vhnt, số 262
14 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Nhờ / Gió Thốc ..............................................Lê Tạo
2 - Trả Lại ......................................................Đinh Chinh
3 - Diêu Bông Hỡi Diêu Bông..................................Hoa Huyền
4 - Mưa và Nắng CALI .............................................Ý Liên
5 - Nguyên Ngôn Hò Hẹn ........................................Vân Hoành
6 - Những Dạo Khúc ............................................ Nguyễn Quang Tấn
7 - Nhớ Người Ðan Áo ........................................Chân Mây
8 - Tuổi Mộng ...................................................Bá Dĩnh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Giá Trị Một Bài Thơ .....................................Khải Minh
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h
10 - Phim Jerry Maguire .................................................TCA
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Khoảng Trống ....................................................THT
Ðừng rơi, đừng rơi, tuyết ơi
Ðể ai góc biển, phương trời nhớ nhau
Bạn đọc vhnt thân mến:
Một sáng giữa Ðông, nơi nào miệt Bắc, tuyết chưa ngừng rơi, cho hơi lạnh và chút băng về vùng Texas, xin góp nhặt những ý thơ dòng văn mới, gởi đến bạn đọc sưởi ấm tâm tình một ngày Ðông.
Trong số này, VHNT giới thiệu với bạn đọc tác giả Lê Tạo và nét thơ của anh. Trong số 259, anh Lê Tạo đến với các bạn qua bài thơ Anh Muốn Làm Sóng Biển, và trong số này, VHNT xin giới thiệu vài dòng ngắn về anh.
Bên cạnh những tác giả Thơ quen thuộc, Đinh Chinh, Hoa Huyền, Ý Liên, Chân Mây, Bá Dĩnh, Vân Hoành, VHNT chép lại cho bạn đọc Những Dạo Khúc của tác giả Quang Tấn (ở Việt Nam) như chia sẻ tâm tình.
Tiếp tục với chuỗi bài viết cho Diễn Ðàn Văn Học, trong số này, Khải Minh gởi bạn đọc ý và lời về Giá Trị Một Bài Thơ.
Phim Jerry Maguire qua những nhận xét và bình luận của TCA, phóng viên Phim Ảnh. Cuối cùng, tác giả quen thuộc THT với truyện ngắn Khoảng Trống.
Xin chúc các bạn đọc một ngày vui tươi và hiệu quả trong công việc.
thân ái,
BBT/vhnt
Giới thiệu tác giả mới: Lê Tạo
Tên thật: Lê Tạo
Tuổi tác & sinh quán: sinh năm 1967
Nghề nghiệp VN: học sinh
Rời VN lúc: 7/1985
Ðến Mỹ năm: 6/1986
Nghề nghiệp hiện tại: Evaluation Engineer
Hiện cư ngụ tại: San Diego, California
Nhờ
Nhờ mây mới rõ mặt trời
Nhờ em ta có cuộc đời gian nan...
Nhờ ong mới biết hoa tàn
Nhờ chim kêu cứu, non ngàn trụi khô
Nhờ sông hiện hữu con đò
bao năm đưa khách, buồn xo một đời.
Nhờ người? Không, nhờ em thôi!
xanh vùng ký ức, lòng tôi hóa vàng.
Gió Thốc
tặng TTÐ
trời sầm, gió thốc lưng trời
ngựa ngàn con hí bã bời niềm đau...
người rám mặt giữa triền gió réo
bụi tung mù thấu tận trời xanh
rừng cháy trụi tìm đâu tổ cũ
chim từng đàn cất tiếng kêu thương
gió thổi đổ Tháp Chàm u mốc
bóng ma Hời chớp tắc giữa đêm
từng tiếng hú cắt rời tâm khảm
người hóa điên? Ừ! người hóa điên
cá Hồi chết phơi mình trắng bạc
trưa long lanh dấu vết thời gian
bàn chân mỏi hằng in trên cát
bầy quạ đen rít những tiếng khàn
gió cắt nát sông Gianh từng mảnh
đời nối đời, lớp lớp trôi sông
bờ cát vướng oan hồn u uẩn
đỏ phù sa ngập kiếp nhân sinh
vai vác nặng tháng năm hờn tủi
lòng muốn yên đời dấy binh đao
theo con trốt nhân sinh cuốn xoáy
lệ thành sông máu đẫm chiến bào
gió giận dữ hai trăm năm trước
úng tủi hờn hai trăm năm sau
dòng Bến Hải ruột đau quặn thắt
bờ Hiền Lương nát mộng ban đầu
con sóng dữ phủ đầu định mệnh
cháy Trường Sơn cứ ngỡ là mơ
ngàn năm tụ một lần nước vỡ
người dìu nhau về chốn hoang sơ
gió thảm khốc cuối bờ Nam Hải
sấm chớp cuồng gầm thét đại dương
ai sống còn sau cơn dông bão?
ai nấu nung ý chí lên đường?
người gọi người giữa chiều quạnh vắng
hồn chiêu hồn đáy biển bao la
ngọt mộng mơ, hóa thành trái đắng
xác thân đi hồn gửi quê nhà
gió điên loạn Hồng Kông, Phi, Mã...
nắm xương tàn bọc giữa kẽm gai
cá lạc bầy nghẹn ngào tức tưởi
xoáy giữa dòng, chờ một bàn tay
tầng ngục thấp mái đầu bao phủ
đất cùng trời ngoảnh mặt làm ngơ
người dẫy dụa theo cơn Hồng Thủy
ai chờ ai cuới nẻo bến bờ?
gió lồng lộng chiều hoang Văn Miếu
ngàn năm xưa đọng lại xác ve
bôi mặt nhau đá cho kiệt lực
người lần theo vết đổ bánh xe
đất trời mịt những thành tư tưởng
rộn phố phường lợm giọng văn chương
hỡi Chu Thần, Tiên Ðiền... có thấy?
lũ hậu sinh vác bút lên đường!
gió cuồn cuộn năm châu bốn bể
người nhìn người đầy rẫy nghi nan
hơn một lần giữa trời gãy đổ
thân chim non sợ đậu cành cong
cỗ dọn sẵn, thơm lừng trời đất
nhớp nhúa đường, sờ miếng lợi danh
đâu bia miệng? trăm năm bia đá?
đâu nhiễu điều phủ lấy giá gương?
chiều nghe gió thốc lưng trời
trăm ngàn mảnh vỡ, cảnh đời tan thương
Lê Tạo
Trả Lại
gửi KQ
Trả lại em
những phố chiều
Nhoà cột đèn
Phong phanh
chiều
xám tro.
Lệ Thu,
Nocturne,
nồng nàn.
Mỏi mòn
đại lộ
bàng hoàng trận xưa.
Trả lại em
Lục bát, thừa.
Có yêu , ghét, hận
(đã vừa chưa em?)
Vàng xa
bóng lẫn lút.
Ngày
trả em
mười ngón tay
đầy
vết thương.
Trả em
mắt quầng
đen,
đêm.
Sáng ngủ dậy,
thấy nhoà căm
bóng mình.
Chăn không ấm,
lạnh vai trần
Cánh tay
phật độ,
dấu xăm
bụi
mờ.
Trả lại
khoả thân
hồng,
sương
Trả riêng lẻ bóng,
vô thường
chiêm bao.
Nghiêm trang
mắt phượng,
mày ngài
Bến sông
còn đọng
dấu hài
hoàng hoa.
Trả tên:
rằng gọi thuyền quyên
Dạ thưa
đi đứng
nói ngồi
líu lo.
Trả lại em
chiếc bóng gầy
Bóng tôi
lẩn lút
giữa ngày
lấm lem.
Chinh
23 tháng 12, 1996
Diêu Bông Hỡi Diêu Bông...
Mưa làm chi để lòng tôi buồn
Gió làm gì để nhạt nước tuôn
Âm u tâm hồn làm co lạnh
Bối rối im lời nghẹn tiếng buông
Nói sao cho được nỗi đau lòng
Tả sao cho được những nhớ mong
Làm gì cho vừa lời nhung nhớ
Nấc thêm cho mặn nước mắt trong
Người đi có chút lệ cho tôi?
Trong tim đêm ngày có bồi hồi?
Diêu bông tôi tìm, tôi vẫn kiếm
Sao thời gian ngắn mãi buông trôi
Biết nói gì hơn bằng chúc người
Duyên đẹp đôi mắt mãi vui tươi
Cho dù song ba hay bão tố
Mối tình sẽ mãi mãi không vơi...
Hoa Huyền
Mưa Và Nắng Cali
rời Cali mưa nhiều nắng ít
những tháng mưa dài tôi nhớ mênh mông
như cánh buồm nhớ mãi một dòng sông
như thềm vắng tương tư hoài bong bóng vỡ
Trời Cali mưa nhiều nên nắng trễ
tôi với trời mưa quấn quít theo nhau
đời run run bước lạnh buổi ban đầu
nên thầm khóc - đôi khi - dù đã lớn
Trời Cali nắng như ngày mới đến
trời nắng lạ lùng tôi chợt thấy mình vui
tóc bím xưa dù đã lệch đường ngôi
vẫn ngai ngái hương thơm ngày lộng gió
Trời Cali nắng mưa vẫn thế
tôi vẫn đi về trên những nẻo xa xôi
người có về thăm lại những ngày vui
chỉ nhìn thấy mắt tôi buồn hơn chút nữa
Trời Cali mưa nhiều nên nắng vỡ
một mảnh ngậm ngùi, một mảnh tương lai
một mảnh hôm nay, cho đời sống mệt nhoài
tôi đi tới, vẫn biết ngày mai mưa nhiều lắm
Ý Liên
Nguyên Ngôn Hò Hẹn
Cho nhau lời nguyện cầu
Cho tròn chuyện trước sau
Ðể suốt chín vòng trăng hiu quạnh
Nước mắt ân tình rửa sạch thương đau
Lần cuối bên nhau chuyển hóa lần đầu
Gom hết lại sầu đau
Cho dĩ vãng huyền ngưng thành ước vọng
Anh đi đi vào giấc chiêm bao
Ôi! Dáng hoang mơ
Hiu hắt cúi chân trời tưởng nhớ
Em ơi! Ðừng xui tình ý bơ vơ
Xa em ước vọng vương hờn tủi
Hò hẹn ngày mai, lớp bụi mờ
Vì có ba sinh tròn hương lửa
Ðêm đêm sầu đọng ý tương tư!
Trước Khắc Luân Hồi
Chiều đổ xuống chiều sâu
Sao ngơ ngác vì sao
Ðêm trần gian mơ vô cùng ánh sáng
Mai về đâu? Về đâu?
Con nước lũ đợi mưa nguồn khơi động
Khắc khoải nằm nghe biển vọng ý thiên thâu
Loài cỏ dại đã chai cằn tuổi đá
Mười ngón tay thèm với níu mảnh chiêm bao
Vân Hoành
Những Dạo Khúc
lâu rồi - từ khi một xác chim khô
vẫn còn là chiếc trứng xinh xinh nằm trong tổ nhỏ
mùa đông giăng mưa đầu ngõ
và tình yêu là trò chơi mê hồn của những trẻ thơ...
ta đốt cành hương ngày cũ
gọi hồn một xác chim khô
trong chiếc trứng xinh xinh một khung trời tưởng nhớ
đêm nay đông về đầu ngõ
và tình yêu là giây phút đau lòng những kẻ nằm mơ...
* * *
vinh dự của lưỡi gươm có phải chăng là thấm máu người
hoang vu dấu hỏi
đất đá trả lời
chuyến xe thổ mộ
đường về xương trắng phơi phơi...
* * *
khi sương chưa tan
cô gái môi đỏ đã hái những trái chín vàng
đặt nhẹ nhàng lên thảm cỏ xanh
nhưng chỉ mình em hái được
một nỗi buồn chín giữa hồn anh
* * *
tấm áo bao ngày qua rách rưới
ai xé lụa đào cho khắp nơi
anh đứng mình trần cơn gió thổi
em trải gấm vàng trong nắng phơi...
* * *
khắp nơi gió đưa về hương vị máu tanh
nhưng không ai biết nơi đâu hãi hùng trận đánh
trong đám người dị hình bôi mặt
anh tìm em và em vẫn tìm anh
* * *
nếu không tìm thấy nhau giữa phố
xương khô đi lại từng bầy
nụ cười ơi xin em đẹp mãi
ở phương nào - phương ấy chân mây
Nguyễn Quang Tấn
Nhớ Người Ðan Áo
Mỗi mùa đông đến nhớ truyện xưa
Có người đan áo bên bếp hồng
Tặng người yêu dấu một thư sinh
Ðã hai mùa tuyết dấu kín lòng
Chẳng dám ngỏ lời thương cùng ai
Sợ tuyết kia rơi mực phai màu
Trai tài gái sắc chẳng nên duyên
Nên đành ôm kín mộng ban đầu
Nay mùa đông đến tuyết vội rơi
Mở cánh thiệp vui chợt ấm lòng
Áo mặc ra trường người có biết
Dệt áo đan tình thêu lối mộng?
Nhìn áo người mang dìu bước ai
Một chút bâng khuâng, một chút sầu
Người ấy năm nào chợt khác xưa
Mặc áo ai đan để phai mầu
Còn nữa đâu rồi khúc hát xưa
Người đến làm chi để gió hờn?
Tàn bếp lửa hồng phai màu môi
Cho mãi thương đau chết nửa hồn
Ðông đến, đông đi chẳng thấy người
Nhìn áo đan rồi lệ ướt mi
Chẳng trách ai đi, chẳng trách đời
Chỉ trách sao mình thương thế thôi
Ðã bao mùa đông tưởng như quên
Người ấy giờ đây lại trở về
Hỏi người đan áo có chờ mong?
Chờ mãi làm chi bạc tóc thề
Tình đã ghi rồi trang sử cuối
Mực chưa khô nghe giấy bút gọi
Áo cũ người xưa tình than thở
Còn gì cho nhau phận đã rồi.
Chân Mây
Tuổi Mộng
em vẫn muốn hẹn anh nơi đầu phố
nghe ngại ngùng sờ sợ gặp người quen
nghe giần giận mỗi khi anh đến trễ
nhốt nụ cười chời đến lúc anh xin
em vẫn muốn trong tay anh rạo rực
nghe bâng khuâng ngượng ngập chảy trong người
nghe thèn thẹn đầy hồn ăm ắp mộng
ngẩn trong chiều thương màu nắng dần phai
em vẫn muốn cùng anh chiều thứ bảy
dạo loanh quanh trong thương xá Eden
nghe giờ giấc đi qua nhanh biết mấy
nghe nao nao khi đường phố lên đèn
em vẫn muốn, đến giờ, em vẫn muốn
sống lại thời tuổi mộng chớm trên vai
để nghe lại hồn em say ngất ngưỡng
những thương thương nhớ nhớ lẫn trong đời
Thủy Trang
Giá Trị Một Bài Thơ
Cõi thơ: siêu - thực - thể, nơi đó hoàn cảnh sống (không gian, thời gian, âm hưởng, cảm xúc...) đổi khác đi so với thực tại. Cái thực tại trong đời sống trở thành cái biến ảo trong nội tâm thi sĩ. Trong tiềm thức của mỗi người có một thế giới tinh tuyền, có một mùa thu khác với mùa thu lá vàng, có một tình cảm khác với thất tình lục dục... Tìm giá trị thơ là tìm cái thế chao đảo, âm tiết lạ, độ mê cuồng, mức tinh tuyền cảm xúc, những cảnh lưu lạc tạo ra từ sự khác biệt giữa hai thế giới này. Hơn nữa, phải vào cõi tâm linh vốn muôn hình vạn trạng và vượt qua ngôn ngữ vốn rất giới hạn của loài người. Chúng ta hãy tìm hiểu một vài yếu tố tạo nên sự biến đổi này.
1. Văn trong thơ.
Văn vần và văn xuôi thường giới hạn trong thế giới hiện thực và cố định, nghĩa là suy luận để giải nghĩa và thấy sao diễn tả vậy. Ý tưởng bài văn chỉ có một cách hiểu cho bất cứ độc giả nào. Hầu hết "thơ cũ", "thơ mới" được diễn tả trong khung cảnh thực tế chen lẫn với những giả tưởng văn chương. Chúng ta có thể ví văn như nước lạnh, ai uống cũng được và cũng thấy mùi vị giống nhau.
Thơ tiết ra từ nội tâm, tạo ra cõi siêu thực, nơi đó, không gian và thời gian không còn hiện hữu theo thế giới thực tại nữa. Nếu ví văn vần như nước thì thơ như một loại bia rượu, mỗi người uống vào sẽ tìm thấy hương vị khác nhau tùy theo cơ thể và tửu độ của mỗi người.
Văn trong thơ giống như nước trong rượu. Văn chỉ là phương tiện pha mầu, chế vị cho thơ. Nó dẫn độc giả vào thơ cùng lúc đưa thơ vào độc giả để tạo cảm xúc riêng. Trong phần nội dung và kỹ thuật thơ, chúng ta đã thấy văn thường trộn vào thơ bằng những động từ chủ quan và thực tế trong khi đó thơ dành hết cảm xúc cho độc giả bằng những khoảng trống giữa những danh từ, những động từ khách quan, siêu thực.
Giá trị của thơ đây là cách dụng văn như một trong muôn vàn yếu tố khác để tạo thơ. Ðơn giản hơn, văn bao giờ cũng là vai phụ, nó chỉ đệm nhạc, pha sắc, xếp đặt cho vai chính hiện hữu. Ðộc giả sẽ lướt qua văn bằng thị giác, cảm giác, thính giác... để đi đến một feeling, một cảm xúc thơ vô dạng, vô hạn định. Thí dụ trong khổ đầu của bài thơ "Tình Thu Em" sau:
Thu em tiết hạnh trăng đầy
ngực hoa môi chín rừng mây khép mình
gót trần áo mộng hoa trinh
hồn nhiên hương sắc đường tình ngoan ngoan
vườn thu trái cấm hân hoan
nữ thể địa đàng lõa thể trầm luân
đam mê quên nhớ ngọn nguồn
môi em nhân loại tình nhân lần đầu
tình phôi thai mưa sầu con gái
lãng mạn vàng tóc thả cội lan
cúc vàng phách (h)(ng)uyệt phù vân
em
em
biến thể hồng trần
vô âm vô thức khỏa thân tạo tình
mềm lòng thu nhan sắc
kiếp yêu người khoái lạc tử sinh
bóng tình phiến lá thần linh
thể thân sông núi gieo mình mai sau
thỏa lòng thu khuất đớn đau
cõi em trinh tiết đỏ màu hiên thu.
Những tiếng: "vườn thu trái cấm hân hoan" là một câu văn đầy đủ văn phạm, nó ở đó một cách phụ thuộc, giữ độc giả một thế cân bằng giữa những câu chao đảo, liên tưởng, vô dạng chung quanh nô Suốt cả bài, văn cứ len lỏi như vậy để tạo một cấu trúc cho bài thơ loại tình cảm này.
2. Bố cục (hình thức và nội dung).
Nội dung thơ là gị một cấu trúc phức tạp, nó không có trong ngôn từ mà trong chính độc giả với những tiềm thức, tưởng tượng, nghiệm thức v.v... mà chúng ta sẽ cứu xét trong một bài khác. Ở đây tạm gọi nội dung là tình ý phát sinh nơi độc giả khi thưởng thức thơ.
Trong văn, cách bố cục rất rõ ràng và qui tắc, nó dễ chấp nhận mọi sáo ngữ, mọi niêm, luật, đối ngẫu, văn phạm để diễn tả một thực tế gọn gàng, thí dụ như đa số bài gọi là "thơ Ðường" (thất, ngũ ngôn bát cú, tứ tuyệt), ềthơ mới" (5; 7; 8 chữ). Ðộc giả bước vào đó như vào xem một cuốn phim, đọc một quyển sách, nghe một bài diễn thuyết. Rất thụ động.
Trong thơ, hình thức và nội dung đều ôm lấy nhau, cùng biến chuyển trong tâm tưởng vô cùng phức tạp của con người. Nếu như trên thế gian này không có hai cảm xúc (hai người) giống nhau thì cũng không có thể có bố cục của hai bài thơ giống nhau.
Nếu đặt hình thức và nội dung làm hai đối cực đong đưa giá trị thơ thì chúng ta tạm chia thơ ra ba loại: thơ tình cảm, thơ lý trí và thơ tình lý.
Với loại thơ tình cảm, nội dung sẽ chi phối hình thức như trong bài "Tình Thu Em" trên kia hoặc như bài " Nhớ Mẹ " sau:
Con muốn về thăm mẹ
ngõ gầy trúc mộng tóc hương xa
cầm tay huyền thoại xưa bồng bế
mẫu tử thanh tâm giọt nắng mưa
Chiều tắt nắng mẹ về chưa?
trời quê quạnh vấn thương người gió sương
sao con lạc tới tha hương
trăng gieo hoài niệm đoạn trường nâng niu.
Huyền hoặc lưu dáng mẹ đưa đón
lệ tình nghiêng tóc thốc tâm tư
lặng thiêng chuỗi ngọc nhân từ
nuôi con nhẫn nhục trường tu dòng đời
Trời đây xuân đó tuyết rơi
đông xưa bếp mẹ con ngồi niệm thơ.
Mẹ
Bấy giờ bao giờ bây giờ
trăm năm phúc lạ bến bờ thánh nhân
xác phong trần phách phong trần
cho con thổn thức một lần ăn năn.
Với loại thơ lý trí thì hình thức dễ trở thành một khung cảnh, một dòng nhạc cho nội dung, thí dụ như bài "Phố Thu" sau:
Chuyến xe mù phố lạc thu
buồn rơi lãng đãng sinh phù long đong
người thu lá lụa song song
gót sương tâm ngộ bụi hồng tâm tư
lợi lầm trút áo tình tu
sông mây thu trũng phù du ngôn ngàn
mắt thơ khuất mộng cúc vàng
hồn khuya trăng đọng tân toan hoang đàng
cố hương mờ cội khói xa
bơ vơ vô thức nợ nần vô tâm
em về phố tục phàm trần
thu lặng lẽ ấy so thân tiếc tình
em về hưng phấn cổ kim
hồ thu nhạt nắng soi mình hồng nhan
em về hát tiếng nhân gian
hồn thu nhẹ gió địa đàng suy tư
mai sau lòng thế nhân từ
nẻo thu lá rụng tình dù chưa yên.
Hoặc rõ hơn trong bài " Tình Cha " sau:
Từ thần thoại vỡ đời mưa nắng
Cha dắt con lưu lạc cõi người
Hình hài họa phúc mù khơi
Thiên duyên phụ tử đạo đời kỳ công
Sáng sương gió núi nương đồng
Trưa phơi lưng muối quặn lòng áo cơm
Chi"u giông vuốt mặt sinh tồn
Kinh khuya chăm sóc xác hồn đàn con
Tài hoa lạc mộng nước non
Lao tâm tình tiết nở hồn tử sinh
Tầm hạnh phúc gía nhục vinh
Chở che con sống phù sinh trở mình
Con khôn lìa tổ xa tình
Gian nan lụy khổ bệnh xin thương Người
Trăm năm thoáng mộng mỉm cười
Dung nhan con cháu mệnh trời phúc cha.
Chúng ta so sánh bố cục của hai bài thơ " Tình Thu Em " và " Phố Thu " trên:
Về tình và lý:
Bài " nhớ mẹ " và "Tình Thu Em" được viết thuần túy bằng tình cảm, nhiều bất ngờ, không ai đoán được diễn biến từ câu này sang câu khác.
Bài "Phố Thu" đem lý lẽ chen vào tình cảm, khách quan hơn.
Về hình thức:
a. Ðầu đề:
Những bài thơ tình cảm thường có đầu đề rất riêng tư, bí ẩn, ngắn gọn, nó không mặc khải trực tiếp nội dung của bài. Tìm hiểu đầu đề thơ tình cảm là tìm hiểu ít nhiều thân thế của tác giầ Ðầu đề " nhớ mẹ " và "Tình Thu Em" trên tự nó là một phần tử đồng hóa với toàn bài. Nếu chúng ta thay thế" nhớ mẹ " bằng " thương mẹ "; " Gọi Mẹ "... và "Tình Thu Em" bằng "Mùa Thu Em", "Thu Yêu Em", "Tình Thu", "Hồn Thu" v.v.. thì cảm xúc bài thơ cũng vẫn vậy.
Những bài thơ loại lý trí thì đầu đề không thể đồng hóa với bài thơ. Nó cũng như khuân mặt mà người ta thường nói "trông mặt mà bắt hình dong", nghĩa là nó mặc khải trực tiếp nội dung cả bài. Nó như người mẫu của họa sĩ hay của điêu khắc. Người ta nhìn vào nó để phóng tác nội dung tác phẩm. Ðầu đề "Phố Thu" là hạt nhân cho cả bài thơ xoay quanh, nếu đổi bằng một tên khác đi thì mức độ liên tưởng trong độc giả sẽ giảm hoặc mất đi.
b. Về thể loại:
Bài "Nhớ Mẹ" và "Tình Thu Em" vượt mọi thể luật văn thơ: có vế 1 tiếng, có vế 5, có điệu 7 tiếng, có song thất, có Lục Bát.. Tình cảm phong phú bao nhiêu thì thơ phát tiết theo bấy nhiêu.
Bài " Tình Cha " và " Phố Thu" thì lý trí chi phối hình thức nên ý tưởng có cấu trúc đ"u đặn, khuôn khổ hơn, ký sử hơn.
Về nội dung:
Trong bài "Nhớ Mẹ " và "Tình Thu Em", cảm xúc lấn áp tất cả mọi hình thức suy diễn luận lý. Nghĩa là độc giả cảm nhận nhiều hơn hiểu nghĩa. Ðây là giá trị của một bài thơ tình cảm, nếu lời lẽ tự nhiên cấu kết với nhau, thi vị sẽ thanh thoát và bài thơ sẽ hay tuyệt diệu, nếu không thơ sẽ rời rạc và thi vị sẽ không có hoặc nhạt nhẽo, khách sáo.
Bài "Phố Thu" có cấu trúc rõ rệt:
Khổ đầu: liên tưởng giữa cảnh đẹp mùa thu và sự hờ hững của con người. Hờ hững vì cuộc sống long đong, vì mầu sắc lụa là đẹp hơn mầu lá mùa thu, vì tâm tư áp chế tâm tình... vì vô ngộ với chính thân phận (bơ vơ) và vô tâm với đời sống.
Khổ 2: Biểu lộ hai hướng đi, một của thiên nhiên (mùa thu) và một của con người (em).
Khổ 3 kết luận: Con người dù ra sao thì thiên nhiên vẫn đẹp và tồn tại cho họ.
Bài " Tình Cha " : Khổ đầu: giới thiệu; khổ 2: công lao thể xác; khổ 3: công lao tinh thần và khổ 4: kết luận.
Trong lý thơ, cách cấu trúc này phải tự nhiên để cho tình cảm đan vào lý trí. Với thơ tình lý, nội dung và hình thức sẽ hài hòa giữa hai bài trên, thí dụ như bài "Mộng Tuyền" sau:
Chiều nương nắng cuộc tình
ôm rừng thu lá đổ
cô đơn gợn gió siêu hình
chập chờn em cám dỗ
Anh lặng lẽ tương tư
cuộc hiện sinh man mác
bóng quê lưu lạc
vọng hồ đêm lãng đãng
bể dâu
hồn ngôn ngữ tìm nhau
mộng từ em vô thức
tóc chải vực thiên thâu
thơ gầy vai gió thấm
thở đam mê theo người
đêm hồn nhiên tiếc ngắn
em về tội khói sương
Anh muốn tâm tư mộng thu về
thần thoại tình cội nắng xa quê
đành thôi!, bâng khuâng chiều bóng tắp
tình vội vàng thu từng ánh mắt
biết không em
hồn thu buồn nương hồn con gái
tìm yêu.
Chúng ta thấy nội dung vừa tình cảm, vừa triết lý ẩn hiện trong bài thơ này đã biến chuyển với hình thức tạo nên một cấu trúc thơ lãng mạn đúng nghĩa nhất.
3. Tưởng tượng trong thơ.
Là một yếu tố trong nội dung, tưởng tượng trong văn đưa thực tại vào một cõi "giả tưởng" không lối thoát. Có nghĩa là văn bấu víu vào "thần thoại, trăng sao, mây gió", hoặc vào những gì đã bị trào lưu văn chương áp chế vào quan niệm của con người. Nó làm cho độc giả thụ động và đoán trước được dễ dàng những âm vần, ý tưởng tiếp nối hoặc liên quan với nhau. Thí dụ như những "trăng, sao, mưa, nắng, mây núi" hằng hà nhan nhãn trong văn vần (thơ mới), những câu đối trong "thơ Ðường", những cách gieo vần rất sáo trong các thể loại khác. Những tưởng tượng này biến thành kinh nghiệm vô nghĩa trong một trào lưu nào đó. Thí dụ như những tiếng "trăng, sao, nước mây" nghe miết rồi thành quen như một hư t" trong trào lưu "thơ mới". Tất cả những thứ này đều dẫn độc giả đến chỗ quá sáo, bế tắc, vô thưởng vô phạt, nhàm chán.
Trong thơ, sự tưởng tượng biến thành liên tưởng nơi độc giả để tạo một hình dạng mới. Những trăng sao, mây gió, thần thoại thường bị thơ áp chế đến nhập nhòa, nghiêng đổ, biến dạng cho đến khi bản thể nguyên thủy chỉ còn mờ ảo, tạo cho ý thơ sáng lên.
Thí dụ bản thể tiếng "gió" sẽ đổi ngôi vị trong những câu sau:
" gió " là chủ từ cho cả câu văn vần đơn giản: "gió uốn mình lên một ý thơ"
sẽ nhạt nhòa hơn khi chỉ còn là chủ từ của một phần trong câu:
"gió hát ngực hoa tình tiết thơ",
rồi thành phụ thuộc khi làm danh-trạng-từ trong câu:
"gió ngát hồn say động cõi thơ"
hay chuyển sang hình tượng mới (tính từ cho " thở "):
"gió thở thiền em động mắt thơ".
4. Nghiệm thức trong thơ.
Một hình thức biến đổi thời gian và không gian trong thơ là cách dùng nghiệm thức. Nghiệm thức đây mở rộng từ truyện tích (nhân vật) sang thơ tích (chẳng hạn trích thơ hoặc ý người khác), đến ngữ tích (chữ hán, ngoại ngữ) cùng tất cả những tích lũy trong lịch sử thơ. Nghiệm thức đưa độc giả đến một không gian lạ, một khái niệm khác với thời gian và một cảm tưởng mới v" tình lý.
Trong văn, nghiệm thức thường được sử dụng dưới dạng so sánh đơn giản, nhi"u khi trở thành nhàm sáo nếu không so đo kỹ, nhất là trong văn vần. Trường hợp dùng điển tích vừa để so sánh mới với cũ vừa phải tôn trọng vần điệu làm cho nó đôi khi rất gượng ép. So sánh có nghĩa là sử dụng điển tích trong khung cảnh lịch sử của nó với giả thuyết độc giả hiểu biết ngọn nguồn. Trong khi thực tế không bao giờ có hai hoàn cảnh giống nhau để có thể so sánh trọn vẹn được.
Trong thơ, nghiệm thức trở thành tượng trưng, nó đưa cả khung cảnh điển tích vào một hoàn cảnh siêu thực thể. Mục đích là tạo một cảm xúc hư thực, xa gần nào đó làm phương tiện cho độc giả phiêu lãng vào thơ. Thí dụ những điển tích: Tiêu sử với Lộng Ngọc, Giáng Kiều trong Bích Câu Kỳ Ngộ, Hồ Xuân Hương, Hàn mặc Tử được nghiệm thức tổng hợp thành cảnh mờ ảo, thành âm ảnh của một khung cảnh có một mái lầu thần thoại thấp thoáng bóng tình nhân xinh đẹp, có hồ nước ngát xuân và có đêm ôm lấy trăng tình cong lên... như trong khổ đầu của đoạn "Tình Ca" sau:
Lộng ngọc lầu tiêu sử
Giáng kiều thấp thoáng em
Hồ xuân hương phấn lạ
Trăng mặc tử cong đêm
Em kiều nữ tất nhiên
lưu lạc tình sử mộng
vô thức bóng thơ nghiêng
chinh phụ trăng cuồng kiếp
nhục thể hóa thơ yêu.
Trong khổ thứ hai: những tiếng "kiều nữ tất nhiên" phác họa một người con gái kiêu sa, nghịch ngông ẩn hiện trong thơ Nguyễn Tất Nhiên. Nếu thay "kiều nữ tất nhiên" thành "kiều mộng tất nhiên" thì hồn thơ Nguyễn Tất Nhiên sẽ sai lạc đi. Những tiếng "tình sử mộng" liên tưởng từ những bài thơ của Ðinh Hùng, nếu thay chúng bằng "hùng sử mộng" hoặc "trăng sõng mộng" thì nó quá lộ liễu hoặc lạc sang thế giới Hàn Mặc Tử.
Giá trị thơ đây lệ thuộc vào sự linh động (độ hiểu biết và cảm xúc) của nghiệm thức sử dụng. Nếu "hiểu" mạnh hơn "cảm", chúng ta sẽ thấy gần như văn. Nếu cảm xúc lấn áp độ hiểu biết, chúng ta đi quá xa cái hào quang hoặc cái bóng mờ, âm ảnh của nghiệm thức làm thơ khó hiểu. Cái kỳ công của nghiệm thức là sự kết hợp bằng liên tưởng và bằng nghiệm thức những tích lũy của thơ với hồn thơ để tạo một hình tượng tổng hợp phát sinh cảm xúc lạ.
5. Nhạc và cảnh
Trong khi văn chú trọng vào những tiếng tượng thanh, tượng hình, những động từ gợi cảm thì thơ ngược lại, sử dụng tối đa những vô âm, vô ảnh, tránh những động từ thực tế bằng những động từ ngầm, khách quan, siêu thực để chúng lấn át vần điệu và cuốn hút nhạc cảnh vào một cấu trúc lẫ Nghĩa là nhạc và cảnh trong thơ khác với thính giác và thị giác của cơ thể chúng ta. Thí dụ 2 vế lục bát với 6 danh từ và không có động từ dưới đây:
Hoang đàng / nhân loại / tình ngoan
Hồn trinh - song cửa - tháng năm - hoa hồng.
Thần duyên thế tục mắt trong
Hóa tâm rực rỡ vỡ lòng gọi em.
Sáu danh từ trong hai vế đầu viết liền nhau tự đong đưa va chạm xếp đặt với nhau tạo nên một dạng thể tổng hợp nơi mỗi người. Những nhạc cảnh này trong tiềm thức, nghiệm thức, tưởng tượng, chúng vừa hòa hợp với nhau vừa rung động theo từng độc giả. Chúng ta thử phân tích một vài chi tiết sau:
Hoang đàng:
a. Những bước chân giang hồ lang bạt
b. Những phá phách dễ thương của tuổi trề
c. Những tìm kiếm khác lạ, những hành động khác đời
nhân loại:
a. Tất cả mọi người, trong đó lúc có mình, lúc không có mình.
b. Một cảnh đời có vui buồn sướng khổ...
c. Một thực tại nào đô
tình ngoan:
a. Chỉ có tình là ngoan, là đẹp
b. Một đối tượng, một lý tưởng tình cảm dễ thương.
c. Một thứ tình ý nào đó ngoại lệ.
Với những cách hiểu trên, vế đầu tiên có thể hiểu:
1, Chỉ có những nét hoang đàng nhân loại mới lộ diện tình yêu
2. Lang bạt khắp cả nhân loại mới thuần thục với tình.
3. Những cái nhân loại cho là hoang đàng thì anh cho là đẹp trong tình yêu.
4. Những nét khác người đi của em là những nét anh yêu thích.
Hồn trinh:
a. Hồn chưa yêu ai
b. Hình dạng tinh tuyền trừu tượng của một người
c. Nét kín đáo, cõi bí mật của ai đó,
song cửa:
a. Một song cửa theo nghĩa đen
b. Một cõi riêng, một cấm địa lãng mạn
c. Một khung cảnh thấp thoáng những điều bí ẩn nào đô
tháng năm:
a. Thời gian ngày tháng
b. Tháng thứ năm trong một năm
c. Mùa xuân
hoa hồng:
a. Một loại hoa có gai, có hương
b. Một kiều nữ vừa trưởng thành.
c. Một biểu hiệu của tình yêu.
Và vế thứ hai có thể hiểu:
1. Anh thấy em nơi khung cửa đầy khiêu gợi và quyến rũ như hoa hồng vào tháng năm.
2. Anh thấy vẻ trinh tiết của em như một khung cửa hoa hồng mùa xuân.
3. Anh thấy em như hoa hồng lãng mạn trên một dàn thời gian giống như khung cửa (nghĩa là biến thời gian (trừu tượng) thành hình tượng như một dàn hoa.).
4. Thấy em đứng trong song cửa gợi hứng chinh phục của anh ví như hoa hồng với gai góc ẩn hiện thách đố.
5. Em đang tuổi xuân rực rỡ, cuộc đời là những hoa hồng quyến rũ qua khung cửa tình lãng mạn.
Và còn nhiều cảm xúc khác tùy theo rung cảm riêng biệt nơi mỗi độc giầ Chúng ta thấy rõ rằng xen kẽ những danh từ này là những khoảng trống dành cho độc giả kết hợp chúng thành một hình thể siêu thực nào đó mà mỗi tiếng khi đứng riêng biệt không cô
6. Thi pháp:
Trong văn, bút pháp là cách sử dụng ngôn ngữ (rất nhiều động từ) để "giải thích và diễn tả" một cái gì thực tế. Tiêu chuẩn chính của nó là những cái "MỚI". Cái mới này lệ thuộc vào thời thế rất nhiều (vần gợi vần, ý gọi ý), nó có thể trở thành trào lưu văn chương rồi cũ mòn theo thời gian.. Ðương nhiên văn vần có giá trị văn vần (chúng ta sẽ đề cập tới trong dịp khác) nhưng một khi thực tế đổi khác thì cách giải thích và diễn tả trong văn vần cũng biến khác.
Trong thơ, thi pháp phát sinh từ tiềm thức, tưởng tượng, nghiệm thức... cho nên bản chất nó đã là độc đáo duy nhất. Nếu tìm tiêu chuẩn làm giá trị thì đó là cái "LẠ".
Cái lạ này phải nhận thức được từ chính tác giả, nghĩa là phải biết mọi ngõ ngách của ngôn ngữ và có bản lãnh vượt qua mọi ám ảnh (ảnh hưởng của giáo dục, của người khác, của chủ quan mình) của nó. Ðạt đến trình độ này, thơ, nơi tiềm thức sẽ tự động phát tiết, từ đó áp chế ngôn ngữ cũ và sáng tạo ngôn ngữ mới. Tìm giá trị thi pháp là tìm cách thức và bản lãnh của nhà thơ trong việc chuyển hình tượng của nội tâm mình ra ngôn ngữ. Chúng ta tạm chia thi pháp ra 3 trình độ:
Thi pháp thấp:
Tác giả còn trong giai đoạn tìm kiếm ngôn từ vần điệu. Thơ tiềm tàng đâu đó không nhìn thấy hoặc không thoát được. Những hình tượng lạ của thơ bị ngôn ngữ và văn vần che khuất đi, những cái tinh tuyền bị biến dạng thành tầm thường và đôi khi sáo.
Thi pháp trung bình:
Những gọt dũa sửa đổi ngôn ngữ làm thơ biến dạng đi phần nào so với nguyên thủy. Những ám ảnh ngôn ngữ vẫn còn ảnh hưởng làm cho thơ thấy công phu hơn ngược lại cái lạ kỳ của thơ cũng lu mờ hơn. Ở trình độ này chúng ta thấy cảm xúc thơ mới chỉ bàng bạc, ẩn hiện như còn khúc mắc riêng tư đòi hỏi một sự giả thích nào đó. Thí dụ tiếng "Thu em" trong câu "Thu em tiết hạnh trăng đầy" của bài "Tình Thu Em". Tại sao không là "Ðợi em", "Vì em", "Nhớ em"... Có nghĩa là chữ "thu" bị vần điệu ám ảnh, hoặc bị ý chủ quan hóa hoặc không đủ mạnh để tạo cảm xúc mong muốn, hoặc được chọn sửa quá kỹ làm phai lạc cảm xúc tự nhiên nguyên thủy đi.
Thi pháp cao:
Là một hình thức thơ nhập thần xuất ngôn (đương nhiên không phải tả con cóc). Ở trình độ này, cảm xúc sẽ trực tiếp tạo ra hoặc tái tạo ngôn ng thí dụ đổi chữ "hiên" thành "thiên" trong câu:
"cõi em trinh tiết đỏ màu hiên thu"
thành
"cõi em trinh tiết đỏ màu thiên thu"
thì rõ ràng chúng ta thấy tiếng "hiên" tạo ra cảm xúc còn tiếng "thiên" nặng v" lý luận. Thơ không phải để hiểu mà để cảm, ngôn ngữ không còn cần lý lẽ, xa hơn nữa những tiếng vô nghĩa cũng biến thành một hình thể nào đó tạo cơn say thơ trong độc giầ Những tiếng vô nghĩa "Phượng trì! phượng trì! phượng trì! phượng trì!" trong bài "Ave Maria" của Hàn Mặc Tử là một thí dụ nhỏ.
Kết luận:
Giá trị thơ do tự nó có. Một vài yếu tố trên chỉ có tính cách văn phạm giúp chúng ta cảm thức thơ rõ hơn mà thôi. Ngoài ra, sáng tác thơ cốt yếu là dùng tiềm thức, tưởng tượng, nghiệm thức để tạo ra nét lạ nghệ thuật mà trong đó ngôn ngữ là biểu hiện đầu tiên.
Khải Minh
Jerry Maguire
Written and Directed by Cameron Crowe
Actors : Tom Cruise, Renee Zellweger, Cuba Gooding Jr.
1. Jerry Maguire được xếp loại "phim vui lãng mạn." Vốn dĩ không ưa Tom Cruise cho lắm (dĩ nhiên anh ta có thể gọi là đẹp trai, nhưng trông ... đần đần thế nào ấy), tôi chỉ chú ý vẻ đẹp hiền lành của cô tài tử chính trong đoạn phim quảng cáo. Cuối năm là thời điểm của bao nhiêu cuốn phim hay ra mắt để chuẩn bị tranh đua giải Oscar, nên tôi gần quên mất Jerry Maguire, cho đến khi Siskel & Ebert "two thumbs up" cuốn phim, và bài điểm phim trong Newsweek cũng không kém phần nồng nhiệt.
2. Jerry lăn thoải mái trên con đường mòn của "phim vui lãng mạn." Một mối tình lãng mạn - có nghĩa là hơi nhuốm màu thần thoại, hay hoang đường cũng thế, một chút tếu để làm tăng thêm phần... nhẹ nhàng của câu chuyện, và một kết thúc có hậu. Mối tình - và những khúc mắc sẽ được giải quyết trước khi đèn bật sáng -- xoay quanh hai người (ngày xửa ngày xưa thường là hai người trẻ tuổi xinh đẹp, nhưng chuyện ấy lỗi thời mất rồi -- thời nay hai người có thể... cùng phái, như trong phim Jeffrey hay Wedding Banquet chẳng hạn): Jerry và Dorothy. Phần tếu do Ron đảm nhận. Kết thúc có hậu lấy từ thần thoại không tưởng: một nụ hôn, điệu vũ, bốn mắt nhìn nhau, nụ cười không thể thiếu... Thật khó tìm thấy điều gì mới mẻ hay đáng nhớ trong những cuốn phim này: người ta đã khai thác nó đến khô cạn rồi. Có lẽ khán giả đi xem phim cũng không đòi hỏi nhiều: một chút ảo mộng, một chút dịu dàng, một chút an ủi. Cuối cùng, chỉ là cuốn phim vui lãng mạn thôi mà? Tôi là loại khán giả thích lục tìm, thích... vẩn vơ, nên tôi mừng rỡ lắm nếu cuốn phim không trải ra phẳng lì như sàn khiêu vũ của Người đẹp và Quái Thú, mà có vài góc tối mập mờ cho tôi có cớ lẩm cẩm.
3. Dorothy bảo cô đã dùng con trai để "lợi dụng" Jerry. Tôi nghĩ Jerry, hay bất cứ ai khác, làm sao có thể cưỡng nổi Dorothy và cậu bé Ray. Dorothy có cặp mắt hơi nheo lại, một chút suy tư một chút đắn đo một chút mơ mộng một chút liều lĩnh; có đôi môi quyến rũ nửa yếu đuối nửa tham lam (đòi hôn). Cậu bé sáng rỡ như tia nắng, tóc vàng chải rối rất "punk" và môi mắt thuần khiết trẻ nhỏ. Có người cho rằng chuyện Jerry yêu Ray là khó tin, là không thể. Tôi cho rằng nó hoàn toàn hợp lý, vì Ray là khía cạnh nhân bản tự nhiên đầu tiên và duy nhất của Jerry trong phim. Ngay cả con cá mập cũng cần yêu thương, nhất là con cá mập đã cô đơn quá lâu trong cơn say vật chất danh vọng như Jerrỵ Ngoài ra, Cameron Crowe, rất khéo, giữ cho Jerry cái vỏ xa cách là một phần của thiếu thốn (vô tình hay cố ý) tình cảm. Crowe để cho Ray tìm đến với Jerry trước, theo bản năng và lòng tin trong trắng của tuổi thơ, và Jerry, phần nhỏ nhoi nào đó trong con người anh vẫn chưa bị tính toán làm cho chai sạn, đón nhận thương yêu ấy gần như với lòng biết ơn.
4. Dorothy bảo Jerry cô không chịu nổi ông chồng "rất yêu con riêng" của mình và "ưa thích" mình. Dĩ nhiên cô muốn nói cô cần tình yêu, khía cạnh "lãng mạn" của cuốn phim để vẫn còn là "phim vui lãng mạn", để có kết thúc "có hậu", truyện phim đã sắp xếp cho Jerry nói yêu vậy. Riêng tôi, tôi tự hỏi chữ yêu Jerry nhắc đến có đồng nghĩa với chữ yêu Dorothy mong ước? Tôi nghĩ là không hẳn. Jerry, từ phút đầu cho đến phút cuối của cuốn phim, vẫn là anh chàng không biết gì về sự gắn bó thân mật và riêng tư của quan hệ tình cảm. Anh đến với Dorothy bằng một sự gắn bó khác, mối quan hệ chung vai sát cánh trong công việc, trong cuộc sống, chữ "nghĩa" thường đi sau chữ "tình" trong tình yêu và hôn nhân. Khi Jerry nói yêu vợ cuối cuốn phim, đó không phải là tuyên ngôn của trái tim, đó là lời hứa anh sẽ cố gắng vun bồi cho sự thân mật trong tình cảm của hai người.
5. Buổi sáng sau đêm đầu tiên Jerry ở lại nhà cô, Dorothy lập đi lập lại với chị gái trong niềm vui say sưa rằng cô yêu Jerry. Rồi cô thú nhận cô không hẳn yêu Jerry. Rất... đàn bà, Dorothy yêu với hy vọng người mình yêu sẽ trở thành người mình muốn yêụ Cô yêu lý tưởng của Jerry, yêu con người anh ta "gần" trở thành, có thể trở thành. Tình yêu rất nữ tính này đã và sẽ là nguyên nhân của bao nhiêu ảo tưởng tan vỡ và thất vọng ê chề, vì có mấy khi con người ta thay đổi, cũng như có mấy khi con người ta làm theo được lý tưởng của mình. Dorothy may mắn hơn đa số phụ nữ khác : với hứa hẹn cố gắng của Jerry, cô có được sự khởi đầu và một chút lòng tin cho tương lai.
6. điểm yếu của Jerry Maguire nằm trong phần đầu cuốn phim. Sự "thức tỉnh" của Jerry, hay lương tâm, gì cũng thế, về cách điều hành của hãng anh cộng tác có về.. khó tin, tuy rằng Cameron Crowe đã tìm cách xoa dịu nó bằng thái độ "oops" sau đó. Thật ra, memo làm cho Jerry bị đuổi chỉ là một loại bồng bột nhất thờị Trước sau, Jerry vẫn là "con cá mập mặc vest." Anh mặc lè phè chỉ vì đã hết tiền. Trước sau, Jerry chỉ có thể là con cá mập có lương tâm hơn những con cá mập khác. đáng lẽ Cameron nên kềm chế cái lương tâm rất... hạn hẹp của Jerry Maguire, để nhân vật được sống thực hơn. Mặt khác, điểm yếu này không chạm vào nhân vật Dorothỵ Phụ nữ thường mù quáng vì tình. Tôi không tin Dorothy thật sự hiểu hay tha thiết đến lý tưởng Jerry nhắc đến trong memo của anh. Cô chỉ nhìn thấy phần tốt đẹp của con người (Jerry) có lý tưởng tốt đẹp, và nắm lấy nó như điểm thuyết phục cuối cùng để cô ngã vào tình yêu với người ấy, vốn dĩ đã hình thành từ những lý do hoàn toàn không dính dáng đến lý tưởng hay đức tính.
7. Trong thể loại "phim vui lãng mạn," Jerry Maguire là cuốn phim xuất sắc, trong vài khía cạnh có thể so sánh được với cuốn phim tôi rất thích là "When Harry met Sallỵ" Sự thành công bắt đầu bằng kịch bản luôn luôn chừng mực, không bao giờ lạm dụng những tình tiết dù vui cười hay cảm động hay tình t Về mặt tài tử, tôi chưa bao giờ thấy Tom Cruise diễn hay như vậy, với những cảm xúc tinh tế và phức tạp. Renee Zellweger là một khám phá mới, mà tôi chắc sẽ nổi danh từ đâỵ Cuba Gooding, Jr. khá ồn ào nhưng đủ đóng góp cho toàn bộ cuốn phim. Về hình ảnh, tôi thích ánh sáng trong phim, dịu và mơn trớn làm nổi bật vẻ quyến rũ nữ tính của Renee Zellweger.
Jerry Mcguire có đầy đủ yếu tố của một cuốn phim hay sắp thành hit. Tuy nhiên, điểm tôi thích nhất ở Jerry Maguire là sự cố gắng đi xa và sâu hơn những câu chuyện lãng mạn có hậu thường nhẹ nhàng nhưng hời hợt. Cũng như "When Harry Met Sally", sau kết thúc khá dễ đoán của Jerry Maguire ("phim vui lãng mạn" có kết thúc nào khác hơn cơ chứ?), khi rời khỏi rạp, tôi vẫn còn mang theo được với mình những nhận xét ý nhị trong phim, một chút bí mật tâm linh ẩn khuất trong các chi tiết để suy ngẫm. Với một chút bâng khuâng rất lãng mạn.
TCA
Khoảng Trống
Bây giờ, ông Thịnh mới thật sự bàng hoàng. Lá thư dày cộm thêm cái hình con tim cùng chữ kiss trên phong bì đã khiến ông giật mình. Thì ra con ông đã có người yêu, và người con gái ấy là một đứa con gái Mỹ.
Dù không mở phong bì ra, nhưng ông cũng biết ở bên trong là hình với hình. Ông kêu vợ ông và chỉ:
- Ðấy bà xem, con Mỹ nào gởi cho thằng Bob nhà mình. Có cả con tim thêm chữ kiss đây này.
Bà Thịnh cầm phong bì. Bà muốn mở để xem mặt mũi con nhỏ kia như thế nào. Nhưng ông Thịnh đã chụp tay bà kịp thời. Ông gắt:
- Bà phải biết tôn trọng đời sống riêng tư của nó chứ. Ở Mỹ này, cái tội đọc lén thư là cái tội nặng. Bà biết không?
- Nhưng nó là con tôi. Tôi đẻ nó ra, tôi có quyền...
- Bà nên nhớ là thằng Bob đã hai mươi tuổi rồi. Cái tuổi được coi như người lớn...
- Nhưng nó là người Việt Nam. Nó không phải Mỹ. Tôi là mẹ nó. Tôi phải lưu tâm đến hạnh phúc của nó... Bà bắt đầu khóc ấm ức. Con tim đỏ với cái chữ Kiss màu mạ vàng, cùng chiếc bì dày cộm đã làm bà tức đến muốn đập đầu vào vách. Bà tiếp tục than thở:
- Cũng tại vì ông mới ra nông nỗi này.
- Tại sao lại đổ thừa cho tôi?
- Ông sợ Việt Nam, ông bắt con ông cũng sợ luôn. Giờ chắc ông đã toại nguyện.
Ông Thịnh đau lắm ở lời trách của vợ. Từ lâu, ông nói với vợ là ông sợ người Việt. Ông bảo người Việt Nam kỳ lạ. Cứ chửi bới, nghi kỵ, thù hận. Qua cuộc chiến tranh đầy những thảm kịch, hình như người Việt mình vẫn chưa tỉnh thức. Họ nói xấu sau lưng, nhưng lại cười trước mặt. Trong trăm cuộc gặp nhau, là trăm cuộc chửi rủa, moi móc đời tư. Chửi rủa trong nhà chưa đủ, họ ra báo, tiếp tục chửi rủa, tiếp tục lên mặt dạy đời...
Bởi vậy, ông đã quyết định tìm một nơi thật xa cách người Việt để sống. Ông sẽ chối bỏ cội nguồn của ông. Ông sẽ bỏ lại đằng sau cái tiếng Việt Nam mà người bản xứ đang muốn quên, hay mỗi lần nhắc lại, đều cảm thấy hãi hùng. Và ông đã làm. Trước hết, ông đã đổi lại tên họ, Nguyễn văn Thịnh trở thành Michael Theen, vợ ông, Trần thị Phất thành Jacqueline Tran, và ba đứa con của ông đều là Bob, Jimmy, Lisa. Ông che đậy quá khứ của ông bằng sự chối bỏ dứt khoát. Ông đã từng nói với vợ:
- Em thấy không, gia đình mình được may mắn qua đây là do lòng thương yêu của dân xứ này. Nơi nào bao bọc mình là nơi đó mình phải cảm ơn. Ðược làm dân xứ này đâu phải đễ.
Vợ ông lúc đầu không chịu với cái tên Jacqueline. Nàng lắc đầu lia lịa:
- Nhưng tên Phất của em mà đổi thành Jacqueline, nó nghe kỳ làm sao ấy. Hơn nữa, em chỉ biết mấy tiếng yes no. Anh xem, Jacqueline gì mà tiếng người không biết một chữ. Mỹ nó cười em chết.
- Thì bà cứ nói Sorry. Mình làm lao động chứ không phải làm thầy người ta đâu mà phải cần chữ Anh chữ Mỹ.
Bà nghe bùi tai. Hơn nữa, cái tên Phất của bà là cả một đề tài khôi hài của đám Mỹ bản xứ. Bà vẫn còn nhớ như in ngày đầu tiên khi vợ chồng bà đến sở Xã hội thành phố. Người đàn ông - một cán sự xã hội - đã kêu bà đọc thử cái tên ruột của bà. Bà lên giọng: Phất. Tay Mỹ trắng thoạt đầu há mồm kinh ngạc, sau đó bụm miệng, cố dấu tiếng cuời. Bà không biết đọc lại một lần nữa. Lần này bà đọc to hơn. Cả mấy người nhân viên xung quanh quay về phía bà. Sau đó, lần này họ đập bàn, ôm bụng cùng nhau cười rú. Bà không hiểu mô tê. Cô thông dịch viên cũng đỏ mặt, kéo ông bà về một xó phòng, thì thào:
- Cái tiếng Phất của bà nhà ở Mỹ này tục lắm.
Bà Bông tiếp tục phản đối:
- Tôi không cần biết tục hay là không tục. Tên cha mẹ tôi đặt sao tôi giữ nguyên vậy. Xứ này là xứ tự do mà.
Rồi bà hứ:
- Phất mà tục. Phất là phất phới, phất cờ, lất phất...
- Nhưng cái âm của Mỹ đọc không được nhã cho lắm, bà ạ.
- "Nhã nghĩa là làm sao". Ông Thịnh tò mò hỏi. Cô cán sự cố gắng nói bóng gió: "Thì tiếng chửi thề ấy mà". Ông Thịnh bây giờ mới hiểu. "Chết rồi, như vậy chúng tôi phải làm sao đây" "Bà nhà phải đợi khi lấy thẻ xanh mới đổi tên. Tạm thời bà cứ dùng họ của bà là last name. Còn tiếng Phất kia, mỗi lần người ta hỏi thì bà cứ việc viết ra trên giấy. Chớ bà nhà mà đọc thì khó nghe lắm."
Từ buổi ấy, bà Thịnh, nhủ danh Trần thị Phất, không còn thiết tha nghĩ đến việc giữ cái tên cha sinh mẹ đẻ của bà nữa. Bà mới hiểu rằng, chân lý ở phương Ðông nhưng ở phương Tây, đôi khi nó không còn là chân lý. Bởi vậy, bạn bè chồng bà đôi khi đùa cợt: "Thằng Mỹ trong hãng tôi cứ thắc mắc tại sao đàn bà Việt Nam ưa gì xe van, xe truck mà tên nào cũng là van, truc..." Ðôi lần bà nhìn lên bàn thờ tổ tiên, kể lể xin ông bà tha thứ: "Ông bà ơi thông cảm cho con cháu. Cái tội bất hiếu bất mục bất trung bất nghĩa là cái tội chối bỏ giống giòng. Nhưng mà đối với con, con không còn cách gì hơn. Phải chi ông bà cha mẹ tìm cái tên khác như Nồi Niêu Chén Bát thì đỡ khổ tâm cho con biết mấy. Thôi con lạy ba lạy cam làm đứa con đứa cháu mất gốc."
Còn ông chồng của bà thì trái lại. Ông ước ao mau đến ngày làm thẻ xanh để ông có cơ hội biến ông thành người khác. Có nghĩa là ông sẽ trở thành một Michael Theen, một người Mỹ da vàng. Ông sẽ quên hết những gì ông bỏ lại đằng sau. Một ngài sĩ quan cao cấp. Một tay ngày xưa có tài xế đưa đưa đón đón. Nhà lại có cả trung sĩ quản gia, có kẻ hầu người hạ. Ông không tiếc thương quê hương bất hạnh nhưng tiếc nuối cái thời vàng son của quá khứ. Cái thời ngồi chỉ tay năm ngón. Cái thời nhân danh đại tướng tổng tham mưu trưởng tôi gắn anh dũng bội tinh cho anh... Ông cũng có ở tù thật. Nhưng trong lòng ông, mà mỗi một mình ông biết, ông chẳng có cái gì để phải nói về cái dũng liệt, khí phách của người tù binh, hơn nữa, một sĩ quan cao cấp như ông. Ðôi lần ông cũng cảm thấy cắn rứt.
Nhìn lại quá khứ, ông nghĩ là ông chưa đánh trận một ngày nào. Ra trường chuẩn úy, nhờ thân thế con ông cháu cha, ông được làm việc tại một đơn vị chuyên môn, từ đấy mà cứ tiến lên theo từng ngày tháng của chiến tranh. Lính sợ ông hơn sợ cọp rằn vì nếu ông mà nổi giận thì họ sẽ vác ba lô ra chơi với chiến trường. Ðám Tàu chợ lớn vuốt ve ông vì nhờ ông, con cháu của họ được làm lính ma lính kiểng, lính gia nhân, hay lính tài xế.. Sao mà ngày xưa mình như con cọp, con beo, đại bàng, mặt trời, bây giờ mình lại như con trùn, con dế... Viết kiểm thảo, sao mình lại viết hàng trăm chữ xin cách mạng khoan hồng, thêm bao nhiêu tội ác không tưởng để may ra cách mạng thấu hiểu mình ăn năn... Ông làm lao động hơn cả chỉ tiêu, hát nhạc cách mạng hơn cả người hát opera, thưa anh anh em em với cán bộ lăng xăng tội nghiệp... Ông đọc cho cả phòng, cho anh em, cả quản giáo nghe bài tự kiểm điểm như một tội nhân biết mình có tội và muốn chứng tỏ mình ăn năn. Ông đã ngừng lại, chừng như nén giọt nước mắt, hay tiếng thở dài thườn thượt... Có lần ông còn đưa tay hỏi cán bộ tôi đã học thuộc lòng bảy bài như học thuộc kinh, không tin xin anh cứ dò. Nhớ lại, ông cảm thấy lòng mình không được an ổn chút nào. Mà cũng may, nếu quả thật họ dò, họ cho ông đậu, họ cho ông về, thì giờ này, ông và cả gia đình của ông đâu có ở cái xứ thiên đàng này. Hú hồn. Nhưng dù sao đi nữa, ông cũng học được một bài học. Thời buổi nào cái câu khôn thì sống, dại thì chết vẫn mãi mãi là bất tử. Phải khôn. Tương lai mình vẫn còn phải về lại Việt Nam để hưởng già bằng tiền Mỹ, để có kẻ hầu người hạ... Chẳng lẽ ở xứ này muôn năm. Chẳng lẽ khi già lại chui vào trong nhà dưỡng lão để mấy con Mỹ thằng Mỹ hành hạ. Với cái số tiền 5, 6 trăm đô về VN mà hưởng già thì hơn tiên... Ông hãnh diện với triết lý sống của mình. Có những dịp chào quốc ca Mỹ, ông càng đặt bàn tay chặc vào tim như thể nói với xứ sở mới là mẹ Hoa Kỳ ơi, chúng con vẫn còn đây. Cho dù ông chẳng bao giờ hiểu được ý nghĩa của bài hát hay thuộc cả lời ca. Khi vài tay Mỹ quen ông, hỏi ông về xứ sở mà ông đã sống, thì tùy theo đối tượng ông trả lời. Với tay có thành kiến với chiến tranh, thì ông vung tay đã kích cuộc chiến. Với tay ủng hộ chiến tranh, ông trở thành một diều hâu. Ông kể ông là trung đoàn trưởng giết cả trăm Việt Cộng, khiến tên Mỹ phải thao láo con mắt xanh và gọi ông bằng Sir. Ông cách biệt với đồng hương. Ông nói với vợ: Thế mà tốt. Mỗi năm mình dư một số tiền lớn dành cho đám cưới, đám hỏi, tiệc tùng. Hàng xóm kêu ông là Mr. Theen. Họ đều ngỡ ông là người Ðại Hàn. Ông cũng chẳng cần cải chính. Việt Nam của ông đâu có gì cần lưu luyến. Ông hãnh diện khi con cái ông nói tiếng người. Ông trợn mắt khi lũ con ông đôi lần xen vào tiếng Việt. Ông dùng tiếng Mỹ bập bẹ để trao đổi cùng lũ con. Mom, Dad, hai tiếng ấy sao mà ấm và như mật ngọt, khiến ông cứ nghĩ ông là một tay Mỹ chánh gốc, để lòng ông trở nên phơi phới, lâng lâng...
Nhưng lúc này, là lúc ông phải hoảng hốt để nhận ra mình đang bị sa lầy. Thằng Bob đã có bồ Mỹ. Và chắc chắn con nhỏ này chẳng phải tốt lành. Phải chi nó có con Mỹ nào cho đàng hoàng một tí, ông cũng mát lòng mát dạ. Ðằng này, nó quá bụi đời, chẳng kể gì đến gia phong truyền thống của gia đình ông. Ngay trên bì thơ nó cũng tỏ tình bằng chữ Kiss lộ liễu. Ông Thịnh nhìn ra ngoài cửa sổ. Tương lai. Một ngày nào đó, ông sẽ trở nên ông nội hay ông ngoại của đám Mỹ lai. Một ngày nào đó ông sẽ trở nên ông già giữ trẻ. Một ngày nào đó con dâu, con rể của ông là tóc vàng mắt xanh, tiếng Anh, tiếng Mỹ, ly dỵ như điên, chê khinh văn hóa tập quán cổ truyền của xứ sở ông... Tuyết trắng một vùng. Những thân cây dẽ, sồi trơ trụi vươn lên. Ðây có phải là quê hương cuả mình chẳng? Ông tự hỏi. Và tự trả lời. Cây soài, cây ổi, bờ chuối, bờ ao, hàng xóm láng diềng, những bà Năm, Ông Sáu, những lần gây gổ đó, rồi hoà thuận lại đó... Những điều rất nhỏ bé, tầm thường, như tiếng gà gáy buổi sáng, tiếng rao hàng buổi khuya, tiếng cha, tiếng mẹ, tiếng nói thân quen, thế mà ông lại không giữ gìn, để chúng phải vuột đi, bay mất. Ông hối hận. Ông có thể dùng quyền lực của ông bắt con ông nói tiếng Việt mà. Ông có thể dạy dổ lũ chúng về phong tục tập quán Việt Nam mà. Cái lỗi này là cái lỗi vọng ngoại. Và gây ra bởi ông.
Có tiếng chuông điện thoại reo lên. Ông bắt ống lên. Tiếng nói của một đứa con gái Mỹ. Is Bob there? Câu hỏi cộc lốc, mất dạy. Ông nóng mặt, cố gắng lắm mới dằn cơn nóng. Is Bob there? Tiếng hỏi lại thêm một lần nữa. Ông không trả lời. Ông đặt ống điện thoại xuống. Ông nghe rõ cả tiếng thở dài của ông. Bên ngoài tuyết vẫn tiếp tục rơi...
Trần Hoài Thư