vhnt, số 278
11 March 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................................PCL
T h ơ :
1 - Bốn mùa...................................................Song Vinh
2 - Ðợi chờ................................................Hàn Trân
3 - Nguyên vẹn..................................................Hải Hà
4 - Em bé Thuận An.............................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
5 - Mỹ Tho yêu dấu...................................Anthony Q. Nguyen
6 - Cảm xúc bất chợt/Suđen Feeling...........Trương Trọng Hoàng
7 - Bụi thời gian....................................................CL
8 - Trách..............................................Nguyễn Bá Dĩnh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: "Tôi luôn luôn cố gắng".....Mary Thiên Yên Lê
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Hạnh phúc và nước mắt.......................Lương Thư Trung
11 - Cành bông hồng cao su............................Vũ Ngọc Thuần
Chào bạn đọc,
Chào một ngày nữa trong tuần lễ mới, mong bạn đã có những ngày đầu xuân êm ả và thoáng dịu, với nắng trong và gió mềm như lụa...
Gửi đến bạn vhnt số này với nhiều bài vở về thơ và sáng tác, với thêm sự cộng tác của những tác giả mới đến với vhnt: Song Vinh, Hải Hà, CL, Anthony Q. Nguyễn, cùng với những nét thơ mới xuất hiện của Nguyễn Thị Hoàng-Ân, Hàn Trân, Trương Trọng Hoàng và Nguyễn Bá Dĩnh, mỗi người một nét riêng, đầy tình cảm trong mỗi hồn thơ. Về sáng tác, có Vũ Ngọc Thuần với một truyện ngắn dễ thương, về một kỷ niệm nhẹ nhàng, tùy bút của Lương Thư Trung cảm động, với những kỷ niệm êm đềm gợi nhớ từ một nơi chốn thân thương.
Cám ơn sự ủng hộ quí báu của những tác giả gửi bài và lòng quí mến của độc giả. Xin dành cho bạn đọc một ngày thật vui, thật riêng.
thân ái,
PCL/vhnt
Bốn Mùa
Một
Ðông về thăm phố nhỏ,
Sầu mưa tuyết bay bay.
Nhớ Em từ dạo đó.
Xanh xao đọng tháng ngày.
Ðời lũ mình góp nhặt,
Cô quẫn vốc tương lai.
Khói tàn cay đôi mắt,
Ngủ êm mộng tàn phai.
Hai
Xuân lên rừng hoa rộ,
Em thấp thoáng bên song.
Thềm trăng ta say đắm,
Hai ngã cũng một lòng.
Hôm vai Em tóc xõa,
Ta ngây ngất bên này.
Khung trời đêm cư xá,
Gối mỏi cũng lang thang.
Ba
Thu giăng mây phố nhỏ,
Ngồi hỏi lại bao dung.
Chiều qua chiều lá đổ,
Hoang vắng có muôn trùng.
Về làm thơ dạo ấy,
Sông núi mỗi mình thôi.
Hoa đơm, hoa khép nụ,
Thơ mục rữa theo đời.
Bốn
Hạ qua như kỷ niệm,
Chân lãng tử xa xa.
Mịt mù ôm thân thế,
Hai lối một lần qua.
Hôm nay nằm chết lịm,
Heo may đón mưa về.
Hồn hỏi han nhỏ nhẹ.
Em có thật là Em.
Song Vinh
Ðợi Chờ
Ta đã nhốt thiên sầu vào chén đợi
Uống một lần cho ngập đắng trùng khơi
Mặc lang thang có thống thiết gọi mời
Ðể ngồi lại mênh mang và bóng tối
Em tóc mây ngang lần xưa cứu rỗi
Có bao giờ cảm được kẻ đơn côi
Cứ ngông nghênh theo tiếng vọng bồi hồi
Ðã quen rồi cuộc chờ ta mấy cội
Hàn Trân
Nguyên Vẹn
Chỉ cảm giác chứ chưa lần đối mặt
Từ lời thơ rung động đáy hồn tôi
Trần gian sầu nơi bể khổ chơi vơi
Có bao kẻ lạc loài trong tê tái
Lòng vẩn ngở mình mơ trong vụng dại
Ðến vầng trăng sáng tỏa giữa trời khuya
Ðể ai cùng tâm sự đứng bên kia
Cũng chứa đựng một nỗi buồn man mác
Có những kẻ đứng bên lề ngơ ngác
Nhìn thời gian thế sự nhịp nhàng trôi
Thế mà không một chút ít bồi hồi
Chợt tỉnh ngộ nửa thời xuân đánh mất
Chính ta là một phần trong vạn vật
Những vấn vương còn mất đó là đây
Kỷ niệm kia chồng chất để xum vầy
Ai vùi lấp một kho tàng vô giá
Với riêng ta kỷ niệm là tất cả
Khơi nguồn thơ ý nhạc thú mê say
Vạn nỗi niềm gói trọn ở chiều nay
Nước vẫn chảy cạnh bến bờ nguyên vẹn!
Hải Hà
Viết từ nguồn thơ của Hàn Trân qua bài Băng Hoại trong vhnt #275. Kính cám ơn tác giả Hàn Trân.
Em Bé Thuận An
Tôi vẫn ở bên em trong mắt buồn u-uất
Cửa bể chiều hôm vắng khách thưa người,
Rổ bánh nghèo còn đầy ắp ế ê chề
Em lót bằng chiếc áo đồng phục lấm lem
Giặt bằng nước biển mặn như mồ hôi em đổ,
"Nhà em nghèo không mua được xà-bông..."
Tôi vẫn có trong em những lúc em buồn không lên tiếng
Từng bữa cơm gạo hẩm độn với khoai
Cha chết trong tù, mẹ bỏ ra đi
Em sống với bà mắt lòa, chân yếu.
Cái học dở dang, đời em không hoa bướm,
Sớm lăn lộn với đời, em đã biết khôn ngoan.
Tôi không thể ra đi, vẫn quyến luyến không rời,
Tôi vẫn ở cạnh em một buổi chiều nơi cửa bể.
Ở những đêm miệt mài làm thơ bên ánh đèn hiu hắt,
Sau một ngày làm việc căng thẳng thần kinh.
Em bé Thuận-An ơi,
Nào tôi biết tương-lai em sẽ ra sao,
Nhưng tôi xin thả một lời cầu nguyện đẹp
Lên một vì sao trên bầu trời thật rộng
Hy vọng đời em sẽ sáng đẹp như sao,
Ai biết đâu, đôi khi trời có mắt...
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
MỸ THO YÊU DẤU
Mỹ Tho đẹp và thơm như tên gọi...
- Nguyên Nhi -
Dù mãi xa rồi nhưng tôi vẫn nhớ
Mỹ Tho đó, quê hương tôi một thuở
Có rặng dừa xanh, có hàng dâm bụt
Và những tiếng cười trong vắt như pha lê.
Nhớ những chiều buồn dạo phố rong chơi
Qua những hàng me đầy đường lá rụng
Những tà áo dài tung tăng nghịch gió
Và đâu đó, có tiếng nói người thương.
Có còn không, Nguyễn Ðình Chiểu, trường tôi?
Có còn không, cô em thường e lệ?
Những lá thư nho nhỏ dưới hộc bàn
Háo hức đọc vào những giờ đến lớp.
Dù mãi xa rồi nhưng tôi vẫn nhớ
Nhớ lắm người ơi, một thuở quê hương
Biết bao giờ tôi mới được hồi hương
Ðể được một lần nhìn -- Mỹ Tho yêu dấụ
Thân mến gởi tặng những người đã từng sống và lớn lên tại MYTHO,
Anthony Q. Nguyen
April 11, 1996
CẢM XÚC BẤT CHỢT
Bây giờ
Sao bỗng
Thèm được khóc
Thèm được cười
Hồn nhiên
Như thời thơ ấu.
Có cái gì đó
Ngăn nước mắt
Ngăn nụ cười
Một cảm giác
Không cảm giác
Trống trải
Lạnh lùng.
Cuộc đời
Nhiều lúc đắng cay
Lắm khi bùi ngọt
Trải qua rồi
Nhìn lại
Như một giấc mơ.
Cuộc đời
Như một giấc mơ
Nhưng không kết thúc lúc thức dậy
Mà là lúc ngủ đi mãi mãi...
12/12/96
SUDDEN FEELING
Why do suddenly,
I crave for laugh
I crave for tears,
Nothing serious
Just like a child?
There is something
Prevents my laugh
Prevents my tears
A feeling of
Empty feeling.
Life has events
Honeyed and sweet
Bitter and sour
When being looked back
Flows like a dream.
Life
Flows like a dream
Not ending when we wake up
But when we go to sleep forever....
12/12/96
Trương Trọng Hoàng
Bụi thời gian
Tặng em hoa đỏ mặt trời
Trăm con chim nhỏ hợp lời trầm ca.
Tóc xuôi sợi nắng chiều tà
Hoàng hôn đáy mắt, mưa sa tần ngần
Dài tay rũ bụi dương trần
Cỏ cây quấn quít gót chân bên đường
Môi hồng ngọt vị yêu đương
Thần tiên vũ khúc Nghê Thường xôn xao
Còn đây dư ảnh hôm nào
Hồn đong kỷ niệm, tiếng chào tịch liêu
Tiếng thơ rụng giữa trời chiều
Ðêm qua phố lạnh mang nhiều nhớ mong
CL
trách
em không chịu hiểu tôi gì hết
yêu thể chừng ni, không biết sao?
chẳng lẽ em chờ tôi nói rõ
mà thôi... tôi chẳng nói gì đâu!
nhìn lén em cười hồn nhiên quá
xin ước được là viên ô mai
thà tôi tan giữa đôi hàm ngọc
còn hơn là phải nhớ thương hoài!
em vẫn nói cười vui vẻ tệ
mình tôi... mê mẩn... một mình tôi
không sao! tôi có thành ngơ ngẩn...
chẳng trách gì em đến nửa lời!
Nguyễn Bá Dĩnh
PHỎNG VẤN NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP: TÔI LUÔN LUÔN CỐ GẮNG
Nguyễn Huy Thiệp ra nước ngoài lần đầu tiên trong đời. Ông sang Mỹ do lời mời của Sở Thông Tin Hoa Kỳ (US Information Agency) thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, với sự chấp thuận của bộ Ngoại Giao Việt Nam. Ông được thăm viếng nhiều thành phố, trong đó có New York, New Haven, Boston, Washington DC, Seattle và Houston, từ 27 tháng Chín đến mùng 1 tháng Mười Một 1996.
Nguyễn Huy Thiệp hiện được coi là một nhà văn lớn. Ông vốn là một giáo sư trung học dạy sử, và bắt đầu viết từ năm 1986. Ông viết nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, kịch, tiểu luận. Ông mạnh bạo đụng chạm đến những đề tài chính trị, lịch sử, tính dục thường được coi là "cấm kỵ" ở Việt Nam. Nhà văn Phạm Thị Hoài có lần đã viết rằng: "Sau Nguyễn Huy Thiệp, các nhà văn Việt Nam không còn viết như họ đã viết được nữa."
Sinh năm 1950, tại Thanh Trì, Hà Nội, Nguyễn Huy Thiệp theo cha mẹ đi nhiều nơi như Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Yên. Ông được cha dạy học nhiều hơn là học ở trường. Từ 1960 đến 1970, ông được học với một linh mục Thiên chúa giáo, và được dạy học tại một trường dành cho cán bộ đảng ở cao nguyên Bắc phần. Một trong số những học trò của ông, trở thành viên chức cao cấp ở Hà Nội, đã giúp ông vào làm việc ở Bộ Giáo Dục, có nhiệm vụ phát hành sách giáo khoa, do đó, ông được đi nhiều nơi.
Ông là tác giả của khoảng 40 truyện ngắn và kịch. Ông dự định in một cuốn truyện dài vào năm tới. Hiện nay, ông làm chủ một quán ăn có tên là quán "Hoa Ban" ở Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội.
Trong dịp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đến thăm trường Ðại học Washington tại Seattle vào cuối tháng Mười, nhà báo Mary Thiên Yên Lê đã có một cuộc trao đổi cùng nhà văn. Cô Mary Thiên Yên Lê đặt các câu hỏi bằng tiếng Anh, có người dịch ra tiếng Việt, ông Nguyễn Huy Thiệp trả lời bằng tiếng Việt, các câu trả lời được dịch ra Anh ngữ. Sau đây là một phần của cuộc chuyện trò, trích từ các câu hỏi và đáp bằng tiếng Việt.
Mary: Ông bắt đầu viết từ hồi mấy tuổi?
Nguyễn Huy Thiệp: Tình yêu văn học có trong tôi từ rất sớm, nhưng thật sự có ý thức viết văn thì khá muộn. Sống, làm việc, đi lại, gặp gỡ nhiều người, lúc đó trong tôi lẫn lộn rất nhiều thứ tình cảm. Tôi vừa yêu thương những tình cảm tốt đẹp trong con người ta, vừa căm ghét khinh bỉ những cái xấu xa hèn kém ở họ. Tất cả những cái ấy biến thành một thứ tình cảm lẫn lộn, và những giòng chữ tuôn chảy... Trong một khía cạnh nào đó tôi viết để tìm cách nâng dậy những cái hèn kém, và tôi không biết tôi có làm tốt được điều đó hay không.
Mary: Ông đọc sách gì, cảm tưởng của ông ra sao về những gì ông đọc?
NHT: Khi viết văn tôi luôn luôn tìm lại những giá trị truyền thống. Tôi có đọc lại những nhà văn từ 1945 đến 1975.
Mary: Của cả miền Bắc lẫn miền Nam chứ?
NHT: Cả hai, nhưng dĩ nhiên miền Bắc nhiều hơn. Nhưng thú thật tôi học được rất ít ở họ. Tôi lại phải đọc ngược lại từ đầu thế kỷ hai mươi cho đến 1945, cũng có thu lượm được đôi điều hay, nhưng vẫn còn cảm giác thất vọng. Sau đó tôi đọc ngược lại từ thế kỷ 15 đến 20, rồi từ 12 đến 15. Tôi nghĩ một nhà văn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thủy nhất của dân tộc mình. Tóm lại phải đi từ con người Việt Nam nguyên thủy, con người Việt Nam từ nguồn gốc, từ đó lần trở về sau.
Mary: Có lẽ vì thế mà ông viết về những nhân vật lịch sử có tính cách huyền thoại?
NHT: Có thể đấy cũng là một lý do, nhưng mà tôi bắt đầu từ chỗ rất đơn sơ như câu tục ngữ, bài dân ca, câu truyện cổ, rồi đến sách s Phải đọc rất nhiều. Ðọc xong rồi quên hết đi và nói tiếng nói của bản thân mình. Và phải có giọng điệu riêng của mình.
Mary: Ông nói ông thất vọng khi đọc các tác phẩm từ thế kỷ 12 đến 1975, vậy trong những tác phẩm ông viết về những nhân vật huyền thoại, ông có vẻ chê trách những nhân vật đó - có phải đó là biểu hiện sự thất vọng của ông?
NHT: Tôi nghĩ sách viết ra bao giờ cũng chứa sự lầm lẫn rất lớn, và bản thân tôi, tôi không muốn mắc phải lầm lẫn. Nhưng thật sự đấy là điều không tưởng. Có khi viết ra lại tạo nên những nhầm lẫn mới. Trong Kinh Thánh, Chúa đã mắng mỏ các văn sĩ... Có lẽ chỉ có một tác phẩm văn học (hoàn hảo) thôi: đấy là Kinh Thánh, Kinh Phật... Các văn sĩ chỉ giải thích kinh một cách rất nhảm nhí theo kiểu của mình thôi.
Mary: Khi viết về các nhân vật lịch sử, ông hạ họ từ huyền thoại xuống cấp bình thường của con người...
NHT: Ở trong cuộc sống người ta tạo ra rất nhiều thần tượng khác hau. Con người phải vừa tìm cách bỏ đi một số các thần tượng, đồng thời cũng lại tiếp tục xây dựng những thần tượng mới. Cuộc sống vừa đời hỏi phải bỏ đi, đồng thời phải xây dựng. Chỉ có những thần tượng tôn giáo là duy nhất tồn tại. Còn bản thân những thần tượng do con người nghĩ ra thì chỉ mang ý nghĩa tương đối của một thời gian nào đấy.
Mary: Khi hạ những nhân vật lịch sử huyền thoại xuống mức độ bình thường của con người, như vậy ông có tỏ ra không tôn kính các nhân vật đó không?
NHT: Hạ bệ các thần tượng cũng là một cách tôn vinh họ đấy chứ. Những giá trị của con người cũng cần được tôn vinh ch Tôi nghĩ trả lại cho thần tượng những giá trị của con người cũng là một cách tôn vinh họ. Sống mãi trong bầu không khí được thờ phụng mãi họ cũng chán chứ.
Mary: Theo ông, tác phẩm nào của ông được coi là đặc thụ
NHT: Những gì tôi viết bao giờ cũng có dấu vết của tôi, và sự sống của những con người đồng thời của tôi. Nhưng tôi chưa hài lòng với những điều tôi đã làm được. Nó còn chưa đầy đủ.
Mary: Có phải khi ông gặp khó khăn nhất là lúc ông viết hay nhất không?
NHT: Có thể một phần như vậy, nhưng có thể không phải như vậy. Tôi nghĩ nhà văn thường thường có hai giai đoạn viết, một giai đoạn không hiểu biết về cuộc sống và một giai đoạn hiểu biết, từng trải, thận trọng viết ra những điều mình cần viết. Ðấy là các giai đoạn văn học. Giai đoạn thứ nhất tôi đã trải qua rồi, tôi đang ở trong giai đoạn thứ hai, và tôi cũng không biết kết quả ra sao. Tôi phải dựa một phần vào nỗ lực của cá nhân tôi, một phần dựa vào cái may mắn của số phận, và còn phải dựa vào vật liệu của của sự sống.
Mary: Trong tác phẩm của ông, nhân vật phụ nữ không có cái đặc thù về phụ nữ, tại sao?
NHT: Theo quan niệm phương Ðông, sự sống có hai yếu tố âm dương phối hợp. Và khi được sinh ra, được quy định bởi giới tính thì chúng ta đã mang một bài toán đặt ra với số phận của chúng ta. Bí mật của giới tính, bí mật của quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa âm và dương cũng là bí mật của cuộc sống, của vũ trụ, của xã hội, của tất cả mọi người. Tôi không biết trong những truyện của tôi, những nhân vật nữ dựng ra có thành công hay không, nhưng có thể coi như một tiếng gọi, như một cái gì đấy là một nửa phần ở trong tôi.
Mary: Người đàn bà lý tưởng trong nhân vật của ông là như thế nào?
NHT: Thật khó trả lời câu này. Bản thân tôi cũng không hình dung nó như thế nào. Chúng ta vẫn đi tìm bản thân mình - đi tìm bản thân hay là nửa bản thân?
Mary: Ông muốn nói trong một con người có một nửa nam tính, một nửa nữ tính?
NHT: Chắc không phải là một nửa đâu. Nhưng trong người đàn ông thì có chứa một yếu tố nữ tính nào đấy, nhưng mà họ vẫn là đàn ông. Và trong người phụ nữ thì có chứa một yếu tố nam tính nào đấy, nhưng mà họ vẫn là phụ nữ. Một nhà văn có nói một câu thế này: "Này cô gái, nếu mà cô đánh mất đi tính chất nam tính ở trong con người cô thì mọi người sẽ bỏ rơi cô. Còn nếu cô đánh mất đi cái nữ tính trong con người cô thì cô sẽ giết chết cô." Ðại khái thế, tôi không nhớ rõ nguyên văn...
Mary: Một số tác phẩm của ông đã được dịch bởi những dịch giả khác nhau. Ông có hài lòng với các bản dịch đó không, và những bản dịch đó có diễn tả được những điều ông muốn biểu lộ không?
NHT: Sách của tôi đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và tôi biết trong đó có những bản dịch thành công, và những bản không thành công, rải rác đây đó. Cần phải được tập họp lại, có như thế người ta mới có được một cái nhìn tương đối rộng lượng đối với tôi. Khi viết, tôi có gắng viết nhiều, đa dạng, mỗi truyện khác nhau. Ðời sống rất đa dạng, và tôi cố gắng phản ánh sự đa dạng, phong phú ấy.
Mary: Về ông Tướng Về Hưu, nếu ông tướng ấy còn sống thì ông nghĩ bây giờ ông ta đang làm gì?
NHT: Tướng Về Hưu là một nhân vật hư cấu, nhưng nó cũng có hình ảnh của những vị tướng đương thời. Một số các vị ấy vẫn còn sống, một số đã mất...
Mary: Khi viết về những nhân vật lịch sử có tính cách thần tượng, ông có tiên liệu có những phản ứng nào của độc giả không?
NHT: Khi viết tác phẩm ra thì tôi cũng không dự đoán được cái phản ứng xã hội về nó đâu. Theo tôi, một nhà văn khi viết cố gắng làm cho tác phẩm tương tự nhất theo cái "cấp" của hỗ Cũng giống như các nhà sản xuất khác họ làm ra đôi giầy, cái máy ảnh, quần áo..., người ta làm với tất cả sự khéo nhất, với tất cả cái tử tế nhất. Và tôi nghĩ văn chương cũng là cái gì rất giống các thứ hàng hóa kia. Nếu được làm một cách tốt nhất, nó sẽ tồn tại, sẽ được người ta ưa thích và mua dùng.
Mary: Trong một nhà văn có những yếu tố nào?
NHT: Nhà văn giỏi có hai yếu tố. Một yếu tố của người thợ, một người thợ thủ công rất bình thường. Nhưng đồng thời cũng có một nhà bác học, một người bay bổng mà người bình thường không thể có được. Công việc viết văn nó có đòi hỏi giống như một người thợ thủ công, đồng thời cũng đòi hỏi một sự hiểu biết rất bác học và một tâm hồn nghệ sĩ. Victor Hugo là một con người như thế, Hemingway là một con người như thế.
Mary: Những tác phẩm của ông rất kỳ thú, nhưng một số người không biết thưởng thức chúng. Ông nghĩ thế nào?
NHT: Tôi nghĩ đó là một thiệt thòi cho họ, nếu thực sự tác phẩm của tôi là kỳ thú. Nhưng cũng có thể là họ đúng. Tác phẩm văn học nó phù hợp với sự thưởng thức tùy từng người. Tôi biết là tôi làm được đến đâu, và không thể làm được đến đâu.
Thời thế ở Việt Nam từ 1986 đến nay có rất nhiều thay đổi so với trước kia. Bầu không khí tự do dân chủ có cởi mở hơn, sách báo được phổ biến nhiều. Công tác báo chí xuất bản vẫn là do nhà nước. Ở việt Nam chưa có báo và nhà xuất bản tư nhân. Văn học là một bộ môn nghệ thuật, điều quan tâm của nhà văn là viết cho nó hay thôi. Chính trị của nhà văn nó khác với chính trị của nhà cầm quyền đương thời. Ðừng có đồng nhất cái chính trị của nhà văn với cái chính trị của thể chế.
Mary: Trong truyện ngắn của ông hay có thơ...
NHT: Những bài thơ của tôi lẫn lộn trong các truyện cũng giống như hình thức các truyện cổ phương Ðông người ta viết thôi. Có những thứ mà diễn đạt bằng thơ tốt hơn là văn xuôi.
Mary: Ông có làm thơ?
NHT: Viết thơ là cái rất khô Ngày xưa ở Việt Nam các cụ nói "thi ngôn chí" tức là thơ để nói lên cái chí của con người. Ðấy cũng là một quan niệm. Có nhiều loại người làm thơ khác nhau. Thi sĩ thực sự ở lứa tuổi khi người ta còn rất khờ dại, thơ của họ như là lời ca hát rất hồn nhiên, và nó hay thì người ta không hiểu vì sao nó hay. Ðấy là giai đoạn khi người ta hãy còn trẻ, một giai đoạn ngắn ngủi trong cuộc đời.. Những thi sĩ nổi tiếng trên thế giới cũng như Việt Nam, có những tập thơ khi còn rất trẻ, giai đoạn tuổi từ 15 đến 20. Còn loại thứ hai là loại "thi ngôn chí," khi người ta đã trưởng thành, làm thơ để nói cái chí của con người. Nguyễn Du hay một số các nhà thơ khác của Việt Nam cũng thuộc loại này. Chí của họ có thể là một cái chí thanh cao, có thể là chí anh hùng, có thể là phản ứng lại một điều gì đấy, như Trần Tế Xương của Việt Nam cũng là một "thi ngôn chí." Ông ta căm ghét tất cả những cái dung tục, những cái tầm thường. Hồ Xuân Hương cũng thế, cũng là "thi ngôn chí," muốn vươn tới sự cao thượng. Có lẽ chín mươi phần trăm thơ là nói cái chí của con người.
Mary: Không hài lòng với văn chương hiện đại, hiện thời ông có muốn sống với một thời đại khác không? Một thời trong quá khứ chẳng hạn?
NHT: Người ta không thể muốn thế này, muốn thế kia được. Con người ta phải chấp nhận sự sống ch Không ai chọn cái thời cho mình sống. Chúng ta chỉ có một cuộc đời, một số phận thôi. Một tiếng ừ, một tiếng không, một con đường thẳng, một cái đích để tới. Một tiếng ừ để mà chấp nhận tất cả, chấp nhận cả những điều hay điều dở của cuộc sống trong thời đại mình. Một tiếng không để không chấp nhận những điều không phù hợp với mình. Một con đường thẳng của số phận để mình đi, một mục tiêu, một chí hướng để mình đi cho hết cuộc đời.
Cuộc sống cần rất nhiều cảm giác khác nhau. Tác phẩm văn học trước hết gây cho người ta một cảm giác, cảm giác gì cũng được, yêu thương, thù hận, thô bạo, vui vẻ, thậm chí đố kỵ. Nhưng dứt khoát phải có một cảm giác. Thực ra trong tacx phẩm của tôi không phải chỉ có cảm giác thô bạo đâu. Trong tác phẩm của tôi có rất nhiều cảm giác khác nhau, và chúng gây thích thú cho người đọc. Dĩ nhiên khi viết những cảm giác ấy ra thì tôi cũng chấp nhận những cảm giác của thời thế của tôi, của hoàn cảnh của tôi.
Mary: Ông có nghĩ có một tác phẩm của mình sẽ đoạt giải Nobel không?
NHT: Giải thưởng ấy là mơ ước của các nhà văn. Không phải là tôi không có tham vọng để có những giải thưởng lớn, còn làm được đến đâu thì còn tùy sự cố gắng và sự may mắn của số phận tôi. Tôi không phải là một người có thiên tài, nhưng tôi luôn cố gắng.
Mary Thiên Yên Lê
* trích từ tạp chí TK21 #93 01/97
HẠNH PHÚC VÀ NƯỚC MẮT
Cuối cùng rồi, tôi đã thuyết phục được vợ tôi. Trinh đã đồng ý để tôi bán bộ chảo nấu bằng gas, món quà cưới cuối cùng , vật quí giá nhất còn lại trong nhà sau gần tám năm trời, nàng đã gom góp, vơ vét bán sạch lo cho chồng trong trại cải tạo ở rừng tràm, lo cho con đau ở nhà. Với chút ít tiền, tôi trích ra mua năm trăm gram lưới cá trắng, một ít câu dấu ó, loại giăng cá lóc bằng mồi nhái, cùng một số vật dụng cần thiết cho cái nghề giăng lưới, giăng câu. Còn lại bao nhiêu, tôi đem về giao cho vợ tôi, nàng mua sắm cho hai con tôi, mỗi đứa một cái áo mới để sắp sữa tựu trường và mua gạo ăn đắp đổi qua ngày.
Thế là tôi cụ bị xuồng bộng, sạp tre, ván lót, cà rèm, đài câu, đài lưới. Loay hoay cũng mất mấy ngày mới xong. Rồi tôi lại lên đồng, khi con nước rằm tháng tám bò ngập những cánh đồng gò, cá tràn theo nước tìm mồi. Những ngày đầu làm cái nghề hạ bạc này, không kém phần vất vả. Nào bủa lưới, lưới bị rối ; bủa câu, câu bị vướng. Nhiều lúc trời dông mưa, gió chướng, quần áo ướt mem, lạnh rung cầm cập. Trời tối như mực, muỗi bu đầy mặt, không kịp đập. Nghĩ tới số mệnh, nghĩ tới thời thế xoay nhanh như chong chóng, nghĩ tới cuộc đời mình sao quá cơ cực, với bao nhiêu năm tháng cha mẹ già hy sinh một đời , nhịn ăn, nhịn mặc chỉ có một mơ ước nhỏ nhoi là cho mình đi học nên người, để rồi , bây giờ không biết đem dùng vào chỗ nào cái vốn của mình, tự dưng lòng chùng lại, buồn buồn... Bù lại, khi mỗi lần tới dác thăm lưới, thăm câu, cá dính liệt giường, thấy hồi hộp, vui vui, mừng thầm trong bụng. Nhớ tới vợ, con ở nhà, nếu biết được hôm nay cá dính nhiều, chắc là mừng lắm. Rồi trong bụng lại cười một mình giữa đêm đen tối om, không thấy bàn tay. Mãi mê gỡ cá, hai bàn tay tôi bị nước ăn lở loét hồi nào, không hay biết. Vợ tôi mỗi lần đâm lá gáo, bỏ chút phèn chua, một chút muối, vắt lấy nước, thoa lên kẽ bàn tay tôi, Trinh thấy tôi nhăn mặt, nàng cũng chảy nước mắt. Tận trong lòng, tôi cảm nhận một niềm hạnh phúc ngập tràn như những giọt nước mắt của Trinh không giữ lại được, rơi xuống bàn tay tôi. Lúc nào, vợ tôi cũng chu đáo lo cho tôi từng li, từng tí...
Em yêu dấu,
Thắm thoát, mới đây đã hơn ba mươi năm, kể từ ngày anh gặp em lần đầu ở giảng đường trường đại học Luật khoa, Sài Gòn- Những ngày tháng thơ mộng của một thời sinh viên - Bây giờ, ngồi nhớ lại, như một viên ngọc bích, lấp lánh trong đời mỗi chúng ta.
Qua ánh mắt to tròn,qua gương mặt phúc hậu, với giọng nói hiền dịu, ngọt ngào, với mái tóc búp bê thời con gái, em đã đi vào hồn anh. Em đã chiếm trọn con tim anh và ở lại mãi hoài. Ðể rồi, chúng mình mang đến cho nhau một tình yêu đầu đời tinh khôi của tuổi học trò, thơ mộng. Tình yêu đó cứ lớn dần, lớn dần theo thời gian và bền chặt đến bây giờ, trải dài hơn ba mươi năm trời với biết bao êm đềm, hạnh phúc, đáng yêu, đáng qúi, pha lẫn những vị mặn của nước mắt, vị đắng của cuộc đời, với biết bao bận phân chia, biết bao phen cách trở, xót xa, tan nát cõi lòng. Thế mà, lúc nào chúng mình không rời nhau trong hồn nửa bước. Tự trong con tim, những chất liệu vô hình kết dính hai tâm hồn như không chia lìa được. Nhưng thực tế ngoài đời, anh đã biết bao lần để em một mình, một bóng, cô quạnh đến độ bàng hoàng, thổn thức...
Với năm năm, tình yêu chúng mình như một trái chín đầy mật ngọt đợi chờ, một lễ cưới đơn sơ như trong bài thơ " Màu tím hoa sim " của Hữu Loan, nghĩa là " cưới nhau xong là đi ". Vì rằng, nhà anh ở dưới quê, chiến tranh cứ triền miên, hết tháng, hết ngày. Sau lễ cưới buổi trưa, mặt trời vừa xế bóng, vợ chồng mình dắt díu nhau ra chợ quận ngủ nhờ, ngủ đậu. Chúng mình không có phòng hoa chúc, không có xe hoa, pháo đỏ. Chỉ có họ hàng và một tình yêu trọn vẹn năm năm. Một tình yêu như nhung, như gấm, êm đềm, hạnh phúc, ngọt ngào. Có phải, hạnh phúc giản dị của một đời người là được một lần để yêu nhau, dù chỉ một lần, thật trọn vẹn? Ở dưới quê vài ngày, chúng mình trở lại Sài Gòn. Anh lại phải ra đi. Một mình em trong căn nhà nhỏ, cô liêu, đơn độc giữa cái ồn ào, náo nhiệt của con hẻm lao động. Ngày ngày, trên những chuyến xe lam chật ních, đi đi, về về từ nhà đến sở làm. Hết ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác... em cứ sống một mình như vậy hoài. Em đã biết bao lần, âm thầm đếm từng tiếng gót giày đơn độc của mình vọng lại trên con đường trải nhựa khô cằn, để nghe con tim thổn thức nhớ chồng, thương chồng, biền biệt phương nào.
Anh thì như cánh chim trời, không đậu lại một nơi nào lâu được. Cứ bay đi, bay đi mãi như một gã giang hồ, lang bạt. Sáng đang ở Nha Trang, chiều lại ngủ ở một nơi heo hút trên dốc đồi Gia Nghĩa, Quãng Ðức. Anh về Phước An, Buôn Hô, Ban Mê Thuột. Anh lại lên Ðà Lạt, Lâm Ðồng. Anh qua Cheo Reo, Phú Bổn. Một đôi lần, đứng ở bên bờ Bến Mộng nhìn con sông Ba êm đềm chảy xuôi về hạ nguồn, ra biển ở Ðà Rằng, Tuy Hòa. Anh về Qui Nhơn, Phù Cát. Có khi ghé lại Sông Cầu với dừa là dừa... Bước chân anh đi ngược, đi xuôi khắp mọi nơi, từ cao nguyên mưa dầm đến miền duyên hải rì rào sóng biển quanh năm. Nhiều lúc, đứng bên thềm biển hồ ở Pleiku, nhìn mặt nước hồ im, bao phủ bởi núi tiếp núi chập chùng, hoặc bên thành cầu bắc ngang dòng sông Dabkla chảy xiết, dẫn vào tỉnh lỵ Kontum, anh mang mang nghĩ về em một mình giữa Sài Gòn, nghe trong lòng thương nhớ em biết dường nào!
Anh cứ đi như vậy mãi, khắp cùng. Dường như cái tuổi nhâm ngọ nào cũng có đôi bàn chân đi như vậy. Mà về với em, ở bên em, không phải dễ dàng. Cứ mỗi lần nạp đơn xin đổi về Sài Gòn, lần nào cũng như lần nào, đều bị khước từ với lý do vô tội vạ: " Phải có người điền thế ". Một lý do để giữ chân những nhân viên thuộc quyền không có thân thế, không có tiền bạc như mình. Có lẽ đó là căn bịnh hành chánh muôn đời không có thuốc chữa trị. Dường như, thế hệ trẻ chúng mình, là những người trẻ trước năm 1975, không có một chọn lựa cho đời mình. Tất tất đều cuốn theo thời cuộc, cuốn theo chiến tranh, cuốn theo định mệnh. Cho đến khi Miền Nam không còn nữa, cái số phận những người trẻ như chúng mình còn bi thảm hơn. Tất cả dường như bị vũ lực vùi dập, xô đạp vào hố sâu, vực thẳm. Những người chết đã không được chết yên. Những người sống, lại sống một đời sống ngoắt ngoải, lạc hồn, lạc vía. Những ước mơ nhỏ nhoi nhất cũng là những ước mơ xa mù, những ước mơ như không bao giờ có được trên cõi đời này. Chẳng hạn, một bửa cơm chiều đạm bạc với rau luộc chắm tương, chắm mắm, rồi vợ chồng con cái quây quần bên nhau, dưới ánh đèn dầu leo lét trong một mái tranh, mái lá, mái chòi, là một giấc mơ có khi suốt đời không thực hiện nổi. Có biết bao người đã chết giữa chừng khi chưa với tay tới được ước mơ bé nhỏ này. Họ đã chết ở rừng tràm, bên bờ kinh hoang vu, hay nơi sơn lam chướng khí muôn trùng. Họ chết đi khi trong lòng họ không rời những ước mơ thật bé bỏng đó! Họ chết đi có khi chưa một lần được nhìn thấy lại mặt mẹ cha, vợ con, anh em của họ! Họ đã bỏ lại cha mẹ, vợ con , người thân đang mỏi mắt mong chờ, không một lời trăn trối trước phút lâm chung! Chúng mình cũng bị cuốn theo dòng sinh mệnh cay nghiệt đó của cõi trần, của dập dùi, của đày đọa. Nhiều lần anh đau yếu quằn quại, không thuốc men, hết tháng, hết ngày, tưởng chừng không còn sống để về với em và hai con. Lúc bấy giờ, anh mới cảm nhận ra rằng đời sống của một kiếp người sao quá mong manh. Anh thì biền biệt trong rừng tràm với những năm tháng đọa đày, không dám mơ ước một ngày về. Còn em, ở nhà, lúc nào cũng tần tảo sớm hôm, nuôi nấng con thơ dạị Em đã bươi từ trong đất, trong bùn kiếm từ hạt gạo, hạt cơm. Em đã trầm mình trên những cánh đồng nước ngập tới cổ để dọn rong, dọn cỏ. Em đã bao phen, một mình, dưới cái nắng cháy như thiêu, như đốt để cuốc từ bụi lác, bụi năn, tối tăm mặt mũi. Và cũng một mình em đã bao lần gánh những đôi gàu nước nặng quằn vai tưới rẫy cà, rẫy bắp. Hoặc giả, đôi bàn tay em đã thắm ướt máu pha lẫn với những giọt mồ hôi, giữa những hàng mía mịt mù lá khô, lá ủ để rữa lá gốc, lá chưn. Tất cả, chỉ vì em muốn tiết kiệm số tiền mướn người phụ giúp công việc nặng nhọc này cho một chuyến thăm nuôi anh, hoặc lo lắng cho con.
Em, biết bao lần, với bàn chân yếu đuối, đi ngang qua những chiếc cầu khỉ cao lêu nghêu, lắt lẻo, với một tay vịn thúng ổi, thúng xoài nặng trịch trên đầu, để đến trường học bên kia sông, hoặc ra chợ quận bán thêm chút đỉnh tiền mua muối, mua dầu. Tất cả những cơ cực ấy, em hy sinh, dâng hiến hết cho chồng, cho con với tấm lòng từ tâm của em cùng một tình yêu vô bờ. Ðôi lúc, em đã nén lại những giọt nước mắt trong những bước chân đơn độc trong dòng đời. Nhưng dường như không khóc được, càng làm em thương cảm hơn, khổ tâm hơn, tan nát cõi lòng người vợ hiền hơn. Vì rằng, dù sao, những giọt nước mắt trong những hoàn cảnh khốn cùng, có lẽ là người bạn thân thiết nhất, có khả năng chia xẻ, cảm thông và làm dịu bớt những vết thương đau rát của một con tim bấn loạn, rối bời.
Tất cả như mặn mòi, thắm đượm tấm lòng của em trong từng con mắm, con khô, trong từng lon đường mía,trái chanh, trái ớt của mỗi lần em theo chuyến đò nhỏ len lỏi vào rừng tràm thăm nuôi chồng. Cơ cực biết dường nào! Sau mỗi chuyến thăm nuôi, em mừng đến chảy nước mắt, như có được một chút hạnh phúc, một chút yên lòng. Vì rằng, hạnh phúc trong tình yêu không chỉ có trong nhung êm, trong mật ngọt. Hạnh phúc của người vợ hiền, trong hoàn cảnh khốn cùng này, là được một lần nhìn lại mặt chồng trong mỗi lần thăm nuôi, kèm theo những giọt nước mắt ướt đẳm, để thấy chồng mình còn sống, nghĩa là còn hy vọng , dù rất mong manh, một ngày trở về, hội ngộ, trùng phùng.
Em yêu dấu,
Xa vắng rồi lại xa vắng! Biền biệt , mỏi mòn như vậy. Biết bao cơ cực, đoạn trường. Nào là, Phương, đứa con gái đầu lòng của chúng mình đã phải xa cha từ khi mới biết chạy, bị chứng bịnh sốt xuất huyết cấp tính ác hiểm với nửa tháng trời nằm bệnh viện, trong tình trạng thập tử nhứt sanh. Nguyên nhân hết sức đau lòng, cũng chỉ vì đi thăm nuôi ba, ngủ bờ, ngủ bụi dọc đường, nên con bị muỗi chích nhiều. Giữa cơn hấp hối của con thơ, một mình em, em phải chạy ngược, chạy xuôi lo cho con. Tiền bạc không có. Thuốc men khan hiếm. Anh thì ở trong rừng tràm, không hay biết con đau, con bịnh, không hay biết em đứt ruột , bầm gan, mất vía, mất hồn với từng cơn sốt, từng cơn rung của con. Rồi Quốc , đứa con trai còn đỏ hỏn, biết bao lần theo mẹ thăm nuôi ba, lại bị bệnh thương hàn, sốt lên, sốt xuống cả tháng trời. Thêm một lần, em lại phải cuống cuồng,kinh hoàng với những bất trắc, hiểm nguy. Nhưng có lẽ, trong chuyến đi thăm nuôi anh trong rừng tràm trở về vào một mùa mưa năm nào, đò bị cháy, bị chìm giữa dòng sông oan nghiệt, mà em và hai con không biết bơi, bị ngộp nước, bị phỏng xăng, phỏng lửa trong khi tàu chìm lỉm giữa dòng sông sâu, nước cuốn mạnh là một nỗi đau xót dai dẳng, một ám ảnh không rời. Trước mạng sông quá mong manh của kiếp người, tử thần phủ chụp lên sinh mạng của em và hai con vô cùng thô bạo, ác hiểm. Tử thân làm gì có lương tâm, có con tim, có lòng từ tâm. Tử thần chỉ mang đến cho loài người tai họa, chia lìa, đau đớn. Thế mà em đã cố ngoi lên, cố giành giựt cái sống từ trong cõi chết để tự cứu mình và cứu hai con. Ðôi bàn chân bé nhỏ của em bị chuột rút, rã rời, thế mà em vẫn cố chòi, cố đạp trong tuyệt vọng. Ðôi bàn tay của em vẫn giữ chặt tay con, mỗi đứa một tay, trong mịt mù của nước, của bùn, của dòng sông chảy xiết vô tình. Ba con người, ba sinh mệnh quá bé bỏng, quá hiền lành trước một tạo vật lạnh lùng đến độ vô tình, tàn nhẫn dường như đang cùng toa rập vơi dòng đời vốn đã tàn nhẫn, vô tình...
Trong cố gắng đến như tuyệt vọng, chân em đang quờ quạng, lại chạm vào bùn của đáy sông. Với hết sức tàn, lực kiệt, em cố bườn về hướng trong bờ. Và em với nét mặt kinh hoàng, hốt hoảng, mất hồn, mất vía đã mang hai con thơ từ trong nước, trong bùn, trong dòng sông oan nghiệt, trong cõi chết trở về... như một phép nhiệm mầu. Mãi tới bây giờ, mỗi lần có dịp nhắc lại, hồi tưởng lại, lần nào cũng như lần nào, em không khỏi chảy nước mắt, lòng thầm nguyện cám ơn Ông Bà, Trời Phật phò trợ, cứu độ.
Dòng đời như dòng sông, một dòng sông ở thượng nguồn với thác là thác, với đá ngầm, đá dựng, mà em như chiếc lá dật dờ, chìm lên, chìm xuống với muôn trùng chịu đựng, gánh gồng. Tất cả những bất hạnh đổ trút lên đôi vai quá bé nhỏ của em. Tía vừa mới mất, rồi mấy năm sau Má lại mất, trong lúc anh vẫn còn trong rừng tràm. Tang tóc rồi lại tang tóc! Khổ đau rồi lại khổ đau! Nhiều lúc em không tưởng tượng mình có thể đứng dậy nỗi với đôi bàn chân yếu đuối của một cô nữ sinh viên ngày nào. Em cũng chưa bao giờ dám nghĩ rằng cuộc đời bi thảm đến tột cùng như vậy. Bao nhiêu năm tháng phong trần với chừng ấy chịu đựng, chừng ấy hy sinh của em, anh đành bất lực trước muôn, triệu chữ nghĩa cũng không đủ để viết ra hết được, để diễn tả ra hết được.
Dường như, suốt mấy mươi năm trời trong cuộc đời, em chỉ biết hy sinh và hy sinh để nuôi lớn cây hạnh phúc ngọt ngào. Và em cũng đã tưới ướt cây hạnh phúc ấy bằng nước mắt của mình ngập đầy. Những giọt nước mắt được nén lại hoặc đôi lúc không giữ lại được, đã trào dâng như để làm dịu bớt khổ đau, biến khổ đau thành niềm hạnh phúc đằm thắm,dịu dàng.
Em yêu dấu,
Bây giờ, ngồi nơi đất khách, nhìn tuyết rơi đầy trời ,ôn lại dòng đời, với biết bao đổi dời, cay đắng như những hạt tuyết vở vụn, bọt bèo, phù trầm, để thấy chúng mình vẫn còn may mắn, vẫn còn vói tới được ước mơ bé nhỏ, bình thường. Nghĩa là mình vẫn còn được ngồi bên nhau, quây quần cùng con cái trong những buổi cơm chiều với những con cá mà anh đã giăng bắt được ngày nào dưới mái lá , dưới mái chòi, dưới ánh đèn dầu, kể từ hôm anh bán bộ chảo nấu bằng gas của em. Nghĩa là mình thấy vui vui trong lòng mỗi khi thấy con lớn, con ngoan, chăm chỉ học hành, mà hơn một lần con mình, những đứa bé vô tội, đã bị nhận chìm, chết hụt trong dòng nước vô tình, nghiệt ngã. Trong tận cùng đáy lòng của anh, anh muốn nói lời cảm ơn em. Cảm ơn sự cơ cực của em, cảm ơn sự hy sinh, tận tụy vô hạn của em dành cho chồng, cho con, cho một mái ấm gia đình, cho một niềm hạnh phúc. Qua mấy mươi năm trong dòng đời với biết bao gian truân, chìm nổi, để rồi, sau cùng, chúng mình có được hạnh phúc bình dị, êm đềm, có thật. Một niềm hạnh phúc bền bĩ, mãi hoài, bất tận ấy không thể tìm ở đâu khác hơn là ở ngay chính trong lòng mình, trong đời sống thật của mình, giữa cõi đời này, dù nhiều lúc đã thắm ướt qua bao mùa nước mắt...
Lương Thư Trung
Boston, 18-02-97
Cành Bông Hồng Cao Su
Những tia nắng ban mai rọi qua kẽ hở của màn che khung cửa kiếng trong phòng ngủ chiếu vào khuôn mặt trái soan của Ngọc, làm nàng tỉnh ngủ và mở đôi mắt to tròn rạ Theo thói quen, trong tư thế nằm xấp và mặt quay ra khung cửa sổ, nàng thò tay trái qua tìm Hiền, tuy nhiên, hôm nay không như mọi hôm, bên phía Hiền nằm chỉ có mảnh mền... còn người chẳng có ở đó... Ngọc lẩm bẩm... "thiệt lặng đi đâu mất tiêu rồi..."
Nằm thêm khoảng 5 phút, Ngọc ngồi dậy rồi thò chân xuống dưới thảm tìm đôi dép vải của mình, xỏ dép vào, nàng đứng lên với lấy cái áo ngủ choàng lên người, cột dây lưng lại rồi đi lại hướng khung cửa kiếng. Ðưa tay ra kéo sợi dây màn, hai tấm màn của cánh cửa kiếng mở ra bên ngoài... tuyết trắng phủ trắng cả không gian. Nhà Ngọc toạ lạc tại một thung lũng miền đông tiểu bang Colorado, cửa kiếng phòng ngủ của nàng quay ra hướng cánh rừng... khung cảnh thiên nhiên thơ mộng của nơi này là một trong những yếu tố chính để nàng gầy dựng mái ấm gia đình của mình tại đây.
Nhìn ra bên ngoài... cảnh vật thật yên tỉnh, không một tiếng động... dăm ba cụm tuyết thỉnh thoảng rơi xuống từ những cành cây, có lẽ do những con sóc chạy nhảy từ cành này qua cành kia tạo ra. Ðàn chim thân thuộc đã bỏ nơi này bay về phương nam tìm nắng ấm từ dạo cuối thu, bên ngoài, không gian trầm lặng... Ánh nắng ban mai xuyên qua những cành thông chiếu lên mặt đất trắng xóa... ngững đầu lên nhìn bầu trời xanh thẫm không một đám mây... hít vào phổi một làn không khí dễ chịu, Ngọc quay người đi vào ngồi xuống trước bàn trang điểm của mình... nhìn vào gương, nàng giơ tay vuốt nhẹ tóc ra sau rồi lấy cái kẹp, kẹp cho gọn lại. Nàng giơ tay sờ da mặt mình, thấy không có gì thay đổi so với hôm qua, Ngọc cười nhẹ nhe hai hàm răng trắng đều rồi đứng lên đi về phía giường dọn dẹp cho ngăn nắp gọn gàng...
oOo
Từ phòng tắm đi ra, Ngọc đi thẳng xuống dưới phía bếp, tóc còn ướt trũng, người mặc cái áo tắm dài che thân. Nàng đi lại chỗ để máy pha cà phê rót cho mình một tách rồi để lên trên cái dĩa nhỏ cầm đi lại bàn ăn ngồi xuống. Trên bàn, tờ nhật báo được Hiền để ngay ngắn ngay trước mặt, nàng lấy trang bìa đọc qua loa các tin tức... Thấy không có tin gì hấp dẫn, nàng để tờ báo xuống, hớp một hớp cà phê rồi cầm cái tách cùng dĩa đựng đi ra hướng phòng khách. Ngọc ngồi xuống ghế xa lông, chồm người lấy cái remote control, bật ti vi lên... chương trình Sunday Morning của đài truyền hình CBS đang tường trình một đoạn tin về tệ nạn vô gia cư của một số dân Mỹ bây gi đang theo dõi chương trình thì chợt hai cánh tay của Hiền quàng vai Ngọc từ phía sau... nàng cười nhẹ nói:
- Anh thiệt... sáng sớm đi mất tiêu...
Giọng ấm cúng của Hiền đáp lại:
- Tweetie cũng biết là thường ra ngoài chạy bộ mỗi sáng Chủ nhật đó mà.
Nàng cười không nói gì thêm, giơ hai tay lên xiết nhẹ hai bàn tay Hiền trước đang đặt giữa ngực mình rồi tiếp tục để mắt vào cái ti vi. Hiền hôn nhẹ má vợ từ phía sau... Qua vài phút im lặng, Hiền nói khẽ bên tai nàng:
- Anh đi làm cái gì ăn sáng hé... tweetie thích ăn gì nè...
Ngọc cười mỉm chi trách yêu:
- Có thiệt không đây... còn hỏi em như vậy...
Hiền giơ tay vuốt nhẹ má nàng rồi nói:
- Giỡn thôi mà, dĩ nhiên anh biết tweetie của anh thích ăn gì mỗi sáng Chủ nhật mặ
Nói xong chàng rút tay lại rồi đi xuống hướng bếp. Ngọc ngồi nhìn màn ảnh ti vi bâng quơ một chút rồi cầm remote control lên hướng về ti vi tắt đi. Nàng vuốt làn tóc ước ra phía sau lưng cho gọn rồi đứng lên cầm tách cà phê đi về phía cửa kiếng. Ðưa tay kéo sợi dây màn cửa, hai tấm màn được kéo mở ra, khung cảnh bên ngoài từ từ hiện ra trước mắt nàng. Từ trong phòng khách nhìn ra, bên ngoài, tuyết che phủ không gian, cảnh vật thật yên bình thơ mộng... Những cây thông cao vút với cành lá bị tuyết trắng bao phủ một màu lạnh lẽỗ không gian như dừng lại trước mắt, tâm tư lắng đọng hòa điệu với nỗi thanh tịnh tuyệt vời của một buổi sáng tháng hai...
Tháng hai... ừ, thế là đã tháng hai rồị.. tuyết ngoài khung cửa vẫn che phủ vạn vật, mây trắng đã bỏ nơi này, trả lại một khung trời trong xanh rực rở đầy nắng ban maị.. "tuyết tháng haị.." Ngọc lẩm bẩm với chính mình, thả suy tư theo tiếng thoảng thời gian trở về không gian trầm vắng rất quen thuộc...
Cũng tháng hai, khi tuyết mùa đông vùng Midwest bao phủ đầy giá lạnh... Ngọc đã không quãng ngại xa xôi qua tận Nebraska để gặp chàng... "Ừ, con gái lãng mạn bị phiền nhiều đó nhễ." Chàng đã từng nói với giọng trầm buồn qua điện thoạỉ cái giọng hiền từ đa cảm của chàng đã làm cô sinh viên năm thứ ba trường Dược bị chết điếng vì tiếng sét ái tình... tim thổn thức, đập loạn xạ mỗi khi nói chuyện với chàng qua điện thoại viễn liên.
"Tại sao mến người ta mà lại không qua Boston mà lại muốn em qua bên đó?" Ngọc hỏi, chàng đáp, "Anh phải đi làm Spring Break này đó, nghỉ không được, em qua đi, rồi hễ anh có ngày nào nghỉ, mình lái xe đi vòng vòng vùng Midwest chơi..."
Thế rồi nàng bị chàng "dụ ngọt" đến nỗi... mang hành trang sang bên đó gặp chàng... một ngày tháng hai.
Nàng còn nhớ khi ngồi trên máy bay, lòng lo lắng suy tư, không biết cái anh chàng này có nhìn giống trong hình của anh ta gửi cho mình hay tính tình có thật sự hiền lành như những lời "ngọt ngào" trong điện thoại khi hai đứa tâm sự với nhau... Nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay... mây trắng che phủ vô tận phía dưới, nàng đã từng cầu nguyện... "Xin Thượng đế thương con, cho con chút xíu cho con gặp chàng đúng như người con mến..." rồi thì tim nàng không ngớt đập hồi hộp khi người phi hành đoàn nói qua loa phóng thanh của phi cơ: "Tôi xin thay mặt cho các nhân viên chuyến bay United Airlines 459 cám ơn tất cả quý vị đã chọn United Airlines cho chuyến du lịch này, chúng ta sẽ đáp xuống phi trường Omaha trong vòng 20 phút nữa, xin chào mừng tất cả quý vị đến Omaha..."
Vừa bước ra khỏi lối đi ra từ phi cơ thì Ngọc đã thấy chàng đứng... im lặng xa xa chăm chú nhìn mình, hai tay chắp sau lưng, miệng cười mỉm chi... Chàng mặt cái áo choàng nỉ đen dài đến đầu gối... cũng giống như trong hình, tóc hớt cao, chải gọn ghẽ... Chàng giơ hai tay ra ôm nhẹ vai Ngọc nói, "Welcome to Omaha, đi đường mệt không em..." rồi đưa tặng nàng một cành hoa hồng... cao su... màu đỏ thẫm... Ngọc đưa tay cầm cánh hoa hồng cao su... hơi sựng lại chút... rồi nói nhỏ... "Cám ơn anh"... trong tâm không ngớt buồn cười tại sao mặt mày sáng sủa, nói năng hoạt bát có vẽ hiểu tâm lý phái nữ lắm mà lại tặng một cành hồng làm bằng... cao su... Rồi nàng cùng sánh bước với người bạn mình đi xuống tầng lầu dưới nhà lấy hành lý...
Kỹ niệm êm đềm của thuả ban đầu, lần đầu tiên chạm mặt nhau... cùng cánh hoa hồng... cao su... Từ khi còn ở quê nhà, Ngọc đã ghét ba cái đồ làm bằng cao su sản xuất ở Chợ Lớn như bát dĩa, có ai ngờ qua đến Hoa Kỳ bao nhiêu năm rồi, vừa lao đầu vào phiêu lưu tình cảm thì người trong mộng của mình lại tặng cho mình một đóa hồng... làm bằng cao su... Trên đường đi về chỗ chàng cư ngụ, Ngọc giữ im lặng nhiều... hậm hực cái đóa hồng... làm bằng nhựa nàỵ.. dù chàng hỏi nhiều, nàng cũng chỉ mỉm cười nhẹ trả lời qua loa cho xong chuyện...
Vào đến trong cư xá, sau khi đem cái va li của Ngọc vào phòng, chàng hỏi:
- Bộ em giận anh hả, tại sao nói chuyện có vẽ lạnh nhạt vậy?
Ngọc chưng hững trả lời:
- Không có gì, tại em còn mệt vì sáng nay phải dậy sớm ra phi trường đó.
Chàng cười rồi đi xuống bếp. Ngọc với tay lấy cái remote control mở ti vi lên xem, đang theo dõi chương trình thì anh chàng đi lên trong tay cầm một ly nước lạnh đưa cho nàng và nói:
- Em uống tí nước cho đở nhọc... nghỉ cho khoẻ, bây giờ anh phải đi làm, tối nay khoảng 11 giờ anh mới về.
Ngọc cười với anh chàng:
- Thì em ở nhà được mà, em cũng đang mệt vì sáng nay phải thức dậy ra phi trường sớm, chút xíu tắm rửa rồi chắc em ngủ một chút...
- Ừ, cũng tốt... vậy chút xíu tối mình gặp tha hồ tâm sự.
Nói rồi, chàng với tay lấy cái choàng... nhìn Ngọc cười nhẹ rồi mở cửa đi ra ngoài.
oOo
Vào trong phòng, Ngọc mở cửa tủ ra thì thấy quần áo của chàng treo đầy, thấy không có chỗ để đồ mình, nàng đành phải đem cái va li của mình lại góc phòng... Nàng đứng im quan sát gian phòng... cũng khá ngăn nắp, không đến nỗi bề bộn cho lắm... nàng mỉm cười đi lại bàn học của chàng rồi ngồi xuống. Giấy tờ, bài vở để lung tung vô trật tự, có lẽ vừa thi xong midterms cho nên chàng chưa có dịp dọn dẹp... Ngọc đã nghĩ như thế. Nàng cầm bâng quơ một xấp bài lên xem... chữ nghĩa tên thuốc lung tung, chắc là bài vở của môn Pharmacotherapeutics mà chàng thường kể đây... Chàng học trên nàng hai năm, nên hai người thường tâm sự về những lớp học của mình. Ngọc há miệng ngáp một hơi, thấy mệt, nàng đi lại giường chàng nằm xuống.... rồi thiếp đi lúc nào cũng không biết...
oOo
Giật mình tỉnh dậy thì khung cảnh trong phòng tối đen... Ngọc đứng lên lò mò đi lại cửa phòng thò tay bật công tắc điện... nhờ có ánh đèn, nàng thấy đồng hồ treo tường chỉ hơn tám gi Ngọc cười nhẹ rồi mở cửa ra ngoài đi về hướng phòng tắm.
Ðang lui hui nấu đồ ăn thì nàng nghe tiếng mở cửa, rồi Hiền bước vào bếp tươi cười nói:
- Chời, mới qua mà sao em không nghỉ cho khoẻ, xuống bếp làm chi cho mệt, hễ đói anh chạy đi mua hamburgers?
Ngọc cười:
- Thôi đi, em nói em qua đây trổ tài nấu ăn cho anh phục mà.
Chàng nghe thế thích chí, cười híp cả mắt:
- Wah.. cảm động quá đi... số anh đẻ bọc điều rồi...
Ngọc cười lầm bầm trong miệng:
- Còn lâu...
Chàng cười mỉm chi nhẹ rồi bước trở ra đi vào phòng thay quần áo.
oOo
Sau khi ăn tối xong, hai người đang ngồi xem ti vi thì Ngọc hỏi:
- Nè, có cái này em muốn hỏi anh... anh nghe xong đừng giận nhé.
- Dĩ nhiên rồi... không có đâu, cái gì vậy em?
Chàng quay sang cười với nàng, nàng tiếp lời:
- Tại sao anh cheap vậy, khi mua bông, người ta mua bông tươi, chứ ai lại mua bông... cao sụ.. kiểu mấy chú ba tàu vậy... quê chết đi.
Chàng ngã ngửa ra sau cười khành khạch. Ngọc không hiểu, hỏi tiếp:
- Tại sao lại cười, có gì khôi hài đâu...
Chàng nín cười, sửa lưng ngồi thẳng lên... quay hẳn người lại nàng:
- Anh biết em thế nào cũng hỏi tội anh cái cành bông hồng cao su này mà, tuy nhiên... để anh giải thích cho nghe.
Ngọc nghe thế, cũng sửa tư thế ngồi thẳng lên... cầm cái remote control ti vi lên, bấm cho volume nhỏ đi để nghe chàng nói cho rõ.
Chàng trầm giọng, nhìn thẳng vào mắt Ngọc:
- Em biết không, lúc em chưa đến, anh cứ ngẫm nghĩ trong đầu không biết nên mua món quà gặp mặt gì để mừng em đến thăm. Anh muốn phải là một món quà thật đặc biệt nào đó mà em có thể giữ vĩnh viễn... vì dù sao đi nữa, thì cái cơ hội này là của riêng mình mà. Nếu ông trời thương mình, thì có duyên có phận, nhưng đa số các cặp tình nhân, chỉ có duyên mà không có phận đó Ngọc...
Chàng im lặng một chút... giơ tay nắm lấy tay hai tay nàng, xiết nhẹ, nói tiếp:
- Ða số con trai biết tâm lý bạn gái mình, nếu không rành hay không đủ tiền mua những món quà mắc tiền... thì hoa tươị.. là một trong những cái hay nhất để nói lên tình cảm chân thật, tuy nhiên, anh muốn tặng em món quà gì đó làm em phải nghĩ đến anh hoài mỗi khi nhìn thấy nó.
Mắt nàng chớp chớp nhẹ, chàng tiếp tục:
- Bây giờ anh còn vừa học vừa làm, làm gì có tiền mua những món quà mắc tiền như kim cương hột xoàn... còn những món mau tàn úa như hoa tươi, thì mình đâu có ở bên nhau hoài được như bây giờ đâu mà tặng em hoa tươi mỗi tuần... cho nên anh thấy hoa cao su là tốt nhất... vì như bây giờ, anh có cơ hội giải thích tâm sự với em về món quà gặp mặt này để em hiểu lòng anh... tình cảm chân thật không bao giờ phai màu như màu hoa hồng đỏ thẫm này. Anh yêu hoa hồng đỏ thẫm làm bằng cao su, màu đam mê không bao giờ bạt màu thời gian... vấn đề ở chỗ là không phải hoa đẹp hay hoa xấu, hay nó được làm bằng gì, vấn đề là tình anh gói trọn trong đó, cái sự suy nghĩ cả tuần về em, tuy là tuần vừa qua anh cũng phải thi midterms... chỉ cần sao mỗi lần em nhìn thấy cái bông hồng cao su này, em nhớ đến cảm tình chân thật của anh... còn nếu bạn bè có chê bai cái bông hồng cao su rẻ tiền này, em cũng biết là không phải tiền bạc, đẹp xấu mới thể hiện trong món quà trao nhau, vấn đề là tâm sức suy tư của anh cái bông hồng cao su. I love plastic roses, the ones that never faded...
Mắt Ngọc long lanh những giọt nước mắt, rồi thì từng giọt lệ trào ra lăn tròn trên đôi gò má nàng, chàng lấy tay mình vuốt nhẹ những giọt lệ nóng... nàng ngả nhẹ vào lòng chàng thủ thỉ:
- Em xin lỗi anh...
oOo
Ðang chăm chú nhìn cái bông hồng cao su đựng trong bình thủy tinh trắng giữa bàn thì Hiền đi lên từ phía bếp:
- Pancakes xong rồi tweetie, xuống ăn sáng em...
Ngọc quay sang lại nhìn chồng mình... quan sát... cũng mái tóc hớt cao. cũng giọng nói ngọt ngào trầm tĩnh... Hiền đứng sững lại nhìn nàng một cách ngạc nhiên rồi giỡn:
- Wah... tại sao lại nhìn anh với ánh mắt đó vậy... tweetie muốn gì đây.
Ngọc cười nhẹ nhe hai hàm răng trắng đều ra:
- Thì tại đang nhớ đến mùa xuân Nebraska và cành hồng... cao su đó, ông xã.
Hiền nghe vậy cười híp cả mắt:
- Thấy chưa tweetie cái bông hồng cao su lợi hại không. Đã mấy năm rồi mà cũng không bạt màu đó hé.
Bên ngoài tuyết trắng cuối mùa đã bắt đầu tan chảy để nhường chỗ cho một mùa xuân yên bình đầy nhựa sống và yêu thương. Bên trong cành hồng cao su vẫn im lặng đứng sừng sững kênh kiệu trong bình thủy tinh trắng, cái màu đỏ thẫm không hề bị phai bạt như tự hào đã có công lao lớn mang hai tình nhân từ hai phương trời cách biệt đến gần nhau trong một tuần nghỉ Spring Break năm xưa.
Vũ Ngọc Thuần
Omaha NE 2/28/97