vhnt, số 273
20 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt.........................................................Tạo Lê
T h ơ :
1 - Dạ Khúc / Xa......................................................ThyK
2 - Ðêm Trừ Tịch........................................Phùng Nguyễn
3 - Vô Ðề (Thơ Dịch)..................................Nguyễn Q. Vinh
4 - Ðiện Thư...........................................Trần Hoài Thư
5 - Trong Màn Ðêm...............................................Suối Mơ
6 - Ngõ Cuối................................................Thận Nhiên
7 - Từ Âm.......................................Nguyễn Ðức Bạt Ngàn
8 - Thơ Naruda (Thơ Dịch)...................................Trần Thuyên
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Sách "Võ Phiến" của Nguyễn Hưng Quốc .......Phạm Thế Ðịnh
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
10 - Ðiểm phim: Bịnh Nhân Người Anh........................Hồ Như
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Chị Minh...........................................Nguyễn Bá Dĩnh
Bạn đọc thân mến
Bây giờ là mùa xuân. Nơi bạn ở, khí hậu thế nào? Riêng tôi, ở cực nam California, Mỹ quốc này, thời tiết dễ chịu. Buổi sáng, cái lạnh chỉ gây gây. Khoác thêm lên người một chiếc áo mỏng là đủ để ra xe, đến sở, đến trường.
Bây giờ là mùa xuân. Mùa của ấm áp tình yêu. Mùa của hân hoan chờ đợi.
Đã bao lần nước mằt rưng rưng
Sao còn đợi một lời hò hẹn?
hay
Rồi những BIT 1 và 0
Những trang điện thư gởi đi. Chờ đợi
Chờ đợi cũng là một niềm hạnh phúc phải không bạn?
Bây giờ là mùa xuân. Mùa của hoa và trái. Khu vườn VHNT cũng đầy những hoa trái ấy. Ðôi lúc bạn có thể bắt gặp những hoa chưa mãn khai, hay trái chưa chín mọng. Nhưng chắc chắn đó là những dấu hiệu khởi sắc cho mùa Xuân. Ðó là những chữ nghĩa đầy ắp tình người. Và đó cũng là những gạch nối thân tình giữa chúng ta. Ðến với VHNT, chỉ cần một con tim và một tấm lòng. Bạn đã có, ngại ngùng gì không bước vào để thưởng thức mùa Xuân.
Bây giờ là mùa xuân. Ngoài kia nắng ấm đang lên.
Chúc bạn một ngày như ý.
Lê Tạo / VHNT
Dạ Khúc
đêm sau thẳm với nỗi buồn không tỏ
ngọn nến tàn ta đối bóng cô đơn
bao thề ước thì thôi đã lỡ
sao lòng còn nức nở không thôi?
sao còn tiếc những êm đềm chưa nói?
sao còn mong những ngắn ngủi tương phùng?
đã bao lần nước mắt rưng rưng
sao còn đợi một lời hò hẹn?
vẫn lắng trong mơ bước chân người đến
vẫn âm thầm nỗi nhớ thiết tha
muốn xin ai níu mảnh trăng tà
đêm đừng sáng - để chưa tàn mộng
muốn vì ai xin làm chiếc bóng
bên song gầy nghiêng dáng tương tư
mà sao môi lại buông lời tình phụ?
cuộc trăm năm giũ áo tạ từ
đàn đã lỗi còn thương gì phím đứt?
còn mong chi êm ái khúc cầu hoàng
có điên cuồng mơ níu lại thời gian
thì yêu dấu chỉ còn là kỷ niệm
thì năm tháng chỉ còn là khăn liệm
khi tình ta chết giữa đơn côi
khi mộng đời theo gió tả tơi
khi hạnh phúc đã ươm mầm cay đắng
đã tàn rơi bao ngày xa vắng
sao lòng buồn còn nhắc chuyện ngày xưa?
mùa xuân rồi sao vẫn lạnh cơn mưa?
cho tóc rối vẫn ơ thờ gương lược?
trên đường dài một mình ta đếm bước
thôi cũng đành hai chữ dối gian
thôi cũng đành bao nhiêu tiếc hận
và nỗi sầu không tỏ đêm nay
Xa
em dấu mình trong ngôn ngữ
con ốc sên
trườn qua đêm im lặng
chiếc mặt nạ nụ cười
màu son đỏ
anh đi rồi
tươi thắm cho ai?
em dấu mình trong gương
chiếc bóng
căng hai chiều phẳng lặng
gió vẫn đi về
những ngã đường quen
không còn anh nữa
biết gọi tên ai?
em dấu mình trong em
mê trận
những điều mâu thuẫn
tấm mạng kiêu kỳ
rồi hoen nước mắt
anh xa rồi
còn nhớ thương ai?
ThyK.
Ðêm Trừ Tịch
Ðêm ba mươi rồi sao?
Ôi năm cùng tháng tận
Xuân ngoài kia xôn xao
Ta trong này lận đận
Ðêm lạnh không mùi hương
Ðò Xuân không ghé bến
Tim trùm chăn mù sương
Phiến sầu rơi lơ đễnh
Ðêm ba mươi một mình
Ly men nồng giọt đắng
Thêm một lần lặng thinh
Tuổi đời nghe cũng nặng
Mùa Xuân trong mùa Ðông
Mai vàng trên mộ chí *
Xin em chút Xuân hồng
Che đời ta hoang phí
NDP
* Mộ thượng mai khai xuân hựu lão...
Untitled
Is it spring on its return that murmurs over the window sills?
Lifting its gentle voice through the dawning rays of morn
to greet a new day that awakes in a start from its reverie,
it unveils in this bedazed heart a budding golden plum blossom...
Vô Ðề
Có phải xuân về thì thào bên khung cửa
cất tiếng dịu dàng trong nắng sớm tinh sương
chào một ngày mới giữa mơ màng sực tỉnh
bỡ ngỡ lòng ai chợt hé nụ mai vàng...
Nguyễn Q Vinh
1/28/95 8:45 AM
Ðiện Thư
Rồi những BIT 1 và 0
Những trang điện thư gởi đi. Chờ đợi
Tôi đang mơ gì nơi xa vời vợi
Lạ vô cùng nhưng như thể đã quen
Khi tôi CLICK vào một chữ SEND
Ngàn BIT chở hồn tôi yêu dấu
Ngàn BIT chích người tôi rớm máu
Như nỗi buồn của một kẻ vô duyên
Hay khi biết mình, quá sức trẻ con
Ước gì tờ thư trở thành màu tím
Ðể ngập hồn em như thời mới lớn
Thấy cuộc đời này quá đỗi dể thương
Hay khi dại khờ viết chữ M, N
Ðể em quẳng đi vào trong thùng rác
Ðể em bực mình tha hồ nghiến nát
Ðể tôi cuối đời nhớ mãi vết thương
Thôi thì xin đành xin làm ICON
Có chùm hoa vàng trên màu xanh biếc
Buổi sáng buổi chiều tha hồ em CLICK
Cho tim kẻ này phải đập xà bâng
Em có tin không giữa cõi khôn cùng
Những BIT 1, 0 cùng nhau chia sẻ
Những BIT âm dương rộn ràng kể lể
Như lòng tôi, cũng vậy, cho em
Dù em chỉ là người bạn không quen...
Trần Hoài Thư
Trong Màn Ðêm
Khuya.
Hoa phong lan trở giấc,
Cựa mình,
Nhớ sương,
Tím thẫm xác thân.
Khuya.
Bóng tối ngồi im lặng,
Quay quắt
Nhớ ánh sáng,
Ðen cả tâm hồn.
Khuya.
Con thằn lằn chắc lưỡi
Trách thầm,
Tiếc của cải,
Thạch Sùng khờ dại,
đứt đuôi.
Khuya...
Tôi, giấc ngủ ngắn dài
Vật vờ
Chờ một người không đến nữa.
Tôi
Tím sẫm xác thân,
Ðen cả tâm hồn.
Tôi
Khờ dại
Cho vuột người yêu dấu.
01/30/97
SuoiMo
Ngõ Cuối
Này em xưa áo vàng mơ
cỏ tôi khuất mượt ờ thờ giữa chân
móng son ngón nhỏ hôn gần
guốc sơn phố dốc khua thầm trưa tôi
theo xuôi con dốc này rồi
thêm con dốc nữa ngày tôi cũng chiều
bụi vương gấu vạt nắng xiêu
cúc vàng đỉnh gió tóc nhiều sợi bay
môi mơ ngậm một sợi này
đâu ngờ bóng ngã sóng soài ngõ trưa
Thận Nhiên
Từ Ân
dù tóc biếc nhưng lòng đâu dám nhận
vì còn hoài một bóng giữa thiên thu
tình trổi dậy theo muôn nghìn tủi hận
mưa còn không trong giọt nắng oan thù
người đứng lại thời gian đâu có biết
mắt dõi nhìn thân cũng tự tương thân
ta đứng lại bến bờ nao đã chết
trên môi em hôn đọng biết bao lần
đôi tay ấy vỗ đưa lời mềm mại
em chạy dài tóc dựng vẫn còn nguyên
là tuệ-kiếm vút ngang tình thơ dại
em đành thân theo cọng gió ưu phiền
vẫn cây cỏ mừng ta từ diệu vợi
em thì xa, ta biết thuở nào gần
như suối quạnh ôm mòn quanh đá đợi
như bao giờ còn vọng buốt từ ân
nguyễn đức bạt ngàn
(trích bình minh câm)
thơ Pablo Neruda
trích 20 Love Poems and a Song of Despair - Chile 1924
bản dịch Anh Ngữ của W. S. Merwin - Penguin Books 1993
XV I Like For You To Be Still
I like for you to be still: it is as though you were absent,
and you hear me from far away and my voice does not touch you.
It seems as though your eyes had flown away
and it seems that a kiss had sealed your mouth.
As all things are filled with my soul
you emerge from the things, filled with my soul.
You are like my soul, a butterfly of dream,
and you are like the word Melancholy.
I like for you to be still, and you seem far away.
It sounds as though you were lamenting, a butterfly cooing like a dove.
And you hear me from far away, and my voice does not reach you:
Let me come to be still in your silence.
And let me talk to you with your silence
that is bright as lamp, simple as a ring.
You are like the night, with its stillness and constellations.
Your silence is that of a star, as remote and candid.
I like for you to be still: it is as though you were absent,
distant and full of sorrow as though you had died.
One word then, one smile, is enough.
And I am happy, happy that it's not true.
XVII Tôi Muốn Em Hãy Bất Ðộng
Tôi muốn em hãy bất động: như em đang không có mặt,
và em nghe tôi từ chốn xa và giọng tôi không chạm đến em.
Mường tượng ánh mắt em đã tháp cánh bay đi
và như một nụ hôn đã môi em lấp kín.
Bởi mọi vật thể chứa đầy linh hồn tôi
em thoát thai từ chúng, chứa đầy linh hồn tôi.
Em như linh hồn tôi, loài mộng điệp,
và hiện thân em áo não ngôn từ.
Tôi muốn em hãy bất động, và em như vắng xa.
Tưởng rằng em đang thổn thức, mộng điệp hót lời chim bồ câu.
Và em nghe tôi từ chốn xa, và giọng tôi không chạm đến em:
Hãy cho tôi đến để bất động trong lặng thinh em.
Và hãy để tôi tâm sự cùng lặng thinh em
sáng như dạ đăng, giản dị như một vòng tròn.
Em cũng như đêm, với tịch mặc và muôn chùm tinh thể.
Lặng thinh em như một vì sao, cũng vời vợi và sáng ngời như thế.
Tôi muốn em hãy bất động: như em đang không có mặt,
hun hút và đong đầy sầu lụy như em đã chết.
Một chữ thôi, một nụ cười, là đủ.
Và tôi hân hoan, hân hoan vì em không như thế, thật ra.
oOo
VII Leaning Into The Afternoons
Leaning into the afternoons I cast my sad nets
toward your oceanic eyes.
There in the highest blaze my solitude lengthens and flames,
its arms turning like a drowning man's.
I sent out red signals across your absent eyes
that move like the sea near a lighthouse.
You keep only darkness, my distant female,
from your regard sometimes the coast of dread emerges.
Leaning into the afternoons I fling my sad nets
to that sea that beats on your marine eyes.
The birds of night peck at the first stars
that flash like my soul when I love you.
The night gallops on its shadowy mare
sheđing blue tassels over the land.
VII Tựa Lưng Vào Buổi Trưa
Tựa lưng vào buổi trưa tôi giăng lưới buồn ngư phủ
về đại dương em ánh mắt.
Nơi cao vút rực rỡ đó cô đơn tôi bốc lửa và vươn dài,
đuối vẫy đôi tay tuyệt sinh trầm thủy.
Tôi gửi những tín hiệu đỏ ngang tầm nhìn em trống vắng
di chuyển như trùng dương ôm ấp hải đăng.
Em chỉ giữ bóng tối, người nữ tình xa thẳm,
từ chốn nhìn em có khi bờ biển kinh dị hiện hình.
Tựa lưng vào buổi trưa tôi ném lưới buồn ngư phủ
vào đại dương sóng vỗ em ánh mắt thủy du.
Loại dạ điểu gọi mời những vì sao vừa mọc
ngời sáng như linh hồn tôi lúc yêu em.
Ðêm thoắt vó trên bờm hoang dạ mã
rủ rèm xanh lên mặt đất muôn trùng.
Trần Thuyên chuyển ngữ
(tặng TCP)
Sách "Võ Phiến" của Nguyễn Hưng Quốc
Hôm nay là ngày mồng hai Tết Ðinh Sửu, dưới ngưỡng cửa mở vào mùa Xuân ở quê hương, tôi xin kính chúc toàn thể quí vị một năm mới an khang, và thịnh vượng.
Buổi họp mặt có tính văn học đầu năm nay, tôi được anh Nguyễn Hưng Quốc có nhã ý dành cho phần nói chuyện về một trong những cuốn sách biên khảo mới nhất của anh về nhà văn Võ Phiến.
Xin thưa ngay là tôi chỉ xin "nói" về sách Võ Phiến của anh, mà không dùng chữ "giới thiệu". Vì, giới thiệu là một công việc tế nhị và thật ra phải nói là khó. Tế nhị vì thường ra người giới thiệu một tác giả hay một tác phẩm nào đó, phải là một người được nhiều người biết đến, ít nhất cũng phải nhiều hơn tác giả, và khó là vì khi giới thiệu một tác phẩm nào, thì người giới thiệu phải rành rọt về lãnh vực này
Cả hai điều kiện trên tôi đều không hội đủ. Sau đây là phần nói chuyện của tôi:
Anh Nguyễn Hưng Quốc, như nhiều người chúng ta được biết, qua các tác phẩm, và những bài báo viết về anh đăng trên những tạp chí VHNT xuất bản tại hải ngoại, chẳng hạn Văn Học, Thế Kỷ 21, hay Hợp Lưụ.., là một người cầm bút nổi tiếng sau 1975, tên thật của anh, mà các sinh viên học tại trường đại học này, và một số đông độc giả đều biết, là Nguyễn Ngọc Tuấn.
Nguyễn Hưng Quốc đến với diễn đàn Văn Học Việt Nam bằng một con đường mà tôi nghĩ là "nên thơ" nhất, là con đường "thơ" Việt.
Hai tác phẩm đầu tay viết và in tại thủ đô ánh sáng Paris, là "Tìm hiểu về nghệ thuật thơ Việt Nam" và "Nghĩ Về Thơ" của anh hoàn thành vào hai năm 31, 32 tuổi, tức là tuổi mà cụ Khổng cho là tuổi "lập chí: tam thập nhi lập", đã nhanh chóng được nhiều người ưu ái tiếp nhận.
Từ đó người đọc hầu như đồng hóa tên "Nguyễn Hưng Quốc" với "thơ Việt". Ngay cả khi anh viết cuốn thứ ba là cuốn "Văn Học Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản", mà nhiều người vẫn chỉ thích tìm đọc những đoạn anh bình về thơ những thi sĩ ở lại ngoài Bắc, như Quang Dũng chẳng hạn.
Thế nhưng, sau 1991, tức là sau khi đã di cư từ thủ đô nước Pháp, và có thể nói là thủ đô của văn học nghệ thuật Âu Châu để qua Úc, có một giai đoạn mà Nguyễn Hưng Quốc ngưng viết, và sau đó đến năm 1996, chúng ta lại thấy anh cho xuất bản hai tác phẩm mới, một vẫn đề cập về thơ, là cuốn "Thơ, v.v... và v.v..." mà thi sĩ Thường Quán vừa đề cập, và cuốn "Võ Phiến" mà anh hoàn thành trước năm 40 tuổi là tuổi mà cụ Khổng cho là "không còn nghi ngờ gì nữa: Tứ Thập Nhi Bất Hoặc".
Cuốn "Võ Phiến" của anh đã được tờ Văn Học số 127 giới thiệu như một tác phẩm viết bởi một nhà biên khảo phê bình văn học trẻ tuổi, uyên bác về một nhà văn lão thành sâu sắc hàng đầu Miền Nam.
Riêng theo thiển ý, đây là một tác phẩm chuyển mình và thử thách. Nguyễn Hưng Quốc đã cho biết trong một cuộc phỏng vấn thực hiện bởi chị Phượng Hoàng đài SBS, là ở Việt Nam, phê bình văn học chỉ dừng lại ở mức cảm thụ hoặc bình giảng câu ch và giới phê bình thường chỉ là những nhà giáo cần cù nhưng lại thiếu tài hoa.
Vì vậy, từ những "tìm hiểu", những "nghĩ về" trước đâỵ Nguyễn Hưng Quốc đã đưa những kiến thức văn học, những lý luận có tính khoa học của mình vào lãnh vực phê bình văn học Việt Nam và anh đã chọn Võ Phiến là một nhà văn đa dạng, có tài của miền Nam để viết một tác phẩm biên khảo.
Ðầu tiên là lối hành văn, trong cuốn Võ Phiến, mặc dầu người ta vẫn nhận ra tính "đẹp", và tính "thơ" của văn Nguyễn Hưng Quốc, nhưng hai tính đó, theo tôi, trong nhiều trang, nhất là phần Dẫn Nhập, phải đứng sau tính chuẩn. Lối chấm câu, tính kỷ luật xứng đáng được coi là những đoạn văn mẫu, của thể văn biên khảo.
Thứ hai là sự tổ chức tác phẩm. Phần Mục Lục được tiếp theo bằng trang ghi những chữ viết tắt, để gọn cho người viết và tiện cho người đọc: lý trí đã có mặt ngay. Nghiên cứu về một tác giả, ngoại trừ phần quan trọng nhất là phần phân tích và phẩm bình, còn phải có phần tài liệụ Phần này phải đủ, gọn. Trong cuốn Võ Phiến, Nguyễn Hưng Quốc đã có phần ghi chú về tiểu sử, phần phụ lục với niên biểu Võ Phiến, Tác phẩm Võ Phiến, và tài liệu tham khảo về Võ Phiến. Phụ bản là một hình chụp và một số hình vể Phần chú thích và nêu những bài trích dẫn cũng rất đúng tiêu chuẩn thường thấy ở ngoại quốc.
Thứ ba là phần bố cục. Sau phần dẫn nhập và tiểu sử, Nguyễn Hưng Quốc đã chọn lối nhìn bao quát bàn về phong cách của Võ Phiến để mở đầu, sau đó phân tích từng nét lớn của Võ Phiến trong nhiều kích thước khác nhau: một nhà lý luân văn học, một nhà phê bình văn học, một nhà tạp luận, một nhà tùy bút, một người viết truyện, và kết thúc bởi một tổng hợp để tìm thấy tinh thần chung của Võ Phiến là một niềm trăn trở không nguôi: Mở rộng để nhìn bao quát, phân tích từng phần chính để phê bình, và sau cùng dùng phép tổng hợp để kết luận.
Ði sâu vào phần nội dung, lúc này Nguyễn Hưng Quốc đã bước vào một thử thách mới để trình bày những nhận định, những phê bình của mình. Văn biên khảo mà quá lý trí sẽ dễ bị khô khan, phải đưa tính văn chương mà không thái quá. Ðưa tính văn chương thì thật không khó với Nguyễn Hưng Quốc, cái khó nằm ở chỗ cái đẹp đừng làm khuất cái điều muốn nói; cái cảm thụ phải nhường chỗ cho sự sáng tạo; sự lôi cuốn đừng làm lạc óc lý luận trong lúc phê bình; cái tấm tắc phải nhường chỗ cho mắt quan sát, và lên tiếng.
Chắc chắn là Nguyễn Hưng Quốc đã có rất nhiều điều muốn nói khi viết về Võ Phiến, độc giả đọc thấy ngay ở trang bìa sau cuốn sách những giòng chữ xác nhận điều này: "viết về họ thật thích, ngỡ như không bao giờ hết chuyện.". Vì vậy để đừng viết nhiều quá, anh đã phải tự kiềm chế; anh đã nhấn mạnh là quyển sách "Võ Phiến" chỉ nhắm đến việc phác họa diện mạo văn chương của Võ Phiến mà thôi. (Lại một lần nữa lý trí lại ngăn chận những cảm hứng bộc phát).
Nghe điều này, chắc hẳn có nhiều người sẽ nói: "tưởng viết nhiều mới khó, chứ kiềm chế để mà viết ít thì dễ quá, cái khổ nhất là ngồi đánh vật với trang giấy trắng khi viết bài...".
Tôi cũng nghĩ như vậy lúc đầu, nhưng khi đọc câu trả lời "tại sao viết?" của anh đăng trên tờ Văn Học như sau: "Tại sao viết? Riêng trường hợp của tôi, nếu phải trả lời, câu trả lời thành thực nhất chỉ có thể thế này: vì ngứa. Vâng vì ngứa. Viết, với tôi, giống như là gãi, cả hai có cùng một nguyên do; ngứạ Một đằng là ngứa ngoài da, một đằng là ngứa trong tâm hồn... (nhẩy một đoạn) Nói như thế không có nghĩa là viết nhất thiết phải là một bất hạnh. Ở đây, viết lại giống với gãi nữa: vừa đau, vừa đã. Nếu tôi không lầm, hình như Nguyễn Tuân có lần ví việc viết lách với việc làm tình. Hình như thế."
Nếu mà như vậy, thì Võ Phiến đã là một cảm hứng "ngứa" rất giầu có, và dài diệt cho anh Nguyễn Hưng Quốc. Và kinh khủng nhất là khi đứng trước cơn ngứa đó, nhà phê bình của chúng ta đã phải tự kiềm chế để khỏi phải gãi "lậm" quả, mà chỉ gãi phác thôi. Và vì không không gãi lậm, thì không đau lắm, nhưng hệ lụy ở chỗ cũng sẽ không đã lắm. Ðấy là tôi không dám nghĩ tới điều ví von của ông Nguyễn Tuân về vấn đề mà Nguyễn Hưng Quốc đã ngờ ngợ cho là phải.
Tôi xin ngừng lời ở đây, và xin cám ơn Ban Tổ Chức, nhất là tác giả của quyển "Võ Phiến" đã cho tôi những giây phút vui bổ khi đọc một tác phẩm văn học Việt Nam, và đã cho tôi cơ hội nói chuyện văn chương ngày đầu năm trong chữ Việt mến yêu.
Phạm Thế Ðịnh
Bài nói chuyện tại Ðại Học VUT (Victoria University of Technology, Melbourne), nơi Nguyễn Hưng Quốc đang dạy, ngày 09/02/1997 tức ngày mồng 2 tháng Giêng năm Ðinh Sửu.
BỆNH NHÂN NGƯỜI ANH
Một cuốn phim hay đôi khi làm tôi choáng ngợp, đến mức những ý nghĩ cũng bị cuốn xô đi, chỉ còn những hình ảnh, cảm giác lẫn vào nhau hỗn độn như một bức tranh lập thể. Hết phim, tôi sẽ im lặng một lúc, muốn cô độc một lúc, vì tôi cần thời gian để trở về cõi thực từ nơi chốn cuốn phim đã mang tôi đến, một điểm đâu đó giữa đầu óc và trái tim.
Bệnh nhân người Anh gợi tôi nhớ lại tấm chăn ghép (1) của người Mỹ. Mỗi mảnh ghép là một mảng ký ức hay một đoạn hiện tại. Bên nhau, hỗ trợ cho nhau, lẫn lộn vào nhau, chúng là biểu hiện trung thực của đời sống, nơi rất nhiều khi không có lằn ranh thực sự giữa quá khứ và hiện tại, giữa tâm tưởng và sự kiện. Mọi bài phê bình tôi đọc đều than phiền cuốn phim rắc rối, khó theo dõi. Tôi thì thấy cuốn phim trải ra như đúng nó phải như thế : tấm dệt huy hoàng màu sắc của vài giờ phút phù du của cuộc đời. Tôi yêu cái rắc rối trong cuốn phim, vì có con người nào, cuộc sống nào không phức tạp, đa dạng như thế? Tôi yêu những lúc hai hình ảnh của quá khứ và hiện tại phủ lên nhau, đuổi theo nhau và ôm lấy nhau. Những hình ảnh da thịt, sỏi đá, nhưng cũng chính là hình ảnh của tâm linh, yếu đuối.
Câu chuyện trong Bệnh nhân người Anh rất cũ. Mối tình tay ba, kẹt cứng trong một lời thề hứa hôn nhân, bùng nổ cùng chiến tranh. Trong khi cả ba người rơi xuống những vực thẳm riêng của họ, không chỉ có tình yêu và đam mê, mà còn có phản bội, thù hận và cái chết, một cuộc chiến đang diễn ra, những cuộc đời khác bị xô đẩy cuốn vào trong chiếc lưới ngẫu nhiên của hội ngộ và phân ly. Có phải đã "cliché" lắm rồi không? Có thể. Ðó không phải là điều quan trọng. Bệnh nhân người Anh đã mang tôi theo cùng trên đôi cánh máy bay lượn trên bãi cát vàng mênh mông của sa mạc, vào những phi lý và bất lực của tình cảm, và thuyết phục tôi rằng đó là những điều hợp lý và tuyệt vời. Ðã có lúc tôi ngỡ mình đã nhìn thấu qua đáy mắt sâu thẳm của Bá Tước Almasy, nghe được nhịp đập của trái tim con người, cuồng nhiệt, khao khát, say đắm, phân vân.
Bạn tôi bảo tôi nên đi xem cuốn phim một mình, vì chắc hẳn tôi sẽ khóc. Tôi quên mang Kleenex, và may quá, tôi không cần đến Kleenex. Bệnh nhân người Anh không nài kéo giọt nước mắt của tôị Nó làm tôi choáng ngợp.
Hồ Như
(1) quilt
The English Patient
Theo truyện The English Patient by Michael Ondaatje
Ðạo diễn: Anthony Mighella
Diễn viên: Ralph Fiennes, Juliette Binoche, Kristin Scott Thomas, Williem
Dafoe, Naveen Andrews
Âm nhạc: Gabriel Yared
Ðoạt giải Golden Globe cho nhạc nền và phim hay nhất năm 1996.
Chị Minh
Trong giờ phút đầu của niên học, khi nghe thầy Nghi đọc tên mình sau tên Trần Ðăng Vĩnh, Vinh dơ tay lên. Thầy Nghi ôn tồn hỏi:
- Em tên gì, có việc gì thế?
- Thưa, em tên Vinh. Thưa thầy, sao tên Vinh lại có thể sắp sau tên Vĩnh?
Cả lớp phá lên cười. Thầy Nghi khoát tay ra lệnh im rồi hướng về phía Vinh, ôn tồn hỏi tiếp:
- Tên em có phải là Trần Như Vinh không?
- Thưa thầy đúng ạ!
Cả lớp lại cười ồ. Có tiếng bình phẩm từ cuối lớp:
- Ðệ nhất rồi mà còn... ạ!
- Thưa thầy... ạ!
Thầy Nghi ngẩng đầu lên, quắt mắt nhìn về phía phát ra tiếng đùa cợt:
- Các em im lặng! Ai muốn nói thì giơ tay lên!
Vĩnh giơ tay:
- Thưa thầy cho em nói... ạ!
Tiếng "ạ" được Vĩnh nhấn mạnh làm cả lớp lại cười. Vinh cũng hiểu là Vĩnh xỏ mình nhưng chẳng biết làm gì để trả đũa. Thầy Nghi tằng hắng lấy giọng rồi nghiêm nghị nhìn Vĩnh:
- Em cứ nói!
- Thưa thầy, mặc dù tên Vĩnh đáng lẽ phải xếp sau tên Vinh, tuy nhiên, nếu xét kỹ, cả hai đều là họ Trần, còn tên thì chỉ khác nhau có cái dấu "ngã", trong khi chữ lót của em là Ðăng, bắt đầu bằng chữ Ð, còn chữ lót của anh Vinh là Như, bắt đầu bằng chữ N. Vậy thì, tên em phải được sắp trước tên anh Vinh là hợp lý rồi, y như mình binh xập xám, hơn thua chỉ vì một con tài vậy mà!
Cả lớp lại cười. Thầy Nghi đăm đăm nhìn Vĩnh:
- Em nói cũng có lý nhưng ở đây em không được đem bài bạc ra làm thí dụ như vậy! Các em nghe rõ không? Lần sau có em nào tái phạm như thế, tôi sẽ phê trong học bạ!
Buổi học đầu năm của lớp đệ nhất C, giờ Triết, đã bắt đâu bằng một cuộc cãi vã vui vui như vậy. Cũng nhờ đó mà Vinh và Vĩnh lại trở thành đôi bạn thân về sau. Nhà Vĩnh ở Xóm mới, khu những người di cư đến thành phố Nha Trang nầy từ tứ xứ: Tuy Hoà, Qui Nhơn, Huế... Còn nhà Vinh ở khu Nam Mã Vòng, phía bên kia của đường rầy xe lửa, nơi của một số người Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Genève. Bố của Vinh là trung úy quân đội Tây đã giải ngũ, đem cả nhà từ Bắc vô Nam bằng máy bay, và định cư tại đây đã chục năm. Gia đình Vinh cũng thuộc tầng lớp có học có tiền. Vinh là con trai duy nhất. Người chị cả tên Hằng, có một đứa con gái, còn chồng đã bị cộng sản giết. Kế là chị Minh, 26 tuổi, đẹp, cao ráo so với đàn bà Việt nam, da trắng mịn, tóc dài gần đến gót chân. Sau đó là Vinh, 18 tuổi và cuối cùng là Nga, 16 tuổi. Nhà Vinh có vườn rộng, trồng nhiều loại cây ăn trái nhưng nhiều nhất là ổi. Vào những ngày cuối tuần, Vĩnh thường đạp xe đến nhà Vinh chơi, có khi nằm trên chiếc salon mây kê ở hành lang trước nhà khách, đọc sách rồi ngủ thiếp đi.
Một hôm, ngồi trong phòng khách, Vinh nói đùa với Vĩnh:
- Mày đến chơi thường, biết đâu cái Nga chịu mày, tao sẽ gọi mày bằng em!
Cái câu nói đùa của Vinh khiến Vĩnh để ý đến Nga. Nga có đôi mắt vừa sâu vừa to, mặt hơi vuông, da ngăm ngăm, sóng mũi cao, miệng hơi rộng, trán vồ. Tính điểm, công bình mà nói, Nga ở giữa 7 và 8 điểm trên 10. Vĩnh đùa lại:
- Cái Nga của nhà mày chịu tao, nhưng nếu tao không chịu lại thì mày làm sao làm anh tao được?
- Hôm trước mày đã chẳng khen với tao là cái Nga xinh xắn là gì?
- Khen là một chuyện nhưng thích lại là một chuyện khác mày... ạ!
- Mày lại châm chọc tao? Tao nói mày nghe, cái Nga nhà tao ngoan lắm, lại giỏi nữa cơ!
Vĩnh cười:
- Coi bộ mày thích làm anh tao dữ!
- Cũng tại tao thương mày đấy!
Vĩnh bĩu môi:
- Cái Nga của nhà mày còn bé quá, tao làm gì có đủ cơm để nuôi cho lớn!
- Mày khỏi lo, bố mẹ tao nuôi giùm cho, khi nào nó lớn thì đến mà rước nó về.
Hai đứa đùa giỡn với nhau không ngờ là Nga ngồi ngay phía sau tủ sách, nghe không sót một tiếng nào. Nga vẫn ngồi im, lẵng lặng, rình nghe tiếp. Bất chợt, Vinh đi vòng phía sau tủ, thấy Nga bèn ghẹo:
- À, cái cô ả nầy, chỗ người lớn nói chuyện mà cô ngồi nghe lén hả?
Nga vùng vằng:
- Em có thèm nghe lén đâu! Em vào đây từ lâu rồi mà! Em có cần ai nuôi đâu!
Vinh không chịu tha:
- Cần nuôi hay không hẳn tính sau. Vô lâu hay không vô lâu cũng mặc. Nhưng sao nghe tụi tôi nói mà cô vẫn im lặng như tờ thì không phải nghe lén là gì?
Vĩnh nhớ lại những lời mình vừa đùa với Vinh, nghe tội nghiệp Nga, lên tiếng:
- Vinh, mày đừng chọc Nga! Tại tụi mình nói bậy mà không coi trước coi sau chớ Nga mắc mớ gì! Nga đừng nghĩ là thật! Tụi anh chỉ nói đùa thôi!
Nga nhìn Vĩnh tỏ ý cám ơn, rồi nguýt Vinh một cái, đỏ mặt, thoăn thoắt bỏ đi.
- Mày làm Nga giận đó, Vĩnh nhìn Vinh mà nói.
- Có nhằm gì, mày đừng lo. Xem chừng mày chịu nó rồi sao mà ra điều bênh vực nó lắm thế!
- Thôi đi mày, nói bậy hoài!
Nga và Vĩnh thân mật với nhau từ lúc nào Vinh cũng không rõ. Bố mẹ Vinh và cả nhà đều nhận thấy sự thân mật của hai đứa nhưng không những không ngăn cản mà còn khuyến khích. Vinh mến Vĩnh lại thương em gái nên cũng tỏ ra hài lòng lắm. Vinh có cái tật ưa chọc ghẹo em gái nhưng Nga cũng biết là Vinh thương nàng nên mới thế. Khi bị anh chọc ghẹo, đôi mắt Nga chớp chớp, đôi môi cong cong, da mặt đỏ bừng. Người con gái ở cái tuổi dậy thì mỗi khi e thẹn, trông dễ yêu làm sao! Một hôm Nga nói dối với bố mẹ đến nhà một người bạn gái nhưng thật ra là đi ciné với Vĩnh.
Chẳng may hai cô cậu bị Vinh bắt gặp trên đường Ðộc Lập, trước rạp Tân Tân. Từ phía sau, Vinh nói nho nhỏ vừa đủ cho hai người nghe:
- Chao ôi! xem người ta kìa, trông mùi quá nhỉ!
Nga và Vĩnh cùng quay lại. Thấy anh, Nga cúi đầu nhìn xuống đất còn Vĩnh cười trừ:
- Thôi mà ông anh, muốn gì đây? Một chầu pâté chaud với sữa đậu nành lạnh nhá?
- Ðâu có rẻ thế được!
Nga xen vào:
- Cái anh nầy tham lam vừa thôi chứ!
Bắt chước giọng Nha Trang, Vinh huyên thuyên:
- Thôi thôi! tui nghèo tui hổng có dám ham đâu! Tui chỉ về nhà nói với ba má là tui gặp cô em gái ngoan hiền của tui học bài chăm chỉ ở nhà cái Lan ở đường Ðộc Lập, trước rạp Tân Tân vậy thôi! Tui xin kiếu nghe!
- Anh quỉ nầy! Nhà cái Lan sao lại ở trước rạp Tân Tân?
Vinh làm bộ ngoe nguẩy bỏ đi. Vĩnh chạy theo:
- Thôi mà mày, đừng làm Nga sợ!
Vinh dừng lại, nhìn Nga vừa cười vừa nói:
- Thôi được, tôi không thèm bắt nạt mấy người đâu! Tôi để cho cô cậu vui vẻ với nhau, nhưng sau nầy cô cố giặt hộ mấy cái áo chemise của tôi cho sạch nhé!
- Cái ông anh trời đánh nầy...
Không đếm xỉa tới lời Nga rủa, Vinh quay sang Vĩnh:
- Còn cậu Vĩnh, cậu mà làm em tôi buồn là cậu chết với tôi đó!
Nói xong Vinh bỏ đi. Vĩnh nhìn Nga sắp khóc, tự dưng lòng chàng dâng lên nỗi bâng khuâng. Trong thâm tâm, Vĩnh xem đây chỉ là giai đoạn tìm hiểu mà thôi, không ngờ Vinh lại nhìn vấn đề quan trọng đến thế. Nhưng biết ăn nói sao đây! Vĩnh nhìn thẳng vào mắt Nga. Từ trong đôi mắt sâu hun hút quyến rũ ấy, hai giọt nước long lanh đọng ở lưng tròng. Cái yếu đuối của thằng con trai mười tám đã làm lòng Vĩnh chùng lại. Vĩnh đưa tay nắm lấy bàn tay mềm mại của Nga, siết mạnh. Một giọt nước mắt của Nga rơi đúng ngay trên bàn tay Vĩnh.
Cuộc tình của Nga và Vĩnh đang êm ả thì một chuyện bất ngờ xảy ra. Hôm đó, khi Nga và Vĩnh đi chơi về đến đầu xóm thì thấy chị Minh quần áo tơi tả, gần như trần truồng, vừa chạy vừa khóc, phía sau một đám con nít hiếu kỳ chạy theo sát nút. Tiếng chị Minh lanh lãnh:
- Anh chờ em với, đừng chạy mất mà! đừng chạy mất mà!
Vĩnh nhìn Nga dò hỏi. Nga hơi ngượng, nói cụt ngủn:
- Chị Minh nổi cơn điên đấy!
- Chị Minh điên, Vĩnh hỏi lại.
- Chuyện dài lắm, về nhà hãy kể. Bây giờ anh giúp em dìu chị ấy về nhà đi!
Không cần đợi Nga giục, Vĩnh đuổi theo chị Minh, cởi chiếc áo chemise của mình rồi quấn ngang người chị. Vĩnh nắm chặt tay chị, nhìn thẳng vào mắt và ôn tồn nói:
- Mình về nhà đi chị Minh ạ!
- Bộ em không cho chị đuổi theo anh Hoàng à?
Nga xen vào:
- Anh Hoàng chết rồi, làm sao chị đuổi theo anh ấy được!
Chị Minh la lên và khóc:
- Không! Anh Hoàng đâu có chết! Anh Hoàng đâu có chết! Không! Không!
Vĩnh dỗ dành:
- Ừ, thì để về nhà rồi mới nói! Chị kể chuyện anh Hoàng cho em nghe nhé!
Nét vui mừng chợt hiện lên mặt chị Minh:
- Vĩnh hứa nghe chị kể chuyện anh Hoàng nhá! Mà nầy, hình như Vĩnh có đôi mắt giống đôi mắt của anh Hoàng lắm. Ðúng rồi, cái đôi mắt tròn trĩnh đó!
Ðang lúc đó thì chị Hằng và Vinh cũng vừa chạy đến. Vĩnh giao chị Minh cho chị Hằng và theo về nhà Vinh. Mấy hôm sau, Nga kể cho Vĩnh nghe chuyện chị Minh mà cả nhà ai cũng muốn giấu. Chị Minh, trước đây bốn năm đã đính hôn với anh Hoàng, thiếu tá hải quân. Anh Hoàng hơn chị Minh những tám tuổi, là con một người bạn cũ của bố Vinh. Bố anh Hoàng đã qua đời khi anh còn bé. Hai bên gia đình định sẽ cho làm đám cưới sau khi Hoàng học xong khóa tu nghiệp 9 tháng ở Hoa kỳ về. Thế nhưng, trời không chiều lòng người, nhất là những người đàn bà có nhan sắc. Trời bắt họ phải truân chuyên ba chìm bảy nổi. Nếu không thì tại sao anh Hoàng, trước khi đi Mỹ, lại đi thăm một người bạn ở Dục Mỹ làm gì để bị Việt cộng giựt mìn! Cái cảnh người anh Hoàng bê bết máu, một cánh tay đứt rời ra, một con mắt không còn tròng... đã trở thành cái ám ảnh dây dưa trong đầu trong óc của chị Minh. Thế rồi chị Minh phát điên. Ngày chôn cất anh Hoàng, chị Minh khi khóc khi cười trong bộ đồ tang trắng. Cả hai nhà đều đồng ý cho chị Minh mặc áo tang trong ngày đưa anh Hoàng về nơi Vĩnh cửu. Chị Minh thề sẽ không bao giờ lấy chồng, sẽ không bao giờ cắt tóc. Chính vì thế mà tóc chị dài đến gần gót chân. Cứ trưa trưa, chị Minh hay ra phiá sau nhà, đứng xõa mái tóc của mình xuống một cái thau đựng nước bồ kết, vừa hát nghêu ngao vừa gội đầu. Chị không muốn ai giúp cả. Những lúc ấy, chị Minh nghiêng nghiêng đầu, trông chị đẹp làm sao!
Cứ thế, chị Minh sống như một đứa trẻ ngây thơ, khi tỉnh táo bình thường, khi lãng quên ngơ ngẩn. Cả nhà vì thế không ai dám nói động đến chị vì sợ chị lại lên cơn điên, trốn nhà, xé quần xé áo thì phiền. Một hôm, Vĩnh đến nhà thăm Nga như mọi lần. Hôm ấy, khi thấy Vĩnh từ cổng bước vào sân, chị Minh chạy nắm lấy tay Vĩnh, dẫn lên hành lang, bắt Vĩnh ngồi nghe chị kể chuyện. Không những Vĩnh mà cả Nga lẫn Vinh cũng chưng hửng. Vinh nói với chị Minh:
- Vĩnh lại đây là để thăm cái Nga đấy!
Chị Minh trả lời tỉnh bơ:
- Cái Nga thì lúc nào lại chả thăm được! Vĩnh đã hứa với chị là sẽ nghe chị kể chuyện cơ mà!
Chi Hằng khẽ nháy mắt cho Vinh và Nga ngụ ý cứ để yên cho chị Minh muốn làm gì thì làm. Chị Minh hỏi Vĩnh:
- Vĩnh có muốn ăn ổi không? Vĩnh theo chị ra vườn chị hái ổi cho Vĩnh ăn nhé? ổi xá lỵ ngon lắm, anh Hoàng cũng thích ăn ổi lắm đấy.
Vĩnh tự biết mình đã trở thành chiếc thuyền để chị Minh chèo về dòng sông ngày xưa, ở đó có Hoàng, có giấc mơ về một hạnh phúc mà suốt đời chị sẽ không bao giờ nắm được trong tầm tay của chị. Vĩnh đang suy nghĩ miên man bỗng chị Minh lấy tay lắc mạnh vai Vĩnh:
- Sao Vĩnh không trả lời chị?
- ???
- Vĩnh muốn ra vườn hái ổi với chị không nào?
Vĩnh nhìn sâu vào đôi mắt nửa vời ngơ ngác của chị Minh, thấy không nỡ chối từ:
- Em có từ chối bao giờ đâu. Chị Minh muốn gì, em cũng sẽ làm ngay cho chị.
- Thật nhé! Thế chút nữa Vĩnh chịu xối nước cho chị gội đầu không?
- Có kỳ không chị?
- Ðâu có gì mà kỳ. Anh Hoàng cũng vẫn làm thế mà!
Chị Minh và Vĩnh đã ra đến khu vườn ổi. Chị nhanh nhẹn hái những trái ổi xá lỵ thơm phức, dùng vạt áo lau sạch rồi đưa cho Vĩnh. Ăn chán, chị rủ Vĩnh ngồi xuống dưới tàn ổi, trên một chiếc ghế đá và kể chuyện cho Vĩnh nghe. Chị kể về anh Hoàng, về những cuộc đi chơi chung, về chiếc áo cưới mà hai người đã chọn. Bất thình lình, chị hỏi Vĩnh:
- Vĩnh có chịu đi mua áo cưới cho chị không?
- Ðâu có được!
- Sao Vĩnh nói điều gì chị Minh thích, Vĩnh sẽ làm ngay?
- !!!
- Thôi, chị hiểu rồi, Vĩnh đã hứa đi mua áo cưới cho cái Nga rồi chứ gì?
- Cũng không phải đâu!
- Thôi khỏi cần hỏi Vĩnh nữa. Bây giờ chị muốn đi gội đầu, chị nghe ngứa đầu quá!
- Ai bảo chị để tóc dài làm chi!
- Anh Hoàng thích như vậy mà!
Hôm đó Vĩnh đứng múc từng gáo nước bồ kết xối từ từ cho chị Minh gội đầu. Chị đứng xổng người, cuối đầu về phía trước. Nước bồ kết màu nâu nâu chảy lan ra sau cổ, dọc theo cái ót trắng ngần. Chiếc áo bà ba từ từ dính vào da thịt chị. Bất chợt chị Minh ngẫng đầu lên nhìn Vĩnh. Qua lần vải mỏng manh, ngực chị lồ lộ hiện ra, trắng muốt, nõn nà. Vĩnh, bối rối, tự biết mình đã có ý niệm không đứng đắn nên quay đầu nhìn phía khác. Chị Minh vẫn thản nhiên cười đùa như một đứa trẻ con chưa biết hổ thẹn là gì. Chị đưa tay hất ngược mái tóc ra phía sau, cười với Vĩnh:
- Vĩnh muốn gội đầu với chị không nào?
Vĩnh lấp bấp trong miệng, không nói được gì. Chị Minh bỗng hát nho nhỏ bài thương hoài ngàn năm và trong lòng mắt chị có những ngấn lệ long lanh. Về sau, cứ mỗi lần Vĩnh đến, chị Minh lại quấn lấy Vĩnh mà kể chuyện nầy chuyện nọ hay lôi Vĩnh ra sau vườn để nô đùa. Nga buồn lắm nhưng thương chị, sợ chị nổi cơn điên thì nguy nên đành để chị Minh độc quyền chuyện trò với Vĩnh. Người con gái ở tuổi dậy thì mới nếm được hương vị tình yêu đầu đời đã phải ép lòng chấp nhận cái cảnh người mình yêu và một ngưòi con gái khác quấn quít lấy nhau trước mũi mình, quả là khắc nghiệt, phủ phàng. Cho dù người con gái khác đó có là chị ruột của mình đi nữa thì làm sao không khỏi đau khổ trong tâm. Mỗi cuối tuần Vĩnh đến thăm Nga là mỗi lần Nga phải trải qua những giờ phút bồn chồn, không làm gì được, chỉ đứng xa xa mà nhìn chị Minh bên cạnh người yêu. Thế nhưng nến cuối tuần mà Vĩnh không đến thì Nga cũng buồn cũng nhớ. Một hôm Nga như không còn chịu được cái cảnh chị Minh quấn lấy Vĩnh, kéo đại Vĩnh ra một góc sân, bực bội nói:
- Anh cứ chiều chị ấy hoài, không chừng chị ấy cả đời sẽ không thiếu anh được đấy!
Vĩnh hiểu và thông cảm cho Nga, nhưng biết làm gì hơn khi chị Minh đã không còn là người bình thường. Vĩnh hỏi:
- Anh phải làm gì bây giờ hả Nga?
- Em đâu biết! Hay là anh đừng đến đây nữa đi!
- Thế anh nhớ Nga thì sao?
- Anh đến đây có bao giờ chuyện trò gì với em đâu mà nói nhớ với lại không nhớ!
- Nga trách anh?
- Em chả dám!
- Ðược rồi! Anh sẽ không đến nhà Nga nữa. Mình hẹn nhau ở ngoài nha?
Ðúng như mong đợi, Nga nhìn Vĩnh cười tình. Vĩnh ghẹo:
- Tôi hiểu rồi! Có người đi ghen với chị mình!
- Cấm anh nói bậy nha! Ai thèm đi ghen với chị ấy! Tại...
- Tại sao?
- Tại vì lâu rồi người ta không được chuyện trò "thẳng chưn thẳng cẳng".
Bắt chước xong giọng "nẫu", Nga cười khúc khích. Vĩnh đưa tay véo vai Nga. Nga kêu "ối!". Từ lâu, chị Minh đứng trên hiên nhà nhìn Nga và Vĩnh, nghe tiếng Nga kêu, hiếu kỳ chạy lại:
- Cái gì vui vậy hả Nga? Cái gì vậy hả Vĩnh?
Hỏi xong, không đợi ai trả lời, chị Minh chạy lại, nắm lấy tay Vĩnh kéo bừa ra sau vườn ổi. Vĩnh nhìn Nga như xin sự thông cảm của nàng. Nga xịu mặt xuống, lẩm bẩm một mình:
- Lại chị ấy nữa!
Suốt một tháng sau, Vĩnh không đến nhà Nga thật. Cả nhà Nga hơi trông Vĩnh. Một hôm, chờ cả nhà đi vắng còn lại một mình Vinh, chị Hằng hỏi Vinh:
- Vĩnh nó có giận cái Nga gì không mà sao không thấy đến chơi?
- Em có biết chuyện chúng nó đâu. Sao chị không hỏi cái Nga?
- Ơ này, mày nói nghe hay nhỉ! Nếu tao thấy hỏi được cái Nga thì tao hỏi mày làm gì?
Thật ra Vinh cũng hơi lo nên đâm ra bực, vì cũng thầm đoán được là Nga không mấy hài lòng về sự thân mật của chị Minh với Vĩnh. Nhưng trong cái thế của mình, Vinh thấy khó hỏi thẳng Vĩnh hay Nga. Vinh trả lời chị Hằng cộc lốc:
- Ðể tôi hỏi thằng Vĩnh cho!
- Ai bảo mày hỏi nó! Tao chỉ nhờ mày dò thử xem thôi!
Vinh nổi cộc:
- Dò thử thì dò thử!
Chi Hằng phân giải:
- Bộ mày không thích cậu Vĩnh với cái Nga nữa hả? Thật tình thì cái Nga nhà mình có ế đâu. Chỉ có điều là bố mẹ không thích nó lấy chồng lính tráng như con Minh mà khổ. Nghe nói cậu Vĩnh cuối năm nay sẽ đi du học. Tao nghĩ là người đi du học về sau nầy chắc chả phải đi lính đâu!
Vinh bắt giò chị Hằng:
- Chị nói vậy, nhỡ Vĩnh không đi du học, chắc chị sẽ khuyên cái Nga bỏ nó?
- Cũng chẳng phải vậy! Mà sao mày hay cãi lắm thế! Mày theo dõi tụi nó thử xem!
Cãi thì cãi nhưng Vinh cũng chiều ý chị Hằng. Vinh ngấm ngầm theo dõi Nga mỗi khi nàng ra khỏi nhà. Hôm đó, chiều thứ bảy. Ăn vội một chén cơm lưng, Nga đứng dậy:
- Thưa bố mẹ, con hẹn với cái Lan đi hóng gió biển một tí.
Nói xong, Nga lấy xe đạp, đạp thẳng một lèo xuống dường Duy Tân. Sau khi khoá xe cẩn thận, Nga đi lần xuống bãi, thấy Vĩnh đã ngồi sẵn từ bao giờ. Nga rón rén đến sau lưng Vĩnh rồi bất thình lình:
- Hù!
Vĩnh quay lại:
- Ai mà sợ!
- Không sợ hở? nếu như cô nào khác hù anh thì sao?
- Thì chịu chứ sao!
Nga vừa đánh vào vai Vĩnh vừa hô hoán:
- A, cái anh dê này! Thôi Nga về để anh ngồi đây đợi cô nào khác lại hù nghe!
- Ðâu được, tui chỉ thích cô Nga nầy thôi!
- Ðồ không biết thẹn!
Cả hai đùa giỡn với nhau, không hay là Vinh đang ở phía sau. Chờ cho hai đứa không còn ôm nhau nữa, Vinh tiến đến:
- Bắt gặp tại trận rồi nghe! Cha, anh chị mùi quá! Chỉ tội cho chị Hằng lo sợ một mối tình lớn tan vỡ! Tiên sư tụi bay, lén lút hẹn nhau ngoài đường mà không cho ai hay cả!
- Ðã lén lút hẹn mà còn cho hay làm gì, Vĩnh vừa cười vừa nói.
Nga tru tréo:
- Anh học nghề trinh thám tư lúc nào vậy? Chị Hằng mướn anh bao nhiêu tiền?
- A, cái con nha đầu nầy, mày không những không năn nỉ ông anh mà còn xài xể nữa sao?
Rồi cả ba cùng cười đùa với nhau. Sóng biển vẫn đều đều từng đợt đập lên bãi cát phẳng lì. Tội nghiệp những con dã tràng nhỏ nhoi vẫn năm, tháng miệt mài chừng như không biết mệt. Nửa tháng sau, khi Vĩnh đón Nga sau buổi học, hính Nga lại năn nỉ Vĩnh đến nhà. Nga thăm dò:
- Lâu không gặp chị Minh, anh nhớ không?
Vĩnh nửa đùa nửa thật:
- Nhớ chứ sao không?
- Thế sao anh không đến thăm chị ấy?
- Bộ em muốn anh đến thăm chị ấy sao? Chính em yêu cầu đó nha!
- Làm bộ hoài! Xí, làm như anh không thích đến thăm chị Minh vậy!
Vĩnh tự hỏi thầm: không biết mình có nhớ chị Minh thật không? Chàng suy nghĩ, soát lại lòng mình. Dĩ nhiên chàng yêu thương Nga là thật nhưng chắc chắn chị Minh cũng đã chiếm một ngăn nào đó, dù nhỏ nhoi, trong trái tim lặng lẽ của chàng. Vĩnh tự hỏi thứ tình cảm mà chàng dành cho chị Minh là thứ tình cảm gì? Nửa tháng trôi qua, ngày nào chàng cũng nhớ đến chị Minh, nhớ mái tóc dài như bóng mát của một cây dương dong dõng cao, nhớ nụ cười hồn nhiên nửa vời ngơ ngác, nhớ tia nhìn xa vắng như muốn chối bỏ cái hiện tại chua xót ràng buộc lấy cuộc đời son trẻ của chị Minh. Cần phải có một hoàng tử nào đó đến hoá giải lời nguyền rủa mà mụ phù thủy Ðịnh Mệnh đã gieo rắc vào đời chị thì chị mới có thể nhận diện lại được thiên thần Hạnh Phúc. Than ôi, chàng hoàng tử đó có lẽ không bao giờ đến với chị.
Tiếng chọc ghẹo của mấy người bạn gái Nga đem Vĩnh về thực tại. Dù sao, chàng cũng đoán biết có chuyện gì rồi phải cần đến chàng nên làm nư:
- Nói giỡn chứ anh sẽ không đến nhà Nga nữa đâu!
Nga bị rơi ngay vào bẩy của Vĩnh, lo lắng:
- Cuối tuần nầy, anh phải lại nhà em đó!
- Sao, có chuyện gì vậy? Nói thiệt đi cô nương, đừng giấu giếm nữa!
Nga hơi do dự một chút nhưng cuối cùng cũng nói thật:
- Từ khi anh không đến chơi nhà, chị Minh buồn lắm và lại muốn lên cơn. Chị ấy nhiều khi la hét khóc lóc gọi tên anh Hoàng và tên anh nữa. Bố mẹ và chị Hằng đã biết là anh muốn lánh mặt chị Minh, bảo em mời anh đến nhà chơi cho chị ấy đỡ buồn mà khỏi sanh bệnh. Em nghĩ lại, dù sao chị ấy cũng là chị của em, nên em sẽ không giận chị ấy đâu! Cuối tuần nầy, anh nhớ đến nha! Cả nhà chờ anh dùng cơm chiều, nhớ nghe!
Bắt chước giọng Bắc, Vĩnh lên giọng:
- Chà, cô em nầy rộng lượng với chị quá nhỉ!
Thấy Nga ức muốn phát khóc, Vĩnh dỗ:
- Nói chơi chút mà! Lêu lêu có người sắp khóc! Lêu lêu!
Nga lấy tay cấu vào vai Vĩnh. Vĩnh nín đau, chịu đựng, nghe một thứ hạnh phúc lạ kỳ chạy khắp người. Chàng tự hỏi: Mình vui vì cái bấu của Nga hay vì mình sắp gặp chị Minh? Cuối tuần đó Vĩnh đến thăm gia đình Nga. Bước vô nhà, gặp bố Nga, Vĩnh chào:
- Con xin chào bác.
Như chờ đợi từ lâu, bố Nga hỏi ngay:
- Sao lâu thế cháu không đến thăm chúng tôi?
Không chờ Vĩnh trả lời, mẹ Nga cắt ngang câu hỏi của chồng:
- Cái nhà ông này lôi thôi quá! Thì cậu ấy bận học chứ ai cũng rảnh rỗi như ông hết hay sao!
Ba Nga im lặng sau lời quở của vợ. Chị Hằng lên tiếng:
- Thôi đừng nói gì nữa, cả nhà ngồi vào bàn đi. Cái Nga gọi chị Minh lên ăn luôn!
Chị Minh từ nhà dưới hớt ha hớt hải chạy ù lên:
- Vĩnh đến rồi đấy hở, nhanh nhanh đi với chị ra vườn hái ổi nhé!
Rồi không đợi sự đồng ý của bất cứ ai, chị Minh nắm tay Vĩnh kéo xốc ra sau vườn. Cả nhà nhìn theo, không ai phát biểu một câu, uể oải cầm đũa. Nga ngồi thừ người ra. Mẹ Nga vừa xới cơm cho con gái út vừa nói:
- Thôi kệ nó đi con. Chị con bệnh mà, buồn làm gì. Ba, bốn năm nữa con với cậu ấy cũng thành... thôi! Cố giữ cho giọt lệ khỏi rơi, Nga nhìn mẹ thật sâu, rồi nói:
- Mẹ tưởng con muốn lấy anh Vĩnh lắm hay sao? Mẹ tưởng con sẽ ế hay sao?
Nói xong, Nga chạy vô phòng, đóng ầm cửa lại. Buổi cơm chiều cuối tuần của gia đình Nga chưa bao giờ tẻ nhạt đến thế!
Chuyện tình của Nga và Vĩnh vẫn tiếp tục nặng nề như một giấc ngủ chập chờn của người thức quá giờ đi ngủ thường lệ cho đến ngày Vĩnh vô Sài Gòn rồi đi Canada du học. Dĩ nhiên Nga không đi tiễn. Sau đó, những bức thư qua lại gần như mỗi tuần trong năm đầu tiên. Qua năm thứ nhì, những bức thư của Nga ngày một thưa dần, cho đến giữa năm thì vắng biệt. Lúc đầu Vĩnh cũng buồn. Nhưng bài vở, thi cử cũng choán nhiều thời gian của Vĩnh, cho nên nỗi buồn tình, dù không thể quên lãng, cũng từ từ trở thành mơ hồ sương khói. Vĩnh chợt nghĩ: sao mình không thất tình để có thể tự tử như trong truyện nhỉ? Hay là mình không yêu Nga đủ? Hình bóng chị Minh lại hiện về trong lòng Vĩnh. Chàng tự hỏi: mình đã có lần yêu chị ấy? Hay là mình chỉ thương hại chị ấy? Không biết. Vĩnh không biết vì chàng không thể phân tích được tình cảm mà ngày xưa chàng đã dành cho chị Minh. Cái tình cảm ấy không rõ ràng nhưng cũng không thể nào tan biến được trong tâm tư của Vĩnh.
Cho tới một ngày... Hôm đó là một buổi chiều thứ sáu. Còn hơn một tuần nữa là đến Tết ta. Trời tháng hai dương lịch mới năm giờ chiều đã tối mịt. Vĩnh bước từng bước chậm chạp về ký túc xá. Những hạt bụi tuyết rơi phất phơ trên tóc trên tai. Cái khung cảnh buồn nãn ấy càng làm tăng lên nỗi chán ngán trong lòng người học trò xa nhà trong những ngày cận Tết. Bước khỏi cánh cửa của ký túc xá, Vĩnh đi vội đến chỗ để thư. Nhìn qua khoản vuông nho nhỏ bằng kính, Vĩnh thấy có một lá thư mà chàng nhận ra ngay là từ Việt nam. Chàng mở hộp thư, thì ra của Vinh. Cầm chặt lá thư trong tay, Vĩnh bấm nút thang máy lên tầng 11. Vĩnh muốn vào phòng đàng hoàng rồi mở thư ra xem. Vĩnh mới cho chìa khoá vào ổ khoá cửa phòng thì người bạn bên trong đã mở cửa giùm chàng. Vô phòng xong, Vĩnh vứt chiếc áo manteau trên bàn học, nằm dài trên giường, vói tay bật đèn và từ từ đưa lá thư lên trước mắt. Bình thường Vĩnh rất nôn nóng mỗi khi nhận được thư từ quê nhà gởi sang nhưng lần này, chàng chần chờ không dám mở vì linh tính như báo cho chàng biết có gì không ổn. Vĩnh đứng dậy, cầm lá thư của Vinh trong tay và đi đi lại lại trong phòng làm người bạn sốt ruột:
- Thì mở đại ra coi chứ đi tới đi lui mãi sao!
Vĩnh nằm lại xuống giường, để lá thư lên ngực, suy nghĩ:
- Nếu như Nga lấy chồng thì mình sẽ làm sao đây?
Vĩnh phì cười, cười cho mình vớ vẩn:
- Nga lấy chồng hay không thì mình làm gì được bây giờ!
Cuối cùng, Vĩnh mở thư ra đọc:
"Nha-Trang ngày... tháng... năm...
Vĩnh thân, Tao không biết phải nói sao với mày đây. Thôi tao nói rõ với mày vậy, mong là mày đừng vì lá thư nầy mà xao lãng việc học.
Chẳng là sau khi mày đi du học một năm thì tao chán lớp chán thầy nên đăng vào Thủ Ðức. Bố mẹ tao lúc đầu cũng phiền tao lắm, vì chỉ còn mấy năm nữa là tao sẽ có thể thành luật sư. Thế nhưng, tao nghĩ, luật sư thì sao mà không luật sư thì đã sao? Ðất nước mình vẫn còn mãi miết trong thảm cảnh chiến tranh, tao thấy mình không thể cứ đứng ở ngoài mà cũng phải có phần trong đó, mặc dù bố mẹ tao, như mày đã biết, không thích nhà có người cầm súng, dù ở bất cứ bên nào. Nhưng bây giờ, bố mẹ tao đã hiểu mà hết buồn rồi, tao cũng yên tâm. Chuyện tao thật ra chỉ vậy thôi, cũng chẳng có gì đáng nói phải không Vĩnh? Có hai chuyện cần phải nói với mày hơn, nhưng sao tao lại cứ ngại nên đến bây giờ mới viết cho mày."
Ðọc đến đây, Vĩnh nhắm mắt lại, mơ màng suy nghĩ. Quái lạ, thằng khỉ gió nầy mắc gì trở chứng lại rào trước đón sau như vậy? Vĩnh xem tiếp lá thư:
"Chuyện thứ nhất là cái Nga của mày đã đi lấy chồng. Mày đừng trách cái Nga, tội nó. Nó vẫn còn yêu mày lắm. Có điều, thời buổi chiến tranh, con người ai cũng có khuynh hướng sống vội, được lúc nào hay lúc ấy, vả lại, chuyện mày học xong về nước, công bình mà nói, có lẽ xa vời quá! Những người gia đình tao quen biết, cho đến giờ, chưa có ai học xong lại chịu trở về. Cái lý tưởng phụng sự đất nước của người sinh viên trước khi du học, có lẽ khi ra ngoại quốc đã bị cái lạnh làm teo lại? Tao cũng chẳng trách gì những người ấy đâu. Mỗi người có mỗi suy nghĩ, hoàn cảnh và quyết định riêng phải không mày? Chuyện cái Nga lấy chồng nghĩ cũng buồn cười. Tự dưng có thằng trung úy phi công thấy cái Nga ngoài phố, hợp nhãn thế nào không biết, mon men theo nó về nhà rồi nhờ người mai mối xin cưới luôn. Chị Hằng không chịu. Tao lưng chừng, không biết khuyên cái Nga ra sao. Nhưng bố mẹ tao và cái Nga vừa trải qua một cơn khủng hoảng nên quyết định đồng ý cho xong chuyện. Cũng vì chuyện cái Nga lấy chồng mà tao không viết thư cho mày, vì không biết phải nói sao với mày. Nhưng bây giờ thì tao thấy không thể không viết cho mày được. Mày biết tại sao bố mẹ tao và cái Nga bị khủng hoảng hay không?
Thôi, trước sau gì mày cũng biết: Chị Minh đã chết rồi!"
Ðọc đến đây, Vĩnh ngồi bật dậy. Vĩnh không muốn khóc vì chưa đọc xong bức thư của Vinh, nhưng nước mắt cứ trào ra, nhoè nhoẹt. Vĩnh nằm lại xuống giường, úp mặt xuống gối, khóc rưng rức. Tại sao? Tại sao? Khóc một hồi lâu, Vĩnh gượng xem tiếp bức thư: "Mày cũng biết là chị Minh nhà tao khi tỉnh khi mê. Từ ngày mày đi rồi, chị ấy buồn lắm, còn buồn hơn cả cái Nga nữa. Lâu lâu chị ấy ra sau vườn chỗ chị thường dắt mày ra hái ổi rồi ngồi xuống đất, nhìn gốc ổi mà kêu tên anh Hoàng và tên mày. Có khi chị ấy lại rất tỉnh, kêu tao hỏi: "Vĩnh bao giờ mới học xong, học xong Vĩnh có về hay không?". Tao trả lời: "không biết" cho xong chuyện thì chị ấy lại nói: "thế sao Vinh không viết thư hỏi Vĩnh thử xem?".
Hôm đó, cả nhà tao bận lo giỗ đám giỗ nên chẳng ai để ý đến chị Minh cả. Chị ấy đi ra khỏi nhà lúc nào cũng không ai hay, rồi đi lạc đến bờ sông gần chợ cá Phương Sài. Có đám trẻ con nô đùa gần đó. Chúng nói lại là chị lên trên cầu tàu, ngồi nhìn mặt trời hoàng hôn chập chờn ở dưới lòng sông mà nói lảm nhảm. Tao đoán chị ấy lại gọi tên anh Hoàng và tên mày như mọi khi ở nhà, sau vườn. Ðến khi mặt trời lặn hẳn, bất chợt chị nhảy ùm xuống sông. Tụi con nít tưởng là chị tắm nên cũng chẳng báo ai biết, cho đến khi quá lâu mà không thấy chị trở lên bờ, chúng mới hoảng hồn đi báo cảnh sát. Khi được vớt lên, chị đã bất tỉnh. Cảnh sát làm hô hấp nhân tạo cho chị nhưng trái tim chị đã ngừng đập. Có người nhận ra chị ấy là con của bố mẹ tao nên cho cảnh sát biết. Cảnh sát vừa chở chị vào nhà thương, vừa cho người đi báo gia đình tao. Khi cả nhà vào nhà thương, chị Minh vẫn im lìm trong giấc ngủ ngàn năm của chị!
Vĩnh vứt lá thư chưa đọc xong vào góc phòng và nằm im lặng. Thằng bạn cùng phòng đã đoán được chuyện không vui nên nhẹ nhàng đi ra khỏi phòng từ lúc nào không biết. Còn lại một mình, Vĩnh khóc lớn lên cho hả cơn buồn thảm. Bỗng dưng, Vĩnh ước ao được bước vào cái thế giới của chị Minh trước kia, cái thế giới bềnh bồng gữa tỉnh giữa mê, giữa hư giữa thực. Bên ngoài, tuyết vẫn còn rơi nhè nhẹ, lung linh dưới ánh sáng vàng lạnh của những ngọn đèn đường vô tri vô giác. Vĩnh đã hết khóc, nằm im nhớ đến gia đình, bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những mùa xuân cũ nơi quê nhà xa xôi. Những mùa xuân ấy sẽ chẳng bao giờ trở lại với chàng.
Nguyễn Bá Dĩnh