vhnt, số 265
23 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Giới Thiệu Thơ Nguyễn Ðạt.....................................NTD
2 - Nói Chuyện Nắng Mưa .........................Nguyễn Hiện Nghiệp
3 - Thi Nhân, Tình Nhân ..................................Trần Thái Vân
4 - Bâng Quơ .........................................................QThanh
5 - Trong Tôi Buổi Chiều ....................................Trương Chi
6 - Tình Yêu Tôi Thời Mất Ðiện ........................Thận Nhiên
7 - Vào Giêng .............................................Trần Hoài Thư
8 - Các Em Học Ở Gia Long ..............................Từ Kế Tường
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Cô Ðơn, Trăng và Hạnh Phúc Trong Thơ THT .......Lương Thư Trung
Ð i ểm P h i m / Ð i ể m S á c h / T i n T ứ c :
10 - Tin Nhanh Ðiện Ảnh: GIẢI GOLDEN GLOBES ........Nguyễn Tiến Dũng
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Như Mây Như Mưa ...........................................Vũ Trung
12 - Khói ...................................................Lê Thị Trầm
Bạn đọc vhnt thân mến:
Mùa Xuân đang đến gần; thời tiết vẫn chưa đủ ấm để đàn ngỗng trời bay về lại phương Bắc, sau những ngày Ðông trốn lạnh chốn Nam. Cứ khi trời trở lạnh sang Ðông, tôi lại thích buồn buồn thêm một tí, cho mình thêm chút hòa hợp với những ngày Ðông, và chút cảm thông với văn thơ vốn từ xưa đã làm cho con người buồn buồn.
Dù vậy, trong cái "buồn buồn" của văn thơ, có tiếng thở dài ngắn xuyên suốt; để ta thấy được sự sống đang hình thành hay sẽ hình thành trong những câu chữ nằm yên kia. Nhiều khi, khi trong lòng im tiếng, tôi thấy hơi thở mình đang thở những nhịp hư vô của bài thơ câu văn đó; để manh nha suy đoán cái đến cái đi của hiện tại và tương lai, suy đoán về những con đường sẽ mở hay đã khép của các câu ch Cứ vậy mà nuôi niềm vui trong ngày thường của mình.
Những người viết cho các bạn qua vhnt, họ đang sống và thở với hiện tại; nhưng từ trong vô thức, phải chăng họ ký giao kèo với dòng sông con suối, núi đồi, bờ tre khóm chuối, tình yêu... là họ sẽ nói giùm cho nhau những câu chuyện riêng tư của thế hệ mình bằng cách trải tấm lòng lên trang giấy, không ngần ngại, sượng sùng, hay đau khổ khi được nâng niu, hay bị ruồng bỏ.
Hành trình có thể còn xa với những hạnh ngộ kỳ duyên ở đời song song cùng những trắc trở nghịch duyên, mong các tác giả lại đến với chúng ta bằng những nét thơ, án văn thường ngày trong cái hư thực của cuộc đời.
Ðọc trước cho các bạn một khổ thơ trong bài Bâng Quơ, mà các bạn sẽ có dịp đọc trong số vhnt 265 này:
Còn một chút xôn xao
Xin buộc vào ngọn gió
Ðể phất phơ nhánh cỏ
Bỗng ngỡ thầm mùa xuân
(Bâng Quơ - QThanh)
thân ái,
SungNguyen/vhnt
LGT: "Bụi" và buồn, mê James Dean không thể nào thay đổi. Ám ảnh suốt đời bởi màu dã quì Ðơn Dương. Lang bạt viết truyện và làm thơ, một Nguyễn Ðạt rất văn khoa Sài Gòn. (Ð.T.Q)
THƠ NGUYỄN ÐẠT
Dã Quì
Không nước mắt, không kêu than
Tôi tới bên rừng
Ðoá quì dứt một mùa ẩm ướt
Hoa dung, khô, tươi mới
Chẳng một lời phủ dụ
Hồn nhiên dâng hương lên không trung
Rừng khép mắt, mi ngát xanh
Bay thoát vòm cửa nhốt vô vàn bóng tối
Chiều mặt trời
Nắng trầm ca ngợi
Như thiên thâu
Trút bụi trần gian xuống thung lũng vô hình
Trong những ngõ ngách rối mù của trái đất
Quẫy lộn từng địa phủ
Bay lên, bay lên
Ôi sắc hương ngây ngất nào ai biết
Mùa Hoa Tới
Cửa kính trong suốt riêng nàng thấy
Khuôn mặt lá nõn
Nàng thu mình, lướt theo dòng mơn trớn
Nắng sớm tinh anh hoa vàng reo lửng lơ
Trên thinh không
Trên cao vút điệu nhạc lâng
Nàng đằm thắm, thoắt nhẹ
Trút áo khoe phô nàng bỗng như tơ
Trong cõi hư, riêng những đóa quì
Như tiếng hát trải biên rừng
Giấu kín đời man rợ
Bấy giờ trong chút lửa mê muội
Nàng giáp mặt bạo tàn như đám cháy rừng
Ðớn đau choàng thức giấc thiếu thời
Tận đáy tối của nghi hoặc và sợ hãi
Nàng bật dậy
Cửa kính trong veo nàng thấu suốt
Hoa vàng reo, tan ác mộng đời
Con Đường Đi Qua
Nỗi trống rỗng của những chiều nhớ em
Như chiếc sọ mở hoác trong hồn
Chiếc lá nén một mùa khô kiệt
Kể số gì mùa đông
Khi lạnh hàn kết cứng như xương
Cây bã đậu bầy gai nhọn
Con đường mang tên một người nào
Gió thổi đầy cát bụi
Một quán nước không người nào
Một đôi mắt buồn và chòm râu ấy
Kẻ lạ kia có phải là anh?
(Trích TTCN 20/10/1996)
nói chuyện nắng mưa
reng!... reng!... reng!...
gọi em tháng năm
hỏi chuyện nắng mưa
tháng mười,
tháng chạp.
nói với bóng mình
bên bạch lạp
chiếu
tường vôi.
em ơi!...
em ơi!...
em ơi!...
gọi em trăm tiếng
trên môi
khép
mình.
ôi, đêm tháng năm
chưa nằm
mà sáng. *
gửi em tia nắng tháng mười
mỏng manh
tội nghiệp,
khi thu về
cành khuynh diệp ngát hương.
một nụ hồng nở
trong sương
trăm con bướm trắng
tha tương tư
về.
ôi, ngày tháng mười
chưa cười
mà tối. *
tháng chạp mưa rơi,
nhớ lời hẹn cũ.
đêm dật dờ
ta dỗ giấc
riêng
ta.
mới hay
từ lúc
lìa xa,
là khi em ở gần ta
rất gần.
reng!...
"alloh?"
"alloh,
em có nghe không?
gọi em
ta nói chuyện lòng
nắng,
mưa."
nguyễn hiện nghiệp
* ca dao
Thi Nhân, Tình Nhân
Ðêm nằm nghe mưa rơi tí tách
Tôi đọc bài thơ cũ của anh
Ngôi đình đỏ, hàng trúc xanh
Như câu chuyện cổ tích
Phương đông tịch mịch
Anh làm thầy đồ...
Hình như tôi thấy anh đi trên đường phố Kyoto
Bên hồ hoa lê nở trắng
Và những cô đào da mặt tô trắng
Hát nghêu ngao trong những tuồng Nô
Tiếng đàn hư vô
Bay qua bên kia, nơi Basho thiền tọa
Hoa đào rơi lả tả
Ông vỗ mạnh bàn tay
Mừng đêm xuân trắng ngây
Trong túp liều lá chuối
Giũ áo trên đường lấm bụi
Basho tiếp tục ngao du
Thu nối tiếp thu nối tiếp thu
Cùng thần thơ trở thành tiên tử
Dừng chân trở về quá khứ
Bên bờ ao
Ếch nhảy, khua sao
Ông viết bài haiku muôn thuở
Vườn thơ haiku ngàn năm sau còn nở
Bay qua Thái Bình Dương
Tôi mơ thấy con đường
Người tình của anh đi ở đợ
Ði dưới những cao ốc Tokyo (không cửa, không nhà)
Ði giữa những tiếng than của Hagiwara
Người thi sĩ đau khổ
Bịnh hoạn, đa sầu mấy độ
Mặt nhăn theo gió lạnh muà đông
Mơ về cọng giá ấm ngày xuân
Lại gần, rất gần
Thơ rơi vào đáy vực
Của cuộc đời chân thực
Có lẽ một lúc nào đó trong lòng thương tiếc
Hagiwara nhấp nháy bờ môi
Nhớ người tình xưa bồi hồi
Rồi viết vội là đàn bà như nửa linh hồn và là một phần
trong cơ thể
(Chỉ có thế và chỉ có thế)
Ðọc thơ anh tôi luống ngậm ngùi
Tưởng chừng anh, tôi là những người sống trong thời đại,
Thời đại người ta viết thành Manyoshu,
Thời đại của Ðông Phương Nhiệm Mầu
Của chinh phu mơ về chinh phụ
Mơ làm tình một giấc ngàn năm
Và mơ được mơ làm tình muôn năm
(Ai bảo mơ nhiều là dại?)
Mơ chồng về bên vợ
Mơ vợ đến thăm chồng
Mơ kiếm sĩ phỉ chí tang bồng
Dừng chân hát theo những nàng vớt rong
Cười khi lá đỏ trên đồng bay lạc
Khóc theo tiếng kêu hoàng hạc
Vào cuối chiều thu, rơi giữa đêm thu
Ðọc thơ anh ngày ông chủ ốm
Hai người len lén hẹn nhau
Hôn vội bể chén
(Mặt nàng xanh mét
Sàng nhà cuối lau)
Tôi tưởng về một mối tình đầu
Mỵ Châu trộm nỏ thần trao Trọng Thủy
(Yêu như thế vẫn còn chưa phỉ)
Dấu ngựa hồng để lại lông tơ
Nỏ thần chỉ là vật đơn sơ
Sợ tình thành tóc trắng,
Sợ ngày sau trống vắng
(Sao người ta nói là dạỉ)
Ôi! Tôi nhớ làm sao đêm phương đông hiện đại
Tiểu Hàn đứng ngần ngại
Không dám hôn
Gò má đỏ hồng
Tóc bay bềnh bồng
Nàng tránh, nàng tránh, nàng tránh
Tôi say tình loáng choáng
Hương nồng đêm mây
Nửa địa cầu, hơn một thập kỷ vẫn còn bay
Tiếng ngựa Mỵ Châu ngàn năm còn vang vang hí
(Yêu bao nhiêu mới phỉ?)
Tôi nhớ về những khuôn mặt chưa quen
Mà hình như đà quen lắm
Người tô mắt màu tím thẳm
Người vẽ nét xanh lơ
Người đẹp rất đơn sơ
Áo bạc, vai gầy không trang điểm
Tất cả là những loài hoa hiếm
Là những tưởng tượng vu vơ
Mà chân thật
Lời tỏ tình lật đật
Hoà, Lan, Hàn, Hoa, Thủy
Trên mặt họ mỉm cười
Và trong cuộc đời
Những Katherine, Yuko, Maria, Krist
Những người tình tôi chưa từng biết
Nhưng hình như tôi đã yêu qua rồi
Một người tình ở đợ xa xôi
Một người tình làm cô giáo
Một người tình đi tu đạo
Họ giống nhau, và giống y nhau
Ðêm nay mưa lắng đọng giọt sầu
Tự nhiên tôi chợt nghĩ
Tình nhân trên đời hàng ngàn, hàng triệu
Nhưng với thi nhân họ chỉ một mà thôi!
trần thái vân
Bâng Quơ
là đến cũng là đi
trong cõi đời rất hẹp
vạt tóc người đã khép
cánh cửa vào bình yên
là nhớ cũng là quên
khi mùa phai trên lá
bàn chân người bỗng lạ
trên lối mòn yêu thương
ai còn giữ mùi hương
sợi lông măng trên má?
ngàn trùng qua vội vã
đã lấp vùi chiêm bao
còn một chút xôn xao
xin buộc vào ngọn gió
để phất phơ nhánh cỏ
bỗng ngỡ thầm mùa xuân
QThanh
Trong Tôi Buổi Chiều
Trong tôi có bóng ai?
Mùa đông ngồi sưởi buổi chiều hồng
bập bùng trí nhớ.
Những câu thơ đứt khúc tuổi hai mươi
ho lao, trơ trọi.
Quánh đặc nổi sầu ly rượu nhạt
âm u mùa
chạy dài phố biếc
theo những cột đèn trơ gầy.
Hai hàng nến.
Trong tôi có bóng ai?
nửa quen, nửa lạ giữa một ngày.
Một ngày mất dấu lửa hồng.
Chiều thô màu trăng nhạt
chưa đủ tròn cánh môi quyên.
Gói thời gian vào túi áo.
Châm điếu thuốc vàng thâm hai ngón tay
que diêm giật mình, cháy.
Bụi thời gian ung rửa.
Rũ tóc khô.
Trương Chi
10 tháng 1 1997
Tình Yêu Tôi Thời Mất Ðiện
Lẽ nào em không đến với tôi đêm nay
mưa lướt thướt đẫm từ sẫm tối
sao em không nói
để tôi chẳng phải chờ
để tôi ngồi quán cóc
để lúc này nhìn thời gian và mưa lướt thướt qua
qua một ngày vô vị chung cư
ngày hành lang cầu thang ẩm tối
ngày mệt mỏi hoài nghi
tiếp tục hay không vị nhàn nhạt của đời sống
...
Sao lại không đến
đoạn đường đâu quá xa
dốc cầu đâu quá cao
vỏ xe em còn lăn được ba vòng Sài Gòn Hà Nội
thành phố cũng bỏ lệnh giới nghiêm
Em khoác áo mưa xanh
trời chắc xanh màu lãng mạn
áo mưa vàng hóa hoàng hạc Ðường thi
đời sống đâu đủ dài để phân vân chọn lựa
sáng nắng chiều mưa
để đến với nhau
phải không em?
...
Ðể đến với nhau
biết đâu đêm nay tôi trúng gió
biết đâu đêm nay tôi ngừng thở
biết đâu đêm nay công an gõ cửa
ngày mai không còn là ngày mai
Tôi vắng mặt
biết đâu...
Có quá nhiều biết đâu điềm gở
Có quá nhiều biết đâu bất trắc
vậy mà em không đến
để tôi vẫn đợi
mưa lướt thướt đẫm từ sẫm tối
...
Em không đến thật sao
chỉ chừng mươi phút nữa thành phố sẽ cúp điện
chung cư không đèn
đời sống sẽ bấp bênh hơn
những bậc cầu thang ướt hơn
trơn hơn
tối hơn
mươi phút mắt sẽ già thêm tuổi
lũ trẻ con xem ké tivi vội vã về nhà
gã hàng xóm buột miệng chửi thề
bộ phim truyện dở dang đứt khúc
những bực mình như thói quen thường tình
quen như tiếng ai hút thuốc lào sòng sọc
quen như nhìn quanh ai cũng Chí Phèo
quen như nhìn quanh ai cũng Ả Q
cả tôi
Chí Phèo không Thị Nở
...
Thật tình tôi không có ý ví von
tôi quả là Chí Phèo
nhưng em đời nào thị Nở
cả những lúc ác độc với tôi như mụ phù thủy
môi cong cong dưới mái tóc bánh bèo
chực buông lời đay nghiến
như má em ngày xưa
như má tôi ngày nay
những hôm ba đi làm về trễ
những đầu tháng không đưa đủ tiền lương
những vô cớ cổ áo có vệt son
những thiếu dầu hết gạo tiền học tiền nhà
hụi sống hụi chết...
Ồ không, em đời nào thị Nở
dẫu tôi đôi lúc Chí Phèo
chửi thề nhăng nhít
vụng về chẳng biết ví von
tình yêu lặng lẽ nở hoa trong những đêm cúp điện
...
Dẫu thế nào em cũng không đến
tôi làm gì cho hết tối nay
tôi quá trẻ để đánh cờ tướng uống trà tầu
tán chuyện Chiến Quốc Xuân Thu
chưa đủ già để khinh bạc chửi đời trong đám nhậu
không đủ mộng mơ để cặm cụi viết thơ tình
nhìn quanh mọi điều đều vớ vẩn
phi lý nhất là em không đến
biết không em?
...
Mưa lướt thướt đẫm từ sẫm tối
thành phố cúp điện
quả nhiên có tiếng chửi thề
tôi hóa người yếm thế
cao ốc nhòa mưa hóa hình núi xám
đèn dầu huyễn hoặc ánh sáng miếu am
tôi hóa thân thiền sư
Chí Phèo thiền sư
tụng ba ngàn kinh cho một ngày mai
nắng đẹp...
Thận Nhiên
Vào Giêng
Tôi ở bên ni trời viễn biệt
Em xa. Xa ngái tận phương trời
Ở đây tuyết trắng rơi mờ ngõ
Tháng giêng em và tôi hai nơi
Nơi quê nhà trời đã vào xuân
Em nơi nào, Sài Gòn, Qui Nhơn?
Tôi qua Nữu Ước trời không độ
Khuấy cốc cà phê đặc nỗi buồn
Em nơi nào, nắng có vàng không?
Cho tôi về thăm lại Thuần Mân
Những đồi sim tím, đồi sim tím
Tím theo từng cây số nhớ nhung
Em nơi nào, chim én về không?
Trời quê hương lúa trổ đòng đòng
Cho tôi nhớ lại mùa xuân cũ
Em đã theo đời tôi ruổi rong
Em nơi nào, hương sứ còn vương?
Tôi có người yêu đẹp lạ thường
Ðêm tối miền cao trời thấp lại
Muôn sao trời cũng chụm yêu thương
Em nơi nào, rừng có lao xao?
Giữa trời sương khói, em gầy hao
Tôi đi để lại người em nhỏ
Giữa rừng hoa qùi vàng chiêm bao
Xin em hãy lại căn nhà cũ
Giúp mẹ tôi lau màn nhện giăng
Cố thử xem dùm trong một xó
Ðôi giày trơ mỏm thưở thanh xuân
Xem thử trong giày còn hạt cát
Của những ngày tôi lội thăm em
Nhà em cách một dòng sông nhỏ
Bông cải mùa xuân vàng rộ thêm
Tìm thử trong ngăn chiếc áo rừng
Mẹ tôi đã dấu ở đâu không?
Xem dùm lổ đạn in trên vãi
Ðể cảm ơn người lính Bắc quân.
Em nơi nào, ở nơi nào nhỉ
Trời đã giêng rồi, em biết không
Tôi qua Nữu Uớc ngày không độ
Gọi cốc cà phê, khuấy nỗi lòng
Khuấy thêm nỗi nhớ trùng trùng
Tìm đâu hạt cát bên đường lưu vong
Trần Hoài Thư
Các Em Học Ở Gia Long
Chiều nay theo nắng rất nhung
Theo cây lá trải một vùng tịch liêu
Anh đi với một cuộc liều
Nghe hơi đất vỡ những điều nhớ thương
Các em đứng trước cổng trường
Áo bay quá mỏng con đường quá thơm
Bầy chim nhỏ dại trong hồn
Ðã kêu anh gửi nụ hôn thật nồng
Cơn mưa nở hột tình không
Cho anh lỡ bước phiêu bồng đến đây
Các em cũng nhẹ như ngày
Ở trên lá bụi cây dài kiếp xưa
Anh chờ để trải lòng thưa
Ðôi tay mới chẻ một mùa tóc thơm.
Từ Kế Tường
MỘT VÀI CẢM NGHĨ VỀ:
CÔ ÐƠN, TRĂNG VÀ HẠNH PHÚC TRONG THƠ TRẦN HOÀI THƯ
Thông thường, để giới thiệu một tác phẩm văn chương nói chung và thi ca nói riêng là những bài viết của các bậc tiền bối như học giả, nhà văn, thi sĩ nổi danh, có tên tuổi trên văn đàn. Nhưng cái giá trị đích thực của một tác phẩm văn chương là do chính tác giả với tài năng, công sức, chất liệu và một con tim nhạy cảm của người nghệ sĩ. Thêm vào đó là con tim rung động của người đọc đã góp phần không nhỏ vào sự thẩm định giá trị một tác phẩm văn học. Và riêng trong lãnh vực thi ca, đã có biết bao bài thơ của các thi sĩ, qua sự thẩm định của người thưởng ngoạn một cách trung thực, đã tr* thành bất tử với không gian và thời gian. Dĩ nhiên, một bài thơ muốn được ngự trị một vị trí xứng đáng như vậy cũng phải trải qua một thời gian dài thử thách đầy cam go. Văn học sử Việt Nam đã có biết bao những bài thơ mà mỗi lần nhắc đến tên là ai cũng biết, cũng thuộc. Chẳng hạn "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan, "Hai sắc hoa Tigôn" của T.T.K.H, "Tây tiến" của Quang Dũng v.v...
Và cũng không ít những thi sĩ đã tự mình giết chết, làm thui chột "những đứa con tinh thần" của mình qua sự chối bỏ con người nghệ sĩ đáng yêu, đáng qúy trọng của mình để mưu cầu một lợi ích riêng tư. Và văn học sử Việt Nam lại một lần nữa đã chứng minh cho chúng ta thấy những thi sĩ đã nổi danh một thời, giờ bị lãng quên trong lòng mọi người như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận v.v... Những nhà thơ một thời ấy họ tự hủy diệt mình khi họ đã quay lưng lại với người thng ngoạn. Viết đến đây làm tôi chợt nhớ hai câu chữ Hán đầy ý nghĩa:
Tiến thoái vô thường, phi vi tà giả
Thương hạ vô hằng, phi ly quần giả
Trong chúng ta không ai là không nhớ bài thơ "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư. Bài thơ có lẽ làm cho tên tuổi Lưu Trọng Lư nổi danh thời tiền chiến:
Em nghe chăng mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Ðạp trên lá vàng khô
Vào khoáng năm 1976, trong lúc còn ở tù cải tạo, tình cờ đọc được bài thơ "Tiếng thu 2" cũng của Lưu Trọng Lư, tôi còn nhớ trong đó có một câu mà có lẽ chính vì câu thơ này đã làm cho tên tuổi Lưu Trọng Lư đã chết trong lòng mọi người đã một thời ngưỡng mộ ông, trong đó có tôi dù tôi chỉ là một người tầm thường, dốt nát. Một câu thơ mà ông đã từ chối con người nghệ sĩ của ông và quay lưng lại với người thưởng ngoạn:
Con nai vàng bây giờ không còn
ngơ ngác nữa em ơi!
Sự rung động của người đọc có thể như một gợn sóng, một làn gió heo mai, một chiếc lá chao động, một tiếng hót dịu dàng của đôi chim sẻ nhỏ, như tiếng róc rách của dòng suối hoặc mảnh liệt như dòng thác đổ. Tùy theo sự cảm nhận của mỗi người mà tần số của sự rung động của người đọc, người thưởng ngoạn cao hoặc thấp, nhiều hoặc ít mà thôi.
Mỗi người có phương cách thưởng ngoạn thi ca riêng. Nhưng dường như, dù với phương cách nào, hãy đến với thi ca bằng con tim rung cảm, bằng tất cả cõi lòng tự nhiên, không định kiến, đừng cố chấp, đừng gượng ép thì thi ca dễ hòa nhập vào lòng người và ngược lại. Chúng ta cũng đã được biết "Vật dụng trống, tâm dụng hư." Vì thế với một tấm lòng mở rộng, không lệch lạc, chắc chắn chúng ta sẽ đón nhận những điều thú vị trong những bài thơ mà nhà văn kiêm thi sĩ Trần Hoài Thư đã dệt nên trong tuyển tập thơ "Sợi tóc nhớ nhung," bản đặc biệt như "một món quà xa" để tặng các văn hữu, thân hữu của tác giả.
Là độc giả, tôi may mắn được đọc những tâm tình của nhà văn Trần Hoài Thư tha thiết gởi vào tuyển tập truyện ngắn "Ra biển gọi thằm" phát hành lần đầu tiên tại hải ngoại vào mùa đông năm 1995 tại Hoa Kỳ đánh dấu hai mươi năm bi thảm trong cuộc đời riêng của tác giả mà cũng là của lịch sử của đất nước như một chút lửa, một chút tình-"tình của văn chương và lửa của cuộc sống"1 mà độc giả đã mang đến cho anh và ngược lại.
Thành ra, hôm nay, tuyển tập thơ "Sợi tóc nhớ nhung" của nhà văn kiêm thi sĩ Trần Hoài Thư còn chưa ráo mực (ngày 21-5-1996) mở ra cho chúng ta thêm một cái gì mới mẻ khác, một cái gì riêng tư khác, một cái gì đặc thù khác. Của cô đơn. Của thân phận. Của tình yêu đôi lứa. Của tình bằng hữu. Của vũ trụ. Của từng hạt sương. Của cọng rơm hạnh phúc." (2) Ðó có lẽ là con tim chân thật của thi sĩ với một cõi đời riêng. Và bên cạnh con tim chân thật với một cõi đời riêng ấy còn có một cõi nào xa vắng nhưng rất gần gủi, rất thân thiết, rất hạnh phúc, rất thú vị...
Ngay bài thơ đầu vào tập, chúng ta đã cảm nhận được "sự cô đơn" của tác giả với "Buổi ấy xa người":
Thì cô đơn cũng ấp đầy khoang cửa
Ba bốn giờ đêm lạnh nghe hơi sương"
Cái khung cảnh vắng tanh, lạnh ngắt, "xa vắng" chập chùng:
Thì xa vắng, thì mênh mông xa vắng
Ly tách khô, đọng lại giọt cà phê
Sự cô đơn còn hằn rõ hơn với một mình một bóng, với ngõ vắng nhà hoang:
Tôi thức giấc. Sàn nhà hoang. Trống ngõ.
Trong bài thơ "Người yêu tôi ở đồng bằng," thi sĩ Trần Hoài Thư thêm một lần nữa cho độc giả thấy rõ thân phận cô đơn của anh như một sự thật:
Em không biết tôi mồ côi mồ cút
còn gì trên đời hay chỉ con tim
Ðến "Giữ chút mong manh," chúng ta mới hiểu được cõi lòng của thi sĩ Trần Hoài Thư. Chúng ta mới chia xẻ, cảm thông với thân phận cô đơn như một định mệnh của đời anh. Mới một tuổi, anh đã nếm trải côi cút, loạn ly, chạy giặt, tản cư...
Năm một tuổi, mẹ bồng tôi chạy loạn
Tôi không cha, không cụm đất quê hương."
Rồi thi sĩ Trần Hoài Thư tiếp tục cuộc đời bé bỏng, cô đơn của mình nơi Cô nhi viện Hòn Chồng:
Nắng thì vàng thắm cả trường sân
Tôi ôm mặt làm con chim côi cút"
Mãi đến năm mười một tuổi, thi sĩ Trần Hoài Thư mới gặp lại thân phụ một lần trong khung cảnh cũng côi cút, nghẹn ngào, xúc động với mây buồn giăng phủ:
Tôi gặp lại cha vào năm mười một
...
Ba tôi đến
"Con là Tý"
Người hỏi
Chiếc áo lương đen côi cút giữa trời
Tôi nghẹn ngào, rưng rức một tiếng ba
rưng rức mãi, cho mỗi ngày mỗi lớn
rưng rức mãi, bên lòng cha vạn đại
Dù được sống bên sự chở che của thân phụ nhưng thi sĩ Trần Hoài Thư chừng như không thoát ra khỏi sự cô đơn như chập chùng vây quanh:
Bên giòng sông sương khói mịt mùng
Bên những cột đèn ũ rũ mùa đông
Thế rồi, "bao năm sau," thân phụ của nhà thơ đã kiệt lã với tuổi già, đành nhắm mắt xuôi tay, bỏ đứa con thơ thêm một lần "côi cút," đau thương, mất mát:
Tháng ba, ba xa, nằm trong lòng đất
Tháng tư tôi lên đồi núi gào kêu
Quê Người đây, mây lũng nặng ban chiều
Tôi ôm mặt biết thêm đời mất mát.
Cái thân phận nghiệt ngã chua cay ngoài sức tưởng tượng ấy đã là cái chất liệu, cái nguồn cội cho văn, cho thơ của anh càng thêm phong phú.
Trong một chiều mưa, trong trại tù, nỗi cô độc của người tù chính trị không có bản án, thê thiết biết dường nào khi một mình một bóng nói với cõi lòng:
Chuyến đò nào đưa em về trong mưa
Tôi mang đôi mắt em theo dòng kinh xám
Tôi nói một mình, tôi chỉ còn em
Chỉ còn em, có nghĩa là lòng tôi nhỏ lệ
Cái tâm trạng của nhà thơ một mình thất thểu trở về trại cải tạo sau khi gặp vợ con trong buổi thăm nuôi là cái tâm trạng của chung anh em bằng hữu của anh cùng cảnh ngộ. Một mình với "đầm dạ trạch." "Ðầm dạ trạch" của trại tù hay "đầm dạ trạch" của cuộc đời người tù cải tạo không bản án, như đêm đen tâm tối triền miên không ánh sáng, tuyệt lộ, cuối đường hầm, không lối thoát:
Ừ thì đò đưa người xa khuất rừng lau
Rồi tôi sẽ về cùng đầm dạ trạch
Em còn mang cho tôi chiếc khăn sọc rằn
Vướng thêm sợi tóc dài bỏ sót
Nỗi cô độc dường như không buông tha anh mà cứ đeo đẳng mãi hoài:
Ta đi học, thì ta đi học
Buồn nhiều hơn. Cô độc nhiều hơn
Sự cô đơn còn bi thảm hơn khi phải dắt díu nhau rời bỏ quê hương sống gửi xứ người:
Mưa ơi, mưa ơi cả trời đông bắc
Tôi nói với em trăm lần đừng khóc
Sao lòng tôi mái dột ủ ê"
hoặc:
Gia đình ba người dắt dìu tìm đất
Mưa ơI mưa ơi cả trời đông bắc
Biết nơi nào xóa kiếp lưu vong?"
Ngay cả ở quê nhà, bên "quán sớm" một hôm nào, hồn thi nhân cũng quạnh vắng:
Năm giờ. Trên ấy em còn ngủ
Căn lầu đóng cửa anh nhìn lên
Lòng anh là cả đầm cô quạnh
Sóng vỗ âm thầm trong cõi đêm
Bên cạnh cái cô đơn bi thảm, chua xót đến rơi lệ.
Dường như có một cõi riêng nào của thi sĩ Trần Hoài Thư - Ðó là cõi trăng.
Trong suốt 42 bài thơ trong tuyển tập thơ "Sợi tóc nhớ nhung," chúng ta đã thấy 12 bài thơ có bóng trăng. Khi thì thấp thoáng. Khi thì vằng vặc. Khi thì lung linh. Khi thì một giọt. Có lúc cả giòng trăng, bãi trăng, sông trăng. Chan hoà ánh trăng là tình yêu, là cõi lòng, là con tim, là những vỡ vụn, là nhớ nhung, là hoài niệm một thời dấu yêu, với cái chất lãng mạn sâu lắng, mang mang...
Trong chiến tranh, trên đường hành quân, với một tâm trạng bời bời lo lắng, với biết bao hiểm nguy trước mặt, nhưng hồn thi nhân vẫn lâng lâng nhớ về cây đa, nhớ vầng trăng, nhớ những vì sao... để tìm về với cõi đời riêng của mình, tìm lại mẹ, tìm lại đôi mắt người yêu trong trí nhớ, trong lòng:
Nhớ vầng trăng trên xóm Gõ-Găng
Bà mẹ nhớ con mắt mù kết nón
Và những đêm sao trên đồi Bánh Ích
Cho tôi cố tìm đôi mắt người yêu
Trong hoàn cảnh bi thảm với một đời sống côi cút trong cô nhi viện vẫn mãi hoài ghi đậm trong tâm hồn của một trẻ thơ bất hạnh tột cùng. Ðể rồi bây giờ, ở tuổi xế chiều hồi tng lại, hồn thơ của thi nhân như thấy lại những vì sao lạc, như nghe lại tiếng dế mèn lẽ loi trong bụi cỏ, bờ tường nào gọi trăng da diết suốt những đêm dài cô quạnh. Mà trăng thì vằng vặc, mù tâm:
Tôi ôm mặt làm con chim côi cút
Tôi đã có những vì sao thổn thức
Những con dế mèn gọi mãi đêm trăng
Cõi trăng là cõi mộng. Thấy trăng nhưng không sờ được, không giữ lại được. Trăng là cố nhân hay cố nhân là trăng. Tiếng dế gọi trăng hay thi nhân đi tìm dáng vẽ người thương một ngày cũ:
Bởi vậy trong tôi sách vở buồn
Người nào để lại gót hài son
Tôi vô đại nội tìm con dế
Chú dế buồn nức nở vầng trăng...
- trong hoàn cảnh lạc lõng bơ vơ ngoài đời, nhà thơ có một niềm an ủi mong manh là làm bạn với những vì tinh tú, những trăng:
Tôi bỏ hết, lên trần xe tinh đẩu
Bạn vầng trăng cô độc bến An Ðông.
Thi sĩ Trần Hoài Thư cũng có một niềm an ủi là những ngày tháng chiến tranh, đời lính dù gian khổ hiểm nguy nhiều hơn, thương tích nhiều hơn, chết chốc chập chờn trước mặt, nhưng bù lại tình chiến hữu khăng khít hơn. Những gian khổ ngọt bùi cũng được chia sớt như một niềm thân ái ở một nơi chốn nào đó dưới đêm trăng:
Thấy như thể đêm qua về quân lỵ
Vài ba thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Dăm trái ổi và bì đông rượu đế
Con cá thiều chia chút tình thân
Là người lính, là người tù cải tạo bốn năm ở các trại tù trừng giới vùng biên giới Miên Việt, tình chiến hữu, tình bạn tù đã âm ấp trong lòng thi sĩ Trần Hoài Thư. Làm sao anh có thể dằn nén được nỗi xót xa, đau thương khi phải đích thân đi đào huyệt chôn những chiến hữu của mình bạc phận.
Để cho anh linh người tử sĩ không phải tủi nhục, thi nhân đã gào kêu cùng trời, cùng đất, cùng núi, cùng sông và cả lá cờ tổ quốc mà anh mang trong con tim để trải rộng phủ lên thân xác, lên mộ phần người qúa cố đã tức tưởi chết trong oan nghiệt. Anh cũng không quên mời gọi trăng, sao, cùng hương nồng đất mẹ về làm ấm lại mồ ma huyệt lạnh:
Ðất đừng lạnh, đất ơi, xin đừng lạnh
Ðá đừng cứng, đá ơi, xin đừng cứng
Ðể thân Người, tủi xót, ngập trời cao
Ðể trăng còn cuốn quít những vì sao
Hương tổ quốc còn đậm đà huyệt đất
Huế với ngôi trường cũ, với những ô cửa, với mái tóc thề óng mượt của người con gái mà thi nhân theo đuổi mãi hoài - là một nơi chốn mà nhà văn Trần Hoài Thư đã viết cả một tập tuỳ bút về Huế: "Một Nơi Nào Ðể Nhớ"
Anh cũng mang những nhớ nhung ấy vào thơ. Nhắc lại như một điệp khúc của bản tình ca:
Ðường vô thành nội bao nhiêu cửa
Có cửa nào gởi hết nhớ thương
hoặc:
Cô hàng ơi thành này mấy cửa
Có cửa nào cất giữ con tim"
Ðể rồi cứ có dịp là hình bóng cũ thời trai trẻ hiện về:
Thiếu phụ ba mươi hay bốn mươi
Bao năm xa cách người xa xôi
Tôi qua Nữu Ước trời mưa bụi
Uống cốc cà phê để nhớ người
Nỗi nhớ nhung nhiều khi làm thi nhân cuống quít, quay-quắc chạy Ðông, chạy Bắc, nhưng cuối cùng không biết phải về đâu. Như muốn ôm giữ, chôn dấu trong lòng hình bóng cố nhân cho một lần, cho ngàn đời để mà quên đi hay để nhớ hoài bất tận:
Giờ thiếu phụ đã nằm trong lòng biển
Tôi về Ðông, về Bắc, biết về đâu
Trăng thiếu phụ tôi mang vào song cửa
Cho một lần, cho vô tận thiên thu.
Cõi trăng trong thơ Trần Hoài Thư có lẽ không giống với bất cứ cõi trăng nào của các bậc thi nhân kể cả trăng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, của Trụ Vũ... - các thành phố lớn với ánh điện rực trời, với cửa sổ im-ỉm đóng kín không thể ngắm trăng được, không thể thưởng thức trăng được.
Muốn thưởng ngoạn trăng có lẽ nên về đồng quê để thấy trăng mới là trăng. Với con sông, cánh đồng nước lũ, cánh đồng lúa chín vàng, với con đường làng, với mặt nước hồ ao trồng bông súng, bông sen, với những vườn mận, vườn cam, vườn quít... ta mới thấy hết được cái đẹp của trăng... Mặt nước lặn tăn ta thấy ánh trăng như đùa giởn. Gió heo mai làm rung nhẹ những chiếc lá, ánh trăng cũng theo gió bước nhẹ trên cành. Nhiều đêm tôi nằm ngủ bên đống rơm thơm mùi lúa mới trên cánh đồng vừa gặt vào những ngày về quê làm ruộng. Tôi thấy đâu đâu cũng là trăng - Trăng mang một mùi thơm rạ mới ngất ngây. Nhiều đêm vài ba người bạn nông dân không cần đèn, vì đã có ánh trăng, với con cá lóc nướng trui, đống tro còn rực lửa hồng phảng phất mùi khói quyện, ngồi nhăm nhi cốc rượu đế cay cay mà thấy trăng rơi vào đáy cốc như bóng hình nào. Thi sĩ Trần Hoài Thư cũng đã có lần đã cảm nhận như vậy.
Trăng dường như không đứng lại, không cố định một nơi nào, để thi nhân phải đi "dài" theo "bãi" trăng để mà tìm trăng. Nhưng càng đi, càng tìm, trăng càng chạy như một sự rượt đuổi. Cuối cùng chỉ còn lại nỗi buồn và cái "lặng thinh" cô tịch:
Tôi quá ngẫn ngơ nhìn chẳng thở
Trăng rơi vào cốc rượu lung linh
Tôi theo dài bãi tìm trăng đậu
Chỉ có buồn, một nỗi lặng thinh"
Trong suốt một chu kỳ trăng, có lẽ trăng mười sáu là trăng đ\ẹp nhất. Nó không còn non như trăng li liềm, không tròn như trăng rằm, không già như trăng những ngày hai mươi. Trăng mười sáu có sức hấp dẫn mãnh liệt. Các thi nhân đều diễn tả về cái đ\ẹp của trăng mười sáu cùng với cõi lòng riêng. Thi sĩ Trụ Vũ có hai câu thơ làm tôi thích nhất:
Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu
Mười sáu trăng rồi, em biết không
Trong cái cảm nhận về cái đ\ẹp của trăng mười sáu, qua bài thơ "Khi chị về,' thi sĩ Trần Hoài Thư đã lột tả tuyệt diệu về ánh trăng. Sau bao ngày xa cách, người thiếu nữ về thăm lại quê nhà để một lần được thấy lại ánh trăng, để được đạp lên ánh trăng bằng đôi chân mềm mại, để dấu chân hằn lại được phủ lấp ánh trăng, nằm bất động im lìm:
Xa thì xa. Người cũng thật xa
Chị có về bàn chân bỏ guốc
Giòng sông đêm trăng. Thở dài não ruột
Dấu chân rồi cũng xóa. Nằm im
Ðể thêm một lần thấy ánh trăng mười sáu mơ mộng mà hạt sương đọng trên cành trên lá chừng như giọt lệ, giọt vui pha lẫn trong đời con gái:
Chị có về trăng mười sáu trăng lên
Một giọt sương cũng lạnh mình lóng lánh"
Và cũng có dịp để hồn "bâng khuâng" với "mười sáu trăng tròn," để được tắm trăng. Chiếc cầu ván bắt dài ra giữa dòng nước hay dòng trăng. Người con gái đứng ở đó, chiếc gáo dừa cán dài trên tay mà múc nước hay múc ánh trăng tưới lên mình, lên da thịt - Cả một vùng da thịt đều ướt đẩm trăng là trăng. Mà phải là chiếc gáo dừa ta mới thấy hết được một dòng sông đêm trăng khuấy động - cái khuấy động như cợt như đùa của tuổi hoa niên, của tuổi chớm hoa xuân:
Mười sáu trăng tròn hồn chị bâng khuâng
Ðêm ra tắm ngoài bến sông im vắng
Chiếc gáo dừa. Múc trăng. Trăng động
Giòng suối trăng lai láng cả bình nguyên
Dường như có sự ngẫu nhiên trùng hợp giữa thi sĩ Quang Dũng với bài thơ "Kẻ ở" và thi sĩ Trần Hoài Thư với "Khi chị về" như một lời đối đáp, thú vị.
Ðể mở đầu bài thơ "Kẻ ở" thi sĩ Quang Dũng viết:
"Mai chị về em gửi gì không"
Khi kết thúc bài thơ "Khi chị về" của thi sĩ Trần Hoài Thư như một lời đáp lại:
Khi chị về em quá ngẫn ngơ
Cho em gởi theo vầng trăng kỹ niệm.
Với "Kẻ ở," Quang Dũng viết:
Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối sương muôn ngả
Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua"
Thi sĩ Trần Hoài Thư thì:
Xa thì xa. Người cũng thật xa
Chị có về bàn chân bỏ guốc
Giòng sông đêm trăng. Thở dài não ruột
Dấu trăng rồi cũng xóa. Nằm im"
Quả thật cái lãng mạn sâu lắng của hồn thi nhân đã làm chúng ta cũng chìm vào đó, thắm ướt cái lãng mạn mang mang đó, để tâm hồn có được những giây phút vượt ra khỏi cõi đời ô trọc, bon chen, phù phiếm, buồn nãn này. Ðể có thể như trăng:
Mơn man từng nụ thắm. Mơn man
Cuộc đi nào rồi cũng có bến đến. Bước chân lang bạt của thi nhân rồi cũng phải dừng lại một bến bờ hạnh phúc nào sau những dặm trường - Thi sĩ Trần Hoài Thư đã bắt gặp mảnh trăng ở đồng bằng và anh đã cắm sào đậu lại bên dòng Cửu Long vĩnh cữu, muôn đời:
Có phải em là trăng thanh
Soi lên miền anh ngụ
Có phải em là trăng tỏ
Theo đời anh lênh đênh"
và rồi:
Cảm tạ em. Người em Cần Thơ
Anh theo em bỏ xứ. Bao giờ
Bao giờ. Như thể tiền thân trước
Một kẻ lưu dân trở lại nhà."
Còn gì hạnh phúc cho bằng một bến sông với con thuyền đậu lại, trên trời cao bàng bạc trăng là trăng. Trăng của yêu thương, trăng của thủy chung. Trăng là người vợ hiền hay vợ hiền là trăng:
May mà cuối bến em làm vợ
Giường chiếu em cho trải cuộc đời"
Những bài thơ "Người yêu tôi ở đồng bằng," "Hơi hướm đồng bằng," "Theo em," "Sợi tóc nhớ nhung," "Tạ lỗi vợ," và "Ta ra tù sau bốn năm" là những bài thơ anh dành cho chị - một người vợ Việt Nam rất mực thủy chung, suốt cuộc đời lao đao lận đận hy sinh cho chồng, cho con. Chúng ta không cần phải dong dài. Chỉ cần bình tâm ngồi đọc lại những dòng thơ này, thi sĩ đã cho ta thấy một trời hạnh phúc...
Với dáng vẽ xa lạ, "Ngác ngác ngơ ngơ" của những ngày đầu về Nam làm rể đã bàng bạc ở đó một niềm hạnh phúc êm đềm:
Theo em bỏ núi về châu thổ
Bỏ mán về kinh làm rể xa
Ngác ngác ngơ ngơ đò máy ngược
Hồn mênh mông khói cuộn sau nhà
Nhưng rồi nhờ có chị, anh cũng quen dần. Anh đã theo chị hết qua Tân Qưới lại về Tân Lược để thăm bà con họ hàng bên vợ trên những chiếc đò "giỏ lãi," "tát ráng" - là loại ghe nhỏ mình thon dài như con rắn lải, xuất xứ từ vùng Tát Ráng ở Kiên Giang, còn gọi là "giỏ vọt" vì khi đặt máy đuôi tôm vào, chiếc đò lướt trên mặt nước như chạynhư bay: Theo em mấy bửa quên buôn bản
Làm rể người Nam, yêu miền Nam
Miền Nam chín của sông ra biển
Một nhánh sông: một nhánh tóc mềm
hoặc:
Theo em, tình đất, tình vương trạch
Tình của non sông, tình của em
Cám ơn, người nữ vùng châu thổ
Cho anh về gởi rể Miền Nam"
Trong "Tạ lỗi vợ," người thi sĩ sau bao năm chiêm nghiệm lại cuộc hành trình của đời mình để nói lời "tạ lỗi vợ" như một hạnh phúc thực trong cuộc đời:
Nhổ một sợi tóc sâu cho vợ
Tạ người tự nguyện cầm chân ta
và cái hạnh phúc của thi nhân bền chặc biết dường nào:
Mình ạ, ta sẽ ngồi thiên cổ
Vạch tóc em đến tuổi bạc đầu
Trong hoàn cảnh khổ lụy phải bời bời lo lắng, rồi ra thi nhân cũng cảm nhận được cái hạnh phúc dịu dàng:
Thương vợ ta một đời gian khổ
Cả đời chỉ có nhớ mong"
và rồi:
Ta nhìn lên đôi mắt long lanh
Ðể ta biết ta vẫn còn hạnh phúc)
Ta cũng bắt gặp một hạnh phúc không nhỏ của anh chị khi nhìn thấy đứa con trai duy nhất đã lớn khôn, chăm chỉ học hành. Ðó cũng là niềm hạnh phúc chung của các bậc làm cha mẹ:
May còn niềm hãnh diện
Thấy con nay nên người
Bên cạnh cái hạnh phúc ấm cúng của gia đình, vợ chồng, con cái để bù lại những ngày tháng dặm trường vinh nhục. Chúng ta cũng cảm nhận được một vài niềm vui từ bên ngoài, vun bón thêm, bồi đắp thêm cái hạnh phúc ấm êm trong mái ấm gia đình. Chẳng hạn niềm vui của một giấc mơ về ngôi trường cũ ở bên sông:
Em nhỏ đời tôi từng mất mát
Em vui tôi cũng chia niềm vui
Ít ra trong kiếp đời gian khổ
Thấy một ngôi trường có mái tươi"
Nhưng có lẽ cái hạnh phúc dịu dàng của đôi chim nhỏ ở hiên nhà đang tha lại cọng rơm để làm chiếc tổ trên thùng thơ là một hạnh phúc tuyệt vời nhất:
Hiên nhà tôi có hai chim nhỏ
Mỗi mùa xuân tha lại cọng rơm
Trên thùng thơ chim làm chiếc tổ
Cọng rơm đan một cõi thiên đường"
Hạnh phúc của đất trời, hạnh phúc của đôi chim, hạnh phúc của vạn vật phủ ngập lòng thi nhân, tưới ướt tâm hồn người nghệ sĩ - hạnh phúc của đôi chim cũng chính là hạnh phúc của mình:
Nắng chưa ngập triền hoang dại cỏ
Sao đất trời đã qúa dễ thương
Con chim mái hiền từ trong ổ
Con trống bên ngoài ríu rít yêu đương
Với thùng thư đã mở, với thiệp hồng của lễ tân hôn, đôi chim nhỏ đâu biết rằng con người đang mơ ước trọn đời được một lần hạnh phúc như chim, được có những "cọng rơm" bé nhỏ lót êm tổ ấm ngàn đời:
Chim trở lai tha thêm ngọn cỏ
Tôi cõi lòng cũng đỏ từ tâm
Trên cành khô nụ xanh vừa trổ
Như lộc mầm vô lượng mùa xuân
Sau khi xếp tập thơ lại, tôi mang mang trong lòng về những u hoài với những dòng thơ của thi sĩ Trần Hoài Thư cho một nỗi cô đơn như mây mù giăng phủ. Thêm vào đó là một cõi trăng huyển mộng pha lẫn những chất thật trong trần đời làm thành một cõi trăng riêng của anh. Và rồi anh đã dừng lại một bến sông trăng của vùng đồng bằng - như một nơi chốn vĩnh hằng với một niềm hạnh phúc nhẹ nhàng như hạnh phúc của đôi chim đang ríu rít ở hiên nhà để mỗi độ xuân về tha lại "cọng rơm" làm tổ bên những phong thơ đầy tình tự, thương yêu.
Trên thùng thơ chim làm chiếc tổ
Cọng rơm đan một cõi thiên đường"
Một vài cảm nghĩ về cô đơn, trăng và hạnh phúc trong thơ Trần Hoài Thư" như một chia xẻ từ con tim của một người nông dân bình thường - không dám có tính chất văn học, hay bình thơ - mà tôi mạo muội ghi lại như một thích thú riêng tư, cá nhân. Từ trước tới nay tôi chưa bao giờ biết làm thơ nhưng thích thơ một cách kỳ lạ. Biết được chỗ đứng của mình và hiểu được trình độ hiểu biết thơ của mình còn quá hạn hẹp, nếu có gì sai lệch, thiếu sót khi viết những dòng cảm nghĩ vừa rồi xin anh bỏ qua cho như "cõi lòng từ tâm" của anh dành cho đôi chim nhỏ ở hiên nhà.
Lương Thư Trung
Boston 29-06-96
1 và 2: Bài trả lời của nhà văn Trần Hoài Thư do Ông Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện.
TIN NHANH ĐIỆN ẢNH : GIẢI GOLDEN GLOBES
VHNT đã giới thiệu hai cuốn phim hay Evita và Jerry Maguire. Tối chủ nhật 19/1 vừa qua Madonna, người đóng vai một hình ảnh chính trị huyền thoại Á Căn Ðình trong phim Evita, và Tom Cruise, người đại diện thể thao trong phim Jerry Maguire, đã đoạt giải Golden Globes về vai diễn của họ trong một phim ca nhạc hoặc hài.
Một Madonna đầy biết ơn đã thốt lên: "Trong năm qua tôi đã được quá nhiều ân sủng. Ðược đóng cuốn phim này là một kinh nghiệm lớn lao về nghệ thuật và tâm linh. Tôi sẽ không bao giờ quên." Madonna đã cám ơn đạo diễn Alan Parker, các diễn viên và đoàn quay phim vì"đã nâng cấp trò chơi của cô."
Cruise, giống như Madonna, một người đoạt giải nổi tiếng trong đêm dạ hội tại khách sạn Beverly Hilton, đã bắt đầu bằng cách nhìn nhận những ứng viên khác, sau đó đã tỏ lòng kính trọng tới diễn viên Cuba Gooding Jr., người đã đóng vai người vận động viên được Maguire quản lý. Cruise đã chuyển lời cám ơn tới cha mẹ của anh về sự độ lượng tử tế của họ. Ngoài ra Cruise cũng cám ơn vợ anh, Nicole Kidman, về sự nồng ấm, tình yêu và ủng hộ của cô dành cho anh.
Giải Golden Globes, thường là dự báo cho giải Oscars, đã mở đầu mùa giải thưởng phim ảnh của Hollywood với sự nhấn mạnh vào những phim được quay tại hải ngoại và những phim được thực hiện bởi những cá nhân người Mỹ.
Nguyễn Tiến Dũng
(The Herald - Jan 20, 1997)
Như Mây Như Mưa
Mùa đông. Hàng cây trơ lá run rẩy bên từng cơn gió cuốn. Ngày vui thì đôi giọt nắng rơi bên thềm, vỡ vụn trong màu tuyết trắng sân. Lúc buồn thì mây xám giăng ngang, từng ngày trôi lặng lẽ như hoa tuyết rơi âm thầm bên chiều vắng. Tôi đến thăm Văn vào một buổi chiều như vậy. Mây chưa nặng để làm đổ vỡ không gian, gió không mạnh để làm run rẩy những bước chân lặng lẽ.
Mẹ Văn mở cửa bước ra ngoài khi tôi vừa định bấm chuông. Bác mừng rỡ nắm tay tôi vào nhà. Treo áo lên móc rồi xuống bếp nấu một ly trà thật nóng; bác đối với tôi vẫn như người mẹ với đứa con đi xa trở về. Tóc bác đã bạc nhiều sau năm năm, thời gian không dài ngắn, không ngắn, chỉ vừa đủ cho cho cuộc đời thay áo gió sương.
- Thưa bác, bác vẫn khỏe ạ? Tôi hỏi.
- Bác cũng bình thường. Lâu rồi không gặp, cháu vẫn bình thường chứ? Bác hỏi tôi.
- Dạ, cám ơn bác, cháu vẫn bình thường. Thưa bác, có Văn ở nhà không bác? Tôi đáp lời và hỏi.
Bác ngừng một giây rồi đáp:
- Nó ở trên lầu đó cháu. Mà nào bác có nói gì với nó được đâu?
Bà dừng lại, có chút long lanh trong khóe mắt.
- Thưa bác, cháu vừa về thì nghe vậy nên vội qua đây thăm bác với Văn. Tôi khẽ đáp.
Bác nói tiếp:
- Cháu cũng biết đó, nó đâu có bạn bè gì nhiều. Từ ngày qua Mỹ tới giờ chỉ chơi thân với cháu thôi. Lúc cháu đi rồi thì... thiệt là bác cũng không biết làm sao.
- Thưa bác câu chuyện ra làm sao bác có thể cho cháu biết rõ hơn không? Tôi hỏi.
- Bác cũng không biết nữa. Lúc ra trường người ta thất nghiệp nhiều nên nó đi học tiếp. Cháu cũng biết ba nó mà, lúc nào cũng muốn thằng Văn học hành tới nơi tới chốn; tuy không còn nữa, nhưng chắc ổng cũng vui mừng lắm khi thấy nó nên người như vậy.
Mẹ Văn ngừng một giây rồi nói tiếp:
- Có một buổi chiều bác đang dọn dẹp nhà cửa thì nó về rồi đi thẳng lên lầu chẳng nói năng gì hết từ đó tới bây giờ. Bác đã đưa nó đi hết bác sĩ nầy tới bác sĩ nọ mà chưa ai biết nó bịnh gì cả, thiệt là khổ lòng.
Tôi không biết nói gì an ủi bác. Chuyện buồn thì nhiều mà vui có bao nhiêu. Quá khứ là kỷ niệm, tương lai mịt mờ, hiện tại như cơn mưa giông, đến rồi đi hững hờ, bất chợt. Thấy tôi có vẻ tư lự, bác đứng lên nói:
- Bác phải đi ra ngoài một lát, cháu lên đi lầu gặp thằng Văn đi nhé, nó sẽ mừng lắm đó cháu!
- Dạ. Tôi đáp khẽ.
Tôi lên lầu trong khi mẹ Văn mặc áo lạnh ra ngoài. Căn nhà vẫn như xưa, chỉ thêm đôi phần tịch mịch. Những bức tranh ngộ nghĩnh, dễ thương vẫn bình thản nghiêng mình trên tường trắng. Văn có thói quen cắt tranh hí họa từ nhật báo rồi lộng kiếng treo trong nhà; mới ngắm thì hơi thô, nhưng nhìn lâu thì cũng xinh xắn lắm.
Tôi dừng lại trước cửa phòng, Văn đang ngồi trên chiếc ghế nhỏ đong đưa, hai chân gác lên song gỗ, thỉnh thoảng đưa tay vuốt mái tóc một cách máy móc. Nó không quay lại khi tôi đến sau lưng, ánh mắt lạc lõng lang thang ngoài hiên vắng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Có lẽ mẹ Văn thu dọn căn phòng mỗi ngày nên thật ngăn nắp, mấy cuốn sách giáo khoa xếp lên nhau gọn gàng. Thường nhật Văn rất tỉ mỉ, sạch sẽ. Ngày còn đi học, lúc nào quần áo nó cũng được giặt ủi tươm tất; Văn thường nói "giấy rách giữ lề", vốn là gia đình lễ giáo nên Văn luôn gìn giữ nếp nhà. Tôi nói khẽ:
- Tao về thăm mầy nè, Văn.
Văn không đáp lại, ánh mắt thản nhiên lặng lẽ, vô hồn. Ngày mới lớn, tôi với nó như bóng với hình; Văn lớn hơn vài tuổi nên đối với tôi nó vẫn như người bạn, người anh. Có hôm trời nóng gắt, nó rủ tôi đi chơi:
- Bây giờ tao có hai đồng trong túi, mầy muốn lội bộ ra hồ rồi lấy xe bus về, hay mầy muốn đi xe ra?
Thế là tôi với nó cuốc bộ năm miles ra hồ chơi. Lòng vòng một hồi nó lại hỏi:
- Ði một hồi tao cũng chỉ có hai đồng trong túi, mầy muốn uống nước rồi cuốc bộ về hay mầy muốn đi xe về?
Hai thằng lại lội bộ về sau khi mua nước uống; sau nhắc lại còn ngậm ngùi mãi. Hết trung học, chúng tôi vào cùng trường đại học, Văn rất thông minh nên tôi cũng nhờ theo. Thời gian sau, vì gia đình nên tôi phải đi xa, nó ở lại học hết năm cuối. Nếu như có ai đó sẽ thành tựu nhờ ở sự cần mẫn thông minh của mình thì người đó phải là Văn; tôi lẩm nhẩm như vậy ngày ra đi.
Kỷ niệm quay về cho tôi nghe đắng bờ môi, xót xa âm thầm đâu đây trong chiều vắng. Nếu như còn có giọt nước mắt nào, tôi sẽ rơi hết một hôm nay. Tôi với Văn, lặng yên mà nói thật nhiều. Văn của tôi, người thanh niên ưu tú, niềm tự hào của hội sinh viên Việt Nam mỗi lần nhắc tên, bây giờ còn lại thân xác võ vàng, linh hồn đánh mất.
Tôi đứng lên bóp nhẹ vai Văn khẽ nói: "Tao đi về nha Văn." Nó ngẫng lên nhìn tôi một giây rồi bình thản quay mặt ra song tựa, không nói một lời. Bên ngoài tuyết bắt đầu rơi, không biết Văn nhìn thấy gì trong ấy; một thằng bạn với cuộc đời không định hướng, những cơn gió mùa đông lạnh lùng hiu hắt hay nỗi ám ảnh không tên. Tôi chợt hiểu nỗi lòng của Lê Tín Hương:
Có những niềm riêng một đời dấu kín
Như rêu như rong đắm trong biển khơi.
Có những niềm riêng một đời câm nín,
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi
Vũ Trung
Khói
Chàng gọi viễn liên vào lúc chín giờ hai mươi. Bên chàng chắc vẫn còn nắng chang chang.
- "Em đang làm gì đó."
- "Em chẳng đang làm gì cầ Còn anh?"
- "Anh đang gọi cho em đây. Có gì lạ mấy hôm nay không em?"
- "Mới mấy hôm mà đã có gì lạ, anh. Em vẫn thường. À, em mới xuống tóc rồi."
- "Ðừng tính chuyện đi tu chứ. Em đi tu rồi ai nói chuyện với anh."
- "Em đi tu vì không còn ý nghĩa cho ai nữa... Này bố trẻ ơi, nói em nghe làm sao để người ta khỏi phải ăn mà vẫn sống?"
- "Hỏi một câu thật vớ vẩn tầm phào. Ăn uống là một trong những cái đam mê của con người, lý tưởng gì đi nữa cũng không bằng cái dạ dày."
- "Anh ăn tối chưa? Nghe nói có vẻ như anh đang đói lắm. Ðang đói bụng mà cũng triết lý ghê. Ý em muốn nói nếu người ta không phải nuôi cái miệng thì khỏi phải đi làm. Em làm biếng đi làm lắm rồi."
Chàng cười. Chàng vẫn có thói quen cười nhẹ trong những lúc chúng tôi chẳng biết nói gì nối tiếp câu chuyện. Một phút im lặng. Rồi tiếng chàng thở nhẹ như muốn trút ra một cái gì.
- "Anh vừa làm xong một bài thơ. Bài thơ này sẽ không đăng ở trên báo nào. Bài thơ rất riêng tư, cho chính anh."
- "Anh ém nhẹm sáng tác của anh không cho ai thưởng thức, ích kỷ ghê. Lại còn kể cho em nghe làm chi."
Chàng lại cười nhỏ nhẹ.
- "Với em đâu có gì anh giữ lại cho mình đâu. Sợ em không thèm chia sề Nhắm mắt lại đi anh đọc cho nghe."
- "Tại sao lại phải nhắm mắt? Thơ anh cầu kỳ quá nhỉ?"
- "Bài thơ nói về bóng đêm. Em phải nhắm mắt mới cảm thấy bóng tối quanh mình, mới hiểu ý anh muốn nói gì. Im lặng và nhắm mắt nhê"
Tôi nhắm mắt.
Ðêm phủ che, bóng đời đã rợp
Cuộc nhân sinh trang sử nhẹ tênh
Người quay cuồng múa hát
tình yêu là sự hồi sinh
là cho đêm thăng hoa
cho ngày bừng nở
...
Chàng lặng yên sau khi đọc xong bài thơ. Tôi cũng không nói gì. Giữa chúng tôi lại có sự im lặng. Dường như đôi khi lời nói cũng không còn cần thiết giữa chúng tôi. Chàng dư biết tôi đang nghĩ gì và tôi cũng hiểu chàng đang nghĩ gì ở bên kia. Dường như có tiếng hộp quẹt mồi lửa. Sợi khói vương vương, tôi tưởng tượng mùi Marlboro dìu dịu, điếu thuốc vừa mồi ở đầu giây bên kia chắc vừa loé sáng.
- "Em cay mắt quá. Ðừng thở khói vào mắt em nữa anh."
- "Nói anh nghe ý nghĩa của bản nhạc 'Smoke gets in your eyes'?"
- "Khói vào mắt thì cay mắt. Đơn giản là vậy."
- "Em cố tình tránh câu hỏi của anh."
- "Em cũng muốn hỏi anh câu này. Tại sao người ta nói Tóc mai sợi vắn sợi dài..."
Chàng thở dài rất nhẹ khi tôi chưa kịp đọc xong câu kế. Tôi thấy tim mình thắt lại, thấy tôi độc ác như mụ phù thủy bóp nghiến trái tim chàng đau điếng. Lòng tôi cũng đâu có hơn gì. Cuộc tình chúng tôi đang ở thời điểm nào, bắt đầu hay đang tan rã, hay đang đi vào một cơn bế tắc không có lối thoát. Chàng hay kể về kỷ niệm ấu thơ của chàng. Ðặc biệt không muốn nhắc đến khoảng thời gian vài năm trước đây. Thời gian đó chàng như thế nào tôi cũng có thể đoán biết. Bây giờ, đứa con chàng làm chàng bận rộn với ngày gi Cuối tuần không ghé thăm con được, chàng áy náy bảo chàng là một người cha thiếu bổn phận. Chàng bảo chàng chỉ áy náy với con, nhưng không bao giờ cảm thấy với ai khác. Ai đây là ai, tôi thầm nghĩ. Buổi tối trở về căn phòng độc thân của chàng (chàng bảo bây giờ chàng trở lại đời sống độc thân thoải mái), nhìn bóng mình trên vách và chàng cảm thấy thật cô đơn. Bảo độc thân thoải mái sao còn than cô đơn, tôi hỏi chàng cắc cớ. Luôn luôn em tìm cách bẻ cong ý nghĩ của anh, tại sao vậy hở cô? Chúng mình nên dành cho nhau sự thông cảm cần thiết hơn bao gi Tôi ngậm ngùi. Vâng, nếu có thể chia sẻ hoàn toàn được với chàng thì tôi đâu còn mong mỏi gì hơn. Nhưng mà, có điều...Thôi tôi không muốn nghĩ ngợi xa xôi làm gì. Chàng chẳng bảo hãy cho nhau những gì êm dịu nhẹ nhàng đó sao. Bởi vì đó mới thật sự là nơi chốn để tìm về với nhau. Tình yêu là quê hương, em biết không. Không có tình yêu người ta dật dờ như ma không miếu, không có chốn nương thân. Như vậy chúng mình đã tìm thấy quê hương chưa hở anh.
Chàng lại thở dài rất nhẹ (người gì đâu mà hay thở dài). Tôi lây chàng cái tính hay thở ra như để trút cái gì đè nặng chất chứa trong lòng. Không nói cho nhau nghe được thì thở ra cho nhẹ lòng. Ðó cũng là cách giải quyết vấn đề tạm thời một cách tiêu cực, có phải là như vậy.
- "Cuối tuần này em sẽ làm gì?"
- "Em cắt tóc ngắn, ăn mặc thời trang và đi dự party của một người bạn."
Ðầu giây im lặng. Cũng cái vẻ im lặng chịu đựng cố hữu của chàng.
- "Ừ, em đi chơi vui vẻ. Nhớ tới anh một chút nghe."
Tôi định nói tôi sẽ chẳng nhớ tới chàng tí ti nào cả. Nhớ tới chàng quây quần bên con và người đàn bà kia làm sao tôi vui được. Nhưng tôi đã hứa với lòng sẽ không nhắc đến nhân vật thứ ba đó trong mọi đề tài trong mọi buổi nói chuyện giữa tôi với chàng. Nhân vật thứ ba đó không được nhắc đến, mà sao "họ" cứ quanh quẩn chờn vờn trong đầu óc tôi. Cuối tuần, chàng đến thăm con và dĩ nhiên là ở lại đêm. Chàng làm gì trong suốt hai ngày cuối tuần đó. Ðưa con đi chơi, mua sắm liệu có hết trọn ngày. Tôi thấy tôi nhỏ nhen tưởng tượng ra cảnh gia đình họ quây quần trong căn phòng khách ấm cúng. Trên bàn là bức ảnh chụp phóng lớn chàng đứng cạnh người đàn bà ngả đầu vào vai chàng, đứa con ngồi dưới đất, mọi người miệng cười xinh hạnh phúc. Tôi không còn can đảm nghĩ tiếp tục.
Buổi tối cứ dài rộng ra và đêm thì như sâu hun hút. Tôi trằn trọc nhớ nhung đủ thứ lỉnh kỉnh. Ðời sống lê thê cô đọng. Tôi đang làm gì, tôi là ai, tôi đang ở đâu đây. Ờ, có lẽ tôi là con ốc cô dơn thu cả vào lòng một đại dương lớn rộng. Ðại dương có nhiều sóng ngầm, có bão rớt đôi khi. Cơn mưa hồi chiều làm không khí nghe ẩm thấp. Có tiếng dế kêu rả rích ngoài sân. Tôi không thích tiếng dế kêu buổi tối, nghe buồn não nuột. Thường tôi thích nghe tiếng dế kêu buổi trưa, như những trưa hè ngày nào còn bé ở quê hương tôi. Hồi đó, tôi cũng chơi đá dế, bắn bi như con trai, và cả những trò chơi hiền lành dễ thương của con gái. Trong tôi là sự hỗn hợp giữa cứng rắn và yếu mềm. Đôi khi tôi thấy tôi khô khan, không thích vung trải tình cảm lung tung, mà thật sự tôi là người tình cảm quá nhiều không biết để đâu cho hết. Tình cảm tôi chắc chôn cất kỹ lắm, tôi giấu nó trong cái vỏ bề ngoài dửng dưng, coi đời như pha. Nhưng lạy trời đừng bắt tôi yêu ai, vì lỡ thương người nào là tôi trút tình cảm tôi vào chỗ trũng, tôi yêu ghê gớm lắm. Thế mới khổ thân tôi. Phải chi cứ cho tôi sống bình thường như mọi sinh vật khác, không có hỉ nộ ái ố, thương yêu giận ghét làm gì cho mệt.
Buổi tối trống rỗng lạ lùng. Bất giác tôi đưa mắt nhìn cái điện thoại nằm buồn thiu trong góc phòng. Sao nó không reo lên đánh tan cái không gian chìm lặng lúc này. Bất cứ ai gọi lúc này cũng đều... welcome cả. Lộn số cũng không sao. Tôi sẽ có dịp được nói một câu thật duyên dáng lịch sự. Dạ không có chi, bà hay ông xem lại số vừa bấm xem có lộn không. Chào buổi tối.
Trên tường đồng hồ kim ngắn chỉ đúng số chín. Còn sớm như vậy sao. Giờ này vắng tôi ở buổi party, chắc Vân nó cũng chẳng để ý hay thắc mắc. Tôi đã thất hẹn với nó cũng vài lần, Vân không còn hơi đâu giận tôi nữa. Nó thông cảm bà chị không hợp với chỗ đông người, không ưa không khí ồn ào ngộp th Thì giờ còn rộng quá, tôi sẽ làm gì giải trí đây.
Mùa hè mới bắt đầu, mà tôi thì chẳng có một cái chương trình đi nghỉ hè, du ngoạn ở đâu cả. Hay tôi thử vét chương mục ngân hàng làm một chuyến đi xa. Qua miền tây, qua California? Không, tôi không muốn đến nơi ấy. Hay là xa hơn nữa, nam bán cầu thăm con gái đỡ đầu của tôi. Tôi cười một mình với ý nghĩ tôi cũng có một đứa con gái chứ bộ. Con nuôi bảo trợ mà tôi chưa hề gặp mặt. Xứ Ecuador miền nhiệt đới, khí hậu giống Việt Nam có thể sẽ cho tôi chút gì gần gũi. Hôm xem hình đám con nít cần người bảo trợ, qua một cơ quan trung gian từ thiện quốc tế, tôi chọn Cindy vì nước da ngăm đen của nó. Nước da tai tái giống con nít nhà nghèo ở Việt Nam. Con bé năm tuổi, có ba đứa em và là chị cả. Theo hồ sơ, nó đang đi học, biết quét nhà, coi em và đi chợ với mẹ, tháo vát có thua gì trẻ ở Việt Nam. Cindy học lớp mẫu giáo trường làng. Nó gửi cho tôi một bức tranh do chính tay nó vẽ hình ngôi nhà (trong giấc mở) của nó. Ngôi nhà có hai cửa sổ, một cửa ra vào chính, một cái cây có hoa lá cành bên cạnh, và một ông mặt trời đỏ thắm cười toe toét phía trên. Bên dưới Cindy ký đề tặng tôi. Senorita. Mi Casa. Cindy Fernandez. Tôi cảm động muốn chảy nước mắt hôm vừa nhận được bức hình và thư của ông bố Cindy. Thư viết bằng tiếng Spanish tôi không đọc được, phải nhờ một người quen dịch lại dùm. Ông ta có nét chữ tháu, cứng rắn, có vẻ có đi học, mà sao nhà nghèo quá. Một vợ bốn đứa con làm sao khá nổi (tại sao càng nghèo càng đẻ con nhiều nhỉ?). Thư nói cám ơn tôi hết lòng, và mong có dịp tiếp kiến người bảo trợ. Cindy cháu đi học ngoan lắm, suốt ngày ngồi vẽ vời, vẽ senorita có mái tóc đen dài giống nó (sao nó biết tôi có tóc dài màu đen?). Gia đình ông ta ở một túp lều chắn bằng tôn bốn phía, làm nghề lao công với cuộc sống vất vả. Tội nghiệp gia đình ông Fernandez. Quê hương tôi cũng có những gia đình còn không có cả một mái lều che sương, cũng nghèo đói như xứ của ông vậy.
Lôi hình Cindy từ trong ngăn kéo, tôi ngắm khuôn mặt con bé với đôi mắt to đen ngây thợ Ðứa con nít nào cũng có những đôi mắt trong sáng tuyệt vời, như mắt của Cindy, như mắt con của chàng. Tôi yêu trẻ con quá đi mất. Nghĩ đến đứa con gái của chàng, trong hình trông nó cũng bằng tuổi này. Cô bé xinh đẹp dễ thương như một thiên thần. Nếu tôi lấy chồng năm tôi vừa ra trường, với một người đàn ông nào đó có bản năng làm chồng làm cha (hy vọng tôi có bản năng làm mẹ), thì bây giờ tôi cũng có một đứa con bằng tuổi con chàng, bằng tuổi Cindy. Ðàn bà con gái tuổi tôi mê làm mẹ thì cũng chẳng có gì là lạ. Bản năng tự nhiên của đàn bà. Ðến một tuổi nào bỗng khao khát một thứ tình mẫu tử, muốn có một cái gì gần gũi thuộc về mình hoàn toàn, để mà trút tình thương vốn đầy ắp trong lòng. Nghĩ đến chuyện đi xa thăm con nuôi, lòng tôi cảm thấy vui vui. Cái party của Vân không còn làm tôi áy náy tiếc nuối nữa.
Buổi tối, tôi đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng với hình ảnh con bé Cindy nhoẻn cười nắm lấy tay tôi, có cả con gái chàng nhìn tôi mỉm nụ cười diễm lệ nhất. Nụ cười y hệt nụ cười của chàng, mờ ảo trong màn sương chiều với sợi khói vương nơi khoé mắt.
Lê Thị Trầm