vhnt, số 261
SỐ ĐẶC BIỆT
10 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Có Phải ........................................................Ý Liên
2 - Cánh Gẫy ...........................................................PCL
3 - Nắng Trắng ....................................................Cỏ May
4 - Ðịnh Mệnh .................................................Tường Vi
5 - Ðôi Ðường ................................................Diễm Âu
6 - Hoa Vàng Mấy Ðộ ..........................................Thu Hồng
7 - Lạc ..........................................Trương Nguyễn Thi Thanh
8 - Mai Anh Ði Rồi ........................................Christina Trần
9 - Anh Hỡi Anh Yêu ............................................Thùy Trang
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
10 - Cấu trúc thơ ..............................................Khải Minh
Ð i ể m S á c h / Ð i ể m P h i m
11. Ðiểm Sách (tt) ..................................................NTD
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
12 - Giấc Mơ Ngày Thơ ..............................................BCCB
13 - Người Ðập Dù Lên Ðầu Tôi .................Fernando Sorantino (Phạm Chi Lan dịch)
Cùng bạn đọc thân mến,
VHNT lần này xin gửi đến bạn những sáng tác của các cây bút nữ, từ những cây bút nữ quen thuộc đến những sáng tác đầu tay.
Người đọc thường đánh giá tác phẩm hay tác giả qua nội dung của ấn bản. Ðiều chúng tôi thường nghĩ đến là làm sao để đưa VHNT xa hơn thế nữa. Không chỉ ở nội dung của mỗi số VHNT được gửi ra, mà là những điều được thể hiện qua mỗi số đó.
Với tâm tình đó, bạn đọc hãy đến với những đóng góp đầu tay trong VHNT bằng lòng cảm thông cùng những tâm hồn còn yêu thương ngôn ngữ Việt Nam, yêu thương câu thơ, lời văn, tiếng nhạc. Và nhất là lòng yêu thương nghệ thuật.
Chúng tôi tin đây sẽ là một bằt đầu tốt. Và hơn thế nữa, chúng ta cùng tin và chờ mong những sáng tác khác, ngày một thăng tiến, từ những tài năng mới đó.
Bây giờ là tháng Giêng, tháng Giêng cỏ biếc trong thơ Ý Liên. Trong số này, mời bạn đi với một Phạm Chi Lan đến tận cùng khằc khoải. Bay cùng một Diễm Âu đã chọn chỉ xoãi cánh hồn thơ trên vùng trời quê hương. Ðứng với Cỏ May cho "trắng một mùa khai tâm" tắm nắng. Theo Tường Vi đến một lần tao ngộ thiên thu. Nghe BCCB gióng tiếng chuông vang đến vô thường. Trầm mặc cùng Thu Hồng về một mùa xuân quá khứ. Lạc bước với Thi Thanh vào khép kín con tim... Cám ơn, cám ơn đã các bạn đáp lời đóng góp bài vở cho số VHNT này.
Và bây giờ mời bạn bước vào khu vườn bách hoa của VHNT.
thân ái,
BBT/vhnt
Có Phải
Có phải tháng giêng mà cỏ biếc
hay em vừa mới khóc đêm qua
đêm qua trời rụng mưa trần thế
sáng lại vườn xuân có nhạt nhòa
Có phải tháng giêng mà nắng tươi
hay em vừa mới hé môi cười
sầu xưa xa lắc trong mùa mới
cho búp đời non nở đóa vui
Có phải tháng giêng mà nhớ thương
hay em áo mới đẹp vô thường
hôm qua gió lại đầu hiên nhớ
và chở đi xa những cánh phiền
Có phải tháng giêng mà bao dung
hay em hồn mới rộng vô cùng
mở ra một khoảng trời xanh ngát
ngàn cánh chim về bay thong dong
Ý Liên
Cánh Gẫy
Ở bìa rừng gió lên sửa soạn
một cuộc lễ truy điệu tình yêu
người ở rất xa ngoài nỗi nhớ
nỗi buồn này không suy chuyển y nguyên
Tim người rực lửa đốt cháy
ta thiêu thân lao vào đám lửa
thiêu rụi tan tành rơi xuống xác
đôi cánh hôn mê và trái tim
hóa ngọc biếc ngời
Thiên thần sứ giả tình yêu gẫy cánh
rơi xuống ngoài trăng đứng một mình
rã rời tàn cuộc cất tiếng hét
vỡ thinh không và kinh động quạnh hiu
Người thấy không dòng máu tuôn như lệ
có bàn tay nào cất dấu kỹ
giữ dòng máu chảy và lệ đổ vào sông sóng vỡ
hóa giải tình yêu rửa tội một lần...
Thú tội với trời đất yêu mê dại
lúc tỉnh lúc say chuyện tình lạ kỳ
Có một linh hồn ướt đẫm
lửa cháy, rụi thân tơi tả dĩ vãng
tan nát khói, lửa âm ỉ vẫn mê man
Cháy một lần hãy cháy
như chưa từng đã yêu .
Phạm Chi Lan
Nắng Trắng
Tôi về một mùa đông
Bình minh nào tuyết xuống
Có mặt trời hôn mê
Treo chơi đầu ngọn gió
Vài cuộc tình vông vang
Tôi về một mùa đông
Nắng không vàng
nắng trắng
Trắng vỡ chùm hoa cau
Trắng thơm mùi hoa bưởi
Trắng ngọt ngào môi hôn
Nắng ơi nắng
Trắng làm chi trắng quá
Trắng môi hồng
Trắng cả
tuyệt-vọng-tôi
Tôi về một mùa đông
Rước cuộc tình mỏng mảnh
Vào giáo đường, tim tôi
Cuộc tình mang màu nắng
Trắng một mùa khai tâm
Tôi về một mùa đông
Thả cuộc tình theo gió
Con sáo nào sang sông
Chiếc lồng còn bỡ ngỡ
Nhớ câu ru chiều chiều
Tôi chờ ngọn gió đông
Cuốn đi vùng ký ức
Nắng bây chừ màu trăng
Ơi nắng
Trắng làm chi trắng quá?
CỏMay
Tháng giêng '97
Ðịnh Mệnh
Giây phút ấy phải chăng là định mệnh
Nên một người về phố nhớ một người
Chiều mênh mang phơn phớt áng mây trời
Lòng xao xuyến, hẳn đêm nay mộng mị
Ai xui khiến nên duyên tình tri kỷ
Cho đêm nay Tư Mã nhớ Văn Quân
Hoàng hạc lâu mơ tà áo giai nhân
Ðàn khoan nhặt khúc phượng hoàng xuân mộng
Trăng chênh chếch, đêm xuyến xao lồng lộng
Gửi theo trăng bên ấy một trời thơ
Biết ngày mai rồi có kẻ mong chờ
Lòng không đợi nhưng tránh sao định mệnh
Anh cứ đến nhưng xin anh đừng hẹn
Vì tình mình có hẹn cũng là không
Gặp một lần cũng đủ phút chờ mong
Ngày mai sẽ không ai là lỗi hẹn
Anh không hẹn nhưng khi nào anh đến
Ngân dùm em hồi chuông cũ ngày xưa
Thời ngây thơ, mây trong mắt đơn sơ
Trời hoa mộng, anh cùng em giữ lấy
Ngày bên nhau không dài, ừ, ngắn vậy
Cách xa rồi, thôi thế cũng là xong
Còn dư hương, còn lại nụ tình hồng
Em đem ép vào thiên thu là nhớ
Gặp một lần rồi gặp thêm lần nữa
Có thể nào định mệnh chẳng rời xa
Thì xin anh viết tiếp chữ đậm đà
Mai xa cách, chỉ tình yêu còn lại ...
tường vi
Đôi Đường
Hiền sĩ tìm hạnh phúc
Nơi đồi núi hoang sơ
Ngắm hoa trời đua nở
Ngát cả một rừng mơ
Nên hiền sĩ cần gì tôi kể lể
Về nỗi lòng của một kẻ xa quê
Thương nhớ mãi một mảnh trời thơ ấu
Mái hiên nhà bên khóm trúc úa màu
Hiền sĩ vui với gió
Ngồi độc ẩm dưới trăng
Nhớ làm chi thêm khổ
Hãy lãng quên bụi trần
Tôi cũng yêu lắm vầng trăng mười sáu
Cũng thiết tha vài chúm gió mong manh
Nhưng tôi muốn nơi quê nhà yêu dấu
Trăng của tôi cũng được sáng an lành
Hiền sĩ tìm yên tĩnh
Mong thoát cuộc phù sinh
Ðã xem đời như bụi
Thì luyến chi chút tình
Nên hiền sĩ nào nghe ra tiếng khóc
Ðồng vọng lên từ vực thẳm âm u
Nghìn tiếng khóc là nghìn cơn bão lốc
Cuốn hồn tôi vào một chốn sa mù
Tôi thấy quanh mình cảnh đời tan tác
Bầu trời quê tôi đen sạm não nùng
Giòng dị sử nào diễn ra trước mắt
Ðàn bé thơ nào chết giữa tối tăm
Tôi cũng muốn đi tìm nguồn hạnh phúc
Sống hồn nhiên giữa cây lá tươi hồng
Nhưng có lẽ nghiệp đời tôi chưa dứt
Nên vai trần còn trĩu nợ núi sông
Một sáng kia, khi mặt trời vừa thức giấc
Tôi sẽ quay trở về mong dựng lại phương Ðông
...
Hiền sĩ hãy nghĩ tôi vô cùng hạnh phúc
Diễm Âu
Hoa Vàng Mấy Ðộ
(cho ngày đầu năm)
Bên này ngọn gió đông
Lạnh từng cơn buốt giá
Vi vu tiếng rừng thông
Tuyết rơi nhiều vội vã
Bước chân hiền in dấu
Hoa trắng buồn bay bay
Cành khô con chim đậu
Dấu mỏ đứng u hoài
Bên kia bờ đại dương
Xuân về ngang rồi đó
Chợt lòng chút sầu vương
Nhớ hoa vàng dạo nọ
Ngày xuân đi lễ chùa
Thơm hương mùi áo mới
Gót giầy vui lua khua
Nhẹ nhàng chân bối rối
Mười sáu tuối mộng mơ
Thích hoa vàng cài tóc
Dịu dàng mãnh lụa tơ
Lên chùa xa hái lộc
Ðường hoa vàng đua nở
Vàng ối trước sân chùa
Tiếng cầu kinh nho nhỏ
- Nam mô A di đà.
Nhớ hoa vàng mấy độ
Ðường cũ còn hoa xưa?
Nhớ lời kinh cứu khổ
Lời thơ nói sao vừa
Thu-Hồng
Lạc
Kể từ lúc
tôi xa thành phố nọ
Nhịp tim buồn
nên trốn bỏ trần gian
Lẩn thẩn hoài
trong bóng tối vây quanh
Ðêm u uất
kêu tên người
dáo dác
Kẻ ra đi chợt biết mình
đi lạc
Tim yếu mềm
rung động những bâng quơ
Tôi nơi đây
vẫn thao thức từng giờ
Nghe nhịp thở
trong tim
còn đi lạc
Trương-Ng~ Thi Thanh
Mai Anh Ði Rồi...
tặng BC của HP
mai Anh đi rồi
buồn không hở nhỏ
miệng cứ nói không
mà sao mắt đỏ
em như chim nhỏ
lạc loài bên hiên
ngày Anh xa vắng
bơ vơ muộn phiền
muốn cười hồn nhiên
mà sao lệ ứa
bao giờ Anh về
biết còn gặp nữa
bao năm hương lửa
còn phút giây thôi
hôn nhau lần cuối
mai Anh đi rồi...
tn
Anh Hỡi Anh Yêu!!!
Anh hỡi anh yêu chỉ một lần
Xin đừng hờn giận lúc mưa giăng
Ðừng xa em nhé, anh yêu nhỉ
Cho mắt em buồn chết mộng si
Anh hỡi anh yêu xin nhớ rằng
Em mãi đợi chờ dẫu cách ngăn
Vẫn yêu tha thiết dù mộng ảo
Tình mãi thắm nồng chẳng như sao
Anh hỡi anh yêu chớ quên lời
Ngày xưa anh nói chỉ em thôi
Ðừng mê trăng gió rồi quên nhé
Vương má em sầu, khổ người ơi
Anh hỡi anh yêu cũng một thời
Bên nhau tình đắm mộng đẹp đôi
Ðừng quên, đừng dối tình em đó
Em sẽ hận đời chết mà thôi !!!
ThuyTrang
Cấu Trúc Thơ
(Nguyên tắc, hình thức, nội dung, kỹ thuật)
Khi thi vị tiềm tàng tác động thi sĩ, họ sẽ sáng tạo và kết hợp mọi cấu trúc truyền thông để tạo thơ. Những cấu trúc truyền thông này có thể là ngôn ngữ, âm nhạc, ảnh tượng, ký hiệu, cách trình bày và nhiều khi cả đến thân thể và cách sống nữa. Người đọc đi vào thơ qua con đường cấu trúc sẽ không còn thụ động như trong văn vần, văn xuôi vì loại này chú trong vào diễn tả, giải nghĩa những khung cảnh thực tế nhiều hơn.
NGUYÊN TẮC:
Thơ phải khác văn (văn vần, văn xuôi). Thơ độc đáo do nội tâm của thi sĩ phản ảnh một ngoại cảnh nào đó. Văn hay hoặc dở là nhờ cách diễn tả một thực tế.
1. Về ngữ, nhạc:
Lấy số tiếng được phát âm bình thư ờng trong một hơi thể làm tiêu chuẩn trường độ. Nghĩa là trung bình một ý tưởng được nói trong khoảng từ 4 đến 8 tiếng. Ðiều này áp dụng cho cả thơ và văn vần.
Trong khoảng 4 đến 8 tiếng này, cấu trúc nào có nhạc ngữ càng linh động, uyển chuyển (âm tiết Bằng Trắc, cách ngắt tiếng trong mỗi vế v.v..) thì cảnh và ý càng dễ cấu trúc và thơ càng có cơ hội phát tiết.
Ngoài khoảng 4 đến 8 tiếng này, những vế ngắn hơn chỉ để tiếp ý, phụ nhạc cho một vế khác chứ ít khi nó đứng độc lập, tự trọn vẹn về tình, cảnh, nhạc được. Những vế dài hơn, ngược lại, dùng để diễn những tình ý phức tạp và thiên về triết luận hơn tình cảm.. Nếu dùng ký hiệu (hình trái tim, bông hoa hồng, chim bồ câu, nét chữ, thủ bút, mầu mực...) thì phải hòa hợp giữa ý thiên nhiên mặc khải tiềm thức và nghiệm thúc riêng trong một sứ điệp ẩn tàng nào đó.
2. Về Cảnh sắc:
Trong văn vần ngoại cảnh được miêu tả theo thực tế. Trong thơ, cảnh được cấu tạo theo tiềm thức. Vì vậy cảnh trong thơ đòi hỏi một sự thuần nhất giữa chi tiết và toàn thể. Thí dụ hoa mai, hoa đào là chi tiết cho mùa xuân. Nếu thi vị là xuân thì không thể biểu hiệu bằng hoa cúc, hoa thược dược của mùa thu mặc dù hoa nào trên đây cũng là hoa. Ða số những bài thơ nhảm đi ngược hoặc không để ý đến nguyên tắc này.
3. Về tình ý:
Văn vần chú trọng vào cách biểu lộ tình ý có sẵn, (cười, khóc, vui sầu), không nhất thiết phải độc nhất mà ai cố gắng làm cũng đạt. Thơ lo sáng tạo cái sầu mới, cái vui lạ, cái độc nhất. Cấu trúc tình ý này dù là nguyên ý (cổ điển, tả chân), khai triển (lãng mạn), cô đọng (hiện sinh), chồng ghép (lập thể), đan dệt (tổng hợp)... cũng phải thuần nhất như trong cảnh sắc và phải trong thế giới cảm xúc của con người. Thí dụ 'ôi tình đen như bông tuyết', ví mầu đen với bông, với tuyết như vậy thì quá nhảm vì quá mâu thuẫn. Hoặc 'em, mái tóc âm dương thi đường ái tinh địa tình' lấy tóc ghép với âm-dương đã quá xa tim óc nhân loại, với thơ Ðường lại càng không tưởng, với tinh cầu nào tên là ái thì lẩm cẩm, với đất tình yêu nào đó thì hoặc điên, hoặc không phải cảm xúc con người nữa. Người mạo danh thi sĩ thường có hai loại: loại viết văn vần và loại viết văn nhảm. Cả hai loại đều có thể xuất khẩu thành thơ nhảm vì thơ đối với họ qúa dễ, hoặc viết như nói con cóc trong hang, con cóc ngồi độ, hoặc viết như bịa ôi tình mây lửa dĩa bay ngang trời mộ địa hóa thơ... Thật sự thi sĩ không quan trọng hóa việc xếp đặt tình ý, cốt yếu họ chỉ tìm ra và diễn cho trọn vẹn những gì nội tâm phản ảnh với thế giới ngoại cảnh.
HÌNH THỨC:
Thơ không gò bó vào bất cứ hình thức nào nhưng nó đã mượn ngôn ngữ để diễn tả thi vị thì cũng có thể mượn tất cả các thể văn để cấu trúc thơ. Như vậy trong văn vần, chúng ta phải sử dụng nhuần nhuyễn luật Bằng Trắc, cách gieo vần, luật lệ đối, mỹ từ pháp... của mỗi loại để từ đó biến chuyển và kết hợp lập cấu trúc thơ. Những thí dụ trong phần Hình Thức này sẽ pha trộn văn vần nhiều hơn thơ để cho đơn giản và dễ hiểu. Những thí dụ này đều tầm thường về cảnh và ý nhưng có thể phức tạp trong cấu trúc với những tiếng ghép (xao xuyến, bâng khuâng, nhung nh) là những tiếng tượng trưng nét độc đáo của tiếng Việt. Chúng ta sẽ thấy những tiếng ghép làm khó dễ thơ ra sao.
1. Loại có từ 2 đến 4 tiếng:
Trong văn vần chúng thường được dùng trong những bài hát trẻ em, những bài đồng dao (vì hơi thể còn ngắn) hoặc trong những bài sớ Táo Quân: kể lể, dễ làm, dễ tả những gì mắt thấy tai nghe. Trong thơ, chúng thường qúa ngắn cho một hơi thở và quá ít tiếng cho một cấu trúc. Hơn nữa chúng có thể nằm gọn trong những vế 5, 6, 7, 8 tiếng. Nếu đặt một tiếng ghép vào loại này vào mọi chỗ dành cho cảnh, ý đều thu hẹp lại hoặc biến mất. Thí dụ:
Thu
xao xuyến
bâng khuâng
nhung nhớ
tình sao ngại ngần
Hoặc 3 tiếng:
Thu xao xuyến
nhớ bâng khuâng
tình chín úa
sao ngại ngần
Hoặc 4 tiếng:
Thu xao xuyến mộng
bâng khuâng bâng khuâng
nhớ nhung tình tự
đêm vỡ ngại ngần.
Những câu trên cho ta thấy cảnh và ý rời rạc, chênh vênh thiếu thốn vô cùng. Những vế này chỉ nên sử dụng xen kẽ những vế dài hơn để tiếp ý, phụ cảnh hoặc để chuyển nhạc trong một bài thơ mà thôi.
2. Loại 5 tiếng:
5 tiếng là biên giới giữa văn vần và thơ. Nó vừa ngắn để còn hơi chuyển xuống vế kế tiếp và vừa đủ dài để tạo cảnh, lập ý cho một vế thơ độc lập. Vì cái ngắn này mà luật Bằng Trắc không quan trọng, cảnh ý nhí nhảnh, buồn vui gọn gàng. Thí dụ:
Thu xao xuyến mộng em
mắt bâng khuâng mắt biếc
nguyệt nhung nhớ mỏng manh
chút ngại ngần trinh tiết
trở mình chợt đã yêu.
Hoặc bỏ một vài tiếng ghép:
Trăng xao xuyến mặc tử
đêm lý bạch bâng khuâng
Kim kiều mộng du ngủ
yêu trăn trở gian trần.
Ngoài tính độc lập, gọn gàng, một ưu điểm của những vế 5 tiếng là vế này cấu kết với vế kia bằng hơi thở người đọc. Chúng ta sẽ thấy xa hơn trong những vế 7 tiếng sẽ không có một cấu kết tương tự và sự cô độc hiện ra nghiêm trọng.
Mặt trái của vế 5 tiếng là những tiếng ghép. Một tiếng ghép đôi thôi cũng đã chiếm 2/5 số tiếng của vế. Nên chúng ta phải cân nhắc giữa cái duyên dáng của tiếng ghép trong ngôn ngữ việt và cái cô đọng đậm đà của ý thơ.
3. Loại 6 tiếng:
Ðây là một cấu trúc ngả nghiêng trong âm tiết và dang dở trong hơi thở . Ðọc 6 tiếng, hơi chưa hết nhưng không đủ dài để đọc tiếp xuống vế sau hoặc nếu có đủ thì âm tiết Bằng Trắc và cách ngắt câu cũng mở ra trễ đi hoặc đóng lại sớm hơn âm điệu bình thường. Thí dụ:
Thu buồn xao xuyến mộng em
nhớ nhung mềm nhớ nhung êm
nắng bâng khuâng chìm mắt biếc
duyên ngại ngần đêm trinh tiết
trăn trở mình chợt đã yêu.
Nhạc điệu tới vế thứ 3 đã trở thành quá đơn điệu mặc dù tiếng ghép ềbâng khuângỪ ở đây đã có vị trí tương đối thỏa mái.
Ưu điểm và mặt trái của những vế 6 tiếng đều dựa trên cấu trúc chênh vênh, nghiêng ngả này. Nó thường ngả vào những vế 7 hoặc 8 tiếng để tạo nên những tình cảnh tròn đầy, duyên dáng hoặc nghiêng vào những vế ít tiếng hơn để kiêu hãnh một mình như trong những thí dụ sau:
Thu buồn xao xuyến mộng em
nhớ nhung mềm nhớ nhung êm
nắng bâng khuâng mây tìm mắt biếc
thoáng ngại ngần tâm tiết nguyệt trinh
đêm trở mình
nhập thể huyền siêu
lý bạch trăng mặc tử liều
Trở trăn nhân loại kim kiều mộng Du
Ở đây nhạc xuống vế thứ 3 đã xuôi nhờ vế 7 tiếng có kiểu ngắt câu 3-4 phá đi cái đơn điệu kỵ cấm. Vế 'Lý bạch trăng mặc tử liều' vừa nghiêng lên vế 4 tiếng trên, vừa ngả xuống vế 8 dưới tạo cảnh ý tràn đầy.
4. Loại 7 tiếng:
Số 7 là số chỉ sự viên mãn, toàn hảo trong thần thoại âu châu, trong thơ á châu nó cũng là số thần thánh, độc lập từng vế, riêng biệt một cõi. Với thơ Ðường nó đã huyền hoặc bằng niêm luật đối. Trong thơ Song thất,với vần trắc sắc bén, nó đã làm mờ hẳn hai vế lục bát đi theo nó.
Trái với loại 6 và 8 tiếng, loại 7 tiếng này hầu như không cho phép bất cứ sự thêm bớt hay tiêu chuẩn sửa đổi nào đụng đến nô Ngược lại, những vế có số tiếng khác 7 đứng cạnh nó đều bị nó áp chế, lôi cuốn. Lý do chính là ngoài luật âm tiết (Bằng Trắc) tình, cảnh, cấu trúc với nhau linh động. Cách ngắt câu vừa phong phú vừa nhẹ nhàng của nó có thể chứa đựng mọi tình ý, uốn nắn được mọi cảnh sắc. Thiên tài còn nhiều cơ hội vượt trên luật lệ. Thí dụ:
Thu vội vàng xao xuyến mộng em
nhớ nhung mềm nhớ nhớ nhung êm
mắt bâng khuâng mắt tìm mắt biếc
thoáng ngại ngần lỡ tiết trinh đêm
hoa thở tình say cầu dĩ vãng
giọt trăng Tử Bạch xuất tinh điên
mộng Du nhân loại kiều kim hỡi
sướng khổ nghiệp yêu liều liều liều.
Ở đoạn thơ này những tiếng ghép duyên dáng vội vàng, xao xuyến, nhớ nhung, bâng khuâng ngại ngần được tung hoành tự do, những điệp ngữ nhớ, liều liều liều chập chờn đùa cợt lãng mạn và uốn lạc luật lệ Bằng Trắc vế thứ 3, 4 và 8 . Mặt trái của thơ 7 tiếng là cấu trúc độc lập nhiều khi thái qúa của mỗi vế mà hơi thở không còn dư như trong loại 5 tiếng. Hơn nữa luật Bằng Trắc nghiêm khắc đã giới hạn từ ngữ rất nhiều trong việc chọn tiếng. Chung cục đã tạo ra sự rời rạc về ý và cảnh giữa vế này với ý kia hoặc nhiều khi chi tiết không thuần nhất so với bố cục toàn bàị Thí dụ như bài Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, cảnh ý mỗi vế thật đă .c sắc nhưng cũng thật rời rạc, nếu không ngoại lệ đi ngược nguyên tắc Thi vị-Cấu trúc, nghĩa là nếu không lấy người suy ra thơ thì chẳng ai biết hình dạng, ý tưởng toàn bài này ra sao.
Ðể bù đắp khuyết điểm thiếu liên kết này thơ Ðường đã tạo ra luật Niêm và Ðối, chúng ta tạo thể Song thất. Nhưng được phần nhân tạo thì mất cái tự nhiên. Cấu trúc thơ thành máy móc (cặp đề, cặp thực, cặp luận và cặp kết) hoặc qúa đơn điệu như trong Song-thất. Trong thể thơ này thi sĩ phải đặt nguyên tắc Thi vị - Cấu trúc làm nền để thoát ra mọi hệ thống luật nếu cần. Bài 'Hoàng Hạc Lâu' của Thôi Hiệu là một trường hợp luật lệ đã phiêu bạt, chìm đi để thơ phát tiết.
Trở lại thí dụ mẫu, chúng ta hãy so sánh thí dụ sau (có niêm, đối) với thí dụ trên:
Thu vội vàng xao xuyến mộng em
nhớ nhung mềm nhớ nhớ nhung êm
mắt bâng khuâng mắt chờ ân ái
lòng ngần ngại lòng đợi cõi đêm
hoa thở tình say cầu dĩ vãng
giọt trăng Tử Bạch xuất tinh điên
mộng Du nhân loại kiều kim hỡi
sướng khổ nghiệp yêu liều phải liều
Chúng ta thấy nếu để cặp thực đối nhau như trên thì ở vế 4 thơ lại mất tự nhiên, vì từ vế 3 ta đã đoán được phần nào vế 4 có những gì. Hơn nữa, vế 4 phải viết theo vế 3 để đốị Ở đây chúng ta phá được luật là nhờ đặc tính của tiếng ghép ngần ngại và thanh huyền trong tiếng lòng làm cho câu thơ thanh thóat hơn. Hình như chỉ khi nào luật thơ Ðường hòa vào trong máu (tinh tuyền tiềm thức), thi sĩ mới cấu trúc được những bài mà sự liên hệ giữa các vế được thuần nhất. Nếu không những vết khâu vá, móc nối vẫn tiềm tàng thấy được giữa những cặp: đề , thực, luận, kết.
5. Loại 8 tiếng:
Vế 8 tiếng có hai kiểu cấu trúc phổ thông. Kiểu 1: từng vế 8 tiếng liên tiếp nhau và kiểu 2: xen kẽ những vế khác như thơ Lục-bát và thơ Song-thất.
Trong kiểu 1: chúng ta có thể hiểu hai cách: a: nó cộng một vế 3 tiếng với một vế 5 tiếng thành vế 8, và b: nó lấy vế 7 tiếng và thêm vào 1 tiếng thành 8.
Cả hai cách này đều rất phổ biến trong văn vần vì cách ngắt câu (3-5; 3-2-3; 5-3) rất dễ và âm tiết theo đó không còn gò bó bao nhiêu. Dễ dãi được điều này trong văn vần bao nhiêu thì nó khó khăn trong cấu trúc thơ bấy nhiêu vì:
i) nó vượt qúa hơi thở bình thường mà không thêm được cảnh và ý mới. Ngược lại nó có khuyng hướng làm loãng nhạt cái đậm đà, phá cái cô đọng sâu xa.
ii) cách ngắt 3-5 qúa riêng rẽ, văn vần thì dồn vào phần 3 tiếng (quá ngắn để cấu trúc thơ); ý, cảnh thì dặt vào phần 5 tiếng. Như vậy thi vị rất khó kết hợp nhạc tình, cảnh vào cả 8 tiếng. Hơn nữa giữa những vế 8 tiếng không có yếu tố nào cấu kết ngòai vần điệu tầm thường. Như vậy cảnh và ý sẽ rời rạc hơn cả những khuyết điểm này của thơ 7 tiếng đã trình bày trên kia.
iii) tiếng phụ của vế 7 tiếng (thơ 7 tiếng thêm vào một tiếng cho thành thơ 8 tiếng) phá vỡ mọi cấu trúc tình ý, cảnh sắc đi. Như vậy thơ sẽ biến thành văn vần. Thí dụ bớt đi 1 hoặc 3 tiếng trong những bài văn vần của Chế Lan Viên (tiền chiến), của Ðinh Hùng, của Quách Thoại v.v.. . một cấu trúc mới sẽ hiện ra với nhiều ngạc nhiên thích thú.
Chúng ta thử thêm vào 1 tiếng cho mỗi vế của đoạn thơ trong phần 7 tiếng:
Thu vội vàng xao xuyến cõi mộng em
nhớ nhớ nhung mềm nhớ nhớ nhung êm
mắt bâng khuâng mắt khép tìm ân ái
lòng ngần ngại lòng ôm đợi cõi đêm
em hoa thở tình say cầu dĩ vãng
giọt trăng lạ Tử Bạch xuất tinh điên
mộng Du chốn nhân loại kiều kim hỡi
sướng khổ nghiệp yêu chợt liều phải liềiu.
Những tiếng thêm vào làm phần lớn đoạn thơ trên dãn ra thành văn vần. Ý bị lõang ra và cảnh rườm rà hơn. Chúng ta xét từng vế một:
vế 1: Thừa một tiếng 'cõi'
vế 2: Phá vỡ nét độc đáo của điệp ngữ
vế 3: Loãng ý của tiếng 'mắt', làm mất nét duyên dáng của tiếng ghép 'bâng khuâng'. Ngược lại thêm ý trong tiếng khép nên có thể ngắt: mắt bâng khuâng/ mắt khép/ chờ ân ái: mất hẳn nét cô đọng cần thiết đi.
vế 4: Tiếng ghép ngần ngại chiếm hết chỗ của phần 3 tiếng đầu trong cấu trúc 3-2-3.
vế 5: cách ngắt câu: em/ hoa thở / tình say/ cầu dĩ vãng (1-2-2-3) thật lạ vì thi vị đây lèo lái được luật văn. Câu văn chập chờn thành câu thơ.
vế 6: Nếu không có hai tiếng Tử Bạch thì văn vần chiếm hết cả vế.
vế 7: Tiếng ghép nhân loại chiếm nhiều chỗ. Tiếng chốn thêm vào làm đổ vỡ ý nhân loại mộng du và đơn giản ý Du, nghĩa là nó rất thừa.
vế 8: Tiếng chợt thêm vào có hiệu lực gây lên sự đột ngột mà vế 7 tiếng nguyên thủy không có. Ngược lại, chính tiếng chợt này đã tách rời một vế đang có một tình ý thuần nhất thành hai ý riêng biệt.
Hoặc chúng ta biến đổi một cách khác bằng cách cắt bớt 3 tiếng nào đó trong mỗi vế:
Thu xao xuyến mộng em
nhớ nhớ nhớ nhung êm
mắt bâng khuâng ân ái
lòng ngần ngại cõi đêm
tình say cầu dĩ vãng
trăng lạ xuất tinh điên
mộng Du kiều kim hỡi
nghiệp yêu liều phải liều
Qua 2 thí dụ trên, chúng ta thấy loại 8 chữ pha trộn rất nhiều văn vần. Muốn có cấu trúc nhiều thơ hơn cách hay nhất vẫn là đổi nhịp điệu sao cho tế nhị, xếp cảnh và ý sao cho lu mờ hoặc biến mất giữa những phần tiếng được ngắt. Bằng không chúng ta lại sử dụng những vế 8 tiếng xen kẽ những vế khác cho linh động hơn như trong thể lục-bát dưới đây.
6. Thơ Lục-bát:
Sự kết hợp hai vế 6 và 8 tiếng tạo ra một thế giới thơ văn kỳ diệu. Ở đây những cái dang dở, lênh đênh của vế 6 tiếng đã ôm lấy thân thể hơi dư thừa của vế 8 tiếng để bù đắp, ôm ấp, san sẻ cho nhau... tạo thành một cấu trúc trung dung, nhịp nhàng đong đưa, hòa hợp tuyệt vời. Với văn vần, thể lục-bát đã được tận dụng (ca dao, tục ngữ, truyện, kịch thơ, hát nói, hò, dân ca...). Với thơ, nó vẫn còn khép mở nhiều ngõ ngách cho mỗi thời đại và hiện còn dành cho chúng ta rất nhiều cấu trúc ngạc nhiên với những ưu điểm sau:
a. Nó có đủ mọi cách ngắt tiếng từ 1 đến 6 tiếng để thỏa mãn thi vị. Phổ thông nhất là cách ngắt từng 2, từng 3 và từng 4 tiếng một. Cách ngắt linh động này đã ôm trọn mọi sắc thái ngôn ngữ việt. Nghĩa là những loại tiếng (danh từ, tính từ, động t) của chúng ta, đa số đều tụ hợp hoặc giãn ra trong khoảng từ 1 tiếng đơn đến 4 tiếng ghép. Thí dụ: bâng- khuâng, xao-xuyến, ngại-ngần, săn- sóc, đớn-đau; bâng-khuâng-nhớ, bâng-khuâng-mắt, bâng-khuâng-mắt-nhớ; trăm-hồng-nghìn-tía, ngàn-cao-cõi-tuyệt, loanh-quanh-luẩn-quẩn...). Vì vậy lục-bát đi vào mọi ngõ ngách của hồn việt.
b. Nhiều cách gieo vần độc đáo liên tục từ vế này sang vế khác và âm vần luôn thay đổi tạo cho nhạc của nó linh động và dễ nhớ vô cùng.
c. Số tiếng Bằng và Trắc co giãn từ 1 đến 4 tiếng trong vế 6 và đến 5 tiếng trong vế 8 (bBbTbB, bBbTbBbB hoặc tBtTtB, tBtTtBtB). Sự uyển chuyển này dẫn đến hiện tượng xuất khẩu thành đủ thứ vì chọn tiếng nào trong ngôn ngữ xếp vào Lục-bát cũng được. Thí dụ:
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra
đụng phải (con gà) (cái nhà) (ông già) (vườn cà)...cõng mẹ chạy vô
d. Cách xếp ý tưởng cũng muôn hình vạn dạng. Ta có thể chia đôi mỗi vế để tạo đối, có thể dẫn ý từ vế 6 xuống vế 8, có thể một vế tả cảnh, vế kia tả tình.
Ðể diễn tả phần nào những ưu điểm trên, chúng ta lấy lại câu thơ trong phần thi vị làm ví dụ:
Tầm mây nhạn bóng hoài hương
môi im ngậm sóng sông người quê em
Tình ý nhớ quê trong 14 tiếng này mêng mang hầu như vô tận. Từ cụ thể (mây, nhạn, môi, sóng, quê) đến trừu tượng (bóng hoài hương, môi im, ngậm sóng, sông người); từ nghĩa đen đến nghĩa bóng (tầm: vừa là tìm mong, vừa có nghĩa là nhìn thấy tầm mắt; nhạn chỉ mùa xuân; quê người chỉ đất khách, tha hương; môi im chỉ nỗi buồn cô đơn), từ tả chân đến lãng mạn, đến lập thể như đã nói trong phần thi vị. Nếu chúng ta thích có đối thì: tầm mây nhạn đối với bóng hoài hương; sông người đối với quê em, v.v... Chính vì cấu trúc có thể xé nhỏ trong chi tiết này mà ý và cảnh thơ lục-bát trở thành tinh vi đến kỳ diệu. Cộng với nhạc điệu nhịp nhàng từng 2, 3 hoặc 4 tiếng một, thể thơ này lúc nào cũng sống động với mọi thời và hội nhập trong mọi hoàn cảnh.
Mặt trái của Lục-bát là vần chỉ gieo vần Bằng (trừ một vài ngoại lệ không đáng nói) mà trong ngôn ngữ việt số tiếng Bằng chỉ gần bằng 2 phần tư tiếng Trắc (thí dụ âm a có 2 tiếng Bằng: a, à, và có tới 4 tiếng Trắc: á, ạ, ả, ã) nên nó có phần thiếu những nét sắc bén, cô đọng thường tìm thấy trong thơ 7 tiếng.
7. Loại Song-thất-lục bát:
Như chúng ta đã nói qua phần thơ 7 tiếng trên, loại thơ này cố tìm một cái gì đó để phá bớt cá tính độc lập của loại 7 tiếng. Cái gì đó trong thơ Ðường là niêm, đối; trong thơ việt là hai vế lục-bát xen kẻ.
Cấu trúc này đã thành công trong việc phá vỡ luật Bằng Trắc gò bó của 2 vế 7 tiếng nhưng cũng đã sa lầy vào cách gieo vần (tiếng thứ 3 vế 7 đầu và tiếng thứ 5 vế 7 kế) làm kẹt cứng tính ngắt câu, giới hạn cách chọn tiếng, rồi 5 vần Bằng liên tiếp (dù không đồng âm) đến 2 vần Trắc đi liền tạo ra một khổ cấu trúc qúa máy móc. Tình ý và cảnh sắc thường cô đọng trong 2 vế 7 tiếng và qúa thênh thang loãng ra trong 2 vế Lục-bát. thí dụ bốn vế sau trong Chinh Phụ Ngâm của Ðoàn Thị Ðiểm:
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nữa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh.
Ta thấy cảnh và ý đã đọng hết hai vế 7 để lại hai vế 6-8 như hai vế văn vần đơn giản.
Chính vì cấu trúc máy móc và sự qúa khác biệt giữa những vế 7 tiếng đứng chung với những vế khác 7 tiếng đã tạo ra mâu thuẫn trong cảnh và ý đồng thời giới hạn trong việc chọn tiếng vì phải tôn trọng qúa nhiều vần, vì vậy mà ngay cả văn vần thể này cũng khó phát triển.
Ðối với thơ, thi vị luôn luôn có khả năng áp chế nhạc ngữ. Luật Song-Thất này cũng như các luật văn vần khác, nếu thi vị phát tiết tình cảnh lạ vào ngôn ngữ mới, nó sẽ biến hóa, tạo cảnh, xếp ý và xoay sở nhạc điệu thành thơ. Có nghĩa là phải cấu trúc ngôn ngữ cho kỳ ảo đủ để san lấp hết những công thức luật lệ nhàm chán.
9. Loại tổng hợp:
Thi vị thường bắt chúng ta vượt qua mọi khuân khổ đi đến một cấu trúc riêng biệt cho mỗi bài thơ. Chúng ta có thể kết hợp bất cứ thể loại nào miễn là nguyên tắc 'thơ khác văn vần và văn xuôi' được tôn trọng. Nếu có những pha trộn văn và thơ thì tối thiểu nó cũng mặc khải được ít nhiều chân tướng hồn thơ. Thí dụ bài Tương Tư sau:
Hương xuân sắc
bình minh cuộc tình say
nhạc họa hồn
siêu thực mộng ngây ngây
cuồng si tiềm thức em đây
mắt trăng chao vỡ núi bầy mộng sa
tóc hương hồn bướm đêm hoa
cổ thơ tình tiết ấm lời ngực thơm
dạ mềm mắt khép nụ hôn
động mầm ân ái ngụ ngôn diễm tình
em từ tâm huyết lụa trinh
màn đêm trong nước non mình tương tư
em hình như thể hình như
cồn sông lở núi động từ yêu em.
10. Những ký hiệu:
Như trong phần nguyên tắc đã phác họa sơ qua, điểm trọng yếu trong việc dùng ký hiệu là phải hoặc lộ tính mặc khải hoặc cảm thông nghiệm thức để tạo thành ý niệm thơ.
1. Mặc khải: Là những ký hiệu tự hiểu được không qua kinh nghiệm. Thí dụ: một nét chữ viết tay mặc khải ít nhiều tính tình của người viết; mỗi loại hoa khác nhau mặc khải những ý niệm khác nhau cho người ngắm; một hình ảnh gai góc mặc khải một sự đề phòng hay sợ hãi.
2. Nghiệm thức: Là những gì được dậy dỗ hay những gì đã hoặc có thể xảy ra. Thí dụ: ảnh chim bồ câu là dấu hiệu hòa bình, hiền lành; trái tim chỉ tình yêu; v.v...
Cách cấu trúc ký hiệu trong thơ đòi hỏi phải tự nhiên nghĩa là phải hòa hợp vưà cảnh vừa ý để tạo một sự thuần nhất trong thơ. Thí dụ như những dấu hỏi, huyền, ngã, sắc trong bài 'Ngộ' trong phần nói về Thi vị trước đây. Với kỹ thuật truyền thông không ngừng tân tiến, và mở rộng, những ký hiệu thay ngôn ngữ sẽ tăng triển. Cấu trúc thơ bằng ký hiệu hoặc bằng cách thức trình bày cũng đang mở ra nhiều chân trời mới. Thí dụ nhiều người xé nhỏ vế lục bát ra thành nhiều vế hay ngược lại gom thành một vế lớn để phân chia hoặc cô đọng cảnh hoặc ý. Nhiều bài thơ viết tay làm rõ ý hơn. Nhiều cách viết-họa là cho cảnh trong thơ thêm độc đáo.
KẾT LUẬN:
Mỗi hoàn cảnh, không gian và thời gian đều có thi vị riêng của nô Thơ không phải để diễn tả nên không lụy vào văn phạm ngôn ng Thơ lấy thế giới nội tâm làm nền tảng cho sáng tạo, trong khi văn vần chỉ sử dụng ngôn ngữ để diễn tả tình cảnh thực tế. Vì vậy thơ luôn luôn độc đáo, ngạc nhiên, kỳ thú. Chúng ta thấy Thơ thất ngôn của Hàn Mặc Tử rất mới lạ trong một luật văn vần cũ rích thời Ðường. Luật Lục-bát lâu đời vẫn có cảnh ý xanh tươi, tình ý kỳ lạ trong cấu trúc thơ hôm nay.
Sau cùng, chúng ta phải đặt nội dung thơ ưu tiên lên trên tất cả mọi hình thức ngôn ng Hồn thơ luôn luôn phải áp chế được ngôn ngữ, nghĩa là ngôn ngữ chỉ là một trong những phương tiện diễn tả hồn thơ. Ða số những bài thơ hay là những bài có khả năng thoát ra khỏi cái vòng luật lệ hình thức kia.
Khải Minh
Sách Mới Trong Tháng
Vàng thơ của Cao Xuân Tứ, Cái Ðình xuất bản, 60 trang, giá US$8.00. Liên lạc: như cuốn trên.
Cao Xuân Tứ cư ngụ tại Hòa Lan từ 1975, cộng tác với nhiều báo Việt ngữ hải ngoại như Văn Học, Thế Kỷ 21... và các báo ngoại văn như Edinburgh Review (Anh), Westerly (Úc), De Tweede Ronde (Hòa Lan), Deus Ex Machina (Bỉ)... cùng với chương trình "Short Story" của đài BBC World Service (Anh). Ông cũng đã đoạt giải thơ Dunya của Hà Lan năm 1995.
Tập thơ gồm những bài thơ đắc ý nhất của tác giả, viết bằng ba ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp. Thơ ông giàu hình tượng, rất nhiều tứ và từ lạ, kết cấu chặt chịa. Các đặc điểm ấy chuyên chở nhiều nỗi niềm của tâm tình Việt Nam, nhưng khi đọc người ta khó "thả hồn theo thơ" vì ít gặp nhạc điệu bổng trầm quen thuộc, mà mắt phải mở lớn, ý thức căng thẳng để đối phó với cái mới sẵn sàng xuất hiện bất ngờ.
Thao Thức thơ của Trần Trung Ðạo, Dân Quyền (Oklahoma) xuất bản, 128 trang, giá US$ 10.00, ngoài Hoa Kỳ $12.00.
Trần Trung Ðạo là một nhà thơ xứ Quảng (Nam), định cư tại Hoa Kỳ từ 1981, năm 1993 đã xuất bản tập thơ đầu tay Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười được độc giả rất ưa thích (được tái bản năm nay cùng một lúc với Thao Thức). Tác giả là người tham gia thường xuyên các sinh hoạt văn học trên Internet từ năm 1990, trong đó có việc đưa lên lưới những sáng tác thơ của mình. Do cái duyên "liên mạng" này mà nhiều người biết đến ông, cảm thơ ông và thúc đẩy ông xuất bản tập thơ đầu. Trường hợp Thao Thức cũng vậy, ông đã "phóng" từng phần lên không trung, và nay tập hợp thành sách.
Một người muốn đổi cả thiên thu để lấy tiếng cười của mẹ là một người thiết tha với nguồn gốc của mình đến thế nào. Cái tình trong thơ Trần Trung Ðạo đằm thắm và trong sáng, toàn hướng về nơi gốc gác của mình, mơ làm viên sỏi dưới chân em bé gái học trò đang tới lớp, làm chút gió heo may thổi lên vai gầy của chị gánh hàng rong, làm tiếng sáo thổi vi vu để hòa điệu với tiếng hát nghêu nhao của chú bé mục đồng..., nói chung thơ ông là quê hương. Nhưng sự thương nhớ của ông không sướt mướt, ông tin tình yêu thương sẽ làm phục hoạt nhiều thứ đã mất. Chỉ một người có niềm tin như thế mới có thể viết: Mẹ là thơ nên đất nước sẽ hồi sinh
Trở Về Lối Cũ tuyển tập mừng 15 năm của nguyệt san Hoa Niên, "tờ báo của tuổi trẻ Việt Nam tại Úc châu," 173 trang, không ghi giá bán.
Từ năm 1981, tờ Hoa Niên do các bạn trẻ Việt Nam chủ trương đã ra đời tại Úc châu, quy tụ những cây bút rất trẻ, dần dần thành một diễn đàn, một nơi gặp gỡ sinh hoạt của những người trẻ tuổi tại đó. Năm nay, 1996, nhân kỷ niệm 15 tuổi (đúng là tuổi Hoa!), nguyệt san Hoa Niên đã thực hiện một tuyển tập gồm những bài viết chọn lọc từ các số báo đã qua. Hãy nghe các bạn trẻ nói với nhau:
Bạn đang cầm trên tay một tuyển tập gồm tất cả những bài vở ưu tú nhất từ 15 năm nay... Bạn sẽ tìm thấy "Chuyện cổ tích về Hoa Niên," những bài văn thơ có lẽ được chắt chiu từ tận đáy lòng bạn và những người đi trước chúng mình từ mười mấy năm qua... Mong bạn sẽ tìm thấy những giây phút thoải mái khi bạn thả hồn đi với chúng mình vào những tâm tình thơ mộng Hoa Niên.
(Trích Thế Kỷ 21 số 92 tháng 12/1996)
Giấc Mộng Ngày Thơ
Tôi vốn yêu thích Phật Pháp. Khi còn nhỏ, tôi thường quên ăn, quên ngủ để đọc các truyện kể của đức Phật cũng như các bài bình luận Phật giáọ Có lần tôi đọc truyện vua Ðột Quyết thấy ông ta khắc lên tất cả các vật dụng, tường cột trong hoàng cung lời dạy của Phật: Phàm làm việc gì phải suy nghĩ kết quả, tôi cũng bắt chước lấy dao nguệch ngoạc vẽ những dòng chữ đó lên tất cả tủ giường bàn ghế; kết quả là tôi bị bắt phải quì gối suốt buổi tối và bị mắng là đã phá hoại đồ đạc trong nhà.
Thực tế, thuở còn thơ, có mấy ai mà không có những hành động xốc nổi, non nớt. Tôi còn nhớ khi còn học trung học, bạn bè của tôi đã nắm đuôi một con tắc kè còn sống rượt đuổi một cô bạn vốn rất sợ các loài bò sát. Cô bạn khốn khổ của tôi đã phải khóc sướt mướt và con tắc kè sau khi được trao tay từ đứa này sang đứa khác đã không còn đủ sức để sống sót. Lúc đó, tôi và một cô bạn thân đã ứa nước mắt vì sự tàn ác của lũ bạn. Chúng tôi lượm xác của con tắc kè, gói trong giấy cẩn thận và cử hành tang lễ chôn cất con tắc kè đó ở tận một nơi khá yên tĩnh trong khuông viên của trường đại học Bách Khoạ Tôi còn đi tụng kinh cầu siêu cho con tắc kè đó và hy vọng rằng nó đừng đầu thai lên trả báo lũ bạn của tôi. Nghĩ lại cũng khá buồn cười, bây giờ sang đến Mỹ, chính tay tôi lại rút máu của bao con tắc kè, chuột, ếch để nghiên cứu về sự thay đổi độ nhớt của máu trong các điều kiện khác nhau. For the sake of sciences, ông chủ tôi thường nói vậy để nguỵ biện cho tất cả chúng tôi.
Nhắc đến chuyện này, tôi lại nhớ đến cô bạn thân của tôị Chúng tôi thường được gọi là hai vợ chồng với tính cách trái ngược nhau. Tôi thì cộc cằn, đơn giản còn cô ta thì hay mít ướt, lắt léo và rất là điệu. Ðiều duy nhất đã khiến cho cô ta cùng tôi la lết ở các ngôi chùa khắp Saigon là vì tôi là người duy nhất trong lớp chấp nhận cái tính điệu và nhí nhảnh của cô ta như một tính cách tự nhiên, không có gì đáng ghét. Một bữa nọ, hai đứa đi chùa Bửu Ðà để tụng kinh sám hối, cô ta đã tâm sự rằng ngày hạnh phúc nhất của mình là ngày mình khoác chiếc áo cướị Tôi bật cười không hiểu cô ta nghe cái câu đó ở đâu hay đó chính là ước vọng của cô nên trả lời lại một cách trang nghiêm: Ngày hạnh phúc nhất của tớ là ngày tớ được khoác chiếc cà sa vàng. Ðã bao năm trôi qua, giờ đây cô bạn của tôi vẫn còn ở Việt Nam và vẫn chưa lập gia đình, còn tôi, tôi vẫn là một tên học trò nhỏ miệt mài đèn sách để kiếm kế sinh nhai, nói làm chi đến mơ ước thuở thiếu thời. Tôi vẫn không biết được rằng trước những thay đổi của cuộc sống, ước mơ của bạn tôi có thay đổi hay không, mà chỉ biết rằng chính bản thân tôi không còn lòng say mê nồng nhiệt với Ðạo như thời niên thiếụ
Tuổi thơ của tôi đã trôi qua như một giấc mộng đẹp. Những giấc mộng thời tuổi thơ hầu như đã chìm vào dĩ vãng. Sự thế vô thường, đời người ngẫm nghĩ lại, chỉ tựa một giấc chiêm bao. Bao ngày hạnh phúc, bao phút khổ đau, bao giờ thăng hoa, bao lầm lỗi trong cuộc sống dường như chỉ tồn tại trong một thoáng ký ức để rồi khi bệnh tật xuôi tay nhắm mắt, chỉ một mình đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn nghiệt ngã. Hình bóng hiền từ của đấng Từ Ðàm trong tâm tôi chỉ như là một ảo ảnh, một chỗ bám víu trong cuộc đời thay đổi chóng vánh. Có chăng một cành mai tồn tại vĩnh viễn trước sự thế của cuộc đời tiền đình tạc dạ nhất chi mai như thiền sư Mãn Giác đã viết???
BCCB
(Lư Ngọc Dung)
Người Đập Dù Lên Dầu Tôi
Có một người chuyên môn đập dù lên đầu tôi. Cũng đã năm năm rồi từ ngày hắn ta làm cái việc kỳ cục này. Thật sự mới đầu thì tôi không thể chịu nổi, nhưng bây giờ tôi lại đâm nghiện "nó" mới lạ lùng.
Tôi không biết tên hắn ta. Ðó là một gã đàn ông trung bình mặc bộ đồ com-lê tầm thường mầu xám với khuôn mặt mông lung bí ẩn. Tôi gặp hắn lầu đầu vào một buổi sáng xui xẻo cách nay đúng năm năm. Lúc đó đang ngồi yên tịnh đọc báo trên một băng ghế trong công viên thì đột nhiên bị một cú quất vào đầu tá hỏa. Phải, đúng là gã, người đàn ông đó đã liên tục quật dù lên đầu tôi từ năm năm nay, bắt đầu từ buổi sáng hôm đó.
Lúc đó tôi nổi cục bổ dậy vì cái đau bị xúc phạm vô lý giữa chốn công cộng, nhất là giữa lúc tôi đang bình yên thoải mái đọc báo mà lại bị một người tự dưng đến phá đám làm một chuyện thật bất ngờ, bất công và bất thường hết sức. Hắn ta thì vẫn thản nhiên tiếp tục quất túi bụi lên đầu tôi mặc tôi phẫn nộ như thế nào. Tôi la lên ông này có điên không? Hắn làm thinh như không nghe tôi hỏi, tay vẫn đập liên tục đập dù lên đầu tôi. Tôi dọa gọi cảnh sát, hắn vẫn không thèm đếm xỉa gì. Sau một lúc chần chừ nghĩ không biết phải làm sao, vả thấy hắn ta không có vẻ bớt lại cái trò chơi kỳ cục này, tôi tức giận đứng lên thoi hắn một quả thật đẹp ngay giữa mặt. Thì ra hắn chỉ là một tên đàn ông yếu xìu mặc dù tôi đã kềm hãm cơn giận không dùng hết sức lực. Gã nằm ngay đơ dưới đất miệng rên ư ử, rồi lập tức cố vùng dậy và tiếp tục vung cán dù bổ lia lịa vào đầu tôi. Máu mũi hắn đổ ra đỏ lòm, không hiểu sao lúc đó tôi lại thấy thương xót hắn, lương tâm tôi chất vấn sao lại đục hắn mạnh tay đến như vậy, và cũng bởi vì sau đó cái dù quật lên đầu tôi cũng không đến nỗi mạnh gì, còn có vẻ nhẹ hều như những luồng giô Mặc dù không thấy đau đớn gì, nhưng hình ảnh bị đập dù lên đầu trông thật khó coi như một người đang bị xúc phạm sỉ nhục, dĩ nhiên là tôi nổi sùng. Thật sự mà nói, cây dù vụt tới vụt lui với tốc độ bình thường không hẳn chạm vào đầu khiến tôi có cảm tưởng như có một con nhặng khổng lồ đang xoáy vù vù vào đầu thật khó chịu.
Dù thế nào đi nữa thì tôi cũng không thể chịu được con nhặng to tướng khốn kiếp này, nhủ lòng chắc hôm nay xui xẻo gặp một đứa khùng hết thuốc chữa, thôi thì tẩu là thượng sách. Tôi quyết định bỏ đi cho khỏi cái thứ hắc ám này. Hắn vẫn không buông tha tôi, hắn lẽo đẽo theo sau tay không ngừng bổ dù lên đầu tôi nhịp nhàng như con ruồi bám riết lấy mồị Tôi co giò phóng chạy (cũng xin nói tôi là người chạy nhanh có hạng ít có ai chạy lại tôi). Hắn đuổi theo sát phía sau còn ráng quật được vài cú dù lên đầu tôi vớt vát. Tôi nghe hắn thở hồng hộc, hổn hển như sắp đứt hơi, cứ cái đà chạy đua này tên phá đám tôi có thể đứt mạch máu ngã vật xuống chết như chơi.
Vì nghĩ vậy mà tôi giảm tốc độ đi chậm lại như người đi bộ. Quay qua nhìn hắn, tôi thấy hắn không lộ vẻ gì cả trên khuôn mặt bình thản lạnh lùng, cũng không tỏ vẻ biết ơn tôi đã chạy chậm lại, hay tức giận với cuộc chạy đua đứt hơi vừa rồi, tay vẫn không ngừng bổ cây dù lên đầu tôi theo cái kiểu của con nhặng bám riết lấy người ta. Tôi nghĩ trong đầu có nên tìm đường đến trạm cảnh sát thưa với giới chức trách: "Thưa thầy đội, ông này khi không đập dù lên đầu tôi đây nè.". Thật là một trường hợp kiện tụng kỳ cục chẳng đầu đuôi thể thống gì, chắc chắn người ta sẽ nhìn tôi với cái nhìn nghi ngờ cho tôi là kẻ không bình thường không biết đang định giở trò gì đây, rồi xét hỏi giấy tờ đến là lôi thôi. Thế nào họ cũng hỏi tôi những câu hỏi sống sượng thật xấu hổ, rồi cuối cùng bắt nhốt tôi lại cũng không biết chừng.
Thôi, tốt hơn hết về nhà cho rồi. Tôi nhẩy vội lên chiếc xe bus số 67 đang trờ tớị Hắn cũng nhào lên theo tay không ngừng vung dù lên đầu tôi tới tấp. Tôi tìm được một chỗ trống ngồi xuống, gã cũng ngồi xuống ngay chỗ bên cạnh một tay bám vào chỗ vịn trong thành xe một tay vẫn vung tít cây dù. Mấy người trên xe bus trố mắt nhìn rồi len lén cười, gã tài xế nhìn trừng chúng tôi trong kính chiếu hậụ Có tiếng thì thào cười khúc khích trong xe, họ quay sang rỉ tai nhau thì thầm rồi nhăn răng cười chế diễu tôi một cách trắng trợn. Người tôi nóng bừng lên vì cơn giận, còn hắn thì vẫn thản nhiên tiếp tục cái động tác ác ôn mà không mỏi tay ngừng nghỉ.
Tôi bước xuống xe - chúng tôi cùng bước xuống xe, ở trạm Puente Pacifico. Chúng tôi đi dọc theo đại lộ Santa Fe. Mọi người ngoái cổ nhìn chúng tôi một cách quái la. Tôi nhìn trừng lại họ: "Nhìn gì, bộ mấy người chưa bao giờ trông thấy ai cầm dù đập lên đầu người khác sao chớ!", rồi tôi lại nghĩ chắc họ chưa bao giờ trông thấy cái hoạt cảnh kỳ cục này. Năm bảy đứa con nít bắt đầu chạy theo chúng tôi hò reo chỉ trỏ như một lũ da đỏ quái ác man rợ đang bu quanh hành xử một con mồi.
Ngay lúc đó đầu tôi vừa nảy ra một sáng kiến. Tôi sẽ về nhà lách vội vào bên trong đóng ập ngay cánh cửa không cho gã vào theo, thế là thoát nợ, thật là đơn giản. Nghĩ
thì nghĩ vậy nhưng tôi đã không làm được như dự liệu. Trước khi kịp đóng ập cánh cửa, bàn tay hắn đã giữ chặt lại rồi lách vào theo một cách dễ dàng.
Từ bấy giờ trở đi, hắn vẫn đều đặn tiếp tục quất cây dù lên đầu tôi không bao giờ ngừng. Dường như hắn không bao giờ ngủ hay biết mệt. Hắn chỉ biết có mỗi đập cây dù lên đầu tôi, ngoài ra không làm gì cầ Hắn bám sát theo tôi mọi nơi mọi lúc trong mọi hành động, chỉ làm một việc duy nhất đô Tôi nhớ lúc đầu "cái dù quạt gió" đã làm cho tôi mất ngủ, nhưng về sau này thú thật không có nó tôi không tài nào ngủ được.
Liên hệ giữa tôi và hắn không phải lúc nào cũng êm đẹp. Ðã nhiều lần tôi tra gặng hắn với mọi thứ giọng điệu về lý do điều mà hắn đang làm hay cố moi ra một chi tiết nào về con người kỳ lạ của hắn, nhưng hắn vẫn ngậm tăm im lìm không bao giờ trả lời, tay vẫn không ngừng "quạt gió" trên đầu tôị Một vài lần nổi điên lên, xin Chúa thương xót, tôi đá, tôi đạp, tôi tống hắn những cú đau điếng, ngay cả giật cây dù dọng lại lên đầu hắn, nhưng hắn vẫn im rơ chịu đựng, làm như những hành động của tôi chẳng có gì đáng kể. Ðiều làm tôi sợ nhất là cái vẻ im lìm trơ trơ cương quyết của hắn. Dường như hắn không biết thù hằn hay tức giận, chỉ im lìm như thóc. Nói tóm lại thái độ của hắn như kẻ kiên gan đang thi hành một công tác thiêng liêng, một mệnh lệnh quan trọng của đấng tối cao nào đó gửi đến.
Ngoài những nhu cầu thể lý mà hắn không cần đến, tôi biết hắn cũng có cảm xúc và biết đau mỗi khi tôi đánh đập hành hạ hắn. Tôi biết hắn yếu ớt, tôi biết hắn lì lợm và có khi tôi nghĩ chỉ cần một phát súng là tôi có thể thoát được hắn. Nhưng điều tôi không thể hiểu là khi cả hai chúng tôi đều ngủm rồi thì hắn có còn tiếp tục đập dù lên đầu tôi nữa thôi. Vả lại tôi cũng không biết viên đạn sẽ nhắm vào đầu tôi hay vào hắn để giải thoát cho chúng tôi. Ðiều giả sử nào thì cũng chẳng đi đến đâu. Tự trong thâm tâm, tôi hiểu rõ là tôi không thể giết hắn hay giết chính mình được.
Về một mặt khác, những lúc gần đây tôi lại cảm thấy không thể sống thiếu những "luồng gió" của cây dù hắn quạt trên đầu . Càng ngày tôi càng lâm sâu vào cái "đam mê" kỳ lạ này. Tôi cảm thấy vô cùng buồn chán và trống rỗng khủng khiếp nghĩ đến một ngày nào đó khi tôi cần hắn hơn bao giờ hết, thì hắn không còn nữạ Tôi sẽ khốn khổ vô cùng vì thiếu luồng gió nhẹ nhàng êm ái của cây dù dỗ tôi vào một giấc ngủ bình yên.
Fernando Sorrentino
PCL phỏng dịch
* Từ truyện ngắn "There's a man in the habit of striking me on the head with an umbrella" của Fernando Sorrentino. Mundus Artium, Vol. 20, University of Dallas, Texas, English Dept.