vhnt, số 281
20 March 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ:
1 - Night in the back garden / Ðêm say.. ..........Nguyễn Thị Hoàng-Ân
2 - Tản mạn về những giọt nước mắt.......................Cát Nhu
3 - Mảnh đời dĩ vãng / Giọng hát chiêm bao................Hàn Trân
4 - Tìm nhau.......................................................Chung Lê
5 - Tình / Tư lự............................................Trọng Hoàng
6 - Có những.............................................Trần Thái Vân
7 - Trời đông...............................................Hữu Nguyên
8 - Phụng Hiến.................................................Bùi Giáng
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Tản mạn về làng mạc miền Nam (phần 2/2)......Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Hình như là nỗi nhớ......................................Ý Liên
11 - Viết cho những chuyện-tình-không-trọn-vẹn.............Cát Nhu
12 - Yêu người............................................Phùng Nguyễn
vhnt số này chủ đề về "tình yêu", đề tài muôn thuở của loài người. Những bài thơ và những đoản văn, truyện ngắn trong nội dung kỳ này sẽ đưa bạn vào một vùng cảm xúc mênh mang, ở đó có nỗi nhớ, niềm đau, có kỷ niệm và nhớ thương, có đau khổ và hạnh phúc, có nước mắt và nụ cười...
Bùi Giáng, trong bài "Phụng Hiến", còn phải thốt lên rằng:
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn
Con vi trùng, sâu bọ cũng... yêu luôn, thì loài người làm sao tránh khỏi? Nào, xin mời bạn đọc bước vào thế giới tình yêu của loài người...
Chúc bạn một ngày... yêu thật nhiều.
thân ái,
PCL/vhnt
Night In The Back Garden
The dew drop
on the tea leaf
drips
toward the puddle;
The Jasmine flower's perfume
permeates the night air...
The lover's reverie
weaves her lover face
with memories.
Ðêm Say
trăng nõn nà phơi thân trần khoả
núi sông nằm tắm đẵm sương trinh
đêm khép mở đường cong tình ái
Em ngủ say môi gọi tên chàng
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
(Richardson, 3/8/97)
TẢN MẠN VỀ NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT
I.
Ðằng sau nụ cười tươi
Là giọt nước mắt buồn
Khô khốc...
Rơi.
II.
Tôi vẽ những vòng tròn
trên giấy trắng
Như vẽ những vòng kẽm gai
tôi tự trói mình.
III.
Em mãi là nỗi đau
một đời
mà một thời
tôi giấu kín.
IV.
Tôi ngước mắt nhìn lên tờ lịch cũ
Bụi thời gian theo năm tháng phủ dày
Tôi vẫn giữ nhưng nào em có đợi
Ðể cuối cùng tình như thoáng mây bay.
V.
Tôi kết thúc một bài thơ
bằng dấu chấm;
Em chấm dứt một cuộc tình
bằng lời nói gây nên nỗi đau tôi.
Cát Nhu
Mảnh Ðời Dĩ vãng
Sâu thẳm âm thầm mấy vì sao
Hai mươi năm lẻ cuộc ba đào
Mơ hồ có tiếng hồn ai oán
Ðịa ngục đong đầy mấy chiêm bao
Xa tít vợi vời chân biển vắng
Một lần quay gót , giọt xôn xao
Tạ từ ai nghĩ gì vĩnh biệt
Giờ thì dĩ vãng ngậm đớn đau.
Tôi nhớ gió chiều me thay lá
Tuổi trẻ vô tư với ngọt ngào
Tú Xương, Thị Ðiểm, Trần Quí Cáp
Những vùng ưu ái của nôn nao
Gia Long nón nhẹ vành e ấp
Vạt áo bay bay vẩy câu chào
Ði về san sẽ lời chim hót
Hồn nhiên lối nhỏ cỏ xanh xao
Hàng cây tựa ngỏ cao trốn nắng
Duy tân bùng binh nhỏ bâng khuâng
Ðức Bà thánh lễ ngày chủ nhật
Tự Do góc phố đợi một lần
Bâng khuâng hớt nắng Viên Cầm Thảo
Rẽ về gối mộng nhạc Trưng Vương
Bỉnh Khiêm đông đão và huyên náo
Nên lắm thẹn thùng khúc tỏ tường
Sài gòn vồn dập mà thân ái
Tình gửi yêu trao những tháng ngày
Lê la ngơ ngẩn gầy hoang dại
Sáng nắng , chiều mưa với ngất ngây
Ðêm dài ngôi đá bờ thương nhớ
Nghèn nghẹn quê hương tuổi xa mờ
Quá khứ mộ đời rêu phủ đó
Vị lai ai nhớ Sài gòn mơ?
Ngõ cùn đại dương nghe sóng vỗ
Hai buổi , một hồn khóc cố đô
Giọng Hát Chiêm Bao
Tuyết tháng ba, Thứ sáu
Trời đong đầy hư hao
Xe người mấy cuộc đậu
Chân ta ở chốn nào
Mắt mờ trong hơi ảo
Lòng phơi phới nôn nao
Em tin về một dạo
Ta đợi mãi mộng đào
Mộng lên, sầu chôn dấu
Em lạc bước nơi đâu?
Ði về đồng dã thảo
Nơi mộc đá xanh xao
Hay thoáng dìu tiết tấu
Vào đỉnh tình vân lâu?
Khi nào chùng bước lạ
Quay gót mộng hồi đầu?
Ta vẫn chờ ngơ ngẩn
Trơ đá cuội sông đào
Trong tuổi mòn năm tháng
Xin giọng hát chiêm bao
Xin hồi sinh tái tạo
Cuộc đắng có là bao
Ngồi đây mây áo não
Cỏ trắng tuyết nghẹn ngào
Quạnh hiu vài tiếng sáo
Cõi sang mùa rồi sao?
Hàn Trân
Tìm nhau
Tìm nhau tiền kiếp xa xưa
Mây trên đỉnh núi gọi mưa giọt sầu
Tìm nhau tháng bẩy mưa Ngâu
Bầy chim ô thước, nhịp cầu trao tay
Tìm nhau ngất ngưởng cơn say
Bài thơ không tựa, người nay không nhà
Tìm nhau giữa chốn phong ba
Kinh xưa không chữ, lời là vô ngôn
Tìm nhau trong giấc hoành môn
Người xa quãng vắng, nửa hồn trông theo
Tìm nhau vách đá cheo leo
Cơn mê chưa tỉnh, đường đèo chưa qua
Tìm nhau môi mắt lụa là
Mắt hoen mầu nắng mượt mà hương thơm
Tìm nhau chớp bể mưa nguồn
Trong thơ rơi rụng nhịp buồn đêm trăng
ChungLe
(3/7/97)
TÌNH!
Tôi sắp mất em, sắp mất em!
Chữ tình mang, luống nỗi đau thêm.
Thời gian như cánh thiên thần gãy
Bay nặng khắc khoải niềm thâu đêm.
Gió lạnh ngoài song chợt thổi vờn
Chút cô độc thấu qua linh hồn.
Buồn vui có phải duyên trời định?
Ta sống giùm ai kiếp sinh tồn?
Ðôi tay run run, óc run run
Tình như con sóng khóc hoài mong
Lặng tê một phút buồn năm tháng
Còn gì đâu ngù ngờ ngóng trông!
TƯ LỰ
Thuyền bơi nhỏ đi từ bến sông
Nước lặng lờ trôi cùng gió đông
Thăm thẳm chân trời màu tím nhạt
Ðêm xuống ngày mai có sáng không?
Trọng Hoàng
07/03/1997
CÓ NHỮNG...
Có những nhịp cầu không bắt qua sông
Có những mối tình chỉ một số không
Có những vì sao không bao giờ sáng
Có những nỗi buồn vĩnh tận, mênh mông
Có những ngày đi mà chúng không qua
Có những đơn từ nghe rất thiết tha
Có những cô đơn chập chùng vây đến
Có những ngại ngùng chẳng dám nói ra
Có những bài thơ làm ai bâng khuâng
Có những nụ cười làm ai lâng lâng
Có những ưu tư khiến lòng lo sợ
Có những đợi chờ ngày đếm bao lần
Có những mùa đi không có mưa ngâu
Có những đêm dài thao thức mắt sâu
Có những tiếng chim xuôi về dĩ vãng
Có những giấc mơ nhắc chốn giang đầu
Có những giấc mơ không thành sự thật
Thì thôi em xin giữ một tình thương!
trần thái vân
Trời đông
Xưa chiều sương khói chừng hoang lạnh
Tay nắm bàn tay thấy ấm lòng
Nay nắng hanh vàng trên bãi vắng
Nghe đời cách núi với ngăn sông.
Xưa tiếng em cười tươi ý nhạc
Mắt huyền thăm thẳm, tình mênh mông
Nay gió ngập ngừng trong kẽ lá
Vật vờ mây trắng, buốt hư không.
Hữu Nguyên
PHỤNG HIẾN
Con có nghĩ: ắt là phải thế
Một đôi lần con ghì siết hai tay
Nàng thơ đẹp của trần gian ứa lệ
Bảo con rằng: hãy nhớ lấy phút giây
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
Cây và cối, bầu trời và mặt đất
Ðã nhìn tôi dưới sương sớm trăng khuya
Mở buồng phổi đón gió bay bát ngát
Dừng bên sông bến cát buổi chia lìa
Hoàng hôn xuống, bình minh lên nhịp nhịp
Ngàn sao xanh lùi bước trước vừng hồng
Ngày rực rỡ đêm êm đềm kế tiếp
Ðón chào tôi chung cười khóc bao lần
Tôi đã gửi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong
Sông trắng quả bảo lòng tôi mở cửa
Trăng vàng sao giục cánh mộng tung ngần
Gió thổi dậy lùa mơ vào bốn phía
Ba phương trời chung gục khóc đêm giông
Những giòng lệ tuôn mấy lần khắc khoải
Những nụ cười tròn mấy bận hân hoan
Những ngoảnh mặt im lìm trong ái ngại
Những bắt tay xao động với muôn vàn
Những người bạn xem tôi như ruột thịt
Những người em dâng hết dạ cho tôi
Những người bạn xem tôi là cà gật
Những người em không vẹn nghĩa mất rồi
Trần gian hỡi? Tôi đã về đây sống
Tôi đã tìm đâu ý nghĩa lầm than
Tôi ngẩng mặt ngó ngàn mây cao rộng
Tôi cúi đầu nhìn mặt đất thấp đen
Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em
Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh
Em đứng mũi anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng dĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở với trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao
Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với người thôi
Ta chết lặng bó tay đầu lắc
Ðài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi
Ðêm ứa lệ phồng mi hai mắt
Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô
Mình hoa rã đầm địa sương theo móc
Ðỡ làm sao những cánh tiếp nhau rơi
Ta gởi lại đây những lời ảo nảo
Những lời yêu thương phụng hiến cho em
Rồi ta gục đầu trên trang giấy hão
Em bảo rằng
Ðừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thắm lại với trời hồng
Bùi Giáng
TẢN MẠN VỀ LÀNG MẠC MIỀN NAM
Nói tới làng mạc miền Nam mà không nhắc đến những vườn cây ăn trái của từng nơi, từng vùng là một thiếu sót lớn. Tùy theo điều kiện thuận lợi của đất đai, mà khắp các vùng đồng bằng thuộc châu thổ sông Cửu Long và các vùng phụ cận có những loại vườn cây ăn trái riêng của mỗi vùng. Với Bến Tre có vườn dừa bạt ngàn. Vùng Vĩnh Châu (Bạc Liêu ), xã Long Sơn ( Quận Tân Châu) và xã Mỹ Ðức ( Châu Ðốc) là những vườn nhản ngon nhất miền. Từ bắc Mỹ Thuận, An Hữu, Cái Bè, Cai Lậy, Trung Lương là những vườn xoài cát, mận, ổi xá lỵ không nơi nào sánh kịp. Du khách mỗi lần có dịp đi ngang qua vùng này , người nào cũng mua vài ba giỏ ổi, giỏ mận , chục xoài về làm quà. Chôm chôm, sầu riêng có lẽ ngon nhất và đặc biệt là vùng cồn, cù lao từ Cần Thơ chạy dài trên sông Hậu Giang tới ngang Ðại Ngãi, Sóc Trăng. Sau năm 1975, có dịp về vùng này làm mướn không công, tôi mới thấy hết được cây lành trái ngọt trên vùng sông nước này với chôm chôm tróc như miệt Xuân Lộc, Long Khánh chín đỏ cây, đỏ nhánh, với sầu riêng vỏ đầy gai căng phồng gần như để lộ những múi sầu riêng thơm lừng bốc mùi thơm ngào ngạt khắp vườn. Từ xã Bình Phước Xuân thuộc quân Chợ Mơí ( An Giang ) qua đò về hướng Cao Lãnh là một vùng đầy những cây lồng mứt, sà-bồ-chê với trái quằn cây, quằn nhánh. Miệt Gò Công là loại vườn cherry như một đặc sản với những trái chín đỏ mọng. Qua những làng Mỹ Hòa Hưng ngang Long Xuyên, Tân lộc Ðông, Tân Lộc Tây ngang Thốt Nốt là những vườn mận trắng, mận da người ngọt ơi là ngọt. Những mảnh vườn cam sành, cam Tàu, quít đường, quít ta, quít hồng thuộc làng Lai Vung ( Sa Ðéc ) với loại cam, loại quít ngọt ngon không a cam, quít vùng Cái Răng, Phong Ðiền, Cầu Nhím, Ô Môn của Cần Thơ. Tất cả cam quít của những vùng này là nguồn cung cấp cam quít cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Sau này phong trào trồng cam quít phát triễn, những nơi này cũng cung cấp cây giống bằng những cành cam, cành quít chiết trong bầu, trong bội, trong giỏ được đem bán khắp mọi miền. Muốn ăn khóm, ăn thơm, có lẽ không nơi nào có khóm, thơm ngọt ngon bằng khóm cầu đúc Cái sình, Kinh Một, kinh Năm (Chương Thiện ), Tắc Cậu ( Rạch Giá ), Bến Lức (Tân An). Riêng vùng Ðồng Tháp Mười từ Mộc Hoá về tới Thủ Thừa trồng loại cây điều lấy hạt còn gọi" đào lộn hột " như ngoài Phan Thiết, nhiều thật là nhiều. Ðặc biệt vùng này chưa có vườn cây ăn trái như các làng mạc khác vì đất đai mới thuần thục, còn thấp so với mực nước lụt hằng năm. Cũng như vùng Ðồng Tháp Mười, làng mạc miền Nam không phải chỗ nào cũng có vườn cây ăn trái. Nhất là những vùng gần biển như Rạch Giá, Cà Mau hoặc những nơi còn phèn, còn mặn, có nhiều nơi chỉ trồng được dừa nước, cây mắm, cây bần, cây vẹt, cây đước. Ngay một làng vùng nội địa như làng Vĩnh Hanh thuộc An Giang, có lúc chỉ trồng được loại cây gáo, cây cà na ( một loại cây có lá nhỏ, trái hình bầu dục, hạt to, cứng, nhọn hai đầu, còn non ăn có vị chác, chín có mùi thơm và vị chua, thường được muối và sên đường, ghim vào ghim bằng tre chẻ mỏng đem bán tại các cửa trường học, học trò rất thích ăn loại cà na này ) vì đất còn thấp như trong câu ca dao tại địa phương:
" Vĩnh Hanh là xứ quê mùa,
Ði thăm bà già vợ, cho một dùa cà na ".
Bây giờ, Vĩnh Hanh đã trồng được cây ăn trái rồi nhờ người nông dân chịu khó bỏ công, bỏ vốn mướn người chở đất lên bờ, lên vườn như các làng mạc khác trong vùng.
Ðặc biệt, làng mạc vùng đồng bằng sông Cửu Long không thấy trồng măng cụt như ở Lái Thiêu và cũng không có bưởi Thanh Trà, bưởi ổi như ở Biên Hòà. Có lẽ hai giống cây này không thích hợp với vùng đất phù sa mới bồi, bà con có trồng thử nhưng thấy không ngon, rồi không ai muốn trồng. Thỉnh thoảng, trong vườn cam, vườn quít có trồng xen vài gốc bưởi loại trái lớn để cho vườn có đủ loại hoa qủa cho vui, chứ không cốt trồng bưởi để bán như cam, quít, xoài, mận v.v....
Ngoài ra, có một loại cây ăn trái chỉ ở làng mạc miền Nam mới có, đó là cây vú sữa. Vườn nhà nào cũng có vài cây vú sữa trồng ở trước sân hoặc ở góc vườn vừa che bóng mát, vừa có những trái vú sữa chín ngọt. Không biết trong sách Cây Cỏ Miền Nam của giáo sư Phạm Hoàng Hộ có nói loại cây này không. Nhưng trong dân gian truyền tụng nhau: cây vú sữa là một loại cây ghép của hai giống cây măng cụt và cây sà-bồ- chê. Không biết thực hư thế nào, nhưng trong thực tế, chúng ta thấy trái vú sữa có vỏ gần giống vỏ của trái măng cụt, thịt của trái vú sữa và hạt dẹp giống thịt và hạt của trái sà- bồ- chê. Ðiều muốn nói ở đây, cây vú sữa là nét đặc trưng của làng mạc miền Nam. Trái vú sữa khi còn sống rất chát, nhưng khi chín, vú sữa rất ngọt, với màu trắng như sữa mẹ mà người nào ăn vào cũng thấy ngon, thấy thích.
Ðời sống người nông dân trong các làng mạc miền Nam, phần lớn họ sống một đời sống tự lực, tự túc. Do đó, những nhu cầu như cơm gạo, cá mắm, heo, gà, vịt v.v... nhà nào cũng có, không nhiều thì ít. Thành ra, việc mua bán ở những chợ xa chỉ là việc năm thủa mười thì mới có một lần, khi tối cần thiết. Còn thì, bà con cứ xúm nhau nhóm họp chợ làng, chợ xã trên sân đất trống nào đó khi có con cá, con gà, thúng bắp, rổ cà , thúng xoài, thúng ổi dư dã, muốn đem đi bán có chút đỉnh tiền chi xài lặt vặt để mà buôn bán với nhau. Dần dà, mỗi làng đều có chợ làng, chợ xã mà không ai biết chính xác ai thành lập và thành lập lúc nào. Theo đà phát triển, có nhiều chợ xã càng ngày càng mở rộng, phố xá đồ sộ, trên bến dưới thuyền tấp nập không thua một vài chợ quận nơi xa xôi, vắng về Và cũng từ đời sống tự lực, tự túc đó, cho chúng ta có cái nhìn chân xác về cách trị bịnh nơi các làng mạc miền Nam như một nét riêng của vùng đất mới này. Sau mấy năm sống ở Mỹ, thấy cây cối, hoa lá vùng này, loại nào cũng dễ gây " dị ứng " cho con người. Trái lại, với làng mạc miền Nam, tất cả các loài cỏ, cây, hoa, lá chung quanh nhà, trong vườn, ngoài ruộng, nhất nhất đều là những vị thuốc cần kíp cho con người trong cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn, khi cảm cúm, người nông dân chỉ cần ra sau vườn hái một nắm lá bưởi, lá sả, lá ổi, lá tía tô rồi đem bỏ vào cái nồi đất nấu cho sôi lên, lấy cái mền trùm kín đầu, mở nắp nồi lá bưởi từ từ cho hơi nóng bốc ra, gọi là xông hơi. Cảm cúm, nhức đầu từ từ nhẹ đi và làm như vậy vài ba lần là ra đồng, đi cày, đi bừa, giăng câu, giăng lưới như chơi, khỏi phải chích thuốc, tiêm thuốc. Hoặc giả, khi bị đứt tay chảy máu, chỉ cần bước lại bên lu nước uống, hái vài lá thuốc hàn, bỏ vào miệng nhai, nhai rồi lấy ra đắp lên chỗ bị đứt là cầm được máu chảy, không phải băn bó lôi thôi. Hoặc mất ngủ có lá vông nem, ăn vào dễ ngủ ; trong người nóng nhiệt, có rễ tranh ngoài bờ, đào lên rữa sạch, cho vào nồi nấu, lấy nước uống vừa ngọt, vừa thơm, vừa mát, giải nhiệt. Và còn biết bao loài cây cỏ trị bịnh, ích lợi như vậy, mà không phải nơi nào cũng có như làng mạc miền Nam.
Làng mạc miền Nam vì nằm dọc theo sông, theo rạch, mà lại là vùng đất phù sa, màu mỡ, nên ngoài cây trái ngọt lịm bốn mùa, ở đó còn là vựa lúa, vựa gạo. Trước năm 1975, mỗi nhà của cư dân, nhà nào cũng có một bồ lúa từ năm, ba chục gịa đến lúa trăm, lúa ngàn không có gì phải ngạc nhiên, dù chỉ làm mỗi mùa lúa nổi, lúa sạ hằng năm. Do đó, dọc theo bờ sông, chúng ta sẽ thấy nhan nhản nhà mày xay lúa lớn, nhỏ với ghe, xuồng chở lúa tới xay tấp nập. Họ là những nông dân trong làng xay lúa để ăn, để mang lên đồng, lên ruộng hoặc những bạn hàng, thương buôn xay lúa chở đi bán các chợ xa như trên tỉnh, trên Sài Gòn. Cùng với nhà máy xay lúa, có một loại nhà máy khác cũng san sát, đó là các lò ép đường mía, nhiều nhất tại các làng mạc trên các cồn, cù lao trên dòng sông Tiền Giang, Hậu Giang. Riêng xã Bình Phước Xuân thuộc quận Chợ Mới, An Giang, có ấp tổng số lò ép đường lên đến gần hai mươi lò. Lý do có nhiều lò đường rất giản dị, vì đất cồn là đất cát, phù sa mới bồi nên đất tốt , phù hợp các loại rẫy, hoa màu. Mía là một trong những loại rẫy người nông dân thích trồng nhất vì dễ trồng, mía tốt, cây mập, lớn và cho rất nhiều đường. Cù lao nào cũng trồng mía, làng nào trên cồn cũng trồng mía. Dần dà, những làng mạc trong đất liền cũng trồng mía trên những đất bải, đất gò vì sau vụ mía, nông dân cấy lại lúa hoặc nếp cũng không muộn, mà lợi tức còn có thêm chút đỉnh.
Tưởng cũng nên nhắc một chút về những tên gọi làng mạc miền Nam như một cái gì đặc biệt cho riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà các miền khác không có. Ngoài những địa danh của vùng đất mang tính chất lịch sử như rạch Ðốc Vàng Hạ, rạch Ðốc Vàng Thượng ngang Chợ Thủ, nằm về phía bên kia sông Tiền ; rạch Ông Chưởng, Cù lao Ông Chưởng ở Chợ Mới , để nhớ ơn hai vị anh hùng Ðốc Binh Vàng và Chưởng Binh Lễ đã tử trận khi đem quân chống quân Xiêm và quân Miên vào năm 1837 tại những vùng này. Hoặc làng Thoại Sơn, để nhớ công đức cụ Thoại Ngọc Hầu đã có công khai mở và bình định vùng Long Xuyên, Châu Ðốc , Rạch Giá, Hà Tiên với những con kinh đào nối liền các nơi này như kinh Vĩnh Tế từ Châu Ðốc đi Hà Tiên, kinh Long Xuyên đi Rạch Giá, chạy ngang qua núi Sập v. v. Còn phần lớn, tên gọi làng mạc miền Nam đều có những chữ đầu gần giống nhau. Vì là phần đất mới mở mang, việc thiên thời, địa lợi, nhân hòa là ba yếu tố chẳng những cần mà còn là niềm mơ ước tha thiết mà tổ tiên chúng ta gởi gắm trong việc đặt tên làng, tên xã. Do đó, những chữ Bình, An, Hòa, Mỹ, Phước, Vĩnh, Thạnh, Tân v.v là những chữ luôn luôn có trong tên gọi các làng mạc miền Nam như cầu phúc, cầu lành, cầu thái bình thịnh trị, an cư, lạc nghiệp, trường tồn muôn đời.
Chẳng hạn, trước năm 1975, quận Ba Tri tỉnh Kiến Hòa gồm có 16 xã, mà đã có tới sáu xã có chữ An đứng đầu như: xã An Ðức, An Hiệp, An Bình Tây, An Ngãi Trung, An Ngãi Tây, An Hòa Tây và có ba xã có chữ Mỹ đứng đầu là Mỹ Nhơn, Mỹ Thạnh, Mỹ Chánh Hoà. Các nơi khác, những tên gọi làng mạc cũng tương tự. Xin liệt kể ra đây một vài địa danh điển hình như tại các nơi có chữ Mỹ như làng Mỹ Phước, Mỹ Hoà Hưng, Mỹ Hội Ðông, Mỹ Luông (An Giang), Mỹ An Hưng (Sa Ðéc), Mỹ Ðức Tây (Giáo Ðức) hoặc những làng có chữ Bình đứng đầu như làng Bình Hòa, Bình Mỹ, Bình Ðức, Bình Phước Xuân, Bình Phú (Long Xuyên), hoặc những làng có chữ Vĩnh như Vĩnh Hanh, Vĩnh Chánh (Long Xuyên), Vĩnh Trinh (Thốt Nốt), Vĩnh Thạnh (Lấp Vò), Vĩnh Châu (Bạc Liêu), Vĩnh Thuận (Rạch Giá). Nhũng làng có chữ Tân là mới như: Tân Thủy, Tân Xuân (Ba Tri), Tân Hiệp, Tân Hội (Rạch Giá), Tân Lộc Ðông, Tân Lộc Tây (Thốt Nốt) v.v...
Từ tên gọi hiền hòa đó, cho thấy được tận trong những gì sâu thẳm nhất của con người ở đây cũng hiền hòa, bình dị, mộc mạc, chân thật. Ðiều đó không nói ngoa chút nào, nếu các bạn có về sống thật lâu với người nông dân ở làng mạc miền Nam, các bạn sẽ thấy rõ phong cách này. Trải qua biết bao phen đổi dời, biết bao triều đại phế hưng, ly loạn, giặc giả tơi bời, nhà hoang, vườn trống, nhưng có lẽ chưa bao giờ những người làng mạc này thù oán, chém giết những người làng mạc kia. Cho dù có bị lôi kéo về phía này, phía khác , nhưng người nông dân trong các làng mạc miền Nam vẫn thương yêu nhau, chia xẻ cùng nhau những đọa đày, những cơ cực, những nhiễu nhương , có phải chia lià, xa cách rồi cũng hợp về, khắng khít như nước , không mảnh lực nào có thể cắt rời được, chia rẽ được những tình tự thiêng liêng của những người dân dù quê mùa, mộc mạc như vậy ở các làng mạc Miền Nam.
Tóm lại, với tròn 240 năm, kể từ ngày tổ tiên khai mở vùng đất mới này với biết bao mồ hôi, nước mắt, máu xương , làng mạc miền Nam với những nét đặc trưng riêng của nó, cho chúng ta biết thêm công sức của tiền nhân, biết thêm những vùng trù mật, phong phú, độc đáo, ngọt ngào với cây trái bốn mùa cũng như tình người đầy ấp thân thương của vùng đồng bằng. Những người nông dân ở đây rất hiếu khách, không biết thù oán, không biết tị hiềm. Họ cam chịu đau thương, cam chịu thua thiệt, cam chịu hèn mọn, cam chịu dốt nát để nhẫn nhục nhìn đời với đức tính bình dị mà sáng suốt, mộc mạc mà hiền hòa, chất phác mà khôn khéo, chân thật mà thẳng thắn , công bằng. Và họ biết vượt ra ngoài sự tầm thường, để sống một đời sống bình thường với tình người thật sự là tình người.
Mỗi khi nhắc đến làng mạc miền Nam, không có chữ nào thích hợp cho bằng những chữ Thiên Thời, Ðịa Lợi, Nhân Hòa. Tất cả nhóm chữ trên đã nói hết dùm chúng ta về một vùng đất thân thương, hiền hoà như mật ngọt này.
Lương Thư Trung
Boston, ngày 02 tháng 03, 1997
Hình Như Là Nỗi Nhớ
Thụy trở về California sau cái đêm khuya lái xe chạy gần như điên cuồng vào bệnh viện UCLA để kịp thăm mẹ. Westwood Boulervard ngái ngủ với những ngọn đèn vàng chợt trở mình thảng thốt quặn đau. Thụy không như con sóc nhỏ đã trở lại với đồi thông đuà vui sau những ngày tuyết lạnh căm. Thụy chạy trốn cái rét buốt của thời tiết để trở về California ôm lấy lòng Thụy thương tích từng ngày khi mẹ đã mãi mãi vắng xa.
Và Văn cũng trở lại California, rất tình cờ như một sắp đặt hay một định mệnh trong lúc tuần trăng bắt đầu tròn và trong sáng hơn. Năm trước ngày Thụy sắp rời bỏ Los Angles là ngày Văn đến California lần đầu tiên và đánh dấu lần đầu quen nhau, "cái thuở ban đầu lưu luyến" ấy. Kỷ niệm ngày đầu gặp gỡ chỉ có vầng trăng dõi theo những chuyện trò mưa nắng. Vậy mà hôm Thụy rời Cali, Văn nhất định: "cho Văn được làm người California để tiễn chân Thụy". Văn đưa Thụy dến phi trường trong khi Thụy u uẩn như cánh chim hải âu lần đầu tiên phải rời bỏ vùng biển cũ, phải rời xa người mẹ hiền, mấy cô em gái dễ thương, mái nhà ấm cúng và bãi cỏ xanh mướt của gia đình Thụy không biết đến bao lâu. Ngày hôm đó, nhìn Văn ra sức di chuyển mấy kiện hành lý nặng nề của Thụy lòng Thụy bỗng dưng có một chút an ủi bâng quơ tưởng chừng như Thụy đang được chăm sóc. Ngày hôm đó, Thụy ra dáng không buồn rầu, Thụy dững dưng, nhưng Văn đọc thấy những nghẹn ngào trong lòng Thụy hiu quạnh, những giọt lệ lấp lánh sau nét cười gắng gượng, và cả ưu tư trong cái vẫy tay gỉa biệt. Bàn tay anh siết chặt và hai chữ "can đảm" thân ái nhắn nhủ đã bao lần níu kéo Thụy ra khỏi những mỏi mệt và thất vọng.
Văn trở lại California, không một lời hẹn trước, không một lá thư trong khi cái lạnh của những ngày tết âm lịch còn dai dẳng và mùa lễ tình yêu sắp đến. Và Thụy như vẫn còn chìm trong một màn sương cô độc vì bóng hạnh phúc của Thụy vừa mới tan biến. Mẹ không còn nữa bên Thụy vì người đã đi xong đoạn đường trần. Ngày đưa mẹ về với nghìn thu, Thụy đau đớn đến độ không còn khóc được. Ôi Mẹ của Thụy mong manh như cánh lan tím, nồng nàn đôn hậu như những đoá hồng đỏ, dịu dàng như những cánh uất kim hương, và bền bĩ như loài hoa bất tử giờ đã không còn nữa. Thụy vẫn còn đang bàng hoàng trong nỗi mất mát qúa lớn thì Văn lại trở về. Buổi chiều nghe Lã, bạn thân của Thụy và của Văn hớn hở báo tin: "Văn sắp đến California, Thụy có muốn gặp lại Văn không". Thụy nghe như giọng mình lạ hoắc: "Ừ, nếu anh ấy có thì giờ thì gặp chứ. Cho Thụy gửi lời chào anh ấy. ". Thật ra Văn trở về đây chỉ để thăm Lã, người bạn chí thân, vì Văn không biết rằng Thụy đã về Cali sớm hơn dự tưởng. Với Thụy, Văn vẫn còn trong mớ kỷ niệm ngổn ngang mơ hồ gắn liền với đêm hôm nào có anh' trăng mong manh vỡ trên làn tóc của hai đứa và buổi chiều phi trường mặc dù chẳng "mù sương phi cảng não nề " nhưng cũng đủ cho lòng Thụy rưng rức "thôi anh ở lại buồn về em mang ". Thụy mong gặp lại Văn không phải vì Thụy đang có những buổi sáng ngồi khóc hắt hiu bên mộ của mẹ mà đơn giản chỉ vì Thụy thích gặp lại một người đi xạ Nhưng tại sao anh ấy luôn luôn xuất hiện những lúc Thụy sầu héo rũ rượi, Thụy kém tươi, như một sức mạnh vô hình mà thượng đế muốn giúp Thụy đứng lên vững vàng trở lại.
Thụy mang một tâm trạng hững hờ khi chờ tiếng chuông cửa reo vang. Thụy tự nhủ mọi việc sẽ đơn giản, sẽ bắt đầu bằng câu hỏi han thường lệ của hai người bạn lâu ngày gặp nhau. Vì xúc động hay dững dưng , Văn xuất hiện ở cửa với Lã, im ắng như một vệt nắng bên hiên nhà. Văn và Thụy vẫn ngừng ngập không biết bắt đầu thế nào trong khi Lã chờ đợi một câu mời vào nhà. Cành mai vàng nhà Thụy nở rộ như báo hiệu một điềm lành. Thụy đón khách mùa xuân không một tách nước trà nóng, mặc dù bộ bình trà mẹ của Thụy để lại vẫn được bày biện khéo léo trên bàn rất đỗi đông phương. Lã kín đáo nhìn ảnh của mẹ của Thụy phóng lớn treo trên tường. Văn chỉ bảo Thụy là Văn ngạc nhiên thấy Thụy trẻ hơn hồi gặp mặt năm ngoái như tránh đi một lời chia buồn đầu năm.
Lã nhường tay lái cho Văn để Thụy và Văn lại có dịp trò chuyện lan man, những chuyện không đầu không đuôi như hôm nào. Thụy nói huyên thuyên như sợ Văn với cái tế nhị muôn thuở và cái nhìn thấu suốt lòng người sẽ nhìn ra nỗi buồn của Thụy, lại khuyên Thụy phải "can đảm". Lã ngạc nhiên nhìn Thụy thay đổi, vui vẻ, hoạt bát. Lã nhìn sâu vào mắt Thụy với nụ cười nghi hoặc trên môi trêu Thụy: "có phải lan huệ sầu đời trong héo ngoài tươi không đấỷ". Thụy gật đầu cười , không chống chế và thu mình ấm áp bên cạnh Văn kể chuyện miên man đdến nỗi Văn lái xe lạc đường. Rủ thêm một người bạn, bọn Thụy bốn người lại gặp nhau trong ánh trăng bên vùng biển, trên một chiếc tàu cổ tích. Thụy và bạn bè hầu như quên khuấy mất thế giới bên ngoài và ngậm ngùi cho những chuyến tàu có số phận kém may mắn nổi danh trên thế giới như ngậm ngùi cho một số người quen , người không quen đã mù tăm dưới lòng đại dương năm nào. Thành phố biển vào đêm rực rỡ hơn bao giờ với đèn, tàu, trăng sao và biển nước lung linh. Thụy cười vui dưới ánh trăng, một niềm vui bé thơ, và chỉ cho cả bọn xem vầng trăng nằm lặng lẽ dưới đáy nước khi đi ngang qua vùng hồ có đàn cá lội thảnh thơi như chuyện thần tiên. Tuần trăng vẫn còn đầy, nhưng Thụy phải trở về bận bịu với công việc ngày đêm. Văn vẫn một mình đây đó với chiếc xe khám phá vùng đất mới "Cali đi dễ khó về ". California có đủ cả con người và thiên nhiên để Văn say mê trong mấy ngày nghỉ ngắn ngủi. Ðêm cuối trước khi Văn lại trở về quê hương thứ hai, nơi anh định cư, Thụy cùng Văn và Lã thêm một lần ngắm trăng khi khám phá ra ba đứa có cùng một thú đam mê là ngắm trăng. Thụy đã tâm sự với Lã, ánh trăng cho người ta cái cảm giác êm đềm, và luôn luôn n mang Thụy trở về thuở ấu thơì hạnh phúc. Còn Lã thì cười khanh khách bảo ánh trăng làm cho người và những con thú cảm thấy hoang dại hơn. Văn không nói ý nghĩ về trăng cho chúng Thụy nghe nhưng Văn đổi chỗ ngồi sau mỗi lần nhìn thấy trăng dời xa vị trí cũ.
Trăng cứ sáng long lanh trên đỉnh đồi giữa những cành lá thao thức vắt ngang bầu trời mơ màng và ánh lửa bập bùng dịu dàng bên cạnh mấy cốc nước hân hoan theo mấy câu chuyện tếu mà Văn, Lã và Thụy thi nhau kể. Cả một thành phố Orange đang cùng bọn Thụy, ba người, tắm ánh trăng mênh mang bên dưới chân đồi.
Thụy thấy mình vui khi nhìn Văn cười và kể chuyện trong bữa ăn tối. Thụy xúc động khi nghe lại giọng nói ấm áp của Văn kể cho Thụy và Lã nghe về những người Việt anh đã gặp ở nơi anh sinh sống. Những nỗi khổ mà anh từng chứng kiến không phải vì miếng cơm manh áo hay vì kiến thức mà vì tình yêụ Từ một đất nước quê hương đến một đất nước xa lạ tình yêu cũng khốn khổ. Hoàn cảnh là một nguyên nhân lớn để người ta đổ lỗi khi yêu nhau làm khổ nhau, xa nhau làm khổ nhau, không còn yêu nhau làm khổ nhau, lừa dối nhau để làm khổ nhau, và thành thật cũng làm khổ nhau. Văn hỏi Lã và Thụy phải làm thế nào để bớt khổ khi qúa yêu nhau hoặc khi không yêu nhau nữa hoặc một trong hai hay ba người không được yêu. Câu hỏi quá lớn, ba người xoay loanh quanh gần hết nửa đêm vẫn không tìm được câu trả lời cho những nhân vật anh kể và cho chính bản thân mình. Câu hỏi vẫn còn đó không giải đáp và rồi cũng như năm ngoái Văn lại phải ra đi...
Ðêm lái xe trên một freeway bận rộn, nước mắt Thụy rơi lặng lẽ khi chạy ngang qua exit Rose Hills Road, Thụy nghĩ đến thân xác mẹ giờ này đang ngủ yên trong lòng đồi lạnh giá. Thụy không còn rét tê tái như muà đông năm ngoái vì Thụy đã xa vùng tuyết trăng mênh mông nhưng còn Văn ra sao khi trở lại vùng núi đồi tuyết phủ như những ngọn Phú sĩ kia? Thụy lại nhớ đến mẹ và nghĩ về Văn với một dòng suy nghĩ không ngừng như chiếc xe Thụy vẫn lao vùn vụt trong bóng đêm trong khi Khánh Hà trầm lắng khoắc khoải trên từng lời từng chữ:
Anh đến nơi này
bao điều chưa nói
lặng lẽ chia xa
sao lòng qúa vội
một cõi bao la
ta về ngậm ngùi...
Thụy về đến nhà chong đèn đọc lại quyển sách mà Văn mang đến cho Thụy trước khi chia tay lần nữa và cảm thấy lòng lắng dịu thanh thản. Thụy bắt đầu giấc ngủ trễ nãi của Thụy sau khi ghi vội mấy dòng thư mà có lẽ sẽ không được gửi đi:
"Văn, có lẽ bên ấy trời đang bắt đầu một ngày mới. Em nghĩ đến anh. Giờ này anh đã đến bệnh viện, bận bịu với với bệnh nhân và công việc. Em tưởng tượng ra anh khuôn mặt hiền hoà, đôi kính trắng chăm chú và trầm lặng. Nơi anh có lẽ bây giờ vẫn còn tuyết trắng, đồi thông vẫn xanh, và anh đang đọc một cuốn sách nào đó sau giờ làm việc. Trái tim em ấm lại khi nghĩ đến anh, trái tim nhân hậu của một người thanh niên xa gia đình và không ngừng làm việc. Em nhớ lại đêm tụi mình ba đứa gặp gỡ và buổi ăn tối thân mật. Cái mắm tay thật tự nhiên và dịu dàng của anh đã làm em chùng lòng biết mấỵ Chỉ là một cái nắm tay giản dị tình cờ khi chúng mình tranh nhau trả tiền quám ăn, tình cờ như khi chúng mình gặp gỡ cũng làm em xúc động. Quyển sách nho nhỏ anh mang đến làm quà cho lần gặp lại cũng làm em xúc động. Anh bảo nhớ đọc hết, đọc xong sẽ kể cho anh nghe khi gặp lạị Em đã đọc rồi, em kể cho Văn nghe Nhất Hạnh có viết thế này:
"Này em, em có khổ đau vì cách tôi thương em không" (*)
Còn em có lẽ em nên nói thế này:
"Này anh , cách mà Thụy nghĩ đến anh có làm Thụy khổ".
Lã hỏi em "có phải Thụy có cảm tình với Văn". Em cười "là bạn của bạn ta sao lại không cảm tình chờ". Lã cười hồ nghi. Em cũng hồ nghi, hồ nghi ngay cả trái tim mình. Làm sao em có thể trả lời được, anh hay sự ấm áp dịu dàng của anh đã làm em thay đổị Em sẽ hạnh phúc hay đau khổ?. Nhưng em bắt đầu lo sợ trái tim của em rồi sẽ thao thức trăn trở nhiều hơn sau những ngày dài vắng bóng của mẹ. Em sợ trong em sẽ bắt đầu một nỗi nhớ mới lạ nhưng rất gần gũi. Ðêm anh từ giã, bằng một giọng vui vẻ em chúc anh "thượng lộ bình an" nhưng sao lòng không khỏi bâng khuâng. Em hỏi "cóai đưa anh đỉ " thực sự em muốn được đưa anh như ngày anh đã tiễn em rời Californiạ Chuyến bay của anh quá sớm hay anh không muốn em thức sớm và sợ lời từ giã của chúng mình sẽ làm vỡ tan khoảnh khoắc thinh lặng ngắn ngủi của buổi sáng mù sương Cali. Anh lại khuyên em "can đảm trong cuộc sống" sao em nghe buồn muốn khóc. Cả hai chúng mình đều cần phải can đảm. Anh khuyên em như khuyên cho chính anh. Can đảm sống, can đảm làm việc , và can đảm giữ cho mình những yêu thương cho dù hoàn cảnh ra sao. Từ ngày mẹ ra đi vĩnh viễn em bắt đầu lo sợ những gì hình như là chia ly. Nếu nhỡ có một ngày em thương phải một người ở một phương xa rất xa như câu chuyện anh đã kể, liệu em có chịu đựng nỗi những cách xa như em đã từng hùng hồn chứng minh với bè bạn và thầy giáo trong trường rằng "Xa cách làm gia tăng lòng yêu thương". Anh hẹn em tháng 7 sẽ thêm một lần gặp gỡ. Từ đây đến tháng bảy ngày tháng dài biết mấy. Chúng mình nào có phải là Ngưu Lang Chức Nữ mà phải đợi chờ cho đến tháng 7 mùa ngâu. Nhưng chúng mình cách trở, chúng mình không làm khác hơn được. Thôi thì đợi chờ tháng 7, đời sống từng ngày là từng đổi thay, nửa năm biết bao là đổi thay và bắt đầu từ bây giờ trong em đang có sự đổi thay, hình như là nỗi nhớ."
Ý Liên
(*) trích từ quyển Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy của Nhất Hạnh
Viết Cho Những Chuyện Tình Không-Trọn-Vẹn
Chiều cuối tuần. Mưa. Em ngồi nhìn mưa. Mưa từng sợi, từng sợi đan vào nhau - ngổn ngang và rối bời - giống như nỗi nhớ của em vậy! Không biết từ lúc nào em có thói quen nghĩ về anh, nhất là những lúc anh không có ở bên cạnh. Em thường tự hỏi không biết bây giờ anh đang làm gì, cuộc sống và công việc mới có làm cho anh bận rộn, và trong những giờ phút bận rộn ấy, hình ảnh em có còn rõ nét ở trong anh hay cũng chỉ là một hình ảnh bình thường nào đó chợt thoáng qua để rồi không còn tồn tại nữa??? Ngoài kia trời vẫn mưa. Em vẫn ngồi đây, nghĩ về anh, nghĩ về chúng ta và nghĩ về những chuyện tình không - trọn - vẹn...
Thế là đã bốn năm rồi anh nhỉ? Bốn năm, một khoảng thời gian tuy không dài nhưng cũng đủ để chúng ta có thể hiểu và thông cảm với nhau hơn. Em vẫn nhớ mãi bốn câu thơ anh gởi từ bên kia nửa vòng trái đất để mừng sinh nhật em:
"Anh đã yêu và sẽ còn yêu mãi
Dù thế giới kia có sụp đổ tan tành
Trong đổ nát cũng sẽ còn bừng cháy
Cháy lên hoài ngọn lửa của tình anh"
Anh vẫn thường cho em là một con bé hời hợt. Thế mà con bé hời hợt ấy lại biết rơi nước mắt khi đọc được những câu thơ chứa chan đầy tình cảm của anh và lại càng không thể phủ nhận rằng đó là đóa hồng đẹp nhất trong ngày sinh nhật của em, ngày sinh nhật đầu tiên không có anh bên cạnh. Bốn năm rồi, mỗi lần sinh nhật em đều nhận được những món quà anh gởi, thường xuyên và đều đặn đến nỗi em đã xem đó là lẽ đương nhiên. Nhiều lúc em giật mình nghĩ rằng phải chăng mình không còn yêu anh nữa nhưng rồi em tự gạt bỏ cái ý nghĩ ấy ngay. Em biết rằng tình cảm mà em dành cho anh không thể so sánh được với những gì anh đã dành cho em, điều đó làm cho em rất cảm động và em biết rằng ở một góc nào sâu thẳm nào đó trong tâm hồn, em vẫn còn nghĩ đến anh. Có lần em đã đọc được ở đâu đó một câu nói như sau:"Hạnh phúc là một cuộc xổ số không có lô độc đắc và những người hạnh phúc nhất thường là những người biết tự bằng lòng với giải an ủi". Em cảm thấy câu nói đó đúng một cách đặc biệt. Trong cuộc sống cũng như trong tình cảm thì làm gì có chuyện trọn vẹn, phải không anh? Làm sao mà trọn vẹn được trong khi anh và em đều ở quá xa, muốn lo lắng cho nhau lại chỉ có thể dùng thư từ để bày tỏ mà ngôn từ tuy là vô tận nhưng vẫn đâu thể so sánh được với hành động, nhiều lúc chỉ cần một cử chỉ nhỏ thôi lại có giá trị hơn trăm ngàn lời nói. Trọn vẹn làm sao trong những dịp lễ, Tết người ta thì có đôi có cặp còn em và anh chỉ có thể mượn thiệp để biết rằng mình vẫn nghĩ về nhau. Trọn vẹn làm sao được khi em cần có anh ở bên cạnh thì em lại phải tự mình đối diện với biết bao nhiêu là vấn đề và những lúc anh cần có người để chia sẻ thì em cũng lại không thể ở bên cạnh... Có lẽ em nên tập bằng lòng với lô an ủi, biết đâu cuộc sống sẽ vui hơn.
Anh yêu, nãy giờ em viết cũng hơi nhiều nhưng không biết anh có hiểu những gì em muốn nói? Em là vậy đó. Ngày xưa cũng vậy và bây giờ cũng vậy, mỗi lần trời mưa xuống lại nghĩ về những chuyện đâu đâu rồi lại bắt đầu viết. Có nhiều lúc chính em cũng chẳng biết mình đang viết về cái gì nữa. Tuy nhiên có một điều em biết rất rõ: Không cần biết có bao nhiêu cái không - trọn - vẹn trong tình cảm, em vẫn chờ đợi anh.
Cát Nhu
Yêu Người
Tin ông ngã bệnh đến với tôi qua điện thư của một người bạn. "Nghe nói tình trạng của ông ấy có vẻ trầm trọng," người bạn bảo. Chính người bạn cũng không biết rõ chi tiết về bệnh tình của ông ấy. Tôi gọi điện thoại đến tòa soạn nơi ông ấy làm việc và nghe được giọng nói của ông trong máy trả lời, "Ðây là tòa soạn tạp chí Quê Hương, xin quý vị..." Tôi nói vào máy lời nhắn của mình, đại ý la ` tôi rất lo lắng về tình trạng sức khỏe của ông và mong được ông gọi lại tôi ở số điện thoại... khi nhận được lời nhắn tin của tôi. Ðó là tất cả những gì tôi có thể làm vào lúc này.
Tôi gặp ông lần đầu trong một cuộc triển lãm hội họa do một trường Ðại Học ở vùng lân cận bảo trợ. Cuộc triển lãm quy tụ nhiều họa sĩ tên tuổi của người Việt Nam ở nước ngoài. Tôi chú ý đến tranh của ông không phải vì sự vượt trội về mặt nghệ thuật của chúng so với tranh của các họa sĩ khác (tôi cho rằng nét vẽ của ông chưa tinh tế bằng một số người có tác phẩm chưng bày trong cuộc triển lãm nữa là đằng khác) mà chính vì vẻ táo bạo của chúng. Hình như ông không cố gắng để diễn đạt mà trái lại chỉ để phủ nhận một (hay nhiều) điều gì đó. Ông có nhiều tranh khỏa thân, nhưng bức tranh tôi thích nhất lại không thuộc về loại này. Ðó là chân dung của một cô gái. Phần hậu cảnh trông u ám, và khuôn mặt cô gái bị cắt dọc bởi những chấn song cửa sổ, trông giống như cô đang ở trong một xà lim hơn là trong một căn phòng bình thường. Khuôn mặt cô gái trống rỗng ngoại trừ đôi mắt đen như đang lùng sục điều gì đó phía trước, ở phía ngoài song cửa. Hình như cô đang muốn xua d duổi (hay réo gọi?) một ai đó, một vật gì đó ngoài kia.
"Tôi là Hải Bằng." Ông ấy bắt đầu câu chuyện như vậy. Tôi xưng tên, và khoảng năm phút sau đó, chúng tôi bắt đầu xưng hô "chú, cháu" với nhau. Ðiều này cũng hợp lý thôi. Năm đó tôi chưa đầy hai mươi lăm tuổi, mới ra trường và đi làm được hơn một năm. Hải Bằng là một người đàn ông trung niên - ông lớn hơn tôi đến những hai mươi tuổi - khỏe mạnh và hơi đỏm dáng. Khi tôi bảo ông là tôi thích nhất bức tranh có khuôn mặt trống rỗng của cô thiếu nữ sau những chấn song cửa, ông hỏi tôi với vẻ nghi ngờ "Cháu thích bức tranh đó thực sao?" Khi tôi hỏi về ý nghĩa của bức tranh, ông giải thích r ằng cô gái trong tranh đang muốn xua đuổi khát vọng của mình đi thật xa. "Khát vọng gì?" Tôi hỏi. Ông nhún vai, lập lại hai chữ "khát vọng" mà không giải thích thêm tiếng nào.
Tôi gặp lại ông nhiều lân sau đó. Ông thường đưa tôi đi ăn ở một quán ăn nhỏ ở một góc xa của thành phố ông cư ngụ. Cà phê ở đây thực ngon. Thường thì ông nói nhiều hơn tôi trong cuộc đối thoại. Câu chuyện phần đông xoay quanh các vấn đề có liên quan đến nghệ thuật. Nói cho đúng hơn, câu chuyện xoay quanh quan niệm của ông ấy về nghệ thuật, kể cả hội họa. Ngoài việc vẽ tranh, ông còn săn sóc một tạp chí văn chương, và chính ông cũng sáng tác khá nhiều. Nói chung, ông hơi có chút tự mãn khi nói về mình. Sau này tôi có nghe một số phê phán về tính "khoác lác" của ông, nhưng tôi chẳng quan tâm gì mấy. Tôi lúc nào cũng cảm thấy thú vị được trò chuyện cùng ông ấy, ngay cả khi ông kể cho tôi nghe một cách kiêu căng về cuộc sống tình cảm đầy giông bão và rối rắm của mình. Ông đang có chuye ^.n rắc rối với người vợ hiện tại, và hai người đang ở trong tình trạng nhập nhằng giữa ly thân và... ly dị. Ông cũng kể cho tôi nghe về những cuộc tình đã qua, những đứa con của ông với người nà y người nỗ "Tôi có nhiều con rơi quá, có khi không biết hết mặt mũi tụi nó," ông tuyên bố một cách kiêu hãnh. Tôi chỉ còn biết lắc đầu cười, than thở "chú thiệt là..."
Vào một buổi tối, ông không đưa tôi đến quán ăn quen thuộc như mọi lần. Chúng tôi đến một quán ăn khác ở một thành phố lân cận. Ngôi quán tọa lạc trên một đỉnh đồi, Ðồi Cam. Sau bữa ăn, chúng t ôi dời ra phía ngoài lan can, uống cocktail và ngắm khu đô thị lấp lánh ánh đèn nhiều như sao trời ở phía dưới. "Quán này chỉ dành cho tình nhân," ông bảo tôi. "Thế còn chúng ta?" Tôi hỏi một cách thách thức. Cho đến mãi về sau này, tôi chưa hề hối hận đã hỏi ông ấy câu hỏi có tính cách mở đường này. Ông hôn tôi sau đó, và lòng tôi dâng tràn một nỗi hạnh phúc êm đềm khi được tựa đầu vào va i ông và nhắm mắt lại để nghe mình trôi bồng bềnh trong vòng tay ông, điều mà tôi đã mơ ước mãi trước đó.
Chúng tôi trở lại quán Ðồi Cam nhiều lần, nhưng không bao giờ đi xa hơn. Không phải là tôi không muốn tiến xa hơn trong quan hệ tình cảm với ông ấy. Chính ông là người đã quyết định không bước đi xa hơn nữa. Nhiều lần, một mình trên đường về sau những lần hẹn hò cùng ông, tôi vừa buồn vừa tức. Cái người đàn ông ăn chơi phóng đãng, dan díu với hàng tá người đàn bà khác lại có thể chống chọi được với cơ thể hừng hực xuân thì của tôi. Tôi trẻ trung, khỏe mạnh, và xinh đẹp. Tôi tập thể dục hàng ngày. Tôi thích bơi lội, hiking. Và ông thì vô cùng hãnh diện khi đi cùng tôi. Tôi có thể đ ọc thấy vẻ tự hào một cách độ lượng của ông khi những cặp mắt thán phục của đám trai trẻ dán lên người tôi. Vậy mà ông chưa hề đưa tay chiếm đoạt ở tôi điều mà tôi sẵn sàng dâng hiến! Tôi tự hỏi những người đàn bà đã đi qua đời ông, đã ân ái với ông có điều gì mà tôi không cô Phải chăng chỉ vì họ là... đàn bà, còn tôi chỉ là một cô bé nhỏ dại, ít nhất trong cách nhìn của ông. Lẽ ra ông phải hiểu tôi đã đủ lớn để có một đời sống tình cảm phong phú và độc lập. Tôi có nhiều bạn, trai lẫn gái, và trong số đó có nhiều người có cảm tình sâu đậm với tôi. Nếu muốn, tôi có thể - và đã từng - nằm trong vòng tay của người bạn trai nào đó trong một tình huống (mà tôi cho là thích hợp) nào đô Và nếu giữa con gái và đàn bà cần thiết phải có một người đàn ông, thì tôi đã là đàn bà, dù là đàn bà trẻ. Có điều tôi chưa bao giờ dám thố lộ với ông ấy những suy nghĩ của mình. Tôi hy vọng rằng ông là người từng trải tất phải hiểu điều đó.
Những ngày tháng sau đó, những lầân hò hẹn giữa ông và tôi tự dưng thưa hẵn đi. Tôi không nhớ ai trong chúng tôi đã viện dẫn một lý do nào đó để từ chối lời mời mọc của người kia. Có thể là ông ấy, mà cũng có thể là tôi. Tôi cũng không rõ ông ấy có nghĩ nhiều về tôi trong khoảng thời gian giữa hai lần gặp. Tôi thì vẫn thường nghĩ về ông ấy. Mà có muốn khác đi cũng khó. Bởi vì có nhiều điều khiến tôi nhớ đến ông. Chẳng hạn như tạp chí văn chương ra hàng tháng "Quê Hương" mà tôi là độc giả dài hạn. Tôi bắt gặp ông trong đó, ở trang bìa nơi bức tranh khỏa thân mới nhất của ông nằm chễm chệ. Tôi gặp ông ở trang cuối, nơi ông chê người này, khen kẻ nọ, hay chỉ "huênh hoang" về một vài điều rất chi là vô tích sự (ông ấy có lần kênh kiệu bảo tôi như vậy). Cũng có khi ông nằ m ở trang giữa với một sáng tác mới trong đó nhân vật của ông ăn uống, nói năng, hít thở, làm tình, sinh đẻ, và giết người một cách hung bạo, táo tợn. Có điều tôi biết rõ (hoặc ít nhất tôi cho rằ ng tôi biết rõ) là ông chưa hề là một nhân vật trong truyện của mình. Cả tôi cũng chưa hề là nhân vật trong truyện của ông. Chúng tôi và mối tình của chúng tôi (hay chỉ là của mình tôi?) nhất định đã thuộc về một nơi nào khác, một nơi mà những điều táo tợn và hung bạo chưa hề bén mảng đến.
Lần sau cùng gặp ông, tôi không đi một mình. Hai người bạn ở xa của tôi dự định đến thăm ông và tôi bảo họ là tôi muốn tháp tùng. "Tôi cũng là chỗ quen biết của ông Hải Bằng," tôi bảo họ như vậy. T ôi có thể nhận ra ngay là ông ấy vô cùng lúng lúng khi gặp lại tôi một cách bất ngờ. Chúng tôi lại xưng hô "chú cháu" với nhau trước mặt hai người bạn của tôi, và lòng tôi bỗng dưng cảm thấy hạnh phúc quá đỗi khi bắt gặp ông đang cố gắng che dấu nỗi xúc động của mình. "Kể ra cũng đáng công mình lặn lội đi thăm ông ấy," tôi reo khẽ trong lòng. Cả bọn kéo nhau ra một quán cà phê lộ thiên gần đô Tôi có dịp nhìn thẳng vào mắt ông khá lâu nhân dịp hai người bạn của mình đang mãi tranh luận với nhau về một điều gì tôi chẳng hề quan tâm đến. Tôi nhìn ông chăm chú đến độ cả khuôn mặt ông nhòa đi, chỉ còn lại đôi mắt ông mở trừng trừng, mỗi lúc một phóng lớn ra trước mắt tôi. Và tôi nhìn thấy nhũng chấn song sắt xiêu vẹo trong đó.
Tôi đến dự tang lễ của ông theo như giờ giấc đã được thông báo. Thực ra, tôi đến nhưng không "tham dự" theo cái nghĩa thông thường của nó. Tôi đứng ở một khu cao ráo của nghĩa trang nhìn đoàn xe tang tiến vào. Buổi sáng tôi trang điểm kỹ lưỡng, và hài lòng nhìn thấy mình già dặn hẵn ra trong tấm gương soi. Hôm nay là ngày chôn cất người tình của tôi chứ không phải ông chú họ nào đó! Tang lễ đư ợc cử hành trong một khoảng thời gian vừa phải, không dài quá cũng không ngắn quâ Tôi cố giữ cho mình bình thản cho đến khi người ta bắt đầu hạ huyệt quan tài của ông. Tôi chỉ muốn chạy ào xuống để ném cho ông đóa hoa hồng tôi đã cầm chặt trong bàn tay tê điếng của mình từ sáng đến gi Nhưng tôi cứ đứng yên ở nơi tôi vẫn đứng, hai chân run rẫy và gò má nhột nhạt bởi những giọt nước mắt lặng lẽ.
Cuối cùng thì mọi người cũng kéo nhau ra về, kể cả người đàn bà mặc bộ đồ tang cổ truyền và đứa bé gái khoảng chín, mười tuổi. Tôi bước xuống, tiến lại nơi mộ huyệt của ông và nhẹ nhàng đă.t cành hồng bên cạnh những bó hoa khác nằm đầy trên mộ. Bây giờ thì ông hoàn toàn thuộc về tôi. Có khu nghĩa trang yên tĩnh và những con chim sẻ ríu rít trong một lùm cây gần đó làm chứng điều này. Tôi nghe tiếng mình vang lên dịu dàng, "Em yêu anh," và lòng cảm thấy bình yên quá đỗi. Tôi chào từ biệt ông rồi quay ra phía bãi đậu xe gần cổng vào nghĩa trang, định bụng sẽ ghé tiệm mua một cái khung thật đẹp cho bức tranh ông ấy gởi tặng tôi một tuần trước ngày ông qua đời. Bức tranh vẽ hình một cô gái với khuôn mặt trống rỗng, ngoại trừ đôi mắt thật đen, thật lớn, thật mời gọi. Và trước mặt cô là những chấn song gẫy nát, không còn có thể ngăn trở được điều gì.
Phùng Nguyễn
03.97