc đời
Lê Thái Tổ con đường đi xuống phố
Hàng cà phê thơ nhạc tuổi mộng mơ
Buổi chiến chinh, buổi học trò sách vở
Chuyện tình yêu còn bé buổi giăng tơ
Mái đầu xanh chụm lại ngồi nhung nhớ
Giờ xa xôi, xa lắc có ai ngờ
Ðầu Cầu Lộ dốc bầu tên cặp sách
Ðứng tần ngần chờ đợi xe đạp nhanh
Cô nữ sinh nón nhẹ hồn thanh bạch
Ðể được nhìn dáng dấp hạnh phúc lành
Phan Thanh Giản mênh mang vào chợ tỉnh
Hàng sao già cao lắc tuổi thư sinh
Tuổi mùa xuân nhìn lá, bài thơ vịnh
Báo học trò in lại một chút tình
Khi ngọn gió Bắc sang mùa luýnh quýnh
Chờ mai vàng rụng tóc người xinh xinh
Kia khu chợ người người về mỗi sáng
Nàng học trò bước nhỏ từ An Thành
Ai xôn xáo reo hàng cuộc buôn bán
Người mua tình thờ thẫn mắt long lanh
Một bến đò sông nước về mấy bạn
Tiền giang buồn, nước đục nắng trôi nhanh
Qua khỏi chợ, ngôi trường ngày lớn dậy
Tống Phước Hiệp chiếc cổng nhỏ còn không?
Hàng phượng sầu còn đỏ ngày bãi học?
Ai vẫn còn nhung nhớ, ai lấy chồng?
Ai còn nhớ gian hàng xuân xõa tóc
Bán cho nhau tia mắt cuộc long đong
Ðể khi buổi xuân về, xuân biết khóc
Xưa quá rồi, xưa quá một chút lòng
Ai ghé về phố tôi xin cho hỏi
Từng góc đường nẽo cũ chuyện ngày xưa
Bụi nguyên trinh có chìm trong giấc tối?
Tuổi lang thang ôm ấp mộng sao vừa
Dấu chân xưa còn in hòn đá sỏi
Xứ xa đời quay gót được hay chưa
Khi trở lại bể dâu nào thay đổi
Ðể lạ lùng tìm kiếm chút hương thừa
Hay rất lạ chẳng còn nhìn nhau nữa
Hàn Trân
AI?
Gió chiều nhẹ khiến lòng chạnh nhớ
Nhớ về nhà hay nhớ về ai?
Ký ức vẽ nhạt nhòa trong mắt
Có hoa, cỏ, cây và có ai?
Ðến ngày nao sẽ về phương ấy
Bước chân về chốn xưa tìm ai ?
Khối lòng mỏng manh như cánh bướm
Vật đổi sao dời ai gặp ai?
KHÔNG ÐỀ
Tiếng chim xa hót điệu yêu đương
Con thằn lằn góc nhà tắc lưỡi
Ðám nhện non cần mẫn giăng tơ
Kẻ cô đơn thơ tình trao gửi...
Trương Trọng Hoàng
trăng QUÊ HƯƠNG
Trăng chiếu sáng, khi màn đêm xuống
Giữa trời cao, sao nhắm mắt buông
Lay khe khẽ, lá cành tâm sự
Suối xa nghe, tiếng róc rách buồn
Ðêm buốt giá, ru hồn bên gió
Ngẩng đầu sương, thương nhớ QUỐC GIA
Ai run rẩy, khấn nguyền, tâm niệm
Nhắn theo mây, bóng khép nép mờ
Trăng tà thấp ngang tầm cổ thụ
Mây bao quanh, che ánh sao khuya
suối vẫn rên, lá cành yên nghỉ
Xuyên đêm thâu, màn khói trắng dày
Ai tiếc nuối, đêm dài đăng đẳng
Chỉ cầu mong, trời sáng sương tan
Thương ai vẫn, chết mòn trông mộng
Tản nhân tâm, còn nhớ NƯỚC NHÀ.
MAI PHUONG
95
Lịch Áo Trắng
Lịch Áo Trắng như lòng em trong trắng
Không muộn phiền, chẳng ướt luỵ vấn vương.
Nhìn lịch, đọc thư em, sao hồn anh rung động,
Chợt bàng hoàng bao kỷ niệm xa xăm.
Trầm Tư
Thưởng Thức Thơ
Một bài thơ được cấu trúc bằng thể và khí. Trong phần thể, chúng ta có những cái vô nghĩa của vần điệu. Trong phần khí, cảm quan phát tiết hay siêu nghĩa xuất hiện đây đó. Hai phần thể và khí này tạo sự sống và phát sinh hình tượng thơ nơi mỗi người.
Người thưởng thức thơ là người biết lọc lựa phần khí thơ và nhìn ra những cái vô nghĩa, cái sáo, cái máy móc của ngôn ngữ nhạc. Thí dụ trong thể Lục bát, chúng ta phải biết chỗ nào là khí, tiếng nào là nhạc, từ nào là văn để nhận diện thơ.
Cách thưởng thức thơ này không mới lạ, chúng ta có thể liệt kê một vài trường hợp sau:
1.
Những bài dịch thể thơ Ðường sang thể Việt như Lục bát, song thất. Cách thưởng thức này đã biến đổi hẳn cái cấu trúc ngôn từ nguyên thủy của bài thơ để chuyển cái khí, cái hồn vào chúng ta. Thí dụ như trường hợp Ðoàn Thị Ðiểm chuyển Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn từ Hán sang Nôm, từ cách cấu trúc phóng khoáng sang thể Song Thất Lục Bát. Vấn đề ở đây là khai triển phần khí của thơ.
Tôi nghĩ tác phẩm tiêu biểu văn hóa Việt này đã được chuyển dịch bằng đủ mọi cách, mọi thể nhưng tồn tại được bản của Ðoàn Thị Ðiểm một phần do cái khí của Chinh Phụ Ngâm đủ mạnh để lấp đi mọi gượng ép chắp nối giữa Hán và Nôm. Cái hồn văn chương quan trọng hơn ngôn ngữ văn bản. Thưởng thức thơ là thưởng thức khí thơ. Khí sẽ ép chúng ta thay đổi cấu trúc ngôn ngữ như thêm bớt số t iếng, thay đổi nhạc điệu để thơ sống động theo chúng ta.
2.
Những bài ca dao tục ngữ hay những bản nhạc, đoạn thơ được thay lời, nhại nghĩa.
3.
Những trường hợp thơ phổ nhạc. Người nhạc sĩ thưởng thức thơ theo thanh điệu của hỗ Họ thay đổi văn bản chỗ này, sửa âm sắc chỗ kia để khí thơ thoát ra bằng nhạc.
4.
Những người viết thơ xuôi vì muốn loại bỏ ám ảnh cái vô nghĩa, sáo nhàm của vần điệu.
5.
Cách khai triển khí thơ: để khí thơ tạo hứng văn chương trực tiếp làm sinh sôi ngôn ngữ nhạc điệu cho bài thơ. Ðây là cách thưởng thức phóng khoáng và có vẻ hào hứng nhất. Thí dụ bài "Ngần Xuân" sau:
I.
Ðêm 30 tết
ngạn xuân người quê quán tích xa
thể thơ lòng mẹ tình cha
một vách đêm cuồng tươi ký ức
mắt kẻ nhớ nhà
Xuân trang trải canh trường nương lạc
bóng giao thừa vấy khổ hẹn nhau
lòng cô quạnh
giọt xuân vô thức vọng về đâu?
Hoa nở
cuống thở người kén bướm sang xuân
hồi hương
lỡ lạc kiếp vui buồn
Hồn trần trần Thượng Ðế
xa quê.
II.
Ðêm 30
Lượng xuân người cuồng tươi ký ức
đêm trừ tịch khổ quán mù quê
nhói nhức
mắt kẻ nhớ nhà
lòng mẹ tình cha ngày thơ ấy
đêm 30 trường trường lưu lạc
khách giao thừa
hoa nở
xuân từ tâm nhớ
một chuỗi hình hài
xa quê.
Chúng ta thấy đoạn thứ II chỉ khai triển tù đoạn I. Cách thưởng thức phóng khoáng này sẽ tạo cho khí thơ mọi điều kiện đi vào ngõ ngách của tâm hồn mỗi người.
Khải Minh
Montreal, Canada
PEANUTS' PIGPEN
Nàng nhắm hờ mắt, đặt bút lên trang giấy mầu trắng trinh bạch gọi mời, quyến rũ mầu mực từ đỉnh ngọn bút nhọn mà êm đi, dịu dàng. Ðầu quản bút đĩnh đạc, trang nghiêm lướt đi trên bờ giấy lặng chờ. Giòng mực nghẹn ngào ứa ra đẫm sáng, lóng lánh trong ánh đèn vàng rồi vội vã nhanh khô. Nàng từ tốn đợi cho đầu chỉ tư tưởng khởi thoát...Chúng đến từ đâu nhỉ? Nàng không biết nữa; chỉ biết rằng chúng đến từ sâu lắm trong cõi tâm linh bí hiểm của nàng. Nàng có ngờ rằng ở nơi chốn ấy chính là mối nguồn chung của sáng tạo và nghĩa là sự sống. Mọi sinh linh gặp nhau và hòa quyện nhau thà nh một ở đó... Và khi một cá nhân dùng chính đời sống cá nhân và kinh nghiệm trực tiếp riêng tư của mình để khai phá cho đồng loại một khía cạnh, khuôn mặt độc đáo của nguồn cội uyên nguyên, chún g ta cùng rợn người đón nhận một món quà quý hiếm từ những người bạn đồng hành.
Nàng viết: "Một bông Mai, cánh vàng đã rụng, để lại hột hoa tròn đầy, căng mọng, đen bóng - cội hoa lùn như cội bonsai tí hon, làm dáng cho căn nhà cư xá sơn xanh dương đậm cửa và cửa sổ. Tất cả cửa nẻo luôn đóng kín. Không bao giờ thấy có ai ra, vào. Trẻ con đồn rằng đó là một trong những gia cư bí mật để nghỉ dưỡng sức của một ca sĩ nổi tiếng. Vào cuối tháng ba và tháng tư năm Bảy Mươi Lăm, hoa phượng nở thật sớm, như cảm ứng cùng thời cuộc sôi bỏng của cuộc chiến đã đến điểm một mất một còn. Những bông hoa đỏ rực thắm từng đóa lửa in chát chúa lên nền trời xanh biếc. Rồi từ một ngày nọ, có lần những căn nhà khác trong cư xá khóa niêm phong. Họ đã liều lĩnh tính đường ra đi, như thể lối phá trận đồ bằng xông vào cửa Tử để thoát bở cửa Sinh. Trận Bát Quái Ðồ Vận Mệnh chẳng hay tính toán bằng rủi, may, hay... Ðầu óc con người khó thể vượt qua được lằn ranh giới định mệnh; nhất là khi đã chứng kiến trực tiếp sự vô tình, dửng dưng thật là quá đỗi lạnh lùng của thiên nhiên.
Ðể rồi hai mươi mốt năm sau có người về thăm xóm cũ, có bảo rằng cội Mai vẫn còn đó, làm chứng nhân cho biết bao nhiêu cảnh vật đổi, sao dời!"
oOo
Nàng đặt quản bút xuống trên trang giấy viết dỡ. Ngồi rút một điếu thuốc từ bao, châm hút. Rít một hơi dài, nhả ra từ mũi... Chất nhựa đắng được đốt thành khói, một thói tục quốc tế quá lạ lùng; ăn và uống khói cùng nhựa của lá thuốc. Sự tìm tòi, óc sáng kiến của thủy tổ loài người thật đa đoan! Càng ngày tư tưởng con người mỗi một khúc mắc, phức tạp. Những lý thuyết, chủ nghĩa được trường phái, chế độ này đưa lên, lại nẩy sinh ra cực đối lập với ý thức hệ phải lại nổi lên đạp đổ: tháp Babel đeo mặt nạ ngôn ngữ, mầu da, chủng tộc, niềm tin để con người cứ mù lòa, m úa may, bán buôn nhân phẩm và công lý cho bạo lực và lòng cuồng tín của tập đoàn. Chúa, Phật chắc khóc đã chảy cháy máu mắt gọi ơi, gọi hỡi, nhắc con tìm đường trở lại về. Nhưng bão Vô Minh dấy bụ i che khuất lấp mất cái Tâm trong sáng thường hằng của quá nhiều. Con người khốn nạn chỉ có lý trí làm cho khác biệt với muông thú; bây giờ đánh mất sự nhận thức được biên giới giữa Thiện-Ác, trở thành kẻ thù lợi hại và nguy hiểm nhất của Sự Thật và Sự Sống! Nàng dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn thủy tinh khắc nổi hình đôi hạc, và nhấc bút...
"Trên chiếc chiến hạm Kimbro của Hoa-Kỳ chờ vớt dân tỵ nạn Việt-Nam ngoài hải phận, có một gia đình đem theo được một chậu ớt chỉ thiên. Cả tàu, có đến mấy ngàn người chen chúc đến gần như không có chỗ nằm, đúng như câu tục ngữ "Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm," cứ liên tục kéo đến ngắm cây ớt cho đã nỗi nhớ quê hương vừa khuất lấp. Bỗng có nguồn tin truyền nhau sôi nổi, rằng có một nữ sinh viên, khi nghe qua làn sóng truyền thanh radio cuộc bàn gian chính phủ và đất nước Nam Việt tNam từ Dương Văn Minh cho Việt Cộng, đã khóc nức nở, rồi quấn quanh thân lá cờ vàng ba sọc đỏ, lao xuống biển chết với cờ. Ðặt ra ngoài lý luận đúng, sai thường lệ, người ta thêu dệt dần dà quanh cái chết yêu nước đầy xúc cảm, thật hay tưởng tượng. Có nhiều người còn kể rằng chính họ có đêm đã thấy tận mắt bóng nàng sinh viên bước trong sương muối biển, mặc chiếc áo dài may bằng lá cờ Việt Nam Cộng Hoà vừa cáo chung trên sử đồ thế giới!
Sau mùa Hạ 1975, có rất nhiều những bóng ma như thế ám ảnh những quốc gia hải ngoại, vào những cuộc họp mặt của dân tỵ nạn chính trị Việt Kiều. Ðặt sang một bên vấn đề mỹ thuật, người ta cần chă 't chiu quá khứ để tạo ý nghĩa sống cho một hiện tại mang quá nhiều bất nhẫn! Và như những quả ớt chỉ thiên bé tí hon mà cay xé lưỡi, phồng môi,lúc nào cũng chỉa thẳng lên trời, người ta chỉ có thể tôn thờ điều người ta vẫn hằng tôn thờ. Ðó cũng chỉ là một trong những điều "obvious" hiển nhiên!
Nàng nhìn ra ngoài, ánh bình minh lọc qua màng mây xám đục đã hé ra bàng bạc ở chân trời. Trước đó ba tiếng đồng hồ, trời đã, như tin thời tiết báo động, thình lình đổ ập xuống ngôi nhà nàng mộ t cơn giông lớn. Bây giờ mưa đã tạnh, sấm sét đã im, chỉ còn tiếng những cành cây quật áo lá vào nhau, nghe như một cơn giận dữ bốc đồng không nguyên c Gió luồn vào nhà qua khung cửa kính vỡ làm h ai cánh tay trần nàng mát lạnh. Gạt tàn thuốc dần nhiều những đầu lọc và tro tàn đen, xám trắng; ly cà-phê sữa đã hâm đi hâm lại quá nhiều lần trong microwave oven lại đã nguội mát. Nàng buồn rầu co hai chân lên sát ngực, vòng cánh tay ôm chặt trọn thu người... nghe lẻ loi, cô độc trong đêm vần vũ gió hờn. Nàng nghĩ đến ý chí miệt mài vươn gắng giữa nghi ngại để truyền rao sứ điệp của nhân tình. Tiếng rao gọi, mời như tiếng vọng thất thanh giữa sa mạc, bị gió át, bạt vào trong hư không, mất dấu không hằn in một động tĩnh! Nàng nghĩ đến thi hào Wislawa Szymborska, người đã thắng giải Nobel văn chương 1996 và bài thơ buồn nhất thế kỷ, "Từ Ngữ". Nàng nhắm mắt, hình dung ra cảnh buốt giá của một xứ bốn mùa đá tuyết, và một miền người nơi sự cảm thông chết đứng khó khốn để tìm giòng hòa điệu...
"La Pologue? La Pologue? Isn't it terribly cold there?" She asked, and then sighed with relief. So many countries have been turning up lately that the safest thing to talk about is climate.
"Madame," I want to reply, "my peoplés poets do all their writing in mittens. I don't mean to imply that they never remove them; they do, indeed, if the moon is warm enough. In stanzas composes of raucuous whooping, for only such can drown the windstorms' constant roaring, they glorify the simple lives of our walrus' herders. Our classisists engrave their odes with inky icicles on trampled snowdrifts. The rest, our decadents, bewail their fate with snowflakes instead of tears. He who wishes to drown himse lf must have an ax at hand to cut the ice. Oh, madame, dearest madame."
That's what I mean to saỵ But Íve forgotten the word for walrus in French. And Ím not sure of icicle and ax. "La Pologue? La Pologue? Isn't it terribly cold there?"
"Pas du tout," I answered icilỵ
("Vocabulary", A View with a Grain of Sand)
"La Pologue? La Pologue? Có phải ở đó lạnh lắm không?" bà ta hỏi, và thở ra khoan khoái khi hỏi xong được câu chào mào. Dạo này có quá nhiều quốc gia đội mồ vùng dậy, thành thử điều an toàn nhất để nó i đến là chuyện khí hậu.
"Thưa bà," Tôi muốn trả lời, "thi sĩ của dân chúng xứ sở tôi làm việc mang bao tay len. Tôi không có ý nói rằng họ không bao giờ gỡ chúng ra; Quả tình thật họ có làm việc đó, nếu mặt trăng nóng đủ đô.. Bằng những đoạn thơ hò la khúc khắc khàn khàn, vì chỉ như vậy mớt bạt được tiếng gầm của những trận bão gió luôn cuồng nộ thổi; họ tuyên dương những lối sống giản dị của đám chăn lũ rái cá c ủa chúng tôi. Những "nhà kinh điển" của chúng tôi khắc những bài văn tế ngợi ca của họ với băng nhũ thấm mực lên đám tuyết lạc loài dẫy dụa bị đẩy xóa. Phần còn lại, thành phần "suy đồi" của chú ng tôi khóc than cho thân phận mình với những bông tuyết thay vì nước mắt. Những ai muốn chết chìm phải có được cận tay chiếc búa rựa để chặt thủng lớp băng đâ Ôi, thưa Bà, Bà quý dấu."
Ðó là điều tôi muốn nói. Nhưng tôi đã quên mất biệt chữ rái cá bằng Pháp ng Và tôi không chắc chắn từ nhũ băng và búa rựa.
"La Pologue? La Pologue? Có phải ở đó lạnh lắm không?"
"Pas du tout," Tôi trả lời lạnh băng.
Nàng nhìn xuống những trang giấy viết dở của mình, lòng ngao ngán... Chữ nghĩa vốn là một thói quen từ bé của nàng. Nàng vốn dĩ thông minh, hiếu học, và có thể trở thành một khoa học gia, toán viên, hoặc nhà chế biến, thương gia. Nhưng, chỉ có quản bút và những trang giấy trắng kề cận tầm với. Mãi rồi thì nghịch cảnh đẩy đưa, xúc cảm át lần tâm thức; chữ nghĩa trở thành dụng cụ của bản năng sinh tồn; vừa để giữ cho mình khỏi trở thành người cuồng tâm, loạn trí, vừa để "justify" hiện sinh của nàng với chính mình khi đối diện với những con vật đội lốt người.
Nàng đọc lại những gì mình đã viết, mơ hồ không nắm bắt được sự bình tâm. Dường như để vươn ra khỏi vùng mây u ám của tâm trạng, "Không biết cứ viết ra mãi để làm gì!", nàng giở quyển thơ VIE W WITH A GRAIN OF SAND của Wislawa Szymborska ra, chép xuống một đọan trong bài "Niềm Hạnh Nguyện của Sáng Tạo", mà nàng cảm thấy rất thuần để tiếp nối ý tưởng nàng đã khởi đi.
Why does this written doe bound through these written woods?
For a drink of written water from a spring
whose surface will xerox her muffle?
Why does she lift her head? does she hear something?
Perched on four slim legs borrowed from the truth,
she pricks up her ears beneath my fingertips.
("The Joy of Writing")
Vì sao con nai hư ảnh này dong duổi qua những khu rừng hư ảnh này?
Ðể thấm giọng bằng một ngụm nước từ một con suối
mà bờ mặt sẽ sao bảnh bờ hồng nhung kín đáo của nàng?
Vì sao nàng ngẩng mặt chăm chú; phải chăng nàng nghe được động tĩnh gì?
Bốn chân gầy, vay mượn trên sự thật, cưu mang hiện sinh mình,
Nàng vểnh tai nghe ngóng dưới đầu những ngón tay tôi.
Ai là con nai vàng ngơ ngác, mộng mị đạp vỡ vụn tầng tầng lớp lá vàng của khu rừng lịch sử hư ảnh? Người thi sĩ hay những đối diện của ngườỉ Nhà thi sĩ sáng tạo ra con nai hư ảnh kia, yếu đuối nhưng chịu đựng bền bỉ, từ những quan sát về ai và điều gì "khu rừng hư ảnh" rậm rạp kia hẳn phải dấu che, đậy điệm rất nhiều những bất trắc, nguy hiểm không ngờ; những "pha" gay cấn, hồi hộp, những "xen" kích thích mọi nhục tình căn bản của giống người. Bởi nếu không có "climax" thì không có độc giả, và người nghệ sĩ cũng chẳng có gì để truyền thông. "...vay mượn trên sự thật..." sức mạnh của kẻ yếu hèn bằng vào niềm tin vào sự thật tuyệt đối không mang tên gọi, và Hy-Vọng, trong âm thầm phấn đấu để giữ gìn lẽ phải và đợi chờ ánh sáng công lý, ừ. Phải chăng người nghệ sĩ chân chín h muốn nói rằng con nai trừu tượng kia tìm để lắng nghe sự thật từ kẻ sáng tạo?
They forgot that's what's here isn't life
Other laws, white or black, obtain
The twinkling of an eye will take as long as I say,
and will, if I wish, divine into tiny eternities.
Full of bullets stopped in the mid-flight.
Not a thing will ever happen unless I say so.
Without my blessing, not a leaf will fall
Not a blade of grass will bend beneath that little hoof's full stop.
(Ibid)
Họ quên rằng đây không thuộc ngoài đời
Những luật hành khác, trắng hoặc đen, vượt thoát
Một chớp mắt sẽ khắc giây hay dằng dặc thuộc quyền sáng tạo của ta,
Và sẽ, theo ý muốn của ta, chia thành vô hạn những hằng hà sa số cõi vô tận
đầy những viên đạn ngừng bất động giữa đường bay
Không một điều gì có thể xẩy ra nếu ta không cho phép
Nếu không có ân huệ từ ta, không một chiếc lá sẽ rơi
Không một cọng cỏ rạp mình dưới vó ngựa hèn kém đó giật ngừng bằn bặt.
Nàng thả bút, ngồi lặng người nhìn ra ngoài trời đang dựng sáng. Cành lá quặn mình bất lực theo chiều gió thổi tứ phương tám hướng; như dân dã mọi quê hương trước đột biến của thời cuộc. Nàng n ghĩ đến câu "bút sa gà chết" của các cụ. Ngọn bút múa lên thì "chính nghĩa" mặc áo truyền rao! Máu đã đổ vì bia ghi đá tạc những hô hào hay đả đảo. Nhưng, "cuộc cách mạng này đến, cuộc cách mạng kia đi: sự nghèo khó vẫn tồn tại!" Dù cho chính nghĩa của chế độ nào đang thắng thế, đấu tranh, những người dân ngu bần cùng vẫn oằn lưng lao động, đổ mồ hồi, nước mắt rưới bát cơm! Lão Tử viết lấy chỗ dư bù chỗ thiếu. Nhưng con người là sinh vật duy nhất có thể đi ngược lại lẽ phải tự nhiên của vũ trụ... Như sự bùng phát hỗn độn độc hại của căn bệnh ung thư, con người phát triển nă ng tính dã man, sát máu, cuồng trí của mình, dùng bạo lực để cai trị và tiêu diệt đồng loại cùng tất cả những sinh linh khác!
Từ Karl Marx đặt bút xuống tô nên màu cờ đỏ nhuộm gần nửa quả địa cầu, đến Lenin, Stalin, Mao truyền bá và thực hành lý thuyết làm văn hiến con người đi lùi lại thuở sơ khai! Hitler, Mussolini và chín h sách điên đảo của Marxism biểu hiện tự ái chủng tộc qua dự diệt chủng phi lý của hơn sáu triệu người Do-Thái! Những đế quốc tranh ngôi phủ chùm thế giới đầy máu xương, chấm dứt tạm thời bằng hai quả bom nguyên tử lên đất nước Nhật Bản... Dù thế nào đi nữa, vẫn luôn có những ngọn bút chân chính truyền hơi thở và máu nóng cho ngôn ngữ "underground", làm những Nguyễn Trãi trong đêm âm u mầu cờ tanh hôi: "Nếu không có ân huệ từ ta, không một chiếc lá sẽ rơi, một cọng cỏ rạp mình dưới vó ngựa hèn kém đó giật ngừng bằn bặt."
"Người đàn bà Việt Nam trung lưu mang quốc tịch Hoa Kỳ ngồi im lặng giữa phòng họp cộng đồng Mỹ. Chiếc cổ thanh tao; khuôn mặt thanh tú, đôi mắt dài, to, đen, nổi bật lên nhờ mái tóc mun bới cao; đôi môi tô son đỏ buốt... Tất cả mọi người trong phòng họp đều để ý đến nàng, khuôn mặt lạ chưa bao giờ góp dự ở đó, cũng như sự có mặt hiếm hoi của một công dân dị chủng thiểu số của tỉnh. Ðề tài cuộc thảo luận hôm nay là vấn đề "ban" hay không những quyển sách của Mark Twain trong thư mục của các thư viện trường tỉnh. Khi các vị chủ tọa đoàn đã yên vị, cuộc họp bắt đầu. Phía muốn cấm sác h của cố văn hào nêu lý do Mark Twain là một tên phản quốc; phỉ báng quốc dân; đi ngược lại đường hướng của quốc gia; đầu độc trẻ con bằng ngôn ngữ bần cùng, sống sượng và bất nhã; gieo rắc nghi ngời vào trí óc non nớt, thiếu kinh nghiệm củagiới trẻ bằng những tư tưởng cấp tiến chủ quan về chính sách đối nội và đối ngoại của tổ quốc. (thiếu phụ bỗng nghĩ đến hàng chữ "In God We Trust" in trên tiền tệ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.) Phía đối lập nêu lên Ðiều Một của bản Hiến Pháp Hoa Kỳ: tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận và truyền thông tư tưởng. RẰng thư viện là của công, t huỘc về tất cả mọi người. Sự thật phải được bảo vệ dù là được nhìn nhận, biểu lộ, và trình bày từ khía cạnh nào. Nếu cha mẹ không muốn con mình bị "sa ngã, đầu độc tư tưởng" thì phải bỏ t hì giờ và tâm trí ra hướng dẫn chúng. Hai bên không bên nào chịu nhượng bộ bên nào, đưa đến cảnh to tiếng, náo lọan cả phòng họp. Ðợi cho vị chủ tọa viên lập lại được trật tự trong gian phòng, người đàn bà đứng lên xin được phát biểu ý kiến cá nhân. Với giọng nói hơi run vì cảm xúc, nhưng trầm, trong, và chắc gọn ở từng âm, nàng đoan trang cất tiếng:
"Tôi xin tự giới thiệu với quý vị, tôi là một công dân Hoa Kỳ đã từng là người Việt Nam tỵ nạn. Tôi đã theo dõi rất kỹ cuộc thảo luận của quý vị. Vấn đề này thật ra không quá nan giải để đi đến quyết định như quý vị nghĩ đâu: nếu quý vị đã từng phải là nhân chứng sống của một chế độ độc quyền kiểm duyệt! Một khi một chính phủ có quyền để áp đặt sự chọn lựa về tư tưởng lên người dân, cái tệ nạn kinh khủNg là sự hình thành của cái quái thai chính trị có thể cướp đoạt quyền tự do tư tưởng của người dân đã gần kề! Bổn phận của chính phủ chỉ là để nâng cao dân trí, tạo cơ hội cho người dân đạt được dụng cụ kiến thức, khí giới suy nghiệm để có thể chọn lựa một cách sáng suốt thể chế quốc gia. Chính quyền khi thảo luật không phải chỉ dựa theo ý kiến đám đo ^ng, nay ngả chiều này, mai hướng khác; mà phải bình tâm cân nhắc quyết định dựa trên lẽ phải và công lý! Chữ Tình đặt trên chữ Lý, xin cám ơn quý vị!"
Nàng nhấp ngụm cà phê, châm điếu Marlboro King cuối cùng, bình lặng chép xuống bài thơ "Hai Con Khỉ của Brueghel" làm đoạn kết cho bài viết nhỏ đánh dấu một đêm không ngủ, đón và đưa kỷ niệm 22 năm giã biệt Sài Gòn:
This is what I see in my dreams about final exams:
two monkeys, chained to the floor, sit on the windowsill,
the sky behind them flutters,
the sea is taking its bath.
The exam is History of Mankind
I stammer and hedge.
One monkey stares and listens with mocking disdain,
the other seems to be dreaming away -
but when it's clear I don't know what to say
he prompts me with a gentle
clinging of his chain.
(Brueghel's Two Monkeys, VIEW WITH A GRAIN OF SAND, Wislawa Szymborska)
Tôi đã chiêm bao thấy điều này trong những giấc mộng về những bài thi cuối khóa:
Hai con khỉ, xích trói vào nền nhà, ngồi trên thành cửa sổ,
bầu trời đằng sau chúng rung động,
biển đang tắm gội thân trần.
Ðề tài bài thi là Lịch Sử Nhân Loài.
Tôi lúng túng, lắp bắp, chống đở.
Một con khỉ trơ mắt nhìn, nghe với sự dửng dưng đầy mỉa mai,
chú kia có vẻ đang mơ mộng xa xăm -
nhưng khi tình cảnh đã rõ rệt rằng tôi không biết phải nói gì
chú ra dấu cho tôi bằng động tác dịu dàng
rung nhịp khẽ sợi xích buộc chằng của chú.)
Hoàng Ân
Texas, Hoa Kỳ 30/4/1997