vhnt, số 304
12 June 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................BBT
T h ơ:
1 - Chân dung hạ..........................................Ðinh Yên Thảo
2 - Giải lao. Ngồi phơi nắng.........................Phạm Văn Tiên
3 - Một lần đưa em về......................................Mặc Âm
4 - Bài oán thi đêm. Phương nam.................Nguyễn Xuân Thiệp
5 - Xa.....................................................Trần Hoài Thư
6 - Ðôi môi mơ ước.........................................Hàn Trân
7 - Ta yêu em............................................Cát Bụi Tình Xa
8 - With you, Íd like to.............................................Ý Nhi
9 - Chiều San Francisco..................................Hoàng Mộc Linh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Tổng kết 40 năm văn học chiến tranh..........Nguyễn Vy-Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Khúc quanh........................................................BCCB
Bốn mùa thay lá. Ðối với những người yêu thơ hay làm thơ, trong cái lạnh lẽo, trống vắng của mùa đông hoặc giả trong cái man mác của một mùa thu thay lá, mùa nào cũng đem lại cho họ những cảm nghiệm riêng biệt của mình.
Mùa hạ cũng vậy. Ta không ảo tưởng trước thời gian, để nghĩ rằng ta đang cầm nhánh phượng đỏ tặng cô bạn học, với bài thơ nắn nót suốt đêm trên cuốn vở lưu bút. Ðã qua rồi! Thời gian và không gian đã khá mẫn cán trong công việc của chúng.
Nhưng chính từ những kỹ niệm đầy ắp hương vị mùa hạ của một thời hồn nhiên nào đó có trong mỗi người, sự nhạy cảm về mùa hạ cháy bỏng vẫn, bất chợt, đem lại cho ta sự rung động nhẹ nhàng nào đô Và thế là ta có những câu thơ, đoản văn... Hệt như những cơn gío mát giữa mùa hạ oi bức.
Mong các bạn sẽ cảm nhận và chia xẻ những ngọn gió nhẹ nhàng đâu đó trong số báo hôm nay. Chúc bạn đọc một ngày an lành.
Ðinh Yên Thảo / bbt-vhnt
Chân dung hạ
Cơn gió thở dài theo dốc đá
Hạ là gì, đốt chảy cả đường xa
Có phải là chiếc váy xanh hôm em ra phố
Hiền hòa như ngọn cỏ,
Nắng cúi đầu,
Len lén thả vài sợi hồng, điểm chiếc váy hoa
Dưới tàn cây, chàng họa sĩ giữa muôn sắc màu
Vẽ những giấc mơ, vẽ chân dung mùa hạ
Rất vô tình,
Tô nắng chiều bằng những vạt cỏ xanh.
Ðinh Yên Thảo
Giải Lao. Ngồi Phơi Nắng
Tan lớp học
Giải lao
Ngồi phơi nắng
Trên thảm cỏ xanh
Hạ trắng
Ngả lưng tìm giấc chiêm bao
Trưa hè vắng tiếng xôn xao
Gió đùa
Nhà ăn phảng phất
Khói thưa
kiến bò bụng thắt
Lương chưa đến ngày
Chép miệng
Nuốt tiếng
Thở dài
Chuông đại học đánh
Mười hai
Não nề
Phạm Văn Tiên
MỘT LẦN ÐƯA EM VỀ
Một lần đưa em về
Nắng chiều nhạt đường đi
Guốc em tà áo lụa
Cuốn đời tôi trong mê
Nhìn qua em ngập ngừng
Ôi mùi hương thân thương
Em tròn mắt vô tội
Khù khờ tôi vô phương
Tóc em thơm dịu ngọt
Bay qua tôi phần đời
Màu son em trên môi
Ðỏ tình ta bất chợt
Có phải là tình yêu
Len hồn tôi rất khẽ
Dịu dàng môi tìm môi
Cho đời tôi tắt thở!!!
Mặc Âm
(06/04/1997)
Bài Oán Thi Ðêm. Phương Nam
1.
tôi sinh ra dưới cội nghèo
ngôi nhà ẩn bên kia đồng cỏ
mẹ tôi răng đen mắt hạt nhãn
hái câu ca dao trên cành sen
mẹ lấy cha năm mười tám tuổi
nuôi heo. nuôi gà. nuôi con
giọt máu tổ tông hằng hằng kiếp kiếp
truyền đi. truyền đi cho giáp một vòng
truyền đến cha tôi. tiếng đàn lưu thủy
đêm xưa. đêm xanh độc huyền
giữa khuya giật mình thức giấc
nghe đàn như nghe đỗ quyên
2.
phương nam. tôi là người tù xa
trở về ngôi nhà cổ
nửa đêm. đêm nay. nhìn ra vườn
không thấy bóng vầng trăng mọc muộn
bên đồng xa giọng hoành hoạch đổ rền
cây cỏ vườn khuya choàng tỉnh trong những tiếng động
từ chân trời dội lại
trời đen màu thủy mặc
cây sứ bên tường rũ nhánh. một trăm năm và từng
loạt hoa rơi bên thềm
tôi nghe mưa về trên mái ngói
ánh đèn chao hắt ra từ khung cửa. soi những giọt nước
rơi vỡ trên đá xanh. trên ao. hoa
súng đã tàn. lẫn bông sứ và ánh đèn
lềnh bềnh màu cổ đại. những giọt mưa
rơi nhanh trên trí nhớ người
khắp vườn khuya gió dậy
dường như một đoàn tầu vội vã rời ga
giô qua những lỗ trống. những bức rào gãy xập. hú hộc
rít gào
ngôi nhà cổ vặn mình. đong đưa. đong đưa cánh cửa gỗ
nâu mục
một trăm năm dưới lớp ngói hư. dội rền tiếng búa trên
gốc cây sứ giả
ai vừa tỉnh giấc. ai đứng dậy đi
kẻ sống. người chết
tiếng độc huyền âm. giọng ca xanh
những mẩu cổ tích cháy tàn trong bếp lửa
cha gầm khi cơn giông
hong tóc. mẹ đợi con về nồng mùi cỏ ngái
đứng lên rồi. đứng lên từ một góc của bóng tối. con
ngựa
gỗ cụt đầu. cây đàn tróc sơn. chiếc
ghế xích đu kêu
những mảnh vỡ xưa đang hàn gắn. bức tranh cũ ố màu. hư
ảo dưới ánh đèn. hiện lên những ảnh
bóng phù du. vầng trăng. chiếc đèn
lồng đỏ. a những đứa trẻ trong tranh
không bao giờ lớn. chúng cười
về rồi. về từ gò đống. chòi hoang
những trang cổ tự đời qua mở lại. cồn gió chạy. vầng tóc
điên rú. bó chiếu đóm tre đi trên những
bãi bờ xa
tội nghiệp. tội nghiệp này đã rũ sạch chưa
gió tối vườn khuya dậy lời u hiển
ký ức tôi như trái chín hư
một màu trăng tự hủy
thời gian phai mau nỗi oán người
khuya nay. tôi đốt lên đống lửa
rạng ngời
rạng ngời cửa màu đêm mở
Nguyễn Xuân Thiệp
Dallas, TX
Xa
Ðường xa. Người xa. Quê tôi xa
Xa như người không có quê nhà
Xa như lưu luyến trời yêu dấu
Xa như từ ly ôm xót xa
Xa như mòn mõi nhìn sông rộng
Xa lạnh trường giang, chiều ly hương
Xa ngựa tôi xa đồng cỏ dại
Xa đàn chiến mã, hờn biên cương
Xa những thằng một thời đảo điên
Những thằng Nam Bắc, những anh em
Những con tim ấy hiền như đất
Cát bụi này rủ hết oan khiên?
Xa như ly rượu đêm về sáng
Muốn dấu mà lòng sao xót đau
Có ai ngủ muộn bên trời ấy
Quán gió Bên Ðường, nhớ đến nhau...
Trần Hoài Thư
Ðôi Môi Mơ Ước
Dài tay cố bắt nụ em cười
Tháng ngày mòn mỏi ướt con ngươi
Ðường đi vạn nẻo, đường trong lưới
Giẫy dụa niềm đau, giẫy khôn nguôi
Tóc dài thêm sợi liếm đôi môi
Cho ta một ít trói cuộc đời
Ðể nghe hơi ấm từng nẽo tối
Mộng ái ân nồng rụng tả tơi
Son màu thắm đỏ, đỏ thật tươi
Ðỏ nung ao ước, đỏ con người
Làn môi em mỏng, hồn ta mỏng
Mỏng những thèm thuồng tuổi đôi mươi
Dài tay để thiếu, thiếu cho dài
Thiếu làn hôn ấm của riêng ai
Thiếu lần hò hẹn, lần hoang dại
Tình trẻ, tuổi già mộng mơ hoài
Nụ cười dấu nhẹ sợi tóc mây
Giấu dùm rung cảm nỗi lòng này
Ðể những sân si vào biển vắng
Từng sóng vun tròn chếnh choáng say
Hàn Trân
Ta Yêu Em
Ta yêu Em như đập đầy nước lũ
Ăm ắp rồi nó tức muốn trào qua
Ở bên kia là vực thẳm yêu tà
Sợ thẳm tình rơi Anh vào cõi chết!
Ta yêu Em sợ ngày tàn sắp hết
Làm gì đây Anh phải làm gì đây?
Ngày rồi đêm nôn nao trái tim nầy?
Anh nuối tiếc từng chiều xuân trống vắng!
Ta yêu Em bằng hai bàn tay trắng
Từng ngày trôi, men đắng thấm vị cay
Nhìn thấy Em ngà ngọc... Tấm thân đầy
Anh như kẻ uống say... Không mồi nhắm!
Ta yêu Em bằng trái tim say đắm
Gần Em thôi cũng bị thấm cơn say
Em ơi! Em, Em hỡi Em có hay?
Mắt Em nhìn trí khôn Anh tan biến!
Ta yêu Em bằng tâm hồn xao xuyến
Ngắm trời mây cây cỏ chứa đầy thơ
Bóng hình Em khỏa lấp khối bơ vơ
Ðưa Anh đến những bến bờ hạnh phúc!
Ta yêu Em đến quên đi sự thực!
Thân bọt bèo cao hứng mộng uyên ương
Trái tim này... Ai nhặt lấy mà thương?
Hay cứ mãi... Lăn trên đường sương gió!
Cát Bụi Tình Xa
6:45/ 2 tháng 1/ 97
With You, I'd Like To
With you, I'd like to:
build castles in the sand,
or walk hand by hand
along the beach.
With you, I'd like to:
travel near and far,
or sit and watch the stars
come out at night.
With you, I'd like to:
discover something new,
just between us two -
that we could share.
With you, I'd like to:
go riding in the wind,
have good times never end -
but last forever.
With you, I'd like to.
Ý Nhi
May '97
Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh: TỔNG - KẾT
Như vậy là sau 1975, ngoài thứ văn học của chính quyền và tập đoàn chủ trì chiến tranh, đã có những tác giả trong cũng như ngoài nước để tâm hồn nhìn lại cuộc chiến đó. Người đọc bớt phải tìm thấy thắng thua trong bộ phận văn học mới này. Các nhà văn thơ sau này thường nói đến những cay đắng thua thiệt của con người vì chiến tranh. Cái thắng thua nếu có là tình người, là tình yêu không biên g iới quốc cộng, là sự sống còn, là nguyện vọng sống bình an, thanh thản.
Mảng văn học mới về chiến tranh ở trong nước chinh phục người đọc trong cũng như ngoài nước. Nhiều tác phẩm văn học xuất bản ở hải ngoại viết về chiến tranh và quê hương cũng được người trong nước tìm đọc dù khó khăn. Một mẫu số chung mà thời gian đã đem lại, khởi đầu với một số người. Tiếng nói của tình người dễ lọt vào tâm. Phản kháng của một người cũng là phản kháng của đa số thâ `m lặng, oan ức của một người cũng là oan khiên của đa số người dân.
Nhưng vấn đề hợp lưu văn hóa chưa hề được chế độ Hà Nội bàn tới. Trước sau Hà Nội không hề chấp nhận "văn học nô dịch và phản động trong các đô thị miền Nam trước đây, xóa nhoà ranh giới g iữa văn học cách mạng và phản cách mạng (!) để "hợp lưu" một cách vô nguyên tắc thành cái gọi là "văn học dân tộc hợp nhứt" (36). Họ xem đó như một mặt trận mới mà họ gọi là chiến lược "diễn tiến hòa bình" xuất phát từ Nhà Trắng (!). Từ khi có chính sách Ðổi Mới, nhiều tay lãnh đạo văn hóa vẫn liên tục phản pháo lại những ai dám phê bình cái mảng văn học chiến tranh huy hoàng nói trên. Họ tiếp t ục bênh vực văn học cách mạng, lịch sử; xuất bản nhiều sách báo vừa tô son vừa phản pháo như tập "lý luận phê bình văn học" Văn-Học Và Cuộc Sống (37).
Các nhà phê bình của chế độ tiếp tục đề cao những cái gọi là "những thành tựu của văn học " 50 năm đó, thậm chí cho rằng nên viết về chiến tranh trong cái hào quang của quá khứ cốt ngăn chặn những c uộc chiến tranh xâm lược (!) trong tương lai. Chắc nhắc khéo cái "diễn tiến hòa bình". Ai sáng tác phê bình không theo lối đó là "lệch lạc", là xem nhẹ thậm chí phủ định những giá trị văn học viết về đề tài "chiến tranh cách mạng", về người lính - những "anh bộ đội cụ Hồ yêu quý của chúng ta". Họ tự cho sứ mạng phê phán những quan điểm lệch lạc đề nghị "sám hối" hay cho rằng "văn học viết về ch iến tranh chỉ là thứ tuyên truyền chiến đấu, nặng về động viên, cổ vũ, không phản ảnh mặt trái, mặt "chập chờn bất định" của chiến tranh, tức là những tiêu cực của chiến tranh, cõi tâm tư sâu thẳm của người lính, v.v..." (38). Họ chống ngòi bút "nhân văn" vì họ "không thể chấp nhận đánh đổi ý nghĩa của cả một thời đại lịch sử để lấy cái son phấn có màu phi lý và nhân bản để trang điểm cho ca 'i ỏng ẹo (sic) của văn chương" (39). Họ tố cáo những người thay đổi hoặc đi ra khỏi chính sách chung mà họ gọi là trường phái "đổi gác" (40) hoặc "đổi màu" - hình như đổi màu nguy hiểm cho chế độ hơ n đổi máu: nhiều người đã đồng tình với Nguyễn Minh Châu khi ông đề nghị phải "thay máu" đi thì mới tiếp tục sáng tác được sau chiến tranh.
Họ vẫn tự cao với những nhãn hiệu, bằng khen của quá khứ, coi Việt Nam cộng sản là "huyền thoại về anh hùng chống ngoại xâm" khi so sánh với Nhật Bản là huyền thoại về phát triển kinh tế và Hoa Kỳ về sức mạnh quân sự (41): "Sự vĩ đại của dân tộc ta thời chiến tranh là đã thúc dậy được bội số của vô thức cộng đồng, trong đó có vai trò của tuyên truyền - nay họ thay bằng mỹ từ "giáo dục cộng đồng" mà cộng sản Việt Nam muốn tiếp tục duy trì. Một thú nhận trơ trẽn nhưng khiến ta hiểu tại sao Hà Nội chống đối mạnh mẽ những khuynh hướng theo họ "làm nảy nở những mặc cảm về sự phí máu, sư. ngây thơ của dân tộc thời chiến tranh" (39).
Ngoài khuynh hướng chống trả phản kích nói trên, có thể nói một phần không ít thơ văn hiện nay trở lại thời lãng mạn 1932-45 và phần khác theo hiện thực xã hội thịnh hành trước chiến tranh với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan. "Lính gác" của chế độ vẫn nhắc nhở văn học có hiện thực thì cũng không được sao chụp như tấm gương mà phải là hiện thực theo lý luận phản ánh của Lenin. Trong bầu không khí đó, từ 1945, đã không có một cuộc cách mạng văn nghệ nào ngoại trừ những nỗ lực cá nhân của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khắc Trường, v.v... Vương Trí Nhàn, một nhà phê bình văn nghệ trong nước còn đi xa hơn khi tổng quát hóa 50 năm văn học cộng sản chỉ là "những kiếp hoa dại" điều động bởi những người lang chạ (42).
"Những kiếp hoa dại" vẫn tiếp tục khi chế độ làm con người phải hãi sợ, phải mất nhân cách con người, phải vong thân dù đã có lúc chợt tỉnh. "Khuất Nguyên" Trần Mạnh Hảo ly thân xong nay trở lại với "d dạo", chống những kẻ đòi "ly thân", hăng say viết phản phê bình chống nhiều người từ thơ, văn đến phê bình. Mới đây ông xuất bản Thơ Phản Thơ và Phê Bình Phản Phê Bình (1996) gồm một số bài phê bình "lang chạ". Phạm Tiến Duật tác giả bài thơ Vòng Trắng tiêu cực về chiến tranh, nay co người lại với quyền lợi sau một thời gian bị vây tỏa kinh tế. Lê Lựu nay đã xa cái "thời xa vắng" choáng váng vì ch iến tranh, nay được đi tham quan xứ đế quốc Mỹ về bèn phản tỉnh viết Một Thời Lầm Lỗi, Trở Lại Nước Mỹ (1990).
Văn học chiến tranh sau 1985 ở trong cũng như ngoài nước theo thiển ý đã có công thay đổi... cục diện chiến trường, dù rằng trên báo chí và nhiều diễn đàn, có những người dù chỉ là thiểu số vẫn ti ếp tục duy trì chiến tranh, vẫn không công nhận văn học của phía bên kia - nhưng chúng tôi nghĩ khuynh hướng này sẽ trở thành quá khứ với thời gian và tình thế hoặc thế hệ. Một số nhận xét:
Nhà văn hai miền trong ngoài đều là nạn nhân của cái văn học chiến tranh, chỉ có người thật lòng hoặc can đảm mới thành công đưa tác phẩm mình ra ngoài vòng cương tỏa của cái nhìn chung. Nhà văn phải viế t với tấm lòng. Do đó với thời gian, tình cảm nạn nhân đó rõ hơn, rồi sẽ dẽ cảm thông nhau. Phi lý là vì đồ tể chiến tranh đáng phải hàn gắn và giúp con người đến với nhau, khi đã ngưng chiến. Con n gười phải được đề cao là con người thực thể (chứ không phải là trừu tượng kiểu truyền thống dân tộc (!), công nông đắp tượng). Ðến nay, 1997, chiến tranh vẫn tiếp tục trên diễn đàn văn chương. Cuộc chiến xong một cách chính thức năm 1975 vẫn chưa giải quyết hết mọi vấn đề. Ðau thương, mất mát, vết hằn đã in sâu, những người làm văn nghệ vẫn sống cái chiến tranh đó.
Văn học yêu nước chống thực dân vào giai đoạn đầu đã có hiệu lực động viên và người cộng sản đã lợi dụng văn học yêu nước này trong tham vọng xâm chiếm miền Nam. Nay hoàn cảnh mới cho phép nhà vă n nhìn và viết khác, với những dữ kiện, sự thực lịch sử mới rõ ra thì cái lòng yêu nước này cần được tiếp tục để tính cách dân tộc ngày càng rõ dấu trong văn học. Chính trị, ý thức hệ chỉ là giai đoạn, dân tộc mới lâu dài. Vả lại các nhà cầm quyền hai miền trong suốt cuộc chiến đều không đích thực đại diện cho dân tộc dù họ vẫn nhân danh nhãn hiệu đó.
Người dân hai miền chiến đấu vì nghĩa vụ, bổn phận, nhưng vô tình họ trở thành công cụ vừa là nạn nhân cho một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, công cụ cho quyền lực ngoại lai. Có những chủ nghĩa tàn diệt nhân bản và tâm hồn, do đó có những nhà văn tàn lụy (những nhà văn miền Bắc phải phục vụ chế độ, những nhà văn miền Nam bị đày đọa). Có những cuộc đời tan vỡ và có nhiều sai lầm từ nhiều phía. Lịch sử thường do kẻ thắng trận hoặc người đang có mặt viết, nhưng hy vọng thời gian và lương tâm trí thức nhà văn sẽ viết lại cái lịch sử đó công bằng và con người hơn. Những cực đoan nghi ngờ vẫn tiếp tục, có thể đã thành thói quen đối với một số thế hệ. Người viết ở ngoài cũng như trong nước hãy còn thiếu tự do xử dụng ngòi bút nhất là khi phải nói lên sự thực nhà văn cảm nghiệm, nói lên với cái Tâm chân thành. Cái Tâm mà Nguyễn Huy Thiệp trong Tướng Về Hưu đã có lần nhắc đến "Ðàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn, càng nhục". Cái "nhân ái", cái chủ nghĩa "nhân văn", cái NHÂN (con người) nói chung, vẫn như một cấm kỵ. Ngoài nước, những tiếng nói của những "nạn nhân chiến tranh" như Phan Nhật Nam, Doãn Quốc Sỹ vẫn có người nhân danh một chính nghĩa phãn d dối, dọa nạt; trong nước thì "nhân văn" hãy là cấm kỵ. Chủ nghĩa CON NGƯỜI đang bị kềm kẹp sẽ phải theo đà tiến bộ, thay đổi, và sẽ có giá trị thuyết phục hơn vì nếu không văn chương sẽ trở thành vô dụng!
Vào thế kỷ XIX, vua chúa Việt Nam cũng như Trung Hoa từ chối tiếp xúc văn hóa đã đưa đến sự khống chế bạo lực mất một phần lãnh thổ hay mất cả chủ quyền và bị thực dân đô hộ. Thế kỷ XXI sắp d dến, ở vào thời của văn hóa đa diện, của khai phóng, của thông tin siêu không gian; tìm hiểu, tiếp xúc văn hóa sẽ là phương tiện gây sức mạnh đưa mọi người không phân biệt màu da văn hóa lại gần nhau trong thông cảm, chấp nhận nhau - thế thì tại sao người Việt Nam không làm được? Việc này không cần phải đợi Nhà Nước ra nghị quyết cũng như các lãnh tụ "cho phép". Nhà thơ Lê Ðạt trong một bài tham luận tại đại hội nhà văn thứ 5 (3-1995) đã gọi sự đối thoại là một "thuần phong mỹ tục" mới và ông công kích thói độc thoại mà ông gọi là "sản phẩm của thời quan liêu bao cấp"(4! 3). Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đã có người nghi ngờ chính sách Ðổi Mới Cởi Trói từ 1986 là giả. Giả chân của người Việt từ mấy chục năm chiến tranh đã có những bất ngờ lý thú và khó chị u, phe chống "ngụy" cũng như chống "cộng"! Bạn đọc cũng đã thấy một số tác giả đã thay đổi "chiến tuyến" một đôi lần, như Lữ Phương, Bùi Tín, Trần Duy Phiên, Trần Vàng Sao, Trang Thế Hy, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Hiến Lê, vv hay đổi "thế" như Mai Ngữ, Trần Mạnh Hảo, Phạm Tiến Duật, v.v... Chiến tranh nào mà không có những bi kịch, lầm lẫn!
Giới trẻ hoặc sanh sau 1975 trong cũng như ngoài nước đang chứng minh một văn học không lãnh đạo nhưng dân tộc. Người trẻ viết nhiều về định mệnh, con người hơn. Chiến tranh sẽ là những hoài niệm mờ nhạt, có trở về bãi chiến trường nơi cha anh từng đổ máu hoặc ngã xuống, người trẻ tra vấn, hận thù nếu có thì cũng như mưa rơi gió cuốn hơn là bão tố chết người. Gần đây có những tuyển tập văn chương có nhiều ý nghĩa, ít ra là tượng trưng, cho một thay đổi tâm tính, thái độ của con người hôm nay, hơn hai mươi năm sau chiến tranh. Trong nước có tuyển tập những truyện thật ngắn của những cây viết trẻ, mới in ra đã bị tịch thu. Ngoài nước có tuyển tập Once Upon A Dream - The Vietnamesè-American Experience (1995) viết bằng Anh ngữ của các cây viết trẻ như Andrew Lâm, Trần Ðệ, Nguyễn Quý Ðức, Nguyễn Ðại Hải, đồng thời cuốn The Other Side of Heaven (44 tuyển tập truyện ngắn 18 nhà văn Hoa Kỳ, 12 Việt Nam trong nước và 8 hải ngoại. Tất cả là những cố gắng đến gần, tìm hiểu. Trong số các nhà văn trẻ hơn trưởng thành ở hải ngoại trong các sáng tác bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng bản xứ nơi sinh sống, có nhiều người viết về chiến tranh Việt Nam đã qua. Dù họ chỉ sống một thời gian ngắn ha y không thấy biết, chiến tranh vẫn sống trong tác phẩm của họ, những Nguyễn Quý Ðức, Andrew Q. Lâm, Trần Thái Vân, Ðinh Linh, Lại Thanh Hà, v.v...
Cùng số phận với những dòng văn học luận đề và chính trị, văn học phục vụ chiến tranh sau những phê phán, chỉnh đốn, "xét lại", "nói lại" sẽ mờ nhạt với thời gian. Cái gì sẽ lưu lại sẽ là những tác phẩm văn học đúng nghĩa, những tác phẩm qua được bức tường thời gian và ghetto quốc-cộng. Ða số các tác phẩm văn học về cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ rơi vào quên lãng vì phục vụ giai đoạn hoặc phục vụ những chủ nghĩa có tính cách chiến lược. Xét cho cùng, văn học về chiến tranh có những tranh luận, những xúc động, đấu trí,... nhưng đã và sẽ có những tác phẩm để đời. Tác phẩm để đời phả i có chiều sâu tâm hồn; tác giả có bản lĩnh, nhân cách, dám suy nghĩ hoặc đưa ra cái nhìn riêng. Hoặc phải vượt lên trên những tranh luận thấp lè tè, vượt cả cái hôm nay ngắn hạn, không gian nhỏ bé quốc cộng, và đụng tới những siêu hình phổ quát. Hoặc phải trung thực đối với tác giả, nghĩa là khi tác giả có tự do sáng tác, không e ngại quyền lực, kể cả tem phiếu. Triễn vọng một văn học về con người - mà trong nước gọi là "nhân văn", đã và đang có những đóng góp đáng kể như Trần Vũ, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài... về văn; Trần Hồng Châu, Ngu Yên, Thường Quán, Khế Iêm, Nguyễn Duy... về thơ.
Từ đó chúng ta đi tới văn học không biên giới, không phạm trù. Lịch sử văn học Việt Nam sẽ không biên giới, không phân biệt đỏ trắng. Tác phẩm viết bởi người Việt là văn học Việt Nam, có những giai đoạn, thời kỳ. Văn học lưu vong đã và đang trở thành một bộ phận hải ngoại của văn học Việt Nam. Văn học phải đi với sinh mệnh dân tộc dù ở đâu - Bắc vào Nam rồi tỏa rộng ra nhân loại. Người Việt ở ngoài nước nhưng nghĩ tới quê hương, tha thiết, là họ đã có quê hương với họ. Ngược lại, những người đang ở hoặc làm chủ quê hương mà phá hoại tài nguyên, hủy hoại nhân tài, họ không có quê hương với họ.
Khoảng năm 1987 có cuộc tranh luận về "văn học chính thống" - phía nào cũng đòi chỉ có mình là chính thống. Thiết nghĩ khi nhìn xa và có tính cách lịch sử, khi đã ra khỏi cái rọ thời gian, chỉ có văn học dân tộc hay Việt Nam với những thời kỳ khuynh hướng mà thôi. Văn học Việt Nam là văn học của người Việt Nam, do người Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc, chính kiến. Nếu vì có những thứ văn chương truyên truyền phục vụ giai đoạn hoặc chế độ mà loại bỏ tất cả văn học cùng thời thì hạn hẹp quá! Chúng ta đâu đang sống thời Gia Long mà phạm lỗi phân biệt kỳ thị Tây Sơn, Hoài Lê đó! Hơn nữa thời chúng ta đang sống, khắp nơi con người tôn vinh văn hóa đa diện mà! Ở ngoài đón nhận ở trong và trong nước thay đổi nhận thức. Có thể bắt đầu bằng những thay đổi ngôn từ như Nguyễn Huệ Chi khi dùng cụm từ "văn học Việt Nam hải ngoại" thay cho "thơ văn người Việt Nam ở nước ngoài" khi ông viết "Vài Cảm Nhận về văn học Việt Nam hải ngoại" (45). Cũng có thể, như nhà văn Nhật Tiến, tìm hiểu con ng ười và đời sống "đồng bào" "ruột thịt" ở miền Bắc và tập hợp mới ở miền Nam sau 1975; để cùng đi đến lý tưởng dân tộc và xây dựng lại đất nước. Bước đầu bằng văn chương!
Chiến tranh vẫn còn khi chưa có công lý, tự do và cảm thông. Nghị quyết, chính sách luôn tìm cách khống chế, điều khiển cuộc sống và con người, nhưng nhiều khi không thể đi kịp cuộc sống. Văn học phục vụ con người nó phải cao hơn, không thể có biên giới. Hy vọng tác phẩm văn học sẽ được viết và thưởng thức bằng con tim và bằng kinh qua, nhưng xin đừng bằng lăng kính ý thức hệ, chủ thuyết, nghị định hoặc kỳ thị. Quá khứ là việc của lịch sử, văn học muôn đời có sứ mạng cao hơn, vì liên hệ với con người và cuộc sống, thời đại. Sự thật vẫn là mục tiêu sáng tác của văn học từ nhiều ngàn năm qua. Khổng Tử từng nói "Triều văn đạo, tịch tử khả hĩ" (Sớm được nghe đạo, chiều có chết cũng hả dạ). Hai ngàn năm sau, Dostoievsky cũng nói "Sự thật cao hơn cả chúng ta, cao hơn cả nước Nga". Bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên hay Truyện Kiều của Nguyễn Du đã là những tác phẩm của sự thực. Và như đã trình bày, cái sự thật đó phải khởi từ lòng thành và phải gắn chặt với con người. Việc đó không d ễ vì hiện chúng ta hãy còn bị cuộc chiến tranh vừa qua chi phối, cả hai phía, và ở mỗi phe, không dễ gì chấp nhận phê phán, dù là từ người cùng một chiến tuyến. Trong một vài trường hợp khi tả những cái có thể người viết không chứng kiến, hoặc tổng quát hóa vội vàng, có thể gây ngộ nhận đưa tới phản đối. Thật ra mỗi phía đều có những ngoại lệ, đều có những con thú đội lốt người lín h. Nói chung, vấn đề có tính cách tâm lý và thời gian.
Hãy khởi bước đi từ những đồng thuận khả dĩ dù thuộc thành phần phải đối nghịch trong quá khứ, quốc-cộng, cộng-cộng, quốc-quốc vẫn có những tiểu dị, hay bi quan hơn chỉ có tiểu đồng, thì vẫn c ó đồng. Cuộc chiến vừa qua đã khiến con người đối nghịch nhau, nay dù chưa có hòa bình hòa thuận 100%, thì hãy khởi từ tiểu đồng dù nhỏ tới mấy, để xây dựng cái an bình và tương lai.
Khai phóng, đa nguyên, hiện đại và nhân loại hóa đã và sẽ là sinh lộ của văn học Việt Nam hôm nay và tương lai!
3-1997
Nguyễn Vy-Khanh
Chú-thích:
(36) Diệp Minh Tuyền, "Bước tiếp chặng đường nửa thế kỷ văn học cách mạng" trong Văn Học Và Cuộc Sống. Sđd, tr. 55.
(37) Sđd. 206 trang, gồm 13 bài tiểu luận về mảng thơ văn cách mạng và những phản công lại những phê phán về mảng văn học đó.
(38) "Ðôi điều về VH&CS". Văn Học Và Cuộc Sống. Sđd. tr. 8.
(39) Văn Học Và Cuộc Sống. Sđd. Tr. 72-73.
(40) Trần Mạnh Hảo. Sđd, tr. 12.
(41) Văn Học Và Cuộc Sống. Sđd. Tr. 67.
(42) Những Kiếp Hoa Dại: Tập Chân Dung và Phiếm Luận Văn Học. Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 1993.
(43) "Một thuần phong mỹ tục mới". Tuổi Trẻ Chủ Nhật 26-3-1995
(44) The Other Side of Heaven. Curbstone Press, 1995.
(45) Văn Học (HN) số 2-1994.
KHÚC QUANH
Hoàng hôn. Mặt trời dấu mình sau rặng núi. Những tia nắng đỏ vàng óng ả cuối ngày như những ánh hào quang phát ra từ đỉnh núi. Mặt trời dường như lưu luyến với khung cảnh hoang vu hùng vĩ của núi rừng nên trải dài những tấm lụa bàng bạc màu hồng tía lên khắp cỏ cây. Cảnh vật thật tĩnh mịch. Không một tiếng động. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng lá cây thì thầm vì những cơn gió nhẹ thoảng qua.
Bên đống lửa, tôi vừa sưởi ấm vừa ngắm nhìn hoàng hôn của Aspen. Ðã bao lần đến đây mà tôi vẫn ngây ngất trước vẻ đẹp hoàn mỹ vào cuối ngày của rặng núi Maroon Bells vây quần quanh thung lũng đầy hoa cỏ màu sắc sặc s Những thung lũng nép mình bên trong những dãy núi cao như những tiểu thư đài cát vừa e thẹn, vừa kiêu sa lấp ló sau những tấm bình phong. Dường như chỉ vào hoàng hôn, các tiểu thư đài cát này mới bộc lộ vẻ đẹp bí ẩn tuyệt vời của mình cho những du khách xa lánh những muộn phiền của thế tục và tìm đến với thiên nhiên hùng tráng.
Tôi hít một hơi dài để tận hưởng bầu không khí hoang lạnh của buổi chiều tuyệt vời này. Làn hơi lạnh trong lành xuyên qua khí quản vào thẳng buồng phổi và làm tươi mát từng tế bào trong tôi bằng sức sống vĩnh hằng của núi rừng nơi đây. Trong hơi thở, tôi ngửi thấy mùi hoa dại thoang thoảng, mùi nồng hắc của cỏ tươi và cả hương lá khô trầm dịu. Từng mạch máu của tôi tê dại đi khi đón nhận sự tươi mát của làn hơi rừng núi. Ðối với tôi, ở nơi đây, vào giờ phút này, cái lạnh dẫu có cắt da vẫn không làm giảm đi niềm bình an được hòa mình nguyên vẹn với thiên nhiên, được cảm nhận sự to lớn của vũ trụ đối lập với cái tôi nhỏ bê Trước một bầu trời rộng mở bao trùm rừng núi chập chùng, tôi không còn chạy trốn cái tôi mộc mạc đơn giản bằng những công thức, phương trình, hay các dự án phức tạp; tôi không cần chôn vùi bản chất tự nhiên của mình trong công việc bận rộn; tôi cũng không cần phải điên đầu vì những phiền muộn từ những cuộc tranh cãi giữa Sương và tôi. Cái tôi hiện thân ở vùng Aspen này chỉ là một thằng người đơn giản, tách rời chính bản thân nó ra khỏi mớ bòng bong của kỹ thuật hiện đại, ra khỏi thực tại của cuộc sống. Tôi không trốn chạy chính tôi mà chỉ trốn chạy xã hội công nghệ mà tôi là một thành viên đắc lực trong đó.
oOo
Ðây là ngày thứ hai tôi ở Aspen. Suốt ngày, tôi đi hiking và ngắm cảnh, chụp hình. Tôi không thèm nghĩ ngợi đến bất cứ chuyện gì. Mãi đến khi mặt trời xế bóng, tôi mới trở về nơi cắm trại của mình. Hâm nóng bữa ăn Moutaineer bằng những cành củi khô vương vãi khắp nơi, tôi thở ra một hơi dài thoải mái như trút đi một gánh nặng. Ði chơi một mình thật vui vẻ và thoải mái! Muốn đi là đi, muốn đến là đến. Tôi không phải chờ đợi Sương sửa soạn từng bữa ăn một cách đúng giờ và chu đáo. Những ngày nghỉ này không có Sương thật là lý tưởng vì nếu đi chung với Sương có lẻ tôi sẽ phải điên lên vì nghe Sương nhắc đến yêu cầu khẩn thiết của Sương trong sở. Vừa nghĩ đến đó thì tôi chợt nhớ ra là ngày mai tôi phải thu xếp đồ đạc, lái xe trở lại Austin, Texas, trở lại với thế giới quen thuộc của tôi, và Sương là một nhân vật quan trọng trong đó.
Ăn xong bữa tối, tôi nhìn đồng hồ thì cũng vừa chín giời. Trời đã tối hẳn và trở nên lạnh hơn. Tôi trở vào lều khoát vội một chiếc áo lạnh và trở ra đun thêm một ít củi, khơi lại đống lửa gần tàn, và đặt ấm nước nhỏ lên đô Những ngọn lửa nhảy múa tung tăng trong tiếng nổ lách tách của củi khô trông thật vui mắt. Vang vọng đâu đây tiếng dế kêu rỉ rầ Trong màn đêm cô quạnh, tôi chợt nhớ Sương vô cùng.
- Anh nhớ mang theo áo lạnh kẻo bị cảm. Trời Aspen có lẻ khá lạnh.
Sương nhắc nhở tôi qua điện thoại trước ngày tôi đi Aspen. Sương không hề hỏi tôi đi Aspen để làm gì và tại sao không rủ Sương đi chung như thường lệ. Chắc Sương đã hiểu rằng tôi cần tìm một khoảng trống cho chính tôi. Tôi biết, Sương vẫn quan tâm đến tôi như ngày nào dù Sương cũng rất khó chịu với những diễn biến trong công ty.
Các thi sĩ và nhà văn thường nói một cách lãng mạn là những người yêu nhau thường muốn ở gần nhau, muốn mình luôn là một phần của đời sống người yêu của mình và ngược lại, và thường muốn hiến dâng cho nhau một cách trọn vẹn, cả tâm hồn lẫn thể xác. Thực tế, nếu cứ gặp nhau dài dài mỗi ngày tám tiếng như Sương và tôi, đặc biệt là phải tranh luận thường xuyên về công việc và cách thức làm việc, có lẻ chất lãng mạn ban đầu của mối tình chóng vánh bốc hơi và nhường chỗ cho nó là một bức tranh ngoằn ngoèo những ký hiệu và màu sắc vô nghĩa. Quan hệ của tôi và Sương, nếu được mô tả một cách tỉ mỉ, có lẻ cũng giống như vậy. Nó giống như một PID, bản thiết kế các ống dẫn và dụng cụ của một công trường hóa học, chằn chịt những đường ống, những lò phản ứng, những tháp tinh lọc và những con số cũng như ký hiệu phức tạp. Ý nghĩ buồn cười này đến cùng lúc với cái mỏi mệt của một ngày dài leo núi và đi bộ đã kéo tôi ra khỏi những suy tư trầm lắng. Ðã nửa đêm. Sau khi hớp một ngụm nước nóng, tôi quyết định đi ngủ. Cuộn mình trong chiếc sleeping bag êm ái tôi mỉm cười với hình ảnh chằn chịt của PID tình cảm hiện ra trong trí. Trong giấc ngủ nồng say của tôi, gương mặt xinh xinh của Sương với đôi mắt to tròn cứ ẩn hiện...
oOo
Trước mặt tôi là bản báo cáo về hiệu suất của hệ thống lọc nước thải của công ty. Ðó là công trình làm việc của Sương trong vòng ba tháng trời trước khi trình lên tôi. Tôi đã trốn tránh không muốn đọc nó. Nó đã nằm trong tủ sắt của tôi một tuần trước khi tôi đi Aspen mà tôi không hề đụng đến. Lật từng trang của bản báo cáo, tôi tìm thấy những số liệu cụ thể cho thấy sự thật mà trong suốt mấy tháng trước đây Sương luôn đưa ra để thuyết phục tôi tiến hành một thay đổi rộng lớn trong quá trình lọc nước. Các sensors của hệ thống phần lớn không báo cáo số liệu chuẩn xác và các bộ phận tinh lọc nước cũng đã không còn đáng tin cậy như trước kia. Với lưu lượng sản xuất nâng cao, lượng kim loại nặng trong nước phế thải tự nhiên vượt quá mức cho phép của luật bảo vệ môi trường cho dù lượng nước tiêu dùng cũng tăng cao; vậy mà các sensors cũ không lên tiếng báo động! Những kết quả này Sương tìm thấy là do việc phân tích những mẫu nước thử nghiệm bằng kỹ thuật mới. Sương đề nghị áp dụng kỹ thuật này vào hệ thống lọc nước chính của công ty.
Tôi ngần ngừ cầm lấy bản báo cáo. Nếu tôi bỏ qua những dấu hiệu báo động Sương tìm ra thì Sương chắc chắn sẽ báo lên cấp trên. Nếu các ông tai to mặt lớn lắng nghe Sương thì người bị quở trách và có thể bị cách chức sẽ là tôi. Tôi là kỹ sư trưởng của nhóm kỹ sư phụ trách việc xem xét hệ thống xử lý nước mà! Hơn nữa, Sương chắc chắn sẽ nhìn tôi với cái nhìn khác hẳn... Trái lại, nếu tôi tường trình lên cấp trên, thì tôi sẽ phải thuyết phục ban quản lý và giám đốc kỹ thuật David Palmer chuẩn chi cho việc tu bổ hệ thống lọc nước. Oái ăm thay, Palmer chính là kỹ sư trưởng đã thiết kế hệ thống lọc nước này mười năm về trước; ông nhất quyết sẽ không đồng ý cho việc chi tiêu lớn cho một dự án chỉ có tính cách bảo vệ môi trường mà không đem lại lợi lộc nào khác cho công ty và nhất là lại đụng chạm đến công trình chính của ông. Hơn thế nữa, không những ông ta là một kẻ bảo thủ mà cả ban quản lý cũng rất dè dặt trong việc triển khai bất cứ thay đổi nào, trừ việc tăng lợi nhuận. Ðem vấn đề này ra bàn cải chẳng khác nào đút đầu vào máy chém vì đụng chạm lớn; họ có thể cho tôi thôi việc bất cứ lúc nào chỉ với lý do là tôi không thích hợp cho việc làm kỹ sư trưởng và không đủ khả năng xử lý các kỹ thuật phế thải nước một cách có hiệu quả hơn. Mặt khác, việc cài đặt các bộ phận mới, nếu được, sẽ làm trầm trệ sản xuất và người bị chịu trách nhiệm nhiều nhất không ai khác hơn là tôi. Mà nếu tôi không đứng ra vận động cải cách hệ thống xử lý nước thải thì khi chính phủ biết được sự thật là công ty vi phạm luật về chất thải thì tôi sẽ là người chịu trách nhiệm chính.
Tôi nhìn lại các số liệu một lần nữa và cầm phone gọi cho Sương.
oOo
Chúng tôi gặp nhau ở cafeteria. Tôi ngồi được hai phút thì Sương đến. Sương trông xinh đẹp tươi tắn như một ánh mặt trời rạng rỡ. Em lúc nào cũng vậy, rất giàu năng lượng và rất tươi trề Em cất tiếng chào tôi với một nụ cười châm biếm:
- Hi anh Khoa. Aspen có làm anh nhẹ người đi vì không có em chăng?
Tôi mỉm cười gượng gạo tránh né:
- Không có em thì Aspen chỉ có vẻ trầm mặc mà thiếu đi vẻ sinh động của sự sống.
Sương tỏ vẻ không quan tâm lắm đến câu trả lời của tôi mà đi thẳng vào đề:
- Có lẻ anh đã đọc bản báo cáo của em. Anh nghĩ sao về việc đấu tranh với PCB [Process Control Board] chuẩn chi cho dự án thay đổi toàn bộ hệ thống lọc nước như em đã đề ra?
Tôi lắc đầu:
- Anh đã đọc. Báo cáo rất chi tiết và cụ thể chứng tỏ em làm việc rất có hiệu quầ Nhưng anh không đồng ý với việc thay đổi toàn bộ hệ thống. Chúng ta có thể giữ nguyên hệ thống cũ và cải tiến những bộ phận nào không đạt chức năng mà thôi. Như thế không những chúng ta tiết kiệm được nhiều tiền, nhiều công sức; đảm bảo yêu cầu về liều lượng kim loại nặng trong nước thải; mà lại không động chạm nhiều với các vị tai to mặt lớn trong ban quản trị.
Sương nhìn tôi một cách bất ngờ và nói nhanh:
-À, thì ra là anh không những sợ mà còn bảo thủ nữa. Hèn chi mà mấy tháng vừa rồi anh có vẻ không hưởng ứng lắm khi em đem cái vụ này ra. Anh đã an phận thủ thường không muốn va chạm nhiều, anh lại không muốn ứng dụng kỹ thuật mới vì nó đòi hỏi nhiều nổ lực, nhiều công sức...
- No, no, you misunderstood me. I'm concerned more with the technology and the costing aspect...
Tôi cắt ngang không để cho Sương kết thúc những ý tưởng giận giữ của mình và bẻ lái câu chuyện sang vấn đề giá cả và kỹ thuật bằng tiếng Anh để tránh thói quen châm biếm của Sương. Sương bàn cãi với tôi thật gay gắt. Trước mặt tôi không phải là một người tình nhỏ xinh nữa mà là một người đồng nghiệp háo thắng muốn chứng tỏ chủ quan của mình là đúng. Còn tôi, tôi không những phải giữ một cương vị là một cấp trên biết điều, biết lắng nghe, biết dùng kinh nghiệm kỹ thuật để cân nhắc vấn đề kỹ thuật, mà tôi còn phải giữ vững hình tượng của một người đàn ông lý tưởng trong Sương, một người đàn ông gan dạ biết đấu tranh cho lẽ phải, cho kỹ thuật và biết tôn trọng, nâng đỡ người yêu của mình.
Tôi đã bốn mươi tuổi, làm việc trong hệ thống xử lý nước của công ty này đã được mười năm. Ði vượt biên sang đây một mình năm hai bốn tuổi, tôi phải làm việc khá vất vả để có thể vừa học hành vừa trợ cấp cho người mẹ già và đứa em trai duy nhất của tôi còn ở lại Việt nam. Khi ra trường với mảnh bằng BS của ngành kỹ sư hóa học, sau một năm tìm việc khó nhọc, tôi được nhận làm Assistant Engineer cho David Palmer. Tôi đã phải nổ lực rất nhiều mới được đề bạt lên chỗ ngồi của David khi ông ta được thăng chức. Trải qua những sóng gió của cuộc đời, nghề nghiệp, đối với tôi, đã không còn là phương tiện để thực hiện lý tưởng, mà chỉ là một phương tiện để kiếm tiền... để hổ trợ cho những ngày về hưu nhàn nhã với một gia đình đầm ấm.
Nghe Sương thao thao bất tuyệt mà tôi chợt ao ước Sương có thể hiểu được những suy tư của tôi. Sương là một kỹ sư trẻ mới hai mươi bảy tuổi, sang Mỹ khi em mới tròn mười bốn. Khi Sương tốt nghiệp ra trường thì cũng là lúc nhóm kỹ sư phụ trách việc xử lý nước của tôi cần người. Với năm hãng kỹ thuật bán dẫn đưa ra offer, Sương đã chọn hãng của tôi vì lương cao và vì việc xử lý nước thích hợp với định hướng chính của Sương trong ngành kỹ sư hóa. Tuổi vị thành niên của Sương lớn lên trong bầu không khí công nghiệp được các nhà kỹ sư bảo vệ môi trường hô hào cần tinh lọc, Sương đã bị lôi cuốn một cách mãnh liệt vào vòng tranh đấu cho việc bảo vệ một môi trường sống an toàn tươi đẹp hơn. Những dòng nước đen ở khu Kỳ Ðồng, Phan Thanh Giản cũng như những cột khói đen từ vô số xe lam, xe buýt, nhà máy, bến tàu của Saigon một thời hoa lệ đã làm cho Sương sặc sụa, nghẹt thở và gây lại những ấn tượng không phai mờ trong Sương. Song những ngày đong cơm khoai sắn từng bữa ở Saigon, những đêm làm khuya mất ngủ để kiếm tiền trang trải cho những tháng năm ở ký túc xá, Sương dường như quên hẳn. Trông Sương có vẻ dường như bán sống bán chết để biến dự án này thành hiện thực. Còn tôi, tôi sợ đụng chạm, sợ cái ghế của tôi bị lung lay. Ðúng như Sương nói, tôi đã mệt mỏi, đã không còn muốn đứng mũi chịu sào cho một việc mà chưa biết chắc là có đem lại lợi lộc gì cho tôi. Một chút luyến tiếc xót xa chợt xâm chiếm hồn tôi.
- Anh làm gì mà nhìn em đăm chiêu như vậy?
Sương đang hăng say nói về cách thuyết phục PCB thì bỗng đỏ mặt dừng lại vì phát hiện ra tôi đang nhìn Sương một cách khác thường. Tôi cười buồn:
- Tự nhiên, nghe em nói chuyện, anh chợt cảm thấy mình đã già.
Sương tròn mắt và lại chế diễu:
- Anh mà già. Không đâu. Anh chưa già vì anh còn sức để cùng Sương đấu tranh cho dự án này được trọn vẹn. Anh còn phải leo lên chỗ của David khi ông ta lên làm giám đốc ban quản trị, và anh còn phải làm đến phó chủ tịch của công ty trong tương lai...
Tôi thở dài:
- Sương, có lẻ anh đã mệt mỏi vì cuộc sống, có lẻ anh cần phải đổi thay...
Sương chợt trầm giọng lại tỏ vẻ thông cảm:
- Miễn là làm gì anh thích thì được rồi. Em hiểu anh mà.
Ðúng vậy, được làm gì mình thích thì thật là vui về Nhưng thật sự tôi có thích làm một kỹ sư công vụ xem xét hệ thống xử lý nước này hay không? Tôi đã ở trong ngành được mười năm rồi dù tôi không hề yêu thích no. Tôi đã chán ngấy việc ngày ngày phải nghe hàng loạt bản báo cáo, phải kiểm tra từng loạt các hệ số, phải tường trình lên cấp trên mọi chuyện, ngay cả những thay đổi nhỏ nhen, và nhất là phải ngồi ngáp dài trong những cuộc họp chuyên về việc quản lý. Không phải như Sương, tôi chọn công việc này vì tiền lương và vì đây là chọn lựa duy nhất. Cuộc sống là vậy, không phải làm những gì mình yêu thích mà phải tạo thích thú trong công việc hàng ngày của mình.
Tôi tự hỏi cái gây cho tôi thích thú là cái gì? Tôi muốn được sáng tạo, được làm ra những sản phẩm vừa thu hút được thị hiếu của khách hàng, vừa có tầm quan trọng trong ngành kỹ sư chăng? Cũng không hẳn. Thật ra, tôi muốn là chủ của chính mình, làm chủ lại cuộc đời mình. Tôi dường như đã đánh mất bản thân mình đâu đó trong những năm dài vùi đầu vào công việc nơi đây. Có lẽ vậy.
Tôi đang thả những suy nghĩ của mình đi rong chơi một cách vô tổ chức thì Sương lại lên tiếng kéo tôi trở về với thực tại:
- Làm gì mà suy tư dữ vậy? Are you considering the proposal or are you thinking about something else? Have you come up with any decision yet?
Tôi gật đầu và quyết định kết thúc cuộc gặp mặt với Sương một cách ôn hòa:
- Bản báo cáo và những đề nghị của em sẽ được đưa ra thảo luận trong cuộc họp ngày mai của nhóm mình. Anh sẽ báo cáo lên với David và PCB để họ xem xét. We have to estimate the costs of both alternatives. We need specific numbers.
Sương mỉm cười hài lòng và ngần ngừ đứng dậy:
- Tối nay mình đi ăn chung nha, nếu anh không mệt...
Tôi im lặng đồng ý. Tràn ngập lòng tôi những nổi băn khoăn day dứt.
oOo
Buổi tối bên Sương kết thúc một cách nhanh chóng trong những tràng cười giòn giã. Chúng tôi không đề cập đến công việc mà chỉ thảo luận về các món ăn và pha trò chọc phá nhau. Thật ra, Sương chờ đợi ở tôi những thổ lộ tâm tình, những suy tư trăn tr Nhưng tôi... tôi đã im lặng. Thật sự, tôi rất muốn chia xẻ với Sương những điều đó song quan hệ đồng nghiệp và sự khác biệt trong chức vị giữa tôi và Sương đã ngăn cản tôi. Tôi không muốn Sương sẽ nhìn tôi một cách tội nghiệp, sẽ hiểu được rằng đằng sau những quyết định kỹ thuật mang tính cách nghiêm trọng của tôi là một con người đang mất niềm tin, mất phương hướng. Tôi có tự ái của tôi mà, ít ra đó là tự ái của một người đàn ông.
Ðã khuya rồi mà tôi vẫn không ngủ. Nụ cười rạng rỡ của Sương như thắp sáng trong tôị".Mọi việc rồi sẽ ổn thôi anh à.". Dù tôi không nói gì, có lẻ Sương hiểu được rằng tôi đang trải qua những khó khăn nghiêm trọng. Ánh mắt Sương đã nói lên điều đó. Khi ra về, ánh mắt đó dường như đã trách mắng tôi sao lại quá coi thường người nữ chủ nhân của nó. Tôi chợt cảm thấy hối hận.
Reng... Reng.... Ai mà gọi khuya quá vậy? Tôi cầm lấy điện thoại mà trong lòng hơi bực bội. Tôi cao giọng:
- Hello??? This is Kenny.
Bên kia đầu dây là giọng nói bình thản của Tiến, đứa em trai duy nhất của tôi:
- Hello anh Khoa. Em đây. Anh đi Aspen về khỏe không?
Ði Aspen là ý kiến của Tiến. Trước khi lấy kỳ nghỉ phép, tôi đã nói chuyện với Tiến và thổ lộ những va chạm liên tục giữa tôi và Sương trong những ngày làm việc. Sương và tôi quen nhau đã được ba năm. Ngày mà Sương mới vào công ty, tôi đã dặn mình không nên phát triển tình cảm với Sương. Thế nhưng, tính cách năng nổ, nụ cười quyến rũ, thói quen châm biếm và những suy nghĩ sâu sắc của Sương đã khiến cho cuộc sống khô khan của tôi như nở hoa. Tôi đã không kềm chế được lòng mình. Còn Sương, có lẻ Sương thích tôi vì tôi có những phẩm chất của mẫu người lý tưởng trong Sương. Lẽ đương nhiên! Sương không phải là người con gái đầu tiên mà tôi quen, song em là người đầu tiên đã khiến tôi có ý muốn lập gia đình. Vì vậy, những va chạm và áp lực trong hãng với Sương làm cho tôi trở nên bực bội. Nghe tôi than, Tiến đã khuyên tôi nên tránh mặt Sương một thời gian để được yên tĩnh tâm hồn. Tôi đã đi Aspen. Và kết quả của chuyến đi đó là những câu hỏi được đặt ra buộc tôi phải xét lại mọi th Ðược Tiến khơi mào, bầu tâm sự của tôi như được mở nắp:
- Ở đó thì yên tĩnh và thấy thích lắm Tiến. Song về đây lại cảm thấy nản vô cùng.
Tiến trở nên bực mình nên vu cáo thay cho tôi:
- Bộ bà Sương lại gây phiền phức cho anh nữa hả? Bỏ đi chơi một mình như vậy không phải là dấu hiệu báo động cho bả sao?
Tôi dịu giọng:
- Không, Sương thì rất thông cảm và dễ thương. Có lẻ chỉ tại anh thấy chán với mọi thứ thôi Tiến.
- Rồi, mid-life crisis rồi ông anh ơI. Ði kiếm counselor đi. Làm ăn như anh còn chán nổi gì! Coi chừng mẹ nghe được mẹ buồn độ. Mẹ rất tự hào về anh. Ðừng làm gì cho mẹ buồn.
Nghe nhắc tới mẹ, bao nổi dằn vặt trong tôi chợt tan biến. Mẹ đã hy sinh rất nhiều cho tôi. Một phần của những năng nổ của tôi là vì mẹ. Mẹ luôn muốn tôi thành người, thành một nhân vật xuất sắc cho xã hội. Bây giờ tôi mới chợt nhận ra động cơ ngầm đã thúc đẩy tôi học hỏi và leo dần trên nấc thang danh lợi. Khi tôi còn nhỏ, mẹ luôn nhắc tôi phải học hỏi, phải mở rộng kiến thức luôn luôn để tâm hồn không bị giam hãm trong mớ kiến thức hạn hẹp. Tôi hỏi Tiến về mẹ với niềm vui mừng như thấy được chính mình:
- Mẹ khỏe không. Giờ này mẹ ngủ chưa?
Tiến cười vui vẻ:
- Mẹ thì rất khỏe. Mẹ nói anh đi Aspen một mình để cân nhắc xem có nên cưới Sương làm vợ hay không đó. Em cũng muốn anh lấy Sương cho rồi đi. Già rồi, bốn mươi còn gì nữa anh.
Tôi cười. Tôi thật muốn nói chuyện với mẹ để nghe mẹ nhắc nhở chuyện lập gia đình, chuyện ăn uống, chuyện việc công, chuyện cộng đồng Việt Nam. Tôi đã quá lười biếng, đã giam hãm tôi trong bao công việc bề bộn mà không hề biết gì hơn ngoài việc xử lý nước. Ðã đến lúc tôi phải chăm học lại như thời kỳ học đại học. Ðã đến lúc tôi phải học hỏi nhiều hơn về những tiến bộ kỹ thuật, cũng như những vấn đề nóng bỏng tại nước nhà và trên nước Mỹ. Ðương nhiên là trong thời gian cho phép mà thôi. Ừ, đã đến lúc tôi phải xông xáo vào sinh hoạt cộng đồng với thái độ như những ngày ăn hamburger làm báo, làm văn nghệ cho hội sinh viên Việt Nam. Trong tôi bừng cháy một niềm vui. Tôi chợt muốn được yên tĩnh, được đi ngủ với niềm vui đã tìm được giải đáp căn bản cho những câu hỏi cắc cớ của mình. Vì vậy, tôi bảo Tiến:
- Anh thật muốn nói chuyện với mẹ mà mẹ đã ngủ rồi. Ờ, mà cũng khuya rồi, khi khác nói chuyện nha. Anh phải đi ngủ đây, sáng sớm còn đi làm nữa. Tiến cũng phải đi làm sớm mà.
- Ok, good night. Có gì cần thì tâm sự với em nha ông anh.
- Ok. Good night.
Tôi cất điện thoại và thay đồ ngủ. Trước khi đi ngủ, tôi quyết định ra ban công hóng gió, để hít thở những hơi thở mát lạnh trong bầu không khí khoáng đạt. Bên ngoài, chỉ có vài ánh đèn vàng hiu hắt. Gió mát. Trăng thanh. Màn đêm phẳng lặng như t Có lẻ giờ này Sương đã đi ngủ. Cũng có lẻ Sương còn thức để cố gắng tìm cách phác họa sơ đồ của hệ thống lọc nước tương lai mà Sương đang ấp ủ cũng như ước tính những con số dollars cho dự án đó. Còn tôi, trong những ngày sắp tới, tôi còn có khối việc phải làm vì những con số báo động mà Sương đã tìm ra.
Xa xa những ánh đèn của những chiếc xe đêm chợt lóe lên chiếu sáng cả một góc trời. Những chiếc xe đêm rón rén chạy trên con đường vắng vẻ, có lẻ vì sợ đánh thức bà con. Hít vào một hơi thở dài, tôi nhận ra mùi xăng hăng hắc chưa cháy hết. Tôi chợt nhớ tới buổi hoàng hôn hôm nào tuyệt vời ở Aspen, khi mà trời đất như rộng mở vòng tay đón chào đứa con lưu lạc trốn tránh cuộc sống công nghệ phức tạp để tìm về đất mẹ thân thương. Hôm nay tôi đã hoàn toàn trở về với cuộc sống công nghệ hiện thời, với những suy tư trăn trở của một con người sống trong xã hội đô Tôi chợt bật cười nhớ đến bài hát Phố Ðêm và thấy mình phải đi ngủ vì nếu không lại thành ra suy tư quá nhiều. Lời bài hát vẫn vang vọng trong đầu tôi giữa đêm đen tĩnh mịch: Phố đêm đèn mờ giăng giăng, màu trắng như vì sao gối đầu ngủ yên, phố đêm nhiều lần suy tư...
BCCB