vhnt, số 301
3 June 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ:
1 - Tháng 6.........................................................Ý Liên
2 - Lời tình ru..................................................Hoài Yuk
3 - Dăm dòng/Du/Tử.................................Nguyễn Ðăng Tuấn
4 - Vết thương...........................................Phạm Văn Tiên
5 - Hạ chia tay...................................................Hàn Trân
6 - Vô đề......................................................Suối Mơ
7 - Lần ngã giả vờ.....................................Lillian Nguyễn
8 - Không còn thấy mặt trời....................................CỏMay
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Chuyến xe văn học.................................Lương Thư Trung
10 - Giới thiệu sách báo trong tháng................Nguyễn An Ðông
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Khung trời phượng vĩ.............................Nguyễn Vy-Khanh
Tháng sáu bây giờ trời nắng hay mưa
từ thuở mẹ đi chẳng hẹn buổi về
hình như nắng khóc trong màu nhớ
từng bước tôi về rưng rức hơi mưa..."
(tháng 6, Ý Liên)
Tháng 6, đỉnh cao của mùa hè, những cơn nắng gắt và cái nóng "rưng rức hơi mưa"(1) trong thơ Ý Liên đem tôi trở lại nỗi nhớ của một "Khung trời phượng vĩ"(2) hôm nào, từ một "Mùa hạ chia tay"(3), bắt gặp mình thầm lă.ng hát những "Lời tình ru"(4) về "một vết thương dao cắt sâu hằn..."(5), về một "Lần ngã giả vờ"(6) rằng có lần trượt chân trên đường đi đau nhóị.."Dưới chân, cõi hồng trần lá rụng..."(7). Hãy b ình thản, ngày sau sẽ còn chút gì bâng khuâng thoáng nhớ đến những bài thơ "vô đề"(8) và một sáng thức dậy sẽ "Không còn thấy mặt trời"(9) cô độc! Bởi vì "nhánh sông chia mãi còn tìm thấy nhau..."(10 )
Chúc bạn một mùa hè thật nhiều kỷ niệm.
thân ái,
PCL/vhnt
* (1 - 10), tựa & lời những bài thơ trong vhnt số này!
Ð Í N H C H Í N H
Trong loạt bài "40 năm văn học chiến tranh", có hai đoạn xin được đính chính:
1. VHNT #298, Giai đoạn 1981-1987, bài thơ của NC Thiện thiếu sau câu "Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa", xin thêm:
Nào đâu chính nghĩa thắng gian tà.
(...) Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!
(Vì Ấu Trĩ, 1975)
Trước 1975, ở miền Nam ít có hồi ký"
tiếp theo: "Sau 1975, hồi ký, bút ký là thể loại chiếm một phần quan trọng từ 1980 đến 1997.... "
2. VHNT #300, đoạn thơ trích "Năm Năm Trở Lại Sàigòn" là của Lâm Hảo Dũng. Xin đính chính như sau:
Nguyễn Ðức Bạt Ngàn với Bình Minh Câm, Giữa Triền Hạn Reo, Từ Giã Ngày (1989):
hãy bình tâm đi em dù còn lắm nỗi thương đau đang chào đón con đường đi trước mắt là hạt gạo cắn đôi dêm quê nhà se thắt đất nước thống nhất rồi nhưng mãi ngăn chia mẹ còn chong đèn tăm tối phương kia cha và anh còng lưng rừng thẳm giữa ngợi ca ngụy hình tội ác hòa bình hạnh phúc muôn năm...
(Nhật Ký Biển)
Lâm Hảo Dũng Ngày Ði Thương Sợi Khói Bên Nhà, Ði Giữa Thời Tan Nát là những kỷ niệm của người lính cộng hòa, những hành trình trong chiến nhưng chủ yếu là những hoài niệm về thời gian và nơi đã mất. Cảnh Sài Gòn năm năm sau đi "cải tạo" trở về:
Năm năm trở lại Sài Gòn
nghẹn ngào nhìn bao đổ nát
mẹ ngồi ôm đầu tóc bạc
phố dài phủ một màu tang
... Ô hay năm năm rồi nhỉ?
(trời ơi! mất nước năm năm)
hãi hùng như cơn hồng thủy
(mùa xuân mùa của xa xăm)
năm năm trở lại Sài Gòn
hành trang chiếc quần rách nát
bỗng dưng ta thèm được hát
dưới cờ ba sọc vang vang...
(Năm Năm Trở Lại Sài Gòn)
Nguyen VyKhanh
THÁNG 6
Cho Ba Mẹ Kính Yêu, em gái Vĩnh Hỷ, và bè bạn
Tháng sáu bây giờ trời nắng hay mưa
từ thuở mẹ đi chẳng hẹn buổi về
hình như nắng khóc trong màu nhớ
từng bước tôi về rưng rức hơi mưa
Tháng sáu bây giờ là những ban trưa
chim sẻ đầu hiên côi cút đợi chờ
mùa hạ vỗ về con sóng nhớ
hồn tôi buồn đổ nắng lưa thưa
Tháng sáu bây giờ trời chẳng buồn mưa
em gái theo chồng về quê xưa
thăm lại quê hương ngày tuổi lớn
ngỡ hồn thơ dại ướt trong mưa
Tháng sáu em thơ đã có chồng
ba mẹ không còn để tiễn chân
thương em tôi tiễn về bên ấy
nghe chừng tuổi nhỏ khóc mênh mông
Em hỏi tôi rằng "chị gửi gì không?"
mai em về thăm viếng quê chồng
Gò Công đất mới, Nha Trang cũ
Tuy Hoà thành quách những rêu phong
Em nhất định về thăm mộ ba
đặt cành hoa trắng mộ bia xa
thay chị "thưa ba, con chẳng trọn
lời hứa thay ba chăm sóc mẹ già"
Tôi hỏi tôi rằng "mình gửi gì không?"
làm sao gửi hết những thương mong
bạn cũ quê xưa còn mấy đứa?
kỷ niệm chắt chiu, tay bế tay bồng.
Nên viết tờ thơ vội mấy dòng
Này Mai, này Trinh, Thanh hỡi, nhớ ta không?
quà mọn hắt hiu màu viễn xứ
gửi về cố quốc những nhớ mong
Ý Liên
Lời tình ru
Sầu ơi lên những áng mây
Dựa vai anh nhé cho đầy giấc ngon
Gió đem nắng ấm tô son
Cho em xinh mãi không còn ngờ anh
Ngờ sau tuổi hạc không anh
Không còn vai dựa mong manh phận người
Biển kia sóng bạc suốt đời
Rằng nhớ bãi đá, suốt đời không yên
Ngủ đi em thôi muộn phiền
Nhánh sông chia mãi còn tìm thấy nhau
Ngàn sau ai vẫn qua cầu
Thì anh rằng muốn qua cầu này thôi
Hoài Yuk
DĂM DÒNG/DU/TỬ
Vũng/trưa/bóng/tối em, nằm
con suối, vùng, lên, cửa thủy triều
mường, tượng đá, ngạnh, trời nguyên tiêu
hôm nay không/khác,/sao/khi khác
em/tưởng/tôi đưa, đón ai/về
con phố/xưa, nay/lỡ xa, nhà
tử, biệt không hề/biết dung,/nhan
vấy trăm năm/cũ/mãi nhạt, nhòa
bỏ/câu sinh, sản toàn,/diện,/tích
mửa, mật/xưa/hồi/chốn dung thân
nguyễn đăng tuấn
Vết Thương
Một vết thương dao cắt sâu hằn
Ngón tay nhỏ máu đỏ chậu thau
Nước. Thịt, mỡ, hành tây ướp máu
Ðỏ lòm như đĩa tiết canh heo
Tám tiếng đồng hồ làm sơ ý
Một phút bất cẩn lãnh vết thương
Ðau nhói con tim buồn rỉ máu
Thuốc kháng sinh uống cũng chẳng cầm
Mặt tái như thịt luộc - xanh ngắt
Tay cầm bàn tay run lẩy bẩy
Thuốc khử trùng xé nát thịt da
Phập phồng, phập phồng, ngón tay nhẩy
Ðôi mắt ướt chỉ sè sè cay
Không bằng hôm chia tay khóc suốt
Một đêm chẳng ngủ. Ngày hôm sau
Ðờ đẫn, đi làm cắt vô tay
Phạm Văn Tiên
HẠ CHIA TAY
Nắng đi về bước lên đời mùa Hạ
Nóng cháy rồi đốt xám tuổi kinh thư
Những cánh hoa học trò lần đỏ má
Giòng chữ nào cuộn lại đợi mùa Thu
Sợ ân tình tháng ngày dài xa vắng
Chẳng thèm về lần học mới mùa sau
Sợ thiếu nhau đôi môi vờ im lặng
Sợ từng ngày mất nhịp thở cho nhau
Sợ áng mây trắng toát màu nhung nhớ
Lá đậm màu không giấu hết mộng mơ
Sợ ướt mưa giữa đường ai ôm vở
Mái hiên nhà hơi ấm đứng đợi chờ
Ai đem đến làm chi trời nắng Hạ
Khi tình đầu một đóa nở mùa qua
Ai đem đến làm chi hàng cây lá
Bóng che đầu lần nói cuộc chia xa
Khuôn viên đó lặng buồn lời không nói
Nắng từng hàng êm ái gỏ vào ngôi
Mấy bực thang đôi dấu tích chờ đợi
Một khung trời cất lại nhật ký thôi
Hàn Trân
VÔ ÐỀ
Dáng nâu
cong cánh,
kiêu kỳ
Ðạp vào
đóa lá
xanh rì,
mởn mơn
Cao đầu,
nàng khỉnh
nghĩa ân
Phũ phàng
ngoảnh mặt
... chuyển luân
rẫy ruồng
Ngờ đâu
sợi chỉ
qua suông
Ngờ đâu
một sớm
nghe chuông
mộ phần
Dưới chân
nâu, cõi
hồng trần
Lững lờ
lá rụng,
bần thần,
xót xa
Hôm qua
mơ giữa
chiều tà
Một con
bướm lụa
chết già
... quạnh hiu.
Suối Mơ
LẦN NGÃ GIẢ VỜ
Con bé tung tăng trên vườn cỏ xanh
Không sao cả cũng chao mình ngã xuống
Rồi ngồi dậy gỡ tóc mềm cỏ vuớng
Nắc nẻ cuời trong mùi lá thơm tho
Ðuợc bao nhiêu những lần ngã ngây thơ
Vấp trong truờng đời niềm tin rạn vỡ
Vuột mất tình yêu con tim nức nở
Truợt trên đuờng thi lỡ tuổi học trò
Hãy tận vui những lần ngã giả vờ
Mai mốt lớn đỡ một phần tiếc nuối
Cứ để vậy vết màu xanh áo mới
Ngày sau còn một chút để bâng khuâng
Cứ để cho cỏ níu bàn chân
Vào tuổi lớn vẫn mang hồn tuổi bé
Uớc gì đuợc lần nữa thôi trượt té
Trên đuờng xanh, xanh mượt một đuờng xanh
Lillian Nguyễn
KHÔNG CÒN THẤY MẶT TRỜI
I.
Thức giấc
Rạng đông nào đơn độc
Không còn thấy mặt trời
Không còn thấy mặt trời ở trên cao
Không còn thấy mặt trời ở trong tôi
Không còn thấy mặt trời cuối hư không
Xõa tóc rối
đi rong
Tôi tìm mãi mặt trời
Về bờ sông
Nơi nỗi buồn cập bến
Ngồi đợi mặt trời lên...
Chẳng thấy
Về vực sâu
Nơi nỗi buồn đọng lại
Thét gàn hơi
Gọi nhớ mặt trời
Chẳng thấy
Mặt trời chết đuối
Ô nhân gian
Mặt
trời
chết
đuối...
Không còn thấy mặt trời
Chỉ thấy những mặt người
Những nụ cười tiếng khóc điêu toa
Ngày hoảng hốt và chim bay hoảng hốt
Ðau nỗi đau không có mặt trời
II.
Tôi về vẽ trong tôi
Những đường cong không tròn
Ngỡ mặt trời đang lên
Không, chẳng có mặt trời
Mỗi đường cong còn đọng lại một tôi, ngạt thở
Và tôi đứng
Hoài nhìn tôi,
Thầm nhủ
Mặt trời nào
Rồi
Cũng chết
Trong tôi
Mai 1997
CỏMay
CHUYẾN XE VĂN HỌC
Mở cửa, bước lên chuyến xe đi làm mỗi sáng, tôi nhận được tiếng chào thân quen của những người anh, người bạn già. Họ là những người lính già, những người thợ bất đắc dĩ bởi miếng cơm manh aó nơi xứ lạ này. Họ đến với nhau bằng hiện tại thật êm ái với những trò chuyện vui vui, với những thân tình như dưới một mái ấm gia đình. Không ai bảo ai, người nào cùng gọi anh hai Hiền, lớn tuổi nhất là anh hai, anh cả. Còn lại, anh này là anh sáu Lê, anh kia là anh bảy Lời, anh tám Trong, người nhỏ tuổi nhứt được gọi cái tên trống không là Nguyên thân mật như đứa em trong nhà không bằng.
Mỗi ngày, buổi sáng ra đi, cũng như buổi chiều khi rời nơi hãng làm, tất cả sự đời bỏ hết bên lề, không một chút vướng bận những chuyện vụn vặt. Họ nói nói cười cười với những mẫu chuyện ca dao, văn học như những nhà tìm tòi biên khảo. Những mẫu chuyện không đầu không đuôi, hoặc có căn có cội rất rõ ràng khúc chiết.
Tôi lúc nào cũng chăm chú nghe anh hai Hiền, người đã từng trải với hai năm nữa là tròn bảy mươi tuổi đời, nói về ca dao. Nào là:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra không biết
chứ không phải " cánh biếc " hoặc " xanh biếc " như từ trước đến nay người ta vẫn nhắc đi nhắc lại. Vì anh hai cho rằng ở quê anh, ngoài Huế, hoa tầm xuân không phải màu xanh. Hơn nữa, ở đây, theo anh hai, bài ca dao này ý nói hai người con trai con gái ở gần bên nhau, anh chàng này không phải quá vụng về, không để ý gì, mà vì lễ giáo thời xưa quá thâm nghiêm, trai gái không dám tỏ tình dù " tình trong như đã ", cho đến khi nàng đã có chồng như " nụ tầm xuân nở ra " mà chàng không hay, " không biết " gì cả, để rồi lại luyến tiếc, thất vọng não nề. Rồi anh hai diễn tả tiếp nỗi xót xa của chàng trai lỡ chuyến thuyền tình này qua những vần ca dao mộc mạc:
Em đã có chồng anh tiếc em thay.
Thoạt vào anh nắm cổ tay,
Sao trước em trắng mà rày em đen,
Hay là em lấy phải chồng hèn,
Cơm sống, canh mặn nó đen mất người.
Và người con gái đáp lại với lời trách khéo:
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi từ ngày còn không.
Thôi thì, bây giờ mọi việc đã rồi như ván đã đóng thuyền, theo đạo đức tam tòng, em không làm sao làm khác đi được bởi lễ giáo buộc ràng:
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu,
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lòng biết thuở nào ra...
Thật là một câu chuyện tình nên thơ mà trong sáng và ý nhị, cùng đạo đức bàng bạc lúc nào cũng ẩn giấu trong lòng những chàng trai cô gái ngày xưa.
Không rõ thực hư thế nào giữa " xanh biếc " và "không biết " trong bài ca dao này, nhưng dù sao, ý kiến của anh hai Hiền cũng là một cái gì mới mẻ trong cách tìm hiểu cặn kẽ những điều thât lý thú trong kho tàng văn chương truyền khẩu phong phú của tiền nhân.
Tôi cũng lắng nghe những trao đổi về những điễn tích, những thành ngữ được anh này đưa ra, anh khác vui vẻ giải thích tường tận, không mang chút kiêu ngạo vì đã biết hoặc mặc cảm vì không am tường. Dường như, khi những con người đã trải qua quá nhiều những vinh nhục trong dòng đời, đối với họ, những hơn thiệt trong đời thường đôi lúc không còn làm họ bận tâm suy nghĩ nhiều. Tất tất, đều thích thú vì những học hỏi thân tình, vì những cảm thông chia xẻ, vì những hiểu biết về những hư thực của cuộc đời. Có lẽ, họ chín chắn hơn, đằm thắm hơn, bao dung hơn, dễ tha thứ hơn với những điều xảy ra cho họ mỗi ngày.
Theo anh bảy Lời, " Khắc lậu " là một thứ dụng cụ để tính giờ ngày xưa, làm bằng cái chậu có chứa nước để cho nhỏ giọt dần dần và đều đều xuống một cái chậu khác. Người ta xem chừng mực nước để biết thời khắc. Sau này người ta còn gọi khắc lậu là đồng hồ.
Tôi chợt nhớ trong truyện Kiều có câu:
Ðêm thâu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.
Phần chú thích truyện Kiều, bản của cụ Bùi Kỷ và cụ Trần Trọng Kim hiệu khảo, "khắc lậu" là nói cái khắc trong đồng hồ theo mực nước chảy từng giọt mà sụt xuống.
Hoặc anh tám Trong, một người có giọng nói rặt miệt vườn dừa Ba-Tri và lúc nào cũng quen dùng chữ "hồn vía" trong câu chuyện, càng làm cho nét chất phác, mộc mạc miền Nam thêm nổi bật,đã nêu câu hỏi tại sao: "Ðàn bà sau khi chồng chết rồi lại có chồng khác gọi là tái giá. Còn đàn ông sau khi vợ chết rồi lại cưới vợ khác được gọi là tục huyền?" Cả xe cùng nhau nghe một anh nào đó giải thích rành mạch: Theo phong tục Việt Nam, con gái khi lễ cưới cử hành thì rời nhà mình về với chồng gọi là xuất giá theo chồng. Nay chồng chết và lại có chồng một lần nữa thì gọi là tái giá, nghĩa là xuất giá lại một lần nữa. Còn đàn ông có vợ như đàn đủ dây. Nay vợ chết và cưới vợ lần thứ hai chẳng khác nào dây đàn bị đứt được nối lại, nên được gọi là tục huyền. Tục là nối lại. Huyền là dây đàn. Tất cả cùng cười xòa với những ý nghĩ ngộ nghĩnh, vui vui mà chí lý.
Còn bạn Nguyên, lúc nào cũng có những nhận xét chân xác về những điều đã đọc được trong sách vở, báo chí và nói chuyện văn chương suốt ngày không chán. Bạn này là một trong những người đưa ra nhiều câu hỏi thú vị.
Một hôm tôi được bạn Nguyên đặt câu hỏi: Anh ở miền lục tỉnh, vậy anh có biết tại sao: Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc, trong câu ca dao sau đây:
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Gió nào độc bằng gió Gò Công...
Nhận thấy không khí của việc trao đổi mang tính chất tìm hiểu chân tình, không nhằm hỏi để đố bí nhau, tôi lần lượt giải thích theo sự hiểu biết và có sống thực, biết thực về vùng đất của mình: Nguyên trước kia, việc giao thông đường bộ còn bị hạn chế. Miền Nam lại là miền sông rạch, do đó, hình thái giao thông đi lại hoặc buôn bán thuờng được xử dụng bằng ghe xuồng. Nên thương buôn thường đi lại khắp miền sông rạch. Ðôi lúc còn đi qua tới Nam Vang và ngược lại là việc thường. Ðịa thế đất Châu Ðốc là địa thế cao so với các tỉnh khác vùng lục tỉnh. Châu Ðốc còn có núi Sam dù Châu Ðốc vẫn thuộc vùng đồng bằng. Mà mùa nước tháng giêng, tháng hai, tháng ba của dòng sông Cửu Long, mực nước rút thật sát, bỏ bờ sông thăm thẳm trên cao. Do đó từ dưới ghe buôn nhìn lên chợ búa, nhìn lên bờ có lẽ đèn ở chợ Châu Ðốc này là cao nhất. Nếu bán buôn các loại hàng hoá như mía, dừa, chuối... mỗi lần vác hàng lên chợ nhiều lúc muốn ngất ngư bởi dốc cao, vực thẳm. Trên bến dưới thuyền như vậy, những đôi trai gái thường có lời qua tiếng lại trao đổi, tỏ tình sông nước như:
Bớ ghe sau, chèo mau anh đợi,
Kẻo dông tới rồi, trời lại tối tăm.
Và thuyền chèo phía sau có người đáp lại như gửi gắm một chút cảm mến rồi:
Bớ ghe ai, chờ đợi em cùng,
Ghe em chở nặng, vẫy vùng không lên.
Nhưng làm phận nữ nhi với nề nếp giáo dục lấy đạo hiếu làm trọng, khi nhớ tới mẹ già, nên nàng đành gạt lệ chối từ mối tình dù đằm thắm tuyệt vời này như không thể lấy gì để mà so sánh cho bằng ngọn đèn trên chợ Châu Ðốc trước mặt và từ đó phát xuất câu ca dao sau đây:
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Ðất nào dốc bằng đất Nam Vang,
Một tiếng anh than đôi hàng lụy nhỏ,
Có chút mẹ già biết bỏ cho ai!
Vào năm Thìn, ở miền Nam, một trận bão lụt lớn nhất từ trước tới nay, phát xuất từ những cơn gió giật vùng biển Gò Công, gây ra biết bao cảnh tàn hại về mùa màng, nhân mạng cùng tài sản cho biết bao dân chúng với bao cảnh tang thương sầu khổ. Và người nông dân miền Nam lại có câu ca dao để ví cảnh ly tan của trận thủy tai này và cũng lấy " đèn Châu Ðốc " làm căn bản cho sự so sánh cảnh tang thương ngút trời:
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Gió nào độc bằng gió Gò Công,
Thổi ngọn Ðông Phong, lạc vợ xa chồng,
Ðêm nằm nghĩ lại, giọt nước mắt hồng tuôn rơi!
Dịp này, tôi cũng đề cập đến cách giải thích khác của một người quen, nhưng không hợp lý. Anh bạn quen này giải thích rằng: Vào những năm cụ Thoại Ngọc Hầu đốc suất đào con kinh Vĩnh Tế nối liền Châu Ðốc với Hà Tiên, vì muốn cho dân công thấy đường để đào con kinh cho thẳng nên mới treo đèn ở hai đầu khúc kinh đang đào. Do đó, theo anh bạn này, đèn ở Châu Ðốc là đèn cao nhất. Thêm vào đó, anh còn giải thích, vì chồng bị bắt đi dân công nơi rừng thiêng nước độc, không chịu đựng nổi với thời tiết, với cực nhọc nên phải chết và bỏ lại vợ con.
Thật ra, vì anh bạn có lẽ chưa bao giờ đi đào kinh hoặc chưa thấy đào kinh ở miền Nam. Ðào kinh, thường người ta hay đào ban ngày. Dù có gấp rút gì đi nữa cũng chỉ đào ban ngày, ban đêm trời tối như mực, không làm sao thấy đường để đào kinh. Ðó là chưa kể còn bao khó khăn khác như muỗi mòng, mưa gió lạnh lẻo. Do đó, việc dùng đèn để làm mục tiêu nhắm con kinh cho dân công thấy để đào kinh cho ngay thẳng, có lẽ không cần. Lại nữa, từ Châu Ðốc đến Kinh Vĩnh Tế cũng xa đường lắm, dọc biên giới Việt - Miên, nếu có đèn thật sự như vậy, cũng không làm sao trông thấy được.Thông thường, để nhắm cho ngay, người ta hay dùng những cây tre thật ngay, đốn xuống róc nhánh và để nguyên đọt, càng cao càng tốt. Trên đọt cây tre này, thường thường được người đào kinh lấy cỏ, rơm quấn thật to thành cái gù, rồi dựng hai đầu con kinh hoặc khúc kinh nào đó để làm mục tiêu theo đó mà nhắm hầu đào kinh cho ngay thẳng, gọi là nhắm bong tiêu. Nên xin nói lại cho rõ về cách giải thích này, để tránh hiểu lầm về một vấn đề vừa thuộc về văn học, vừa thuộc về thực tế ở nông thôn miền Nam trong việc tìm hiểu về ca dao.
Tất cả anh em trên chuyến xe đều tán đồng cách giải thích về đôi trai gái trên ghe thương hồ cũng như tả lại cảnh ly tán mùa bão lụt năm Thìn lấy " đèn Châu Ðốc " làm tiêu chuẩn để so sánh những tấm chân tình cao vòi vọi của mình trong hai hoàn cảnh dù khác nhau này.
Trong ca dao, mà đặc biệt ca dao miền Nam, thường hay lấy những sự vật cụ thể để đem ra ví von với những tấm lòng chân thật. Có biết bao những câu ca dao như loại lấy "đèn Châu Ðốc" làm chuẩn mực đo lường tấm chân tình, chẳng hạn như:
Lầu nào cao bằng lầu ông chánh,
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông,
Ðạo nào sâu cho bằng đạo vợ chồng,
Nằm đêm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.
Quả thật, ở miền lục tỉnh, mỗi tỉnh ngày xưa có lẽ dinh thự ông chánh tỉnh được Tây xây cất có lầu cao nhất trong vùng, không ngôi nhà nào có lầu cao như vậy, như dinh ông chánh tỉnh Nguyễn Ngọc Thơ ở Long Xuyên chẳng hạn. Hoặc bạn nào ở Rạch Giá có lẽ sẽ nghe tiếng các loại bánh ngọt ở đây khéo và ngon nhất vùng như bánh bò bông với những cánh hoa nở xòe ra đều đặn và trắng phau. Nhưng cái đạo vợ chồng cũng tha thiết, thiết tha không bút mực nào tả xiết. Do đó, mới có câu;
Ðạo nào bằng đạo phu thê,
Tay ấp má kề, sanh tử có nhau.
Và đã quyết chí rồi, thành chồng vợ rồi:
Ði đâu cho thiếp theo cùng,
Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Những mảnh vụn văn chương rời rạc như vậy, ngày nào cũng như ngày nào, mấy anh em già với nhau như trong một gia đình có tôn ti trật tự, luôn luôn tương kính lẫn nhau, hết câu này đến câu khác, hết đề tài này đến đề tài khác, tạo cho nhau những êm ả trong lòng, không vướng bận buồn chán như đa phần tuổi già sống kiếp viễn phương thường vấp phải nơi đất khách này. Ðiểm đặc biệt, là chưa bao giờ tôi nghe bất cứ người nào trong anh em chúng tôi nhắc về những dĩ vãng một thời của mình. Tât cả dường như được xếp lại vào một ngăn tủ nào đó của dòng đời. Tôi chợt nhớ lại câu nói của một cô giáo một trường trung học ở quê nhà, dù bị bịnh lãng trí, nghỉ dạy học, đi lang thang khắp xóm cùng làng, áo quần dơ bùn, nhưng trong một lúc ở trạng thái thật bình thường, cô nói một mình: Dĩ vãng như một hồ sơ, khi xếp lại bỏ vào ngăn tủ thì nó cũ, nhưng lúc cần mở ra, hồ sơ vẫn còn mới ràng ràng! "
Boston, Tháng Năm 1997
Lương Thư Trung
KHUNG TRỜI PHƯỢNG VĨ
1.
Ðã lâu lắm Di mới lại đối đầu với một người khách tìm tài liệu "lì lợm" không thỏa mãn những kết quả chàng đưa, kết quả căn cứ trên bao nguồn tin học cập nhật nhất và trực tiếp với nhiều cơ quan nghiên cứu ở khắp thế giới. Di đã mời tìm chung và ông ta đã nhìn thấy! Lãnh vực kỹ thuật xây cất sát mặt đất chứ đâu phải mấy địa hạt dự phóng, kế hoạch hoặc sáng chế hướng lai viễn kiến tân kỳ gì cho cam. Ðã ba tuần rồi, ông ta đến rồi đi như một người mộng du, chìm đắm trong những dự kiến giải pháp tưởng tượng của mình. Tại sao kỹ thuật đó lại đưa đến những kết quả quá thu hẹp, tại sao không thể phối hợp hai kỹ thuật anh em, tại sao và tại sao. Vì ông ta muốn đề nghị giải pháp của mình với ông thứ trưởng như là một kỹ thuật tân kỳ nhất của cuối thế kỷ, tân kỳ và hiệu lực hơn cả của mấy kỹ sư người Nhật, có thể tiết kiệm cho bộ nhiều triệu bạc trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay. May là điện thoại reo, Di xin lỗi sẽ gặp lại sau như muốn đuổi khéo, nhưng chàng điện thoại thì ông ta vẫn ngồi lì ra đó, mắt cứ nhìn cái máy điện toán của chàng. Lại một điện thoại khác, vì bận đường giây nên chỉ hiện số và tên trên khung ảnh: bệnh viện Ðức Bà và số điện thoại. Nhưng tại sao là "bệnh viện", Di tự hỏi rồi vội vàng gọi lại. Phòng cứu cấp cần một thân nhân đến gấp vì bệnh nhân đang bị tim đứng. Người bệnh là ông thân của Di. Chàng bỏ người khách khó tính lại đó, nói mấy câu với cô thư ký, xuống lấy xe thắng hướng nhà thương ở phía cực nam thành phố.
Bây giờ thì ông thân Di nằm đó, bất động; y học cứu cấp đã thành công làm tim ông đập lại dù vẫn chưa bình thường. Một mổ xẻ để gắn dụng cụ tới tận tim phải làm, sau đó mới biết cứu được tim hay không. Phòng mổ phải chờ trống. Một bệnh nhân vừa được đưa ra khỏi phòng, cả chục y tá và nhân viên bao quanh, vừa đi vừa chạy. Phía trong hành lang là giường bệnh nhân những ca cứu cấp nhẹ. Ng ười bạn già của ông thân Di rủ chàng đi uống cà phê. "Ổng bị thuốc mê, mình có ở đây chờ thì cũng vậy, ổng đâu có hay". Di đi theo ông, cám ơn ông thêm một lần. Ông thân Di tới nhà ông bạn chơi thì bị đau tim nghẹt thở phải gọi xe cứu cấp; xe đưa tới bệnh viện gần nhất ở khu này. Ðây là lần thứ nhì, trái tim ông muốn bỏ rơi cơ thể của ông.
Khi hai người trở lại thì ông thân Di đang ở phòng mổ cứu cấp. Phải cả tiếng sau ông mới được đưa trở ra; lại cảnh một người nằm mê man, mười người chay theo bên cạnh tay cầm nước biển hay dụng c ụ đo khám. Ông thân Di được đưa vào phòng hồi tỉnh. Ông bạn ông thân theo đã lâu, vừa bỏ về trước vì cũng tới giờ phải uống thuốc. Ông nằm đó, mê man, máy móc đầy phòng, những tíc tắc của máy, những tường trình của các sinh viên nội trú với bác sĩ thầy học. Ngoài ra là một yên tĩnh buồn, của sinh lão bệnh tử, của kiếp người. Và ở xứ người! Không ngờ một người như ông thân Di sinh ra nơ i một vùng hẻo lánh nghèo nàn của đất nước, phải bỏ nơi "chôn nhau cắt rốn" ra đi vì chiến tranh, và cũng vì chiến tranh, nay phải lưu thân nơi xứ người khi tuổi bóng xế. Di chìm đắm trong ký vãng...
2.
Di biết mình chào đời ở một thôn dã miền Trung đất nương cằn cỗi khó khăn, nhưng chàng không giữ được một kỷ niệm hoặc hình ảnh nào của nguyên quán cả. Những hình ảnh xa xưa nhất Di còn hồi tưởng được, đó là cảnh đứng trên thành ở Huế nhìn đua xe đạp và nhà mấy bà dì ở gần đó, sau đó là hình ảnh những ngày đầu tiên Di đi học lúc đó mới bốn tuổi, mạ chàng phải ngồi chờ trước cổ ng trường, vì khi nhìn ra mà không thấy mạ là Di... bỏ lớp chạy một mạch về nhà có khi về trước cả mạ! Với Di, miền Trung tuổi thơ chỉ có chừng ấy... sự tích! Huế cũng là chặng đầu trên đường Nam tiến của gia đình Di.
Những kỷ niệm ấu thời mà Di hãy còn nhớ rõ và mỗi lần nghĩ đến, những kỷ niệm ấy vẫn sống mạnh, đó là thời tiểu học ở trường Thạnh Mỹ, lúc đó gia đình Di đã vào Nam. Trường cách ngăn Thảo Cầm Viên bởi con sông Thị Nghè. Nơi đó, và không phải những nơi khác, mà sau này, đã hơn ba mươi năm qua, vẫn có lúc trở về ám ảnh, có khi kêu gọi trở về, có khi gây tiếc nuối, có khi chỉ là giây lát bâng khuâng, có khi như bây giờ...!
Trường tiểu học xử dụng lại một dãy nhà đã được dùng làm hội chợ triển lãm hình như vào dịp Tết 1957. Di còn nhớ dãy tường nhà được sơn vẽ những hình ảnh sống động tả đời sống nông dân, cô ng nhân, thợ thủ công, v.v... Sân chơi là cả khuôn viên triễn lãm trước đó. Và cũng chính trong những căn nhà bỏ trống sau đó, Di đã nghịch ngợm té phun máu đầu nay vết thẹo vẫn còn.
Muốn đến trường, học sinh từ phía quận nhất Sài Gòn phải đi xuyên qua Sở thú và băng qua cây cầu cạnh trường. Bờ sông đó cũng là nơi bọn Di đùa nghịch bắt cá nhưng không được lâu. Bọn Di tởn không đến đó bắt cá nữa từ khi nghe mấy anh lớn nhát nói cá đó là hồn ma của những nạn nhân của hội chợ đi qua phà xô đẩy làm phà xập chết nhiều người mấy tháng trước đó.
Qua khỏi cầu, phía trái có một trường nữ của các bà sơ mà có lần vị tổng thống đương nhiệm đi bộ đến thăm. Học trò trường Di ở phía bên này đường cũng phải đứng thẳng nghiêm trang tại chỗ tron g lớp học để chào. Ðầu óc đơn sơ của Di lúc đó đã thấy khó hiểu chuyện người lớn vì vị tổng thống đó có nhìn thấy đám học trò trường công đứng ở trong lớp này đâu!
Khuôn viên trường có nhiều cây phượng vĩ cao lớn mà mỗi lần đến hè hoa phượng nỡ đẹp cả một khung trời. Dưới một gốc cây phượng ngày kia bọn Di đã gặp lại thầy S, thầy giáo lớp nhất bị động viên trở về, tóc ông hớt cao, mặt mày đen đúa, có lẽ ông ngồi nhìn lại ngôi trường không biết chiến tranh có trả về lại không! Di sẽ gặp lại thầy S hơn tám năm sau đó, khi Di mới vào học đại học văn khoa, lúc ấy ông sắp xong cử nhân Việt Hán và xuất bản cuốn tự điển chữ Nôm in ronéo là tác phẩm về sau có nhiều nghi vấn về các tác giả thật của nó. Ông là thầy giáo được bọn Di quý mến nhâ 't, kế đó là thầy giáo lớp ba. Không biết có phải vì mang họ Tô hay sao mà ông rất nghệ sĩ, hay tập cho học trò những bài ca trong sáng, đẹp đời như các bản Em bé quê, Nắng chiều, Học sinh hành khúc, vv. Còn hai thầy giáo lớp tư và lớp nhì thì học trò ai cũng sợ. Một ông mặt lúc nào cũng đỏ gay, người rất ốm nhưng đánh học trò rất... ác, có khi ông kẹp đầu đứa nhỏ vào háng rồi đánh vào mông đứa nhỏ như người ta đánh trống. Ông thầy lớp nhì thì chuyên môn đánh đòn hai bàn tay, thay đổi theo nhịp! Ông này chỉ có mỗi một cô con gái sẽ là học trò của Di khi chàng dạy tư thục ở vùng Trần quốc Toản chín năm sau. Di có kể với cô học trò chuyện bị bố cô đánh tay sưng không viết được cả mấy ngày; cô bé cười thách Di đánh lại - chuyện khó xảy ra vì cô... ngoan ngoãn hơn Di hồi xưa nhiều! Và cũ ng chín năm sau, tóc ông thầy đã bạc nhiều nhưng vẫn theo học ở Văn khoa đồng thời với Di.
Mỗi ngày phải đi qua Thảo Cầm Viên để đến trường, do đó nơi đây đã trở thành chỗ chơi cho bọn con nít như Di. Bọn Di tung hoành khắp, từ nhà kiểng, chuồng gấu, chuồng khỉ đến sân khấu hòa nhạc lộ thiên ở cuối con đường chính - của giới trưởng giả và người Pháp. Những lần có khỉ giả nhân hoặc bạch tượng được đưa về là những dịp bọn Di trốn học để đi xem. Dù vậy, bọn Di rất ngại mỗi khi mạo hiểm vùng bờ sông phía sau sân khấu lộ thiên vì ở đó cây cối hoang dại rậm rạp hơn, nhưng lại có nhiều cây thuốc bắc (!) trái ăn rất ngon. Cho đến một ngày kia có người phát giác ra một xác chết sình to trôi giạt vào bụi cây ở bờ sông phía đó. Từ đó bọn Di hết dám mạo hiểm tới: cảnh tượng người chết đó như một cái bóng tối phủ che hết khung cảnh thiên nhiên. Một chỗ khác có nhiều cây hồng và cây thị mà bọn Di vẫn mon men tới bắn ná và bắt chước Tarzan đu những dây leo thật dài, chằng chịt, nhưng cũng thường bị gác dan đuổi - là nơi sau này lớn hơn chút nữa, Di mới biết là trại giam những tù chính trị của chế độ.
Thời tiểu học, Di ngây thơ và ham chơi, bạn bè nhiều; nhất là từ khi trường Võ Trường Toản bỏ bậc tiểu học, chuyển hết học sinh qua trường Thạnh Mỹ của Di. Di hãy còn nhớ buổi chiều đó, một đoàn ho.c sinh mặc đồng phục quần khaki xanh cụt, áo trắng, đi theo lớp lần lượt băng qua cầu dẫn tới trường. Di có thêm bạn mới, trong số có đưa thân nhất là H nhà ở mãi tận cư xá hải quân gần Ba son công xưởng. Cùng H, Di khám phá ra khu phố từ chợ Thị Nghè theo đường làng vô trường Thạnh Mỹ, vì từ khi bà dân biểu cố vấn ra lệnh bán vé vô cửa Thảo cầm viên, để đi học, bọn học trò phải lấy xe buýt qua ngã cầu Thị Nghè rồi từ chợ phải đi bộ tới trường. Vả lại, cây cầu nối làng Thạnh Mỹ với Sở thú cũng đã bị giăng kẽm cấm qua lại hình như vì lý do an ninh. Có những biệt thự hàng rào hoa giấy, những cây mận, chó dữ, có những khu bình dân hơn nhưng có nhà vẫn có vườn kiểng, núi non bộ. Con phố dài từ sau chợ tới trường toàn là những dãy nhà thấp, hình như không cao hơn mặt đường lộ bao nhiêu!
Ðó là thế giới tuổi trẻ của Di, một thế giới thu gọn, đơn sơ mà hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tầm thường, thoải mái, mà hình như Di chưa bao giờ kể lại cho người khác, cũng có thể vì Di chẳng bao giờ gặp lại bạn bè thời tiểu học đó!
3.
Lên trung học, Di thi đậu vào trường Võ Trường Toản, cũng ở bên hông Thảo cầm viên và vẫn giữa những con đường có những hàng cây me cao rậm rạp mà có lẽ lúc này Di mới để ý đến. Di không phải là loại học trò lúc nào cũng ganh đua để đứng đầu lớp, cũng không phải thuộc loại phá phách, thuộc `xóm nhà lá". Di thuộc loại tà tà, không dưới điểm trung bình nhưng cũng không quá cao; ngoại trừ năm đệ tứ Di và đám bạn ham làm báo và hoạt động xã hội như dự trại học sinh, năm đó bọn Di đều bị dưới điểm trung bình khiến ban giám đốc phải họp và ngoại lệ hạ điểm trung bình lên đệ tam xuống còn 9/ 20. Nếu không có hai thầy Tuân và Văn thông cảm, có lẽ bọn Di đã bị đuổi học hoặc phải đi binh nhì - không được cả trung sĩ, vì cùng năm đó bộ Giáo dục bỏ kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
Trường công nên kỹ luật sắt, nhất là hai thầy giám thị LCP và HVB tát học trò bất cứ vì lý do gì, có khi vì quên chào, có khi để một vạt áo rơi ngoài quần, có khi chỉ vì cười không đúng chổ. Thầy t ổng giám thị thì dù bề ngoài cứng rắn, công bằng, nhưng có những lúc ông nhẹ lời khuyên bảo nhất là từ khi Di làm báo trường và ông biết Di có ý bắt chước thằng N bỏ học đường ra đời sớm, theo N ra Ðà nẵng đánh trống cho ban nhạc của Mỹ. Thầy tổng nổi tiếng về vẽ phụ bản sách giáo khoa và cũng mới qua đời ở cùng thành phố với Di.
Phép sư phạm thời ấy khô khan, nhồi sọ, lập đi lập lại. Cách học do đó có khi và đối với một số học sinh, trở thành một loại trái đắng, một đày đọa tâm lý phải chịu đựng, phải như mọi người; n ếu không sẽ bị đuổi và không... tương lai! Ðối với những đứa học trễ tuổi, những khó khăn ở nhà trường trở thành một loại đe dọa tinh thần, vì nếu hỏng, huân trường sẽ... chào đón! Thầy cô, nếu tách rời từng cá nhân thì nhiều người rất đáng mến, cả thân mật với học sinh như các thầy Nhậm, Cẩm, nhưng tập trung lại thành ban giảng huấn thì hầu như ai cũng tỏ ra cứng, có trách nhiệm. Học trò bị phạt dĩ nhiên sẽ trở thành nạn nhân, nhất là những phê phán... thiếu hiểu biết và có khi "vơ đũa cả nắm". Từ đó sinh ra bệnh "cúp cua", bắt đầu trốn học, chui hoặc nhảy hàng rào Sở thú. Sở thú vẫn là thế giới hoa mộng của Di, nhưng từ năm đệ lục hết cỏn là những thú leo cây, nghịch thú, xem trăn "xực" gà, gấu "xực" thịt, vv mà là đám áo dài trắng Trưng vương không biết vì lý do gì mà lu 'c nào cũng thấy có mặt trên các bãi cỏ hoặc thướt tha nơi những con đường chỗ trải nhựa chỗ đất bụi. Dĩ nhiên có những môn học hoặc thầy cô không thành công thu hút bọn trẻ dù bọn Di có sức "chịu đựng" giỏi, nhưng làm sao tránh khỏi những ngày trời quá đẹp, tiếng gọi của đường mòn, tàn cây phía bên kia hàng rào và không giấu gì, của cả những con chim oanh biết nói biết cười, trở nên mãnh liệt hơn. Và rồi xe đã bỏ trong trường, dễ gì qua mặt mấy thầy giám thị nếu lấy lại để... đi dạo! Do đó chỉ còn một giải pháp là chui rào, đi bộ. Nhiều lần sau đó, thầy tổng đến lớp gọi tên lên văn phòng kỷ luật, lần đầu còn chối nhưng sau biết thầy có ống nhòm mà văn phòng lại đối diện với hàng rào Sở thú. Cũng vì mấy bóng hồng áo trắng ấy mà học sinh trường Di hay đánh lộn với đám Nguyễn Trãi và Chu văn An quen thói hay... đi lạc tới đó, nhưng nhiều khi có lẽ tại vì các cô con cháu bà Trưng thích... khách xa hơn là hàng xóm đã quen... nhẵn!
Có đứa có tài hoặc có số đào hoa cuối cùng cũng có được cái hẹn hò "danh chính ngôn thuận" hơn ở quán Hẹn. Nhưng có đứa... ngu hơn, như BKT mới đệ ngũ đã si tình đến độ có lần uống cả ống op talidon rồi nằm trên ghế của một xe nước đá đậu đỏ bánh lọt đối diện với cổng trường con gái chờ... chết, nhưng được cứu kịp thời. Có khi lại là những thất vọng sớm và... tốt, vì các cô khi đi một mình thì bẽn lẽn đáng... yêu, nhưng khi đi thành nhóm thì lộ ra là... sư tử Hà đông, khiến anh chàng đâm ra... kiêng dè hoặc đi chỗ khác chơi!
Nhưng không phải chỉ có các cô học trò trường bạn mới là mẫu mực mỹ nhân cho bọn Võ Trường Toản, một vài cô giáo trẻ cũng làm... mê hoặc không kém đám con trai mới lớn. Như cô giáo Vạn vật mới ra trường năm đó rất trẻ, người mảnh khảnh, lúc nào cũng y phục trắng, nhưng vải pha nylon hơi nhiều; như cô Việt văn năm đệ tứ hay tới trường bằng xe thổ mộ từ Hòa Hưng thì phải, cô này hình dong rắn ch ắc hơn cô Vạn vật nhưng hay đổ... mồ hôi, do đó khi cô vung tay giảng là học trò lại cứ phải... đờ người, hụt thở. Xong giờ học với hai cô, thay vì nặng đầu thì lại bị... nhức tim, mờ mắt, mà các thầy hình như cũng theo mệt bỏ.
Song song với những hoang chơi và lối học hành tà tà nói trên, từ năm đệ ngũ, Di trở nên mê Việt văn (kim văn thôi), một phần có lẽ nhờ thầy HVB trước làm giám thị nay dạy Việt văn - ông vừa đậu xong hai bằng cử nhân Việt và Anh văn. Ông có những phương pháp rất hiệu quả để viết hay và... dài hơn bình thường, đó là viết nhật ký, thuyết trình và làm bích báo. Cũng từ đó bọn Di ra báo lớp và t ình nguyện làm báo Tết cho trường luôn. Chiến tranh lúc đó đã khá lan rộng, thiệt hại bắt đầu thấy có trong đám học sinh: đứa phải đi lính, đứa mất người thân phải bỏ học, nhưng đồng thời tác động tâm thần giới trẻ, đẩy đưa giới này suy nghĩ, "trưởng thành", dù tương lai hãy còn mờ mịt và ngã ba đường cũng không thiếu! Tờ báo Tết năm Di học đệ tứ hình như rất được hoan nghênh và gây tiếng vang đến các trường bạn. Di hãy còn nhớ bìa báo là chân dung một tuổi trẻ trừu tượng, bối rối, trầm tư, vẽ theo lối Ðằng Giao vẽ bìa Ðiệu Ru Nước Mắt của Duyên Anh - lối vẽ "mốt" thời bấy giờ, chỉ là những đường nét bút vẽ - thay vì thường là một hoạt họa, cảnh trí. Bên trong là những thao thức của tuổi trẻ về thân phận, đất nước, tương lai và dĩ nhiên có cả những chuyện tình học trò. Một truyện ngắn của Di được chọn đăng trong số báo Tết năm đó. Cũng vì mê bạn bè và báo bổ mà Di bị ông thân la nhiều trận, lần bị la đầu, Di đã bỏ nhả đi bụi đời mấy ngày, ông thân phải lên trường tìm và báo cho thầy tổng, Di đành phải... thông cảm, trở về... mái nhà xưa!
"Nghiệp" làm báo và viết lách đó sẽ đẩy đưa Di chọn Văn chương khi lên đệ nhị cấp và phải đổi trường sang Pétrus Ký. Di sẽ phải xa những con đường lá me, những tiếng ve khi chiều về, những áo trắ ng e ấp dưới nón lá, và cả cái thế giới Di đã sống từ khi 6 tuổi đến năm 15 tuổi. Khác với một vài đứa bạn cùng hoàn cảnh, Di dù có tiếc nuối vẫn thoải mái ra đi vì hình như Di chưa có được một tình yêu định nghĩa rõ ràng, nghĩa là dung nhan chưa rõ... nét! Di sẽ tập làm đàn ông và mê gái đến thất tình... thật ở trung tâm văn hóa Pháp đường Ðồn Ðất. Và đến gần cuối năm đệ nhị, Di mới học... thật, nhờ đó mà đậu cả hai bằng tú tài hạng cao. Di cũng sẽ rời cái thế giới hoa mộng trước đó để đi vào một thế giới trừu tượng, phức tạp của nhân sinh, một thế giới ý thức hệ mệt nghĩ và của những dấn thân, bãi khóa, xuống đường, v.v... Bạn bè của Di ở đoạn đời này cớ... đầu óc, biết suy nghĩ hơn và đâm ra chậm chạp, lầm lì hơn! Ðứa nào không ham đọc sách, không biết thảo luận, trao đổi về những vấn đề... lớn lao của thời đại sẽ chỉ là bạn tình cờ gặp trên đường. Những đam mê dấn thân, đấu tranh sẽ được chấp nhận, và ngược lại, những thứ tình bạn da diế t thường sẽ bị... tránh! Mới đó mà đã hơn ba thập kỷ, bao nước chảy qua cầu! Khi Di vào trường Thạnh Mỹ, ông thân đã ngoài 30, nay Di tuổi đời mới đó đã quá nữa đường "tứ thập như bất hoặc"!
4.
Tiếng hỏi của cô y tá người bản xứ đưa Di trở về với thực tại. Ông thân của Di sẽ chỉ tỉnh lại trưa mai, Di có thể về. Mọi sự đã tốt đẹp trở lại. Hy vọng!
Tuyết mà tiên đoán thời tiết loan báo sẽ rơi từ chiều đã trắng xóa mọi nơi, một trận tuyết trễ tràng của tháng tư Bắc Mỹ, đã non nữa mùa Xuân. Ở một khung trời khác, phượng vĩ đang đâm chồi, hoa sẽ nở rộ đẹp đẽ như một cuộc đời hạnh phúc!
Nguyễn Vy-Khanh
4-1997