vhnt, số 286
8 April 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ :
1 - Night of the circle................................................Ý Nhi
2 - Ngày xanh........................................................Ðan Hà
3 - Lối nhỏ thay mùa...........................................Hàn Trân
4 - Khối tình........................................Thiên Phượng Linh
5 - Tình học trò................................................Chân Mây
6 - Thời gian.................................................Trọng Hoàng
7 - Mơ ngày cùng dựng homepage..........................Ðinh Yên Thảo
8 - Tình yêu dị chủng............................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc,
Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (kỳ 4 và hết)............Khải Minh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Chim bay còn để vết tìm.................................Cỏ Nhớ
11 - Thân em như tấm lụa đào (phần 2/2)...........Nguyễn Bá Dĩnh
Gửi bạn đọc vhnt số 286 với bài vở phong phú như thường lệ - thơ, văn và biên luận. Mời bạn đọc những bài thơ óng ả, truyện mới của Cỏ Nhớ, và phần tiếp theo truyện ngắn của Nguyễn Bá Dĩnh.
Số này đăng kỳ cuối bài viết của Khải Minh, VHNT mời bạn gửi thư góp ý về bài "Góp Ý..." cho vhnt@saomaịorg, chúng tôi sẽ chuyển đến tác giả để tiện trao đổi ý kiến.
húc bạn đọc có một ngày thật đẹp, lòng êm ả và dịu nhẹ như không khí, khung cảnh tươi mát của mùa xuân.
thân ái,
PCL/vhnt
NIGHT OF THE CIRCLE
Standing under the stars
North, East, South, West
The circle now complete
Eyes closed seeing nothing
Hands raised above head
Mind open to mind
The pulse of blood
A raising of heat
A stir of light
The pull of thoughts
The play of power
A coutest of wills
Souls being in balance
Nothing to fear now
Nothing to fear ever
The night understands that
The night is night
West, South, East, North
The circle's no more
Standing under the stars
Ý Nhi
Ngày Xanh
Nhớ xưa theo Mẹ đến trường
Cây bông lan dại bên đường lả lơi
Mùa xuân dừng lại mỉm cười
Xanh xanh tha thướt ngang trời bóng mây
Hương quê thơm ngát hồn đầy
Cổng trường in dấu những ngày ấu thơ
Niềm vui rộn rã từng giờ
Bóng tre xanh ngát bên bờ ruộng dâu
Lời ca vắt vẻo lưng trâu
Sáo diều vi vút trên đầu ngọn cau
Gió chiều lên nhẹ xôn xao
Áo thơm bay giữa năm nào tuổi xanh
Ấp yêu mãi nhé mộng lành
Như đôi chim nhỏ trên cành hót vui
Ðan Hà
Lối Nhỏ Thay Mùa
Trên những mộng mưa vàng bay lặng lẽ
Xuyên nắng chiều nhỏ xuống cuộc bôn ba
Những đoá hoa vừa chớm nụ sang mùa
Cho thấm thía mấy dòng mơ ưu ái
Người đã đến từ ngàn xưa lưu lại
Hay sẽ về tươi thắm của ngàn sau
Ngõ rong rêu cọng lá cỏ xanh màu
Cùng phiến đá bên đường chân lơ đãng
Có tuyết trắng mưa thu hờn mấy chặng
Có một thời hái cây lá bâng khuâng
Có một lần vui lắm lệ hai hàng
Rồi vĩnh biệt để vào vườn hoa bướm
Trong lối nhỏ xôn xao mùa sang vậy
Tiễn một người nơi dấu cũ xa xôi
Thôi xin gửi mùa xuân về bên ấy
Trời đông này xin giữ mãi riêng tôi
Hàn Trân
KHỐI TÌNH
Ðò chiều phẳng lặng khách sang sông
Tiễn biệt băn khoăn dứt cuộc tình
Thuở xưa quấn quít từng giây phút
Bây giờ đơn lạnh suốt canh thâu
Cũng bởi yêu em hóa nghẹn ngào
Ðành lòng để nước cuốn hoa trôi
Kiếp này ta đành không duyên nợ
Một khối tình sầu dấu trong tim
Quà cưới trao em tiếng khóc thầm
Thay lời chúc tụng lễ Vu Quy
Mong em hạnh phúc cùng duyên mới
Anh ở nơi này vẫn nhớ thương
Một mai nếu lỡ cùng chung lối
Ta lặng cuối đầu thương tưởng nhau
Tư tình tự cổ không vương hận
Chỉ hận chữ tình thiếu chữ chung.
Thiên phượng Lynh
Tình Học Trò
(Tặng MH, C, TH, NNA, L)
Gặp em ngày tựu trường
Nghe thầy giáo điểm danh
Ghi vội chữ Mộng Thường
Mong ngày qua thật nhanh
Em mặc áo hoa cà
Má hồng không son phấn
Hồn nhiên tuổi mười ba
Tương tư chưa một lần
Lớp học mới vừa tan
Bóng anh sau bóng nhỏ
Chút tình vương gót chân
Theo em về đầu ngõ
Gặp em qua giấc mộng
Trong vườn xuân rực rỡ
Hái tặng nụ hoa hồng
Em cười lòng ngây thơ
Sáng mai vào lớp học
Hoa mười giờ ép sách
Tặng em cài lên tóc
Tím hồn em trinh bạch
Chiều về cơn mưa hạ
Ướt mắt em xanh mầu
Em cúi đầu trú mưa
Lạy trời xin mưa ngâu!
Hôm nay ngày ra trường
Thư tình đang chép dở
Lòng còn nhiều vấn vương
Mai xa rồi có nhớ?
Chân Mây
4/97
THỜI GIAN
Nằm yên
Lặng ngắm thời gian
Thời gian không có tay chân mắt mũi
Lầm lũi
Ði và đi.
Có lúc
Thời gian biến mất
Khi ta vui với bạn bè
Khi ta bận chuyện công tư.
Có lúc
Ta rãnh rỗi
Thời gian lại chạm vào ta
Lạnh lùng
Vô tình.
Thời gian
Cả thế kỷ rồi cũng vụt qua
Cả đời người rồi cũng phôi pha!
03/04/97
Trọng Hoàng
MƠ NGÀY CÙNG DỰNG HOMEPAGE
Ở net host nào, em biết không
Quặn sóng web site, những tấm lòng
Ngày xuân download buồn xa xứ,
Ðêm đông link với những nhớ mong
World wide web, đường đời vạn nẻo
Vẫn mơ ngày, đá sỏi đơm bông
Ðể em, tôi, cùng bạn bè newsgroup,
Dựng HOMEPAGE, ta điểm núi tô sông .
ÐINH YÊN THẢO
Tình Yêu Dị Chủng
Chàng đến từ Phi-Châu huyền bí
Rừng đêm âm-u, tiếng trống ầm-ù
Ðồng cỏ hoang-vu,
Những người thổ dân sống tuyệt-cùng
cùng thiên-nhiên...
Em từ miền Á-Ðông thiêng-liêng
Nước Việt-Nam nơi kiến trúc
chùa-chiền, kinh-đô đều hiền-hòa, khiêm-cung
như tâm-tư con người hiếu-hòa...
Sông núi ở đâu ra, dáng cần-cù
dấu che niềm bất khuất!
Chúng ta gặp nhau nơi
khuôn-viên đại học, chốn này,
Ðại-cường-quốc Hoa-Kỳ.
Bốn con mắt bắt chặt lần đầu nhìn thấy
Và tình cờ một buổi họp sinh-viên,
qua câu chuyện tự-do dân-chủ!
"Bụng đói và vợ con...
Chúng phá rừng, diệt chủng thú hiếm.
Ðồng tiền, quyền lực... Ôi! lòng tham
Chúng giết dần...Bêu xấu tổ tiên!
Nhưng biết làm sao đây...
Bài học tiến bộ: để đạt đến nền
Tự-do dân-chủ trung-thực,
Ðể cải tiến nhân sinh và
nâng cao dân trí: con đường cam go,
Anh đã học biết nhẫn nhục để chờ!"
"Quê hương em, địa linh, nhân kiệt...
Mấy ngàn năm xâm-lược với nội chiến đao binh!
Giờ đây tạm qua nạn chiến tranh,
Vẫn còn ngả nghiêng vì kinh tế!
Vẫn còn chờ đợi một nền chính trị văn-hiến
Xứng đáng với công dựng nước của tổ-tiên!
Em cũng đã biết học chờ đợi, nên em
Hiểu thấu cùng sự can-quan của lòng Anh
Ðau thấm thía!..."
Một nụ hôn thơm ấm đầm nước mắt,
Bốn con mắt nhắm, hai mầu da nhược tiểu.
Một nụ hôn thơm ấm đầm nước mắt,
Bốn con mắt nhắm, hai màu da quốc-tộc!
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
Chú thích của vhnt: Với tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của mọi người, VHNT đăng bài viết phê bình của Khải Minh hoàn toàn với tính cách phổ biến và mong chỉ làm một diễn đàn để tác giả và độc giả có cơ hội trao đổi những chủ đề liên quan đến văn học, đó là mục đích của VHNT khi đăng loạt bài này của Khải Minh. Ðộc giả có thể đồng ý hoặc không đồng ý với nhận xét phê bình của tác giả Khải Minh về loạt bài góp ý với ba tác giả phê bình về thơ là Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quý Toàn và Thụy Khuê, VHNT xin mời bạn tham gia góp ý và sẵn sàng làm trung gian chuyển thư của bạn đọc đến tác giả KM về loạt bài "góp ý..." này.
(Tiếp theo và hết)
Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (*)
Thụy Khuê: Cấu Trúc Thơ
So với hai tác giả trước, TK là người viết tỉ mỉ và cẩn thận nhất, cũng có nghĩa là dễ đọc nhất. Trong những trích dẫn, TK tóm lược cho chúng ta về những nhận định về thơ của năm châu bốn bể (Valéry, Sartre, Breton, Jakoson, Nguyễn Xuân Xanh, Nguyễn Ðình Thi, Nhóm Sáng Tạo...), những sáng tác từ cổ xưa cho đến năm nay, những đề tài mới về ngôn ngữ (nguyên lý song song), những bài phân tích về trường phái... Tóm lại, TK biết nhiều tài liệu, nặng kiến thức và biết kiềm chế để đãi lọc chúng một cách uyên bác thành tác phẩm "Cấu Trúc Thơ" rất tự tin này. Nhưng có lẽ chính những cái tích lũy giầu có, những tự tin tự tạo này đã kéo lùi TK một vài bước chậm hơn vận tốc thời gian, đã đóng khung ít nhiều sáng tạo trong một không gian quen sống.
Trong phần "Thay Lời Tựa" (tr. ix), TK trích một câu trong Kiều, viết một vài dòng nói về "hay", "dở" trong thơ làm tôi lúng túng chẳng biết góp ý gì. Mâu thuẫn đầu tiên: TK viết nội dung rất tinh tế nhưng lại quá thường trong "Thay Lời Tựa", có lẽ TK không màng đến hình thức mở đầu này. Những dòng sau đây, tôi chỉ giới hạn với TK từ chương III đến chương VIII, nói về thơ và cấu trúc ngôn ngữ của thơ. Phần còn lại thuộc về phê bình và nhận định, tôi đọc một cách thích thú và chờ đợi một trường phái TK nào đó để viết về cái phi trường phái trong khí thơ của tôi.
Trong phần "Nhận diện thơ", TK chú trọng rất nhiều vào cái đa dạng của ý nghĩa ngôn ngữ trong câu cú. Có thể nói ngôn ngữ của thơ theo TK phải rất sâu, rộng, uyên bác, trí thức. Ða số những phân biệt đặc sắc của ÐQT về ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ thơ được TK tóm lược ở trang 53-55 như:
TK (tr. 52-53) ÐQT - trang
- ma lực. ma lực, thần chú - 78
- giải thích bằng mỗi chữ, mỗi câu. mỗi chữ có duyên số riêng - 247; Ðơn vị chữ - 130
- trong thơ, mục đích chỉ còn là Ngôn ngữ hành động
- (Thơ) không cần đến ý nghĩa. Xếp đặt quan trọng - 29
- thơ đi từ hành động đến mục đích Ngôn ngữ hành động-190
- Mở nhiều bình diện Mở rộng - 47; Mở ra nhiều cánh cửa - 224
-Thuộc phạm vi cấu tạo Xếp đặt quan trọng - 29
-Gợi ra một vũ trụ khác Ðọc và sáng tạo - 216
Cái bảng so sánh này còn dài cho đến hết cuốn sách của TK. Cái khác khác so với ÐQT ở đây là TK đặt nặng về cấu trúc trong khi ÐQT thiên về ngôn ngữ nói chung. Theo tôi, đây cũng chỉ là nhữg tiêu chuẩn để nhận diện văn vần. Ở trang 60, TK trích một câu có khí thơ bàng bạc: "Tình yêu là một bài thơ không chữ, không vần." nhưng tôi cũng than tiếc như đối với ÐQT vì tâm trí TK không ở đây mà còn bận đeo đuổi một trò chơi huyền ảo nào đó của ngôn ng
"Thơ, Văn Xuôi và Văn Vần" (tr. 59) một đề tài hay nhưng lại có một phân tích rất cũ (cái Thể của triết (forme), cái đẹp) và lập lại rất nhiều quan niệm đã có trong NHQ và ÐQT. Cái Ðẹp trong thơ, NHQ đã dành cả chương dài trong quyển thứ 2, tr. 79-97), cái Vần, Cái Cô đọng, cái toàn thể tinh thiết đã được ÐQT khai triển ở những tr. 94, 99, 108, 171 v.v.., chúng ta có thể tìm thấy rải rác trong hai cột phân biệt thơ - văn trên kia của ÐQT.
TK kết luận: "Do đó, chúng ta có thể coi thơ như một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn t" (tr. 70).
Ðây là một câu mơ hồ (kết tinh từ cái gì? biểu đạt? biểu lộ, biểu hiện, biểu diễn...) và mâu thuẫn. Thứ nhất thơ không kết tinh vì nó có trước ngôn ngữ và tự tại; thứ nhì, khí thơ là ẩn giác, là trực giác không thể có biểu đạt; thứ ba là thơ có trước tư tưởng và ngôn ngữ, nó coi ngôn ngữ như ngoại thể, nó biến đổi ngôn ngữ chứ không dùng ngôn ngữ như phương tiện.
Xa hơn, TK trích lời Sartre: "le poète considère les mots comme des choses et non comme des signes" (nhà thơ coi chữ như đồ vật chứ không coi như những dấu hiệu). Cái anh chàng lập dị này không làm thơ nên tôi nghi ngờ lắm vì trong chữ "mot" (chữ, tiếng) đã hàm ý nghĩa, dấu hiệu của một ý niệm nào rồi. Bây giờ nếu đổi lại: le poète considère les choses comme des signes et non comme des mots (nhà thơ coi đồ vật như những nghĩa hiệu chứ không coi như những chữ) thì khí thơ mới có cơ hội nhập vào tâm tưởng và thoát ra ngôn ngữ con người. Nghĩa là khí thơ gợi ra phần não bộ mới, một cách cảm khác làm phát sinh ngôn ngữ hoặc biến đổi ngôn ngữ hoàn toàn khác với cách hiểu đã cô
Từ trang 73 đến 107, TK nói về một vài phương pháp chuyển nghĩa (mỹ từ pháp (figures, tropes...)). Ðây là phần còn thiếu sót rất nhiều trong lý thuyết văn vần và văn xuôi việt ng Mỹ từ pháp trong sách văn phạm việt ngữ chỉ đếm được vài trang trong khi của Pháp họ đã có vài trăm loại và có chương trình dậy chuyên về những cách chuyển nghĩa này. Trở lại vấn đề chuyển ngữ trong thơ, từ hình tượng này chuyển sang âm thể khác rồi hiểu sang ý nghĩa khác... Tất cả vẫn lẩn quẩn trong trò chơi ngôn ngữ và quan niệm nhân tạo nào đó, trong khi thơ khởi sự từ vô thức, vô niệm. Tôi xin trích trong bài viết "Bí Mật Của Thơ" một đoạn liên quan đến vấn đề này:
"Cõi "tượng trưng", cõi tưởng tượng nguyên thủy về sự vật.
Trong văn vần, cái tượng trưng này bị tạp niệm hóa thành những cách "so sánh" thỏa thuận văn hóa. Thí dụ: so sánh người thiếu nữ như liễu thướt tha (so sánh đồng dạng thức); như trăng tròn, như hoa, như xuân... (so sánh đồng cảnh); như sư tử Hà Ðông, như chim bồ câu, như con cố.. (so sánh đồng tính); như khúc xương sườn đàn ông (so sánh đồng hệ)... Những cái so sánh này dù cụ thể hay ẩn ngầm vẫn bị giới hạn trong một văn hóa nào đó, có nghĩa là cách so sánh này được chấp nhận trong văn hóa Việt nhưng có thể bị từ chối trong văn hóa khác.
Trong thơ, cái tượng trưng là cái sống động của sự vật nơi thi sĩ. Nó giao động để tạo những liên hệ chưa hề có giữa những sự vật để phát sinh âm thanh, hình tượng của thơ. Thí dụ trong khi văn vần suy diễn từ một thiếu nữ ra: hoa, xuân, trăng, liễu, chim cò thì trong thơ cấu trúc hình tượng thiếu nữ này hoàn toàn trái ngược. Hoa, Trăng, Liễu, Chim, Cò, Sư T có thể tượng trưng một hình tượng khác trước khi tạo một nét nào đó về người thiếu nữ; và sau hoặc bên cạnh hình ảnh thiếu nữ, nó còn tượng trưng cho sự vật nào đó nữa. Có nghĩa là Hoa, Trăng, Liễu... không bao giờ trở thành thỏa thuận văn hóa. Trong đoạn thơ thật đơn giản gần như văn vần sau, cõi tượng trưng sẽ cho chúng ta thấy ít nhiều âm thanh và hình tượng thơ:
Xuân xuân sầu trắng váng
gió mềm mềm bóng quê
thơ đau thơ nhớ mẹ
con vệ đợi con về.
Ðào rơi rơi ngõ vắng
Tủi tủi gọi "Cha ơi!"
Tình ngọt, lòng đắng đắng
Ðào rơi đêm tuyết rơi.
Hai tiếng "Xuân xuân" phá vỡ cái luận lý thường có trong tạp niệm văn vần như:
Xuân sang sầu trắng vỡ
Xuân đau sầu trắng vỡ
Xuân con sầu trắng vỡ
...
Thơ tạo tiếng nhiều hơn là tạo âm (chữ "xuân" có thể có nhiều cường độ âm thanh khác nhau tùy nơi mỗi người đọc). Hơn nữa âm thanh của thơ khác âm thanh thính giác nên hai tiếng này tạo thành một điệp ngữ, tượng trưng một âm thanh "mùa xuân" đồng thời nó cũng để người đọc thấy một hình tượng thời gian ("xuân xuân" có nghĩa là đã nhiều lần xuân qua, đã nhiều năm xa cách).
sầu trắng: là một hình tượng lạ. Từ "trắng" tô mầu lên "sầu", một danh từ trừu tượng. Một lần nữa cảnh của thơ khác với thị giác chúng ta.
váng: một hình ảnh tượng trưng cho thời gian, có nghĩa là sầu đã lâu, đã nhiều năm.
Gió mềm mềm: Vừa tạo âm thanh (điệp ngữ "mềm mềm"), vừa tạo hình tượng (bản chất của gió không hình dạng được biến thành một hình thể mềm mềm nào đó).
Và thơ cứ tiếp tục như vậy cho đến hết đoạn.
Riêng câu cuối, tiếng "đêm" đã được cấu trúc làm biến bản chất thời gian của nó đi. Ðêm ở đây biến thành một khung cảnh gặp gỡ tình cảm thầm kín trong nỗi nhớ giữa người cha và người con mà khó có một cấu trúc tạp niệm nào có thể thay thế được. Thí dụ nếu bỏ tiếng "đêm" đi và thay thế bằng:
"Cha đào rơi, con tuyết rơi", hoặc:
"Bên đào rơi, bên tuyêt rơi", hoặc:
"Nơi đào rơi, nơi tuyết rơi"
Thì không đủ lịch sự và tinh tế diễn đạt tình tiết kín đáo giữa cha và con.
Hoặc nếu viết thành hai vế:
Ngày đào rơi
Ðêm tuyết rơi
Thì ai cũng hiểu là cha và con cách xa nửa địa cầu, bên cha mùa xuân thì bên con mùa đông, quê nhà ban ngày thì bên con ban đêm... quá luận lý và mất hết cảm xúc.
Tóm lại, thơ sống động khi không có tạp niệm ám ảnh. Ngay cả kinh nghiệm văn hóa chúng ta cũng cần quên đi để gặp gỡ được cái nguyên tuyền của sự vật. Cái nguyên tuyền này sẽ tự tìm kiếm một cấu trúc âm thanh lạ với hình tượng chưa bao giờ có để tạo thành một thi pháp theo đời sống riêng biệt của mỗi người chúng ta."
Ở trang 111 TK định nghĩa thơ: "Thơ là nói cốt chỉ để nghe, để hưởng giá trị cái hay, cái đẹp của mỗi tiếng, mỗi chữ, trong câu mình vừa nói,..."
Theo tôi, thơ không có giá trị vì nó có trước mọi giá trị. Nói như ÐQT là phê bình thơ chẳng có lợi ích là bao. Hơn nữa cái hay, cái đẹp nào cũng dựa vào ít nhiều ý niệm văn hóa nên cái cảm này rất tương đối và tùy tiện. Ðịnh nghĩa thơ phải là một định nghĩa im lặng, cái khí thơ sẽ mặc khải tiếng nói, tung ra ngôn ngữ cho loài người trở thành thi sĩ.
Sang phần tính chất phiếm định trong thơ, TK hình như lại để lộ một mâu thuẫn triền miên nào đó trong nội tâm khi viết: "Từ văn sang thơ có khi chỉ cần láy một từ, láy làm nhòe ý, tăng cường độ phiếm định, chuyển văn thành thơ..." (tr. 119)
Trước đó TK đã chứng minh : "ngàn dâu xanh một mầu" là văn. Ðổi sang thơ chỉ cần láy "xanh" thành "xanh ngắt Ừ để ta có câu thơ: "ngàn dâu xanh ngắt một mầu".
Nhận định này về thơ đã vô tình đem thơ vào trại cải tạo ngôn ngữ, ngày vào còn hoang mang, ngày ra đã hóa thành văn vần. Thơ tự xuất ra một cái áo ngôn ngữ cho nô Không có bất cứ một chiếc áo ngôn ngữ nhân tạo có thể làm mẫu hoặc khoác che cái đặc thù có một không hai của nô Thơ phát sinh ngôn ngữ, tái tạo ngôn ngữ, cải tạo ngôn ngữ và nhất là phi ngôn ngữ. Cảm được cái vô nghĩa của ngôn ngữ là cảm được cái khí thơ.
Sang phần "nguyên lý song song". Bốn tiếng này trang trọng và được TK nâng niu chu đáo khi viết nó là: "sự hòa phối âm thanh và ngữ nghĩa giữa hai yếu tố tương đương hoặc đối lập, tự bản chất đã có khái niệm nhị nguyên của đời sống, mang sẵn hình ảnh âm dương, hai yếu tố tác thành mối sinh động của muôn loài. Cấu trúc này giải thích khả năng biểu cảm, biểu niệm, tượng thanh, tượng hình của từ láy, giúp người đọc, người nghe không những nhận diện được vật thể bằng tên gọi, mà còn hình dung ra dáng dấp, nghe được âm thanh và đôi khi cảm thấy cả chuyển động của vật thể" (tr. 128)
Tôi biết nói gì hơn. Chúng ta áp dụng nguyên lý này hằng ngày khi đọc, nói, viết, xếp đặt đồ đạc, trang trí nhà cửa, cầm đôi đũa, múa đôi tay... Chép lại đoạn văn thơ vừa trích trên kia tôi thấy những gì TK vừa nói đã áp dụng tinh vi trong những phần pha chế văn vần của nó:
Xuân xuân sầu trắng váng
gió mềm mềm bóng quê
thơ đau thơ nhớ mẹ
con vệ đợi con về.
Ðào rơi rơi ngõ vắng
Tủi tủi gọi "Cha ơi!"
Tình ngọt, lòng đắng đắng
Ðào rơi đêm tuyết rơi
Nay TK đưa nó lên hàng "nguyên lý" việc đầu tiên là ghi ơn TK. Nhưng những người khai phá thường là những người chấp nhận khiếm khuyết và lầm lẫn. TK đã đồng hóa chức vụ của mỗi loại tiếng (danh từ, tính từ, động từ...) vào ba tác dụng từ láy của Ðái Xuân Ninh. Và đây là lầm lẫn:
Trong tác dụng thứ nhất là "làm giảm hoặc tăng cường nghĩa" (tr. 125), TK giải nghĩa tác dụng giảm nhẹ:
"Giảm nhẹ: Cường độ của một hành động hay mức độ của trạng thái giảm đi, so với từ gốc. Trong trường hợp này, trọng âm (hình vị cơ bản) rơi vào âm tiết thứ nhì:
nhẹ --> nhè nhẹ Mưa rơi nhè nhẹ trong hồn (Huy Cận) dịu --> dìu dịu Rơi rơi dìu dịu rơi rơi (Huy Cận)..."
Chúng ta thấy rõ ràng là "nhè nhẹ" tạo cảm giác nhẹ hơn, có nghĩa là tăng cái "nhẹ" thành "nhẹ thua" đó là tác dụng "tăng cường" chứ không "giảm nhẹ" như TK thí dụ. Nếu TK thay từ "nhẹ" bằng từ "đỏ" (mầu sắc) để ta có "đo đỏ" (giảm nhẹ mầu đỏ đi) hoặc từ "nhỏ" (kích thước) để có "quả cau nho nhỏ" thì định nghĩa của TK sẽ đúng. Ðể chứng minh cái khiếm khuyết này, chúng ta đọc tiếp: "Tăng cườngỉ: Cường độ của một hành động hay mức độ của trạng thái tăng lên, so với từ gốc. Trong trường hợp này, trọng âm năm trong âm tiết đầu":
Chúng ta lấy lại từ "nhẹ" làm thí dụ:
nhẹ ---> nhẹ nhàng ( (nhẹ nhàng <==> nhè nhẹ) > nhẹ).
Dù hiểu cách nào chúng ta cũng thấy rõ cái không ổn ở đây
vì hai từ "nhè nhẹ" giống như trạng thái hai tiếng "nhẹ
nhàng" nhưng từ gốc có thể ở đầu, hoặc ở cuối.
Ðể giải quyết cái trục trặc kỹ thuật nhỏ nhoi này chúng ta
phải phân biệt loại từ (chỉ mầu sắc, chỉ trọng lượng, chỉ
cảm giác, chỉ khích thước, chỉ thời tiết, chỉ nơi chốn, chỉ
thời gian....) rồi mới lập qui tắc áp dụng "tăng", "giảm", "tạo trí nhớ" (lập đi lập lại).... khác nhau cho mỗi loại tiếng.
Còn một nguyên lý nữa dùng 3 tiếng trùng âm tôi hay áp dụng
khi sáng tác. Thí dụ: "trầm trầm trầm lời kinh"; "Thanh
thanh thanh gió lạ". Hy vọng có dịp trình bày tỉ mỉ với TK.
Bài "Nguyên lý song song" này đã đăng trên Văn Học số 113,
gần một năm sau TK mới ra sách mà cái khiếm khuyết kia tôi
chắc ai đọc cũng nhận ra ngay nhưng không ai góp ý với TK. Tôi
cũng thuộc loại lười như đa số người làm văn học hiện nay
(hiện tượng buồn) và nhất là không quen biết TK nên đành
đợi đến hôm nay mượn mấy chữ múa rìu láo láo vậy.
Tôi chấm dút nói về tác phẩm của TK ở đây để chúng ta
đọc tiếp phần còn lại của quyển sách. Ðó là những trang TK
nói về những khuynh hướng, phong trào, trường phái của thơ
với nhiều trích dẫn xác đáng và với kiến thức sâu rộng.
Phần góp ý của tôi cho những chương còn lại là để người
đọc tự tiện, (xin huề).
Khải Minh
(*) Chú:
- Nguyễn Hưng Quốc ((Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ, 1988; Nghĩ Về Thơ, Văn nghệ, 1989; Thơ, v.v...và v.v..., Văn Nghệ 1996)
- Ðỗ Quí Toàn (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, Thanh Văn, 1992)
- Thụy Khuê (Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ, 1996)
CHIM BAY CÒN ÐỂ VẾT TÌM
Chẳng biết từ lúc nào giàn bông giấy nhà tôi dễ thương như Yên vậy. Lả tả cánh hồng lắt lay trong gió, khi cao khi thấp bay quấn quít vào giàn giây leo. Như hình ảnh của Yên, kỷ niệm với Yên tụm năm tụm bảy trong ký ức tôi. Sáng chủ nhật mỗi tuần Yên theo mẹ tới giao thuốc ở phòng mạch anh tôi. Cô hay tinh nghịch đưa tay với cành dâm bụt, rung mạnh để làm kinh động tới đám chim trên giàn leo. Chim bay ào lên, hoa sà xuống, Yên xoè tay ra hứng. Trông tướng cũng chằng ăn nhưng ngộ nghĩnh, vui vui. Chợt ngước lên bắt gặp tôi ở góc lầu, tiểu thư hĩnh mũi thách thức rồi đi thẳng vào trong. Mười lần như một, tôi tự nhủ mình đã "trao duyên lầm tướng cướp". Vậy mà đám chim sẻ chỉ dễ thương, giàn hoa giấy chỉ dễ mến khi Yên xuất hiện. Biết Yên học chung trường, tuy cùng năm nhưng khác buổi nên chẳng mấy khi tôi được gặp Yên. Mà cho dù có gặp, Yên cũng vác cái mặt kênh kiệu đó ra chào tôi. Thằng Thạnh bạn tôi bảo gia đình Yên bị đánh tư sản chạy về thị xã, Yên giỏi văn được tuyển vào lớp chuyên. Nó nói con gái chuyên văn kiểu cách khó chịu lắm, ghét nhất là dân chuyên toán vì khô khan. Rồi nó gào lên chọc tôi:
"Em chuyên văn lớp sáng
tôi chuyên toán lớp chiều
chưa bao lâu làm bạn
thì tôi đã biết yêu"
Nói làm bạn cho oai, chứ mỗi lần tôi dợm bước định chạy xuống nói chuyện với Yên thì Yên đã khoát tay vô cùng Lục Vân Tiên " khoan khoan dừng đó chớ ra, ta là phận gái, chàng là phận trai"
- Ông đứng đó nói chuyện tui cũng nghe được mà.
Cứ thế mà mỗi sáng chủ nhật tôi buồn, tức anh ách. Chỉ chờ cái xe đạp mi-ni đỏ của Yên lăn bánh ngang qua giàn bông giấy hồng thì tôi lẩm bẩm đọc thơ con cóc năn nỉ thầm:
"Người ta đồn sai bét
dân học toán khô khan
xin em đừng có ghét
tội nghiệp người khác ban".
Giàn hoa giấy nở rồi tàn, chim bay đi rồi về họp bầy. Như Yên, đến rồi đi, không thân thiện với tôi thêm chút nào. Nhưng tôi vẫn tự an ủi mình, ít ra vẫn còn nhìn thấy Yên mỗi tuần một lần, có chim, có hoa, bình an trong nắng. Hạnh phúc sao chừng như giản dị. Giản dị như chuyện dưng không tôi yêu Yên.
Thị trấn chấm dứt nạn cúp điện đêm. Ðèn đường sáng trở lại chiếu rộn rã trên giàn hoa giấy xum xoe, lan vào trong sân những bóng hoa li tị Nếu có ai hỏi tôi yêu gì nhất ( dĩ nhiên là sau Yên), tôi sẽ nói tôi yêu những ngọn đèn đường. Nhẩn nhơ chờ hoàng hôn xuống để được xem những trụ đèn trước nhà vụt sáng, tôi gặp Yên thay mẹ tới giao thuốc. Chim đã bay về tổ mà tôi nghe lòng mình ríu rít, hoa chiều đã tàn mà tưởng vườn đang xuân. Chỉ vì Yên thân thiện, khác hẵn với mọi lần.
- Ông đi chơi sao về trễ vậy?
- Không, tui ra đây để ngó đèn đường.
Yên tròn mắt phượng reo lên, như vừa gặp người bạn cũ:
- Trời ơi, sao ông thích đèn đường giống tui vậỷ
- Tại tui sợ thị trấn chìm vào bóng đêm lắm.
- Còn tui thì khác. Vìtui nhớ nhà tui ở Sài Gòn. Hồi mới tới đây tui khóc hoàị Thị trấn gì mà tối mù mù buồn căm căm. Chỉ có đèn đường mới làm tui đỡ cô đơn, đỡ nhớ Sài Gòn.
Có lẽ tôi quê mùa lắm, ngớ ngẩn lắm trước tâm hồn đa sầu đa cảm thành thị của Yên. Thoáng nhìn tôi, không hiểu sao Yên lại thở dài:
- Ông không biết đâu. Không ở đâu có đèn đường đẹp như Sài Gòn, tình như Sài Gòn. Phải chi tui là chim, là sáo tui sẽ lập tức bay khỏi cái huyện lỵ đìu hiu nầy. Vô duyên có thừa, tôi hỏi một câu không ăn nhập gìtới đề tài :
- Sao lâu nay Yên ghét tui dữ vậy?
- Tui đâu có ghét ông. Tui chỉ không thích ông thôi. Ai biểu ông nhà cao cửa rộng làm gì?
Tôi rít trong cổ họng. Ðặng Hà Yên, cô ngang như cua. Mấy đời ông nội tui, ba tui rồi anh tui hành nghề Ðông y ở đây. Yên "đánh tư sản" kiểu đó thì chết tui rồị Tui yêu Yên mà Yên. Yên chào tôi quay lưng, " em đi áo mỏng buông hờn tủi". Tôi nhìn theo câm nín một trời. Hờn hờn, tủi tủi mênh mông.
Năm thi đại học mà thằng Thạnh nó xúi tôi:
- Trường đang tuyển gấp thêm học sinh vào chuyên văn lớp mười hai vì có đứa mới đi ODP, mầy đi không, biết đâu chó lại ngáp phải ruồi, được học chung với Yên của mầy. Thế mà tôi vác đơn đi thi thật. Tụi bạn xỉ vả tôi thậm tệ nào là "việt gian", nào là "bán lớp", nào là vì tình mà bỏ bạn. Người xưa anh hùng còn khó qua ải mỹ nhân, huống gì kẻ hậu sinh tôi đây. Tôi chẳng dám manh nha mộng văn chương thi thố với người tạ Chỉ muốn được gặp Yên mỗi ngày. Có lẽ vì bận lo học thi mà lâu rồi không thấy Yên chở mẹ tới giao thuốc. Yên không tới, đám chim sẻ và giàn hoa giấy trông vô duyên lạ, đèn đường vàng ngọn buồn bẩ Tội nghiệp văn chương như con ruồi bị tôi ngáp phải. Tôi đậu.
Mà buồn thay, tình trường tôi rớt. Yên học chung với tôi một mạch hết lớp mười hai. Học một lèo tới khi thi đại học, rồi chưa tới hai phút Yên tóm tắt chuyện riêng của Yên cho tôi nghe:
- Ông nè, tui có bồ rồi. Gia đình anh Ðịnh là bạn cũ của nhà tui ở Sài Gòn. Anh Ðịnh là sinh viên khóa mười ba, đại học Kinh Tế, lo cho tui lắm. Thỉnh thoảng tui kể với ảnh về ông, khoe là ông bị tui ăn hiếp hoài nhưng rất tốt với tui. Tui muốn nói cám ơn ông lâu rồị Ông cho tui cám ơn nghe. À quên nói cho ông biết, tui sẽ thi vô đại học Kinh Tế.
Cái thị trấn đất đỏ miền đông nầy sao bỗng dưng mưa ầm ầm xuống đời tôi, mưa dai dẳng, mưa triền miên. Tôi đâm ra thù ghét cái đại học Kinh Tế chết tiệt nào đó ở Sài Gòn. Thù ghét cái khoá mười ba có anh sinh viên tên Ðịnh học giỏi, đẹp trai cướp đi Yên của tôi. Con chim, con sáo nào đó bỏ giàn bay đi, biết có còn trở về. Tôi ngó xuống giàn hoa giấy, coi mưa tạt mù mù qua sân mà rưng rức:
"tìm người ảo ảnh đầy tay
mắt môi từng nét chảy lai láng buồn"
Thị trấn nhiều năm không có Yên bình thản trong cái buồn đất đỏ ảm đạm. Như tôi bình thản sống tiếp đời mình có vết thương tình cảm mưng mủ nhức nhối. Cái ông nhà thơ nào đó chỉ thất tình có hai tháng trong năm:
"Kỷ niệm cũ còn nguyên vẹn đó
trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau".
Chứ tôi thì mỗi một năm có tới sáu cái tháng giêng, sáu cái tháng bảy như nhau buồn trước nối buồn sau. Tôi không thi đại học, không xuống Sài Gòn phồn hoa mà an phận cha truyền con nối trong cái cơ ngơi nồng mùi thuốc bắc của gia đình. Tôi sợ phải thấy Sài Gòn của Yên tình như Paris của Nguyên Sa "có bao nhiêu ngọn đèn xanh đèn đỏ" để anh Ðịnh hỏi "em có nhớ mỗi ngày bao nhiêu lần anh hôn em". Tội nghiệp những ngọn đèn đường thị xả. Leo lét mãi cũng mối tình tỉnh lỵ bọt bèo; em về vui bên ấy, mốt mai sẽ nhớ gị. Hỏi tức là trả lời. Làm sao Yên nhớ nổi. Cái thị trấn mưa nhiều hơn nắng nầy và tôi ở trong Yên nhỏ xíu, bé tí như cây kim châm. Chúng tôi rớt xuống lỗ hổng ký ức Yên, như cây kim rớt xuống lạch nước. Mất dấu. Nên chẳng bao giờ Yên phải chạnh lòng vì nhớ tới tôi. Còn tôi, chao ơi, còn sáng sáng ngó giàn hoa giấy, ngó bóng chim bay, còn đêm đêm thức cùng ngọn đèn đường làm thơ, viết văn rao bán chuyện mình. Gặp Yên đau buốt. Tôi cam lòng thấy em như con chim sẻ, con sáo sậu sổ lồng bay xa. Nhưng sao bay đi còn để vết tìm.
Cỏ Nhớ
Thân em như tấm lụa đào
(phần 2/2)
Không đợi Việt có phản ứng, Ngọc thoăn thoắt đi vô phía sau nhà. Mười phút sau, Ngọc trở lên, trong bộ đồ pyjama màu hồng nhạt, trên tay cầm một chai bia:
- May quá, nhà còn một chai bia 33 xuất khẩu, anh uống cho đỡ khát!
Việt đỡ lấy chai bia, để lên mặt bàn rồi nhìn Ngọc. Thật tình Ngọc quyến rũ quá. Cổ áo hơi rộng để hở một khuy nút. Không cần nhìn kỹ, Việt cũng biết là Ngọc không mang áo lót, để bộ ngực no đầy, căng ăm ắp. Lọn tóc phía sau được cột lên cao bằng một giây caò-su, để hở cái ót nõn nà mà nhìn kỹ sẽ thấy những sợi lông măng mềm mại. Việt nghe tim mình đập thình thịch, tai nóng bừng bừng, đầu hơi choáng váng. Việt chớp mắt, lắc nhẹ cái đầu, cố gắng quên hình ảnh khêu gợi của Ngọc, hỏi:
- Sao Ngọc không thay đồ để đi?
Ngọc chậm rãi cầm chai bia, rót bia vào ly cho Việt, cười cười:
- Bây giờ nghe làm biếng quá. Hay để bửa khác sẽ đi thăm Thúy nghe anh!
Việt chưng hửng, nhìn Ngọc thăm dò. Lời lẽ của Ngọc sao lại tình tứ quá! Chàng chuyển hướng:
- Ngọc lôi thôi quá, không đi thì không đi, nhưng có đường giây gì hay, nói thử nghe với!
Ngọc cười thành tiếng, có vẻ thích thú, cái thích thú của người đàn bà thấy người khác bị mình gạt. Thật tình Ngọc có biết đường giây mối nhợ gì đâu. Chẳng qua nàng đánh lừa Việt đưa nàng về nhà thôi. Ngọc nhìn Việt, tình tứ:
- Anh nôn nóng vậy! Sợ con Thúy nó trông hả?
- Thúy ưa xót ruột lắm đó!
Ngọc nheo mắt nhìn Việt. Nàng thấy Việt to con, toát ra cái vẻ nam tính hơn Huy nhiều quá. Nàng nghĩ thầm: tại sao mình không thể lấy một người chồng như thế nầy nhỉ? Mình đẹp đâu thua gì con Thúy! Cái con Thúy coi vậy mà hên, vừa lấy chồng đẹp trai, vừa lấy được người nó yêu! Cái con đó coi vậy mà ác! Nó thì lấy người nó yêu còn mình thì nó khuyên lấy người yêu mình! Thây kệ nó! Ðúng, Việt là chồng nó nhưng mình có bắt luôn đâu mà sợ nó trách! Ðôi mắt Ngọc đổi màu, tình tứ, thèm khát. Việt bắt đầu nôn nao. Những giọt mồ hôi bắt đầu rịn qua những lỗ chân lông. Xưa nay, chàng chưa hề tơ tưởng đến Ngọc vì Ngọc và vợ chàng xem nhau gần như chị em ruột thịt. Nhưng bây giờ thì sao? Con mồi mơn mỡn ngon lành chẳng phải khó nhọc gì mà có thể bắt được một cách dễ dàng, chẳng lẽ lại từ khước! Việt vói tay cầm ly bia lên, uống một hơi gần hết nửa. Luồng bia lạnh chạy qua thực quản, chạy xuống dạ dày, chạy đến đâu mát đến đó làm chàng vừa thoải mái vừa hơi ngất ngây. Việt ngước nhìn Ngọc, Hai con mắt nàng mơ mơ, đờ đẫn, mời gọi. Ngọc từ từ đứng lên, chẳng nói tiếng nào, bước những bước nhẹ nhàng, rũ rê, đi vào phòng ngủ, để cánh cửa khép hờ. Việt vẫn ngồi im lặng trên salon, rót thêm bia vào ly và uống thêm một ngụm nữa. Ðã hơn 6 giờ chiều. Giờ nầy Thúy và ba đứa nhỏ đang chờ chàng về ăn cơm tối. Chàng nghe hơi xót bao tử, không biết vì đói, vì bia, hay vì lo. Hai tay bắt chéo nhau để phía sau ót, chàng ngồi ưỡn người ra, ngước mặt nhìn lên trần nhà. Chiếc quạt máy quay những vòng quay đều đặn, nhẹ nhàng. Bất chợt, Việt đứng dậy, chần chừ, rồi ngồi xuống. Chàng đưa mắt nhìn vào cửa phòng ngủ của Ngọc, tưởng tượng cái hình ảnh sau lần cửa khép.
Ngọc chắc đang nằm thẳng người ra, ngực phập phồng, lim dim đôi mắt đợi chờ. Việt lại đứng dậy, đi lần về phía cánh cửa phòng ngủ. Nửa đường, chàng dừng bước, quay trở lại và ngồi phịch xuống salon. Việt suy nghĩ miên man. Lẽ nào! Lẽ nào mình lại phản bội Thúy! Ngọc là người bạn thân nhất của Thúy! Thì sao? Mình có phản bội Thúy không? Có phải mỗi lần đi ngang về tắt là phản bội vợ hay không? Tại sao những lần mình cùng lũ bạn đi bậy bạ, mình không có cái cảm giác hồi hộp như bây giờ? Nếu Thúy biết, nàng sẽ nghĩ sao đây? Lẽ nào mình lại phá tan niềm tin nhỏ nhoi còn lại của Thúy, của đám con khi mà họ không còn biết tin tưởng ở điều gì nữa trong cái buổi đổi đời khốn khó nầy! Việt chợt nghĩ đến Huy. Huy nữa! Mình có quyền phản bội Huy hay không? Dù gì cũng ở chung nhà mấy năm! Tội nghiệp, đã hai năm rồi mà Huy chưa được về với vợ con. À, còn thằng Lộc nữa, nó cũng chẳng khác gì con mình nhỉ! Không, không! Mình đã không tham dự, đóng góp được gì cho chuyện bảo vệ mảnh đất miền Nam nầy, lẽ nào mình lại lợi dụng sự vắng mặt của một người lính đang lê kiếp lao tù trên rừng trên núi mà dây dưa với vợ người ấy! Ðó là chưa kể người lính ấy còn là bạn của mình! Lẽ nào mình khốn nạn đến thế nhỉ? Lẽ nào mình lại cướp mất của Lộc niềm hãnh diện về người mẹ của nó! Mai sau, khi Lộc lớn lên, nếu biết chuyện mẹ nó đã có lần phản bội lại cha nó với bạn của ba nó, thằng bé sẽ cảm thấy sao trong lòng? Việt nghĩ đến mẹ mình suốt đời cực khổ với chồng với con. Người mẹ quê mùa đó của Việt, dù nhìn dưới bất cứ góc cạnh nào, vẫn luôn luôn là niềm hãnh diện tự hào của chàng, là niềm an ủi mỗi khi chàng thất bại, là cái phao mỗi khi chàng đau khổ, hụp lặn trong dòng sông đời mê muội, thì lẽ gì chàng lại đi cướp đoạt những thứ ấy của một thằng bé đáng tuổi con chàng! Không! Việt lẩm bẩm một mình. Không được! Không được! Quyết định, chàng hít một hơi dài, đứng bật dậy, bước ra khỏi nhà Ngọc, kéo ầm cánh cửa lại rồi bỏ đi không lời từ giã. Bên trong phòng ngủ, Ngọc úp mặt vào gối, khóc tức tưởi.
Một tháng sau đó, trong khi quanh quẩn trên đường Võ Di Nguy, Việt gặp Ngọc đi bên một chàng thanh niên cao lớn, râu quai nón, trẻ hơn chàng nhiều. Ngọc không những không lẫn tránh mà còn diễu qua diễu lại cho Việt thấy. Việt làm tỉnh. Ngọc như không chịu tha, cố tình chạm mặt chàng. Ngọc lên tiếng trước:
- Anh Việt đi đâu một mình vậy? Xin giới thiệu với anh, anh Khánh.
Rồi xoay qua phía chành thanh niên đầy vẻ ăn chơi, Ngọc âu yếm:
- Ðây là anh Việt, chồng cô bạn gái ngày xưa của Ngọc.
Việt hơi ngỡ ngàng nhưng cũng cố không để lộ xúc động ra ngoài mặt. Chàng gật đầu chào:
- Xin chào anh Khánh, chào Ngọc.
Khánh gật đầu đáp lễ, trên môi nở một nụ cười đầy kiêu căng, tự đắc. Việt nghe trong lòng mình dấy lên một nỗi buồn cho Huy, cho thân phận của những thằng đàn ông thiếu may mắn. Chàng nhủ thầm trong bụng: ai làm gì thì làm, miễn không phải mình là được! Ngọc tươi như một đoá hoa đang hồi nở rộ, nắm tay Khánh, chào Việt rồi dẫn đi, không quên quay đầu lại nheo mắt với Việt để chọc tức chàng.
Ðã rất nhiều lần Việt định kể lại chuyện Ngọc và Khánh cho vợ nghe, nhưng chàng không biết tại sao vẫn cứ trù trừ. Trên bàn cơm, chàng thường nhìn vợ, đăm chiêu suy nghĩ. Không biết nếu như mình phải đi tù như Huy, liệu Thúy có như Ngọc hay không? Không biết trình độ văn hoá có giúp gì cho người đàn bà xuân sắc trong chuyện tự chế dục tính khi vắng chồng lâu ngày hay không? Thúy thấy chồng hay tư lự thì hỏi nhưng lần nào Việt cũng không chịu kể chuyện của Ngọc.
Phần gia đình Ngọc, giữa năm bảy mươi tám, Huy được thả về vì bệnh. Khi Huy về lại Sài Gòn, mọi việc đều thay đổi. Cuộc sống vợ chồng của Huy trở nên nhạt như nước ốc. Ngọc như người lãnh cảm, ít khi cười nói với chồng, ít khi cùng chồng con đi đâu chung. Ngọc buộc Huy ở nhà với con còn nàng thì đi làm. Lương nàng thật ra không đủ cho nàng mua son mua phấn. Khánh, kép của nàng thì chạy mối ở chợ trời Võ Di Nguy, cũng gần nơi nàng làm việc nên ngày nào hai người cũng hẹn hò với nhau.
Cho đến một hôm, ở nhà một mình lâu cũng buồn, Huy đợi vợ ra khỏi nhà rồi dắt con đi phố. Ðến trưa, Huy đưa con vô tiệm Chí Tài ở chợ Cũ, trên đường Võ Di Nguy để tìm lại chút hương vị ngày xưa. Chàng nghe nhớ món mì Ý đúc lò mà Ngọc hay đòi ăn lúc trước. Ngồi trong tiệm nhìn ra ngoài đường, tình cờ Huy thấy Ngọc đi ngang qua trước tiệm, rất thân mật bên cạnh một thanh niên. Bé Lộc định kêu "mẹ" nhưng Huy kịp bịt miệng thằng bé lại. Thì ra vậy! Nhưng Huy là người bình tĩnh và đã quen chịu đựng những việc đau lòng trong mấy năm tù tội nên lẵng lặng ngồi yên. Khi dắt con về nhà, Huy dặn con đừng nói cho mẹ hay chuyện gì hết. Thằng bé ngây thơ hỏi:
- Sao vậy ba?
Huy ú ớ một lúc, rồi tìm đại một câu giải thích:
- Mẹ không thích gặp ba con mình ở ngoài đường.
Thằng bé lại hỏi:
- Tại sao mẹ không thích gặp ba với con ở ngoài đường?
Huy đâm bực, gắt:
- Thì không thích là không thích, con đừng hỏi nữa!
Lộc xịu mặt xuống. Huy nhìn con vừa thương, vừa bực, vừa đau trong lòng. Tại sao? Tại sao? Tội nghiệp thằng bé, mới bảy, tám tuổi đầu đã phải làm một kẻ đồng loã với người lớn. Nó không hiểu vì sao nhưng cũng cảm thấy được cái quan trọng của sự việc nên không dám trái lời ba.
Sau buổi trưa hôm đó, Huy ngấm ngầm theo dõi Ngọc. Khi đã nắm đủ yếu tố, Huy đặt vấn đề với vợ. Hôm đó, sau khi ăn cơm chiều xong, Huy mời Ngọc ra salon ngồi để nói chuyện. Ngọc bực bội:
- Anh muốn nói gì thì nói đại đi. Em mệt, cần nằm nghỉ.
Huy từ tốn:
- Theo anh, mình nên thành thật với nhau hơn, cho dù sự thành thật có làm đau lòng nhau đi nữa...
-Anh làm cái gì mà cải lương vậy?
Huy im lặng một lúc. Ngọc dục:
- Anh muốn nói gì thì nói đại đi!
Huy nhìn thẳng vào mắt vợ:
- Anh muốn biết người đàn ông thường đi với em là ai?
Ngọc đứng dậy, bực bội:
- Ngoài đường thiếu gì đàn ông con trai, làm sao em biết hết được?
Huy lấy tay gõ nhịp xuống cạnh bàn một lúc rồi xẳng giọng:
- Em đừng làm bộ nữa!
- Em làm bộ?
Huy như không thể nhịn được:
- Chính anh và cả thằng Lộc đều thấy em đi ngờ ngờ với nó trên đường Võ Di Nguy, trước tiệm Chí Tài. Em còn chối được hay sao?
Ngọc đâm quạu:
- À, thì ra anh theo dõi tôi phải không? Tôi là đàn bà mà phải đi làm bộ không đủ khổ cực hay sao mà anh còn hành hạ tinh thần tôi nữa! Anh muốn gì, thì cứ làm! Ừ, tôi đi làm thì tôi có bạn đó, được không? Bộ tôi không có quyền hay sao?
Huy nghe điếng người, nhưng cố bình tĩnh, nhỏ nhẹ:
- Ý anh nói là nếu như em không còn thương anh nữa...
Ngọc nhìn sâu vô đôi mắt buồn buồn của chồng. Không phải là nàng không còn thương Huy nữa. Nàng vẫn còn thương Huy, nhưng chỉ còn thương Huy vì nghĩa mà thôi. Cái chữ "nghĩa" là chữ mà người ta thường mang ra để biện hộ cho sự phá sản của chữ "tình". Huống chi, cái chữ nghĩa ở thời buổi chao đão nầy làm gì có đủ sức mạnh để ngăn cản được ai! Thật tình, chưa bao giờ Ngọc yêu Huy cả, ngay thời trước bảy mươi lăm. Những cuộc hôn nhân không phải vì tình mà vẫn bền vững là chuyện ngày xưa, thời của ba, mẹ Ngọc. Bây giờ, chuyện ấy nếu còn, cũng hiếm lắm. Khánh không những có nhiều tiền mà còn đẹp trai hơn Huy gấp bội, có đủ thứ tiêu chuẩn mà Ngọc thích: "ô, đô, bô, cô". Trong khi đó, Huy đã không còn như ngày xưa nữa. Ngọc tằng hắng, lấy giọng, nói với Huy:
- Em bây giờ chán quá rồi. Anh muốn sao cũng được!
Huy thấy câu chuyện đến đó đã đủ rồi. Chàng không còn hy vọng gì nữa. Van xin ư? Vừa hèn vừa chẳng được gì. Mấy năm tù tội đã làm chàng trở thành người đầy mặc cảm và chịu đựng. Nhưng chàng vẫn còn ấm ức trong lòng khi nghĩ đến mẹ chàng. Cha Huy qua đời khi Huy còn nhỏ thế mà mẹ chàng vẫn ở vậy nuôi con. Nội Huy nhiều khi thấy tội cho tuổi xuân của nàng dâu, cũng khuyên mẹ Huy nên bước thêm một bước cho khỏi cảnh phòng không gối chiếc trong lúc thanh xuân. Nhưng mẹ chàng vẫn không thiết tha tới chuyện tái giá, lắc đầu từ chối: "thưa má, con chỉ muốn ở vậy nuôi con, từ ngày ảnh đi rồi, con đâu còn tha thiết gì nữa!" Cha mẹ Huy đâu có biết nhau trước khi cưới hồi nào đâu! Huy lẩm bẩm một mình: "thôi, được rồi, cũng là số phận". Huy đứng dậy, lấy cuốn tập của Lộc, xé một tờ giấy trắng, viết mấy chữ "tôi bằng lòng trả lại tự do cho Ngọc", ký tên phía dưới, để trên bàn, không nói một tiếng nào, rồi bỏ vào phòng, dọn đồ vô valise. Huy nghĩ thầm: cộng sản trả tự do cho mình thì đến phiên mình cũng nên trả tự do cho người khác, là chuyện công bằng chẳng phải hay sao! Ngọc cầm tờ giấy ký sẵn của Huy, ngơ ngẩn xuất thần, buồn vui lẫn lộn. Nàng vừa giải quyết được dứt khoát câu chuyện mà trước sau gì cũng phải giải quyết, nhưng nàng đâu nghĩ là dễ dàng đến thế. Thế nhưng, dù sao cũng đã từng là vợ chồng với nhau, cũng đã có một mặt con với nhau. Ngọc thương con nhưng bé Lộc đã ở xa nàng từ bé nên nàng cũng đã quen. Nàng đang cần rãnh tay, không bận bịu. Bé Lộc đứng bên cạnh, nhìn mẹ mà không dám nói một tiếng nhỏ. Thằng bé chưa biết cái gì sẽ đến với nó. Nó chỉ cảm thấy là ba mẹ không còn thương nhau như ngày xưa nữa, chứ chưa hiểu rằng, mai đây, nó sẽ phải theo ba về que nội mà mẹ nó không theo. Ngọc tự nói thầm: "không phải là mình phụ bạc, mà vì hôn nhân mà không có tình yêu thì như vậy đó".
Hôm sau, Huy ra phường xin giấy, tự nguyện về quê canh tác. Tên phường trưởng vui vẻ ra mặt:
- Thế là anh biết tự giác rồi đấy! Chúng ta nên chấp hành tốt chánh sách của đảng và nhà nước, nhất là trường hợp anh vừa được nhà nước khoan hồng. Chúng tôi xin hoan nghênh anh và chúc anh lao động tốt!
Huy không buồn để ý đến lời nói như con vẹt của tên phường trưởng. Mấy năm rồi, bất cứ ở đâu có cán bộ, chàng cũng từng nghe qua quá nhiều những lời ân nghĩa giả dối ấy. Qua ngày hôm sau, Huy dắt Lộc về Vĩnh Long, ở với mẹ chàng, trồng sắn trồng khoai, vui với ếch nhái cỏ cây mà quên đi câu chuyện của một thời đã qua.
Còn lại một mình ở Sài Gòn, Ngọc tha hồ ăn chơi với Khánh. Hai người tự do tự tại, chẳng còn phải tránh né ai cả. Một hôm gặp lại Ngọc ở chợ Cũ, Thúy mừng rỡ, hỏi han:
- Nghe nói anh Huy về rồi sao mày với ảnh không đến nhà tao chơi?
Ngọc nhún vai, thản nhiên:
- Ðường ai nấy đi rồi mày ơi!
Thúy chưng hửng:
- Tại sao vậy?
- Chẳng tại sao cả! Không hợp thì xa nhau chớ sao!
Ðang nói chuyện với nhau thì Khánh đến. Ngọc giới thiệu Khánh với Thúy rồi chào chia tay. Thúy lại chưng hửng một lần nữa. Về nhà, Thúy kể cho chồng nghe chuyện Ngọc và Huy. Việt nghe xong, nhún vai, không bình phẩm. Thúy bực tức:
- Sao anh không có ý kiến gì hết vậy?
Việt nhìn Thúy, vẻ quan trọng:
- Lấy nhau mà không có tình yêu là vậy đó. Mà em để ý làm gì cho mệt. Kệ người ta có được không?
Thúy cũng đành quên đi câu chuyện của người bạn gái thân thiết từ ngày ấy. Thế nhưng, ba tháng sau, cũng ở chợ Cũ, Thúy lại gặp Ngọc một lần nữa. Lần nầy, Ngọc tiêu điều xơ xác lắm. Nước da Ngọc xanh xao, mặt mũi không còn son phấn như ngày trước. Thúy vồn vã cầm tay Ngọc:
- Lúc nầy ra sao mà xanh lè vậy?
Ngọc cúi đầu nhìn xuống đất như để tránh cái nhìn của Thúy. Thúy lo cho bạn, dục:
- Có gì cứ nói đi, làm được gì cho mày tao sẽ làm cho!
Ngọc từ từ ngước lên nhìn Thúy, nước mắt như sắp sửa rơi. Thúy cầm tay bạn, dìu ra chỗ vắng, hỏi:
- Có chuyện gì buồn vậy? Bộ nhớ thằng Lộc hả? Nhớ nó thì đi Vĩnh Long mà thăm nó chớ có gì mà buồn!
Ngọc từ từ nói:
- Nhớ nó thì tao nhớ chớ sao không. Nhưng lúc nầy tao chán quá. Khánh nó lừa hết tiền tao rồi trốn đi vượt biên với con khác rồi. Tao còn mặt mũi nào nhìn lại anh Huy và thằng Lộc nữa. Tao đã mang bầu gần hai tháng với nó. Tao không còn biết phải làm sao. Thực tình tao muốn chết quá!
Thúy trợn mắt nhìn Ngọc, buột miệng:
- Thằng khốn nạn đó, à quên, xin lỗi mày, người đó có biết mày có bầu không?
- Không!
- Mày còn đi làm không?
- Không, tao đã xin nghỉ từ tháng trước vì nghĩ là Khánh sẽ cùng tao vượt biên.
Thúy ái ngại nhìn bạn:
- Bây giờ mày tính sao?
Ngọc lấy chân chà một chiếc lá khô trên mặt đất, đầu cúi xuống, mắt đỏ hoe. Bây giờ tính sao đây? Ngọc lẩm bẩm lặp lại câu hỏi của Thúy mà lòng ngổn ngang trăm mối. Tính sao? Tính sao đây? Ngọc lấy khăn tay vừa chậm nước mắt, vừa hỏi Thúy:
- Mày thấy tao nên phá không?
Thúy đâu biết phải trả lời sao, cũng chẳng biết phải làm gì để giúp bạn. Thúy đề nghị đại:
- Thôi mày về Hốc Môn hỏi má mày thử bả nói sao.
- Ý, đâu có được! tao không đủ can đảm để gặp ai trong gia đình tao nữa hết! Má tao biết chuyện nầy chắc chửi tao chết chớ đừng nói hỏi bả!
Thúy cắn môi, suy nghĩ giùm bạn. Như chợt nhớ ra điều gì, mắt Thúy sáng lên. Nàng đề nghị với Ngọc:
- Hay là mày phá quách cái "nợ" nầy, rồi mày, tao và Việt ba đứa đi Vĩnh Long tìm anh Huy và Lộc. Việt và tao sẽ ra sức thuyết phục Huy cho, được không?
Ngọc há miệng, trợn mắt nhìn người bạn thân của mình:
- Tao đã nói là tao đâu còn mặt mũi nào nữa! Tao nhớ Lộc quá mày ơi!
Thúy đành im, đâu biết đề nghị gì hơn. Ðề nghị gì Ngọc cũng không chịu. Mà nghĩ cho cùng, nếu là Thúy, nàng cũng đâu thể nào tìm gặp lại chồng con nữa. Thúy cầm tay Ngọc, dịu dàng, nhỏ nhẹ:
- Thôi, mày về nhà tao nghỉ đã, đợi Việt đi làm về rồi hãy tính sau.
Ngọc trù trừ, nửa muốn nửa không. Thúy dỗ:
- Nghe tao đi mày! Ðừng buồn làm gì, chuyện đâu còn đó! Ði về nhà với tao!
Một chiếc xích lô đi ngang qua. Thúy ngoắt lại, đợi Ngọc lên ngồi ngay ngắn rồi nàng bước lên sau. Từ chợ Cũ về nhà Thúy ở Cầu Sơn tương đối xa. Bác xích lô có lẽ thiếu ăn nên ốm tong teo, đạp lên dốc Hai Bà Trưng một cách khó nhọc. Thúy ngoái đầu nhìn ra sau, mỉm cười với bác xích lô để khuyến khích.
Sau khi về đến nhà, Thúy và Ngọc ngồi tâm sự ở phòng khách, đợi Việt về. Mấy đứa con của Thúy chốc chốc chạy lên chạy xuống nô đùa càng làm Ngọc nhớ bé Lộc hơn. Có tiếng lẻng kẻng phía trước nhà. Hai đứa con gái lớn của Thúy chạy ào ra sân, la hét:
- Ba về! Ba về!
Thằng bé hơn 2 tuổi ngồi trong xe đi, ở phòng khách, cũng chật rật dậm chân xuống đất kêu "pa, pa".
Thúy và Ngọc chưa kịp có phản ứng thì Việt đã vô tới phòng khách. Thúy đứng dậy, nắm tay chồng chỉ Ngọc:
- Anh à, Ngọc lại chơi với tụi mình đó!
Việt hơi khựng lại, im lặng nhìn chỗ khác. Ngọc thì cúi đầu xuống như không thấy Việt. Thúy hết nhìn người nầy đến người kia. Việt nói nhỏ đủ cho Thúy nghe:
- Anh mệt, cần nghỉ. Em dùng cơm với bạn đi, anh không ăn!
Nói xong, Việt đi nhanh lên lầu. Thúy chẳng hiểu gì cả, chạy lên theo, mở cửa phòng ngủ, hỏi Việt:
- Anh làm cái gì kỳ vậy? Ngọc là bạn của tụi mình mà! Cho dù nó với Huy không còn ở với nhau nữa nhưng đó là chuyện của nó, can chi đến tụi mình? Anh thay đồ lẹ đi rồi xuống đây, em và Ngọc cần hỏi ý kiến anh cái nầy!
Việt trả lời cộc lốc:
- Anh không ăn! Anh cũng chẳng có ý kiến gì mà hỏi! Em xuống đi!
- A, cái anh nầy kỳ chưa! Anh bị quỷ ám hả? Con Ngọc nó làm gì anh mà anh ghét nó dữ vậy?
Việt gắt:
- Ngọc nó chẳng làm gì anh cả! Nhưng anh nói rồi, anh mệt, không muốn ăn cơm!
Thúy thấy không thể thuyết phục ông chồng vốn cứng đầu cứng cổ của mình, nguýt Việt một cái rồi đi xuống phòng khách. Vào phòng khách, không còn thấy Ngọc đâu nữa, Thúy xuống bếp hỏi bà dì:
- Ngọc đâu rồi dì Tư?
- Ngọc nói có chuyện phải về nên đi rồi. Dì định lên lầu gọi con xuống nhưng cổ không cho. Dì đâu biết làm sao!
Thúy ngơ ngẩn bước từng bước nặng nề lên lầu, vô phòng con gái lớn của nàng rồi nằm vật trên giường. Bên ngoài, bóng hoàng hôn đã tắt, nhường một phần mặt đất cho màn đêm buồn thảm như một đời người./.
Nguyễn Bá Dĩnh