vhnt, số 291
24 April 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................... Phùng Nguyễn
T h ơ:
1 - Tưởng Niệm................................................Song Vinh
2 - Chiều Mưa Ngồi Coi Con .......................... Trần Thái Vân
3 - Karma.......................................... Nguyễn Thị Hoàng Ân
4 - Love! ............................................ Trương Trọng Hoàng
5 - Options...............George Brent / Nguyễn Quốc Vinh chuyễn ngữ
6 - Hoài Mong............................................. Phạm Văn Tiên
7 - Gã Trai Khờ................................................... Ý Nhi
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
8 - Câu Hò Thôn Dã............................................. Ðan Hà
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
9 - Xấp Vải................................. Trương Nguyễn Thi Thanh
10 - Khung Trời Phượng Vĩ.......................... Nguyễn Vy-Khanh
Có những điều chỉ đến trong đời chúng ta có mỗi một lần, và sẽ ra đi mãi mãi. Những điều làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc hoặc đau đớn, và nhiều khi cả hai. Như ngôi sao chổi với chiếc đuôi rư.c rỡ quét ngang bầu trời, hay chỉ là một nụ cười thoáng qua -- Chúng đều đã ra đi, nhưng đã ở lại trong chúng ta, ở một góc chìm khuất nào đó trong mớ ký ức hỗn độn, để rồi sẽ một lần vươn da ^.y rực rỡ như cánh phượng hoàng, làm sống lại trong ta nỗi đau thương hoặc niềm hạnh phúc. Hoặc cả hai...
Chúc các bạn một ngày vui.
thân ái,
PN
Tưởng Niệm
(Vừa đi xa về nghe tin buồn. Xin chia sẻ niềm đau của PCL)
Ðường qua lối nhỏ heo may
Tháng năm lạc lõng mưa bay tiếng cười
Mẹ xa, thôi đã xa rồi
Ôm tay nỗi nhớ kiếp người luân lưu
Mưa bay, bay giấc thiên thu
Tìm trong giấc ngủ lời ru phương này
Ðêm đi chậm bước hơn ngày
Hỏi quanh cô quẫn, đủ đầy âu lo
Mưa ơi lời gió ơ hờ
Mộng qua khung cửa lời thơ nhọc nhằn
Ðường qua lạc lõng bâng khuâng
Cho trăm nỗi nhớ đôi lần thứ tha
Ðêm mơ Người cũng gần xa
Thiên thu rất lạ nghe ra tiếng mình
Song Vinh
CHIỀU MƯA NGỒI COI CON
Chiều mưa rơi nặng hạt
Gió về từ vô hình
Trời xám như đầu bạc
Ta ngồi buồn hư thinh
Thôi không nhớ em nữa
Em đã thành mây bay
Nửa đời ta lần lửa
Giờ còn lại đôi tay
Thôi không thương em nữa
(Vì em bận thương chồng)
Ta ngóng ngoài song cửa
Mưa từng hạt... mênh mông
Mình ta và đứa trẻ
Nằm đàn hát nghêu ngao
Nó bỗng nhiên hỏi khẽ,
"Ba, ba, yêu là sao?"
Nhìn con ta ướt mắt
Thương người trăm năm sau
Giọt máu nào chia cắt
Giọt máu nào vùi sâu?
(Bài thơ tình cha viết
Con sẽ chẳng thể dùng
Bài thơ tình ông viết
Cha đã gửi lung tung!)
Miếu đền ta chẳng đốt
Chỉ bỏ ông thần hoàng
Nên đôi khi hoảng hốt
Như con sốt mê man
Chiều mưa rơi nặng hạt
Gió tha hương ngang đầu
Buồn, buồn ơi man mác
Thương người trăm năm sau
Thương người từ kiếp sau
trần thái vân
KARMA
I've told him to pack his bag and leave.
Now, it's his turn to retaliate
and throw me out of his house!
We each has our own turn
to scream and shout insults and argue
and break everything we possibly
can to destroy our home's harmony;
We each has our turn
to stand over the glittening broken
pieces of glass and beer bottles
and china and eating plates and
cups and saucers,
And witness each other's stubborn
unjielding uploling our own principles:
of pride and hurt and personal power!
The wheel of Life forever turns round and round.
The universe forever functions according to its own laws and order.
And whether knowingly or blinded by passion
human beings struggle endlessly to escape
from the karma imposed upon them
unsuccessfully,
like the sea creatures get caught in the unfeeling, objective
net!
If I should be a believer of religions
I would be knwwling and praying to
all of their gods and gođesses, long ago!
But I am not...
and so I close my eyes and seek out
for my childhood's wishing well,
to see only my own reflection
waving on its clear and transparent surface:
the innocent and self-content face
and eyes so bright with joy they
shine like stars in the heavens!
"I wish to go home!"
The old, withering yellow woman
on the side of the well
whispers...
Nguyễn thị Hoàng Ân
Richardson: Monday, 4/21/97
LOVE!
I am gonna lose You, gonna lose You!
The stronger my love, the heavier my blues.
Time like broken wings of fairy
Flies painfully this whole eve!
Cold wind suđenly touches me from window.
How lonely I feel in my soul!
Sad events is predefined by our fate?
We live our life or follow God's fiat?
My hands are in tremor, my brain is in tremor
Love like sea wave cries forever.
Stunned a while, blue a life
All is gone, why still waits, my crazy mind?
Trương Trọng Hoàng
03/97
Options
Calling his number
wanting to tell him
it is clearly time
to invite me
The voice says
when you have finished
recording you may
hang up or press
one for more options
Of course I want
more options
And so I begin
to press the buttons
This one is for a love
of mine
to quench the
blistering thirst
and chase away
my desire
I speak clearly now
and with confidence
into the receiver
I want no more
nightmares like
men who come into
my life
Cajoling, persuading
and convincing me
to love them
Eloquent with embraces
And when I give in
and I open my eyes
because I give love
one last chance
I find them staring
at me blankly
with a look that says
This is not
what I meant and
I've changed my mind
And so I continue
to press the buttons
whispering into the
telephone
I don't want to be
old and bitter
can't I grow young
and full of hope
And do you have a button
for the happiness option
You know which one I mean
The one that takes away
the fear of the past
and the pain of the future
without dulling the soul
Or am I asking too much
I cry into the telephone
before hanging up because
I am too afraid
to hear
the silence
George Brent
(The Dudley Review IV (1):54-55 (1997))
Các lựa chọn
Gọi đến số điện thoại của anh ấy
tôi muốn nói với anh ấy rằng
rõ ràng đã đến lúc
anh ấy mời tôi
Giọng nói cất tiếng
khi ghi âm xong
quý vị có thể
gác máy hoặc bấm
một để lựa chọn thêm
Dĩ nhiên là tôi muốn
lựa chọn thêm
Và thế rồi tôi bắt đầu
bấm các nút số
Nút này cho một tình yêu
của tôi
để dập tắt đi
cơn khát cháy bỏng
và xua đuổi đi
dục vọng của lòng tôi
Tôi đang nói rõ tiếng
và đầy tự tin
vào ống nghe
Tôi chẳng muốn có thêm
những cơn ác mộng như
những chàng trai đã đi vào
đời tôi
Rủ rê, dụ dỗ
và thuyết phục tôi
yêu họ
Ðầy sức thuyết phục
với những vòng tay ôm ấp
Và khi tôi thua cuộc
và mở mắt mình ra
vì tôi cho tình yêu
thêm một cơ hội cuối
Tôi thấy họ nhìn trân trối
vào tôi một cách ngớ ngẩn
với một cái nhìn như muốn nói
Tôi không nghĩ thế và
Tôi đã đổi ý rồi
Và tôi lại tiếp tục
bấm các nút số
thì thào trong
điện thoại
Tôi không muốn mình trở nên
già và chua chát
Sao tôi lại không trẻ được ra
và tràn trề hy vọng
Anh có nút nào
để lựa chọn hạnh phúc không
Nói thế chắc anh đủ hiểu
Nút hạnh phúc để dẹp bỏ
nỗi sợ của quá khứ
và nỗi đau của tương lai
mà không làm tê dại tâm hồn
Hay phải chăng tôi đòi hỏi quá nhiều
Tôi khóc trong điện thoại
trước khi gác máy vì
tôi rất sợ
sẽ nghe
thinh lặng
Nguyễn Quốc Vinh chuyển ngữ
(4/97)
Hoài Mong
Có một người cô đơn sầu héo hắt
Nhớ thương ai đôi mắt ướt se buồn
Ðứng chờ người giọt lệ nóng rơi tuôn
Lòng hoài mong, tình yêu như đã mất
Em tôi một chiều, mưa giăng thật nhiều
Nóng lòng ngóng đợi tin người phương xa
Người ta bên ấy có nhớ, hay là
Vội quên như tiếng sáo chiều đìu hiu
Nhớ lời người em ôm mộng gối chiếc
Ánh trăng khuya treo song gỗ soi vào
Nét mài ngài, mặt nguyệt đã tiêu hao
Sầu vạn đông, người có thấu chăng người/?
Hồn ai theo gió bay đi kiếm tìm
Ngồi bên song ngắm mây trời lướt nhanh
Có ai đi cho gởi giùm đến anh
Bức thư xanh còn thắm hương, đậm tình
Phạm Văn TiênHoài Mong
Có một người cô đơn sầu héo hắt
Nhớ thương ai đôi mắt ướt se buồn
Ðứng chờ người giọt lệ nóng rơi tuôn
Lòng hoài mong, tình yêu như đã mất
Em tôi một chiều, mưa giăng thật nhiều
Nóng lòng ngóng đợi tin người phương xa
Người ta bên ấy có nhớ, hay là
Vội quên như tiếng sáo chiều đìu hiu
Nhớ lời người em ôm mộng gối chiếc
Ánh trăng khuya treo song gỗ soi vào
Nét mài ngài, mặt nguyệt đã tiêu hao
Sầu vạn đông, người có thấu chăng người/?
Hồn ai theo gió bay đi kiếm tìm
Ngồi bên song ngắm mây trời lướt nhanh
Có ai đi cho gởi giùm đến anh
Bức thư xanh còn thắm hương, đậm tình
Phạm Văn Tiên
Gã Trai Khờ
Có những chiều anh dợi em góc phố
Ðể tiễn mây hờn yêu trong gió nhẹ
Anh chỉ sợ sẽ hóa thành tượng gỗ
Ðã bao lần từ chối chất nồng say
Thương cánh bướm sang xuân quay về tổ
Nàng lưu ly tỉnh giấc giữa xuân hồng
Nhiều mộng dẹp gửi vào lòng dĩ vãng
Buổi chiều vàng chợt thấy mình bâng khuâng
Em ngày đó khua gót giầy trên sỏi
Tóc em bay chỉ làm vướng mắt nhìn
Anh mãi là gã trai khờ bướng bỉnh
Ðã ngu ngơ chờ dợi suốt chiều nay!!!
Ý NhiGã Trai Khờ
Có những chiều anh dợi em góc phố
Ðể tiễn mây hờn yêu trong gió nhẹ
Anh chỉ sợ sẽ hóa thành tượng gỗ
Ðã bao lần từ chối chất nồng say
Thương cánh bướm sang xuân quay về tổ
Nàng lưu ly tỉnh giấc giữa xuân hồng
Nhiều mộng dẹp gửi vào lòng dĩ vãng
Buổi chiều vàng chợt thấy mình bâng khuâng
Em ngày đó khua gót giầy trên sỏi
Tóc em bay chỉ làm vướng mắt nhìn
Anh mãi là gã trai khờ bướng bỉnh
Ðã ngu ngơ chờ dợi suốt chiều nay!!!
Ý Nhi
Câu Hò Thôn Dã
Nhiều người khi mới đến quê hương tôi nơi Quảng trị, thường hay có cảm giác e ngại, sợ sệt, vì khi mới nghe đến một vùng đầy lam sơn chướng khí, mảnh đất eo hẹp được giới hạn bằng một bên là biển, một bên rừng. Khí hậu quanh năm hai mùa với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo cỏ khô cây; mùa đông thì mưa dầm ướt đất, mưa không ngớt làm sủng lầy những vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và rụng dần, bắt đầu những cơn mưa ngâu lành lạnh, gió th i mạnh làm rung đổ những giọt nước mắt của "Chức nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi! Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân quê đã đổ xuống trên ruộng vườn nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm than. Câu tục ngữ thường truyền tụng nơi đây là:`"Làm cho có để mưa gió mà ăn" là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên thu hoạch được đầy đủ, còn vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ như khoai sắn để phụ lực... (No lòng chớ phụ môn khoai, đến năm thân dậu lấy ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn đói của năm thân dậu (là hai năm 1944-1945), như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học đắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích trữ lương thực, của cải cho những việc bất thường như: quan, hôn, tương, tế...( năm thân dậu tại Quảng trị xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp đặt một thể chế quá khắc nghiệt đối với người dân, như ruộng vườn không được trồng lúa mà phải trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế là chiến tranh lại tiếp diễn đến triền miên! Cho đến thời cận đại thì các cường Quốc lại sử dụng mảnh đất Quảng trị như là một phương tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết chốc và gây thương tật cho dân chúng địa phương. Hiện tượng ấy cho đến bây giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt chiến tranh, nhưng những vũ khí giết người ấy vẫn còn nằm đó, đầy dẫy như dang chờ chực những ai bất hạnh!...
Vì thế cho nên những người khi mới chân ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì họ thường hay than rằng: "Ðến nơi đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng cũng run!".
Cảm giác ấy không phải chỉ đối với những người vừa mới đến, mà người dân địa phương sống lâu năm tại đây cũng cảm thấy không thoải mái, không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì nước suối trong vắt, đứng trên bờ có thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy được sỏi cát nằm dưới đáy, nước trong đến thế cho nên mới gọi là suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc nước đem đun sôi thì nước ấy lại biến thành màu tím nhạt, nước uống rất độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở đây phần nhiều đều "mặt bủng da chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế tại đây thì lại thiếu thốn đủ thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một chương trình phòng ngừa và trị liệu.( Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A sao, A lưới... Ðơn vị chúng tôi không ai tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai nấy đều phải mang theo đầy đủ các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng, cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng nầy nằm gần một khu rừng có rất nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa tính mạng cuả dân làng, để đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra, họ phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây rừng thật chắc chắn. Ðêm đêm muốn đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó, đốt lên làm đuốc soi đường và trừ thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không thể bỏ khơi khơi ngoài đường như các nơi khác.
Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền, không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã đem lại cho họ một cuộc sống vững chải về kinh tế, để được an nhàn mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ phải chai lì, đời sống thì với những bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu thốn đủ thứ... Như vậy điều gì đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc sống nơi đây? Có lẽ chỉ còn là tình cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ phải luyến lưu phải gắn bộ. Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của Tiên tổ, có thể là nếp sống chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những mối liên hệ ấy là một chất keo gắn liền đời sống với nhau như anh em một nhấ (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng bào, được bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy đều vẫn là anh em).
Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp gở nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ, họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu hát của những đêm giã gạo dưới trăng... Hò ơi...
Ðứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,
bụi trừa bụi đựng
Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,
hòn dựng hòn nằm
Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm
Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm
viếng tối thăm cũng tình!
Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là những biểu tượng để ví von, so sánh mà thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của con người, mà ở đây "đạo nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường cột của giềng mối, là chất keo để ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu trong tâm khảm của mọi người. Những người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ chồng với nhau... Nhưng cùng chia xẻ những niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì đó cũng là những an ủi cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn đối với những người mới cùng hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:
Ai về phố Hi, sông Cầu
Ðể thương để nhớ, để sầu cho ai?
Ðể sầu cho khách vãng lai
Ðể thương để nhớ cho ai? để sầu!
Ðể sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho người ở lại? Cũng chỉ là những câu hỏi được lặp đi lặp lại như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở người đi, như nỗi luyến tiếc một cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong!), như vậy là đã được giải quyết một cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng mới chính là vấn đề cần phải suy luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể lắm chứ, (Ðể thương để nhớ cho ai? để sầu...), mới nghe thì cũng chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn kỹ thì đoạn sau lại được (hay bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu hỏi hay câu trả lời đây? Chữ "để sầu" treo lơ lững ở phía đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã rớt lại đằng sau như còn lưu luyến một cái gì, thật thiết tha biết mấy? Câu hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh nha tình cảm:
Ra về có nhớ em không?
Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!
Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh khỏi? Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh những ước mơ thầm kín? Của một lần đã cùng ai hẹn biển thề non! Ðã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!
Ra về sao đặng mà về
Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề cho ai!
Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể bỏ được, vì đây không phải là nơi "chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê hương xứ sở chi của mình, thì đến hay đi cũng không thành vấn đề chi mấy... Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là rắc rối làm sao? Bỏ lại cho ai đây?...
Ðối với những người mới quen biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến đường nào... Còn đối với những người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm) thì sao? Họ có đối đãi với nhau như thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một dường mực tàu, để "thâu ngắn đường về", mặc dầu đôi khi vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau lòng" đấy! :
Mấy anh chưa vợ quanh năm
Ðêm đông lạnh giá anh nằm với ai?
Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát mái? Biết làm sao mà trả lời cho nghe được cái lỗ tai? Làm sao mà mở ra một con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám cùng người để "gối phụng chăn loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu đốn củi thì làm sao dám mơ ước được nằm với ai? Bởi vì thân phận của anh "Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều củi, gặp trầm họa may", cái họa may nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là một loại g quý hiếm, thì làm sao mà bắt được giữa hư không? Cho nên câu hỏi nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu trả lời thì thấy cũng mất mặt cả "đấng nam nhi", mà câu trả lời không được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng đời hay dòm ngó, thị phi? Cho nên cũng có người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu trả lời để họa may cứu vãn tình thế! May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:
Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công
Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì nằm cong khó gì.
Lành thay, lành thay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây đâu phải còn cái diện "ăn chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên" đánh cờ còn chưa sạch nước cản? Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra, nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện sẽ "làm phận đàn bà như em!".
Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng
Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm
Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô
không rằm rứa anh?
Ðối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một thằng "dại" đã được nằm giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em? Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho bị cọp vồ. Vẫn biết tơ với lụa thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh phải chọn? Nhưng một năm mười hai tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:
Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ
Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai
Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết
trái là tháng không rằm em ơi!
Ðối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào đâu? Vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai để thất để nối, mặc dầu lá gai còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà phải chọn lựa?
Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem! Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát như cỏ nội hoa đồng, chân phương như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng, đang nằm trải dài phơi mình trong nắng sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự ấy đã gắn liền với nếp sống hàng ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngỏ.
Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò của chị... Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta có một tâm hồn phong phú về nền văn học dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách! Vì nền văn học ấy đã chất chứa đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo nguồn vui cho gia đình và xã hội./.
Ðan Hà
XẤP VẢI
Phượng dẫn tôi đi hết tiệm này đến tiệm kia dọc con đường Bolsa mà tôi vẫn chưa tìm được xấp vải nào ưng ý. Nó cằn nhằn:
-Sao mày khó tánh quâ Ði hết tiệm rồi đó nha. Chọn xấp nào thì chọn đại đi không thôi người ta đóng cửa bây giờ.
Tôi biết Phượng đã bắt đầu hết kiên nhẫn nên cười xí xóa:
-Thôi mà, lần đầu tiên qua Cali chơi thì tao muốn đi ngắm trước rồi tính sau.
Thực ra thì vì thấy nhiều quá nên tôi phân vân chưa biết chọn màu nào. Áo dài là loại tôi chỉ mặc một năm 1, 2 lần để đi chùa hoặc đi dự đám cưới nên muốn chọn một cái thật là vừa mắt. Anh Thuỵ vẫn khen tôi mặc áo dài đẹp, cho nên tôi cứ kiếm cớ để mặc hoài. Bố thì bảo tôi mặc áo dài trắng giống mẹ ngày mẹ còn là nữ sinh để bố phải lặn lội hao mòn. Tôi cười buồn với bố thì bố chẳng còn hao mòn đó sao.
Bố cưng tôi nhất nhà vì tôi giống mẹ. Bố bảo con gái cứ để tóc dài, mặc áo dài cho con trai khắp phố phải hao mòn như bố ngày xưa vậỵ Con trai trong nhà như mấy ông anh tôi thì bố bảo nếu chúng bị hao mòn vì con gái tóc dài áo dài như thế thì cứ coi như là một diễm phúc lớn. Bố tôi hay đùa. Bố đuà nhiều vì bố nhớ mẹ nhiều mà chỉ muốn mang tiếng cười hoà lấp đi nỗi niềm riêng của bố.
Tôi cầm xấp vải trắng có lá mùa thu vàng vàng đỏ đỏ trên tay. Lật tới lật lui, xoa đi xoa lại, hết nắm lại rồi thả ra, mà không biết có phải là mặt hàng tốt hay không. Nhỏ Phượng rỉ tai:
-Nghe nói đâu ở khu này có loại vải dổm mang từ VN qua, giặt một lần rồi thì nhăn nhúm hà. Coi chừng đó nhe.
Coi chừng thì làm sao được bây giờ. Cả tôi và Phượng đều mù tịt, có biết loại nào là loại tốt đâu. Thấy tụi tôi đứng tần ngần một hôì lâu thì bà chủ tiến tới:
-Vải xem được không em?
Trời ơi giống mẹ tôi quá! Bà chủ có giọng nói y hệt mẹ tôi. Mái tóc bà buí lên thành một nắm dầy đen láỵ Tôi nhìn bà chăm chăm. Tôi nhớ dáng mẹ tôi cũng từa tựa như vậy, chỉ có điều là mẹ tôi hồi đó không có tiệm, mà cũng không ăn mặc tươm tất như bà nàỵ Tôi cảm thấy cái gì nghèn nghẹn ở cổ mà không trả lời bà được. Mặt tôi nóng ran gần như sắp bung nổ. Tôi cúi đầu tránh cái nhìn đó. Tôi muốn khóc. Tôi muốn chạy vào xó nhà mà khóc cho thoả thích. Mẹ tôi hồi đó mà được nhàn hạ như bà chủ đây thì tôi đã bớt buồn bớt tủị Mẹ tôi sáng đi sớm tối về khuya. Mẹ tôi nay bán cái này mai bán cái kia. Mẹ tôi đi hết từ chợ này qua phố khác. Mẹ tôi. Mẹ tôi...
Bà chủ quay đi trong khi tôi còn luyến tiếc dõi mắt nhìn theo bóng dáng bấ Nhìn từ sau thì giống mẹ tôi thật. Chiếc áo bà ba trắng có chiếc áo lót mỏng bên trong. Và chiếc quần đen loại không bóng như thế. Bà chủ trông cũng hiền từ, nhỏ nhẹ và tử tế. Tôi nhớ có lần mẹ tôi cho 1 thằng bé ăn xin một cái bánh ngọt con cua trong lúc bà đang ế ẩm. Tôi hỏi mẹ tại sao mẹ lại mang cho. Mẹ tôi không nhìn tôi mà chỉ trả lời rằng:
-Trông nó tội nghiệp quá, mình không nỡ nào xua đuổi đi.
Mẹ tôi thật là một người đàn bà tử tế và thương người. Tôi chưa thấy ai trong nghề buôn bán mà lại rộng lượng như bà bao gi Chả trách mẹ tôi thường hay bị thua thiệt. Mẹ tôi không bao giờ lừa gạt của ai. Cũng không biết nịnh nọt để lấy lòng khách hàng. Những điều này thì mãi đến khi tôi lớn lên và xa mẹ, tôi mới nhận thức được.
Tôi ướm xấp vải trắng lên người trước tấm gương lớn. Phượng bảo tôi xoay qua xoay lại như người mẫu để nó cho ý kiến. Con nhỏ ngắm mấy vòng rồi nháy mắt với tôi:
-Ðược đó. May kiểu tay phồng cổ rộng cho bớt nóng mà lại dễ thương nữa.
Tôi băn khoăn mang xấp vải lại hỏi bà chủ:
-Bác ơi vải này có phải là vải tốt không bác?
-Vải ở đây là tốt nhất rồi còn gì.
-Dạ không phải là loại xấu mang từ VN qua hả bác? Giặt có bị nhàu hay lem không bác?
Bà chủ nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. Thì tôi là người mới "ra tỉnh" đó thôi, nên tôi hỏi những câu thật là buồn cười như vậy. Bà lắc đầu:
-Không, làm gì có chuyện đó.
Bà trông giống mẹ tôi quá! Tôi chực hỏi bà xem bà có con ở bên này với bà hay không. Ðể làm gì tôi cũng chưa biết. Ðể bà nhận tôi làm con nuôi chăng? Hay là chỉ để tôi thốt ra với bà rằng bà làm tôi nhớ mẹ tôi quá?
-45 đô.
Tôi nhìn nhỏ Phượng. Nó nhún vai ra điều không biết. Tôi trả giá đại:
-35 được không bác?
Kỳ kèo thêm đôi lần nữa thì rốt cuộc bà bằng lòng bán cho tôi với giá 40 đô. Bà còn cười và nói thêm:
-Bán rẻ cho em đấy nhé.
Tôi vui quá! Tôi muốn nắm lấy tay bà một cách gần gũi. Tôi như tìm cho mình được một người mẹ "mới". Mẹ ơi con mua vải về mặc áo dài cho giống mẹ. Con sẽ chụp hình cho mẹ xem. Hôm nay đi chợ con gặp được bà bán hàng giống mẹ lắm. Bà ta tử tế ghê, bán cho con giá rẻ nữa nế Con biết nếu mẹ bán hàng mà gặp người như con chắc thế nào mẹ cũng tử tế như vậỵ
Vừa về đến nhà là tôi hí hửng mang xấp vải ra khoe với mẹ của Phượng. Bà cau mặt nhìn tôi:
-Con mua hớ rồi con ơì! Vải này chỉ đáng giá có 15 đô hà. Ðồ giả ở VN mang qua đây đó con, rẻ rề hà.
Tôi chưng hửng nhìn bà. Tôi không tin! Tôi không tin! Tại sao mẹ tôi không nỡ gạt ai mà trên thế gian này lại có người gạt con của mẹ như vậy?!
Tôi buồn bỏ buổi cơm chiều hôm đó. Tôi nhớ mẹ.
Trương-Nguyễn Thi Thanh
KHUNG TRỜI PHƯỢNG VĨ
1.
Ðã lâu lắm Di mới lại đối đầu với một người khách tìm tài liệu "lì lợm" không thỏa mãn những kết quả chàng đưa, kết quả căn cứ trên bao nguồn tin học cập nhật nhất và trực tiếp với nhiều cơ quan nghiên cứu ở khắp thế giới. Di đã mời tìm chung và ông ta đã nhìn thấy! Lãnh vực kỹ thuật xây cất sát mặt đất chứ đâu phải mấy địa hạt dự phóng, kế hoạch hoặc sáng chế hướng lai viễn k iến tân kỳ gì cho cam. Ðã ba tuần rồi, ông ta đến rồi đi như một người mộng du, chìm đắm trong những dự kiến giải pháp tưởng tượng của mình. Tại sao kỹ thuật đó lại đưa đến những kết quả quá thu hẹp, tại sao không thể phối hợp hai kỹ thuật anh em, tại sao và tại sao. Vì ông ta muốn đề nghị giải pháp của mình với ông thứ trưởng như là một kỹ thuật tân kỳ nhất của cuối thế kỷ, tân kỳ và hi ệu lực hơn cả của mấy kỹ sư người Nhật, có thể tiết kiệm cho bộ nhiều triệu bạc trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay. May là điện thoại reo, Di xin lỗi sẽ gặp lại sau như muốn đuổi khéo, nhưng chàng điện thoại thì ông ta vẫn ngồi lì ra đó, mắt cứ nhìn cái máy điện toán của chàng. Lại một điện thoại khác, vì bận đường giây nên chỉ hiện số và tên trên khung ảnh: bệnh viện Ðức Bà và số điện thoại. Nhưng tại sao là "bệnh viện", Di tự hỏi rồi vội vàng gọi lại. Phòng cứu cấp cần một thân nhân đến gấp vì bệnh nhân đang bị tim đứng. Người bệnh là ông thân của Di. Chàng bỏ người khách khó tính lại đó, nói mấy câu với cô thư ký, xuống lấy xe thắng hướng nhà thương ở phía cực nam thành phố.
Bây giờ thì ông thân Di nằm đó, bất động; y học cứu cấp đã thành công làm tim ông đập lại dù vẫn chưa bình thường. Một mổ xẻ để gắn dụng cụ tới tận tim phải làm, sau đó mới biết cứu được tim hay không. Phòng mổ phải chờ trống. Một bệnh nhân vừa được đưa ra khỏi phòng, cả chục y tá và nhân viên bao quanh, vừa đi vừa chạy. Phía trong hành lang là giường bệnh nhân những ca cứu cấp nhẹ. Ng ười bạn già của ông thân Di rủ chàng đi uống cà phê. "Ổng bị thuốc mê, mình có ở đây chờ thì cũng vậy, ổng đâu có hay". Di đi theo ông, cám ơn ông thêm một lần. Ông thân Di tới nhà ông bạn chơi thì bị đau tim nghẹt thở phải gọi xe cứu cấp; xe đưa tới bệnh viện gần nhất ở khu này. Ðây là lần thứ nhì, trái tim ông muốn bỏ rơi cơ thể của ông.
Khi hai người trở lại thì ông thân Di đang ở phòng mổ cứu cấp. Phải cả tiếng sau ông mới được đưa trở ra; lại cảnh một người nằm mê man, mười người chay theo bên cạnh tay cầm nước biển hay dụng c ụ đo khám. Ông thân Di được đưa vào phòng hồi tỉnh. Ông bạn ông thân theo đã lâu, vừa bỏ về trước vì cũng tới giờ phải uống thuốc. Ông nằm đó, mê man, máy móc đầy phòng, những tíc tắc của máy, những tường trình của các sinh viên nội trú với bác sĩ thầy học. Ngoài ra là một yên tĩnh buồn, của sinh lão bệnh tử, của kiếp người. Và ở xứ người! Không ngờ một người như ông thân Di sinh ra nơ i một vùng hẻo lánh nghèo nàn của đất nước, phải bỏ nơi "chôn nhau cắt rốn" ra đi vì chiến tranh, và cũng vì chiến tranh, nay phải lưu thân nơi xứ người khi tuổi bóng xế. Di chìm đắm trong ký vãng...
2.
Di biết mình chào đời ở một thôn dã miền Trung đất nương cằn cỗi khó khăn, nhưng chàng không giữ được một kỷ niệm hoặc hình ảnh nào của nguyên quán cả. Những hình ảnh xa xưa nhất Di còn hồi tưởng được, đó là cảnh đứng trên thành ở Huế nhìn đua xe đạp và nhà mấy bà dì ở gần đó, sau đó là hình ảnh những ngày đầu tiên Di đi học lúc đó mới bốn tuổi, mạ chàng phải ngồi chờ trước cổ ng trường, vì khi nhìn ra mà không thấy mạ là Di... bỏ lớp chạy một mạch về nhà có khi về trước cả mạ! Với Di, miền Trung tuổi thơ chỉ có chừng ấy... sự tích! Huế cũng là chặng đầu trên đường Na m tiến của gia đình Di.
Những kỷ niệm ấu thời mà Di hãy còn nhớ rõ và mỗi lần nghĩ đến, những kỷ niệm ấy vẫn sống mạnh, đó là thời tiểu học ở trường Thạnh Mỹ, lúc đó gia đình Di đã vào Nam. Trường cách ngăn Thảo Cầm Viên bởi con sông Thị Nghè. Nơi đó, và không phải những nơi khác, mà sau này, đã hơn ba mươi năm qua, vẫn có lúc trở về ám ảnh, có khi kêu gọi trở về, có khi gây tiếc nuối, có khi chỉ là giây lát bâng khuâng, có khi như bây giờ...!
Trường tiểu học xử dụng lại một dãy nhà đã được dùng làm hội chợ triển lãm hình như vào dịp Tết 1957. Di còn nhớ dãy tường nhà được sơn vẽ những hình ảnh sống động tả đời sống nông dân, cô ng nhân, thợ thủ công, v.v... Sân chơi là cả khuôn viên triễn lãm trước đó. Và cũng chính trong những căn nhà bỏ trống sau đó, Di đã nghịch ngợm té phun máu đầu nay vết thẹo vẫn còn.
Muốn đến trường, học sinh từ phía quận nhất Sài Gòn phải đi xuyên qua Sở thú và băng qua cây cầu cạnh trường. Bờ sông đó cũng là nơi bọn Di đùa nghịch bắt cá nhưng không được lâu. Bọn Di tởn khôn g đến đó bắt cá nữa từ khi nghe mấy anh lớn nhát nói cá đó là hồn ma của những nạn nhân của hội chợ đi qua phà xô đẩy làm phà xập chết nhiều người mấy tháng trước đó.
Qua khỏi cầu, phía trái có một trường nữ của các bà sơ mà có lần vị tổng thống đương nhiệm đi bộ đến thăm. Học trò trường Di ở phía bên này đường cũng phải đứng thẳng nghiêm trang tại chỗ tron g lớp học để chào. Ðầu óc đơn sơ của Di lúc đó đã thấy khó hiểu chuyện người lớn vì vị tổng thống đó có nhìn thấy đám học trò trường công đứng ở trong lớp này đâu!
Khuôn viên trường có nhiều cây phượng vĩ cao lớn mà mỗi lần đến hè hoa phượng nỡ đẹp cả một khung trời. Dưới một gốc cây phượng ngày kia bọn Di đã gặp lại thầy S, thầy giáo lớp nhất bị độ ng viên trở về, tóc ông hớt cao, mặt mày đen đúa, có lẽ ông ngồi nhìn lại ngôi trường không biết chiến tranh có trả về lại không! Di sẽ gặp lại thầy S hơn tám năm sau đó, khi Di mới vào học đại học văn khoa, lúc ấy ông sắp xong cử nhân Việt Hán và xuất bản cuốn tự điển chữ Nôm in ronéo là tác phẩm về sau có nhiều nghi vấn về các tác giả thật của nó. Ông là thầy giáo được bọn Di quý mến nhâ 't, kế đó là thầy giáo lớp ba. Không biết có phải vì mang họ Tô hay sao mà ông rất nghệ sĩ, hay tập cho học trò những bài ca trong sáng, đẹp đời như các bản Em bé quê, Nắng chiều, Học sinh hành khúc, v.v... Còn hai thầy giáo lớp tư và lớp nhì thì học trò ai cũng sợ. Một ông mặt lúc nào cũng đỏ gay, người rất ốm nhưng đánh học trò rất... ác, có khi ông kẹp đầu đứa nhỏ vào háng rồi đánh vào mông đứa nhỏ như người ta đánh trống. Ông thầy lớp nhì thì chuyên môn đánh đòn hai bàn tay, thay đổi theo nhịp! Ông này chỉ có mỗi một cô con gái sẽ là học trò của Di khi chàng dạy tư thục ở vùng Trần quốc T oản chín năm sau. Di có kể với cô học trò chuyện bị bố cô đánh tay sưng không viết được cả mấy ngày; cô bé cười thách Di đánh lại - chuyện khó xảy ra vì cô... ngoan ngoãn hơn Di hồi xưa nhiều! Và cũ ng chín năm sau, tóc ông thầy đã bạc nhiều nhưng vẫn theo học ở Văn khoa đồng thời với Di.
Mỗi ngày phải đi qua Thảo cầm viên để đến trường, do đó nơi đây đã trở thành chỗ chơi cho bọn con nít như Di. Bọn Di tung hoành khắp, từ nhà kiểng, chuồng gấu, chuồng khỉ đến sân khấu hòa nhạc lô. thiên ở cuối con đường chính - của giới trưởng giả và người Pháp. Những lần có khỉ giả nhân hoặc bạch tượng được đưa về là những dịp bọn Di trốn học để đi xem. Dù vậy, bọn Di rất ngại mỗi khi mạo hiểm vùng bờ sông phía sau sân khấu lộ thiên vì ở đó cây cối hoang dại rậm rạp hơn, nhưng lại có nhiều cây thuốc bắc (!) trái ăn rất ngon. Cho đến một ngày kia có người phát giác ra một xác c hết sình to trôi giạt vào bụi cây ở bờ sông phía đó. Từ đó bọn Di hết dám mạo hiểm tới: cảnh tượng người chết đó như một cái bóng tối phủ che hết khung cảnh thiên nhiên! Một chỗ khác có nhiều cây hồng và cây thị mà bọn Di vẫn mon men tới bắn ná và bắt chước Tarzan đu những dây leo thật dài, chằng chịt, nhưng cũng thường bị gác dan đuổi - là nơi sau này lớn hơn chút nữa, Di mới biết là trại giam những tù chính trị của chế độ.
Thời tiểu học, Di ngây thơ và ham chơi, bạn bè nhiều; nhất là từ khi trường Võ Trường Toản bỏ bậc tiểu học, chuyển hết học sinh qua trường Thạnh Mỹ của Di. Di hãy còn nhớ buổi chiều đó, một đoàn ho.c sinh mặc đồng phục quần kaki xanh cụt, áo trắng, đi theo lớp lần lượt băng qua cầu dẫn tới trường. Di có thêm bạn mới, trong số có đưa thân nhất là H nhà ở mãi tận cư xá hải quân gần Ba son công xưởng. Cùng H, Di khám phá ra khu phố từ chợ Thị Nghè theo đường làng vô trường Thạnh Mỹ, vì từ khi bà dân biểu cố vấn ra lệnh bán vé vô cửa Thảo cầm viên, để đi học, bọn học trò phải lấy xe buýt qua ngã cầu Thị Nghè rồi từ chợ phải đi bộ tới trường. Vả lại, cây cầu nối làng Thạnh Mỹ với Sở thú cũng đã bị giăng kẽm cấm qua lại hình như vì lý do an ninh. Có những biệt thự hàng rào hoa giấy, những cây mận, chó dữ, có những khu bình dân hơn nhưng có nhà vẫn có vườn kiểng, núi non bộ. Con phố dài từ sau chợ tới trường toàn là những dãy nhà thấp, hình như không cao hơn mặt đường lộ bao nhiêu!
Đó là thế giới tuổi trẻ của Di, một thế giới thu gọn, đơn sơ mà hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tầm thường, thoải mái, mà hình như Di chưa bao giờ kể lại cho người khác, cũng có thể vì Di chẳng bao gio +` gặp lại bạn bè thời tiểu học đó!
3.
Lên trung học, Di thi đậu vào trường Võ Trường Toản, cũng ở bên hông Thảo cầm viên và vẫn giữa những con đường có những hàng cây me cao rậm rạp mà có lẽ lúc này Di mới để ý đến. Di không phải là l oại học trò lúc nào cũng ganh đua để đứng đầu lớp, cũng không phải thuộc loại phá phách, thuộc `xóm nhà lá". Di thuộc loại tà tà, không dưới điểm trung bình nhưng cũng không quá cao; ngoại trừ năm đệ tứ Di và đám bạn ham làm báo và hoạt động xã hội như dự trại học sinh, năm đó bọn Di đều bị dưới điểm trung bình khiến ban giám đốc phải họp và ngoại lệ hạ điểm trung bình lên đệ tam xuống còn 9/ 20. Nếu không có hai thầy Tuân và Văn thông cảm, có lẽ bọn Di đã bị đuổi học hoặc phải đi binh nhì - không được cả trung sĩ, vì cùng năm đó bộ Giáo dục bỏ kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
Trường công nên kỹ luật sắt, nhất là hai thầy giám thị LCP và HVB tát học trò bất cứ vì lý do gì, có khi vì quên chào, có khi để một vạt áo rơi ngoài quần, có khi chỉ vì cười không đúng chỗ. Thầy t ổng giám thị thì dù bề ngoài cứng rắn, công bằng, nhưng có những lúc ông nhẹ lời khuyên bảo nhất là từ khi Di làm báo trường và ông biết Di có ý bắt chước thằng N bỏ học đường ra đời sớm, theo N ra Ðà nẵng đánh trống cho ban nhạc của Mỹ. Thầy tổng nổi tiếng về vẽ phụ bản sách giáo khoa và cũng mới qua đời ở cùng thành phố với Di.
Phép sư phạm thời ấy khô khan, nhồi sọ, lập đi lập lại. Cách học do đó có khi và đối với một số học sinh, trở thành một loại trái đắng, một đày đọa tâm lý phải chịu đựng, phải như mọi người; nếu không sẽ bị đuổi và không... tương lai! Ðối với những đứa học trễ tuổi, những khó khăn ở nhà trường trở thành một loại đe dọa tinh thần, vì nếu hỏng, quân trường sẽ... chào đón! Thầy cô, nếu tách rời từng cá nhân thì nhiều người rất đáng mến, cả thân mật với học sinh như các thầy Nhậm, Cẩm, nhưng tập trung lại thành ban giảng huấn thì hầu như ai cũng tỏ ra cứng, có trách nhiệm. Học t rò bị phạt dĩ nhiên sẽ trở thành nạn nhân, nhất là những phê phán... thiếu hiểu biết và có khi "vơ đũa cả nắm". Từ đó sinh ra bệnh "cúp cua", bắt đầu trốn học, chui hoặc nhả y hàng rào Sở thú. Sở thú vẫn là thế giới hoa mộng của Di, nhưng từ năm đệ lục hết cỏn là những thú leo cây, nghịch thú, xem trăn "xực" gà, gấu "xực" thịt, vv mà là đám áo dài trắng Trưng vương không biết vì lý do gì mà lúc nào cũng thấy có mặt trên các bãi cỏ hoặc thướt tha nơi những con đường chỗ trải nhựa chổ đất bụi. Dĩ nhiên có những môn học hoặc thầy cô không thành công thu hút bọn trẻ dù bọn Di có sức "chị u đựng" giỏi, nhưng làm sao tránh khỏi những ngày trời quá đẹp, tiếng gọi của đường mòn, tàn cây phía bên kia hàng rào và không giấu gì, của cả những con chim oanh biết nói biết cười, trở nên mãnh liệt hơn. Và rồi xe đã bỏ trong trường, dễ gì qua mặt mấy thầy giám thị nếu lấy lại để... đi dạo! Do đó chỉ còn một giải pháp là chui rào, đi bộ. Nhiều lần sau đó, thầy tổng đến lớp gọi tên lên văn phòng kỷ luật, lần đầu còn chối nhưng sau biết thầy có ống nhòm mà văn phòng lại đối diện với hàng rào Sở thú. Cũng vì mấy bóng hồng áo trắng ấy mà học sinh trường Di hay đánh lộn với đám Nguyễn Trãi và Chu văn An quen thói hay... đi lạc tới đó, nhưng nhiều khi có lẽ tại vì các cô con cháu bà Trưng thích... khách xa hơn là hàng xóm đã quen... nhẵn!
Có đứa có tài hoặc có số đào hoa cuối cùng cũng có được cái hẹn hò "danh chính ngôn thuận" hơn ở quán Hẹn. Nhưng có đứa... ngu hơn, như BKT mới đệ ngũ đã si tình đến độ có lần uống cả ống op talidon rồi nằm trên ghế của một xe nước đá đậu đỏ bánh lọt đối diện với cổng trường con gái chờ... chết, nhưng được cứu kịp thời. Có khi lại là những thất vọng sớm và... tốt, vì các cô k hi đi một mình thì bẽn lẽn đáng... yêu, nhưng khi đi thành nhóm thì lộ ra là... sư tử Hà đông, khiến anh chàng đâm ra... kiêng dè hoặc đi chỗ khác chơi!
Nhưng không phải chỉ có các cô học trò trường bạn mới là mẫu mực mỹ nhân cho bọn Võ Trường Toản, một vài cô giáo trẻ cũng làm... mê hoặc không kém đám con trai mới lớn. Như cô giáo Vạn vật mới ra tru +ờng năm đó rất trẻ, người mảnh khảnh, lúc nào cũng y phục trắng, nhưng vải pha nylon hơi nhiều; như cô Việt văn năm đệ tứ hay tới trường bằng xe thổ mộ từ Hòa Hưng thì phải, cô này hình dong rắn ch ắc hơn cô Vạn vật nhưng hay đổ... mồ hôi, do đó khi cô vung tay giảng là học trò lại cứ phải... đờ người, hụt thở. Xong giờ học với hai cô, thay vì nặng đầu thì lại bị... nhức tim, mờ mắt, mà cá c thầy hình như cũng theo mệt bỏ.
Song song với những hoang chơi và lối học hành tà tà nói trên, từ năm đệ ngũ, Di trở nên mê Việt văn (kim văn thôi), một phần có lẽ nhờ thầy HVB trước làm giám thị nay dạy Việt văn - ông vừa đậu xong hai bằng cử nhân Việt và Anh văn. Ông có những phương pháp rất hiệu quả để viết hay và... dài hơn bình thường, đó là viết nhật ký, thuyết trình và làm bích báo. Cũng từ đó bọn Di ra báo lớp và t ình nguyện làm báo Tết cho trường luôn. Chiến tranh lúc đó đã khá lan rộng, thiệt hại bắt đầu thấy có trong đám học sinh: đứa phải đi lính, đứa mất người thân phải bỏ học, nhưng đồng thời tác đo ^.ng tâm thần giới trẻ, đẩy đưa giới này suy nghĩ, "trưởng thành", dù tương lai hãy còn mờ mịt và ngã ba đường cũng không thiếu! Tờ báo Tết năm Di học đệ tứ hình như rất được hoan nghênh và gây tiếng vang đến các trường bạn. Di hãy còn nhớ bìa báo là chân dung một tuổi trẻ trừu tượng, bối rối, trầm tư, vẽ theo lối Ðằng Giao vẽ bìa Ðiệu Ru Nước Mắt của Duyên Anh - lối vẽ "mốt" thời bấy giờ, chỉ là những đường nét bút vẽ - thay vì thường là một hoạt họa, cảnh trí. Bên trong là những thao thức của tuổi trẻ về thân phận, đất nước, tương lai và dĩ nhiên có cả những chuyện tình học t rò. Một truyện ngắn của Di được chọn đăng trong số báo Tết năm đó. Cũng vì mê bạn bè và báo bổ mà Di bị ông thân la nhiều trận, lần bị la đầu, Di đã bỏ nhả đi bụi đời mấy ngày, ông thân phải l ên trường tìm và báo cho thầy tổng, Di đành phải... thông cảm, trở về... mái nhà xưa!
"Nghiệp" làm báo và viết lách đó sẽ đẩy đưa Di chọn Văn chương khi lên đệ nhị cấp và phải đổi trường sang Pétrus Ký. Di sẽ phải xa những con đường lá me, những tiếng ve khi chiều về, những áo trắ ng e ấp dưới nón lá, và cả cái thế giới Di đã sống từ khi 6 tuổi đến năm 15 tuổi. Khác với một vài đứa bạn cùng hoàn cảnh, Di dù có tiếc nuối vẫn thoải mái ra đi vì hình như Di chưa có được một tình yêu định nghĩa rõ ràng, nghĩa là dung nhan chưa rõ... nét! Di sẽ tập làm đàn ông và mê gái đến thất tình... thật ở trung tâm văn hóa Pháp đường Ðồn Ðất. Và đến gần cuối năm đệ nhị, Di mơ 'i học... thật, nhờ đó mà đậu cả hai bằng tú tài hạng cao. Di cũng sẽ rời cái thế giới hoa mộng trước đó để đi vào một thế giới trừu tượng, phức tạp của nhân sinh, một thế giới ý thức hệ mệt nghĩ và của những dấn thân, bãi khóa, xuống đường, v.v... Bạn bè của Di ở đoạn đời này cớ... đầu óc, biết suy nghĩ hơn và đâm ra chậm chạp, lầm lì hơn! Ðứa nào không ham đọc sách, không biết thảo luận, trao đổi về những vấn đề... lớn lao của thời đại sẽ chỉ là bạn tình cờ gặp trên đường. Những đam mê dấn thân, đấu tranh sẽ được chấp nhận, và ngược lại, những thứ tình bạn da diế t thường sẽ bị... tránh! Mới đó mà đã hơn ba thập kỷ, bao nước chảy qua cầu! Khi Di vào trường Thạnh Mỹ, ông thân đã ngoài 30, nay Di tuổi đời mới đó đã quá nữa đường "tứ thập như bất hoặc"!
4.
Tiếng hỏi của cô y tá người bản xứ đưa Di trở về với thực tại. Ông thân của Di sẽ chỉ tỉnh lại trưa mai, Di có thể về. Mọi sự đã tốt đẹp trở lại. Hy vọng!
Tuyết mà tiên đoán thời tiết loan báo sẽ rơi từ chiều đã trắng xóa mọi nơi, một trận tuyết trễ tràng của tháng tư Bắc Mỹ, đã non nửa mùa Xuân. Ở một khung trời khác, phượng vĩ đang đâm chồi, hoa sẽ nở rộ đẹp đẽ như một cuộc đời hạnh phúc!
Nguyễn Vy-Khanh
4-1997