vhnt, số 279
13 March 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................PCL
T h ơ :
1 - Hình như ....................................................Cát Như
2 - Tỉ như ........................................................MNguyen
3 - Chuyện mấy thằng .......................................Hàn Trân
4 - Giữ em .......................................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
5 - Theo dấu yêu này .............................Nguyễn Ðăng Tuấn
6 - Quà xuân '97 ..................................................Ian Bui
7 - Anh và em .....................................................Ðông-A
8 - Khi không ............................................Trần Hoài Thư
9 - Ngày của T. .........................................Trần Thái Vân
G i ớ i T h i ệ u N h ữ n g K h u ô n M ặ t V ă n N g h ệ :
10 - Từ Công Phụng: Một kết hợp tuyệt vời giữa ngôn ngữ và âm nhạc.......npn
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
11 - Nguyễn Du & Thơ Xuân .............................Nguyễn Vy-Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
12 - Tùy bút tháng giêng ..........................Trương Trọng Hoàng
13 - Lớp vỏ .................................................Phạm Chi Lan
Chúng ta hôn lên trán sớm
- Reneé Char -
Tôi ưa những câu thơ dậy sớm
Bước từ chân rùng lạnh sương đêm
Văn phạm ngày còn ngái mộng
Và hoa mai hồn nấn ná trăng cài
Hơi chưa hả hết Liêu Trai
- Lê Ðạt -
Giới thiệu một bài thơ ngắn của Lê Ðạt: Cảm xúc giữa giao điểm ngày và đêm, giữa thức và mộng, về một ý thơ thật ngây thơ, dung dị và trong trẻo như sương sớm, như hồn hoa mai chưa hả hết giấc mơ có người đẹp Liêu Trai còn nấn ná ngồi vắt vẻo trên một vành trăng cài ở lưng trời, và cảm giác tuyệt diệu của lúc đón ngày ... Nhà thơ hôn lên trán buổi sáng, lòng nhẹ tênh và vui như đứa bé con vừa thức giấc có gói quà của mẹ đặt bên cạnh, nào dậy đi chú bé con, dù cho ngôn ngữ buổi sáng vẫn còn chưa tỉnh táo, nhưng là một thứ ngôn ngữ đẹp tinh khôi và trong suốt như pha lê, soi thấu tâm hồn, rõ những giấc mơ, từ vô thức và ẩn hiện thấp thoáng chút thực tại, những câu thơ dậy sớm là những câu thơ trao trọn ý nhất của nhà thơ!
Gửi bạn đọc vhnt số này với một nội dung phong phú. Giới thiệu Cát Như và MNguyen, hai tác giả mới cộng tác lần thứ nhất, vô tình mà 2 bài thơ như lời đối thoại, "hình như" và "tỉ như"... Phần thơ lại thêm những sáng tác mới của các tác giả góp mặt thường xuyên, mỗi bài thơ cho thấy tác giả đã có một nét thơ riêng. Nguyễn Phước Nguyên giới thiệu một nhạc sĩ tài danh của âm nhạc VN, nhạc tình Từ Công Phụng là một thông điệp muôn đời của tình yêu, lúc làm dịu ấm lòng, lúc làm tim xót xa. Nguyễn Vy-Khanh với bài về Nguyễn Du và thơ Xuân, những bài thơ dịch mới của cụ Tố Như và đề tài Nguyễn Du sẽ không bao giờ cạn hết ý. Mời bạn đọc thưởng thức.
Chúc bạn một ngày vui và lâng lâng như "ngày còn ngái mộng".
thân ái,
PCL/vhnt
HÌNH NHƯ
hình như là nỗi nhớ
hình như là giấc mơ
sau lẫn đầu gặp gỡ
em bỗng biết mong chờ
hình như chuyện tình cờ
cả tuần anh chẳng gọi
để bao lời muốn nói
em đành giấu trong thơ
thơ chỉ mình em đọc
mình em nghĩ vẩn vơ
trên con đường tới lớp
nhớ anh đến ngẩn ngơ
có phải là tình yêu?
em chẳng dám nghĩ nhiều
sợ bạn bè chế giễu
"con nít bày đặt yêu!"
Cát Như
TỈ NHƯ
Tỉ như mình không gặp
em đâu phải vui nhiều
sẽ buồn biết bao nhiêu
khi trong tay... đã nhớ...
Tỉ như anh đừng ngỏ
em về không ngẩn ngơ
Ðời sẽ qua êm ả
dêm ngủ không mộng mơ
Em, đời một dòng sông,
nhánh rong chơi vô cùng
Thuở anh chưa là biển
sông lang thang tung tăng
Sông lang thang
tung tăng,
nào có bờ có bến,
nào có cội có nguồn
những hôm sông mệt mỏi,
hoá thân làm mây bay
hoá thân làm mưa rơi
ung dung,
thênh thang...
Sao anh là biển khơi,
gom những nước vô tình,
nhốt em trong lò ngải,
vô tình bắt hữu tình...
mưa tắm gội biển khơi,
nên biển khơi xanh mát?
mưa đẫm lòng biển khơi,
nên biển khơi bát ngát?
từ đó em trở lại
đời sông cũ xa xưa,
thôi rong chơi phiêu lãng
em thôi, không tung tăng...
Từ đó, em dòng sông
trăm con về một hướng
trăm nhánh đổ một phương,
về nơi vùng biển rộng
nên biết nỗi đợi mong...
Tỉ như đừng tình cờ,
sông không đi lang thang
tỉ như đừng là duyên,
mưa rơi không gặp biển
tỉ như...
không gặp gỡ,
đời có là cơn mơ?
đời có buồn vu vơ?
sông có còn như xưa?
biển có sầu thương mưa?
MNguyen
1/97
Chuyện Mấy Thằng
Tuổi học trò mấy thằng tôi lêu lỏng
Ngẫm sự đời bằng thuốc lá, cà phê
Chuyện gái trai mơ với mộng tràn trề
Từ chinh chiến người bạn thân ngã gục
Ly chanh muối mưa Sài Gòn mát lạnh
Nguyễn Du chiều quán sá Trịnh ngân nga
Tình cát bụi. Ru con ngũ âm ngà
Xin thượng đế bình an, ngừng tiếng nấc
Trời mưa nắng, tối hay trưa chẳng nhớ
Chôn sống rồi tức tưởi Sài gòn ơi
Ngỏ âm u trùm kín cả cuộc đời
Người chết điếng kẻ xuống đường tự sát
Bọn tôi đó tình bỗng như ốc nhạt
Ðứa âm trầm, đứa trở mặt "hồng" quan
Ðứa ra đi ôm ngấn lệ hai hàng
Thằng ở lại cúi đầu ôm tê tái
Bên hiên đổ với chung trà sót lại
Nhạc Trịnh chừ ca kỹ rũ phong sương
Nhìn quanh co lắm ngạ quỉ vô thường
Nghe cay đắng những người câm đột ngột
Ðời u tối tìm trùng dương sóng vỗ
Tạ từ rồi thoáng chốc mấy chục năm
Bỗng mênh mang nhung nhớ chuyện mấy thằng
Thương cho nấm xương khô vưà bị quật
Hàn Trân
Giữ Em
Chết mày thằng đạo đức giả,
Mỗi sáng rửa mặt mày phải soi gương.
Chết mày thằng đâm lưng bạn,
Ra đời mày sống với ai?
Chết mày thằng ăn của dân,
Mày sống thấp thỏm lo âu trong lòng.
Chết mày thằng làm chính trị,
Mày đi nói dối với trời.
Ơ kìa, tại sao em khóc?
Chị nói thật quá phải không!
Chị chửi thẳng quá phải không!
Chị phải luôn nêu sự thật,
Mai em không ngã lấm bùn...
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
Theo dấu yêu này
tặng Phương Minh (C.A.)
Tôi đã yêu em bên tình ấm
Khi nắng ban mai cũng vừa lên
Phố xa’ hôm nay say mầu đắm
Bên bươ’c xuân sang say tình duyên
Em đến bên tôi khi chiều tối
Em đã mang theo bao niềm vui
Tôi đã quên mau nỗi niềm đắng
Khẽ đến bên em tôi ngập ngừng
Em đã cho tôi thêm ngày nắng
Biết đón đưa em theo về trưa
Biết hát ca dao khi quạnh vắng
Và nhớ em thôi đến cuối ngày
Biết nói tên em không hỏi mãi
Theo dấu yêu thương về bên nhau
Em cuốn tôi đi miền thương nhớ
Tôi cố thêm thôi dăm dặm dài
Em dấu yêu ơi tôi hỏi khẽ
Em dã mang tôi đi về đâu
Như nắng như mưa bên bờ bãi
Yêu dấu em tôi mãi cuộc đời
Nguyễn Ðăng Tuấn
Chú thích của vhnt: Bài thơ dưới đây của ian bui được đăng với ký tự "non-VIQR" theo tác giả yêu cầu, vì đó là một hình thức để diễn đạt ý thơ. Tác giả cho rằng đó là một đặc tính "tiến hóa" (làm mới) một bài thơ!
(Nguyên văn của ian bui: think of it as part of the poem's "evolutionary" character:-))
Qua` Xua^n '97
Ba^t' ngo*`, nha^.n ddu*o*.c e-mail
tha<ng` em o*? cho^n' que^ ngheo` go*i? khoe:
"Mung anh nam moi nam me,
bon em sap sua hui he lam an!
Cong-ty Dien-toan Kinhddoanh ..."
... vu*a` nghe dda~ bie^t' ddu.ng nganh`
nay mai ro^i` se~ cung~ thanh` ky~ co^ng.
Co' ddie^u` hai ddu*a' tay kho^ng
dam' cho*i nay` cha<c' cha<ng? ngo^ng cung~ li`.
Hay la` tho*i` dde^n' co' khi ...
"... bat ngay keo no vuot di,
rach lau gio chang con gi de thua.
Mien sao thiet ke cho sure
ha tang cho som la dua duoc roi ...
Mot khi mang noi xong xuoi
bon em se dien thu moi anh sang
homepage, dau do dang hoang (-:)
Chuc anh manh khoe, van an.
Em,
Phung"
... Ddo.c to*` thu* phat' nghi~ lung,
chu du trai' dda^t' nu*a? vong`!!
Cung~ xa...
Da<m bytes tie^`n cu*o*'c mu*o*.n qua`:
"Chu'c tu*o*ng lai vu*ng~,
Ma.nh nha` no tra^u!
anh"
2'97
ianb (dinh suu)
Anh và em
Trong chiến tranh không có anh và em
Sao tháng năm xưa cứ hằn lên trán
Nỗi buồn của anh không san em được
Nỗi đau của em chẳng xẻ được sang anh
Vườn nhà anh hố bom thành ao cá
Mái nhà em đạn sạt sập hiên ngoài
Anh lớn khôn giữa mùa thu hoa sữa
Em tảo tần mùa hạ lá me bay
Trái đất tròn khiến anh lại gặp em
Khi đã tưởng chẳng bao giờ gặp được
Hai con người, hai mảnh đời, hai số phận
Nhưng éo le theo hai hướng ngược chiều
Có lẽ nào em ơi,
giọt nước mắt em rơi không thấm vào hồn anh vị mặn
dao cắt tay anh em chẳng xót xa lòng
Chẳng thể nào đâu em, dù đường đời muôn ngả
Anh và em không thể mãi dối mình
Khi chúng ta cùng bọc trứng sinh ra
Cùng lớn khôn trong câu hò điệu hát
Canh rau muống mát lòng mùa hạ
Củ khoai vùi ấm những đêm đông
Chín chín con voi quay đầu chầu đất Tổ
Trống đồng vang mãi khúc khải hoàn
Hơi thở trong anh nồng hương của Ðất
Dòng máu trong em vị Nước hòa cùng
Dù anh và em, hai nẻo đường trái ngược
Chúng ta cùng một Ðất Nước, em ơi!
Năm tháng xưa không có anh và em
không thể nào khác được
Trời trong xanh đỏ thắm đóa hoa đời
anh và em đã khóc
Nhưng em ơi không thể nào, không thể
Tháng năm này Ðất Nước thiếu chúng ta.
Ðông A
Khi Không
Thôi thì bỏ ngược về xuôi
Bỏ đuôi thắt bím bỏ lời nớ ni
Thì thôi, răng rứa mô ri
Gặp nhau một buổi thương, thì, ngàn năm
Em về xứ ấy xa xăm
Ðể con chim sáo trong lồng buồn thê
Khi không một mái tóc thề
Lồng nan nón Huế còn đề bài thơ
Khi không cách trở sông đò
Ðể anh lại nhớ một bờ quạnh hiu
Khi không chim lạc gọi chiều
Ðể anh lòng dạ trăm điều bù xu
Khi không em ra vườn sau
Khi không Kim Trọng mắc bùa lỗ bang
Khi không lạ, khi không thân
Khi không có một người mong một người
Khi không người nớ bên trời
Khi không nắng sớm mưa chiều nhớ nhung
Khi không, thì cũng khi không
Khi không anh bị, khóa còng, cùng em
Trần Hoài Thư
NGÀY CỦA T.
Sáng nay anh chợt nhớ Hong Kong
Nhớ tóc em xanh, má em hồng
Ðầu thu nắng nhạt như ngày nọ
Sưởi ấm chiều đông nắng mênh mông
Anh biết cuộc đời qua rất vội
Thời gian nào đủ nhớ về nhau
Tự thuở đôi ta yêu vô tội
Hồng hoang còn lại đoạn tình sầu
Và còn trong anh một đồi thông
Có em e ấp, mắt buồn trong
Có những giận hờn vô cớ quá
Giữa chiều vàng nhạt phấn mênh mông
Từ lúc vụng về ngây thơ đó
Anh lớn dần theo những tháng năm
Về em, anh vẫn thường nhung nhớ
Như tối ba mươi nhớ trăng rằm
Và tiếng hát em còn vang vọng
Hương nồng năm nọ vẫn chưa qua
Ðường khuya nhẹ bước sương mù đọng
Nhớ em xuân nở thắm ngàn hoa
Thời gian biến hoá nhiều vô kể
Nửa vòng trái đất một đời thay
Hai lối không cùng, lần hẹn trễ
Ngàn năm hoài tiếc mộng vàng bay
Giờ thì nhạn, én đường xưa lạc
Chẳng biết em còn nhớ anh không
Thì thôi, thôi cũng mờ chân vạc
Trong anh còn lại kỷ niệm hồng...
trần thái vân
Từ Công Phụng, Một Kết Hợp Tuyệt Vời Giữa Ngôn Ngữ và Âm Nhạc
tôi như dòng sông cạn cuốn quanh đời mệt nhoài.
cuốn theo giòng nghiệt ngã,
buồn rơi theo năm tháng, úa trên lưng tháng ngày
tôi mang hồn cỏ dại, ngu ngơ tự hỏi lòng:
bỗng một ngày thiên thu, bỗng một đời phù du
(Từ Công Phụng - Đời Bỗng Phù Du)
I. NHẬP
Một buổi chiều. Mùa thu.
Mây trắng bay.
Nắng vàng vọt rớt trên hè phố.
Người đàn ông đứng tuổi lặng nhìn cô bé ngồi cách mình không xa. Cô bé có mái tóc huyền, đăm nhìn theo những cánh chim bay khuất với một nét buồn tao mặc. Dáng cô bé thon gầy, như hao mòn cùng năm tháng. Người đàn ông chợt ước ao, chợt khát khao mình có thể xóa tan mây trời trầm lắng đang xuống thấp dần lên cuộc đời cô bé.
Nhưng người đàn ông vẫn ngồi đó. Lặng yên.
Mưa nhẹ rơi...
Từng giọt mỏng...
Long lanh lên khóe mắt cô bé...
Người đàn ông cũng nghe cay vùng mắt.
Lâu lắm rồi... Cuồng lưu dòng sống đã làm người đàn ông xa lạ với những cảm xúc đơn thuần nhất của con người - nụ cười, tiếng khóc.
Nhìn cô bé ngồi đó, với những bước chân linh hồn đầu đời xa rời thơ ấu, người đàn ông chợt nghe lòng mình rét mướt, chao theo từng giọt mưa rơi.
Cô bé đứng dậy, bước xa dần theo lối nhỏ của công viên. Dáng cô bé đổ dài lên nỗi buồn của người đàn ông, lên nỗi buồn của thời gian đang chất chồng lên mái tóc hơn nửa phần xóa trắng.
Người đàn ông nghe vọng lên trong tim mình một niềm đau xót. Cho bước chân lạc loài của cô bé. Cho hồn nhiên thoáng mất. Cho ưu tư kéo về. Cho lưu đày tuổi trẻ. Và cho chính bản thân mình - cũng lạc loài, cũng lưu đày, đã hơn nửa lần thế kỷ...
II. NGÔN NGỮ CỦA ÂM NHẠC
Thế đó. Là ngôn ngữ của Từ Công Phụng (TCP). Đoạn nhập đề trên là những gì đã hình dung ra khi nghe bài Còn Một Buổi Chiều của tác giả. Không chỉ nghe ra. Mà còn nhìn thấy. Còn cảm nhận đến.
Thế đó. Là ngôn ngữ của TCP. Man mác. Nhẹ nhàng. Lãng đãng. Ẩn mật. Mang nhiều hình ảnh của một cõi trời tâm sự. Không ạt ào thác đổ. Mà là những chắt chiu đằm thắm. Những nâng niu tận cùng.
TCP không chỉ là nhạc sĩ của tình yêu. Nói đúng ra, tình yêu chỉ là dòng sông để TCP chuyên chở và phản ảnh tâm hồn mình. Trong giòng sông đó có phù sa cuộc sống, có bọt bèo thân phận, có vẩn đục tương lai, có trong veo kỷ niệm.
Từ Bây Giờ Tháng Mấy, bài nhạc đầu tay năm mười tám tuổi, cho đến những sáng tác sau đó, TCP đã chọn bước vào âm nhạc bằng đam mê trầm lắng. Không ồn ào. Không vội vã.
Người về nghe tiếng hát âm vang
Trên vùng tuổi đa đoan
Người về nghe những âm vang
Trên cùng tuổi cưu mang
Người đan hơi thở bên nhau
Dù trời chợt sáng, xin tình chưa nghe muộn màng (1)
Ngôn tứ đó, là của riêng TCP. Ngay sau mỗi câu hỏi được mở ra, câu trả lời kết đọng. Dưới rực sáng của quên lãng phơi bày, là nhớ nhung khép kín.
Gom một chút nắng vàng
Hắt lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua
Em tìm thấy chút gì -
Có phải chăng rạn vỡ lên tâm hồn chúng ta ? (2)
Đêm nay, bên thềm
Nhìn anh, em khẽ nói: "Ngày mai anh đi rồi,
Anh có buồn gì khôn ?"
Buồn không, hỡi người đã đi rồi? (3)
Sâu sắc. Ý nhị. Bởi người ở lại thường buồn hơn kẻ ra đi. Nhưng với TCP, người ở lại chỉ quan tâm đến nỗi buồn của kẻ ra đi. Thật ân cần. Đơn thuần. Chấp nhận.
Ở đó, là những lấp lánh ngọt ngào của TCP, khi nói về quê hương. Một quê hương muôn trùng xa khuất được thể hiện qua một tiếng gọi "Em!" dịu dàng, cay đắng.
Ai chia vạt nắng se buồn
Như ta rồi cũng xa nguồn
Làm sao cho em biết tình ta vẫn lấp lánh
trong cõi hồn bát ngát?
Làm sao cho em thấu tình ta
như núi biếc, như sông dài, biển rộng?
Xin giữ cho nhau những khoảng đời nhớ mông lung.
Tình là trùng dương sóng vỗ chập chùng.
Mảnh hồn ta nay đã khuất nơi nao,
Đời sầu mấy chuyến thương đau
Mà nỡ chôn vội mấy kiếp trùng khơi... (4)
Ở đó, là những long lanh bất chợt của TCP, khi nói về hạnh phúc. Một hạnh phúc hao gầy, trong hụt hẫng chia ly. Không bao giờ là đớn đau tuyệt vọng, mà là sống cho trọn vẹn với mất mát vây quanh.
Lắng nghe muôn cung sầu hắt xuống đời
Một trời tôi thương đau, một trời em mưa mau
Sống buông xuôi theo ngày tháng
Từng thu qua, vời trông theo đã mờ
Lệ rơi trên tim tôi, lệ rơi trên đôi môi
Yên nhau một thời, xa nhau một đời
Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi... (5)
Ở đó, là những lặng câm nhỏ máu của TCP, khi nói về tình yêu. Một tình yêu ngây ngất hương thơm, giữa vô vàng tiếc nuối. Không bao giờ là kêu gào than khóc, mà là tận tụy với đam mê về một thiên đường đã khuất.
Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên
Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình
Niềm cay đắng
Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền
Còn in vết hằn đời mình
Người ơi hãy ru hồn ta ngủ quên... (6)
Ở đó, là những chắt chiu vơi đầy của TCP, khi nói về cuộc sống. Một cuộc sống miệt mài tư duy cùng muộn phiền thân phận. Những điều TCP sẻ chia không nằm trong lời hát , mà nằm sau những gì lời hát không nói ra.
Có những điều tôi muốn nói cùng em
Vẫn vời vợi trên cao,
Những điều tôi muốn hiểu
Vẫn mù cõi vực sâu... (7)
Dường như ngay khi ý niệm vừa thành hình trong tư tưởng, TCP đã tự chọn cho lời nhạc của mình một định mệnh - Mỗi dòng chữ là một gắn bó với kỷ niệm, dẫu đang phai mờ dần theo thời gian, vẫn không bao giờ tuyệt tích. TCP đặt chữ nghĩa vào âm nhạc như phó thác từng hơi thở sau cùng của tình yêu vào căn phần mặc tưởng.
Mỗi bài hát là một vết hằn thăng hoa lên phiến đời huyễn hoặc.
III. ÂM NHẠC CỦA NGÔN NGỮ
Từ bao giờ, khi viết về nhạc phẩm, người ta chỉ thường hay nhắc đến những lời nhạc tiêu biểu của tác giả, rồi sau đó là vài phát biểu đơn sơ về tiết tấu và kỷ thuật hòa âm. Thật là một thiếu sót lớn khi đa số các bài viết về nhạc sĩ đều dành cho phần "lời" nhiều hơn phần "nhạc".
Bởi ở đó, là nét tuyệt vời và độc đáo nhất của nhạc TCP, nhất là khi TCP tự trình bày những ca khúc của mình - bằng những nốt nhạc chợt vút cao và tắt hẳn, bằng những chữ được hát lại hai lần liên tiếp, bằng những âm thanh rơi từ đỉnh cao vào trầm thấp.
Khi TCP hát nỗi muộn phiền ngày tàn HƠI THỞ, em thấy không cõi đời vô vọng... (8), người nghe liên tưởng ra sự chết dần của nhịp sống khi nốt nhạc của hai chữ "hơi thở" được hát vút lên cao rồi tắt hẳn trong mong manh của làn hơi rung.
Khi TCP hát Trên từng thung lũng buồn, từng thung lũng buồn, mùa thu đã đã trở mình trên gót nhỏ dìu em đến người... (9), người nghe cảm nhận được sự chập chùng của những thung lũng mùa thu đã sống lại dưới gót hài tình yêu bằng lời hát được lập lại hai lần. Cũng thế, với hãy ôm trọn, ôm trọn tuổi xuân, có một lần vui thôi em... (10), TCP đã dùng sự lập lại của hai chữ "ôm trọn" để diễn tả thật tuyệt vời, thật trọn vẹn một nhắn nhủ ân cần về những hạnh phúc mong manh trong cuộc đời mà mỗi chúng ta ít khi tìm thấy.
Khi TCP hát rồi niềm vui bay ngang, miền tuổi vàng nắng và gió CUỐN... lá RƠI đầy, tuổi nầy người đâu có hay... (11), chữ "cuốn" vút cao rồi tắt hẳn - như mất tích, chữ "rơi" được hát ngân dài từ nốt nhạc cao xuống nốt nhạc trầm. Dùng âm thanh để diễn tả hình ảnh của chữ nghĩa, đến thế, quả thật là nát ý.
Còn nữa, còn rất nhiều nét tuyệt vời, chất chứa như vậy trong âm nhạc của TCP để làm diệu huyền chữ nghĩa. Từ long lanh rực rỡ của Ôi, nỗi dịu dàng nào đã ngời SÁNG trên môi người... (9) đến tiếc nuối tịch trầm của cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người vào trùng dương khép KÍN u mê ngàn đời... (12). Từ chìm sâu tiếng nấc của kỷ niệm nào như muốn KHÓC, nên tôi xin một lần được trao hết cho nhau bằng một lần đôi mắt nai tơ... (13) cho đến ngọt ngào đón nhận của cho tôi xin một lần chân em lại gần, để vòng tay ôm HẾT dung nhan... (1). TCP đã đưa âm nhạc của ngôn ngữ đi vào một chiều nghệ thuật sâu hơn. Rộng mở hơn. Cô đọng hơn.
IV. KẾT
Thôi, cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên
Thắp đời em sáng lung linh buồn một cõi riêng...
Thôi, cũng đành như kiếp rong rêu một lần hóa thân
Cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang...
Thôi, cũng đành như tấp gương tan mờ phai vết xưa
Xót dùm cho tấm thân ta - ngựa bầy đã xa
Những đêm mơ thấy tan hoang hương tình vừa chớm
Muộn màng... (14)
Một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo
Nghìn con sóng gào bạc đầu
Nhẹ xô lên dấu chân ghi cuộc tình nhòa trên cát.
Lời người nghe đã chợt lạc loài
Trên thân dã tràng tủi phận,
Hoài công tháng năm se cát biển Đông... (12)
Từng ấy âm thanh. Từng ấy chữ nghĩa. Nghĩ, cũng đã đủ để TCP nói về mình, về thân phận mình, về tình yêu, hạnh phúc. Đoán suy nào, cũng thiếu. Cắt nghĩa nào, cũng thừa.
Giữa một nền âm nhạc Việt Nam hải ngoại chỉ chú tâm đến ca sĩ thay vì nhạc sĩ, chỉ chú tâm đến những bắt chước lai căng thay vì triển khai sáng tạo, giọng hát và lối diễn tả của TCP với từng nhạc phẩm của mình là một minh chứng tuyệt vời cho sự ký thác trọn vẹn của một linh hồn, của một đời người vào khung trời âm thanh nghệ thuật. Khung trời ấy vốn cô đơn, và hiu quạnh. Nhưng hiu quạnh hơn, cô đơn hơn, là những con người chọn bước âm thầm vào khung trời ấy bằng con tim hiến dâng cho âm nhạc. Và ở lại. Tận tụy. Như thế. Gần trọn đời mình. Và những sáng tác được ươm mầm và thành hình trong khung trời đó là những que diêm lóe sáng, là những viên cát hiến dâng.
Điều tuyệt vời nhất của nhạc TCP không chỉ nằm ở những lóe sáng đó, những hiến dâng đó. Bởi đó, là những lung linh hữu hạn.
Điều tuyệt vời nhất của nhạc TCP là khi que diêm đã tắt ngúm đi, chiều sâu của màn đêm trong mỗi chúng ta đã được đo lường.
Điều tuyệt vời nhất của nhạc TCP là khi viên cát đã vỡ tan vào lòng biển bầt thinh, con tim trong mỗi chúng ta vẫn còn mang âm vang của một đời sóng vỗ, của một trùng dương thầm lặng thiên đường.
Mà đó, là những thanh vọng vô cùng. Những trầm khơi bất tận.
Nguyễn Phước Nguyên
Trích chú:
(1) Mưa Trên Ngày Tháng Đó
(2) Trên Tháng Ngày Đã Qua
(3) Mùa Thu Mây Ngàn
(4) Qua Vùng Biển Nhớ
(5) Giọt Lệ Cho Ngàn Sau
(6) Kiếp Dã Tràng
(7) Thiên Đường Quạnh Hiu
(8) Mắt Lệ Cho Người
(9) Như Ngọn Buồn Rơi
(10) Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên
(11) Người Về Trên Mây
(12) Kiếp Dã Tràng
(13) Lời Cuối
(14) Như Chiếc Que Diêm
NGUYỄN DU & THƠ XUÂN
Nhà thơ đất Tiên Ðiền nổi tiếng đã hai trăm năm và chắc là còn nhiều trăm năm sau nữa với Truyện Kiều. Nhưng Truyện nàng Kiều lưu lạc 15 năm không phải là tác phẩm duy nhất, Nguyễn Du còn lưu lại nhiều bài Văn Tế nổi tiếng và hơn 240 bài thơ chữ Hán đến nay vẫn được nghiên cứu và mỗi ngày mỗi thêm khám phá mới kể cả chính trị và hiện sinh hóa. Thật vậy, thơ chữ Hán Nguyễn Du cung cấp nhiều hiểu biết về thân thế, con người và nhất là tâm hồn đa cảm của nhà thơ đồng thời giải đáp một số ẩn tình, khúc mắc trong truyện Kiều.
Trong số hơn 240 bài thơ chữ Hán, Nguyễn Du chỉ có vài bài về Xuân nhưng thơ Xuân của ông là thơ buồn và xuân của ông ảm đạm và tê tái hơn thơ Xuân bao nhiêu thi sĩ khác. Xin ghi lại 5 bài.
1. Xuân Nhật Ngẫu Hứng
Hoạn khí kinh thời hộ bất khai,
Thoan tuần hàn thử cố tương thôi.
Tha hương nhân dữ khứ niên biệt,
Quỳnh-hải xuân tòng hà xứ lai?
Nam phố thương tâm khan lục thảo,
Ðông hoàng sinh ý lậu hàn mai.
Lân ông bôn tẩu thôn tiền miếu,
Ðẩu tửu song cam túy bất hồi.
Ngẫu Hứng Ngày Xuân
Cửa cài hàn khí quẩn quanh,
Ðông đi Xuân thắm mùa nhanh theo về.
Ðầy năm mới đó xa quê,
Xa xôi Quỳnh-hải xuân về thật chăng?
Bến Nam cỏ biếc lòng tang,
Xuân hàn hé nụ mai vàng ngỡ trông.
Miếu thôn hàng xóm lão ông,
Say sưa cam rượu chẳng mong đường về.
(bản dịch NVK 1997)
2. Xuân Dạ
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm.
Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu,
Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm.
Ky lữ đa niên đăng hạ lệ,
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm.
Nam đài thôn ngoại Long giang thủy,
Nhất phiến hàn thanh tống cổ kim.
Ðêm Xuân
Bóng đêm khỏa lấp ánh Xuân,
Song thưa liễu rủ âm thầm làm sao.
Giang hồ ngã bệnh đã lâu,
Xuân về mà gió mưa thâu đêm ròng.
Chong đèn rơi lệ lưng tròng
Quê hương vời vợi nỗi lòng trăng thâu.
Ôi Long-giang, hỡi Nam đài,
Một dòng sông lạnh xưa nay trôi hoài.
(bản dịch NVK 1997)
3. Xuân Tiêu Lữ Thứ
Tiêu tiêu bồng mấn lảo phong trần,
Âm lý thiên kinh vật hậu tân.
Trì thảo vị lan thiên lý mộng,
Ðình mai dĩ hoán nhất niên Xuân.
Anh hùng tâm sự hoang trì sính,
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần.
Nhân sự tiêu điều Xuân tự hảo,
Ðoàn thành thành hạ nhất triêm cân.
Ðêm Xuân quán khách
Phơ phơ mái tóc rối phong trần,
Lặng lẽ thầm kinh vật biến tân.
Chằm cỏ chưa tan ngàn dặm mộng,
Thềm mai đã đổi một năm Xuân.
Anh hùng dạ lấp đc)ng dong ruổi,
Danh lợi chân ê bước nhọc nhằn.
Người dẫu đìu hiu Xuân vẫn đẹp,
Thành Ðoàn thơ thẩn lệ dầm khăn.
(bản dịch Quách Tấn 1969) (1)
4. Thanh Minh Ngẫu Hứng
Ðông phong trú dạ động giang thành,
Nhân tự bì thê thảo tự thanh.
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh.
Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã thốc thời văn chiến phạt thanh.
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
Mạc giao mao thảo cận giai sinh.
Tiết Thanh Minh Ngẫu Hứng
Gió đông lay động giang thành,
Người buồn buồn rủ, cỏ xanh xanh rì.
Ngày Xuân mình đã qua thì,
Thanh minh không rượu lấy gì làm vui.
Ca vè vườn ruộng học đòi,
Ngoài đồng nghe khóc tưởng hồi chiến tranh.
Nỗi buồn lữ khách mông mênh,
Ðừng cho săng cỏ mọc quanh thềm nhà.
(bản dịch khuyết danh) (2)
5. Mộ Xuân Mạn Hứng
Nhất niên Xuân sắc cửu thập nhật,
Phao trịch Xuân quang thù khả liên.
Phù thế công danh khan điều quá,
Nhàn đình tiết tự đãi oanh thiên.
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại,
Thiên tuế trưởng ưu vị tử tiền.
Phù lợi vinh danh chung nhất tán,
Hà như cập tảo học thần tiên.
Cảm Hứng Cuối Xuân
Một năm Xuân chỉ chín mươi ngày,
Cảnh Xuân phung phí đáng tiếc thay!
Công danh như én bay qua cửa,
Sân vắng chim oanh dời đổi đây.
Hữu tình là giống không thoát khỏi,
Nghìn năm lo mãi lúc buông tay.
Danh lợi rồng mây tiêu tán hết,
Chi bằng theo kíp đạo thiên thai.
(bản dịch NVK 1997)
Qua năm bài thơ viết về mùa Xuân của đất trời, Nguyễn Du đã chứng tỏ có một tâm hồn bao la rộng lớn, một nòi tình mênh mang tình cảm thâm sâu, hiểu biết, thương người và thương thân. Hai bài đầu Xuân Nhật Ngẫu Hứng và Xuân Dạ ông viết giữa những năm 1786-1795 - nhà thơ Quách Tấn gọi là Mười Năm Ðất Khách và cụ Lê Thước coi là Mười Năm Gió Bụi, là thời gian thi hào phải về ẩn tránh ở quê vơ. huyện Quỳnh-Côi (Quỳnh Hải) tỉnh Thái Bình sau khi cuộc Cần vương phò Lê thất bại. Vừa nghèo vừa cô thế, ông đã phải nếm nỗi phong trần, tóc chưa bao tuổi đã bạc trắng! Hai bài cuối được viết và o những năm làm quan ở Bắc hà (1802-1804). Bài Xuân Tiêu Lữ Thứ được làm vào Xuân Giáp tí (1805) ở Lạng Sơn (Ðoàn thành) khi nhà thơ đi đón sứ thần nhà Thanh. Về quê vợ hay đã ra làm quan đối với Nguy ễn Du là những tình cảnh bó buộc; ông tự coi như bị đày, do đó thường đau khổ, nhớ nhung quê nhà là đất Hà Tĩnh nơi làng Tiên Ðiền cạnh sông Lam (Long giang) núi Hồng. Cũng như về sau làm cai bạ ở Quảng Bình hoặc làm quan ngay tại triều đình Huế, ngoài quê nhà Tiên Ðiền ra, với Nguyễn Du, nơi nào cũng là xứ người và ông bị lưu đày! Dù chỉ xa vài trăm cây số, ngay trên quê hương, Nguyễn Du đã có những bài thơ Xuân thật buồn thấm thía. Người Việt chúng ta nay hơn hai triệu ở khắp năm châu, cái buồn lưu đày, xa xứ chắc phải thâm sâu hơn ; nếu không sao có những kêu thương buồn nhớ của Thanh Nam, Cao Tần, Du Tử Lê, Hoài Việt, Trần Hồng Châu, Luân Hoán, v.v..! Trong chúng ta chắc có người muốn sống cái thân phận lưu đày kiểu Nguyễn Du vì có thấm thía gì so với cái 'xa quê' ở cuối thế kỷ XX hô m nay! Và cái buồn lữ thứ cô đơn rất cá nhân của Nguyễn Du chắc cũng không thể sánh bằng cái buồn tập thể và cá nhân của người Việt "phải" xa xứ và "chưa" thấy được ngày về!
Nguyễn Vy-Khanh
Chú:
(1) Tố-Như Thi (Sài Gòn: An Tiêm, 1973). Tr. 98.
(2) Trích Thơ Chữ Hán Nguyễn Du (Lê Thước & Trương Chính. Hà-nội: Văn Học, 1978, in lần hai). Tr. 158.
TÙY BÚT THÁNG GIÊNG
Mỗi khi gặp một người mới quen nào, tôi lại nhận được câu hỏi "Where are you from?". Tôi trả lời "I'm Vietnamese". Có người nhìn tôi với cặp mắt tò mò, có người nhìn tôi dửng dưng, có người trên khuôn mặt thoáng hiện một sự ác cảm. Tôi không biết trước đây họ đã gặp những người Việt Nam nào chỉ biết mỗi lần như thế lòng tôi lại không yên. Lắm lúc tôi cứ muốn mình trở thành một công dân Trái đất không thuộc một quốc gia nào. Có người nói Michael Jackson phẫu thuật thay dổi khuôn mặt nhiều lần: làm trắng da, mũi cao, môi mỏng để không phải bị xem là negro hay ít ra là quên rằng anh ta
là negro. Tôi thì không đủ khả năng để làm chuyện đó và nếu có làm thì cũng không biết phải trở thành người của chủng tộc nào. Thế mới biết mình sinh ra đời đã phải mang một "identity" khó lòng chối bỏ.
Có người hỏi tôi người Việt Nam có gì là đặc trưng. Thú thật lúc đó tôi hết sức bối rối bởi vì thật sự tôi không rõ lắm đặc trưng của người Việt Nam là gì. Nói cái dặc trưng của riêng tôi ư, e rằng như vậy thì quá vội vàng. Nhưng nói đạc trưng của ai đây khi trong tất cả người Việt có người tốt, kẻ xấu, có anh hùng và cũng có gian hùng. Có lẽ dễ nhất là trả lời "Sorry, I can't answer you" nhưng như vậy thì có kỳ quá chăng? Tôi nhớ khi học về Psychology, trong chương trình có một phần nói về tâm lý học phương đông, Professor của tôi có bảo chúng tôi đọc một bài viết về mục này. Thế nhưng trong cái gọi là tổng quan về tâm lý học Châu Á đó không thấy nhắc đến Việt Nam mà chỉ có Trung Quốc, Nhật bản và Philippines. Những đặc trưng tâm lý được nhắc đến trong đó người Việt mình cũng có.
Những ngày sau đó tôi về cứ thầm so sánh người Việt mình với các bạn đồng học nước ngoài người Châu Á khác để xem Việt Nam có gì khác họ không. Quả là có cái khác thật! Người Việt mình có vẻ rất "sophisticated" như ca dao từng có câu: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Học ăn, học nói đã là chi li rồi mà gói và mở cũng phải học nữa thì đúng là khác người! Nhìn lại tiếng Việt thì thấy đúng người Việt Nam tinh tế thật. Không kể personal pronoun mà chính tôi bao nhiêu chục tuổi đầu đôi lúc cũng lúng túng không biết dùng từ gì cho phải. Các adjectives Việt Nam sao mà chứa dựng nhiều cảm xúc thế: xanh thì xanh ngát, xanh um, xanh lè, xanh lét, buồn thì buồn bã khác buồn hiu, vui thì vui tươi khác vui vẻ.
Dù bây giờ hàng ngày phải nghe tiếng Anh, nói tiếng Anh, đọc tiếng Anh va viết tiếng Anh nhưng vẫn cảm thấy có cái gì đó vẫn không thể diễn tả hết được. Hàng ngày phải sống, sinh hoạt với người ngoại quốc, đã quen dần nếp sống mới (và cũng quên dần tính cách Việt Nam!) sao vẫn cảm thấy họ thiếu một sự tinh tế, ý tứ đôi lúc khiến bực mình. Gẫm lại thấy bản thân dù muốn hay không cũng đã mang một dấu ấn Việt Nam khó tẩy rửa. Ôi "I'm Vietnamese" đơn giản chỉ có 3 từ nhưng chứa đựng cả một tiềm thức sâu kín của tôi và bao người Việt Nam khác nữa!
Trương Trọng Hoàng
Tháng giêng 1997
Lớp Vỏ
"Tiệm sách Barnes & Noble. Hai giờ đúng. Chị. Ti không được trễ." Tôi đọc lướt mảnh giấy Tề gắn vào cái quạt nước trước kiếng xe, nghĩ Tề này cẩn thận quá, chắc sợ bị lạc lõng nếu không có mặt tôi. Chiếc xe ì ạch, hậm hực mãi mới bò qua được con dốc, cuối cùng cũng đến được nơi.
Mở cửa bước vào, mùi cafe thơm lừng và nhạc cổ điển thoang thoảng từ những loa trên trần. Mùi thơm làm đầu óc tôi tỉnh táo, hít vào ngập phổi, dù hơi choáng váng vì chưa có gì trong bụng.
"Hù!"
"Ðồ điên, làm hết cả hồn!" Tôi gắt khẽ với cái bóng vừa đến sát bên.
Tề cười tươi rói, răng trắng bóng. Mặc áo polo màu xanh emerald, tóc chải gọn cột đuôi phía sau. Mắt kiếng đen gọng vàng Ray-Ban, đúng kiểu công tử yuppies.
"Tề à, đói bụng quá chừng mà phải dự ba cái vụ này ..." Tôi cằn nhằn trong miệng. Tề kéo tôi vào bên trong tiệm sách, trong một khu rộng thoáng, ấm áp, nhiều đầu người lố nhố ngồi chiếm hết những ghế trống.
"Xong cái vụ này mới đi ăn được. Mình đi kiếm chỗ ngồi nha ?" Tề nói.
Khóa học này tự dưng tôi nổi hứng ghi danh một lớp báo chí, nửa tò mò muốn học, muốn biết một đứa cà nhỏng như Tề làm việc thế nào, làm sao có thể viết một bài phóng sự ra hồn như những số báo vừa rồi của trường. Ở ngoài, Tề tiếu lâm, hồn nhiên như một cậu bé con nghịch ngợm. Khi viết bài, Tề nghiêm chỉnh như một ông cu. non. Tôi nói chắc Tề có hai cá tính phân thân. Tề bảo ai mà không có vài ba khuôn mặt, chi. Ti có xem "The Many Faces of Eve" không?" Tôi nói tôi chỉ có hai bộ mặt, một lúc thức và một lúc ngủ.
Có khoảng hơn hai chục người có vẻ chăm chú hào hứng trong phòng, còn lại có vẻ lo ra, nhìn quanh quất, đứng lên ngồi xuống. Tôi đảo mắt tìm đồng minh. Chỉ có mình hai đứa tôi là da vàng, còn lại là dân bản xứ, trông mặt người nào cũng bảnh, sáng sủa và trang trọng như đang dự một buổi lễ. Chúng tôi sắp được "tiếp xúc" với một nhà báo tên tuổi, một nhân vật lừng lẫy của giới truyền thông ngành báo chí. Trong góc, có một người đàn bà lớn tuổi, gần bằng tuổi bà tôi, đang chăm chú đọc một tờ bulletin. Tôi muốn dời chỗ ngồi tới ngồi cạnh bà. Tề hiểu ý, đưa mắt lừ: "ngồi yên đi chị Ti ..." Nhìn đồng hồ tay, tôi nghĩ nhân vật quan trọng nào, dù Tây hay Ta, cũng hay đến trễ giờ để tỏ ra mình quan trọng.
Ông ta xuất hiện, quét mắt nhìn thật nhanh, rồi tiến đến chiếc ghế để sẵn dành cho ông. Chương trình "Meet the Authors" do hiệu sách tổ chức, thường để ra mắt giới thiệu những sáng tác mới của một tác giả, có màn tác giả ký tên đề tặng nhưng thật ra người ta phải tra? tiền cho chữ ký này, cộng thêm mấy tiếng đồng hồ nghe tác giả nói huyên thuyên, chưa đọc đã biết hết trong sách nói những gì. Ông ta không đến để nói về sách của ông ta, vì nhà báo này chưa in một cuốn sách nào. Ông ta đến để nói về việc làm báo. Màn giới thiệu hơi dài, người tổ chức chào rồi rút lui. Ông ta im lặng chưa mở miệng nói vội. Tôi không biết rõ ông ta là ai và có thể chưa đọc một bài báo nào ông ta viết, nhưng theo Tề, đó là một khuôn mặt nổi danh có uy tín trong làng báo, người mang vào thế giới truyền thông một cái nhìn nghiêm chỉnh về sự tường thuật lại những diễn biến đang xảy ra khắp nơi ngoài đời sống. Những cơ sở báo chí, truyền thông có vẻ nể nang ông này, nghe nói ông ta được trao giải Pulitzer về báo chí, những bài báo tả đến tận cùng câu chuyện, đi vào hạt nhân, nỗi niềm, và những khúc mắc ít ai dám động đến, nhưng ông ta khéo léo giải toả, bằng lối viết, cái nhìn và cảm nhận nhân bản. Tề giáo đầu tôi những lời thế này về ông ta, dù muốn dù không, tôi cũng phải hủy cái hẹn tối nay với anh bạn để đi với nó tới chỗ này. Hơn nữa, bà thày bảo ai đi nghe ông ta nói chuyện, được thêm điểm.
"Một ly cafe đen không đường, làm ơn ..." Ông ta nói vừa đủ nghe, với người con gái giữ quầy hàng cafe. Chúng tôi cũng mỗi người có một ly gì đó trước mặt để thấm giọng, thấm lòng. Tề gọi cho tôi một ly đen không đường giống ông ta. Tôi nói cám ơn khen Tề có trí nhớ dai. Tề mỉm cười, nói cám ơn lại. Những chiếc bàn nhỏ kê sát gần nhau, trông ấm cúng, trong một không khí đầy sách vở, chữ nghĩa, trí thức hình thức, những kệ sách dài những gáy sách mới tinh sáng bóng. Tôi không hứng thú với sách vở lúc này, chỉ cảm mùi café thơm lừng và lâng lâng một tâm trạng, không rõ tâm trạng gì trong lúc này.
"Thưa professor, xin ông nói về kinh nghiệm làm báo, và những bài báo mang cho ông điều thích thú nhất." Một người nào vừa lên tiếng.
Sau một khắc đợi cho cafe không đường ngấm vào suy nghĩ, ông ta bắt đầu cất tiếng. Cũng khoảng mươi khắc sau khi ông ta ngấm giọng, tôi mới bắt kịp với giọng nói đều đều trầm trầm của ông ta, một thế giới lạ lẫm mà tôi mù tịt, coi thường và đánh giá thấp hơn sau văn học đại chúng. Một thế giới đầy tình tiết, hình ảnh âm thanh và phức tạp dần dần mở.
"Nghề báo là một công việc đầy ý nghĩa và tuyệt diệu nhất. Chúng tôi được nhìn thấy, chứng kiến và ghi lại những sự việc quan trọng trải qua lịch sử, những sự việc muôn mặt của con người. Người làm báo có lương tâm là một nhà nghệ sỹ chân chính, anh ta mang những hình ảnh thật từ đời sống, từ những hiện thực không thể chối bỏ vào thế giới tinh thần của người đọc, kêu gọi đồng cảm và sống hòa nhập vào con người qua một khía cạnh trình bày đầy nghệ thuật và nhân bản. Các nhà báo nên khai triển con tim của mình, thay vì khai triển kiến thức, kỹ thuật mánh khoé săn tin, phóng đại và kỹ thuật gây chú ý của dư luận quần chúng. Kỹ thuật hiện đại của ngành truyền thông tiện dụng như con dao hai lưỡi, nó đâm những vết thương vào sự việc, làm tấy lên những cái đau của xã hội, làm chảy máu nhức nhối những vấn nạn đời sống. Nhưng đồng thời cũng chính ngành truyền thông rọi vào tâm thức con người bản chất thật nhất của người, nhắc nhở chúng ta quan tâm, chú ý đến đồng loại ... Những bài báo viết cẩu thả không có chiều sâu, đầy lỗi lầm và sai lệch sự thật làm vết thương con người không lành được mà lại càng thêm nhức nhối, thay vì công dụng của nó là phải xoa dịu, truyền đạt đến trái tim người đọc một sự thông cảm của tình người. Tự do vô trật tự, nôm na là tự do sáng tạo làm tin của ngành truyền thông ngày nay tạo một khoảng cách lớn giữa sự thật và những tin đồn, không còn tạo được nhịp cầu giữa người và người. Tự do trong sáng tác khác với tự do khai phá diễn tả sự việc bằng con mắt ống nhìn chân thật, sự công bình và nhân ái ..."
Những câu giáo huấn nặng ký. Có vài người hí hoáy ghi chép. Tôi cũng tranh thủ biên được vài câu lõm bõm, liếc sang Tề, Tề chăm chú ngồi im lắng nghe. Tôi buông bút, biết mình làm một việc vô dụng. Nhấp một ngụm cafe đen, chất đắng chảy xuống lòng. Câu chuyện của nhà báo "nghệ sỹ" tiếp diễn.
"Bài báo là một bản phân tích chiều sâu, một khúc phim sống động tái tạo lại sự thật một cách thật hồn nhiên và vô tư, một biến cố lớn hay một sự việc nho? tầm thường đều được xem trọng như nhau, ký giả viết bằng cảm nhận, đặt nặng tâm hồn đè nặng lên mọi kỹ thuật làm tin nóng hổi dụng ý thu hút người đọc. Tôi xin đồng ý với bạn, viết có thể chỉ là một hành động gia? hình giả nhân giả nghĩa, có tính cách đạo đức giả, nhưng hãy xem cái viết như một nghệ thuật làm thế nào thôi miên được cảm giác của người đọc. Ðộc giả không thể bo? xuống nửa chừng được, câu chuyện và ý tưởng thu hút, lôi cuốn người đọc, bắt họ bỏ họ vào giữa khung cảnh, giữa sự việc đang xảy ra, mời họ đi vào một thế giới giấc mơ có niềm vui nỗi buồn của kẻ trong cuộc. Ðó, bạn đang làm nhà phù thủy, nhưng bạn không dẫn dắt người đọc vào một mê cung, mà hướng dẫn họ mở trái tim ra, để họ thấy tim họ nhói đau hay reo vui giống hệt như cảm xúc của những lời tự thuật.
Có hai loại người trong thế giới văn minh này. Loại ăn uống ngủ nghỉ, hưởng thụ thoải mái, và loại ăn uống khó khăn ngủ không yên giấc đứng ngồi không yên. Ðó là về phiến diện. Riêng nội tâm, không ai trong chúng ta đồng loại. Trong phòng này, chúng ta chỉ có một điểm tương đồng duy nhất -- đó là các người không ai mắc tiểu muốn đi vào phòng tắm lúc này (có tiếng cười khúc khích), và các người đang phải chịu đựng tôi, đúng không? (Ông ta nhìn mặt mọi người, con mắt sắc như dao). Chúng ta là những kẻ đứng ngồi không yên, nhưng không thể ngứa ngáy gãi vào những chỗ ngứa ngáy của dư luận. Người viết tin không thể nhìn vào sự việc với gọng kiếng mờ đục, với những lớp lang suy nghĩ cảm thức đầy thành kiến có sẵn. Viết về một cái xấu, người viết sẽ không tả rằng nó xấu thế nào. Như một tay đầu bếp khéo léo, hắn bóc dần từng lớp vỏ củ hành, từng lớp, từng lớp vỏ cảm nhận của sự việc được tháo gỡ, lộ bên trong một lớp vỏ trắng nõn nà hơn, nhưng càng vào sâu bên trong, sâu nữa, sâu nữa, đến tận lõi cùng, đến lúc này thì người ta chỉ còn trông thấy một cái lõi nhỏ nhoi tội nghiệp, và nước mắt đã chảy ròng ròng vì mùi cay của nó đã đến một nồng độ mạnh nhất..."
oOo
"Chị Ti, đọc dùm Tề bài viết này, sửa đổi nếu cần và cho ý kiến nhé. Tối mai Tề phải nộp." Tôi mở phong bì, bài viết mới tinh, vừa in ra mực còn chưa ráo, từ laptop của Tề:
Khoảng giữa tháng năm 1995, tôi và một người bạn mới quen hỏi thăm đường đến thành phố X., bên cạnh dòng Mississippi, nơi đang nổi tiếng là nơi có nhiều phạm pháp, những vu. cướp bóc giết người, thuốc phiện, và băng đảng con nít vị thành niên. Trong một cộng đồng phức tạp của người Việt Nam, những tin bắn giết đã trở thành nhàm tai, các báo địa phương xem những vụ đó như mọi chuyện bình thường, những người di dân chỉ làm nhức đầu mất thì giờ thêm cho giới chức trách. Những tin này ít có phóng viên nào thích khai thác nữa.
Chúng tôi đi xe qua phà, băng qua sông Mississippi nước đục và đỏ ngầu, hai bên bờ những nhà máy nhả những cột khói đen ô nhiễm lên một bầu trời u ám, không một gợn mây hay một cánh chim trôi. Chiếc phà rời bến, băng ngang qua dòng sông nước chảy xiết, dòng sông dài, lục đục xuyên qua chiều dọc của nước Mỹ, trải dài qua nhiều quãng và những khúc quanh lịch sử, qua nhiều đất đai và đời sống u uất hai bên bờ. Tôi suy nghĩ vu vơ, dõi mắt tìm một cánh chim hay một cụm mây nào đó. Phà ngừng, đậu bến. Người phu trên phà cột những sợi dây thừng to như cổ tay vào cổ một cái trụ sắt trên bờ, mở cổng phà, xe chúng tôi bò lên bờ. Xe vào đến đường lên đê, rẽ vào một con đường dọc bờ sông, ngang qua khu nhà của người da đen nghèo nàn u tối. Chúng tôi vào đến làng Việt Nam không có gì khó khăn. Tôi nhận ra ngay khi trông thấy những giàn mướp và những luống rau trồng rải rác sân trước sân sau nhà, những cụm rau thơm, những khóm bạc hà và cây ăn trái, không một tấc cỏ xanh cắt phẳng phiu như khu của người da trắng trung lưu. Một tấc đất là một tấc vàng, và đất của bang này lại nhiều phù sa của sông, trồng loại cây nào cũng tốt, người ta nói thế. Những hàng rào phơi quần áo mền gối luộm thuộm, rác và thùng gỗ, bao nylon đầy bên đường. Tôi có cảm tưởng đây không phải đất Mỹ.
Dừng lại cạnh một xe bán hàng rong, loại bán quà vặt, kẹo bánh cho trẻ con, giống như những kioske ở các lề đường bên VietNam, tôi hỏi thăm một người đàn bà da mặt nhăn nhúm, tóc búi tó củ hành, đôi mắt kèm nhèm nhìn tôi không mấy thân thiện:
"Chào bà, đây có phải làng X., vừa xảy ra vụ bắn nhau hôm qua?"
Bà cụ đưa tay chỉ vào con đường bên trái, nhỏ và tối như một con hẻm. Tôi nói với người bạn đi cùng tha? tôi ở đây, vài tiếng nữa trở lại đón. Người bạn quay đầu xe, rồi mất hút về phía dòng sông.
Cầm chiếc máy ảnh và tập giấy, tôi đi vào con hẻm.
Hắn chận tôi ở đầu đường, chào, như nhận ra tôi là người quen ở xa mới về:
"Anh là người của nhà báo đến viết tin, phải không?"
Tôi gật đầu, ngạc nhiên sao hắn đoán ra. Hắn rủ tôi vào một quán nhỏ lụp xụp phía bên kia đường. Trong quán tối thui, mùi ẩm thấp, tanh tanh từ dưới nhà xông lên.
"Tôi không phải là người anh muốn gặp đâu. Họ bỏ đi hết rồi. Anh đến trễ những hơn 30 giờ anh biết không? Chuyện xảy ra, cảnh sát làm biên bản, chụp hình, rồi niêm kín căn nhà đó rồi. Không ai được đến gần."
"Cám ơn anh." Tôi nói, nghĩ bụng hắn muốn gì đây.
"Nhưng tôi có thể cho anh biết một vài tin, nếu anh là người xứng đáng nghe." Hắn nói, giọng láu cá, nhưng vẻ mặt thông minh, không có vẻ là tay anh chị.
"Tôi chỉ tình cờ ngang qua, nghe nói, tò mò muốn đến tìm hiểu câu chuyện. Không có báo nào phái tôi tới lấy tin cả." Tôi phân trần.
Hắn nhấp một ngụm bia dài, nói:
"Tôi biết, nhìn dáng anh, tôi biết anh không phải nhà báo chuyên nghiệp. Anh muốn biết chuyện gì?" Hắn lại trổi cái giọng láu cá tài lanh đó. Nhưng tôi đang cần hắn nói, càng nhiều càng tốt.
"Anh là ai? Tôi muốn biết tôi đang nói chuyện với người nào." Tôi hỏi, với thái độ ngang tàng cho hợp với đối phương.
Hắn cười, giọng cười của một kẻ ngạo mạn hiểu biết, pha một chút châm biếm, mỉa mai:
"Tôi là thiên thần!" Hắn nhe răng cười. Hàm răng có một chiếc bằng sắt, lóe trắng.
Tôi cười lại:
"Thiên thần loại nào, thiên đàng hay địa ngục?"
"Thiên thần có hai cánh, một cánh trắng và một cánh đen."
Lối đàm thoại này chẳng đi tới đâu, nhưng tôi cảm thấy vui vui, thích thú lạ. Tôi bắt đầu chú ý hắn ta hơn. Hắn có vẻ như đọc được ý nghĩ, càng làm ra vẻ mình quan trọng.
"Vậy anh đang nói chuyện với tôi với cánh mầu gì?"
"Còn tùy."
"Tùy gì?"
"Tùy anh muốn khai thác về điều gì, khía cạnh nào ..."
Tôi bị gã lôi cuốn, cái lối nói chuyện không đầu không đuôi, khơi mào bỏ lửng làm tôi phát điên, nhưng lối nói đó làm đầu óc tôi làm việc ghê gớm. Câu chuyện bắt đầu, chỉ là một câu chuyện bi thảm của một gia đình di dân không hòa thuận, nhưng những điều hắn nói, tôi nghĩ tôi khó có thể thuật lại như hắn kể.
"Người con út có một cá tính kỳ lạ, mới mười bảy tuổi, nó không thích xài tiền của bố mẹ, tiền nó xài, nó tự làm ra, bằng cách nào thì sau gia đình mới biết. Nó chẳng nói chuyện với ai bao giờ, ít khi nào về nhà trước mười hai giờ đêm. Ông bà già nó cũng ít hỏi đến nó. Một hôm, nó mang về nhà một lô bạn, toàn bằng tuổi nó, chúng nó tra hỏi bố mẹ tiền cất chỗ nào. Người bố kháng cự, từ con, rồi rút súng bắn vào một thằng trong bọn. Một thằng lớn trong đám bắn xả vào người cha, đạn quét vào người mẹ và đứa chị chết tại chỗ. Thằng út nhào lại đỡ đạn cho mẹ, lãnh ngay một băng vào trán. Sau đó, lũ trẻ rút êm và để lại một bãi chiến trường đầy máu ... Những cái chết phi lý nhưng nhiều ý nghĩa ..."
Tôi ngừng ghi chép. Nhìn gã dò hỏi, cố tưởng tượng đôi cánh của gã đang là mầu gì. Gã bảo đời sống không đơn giản và có thể giải thích qua bất cứ một cái nhìn nào, và không ai có thể nhìn vào tâm trạng ý nghĩ của những người trong gia đình đó trong lúc đó...Gã bảo gã là thiên thần bản mệnh của gia đình này. Ðang viết dở một câu, tôi ngừng. Và chợt nhiên, tôi hiểu thật sâu câu nói của người đàn ông lạ.
Tôi hôm đó, tôi đọc lại bài ghi vội, vò nát, rồi quăng vào giỏ rác. Hình ảnh duy nhất tôi nhớ về lần săn tin này, là đôi mắt long lanh, loang loáng nước của người đàn ông khi nói về những nhân vật trong gia đình tan nát ấy. Ðôi cánh hai mầu của gã ám ảnh giấc ngủ tôi. Không phải câu chuyện nào cũng có thể dựng lại tường thuật một cách chính xác và dễ dàng. Tôi đến trễ những 30 giờ, và tôi không có đôi cánh hai mầu của gã đàn ông, tôi không ở trong sự việc, nên tôi chỉ có thể kể rằng, chuyện như thế đã xảy ra, và mọi người trong gia đình đều đã chết hết, không còn ai liên hệ để phán xét hay kết tội họ. Bài viết này, tôi chỉ ghi lại cho bạn tôi đọc, chỉ để nói rằng tôi chưa thể đi vào lớp lõi trong cùng của câu chuyện, mà mùi cay nồng của lớp vỏ hành đã làm tôi cay mắt. Thành thật xin lỗi độc giả.
Nguyễn Gia Tề.
oOo
Tôi hẹn gặp Tề ở quán cafe quen thuộc, để giao lại bản thảo mới đọc xong, và nhân tiện nói cho Tề biết ý định của tôi. Tề nghe xong trợn mắt, la tôi là người sớm bỏ cuộc.
"Chị đã quyết định, đã drop cái lớp đó rồi." Tôi trịnh trọng trình bày.
"Nhưng tại sao chứ? Chị Ti viết có hồn lắm mà, có triển vọng có điểm khá trong lớp này. Tại cái ông nhà báo tào lao kia làm Ti nản có phải không?"
Tôi nói, như phân bua một lần nữa:
"Không phải Tề ạ, tại vì Ti vừa nảy ra một ý nghĩ. Hai tuần nữa, chị về lại Việt Nam, trở lại thành phố ngày xưa lúc xảy ra sự việc, dò xét lại cảm tưởng của mình, vậy thôi. Chị muốn kiểm chứng lại tâm trạng mình bằng chính sự có mặt của mình nơi đó, dù đã trễ mấy mươi năm sau..."
"Trời! sao Ti quyết định mau vậy, không cho Tề biết gì hết trơn. Rồi ai bình những bài báo Tề viết đây?"
Tôi cười, cam go:
"Thì Ti sẽ đọc sau khi nó lên báo. Tề ạ, viết về một sự thật khó lắm. Trước tiên đòi hỏi mình có can đảm và sự ngay thật, công chính. Bóc hành bao giờ cũng cay mắt, nhưng không phải ai cũng có thể bóc vào được đến lõi cùng."
Tề có vẻ đăm chiêu, suy nghĩ. Tôi biết Tề chọn đúng con đường vì nó đã tìm ra đam mê đời nó, nghề làm báo là nghề bạc bẽo, tim óc phơi trải như phơi lúa ngoài đường cho xe cộ cán qua. Không cần tôi phải nói ra, Tề biết tôi thương nó biết là dường nào.
Tề nắm tay tôi xiết nhẹ. Tôi giữ tay mình trong tay nó, lâu hơn những một phút.
Phạm Chi Lan
(3-1997)