vhnt, số 280
18 March 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................................PCL
T h ơ:
1 - Tự tình câm.............................................Hàn Trân
2 - Thảo Trường..............................................Song Vinh
3 - Nghe hát................................................Hữu Nguyên
4 - Một ngày buồn hơn mọi ngày............................Cát Nhu
5 - Kiếm tìm.....................................Trương Trọng Hoàng
6 - Ðôi bàn tay nhỏ.........................................Chân Mây
7 - Hai mươi năm sau............................................MNguyen
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
8 - Tản mạn về làng mạc miền Nam (phần 1/2)....Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
9 - Người khách lạ.................................Trần Hoài Thư
10 - Ngày lễ Rombaden.........................................Chung Lê
Gửi đến bạn đọc vhnt #280, vẫn nhiều bài vở phong phú như mọi khi, gồm thơ và sáng tác. Số này, ngoài những bài thơ của các tác giả quen tên, xin giới thiệu phần đầu bài viết về làng mạc miền Nam của Lương Thư Trung nói về những nét đặc thù và cá tính của vùng thôn quê miền Nam, một bài viết thú vị cho chúng ta nhiều điều học hỏi. Về phần sáng tác, mời bạn thưởng thức truyện ngắn của Trần Hoài Thư, với một kết cục khá bất ngờ sẽ làm bạn mỉm cười, và xin giới thiệu thêm Chung Lê, một cây bút mới cộng tác lần đầu với truyện ngắn đầu tay đặc sắc, về một huyền thoại Rombaden của dân Ðức rất lý thú, mời bạn thưởng thức.
Chúc bạn một ngày nhiều niềm vui, an lành.
thân ái,
PCL/vhnt
Tự Tình Câm
Tặng nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Hoài bão tôi từ ca dao nức nở
Như mẹ hiền cọng lá chuối xác sơ
Học yêu thương lời ru ngủ u ờ
Cùng chia sẻ những niềm thương nỗi nhớ
Tôi lớn lên tình bạn bè thăm thiết
Tình cho người, cho thế hệ, cho tôi
Cho đắng cay, cho kẻ khóc, người cười
Nhìn tham vọng, trên ngàn thây mục rã
Tiếng ai khóc than từ chân sỏi đá
Vọng mây ngàn, con giết mẹ can qua
Tết linh thiêng sông máu chảy chan hoà
Làm sùi sục những vị tha và bác ái
Trên Ngôi Cao có bao giờ ngần ngại?
Cõi Niết Bàn nhập định , được ai chưa?
Trong hoang mang , mạng dân lẽ là thừa
Ngàn năm nữa có mấy người vĩ đại?
Trên kiến thức , lá me chưa đầy nửa
Chỉ làm bằng hạt cát nhỏ đong đưa
Ước mơ tôi bé tí xíu thảy thừa
Rất chân thật , ngu ngơ và lơ đãng
Có vì thế mà lũ tôi sơ tán
Khắp địa cầu , nơi biển cả hồn hoang
Hay cúi đầu gửi tư tưởng về ngàn
Người ở lại bỗng ngẩn ngơ một sáng
Loài tôi đấy , những đam mê đồng dạng
Lời tự tình ghi xuống một vài trang
Nên hiểu đâu văn lớn , chữ mấy đàng
Văn học nghệ thuật? chính phủ xuất bản?
Hơi hướm ấy , ngôn từ nào cuồng bạo
Từng rách rời sơ xác chốn sinh nhai
Nhiễm về đâu? hay một khối hình hài
Rồi đông lại lời cao ngôn đắc chí
Tướng không tên vì không còn chốt thí
Văn không tồn vì chẳng mấy người am
Ðôi ba câu trong một buổi mạn đàm
Làm nghi ngại bao đồng xương , biển máu
Lời mẹ dạy chim khôn tìm bến đậu
Một lần lầm nên đậu chốn viễn hương
Xin thượng đế con cúi đầu quỳ lạy
Tạ ơn trời đất nước có còn đây?
Hơn hai mươi năm nhân sử xương đầy
Giờ văn sử có người phong vũ hoán
Giải Nobel người "của" mình sẽ choáng
Lệ nửa đời người , lệ nữa hay không?
Con kính dâng cơn mưa mốc cánh hồng
Màu đỏ thẳm như màu thân xác
Hàn Trân
Thảo Trường
Có nụ Mai buồn Mai hóa đá
Cho xuân hờ hững tuổi ngày qua
Gió lạnh phất phơ đời xa xứ
Cuối trời tuyết đổ tháng ngày xa
Mỗi lần năm hết hồn chợt hỏi
Ở đó xa xăm đón giao thừa
Có ai ngồi đợi hương nén cuối
Khói quyện thinh không tiếng nguyện cầu
Ba mươi đêm nhớ, soi gương lẻ
Nghe thoáng trong lòng năm sắp qua
Mai tuyết sẽ tan đời sẽ hết
Quạnh quẽ một thân mắt lệ nhòa
Ðất khách, nhớ nhà ta cáu kỉnh
Thơ tàn văn muộn tiếng buồn mang
Khe khẽ hỏi ai lời tâm nguyện
Buồn bã tiếng cười góp hành trang
Năm thương tháng nhớ đời qua lại
Về chốn quê xưa cũng một ngày
Ði thăm mộ chiếc sầu bia đá
Giọt nước mắt buồn đất trời say
Song Vinh
Nghe hát
Vạt nắng vàng trên mái tóc xinh
Áo tươi hồng phấn, dáng thanh thanh
Em như thiếu nữ mùa xuân cũ
Gợi nhớ đào tơ, với liễu xanh
E ấp nụ cười, êm điệu nhạc
Nghiêng đầu, mi động, mắt long lanh
Duyên xưa mấy kiếp nay còn mất
Lời hát, bờ môi vẫn đượm tình.
Hữu Nguyên
MỘT NGÀY BUỒN HƠN MỌI NGÀY
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Ta đi ngang qua nhà ai vội vã
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Chốn quen xưa bây giờ thành xa lạ
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Là khi ta lỡ làm người ấy giận
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Hoa ta gởi không ai người ra nhận
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Ta đánh rơi tình cảm mới thành hình
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Thay lời đáp chỉ là sự lặng thinh
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Khi lời chào cứ nghẹn mãi trên môi
Có một ngày buồn hơn mọi ngày
Ði và về ta chỉ một mình thôi
Cát Nhu
KIẾM TÌM
Tôi nhìn ngắm cuộc đời
Cố chọn một mảng đời yêu thích
Chốc chốc lại thấy
Nhưng do dự lại thôi.
Tôi nhìn ngắm cuộc tình
Cố tìm một khoảnh khắc yên tĩnh
Thỉnh thoảng lại thấy
Nhưng ngắn quá không kịp theo.
Tôi nhìn ngắm tôi
Cố kiếm cái thực là tôi
Sao mãi chưa thấy
Dù là một tích tắc thôi.
Ðời
Tình
Tôi
Cuộc xoay vần
Thế thôi.
Trương Trọng Hoàng
02/02/97
Ðôi Bàn Tay Em Nhỏ
Ðôi bàn tay em nhỏ
Gõ nhẹ xuống đời anh
Ðau thương cùng bất hạnh
Tan biến vào hư không
Em về trong giấc mộng
Mười ngón tay thon nhỏ
Trên phiếm đàn dệt thơ
Ru cuộc tình mộng mị
Em đến anh nào hay
Như cơn gió thoảng nhẹ
Cánh hoa rơi thật khẽ
Trên môi tình ngủ say
Tóc em ngang bờ vai
Hồn thu vương khóe mắt
Mi dài mây đan chặt
Dấu kín cuộc tình si
Yêu em anh khờ dại
Nhặt cành hoa sim tím
Ðem ép kín trong tim
Sợ yêu, em khổ luỵ
Em về bên đồi ấy
Thầm trách sao chẳng ngỏ
Ðể bàn tay em nhỏ
Rét mướt trong giá băng
Chân Mây
Hai mươi năm sau...
Hai mươi năm nhìn lại cuộc tình,
hai mươi năm ấy thấy mình tay không...
03/01/1997
Ngày tháng mùa đông,
xuống phố
mua đoá sương hồng
cắm bình hoa cũ
ngậm ngùi
cho tình đã hai mươi...
Ðã hai mươi năm,
anh giam đời em
không xót thương tiếc nuối
như hai mươi năm
em vẫn soi gương
cúi mặt
soi cuộc tình xa đã khuất
và cuộc tình sau
lỡ hẹn bùi ngùi...
Ðã hai mươi năm
anh cột chặt đời em
lửa nào của thương yêu, lửa nào cho tù ngục?
nên em giờ như
chim nhốt trong lồng,
ngứa cổ hót chơi
tiếng hát rời rụng!
Em yêu dấu,
anh còn lại gì
ngoài cuộc tình không có hậu,
anh còn lại gì
ngoài những nỗi đau lâu?
Em ơi,
có khi nào em ngoảnh lại,
gót chân chai dấu đời
thả bước quay lui
tìm về nẻo cũ
đường mơ xa xưa,
giờ chắc đã nhạt nhoà theo cát bụi...
Em ơi,
có bao giờ em đi lại
tuổi học trò,
tuổi đã thương yêu,
đã chờ đã đợi
cho lược gương xưa
có lúc cũng buồn tênh nỗi hững hờ
Em ơi
có bao giờ em nhớ lại
mảnh đời nào
dang dở thương đau,
mảnh đời nào ta chửa có nhau
theo sóng nước
cũng nổi trôi thân bèo bọt
Em còn nhớ
thuở đã nguyện cầu tha thiết
thuở tin yêu
còn khan hiếm cõi trần gian
nên một thời sỏi đá cũng hoang mang
đã đánh dấu
hạnh phúc
đếm từng giây từng phút
trong những ngày quỷ sứ cướp ngai vàng
Em yêu dấu
lối mòn xưa em có đến,
thuở rất xa
và một thuở rất ngu ngơ...
ta tìm nhau,
từng chuyến đò đưa vội,
như chuyến đời chở khách qua sông
suốt dọc đường mặc gió bụi mênh mông
đêm quấn quít
mà sáng còn thương tóc rối
sợ vướng chân nhau
lúc bịn rịn vẫy tay chào...
Em yêu dấu,
còn bao lần vội vã,
chia tay nhau kẻ ở,
người đi
Chuyến xe đò khắc khoải suốt chân mây
lời hò hẹn
sợ không vuông tròn theo đời bão nổi...
Và những chuyến trở về từ miền gió bụi,
cả một trời thương nhớ ngập chìm sâu
tình dậy tình cho bão lại lên mau,
cơn bão tố
dấu phong lưu
thiên thu còn nhớ...
Hai mươi năm,
anh chẳng còn nhìn lại
đời mệt mỏi rồi nghĩa lý gì đâu
khi cửa tin yêu đã khép thuở ban đầu
thì xá gì những cỏn con trần thế
Hai mươi năm
ta cùng con xuống phố,
mua đóa hồng tưởng nhớ đến người xưa
Cắm cành hồng sương
thương tình cũ dịu dàng,
chợt gai nhọn bỗng đâm sâu
trái tim buốt đau nỗi nhớ
Lòng tự hỏi
ngàn vàng có đổi
cho ngàn sau đi lại thuở ngàn xưa?
Những hạnh phúc xa xưa nếu có
đã đủ cho đời
cười lớn một trận cười
Những giây phút lỡ cùng em hò hẹn
cũng đủ cho người
ôm tình nhớ khôn nguôi...
Cám ơn em
đã nhiều năm chịu đựng,
cám ơn em
đã giúp dựng thiên đường
(cõi thiên đường trong trí nhớ mông lung
đã xụp đổ
khi ta bỗng hai người xa lạ...)
Ðường còn lại...
xin chào giã biệt
giã biệt tình và giã biệt người
Hai mươi năm sau ta đành làm người lỗi hẹn
hai mươi năm sau ta đã hết một đời...
MNguyen
TẢN MẠN VỀ LÀNG MẠC MIỀN NAM
Vào năm Mậu Thân, theo những chuyến cứu trợ nạn nhân chiến tranh hôm TẾT, từ trên phi cơ tôi nhìn thấy dường như hầu hết những làng mạc Miền Nam ẩn mình dưới những rặng cây in đậm nét ngoằn ngoèo trên cánh đồng xanh rì. Từ Cần Thơ xuống Rạch Giá, Cà Mau. Xa xa phía dưới là cánh rừng tràm U Minh Thượng, U Minh Hạ, cánh đồng ruộng bạt ngàn của vùng Thới Lai, Cờ Ðỏ hay dòng sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Ông Ðốc của vùng Cà Mau, hoặc kinh Sán Xà No từ Cái Răng, Phong Ðiền chạy dọc về Vị Thanh, Chương Thiện đổ ra ngã ba Nước Trong chỗ giáp nươc kinh số không, kinh một của vùng gần Gò Quao, Vĩnh Thuận. Từ Cần Thơ đổ ngược lên Long Xuyên, Châu Ðốc hoặc bay qua Cao Lãnh, Kiến Tường dòng sông Cửu Long chia hai nhánh lớn rạch ròi với những phụ lưu là những con rạch nhỏ phủ đầy cây cối um tùm như rạch Ô Môn, rạch Thốt Nốt, rạch Cái Sắn, rạch Tầm Bót, rạch Long Xuyên, rạch Cần Say, rạch Chắc Cà Ðao, rạch Mặc Cần Dưng, kinh Ông Quít, rạch Năng Gù, kinh sán Cây Dương thuộc địa phận sông Hậu Giang. Còn phía bên kia là nhánh Tiền Giang với kinh rạch cũng chằng chịt với Thường Phước, Hồng Ngự, Phong Mỹ, Cái Bè, Cai Lậy cùng những con kinh Trời sanh, kinh đào xẻ dọc xẻ ngang chia bình nguyên ra làm nhiều ô, nhiều vùng không kể xiết. Chưa kể những rừng dừa bạt ngàn dưới kia của xứ sở Bến Tre, hay những cồn, cù lao giữa hai dòng sông Cái chạy dọc từ Châu Ðốc xuống tới chín cửa đổ ra biển, là một thế giới đầy mật ngọt của vùng sông rạch Miền Nam. Người nông dân miền Nam thường quen gọi hai nhánh sông Tiền giang, Hậu giang của con sông Cửu Long là sông Cái.
Sau năm 1975, có dịp tôi đi trên những con kinh, con rạch mà tôi đã được nhìn thấy từ trên phi cơ dạo trước, tôi theo mấy người bạn nông dân chở lúa gạo về Sài gòn bán qua ngã sông Tiền đến Cao Lảnh rồi chợ Phong Mỹ. Từ đây bắt đầu vào kinh Tháp Mười dẫn về Mộc Hoá đi miết ngày đêm qua các thị trấn Thủ Thừa, Bến Lức để về Sài Gòn sau khi qua khỏi cầu Bình Ðiền. Hoặc một đôi lần đi bằng xuồng vào miệt Phú Hòa, Ðịnh Mỹ, Núi Sập để mua hột vịt. Hoặc có lần đi xe đạp qua vùng Chợ Mới, Chợ Thủ, cù lao Giêng. Hoặc xuống vùng Cái Răng, Phong Ðiền trên kinh sán Xà No dẫn về Vị Thanh, Chương Thiện, xuống Long Mỹ, Hỏa Lựu, Cầu đúc Cái xình, Gò Quao, Vĩnh Thuận v. v. Và còn nhiều nữa. Với những chuyến đi ấy đã cho tôi có những nhận xét về làng mạc miền Nam thực tế hơn, chân xác hơn, cùng những phong cách riêng của miền quê như những nét đặc thù, độc đáo của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Xin nhắc một chút về sự hình thành của miền châu thổ này. Theo Thực Lục, Tiền biên, VII, tr 25b và theo giáo sư Cao Thế Dung, nguyên Phó Khoa Trưởng Ðại Học Bách Khoa Nông Nghiệp ( Viện Ðại Học Hòa Hảo ): " Kể từ năm 1701, Quốc Vương Miên là Nặc Ong Yêm bị em là Nặc Thâu phản nghịch với mưu đồ nhờ quân Xiêm (Thái Lan) đưa về cướp ngôi báu. Nặc Ong Yêm yếu thế, buộc lòng phải chạy qua Gia Ðịnh cầu cứu vơi chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn sai Vân Trường Hầu Nguyễn Phúc Vân làm chánh thống lĩnh, đốc suất quân thủy bộ đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm, đưa Nặc Ong Yêm về làm vua như cũ. Vân Trường Hầu được Miên Vương dâng đất, bèn khai khẩn ruộng đất ở xứ Vũng Cù, Bảo Ðịnh Giang tức Ðịnh Tường, kể từ đó đến lấy Long Xuyên vào năm 1757, Miền Nam coi như đã ổn định ". Và theo tài liệu Trịnh Hoài Ðức, Gia Ðịnh Thành Thông Chí: " Mạc Cửu được Chúa Nguyễn cho thống lĩnh Phương Thành, mở mang đến tận Rạch Gía Cà Mau. Năm 1701, Mạc Cửu đã ra tận Phú Xuân, dâng đất Phương Thành lên Chúa Nguyễn, được đổi thành Hà Tiên và Mạc Cửu được phong Tổng Binh, Tổng Trấn Hà Tiên, trở thành thần dân của Ðại Việt. Sắc phong Mạc Cửu, Chúa Nguyễn Phúc Chu nhân danh Hoàng Ðế Ðại Việt Lê Hy Tông ( 1675- 1705 ) ".
Tiếp tục cuộc Nam tiến, Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam khai khẩn với rất nhiều người Việt thuần túy từ Miền Trung theo Ngài và trạm dừng chân đầu tiên là Bình Dương và Tân An. Rồi vì nhu cầu để sinh tồn, Nguyễn Hửu Cảnh tiếp tục mở con đường sinh lộ từ Tân An đến Cai Lậy, Cái Bè, qua Vĩnh Long, Rạch Gía, Châu Ðốc. Di dân Việt càng ngày càng đông. Sau khi thành lập xong Long Xuyên đạo thì dân Việt từ miền Trung theo Nguyễn Hửu Cảnh trong cuộc Nam tiến này thực sự làm chủ thể vùng đất mới rộng bao la này.
Có thể nói, tất cả làng mạc miền Nam nằm ở đó, bên dòng kinh, dòng rạch, bên con đường làng, con đường liên tỉnh với nét đặc thù của nó. Nghĩa là làng mạc miền Nam phải nằm trên trục giao thông đường thủy, đường bộ. Khác với miền Trung mà tôi có dịp đi vào những làng quê ở Diên Khánh, Cam Lâm, Ninh Hòa ( Nha Trang ), ở Tuy Phong, Phan Lý Chàm ( Phan Thiết ), làng quê ở rải rác theo chân núi hay trên những thửa ruộng nhỏ với những lối mòn theo con đê nhỏ dẫn ra quốc lộ 1. Lại càng không giống với buông, xã miền cao nguyên như Ban mê Thuộc, Lâm Ðồng, Pleiku, Kontum.
Theo ước lệ, nói tới làng quê, trong văn chương người ta hay nói đến lũy tre làng, cây đa , bến đò v.v... Riêng ở miền Nam, làng quê cũng có trồng tre nhưng không có lũy tre. Vì địa giới mỗi làng rộng bao la, làm sao có đủ tre để trồng thành rào, thành lũy. Tre được bà con trồng một vài bụi để dành cho việc cần thiết của nhà nông như làm gọng cày, gọng bừa, làm cộ bò, cộ trâu hoặc đan rỗ, đan thúng, đan nia, đan rế , hoặc dùng làm rui, mè, cột, kèo để cất nhà , cất trại v.v... Nhưng bến đò thì có thật, vì miền Nam sông ngòi như mạn nhện, việc đi lại từ nơi này đến nơi khác có khi phải đi qua nhiều bến đò, bến bắc mới tới nơi được. Chẳng hạn muốn đi từ Sa Ðéc lên Tân Châu phải đi qua hai bến đò của con sông Cửu Long là đò Vàm Cống ( Long Xuyên ) và đò Châu Giang ( Châu Ðốc ). Hoặc từ Mỹ Tho muốn về Bến Tre phải đi qua bến đò Rạch Miểu. Nếu từ Cần Thơ muốn qua Trà Ôn phải đi đò dọc từ bến Ninh Kiều chạy thẳng qua Trà Ôn hoặc đi đò dọc xuống chợ Cái Côn rồi từ đây đi đò ngang qua Trà Ôn với khúc sông rộng của sông Hậu Giang với sóng to, sóng lưỡi búa thường trực, rất nguy hiểm. Riêng từ làng này đến làng bên cạnh việc qua đò ngang, đò dọc dường như là một trong những điều không thể thiếu, lúc nào cũng phải ngồi chờ đò, phải xuống đò, phải sang sông dù sông lớn hoặc sông nhỏ. Do đó, hình ảnh ông lái đò, chiếc đò nhỏ, với bến nước có khi đầy lúc nước rong hoặc cạn sát khi nước kém là hình ảnh quen thuộc, thân thương trong các làng mạc miền Nam, ở đâu cũng có, chỗ nào cũng gặp, không thể tách rời được trong đời sống thường của người nông dân, của cư dân trong làng, của khách phương xa qua lại.
Và cũng chính vì sông rạch chằng chịt , chúng ta đi vào làng mạc miền Nam, nơi nào cũng thấy cầu khỉ với những chiếc nọc tre, những khúc gáo, khúc gòn, khúc sao nối liền bờ bên này với bờ bên kia con sông, con mương, con rạch. Hình ảnh chiếc cầu khỉ với làng mạc miền Nam như hình với bóng không thể tách rời ra được, nó làm cho bức tranh quê thêm hữu sắc, hữu tình.
Có thể nói đặc tính tổng quát của làng mạc miền Nam là sự trù mật, là sung túc, là vườn cây ăn trái, là đất thổ cư, là một màu xanh của chuối, của dừa, của cau, là một màu vàng của trầu, của hoa vạn thọ trước sân, của hoa điên điển ngoài đồng, là hương thơm ngào ngạt của các loài hoa gần gũi thân thương với người dân quê, với thôn dã như hoa huệ, hoa dạ lý hương, bông trang, bông điệp, hoa cau, hoa bưởi , hoa chanh... Con đường làng như chiếc xương sống đi xuyên từ đầu làng đến cuối làng với hàng rào xương rồng, hàng rào hoa dâm bụt. Dọc hai bên đường là nhà cửa của cư dân.Nhà cửa của cư dân thường cất quay mặt về hướng dòng sông, con đường làng. Và nhà nào cũng có bến sông, có cầu bắc dài ra tới mé nước, cần thiết cho việc xách nước, tắm giặt hằng ngày. Vì là vùng đất thấp, hằng năm mực nước sông Cửu Long dâng cao nên nhà cửa vùng quê miền Nam cũng được xây cất cho phù hợp với mùa nước lên, nước lụt. Thường nhà có sàn cao, lót ván, lợp lá, vách lá. Loại lá lợp nhà được chở lên từ các vùng dưới Chương Thiện, Cà Mau, Rạch Giá, Vĩnh Long, Ðại Ngải, v.v... Nghĩa là từ những nơi đất đai mới bồi, còn hoang dã, chưa trồng được những giống cây ăn trái ở nước ngọt, cư dân ở đó trồng loại dừa nước này lấy lá lợp nhà, lấy trái ăn cũng được, vì trái dừa nước lớn bằng cổ tay, có cơm dừa đặt, màu trắng như cơm dừa xiêm, dừa lửa. Từ nhà này ngăn cách với nhà láng giềng là mảnh vườn cam, vườn mận, vườn xoài, vườn chuối, vườn dừa. Ðôi khi đất thổ cư nhiều quá, mà con cháu lại ít hoặc có vợ, có chồng đi tứ tán, nhiều cư dân bỏ hoang cho cây tạp như gáo, sắn, bứa, ngô đồng mọc đầy. Những loại cây này chỉ dùng làm củi trong việc nấu nướng. Có nhiều người tiếc đất bỏ hoang, thường trồng tre, trồng sao, trồng dầu, trồng cây bạch đàn hoặc trồng tràm vào chỗ đất trống như vậy. Những loại cây này rất chậm lớn nhưng hữu dụng, nhất là ở nhà quê có biết bao công việc cần dùng đến.
Từ xa xưa, tổ tiên đã biết dùng ngói, gạch, đá xây nhà với những cột bằng loại căm se, cà chấc, thao lao, dầu với những ngôi nhà " ba gian hai chái bắc vần " to rộng trên những nền đúc bằng đá cao ráo. Nhưng trải qua thời kỳ loạn ly, giặc giã, những ngôi nhà ngói đồ sộ này cũng cùng số phận của người dân nông thôn bị tàn phá, đổ nát, tiêu điều. Sau năm 1954 , đời sống của người nông dân dần dần ổn định lại, ruộng vườn khai mỡ lại, việc trồng tỉa, lúa thóc khá rồi, người dân ở thôn quê bắt đầu sữa sang lại, cất lại những ngôi nhà khang trang hơn bằng cây gổ chắc chắn hơn, sơn phết đẹp đẻ hơn, càng làm cho làng mạc miền Nam tươi mát hơn. Nói như thế không có nghĩa không còn những ngôi nhà nghèo ọp ẹp, lụp xụp bằng lá, bằng tre. Nhưng, dù nhà gỗ hay nhà tre đều được chủ nhân gìn giữ vén gọn như câu tục ngữ trong dân gian với nghĩa đen: Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Việc quét dọn nhà cửa, ngoài sân trước và sân sau nhà, ngoài đường đi, ngoài vườn đủ để nói lên phong cách của người nông dân, dù quê mùa, dù ít học, dù vất vả việc ruộng đồng, dù bộn bề đủ thứ nhưng vẫn chuộng sự sạch sẽ, trong sáng, đẹp đẻ, văn minh.
Thêm vào đó, có cái gì riêng tư của làng mạc miền Nam là làng nào cũng có một ngôi đình để thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh. Ngôi đình thường được xây khoảng giữa làng để dân chúng có thể đi lại cúng kiến tế lễ dễ dàng với lối kiến trúc vừa giản dị, vừa trang nghiêm, mang sắc thái riêng biệt của miền Nam. Và bên cạnh ngôi đình là trụ sở làng xã, ban tế tự, trường học.
Thông thường, mỗi làng đều có một hoặc hai ngôi chùa Phật giáo vì đa số dân Việt Nam nói chung và ở làng quê miền Nam nói riêng theo đạo Phật. Những ngôi chùa này do dân chúng , những người có lòng, có hằng sản xây cất rồi cung thĩnh một vị chân tu về trụ trì, tu tĩnh để mỗi dịp rằm nguơn bà con có nơi chốn lễ Phật. Thành ra, tiếng chuông chùa làng công phu vào buổi sớm, buổi chiều là một trong những nét đặc trưng của phong cách làng mạc miền Nam. Tiếng chuông chùa công phu với những hồi đại hồng chung, những hồi trống như một cái gì vừa thiêng liêng, vừa thân thương, gần gũi Nếu đi đâu xa nhà vài ngày, vắng tiếng trống, tiếng chuông chùa làng mình là thấy nhớ quay quắc , muốn quay về.
Tại những ngôi đình, chùa, miếu người dân trong làng thường trồng những loại cây dương, cây da, cây xộp, cây sao. Có nhiều cây được trồng lâu năm trở thành những cây cỗ thụ ba, bốn người ôm không giáp. Nếu ai đi xa, khi có dịp trở về làng cũ, nhưng chưa tới nhà, chỉ mới thấy xa xa đọt sao, đọt dương của đình, chùa làng mình là lòng rộn rã, hồi hộp, mừng rung rồi. Thế mới biết, đình , chùa , miếu cùng với cây cối cỗ thụ trong làng mạc của mình dù vô tri nhưng có điều gì thiêng liêng, thân thương, gần gũi, gắn bó biết dường nào.
Ngoài ra, từ hồi có đạo Công giáo truyền vào, những ngôi nhà thờ, thánh đường được xây dựng cho tín đồ có nơi hành lễ. Những xóm đạo với nhà thờ lớn phải kể Cù lao Giêng với nhà thờ, cô nhi viện lớn nhứt vùng cù lao sông Tiền, nhà thờ Năng Gù ở xã Bình Mỹ thuộc tỉnh An Giang.
Với đạo Cao Ðài, Thánh thất cũng được xây cất và trùng tu cho các đạo hữu có nơi cúng lễ, rãi rác trong các xã, các quận tùy theo nơi nào cư dân thuộc đạo Cao Ðài nhiều hoặc ít. Ðặc biệt, trước năm 1975, vùng Châu Ðốc, Long Xuyên, Sa Ðéc, Cần Thơ, Vĩnh Long v. v. tín đồ đạo Phật Giáo Hòa Hảo rất đông, nên làng nào, ấp nào cũng có nhà đọc kinh giảng để phổ biến kinh giảng vào những ngày rằm, ba mươi mỗi tháng. Nhà đọc giảng thường được xây bằng gạch, có lầu cao như ngọn tháp. Tóm lại, từ xa xưa cho tới trước năm 1975, ở các làng mạc miền Nam việc tế lễ, tín ngưỡng được phát triển rộng khắp. Hàng năm, Ban Tế Tự các đình đều có tổ chức cúng Kỳ Yên cầu quốc thái dân an, có múa lân, hát bội thường vào tháng ba, tháng tư âm lịch ; cúng hạ điền vào mùa xuống giống, sạ tỉa; cúng thượng điền khi mùa màng đã được cắt gặt xong xuôi như để tạ ơn Ðất Trời mưa thuận gió hòa. Chùa chiền, các ngày rằm lớn, đặc biệt ngày rằm tháng Bảy thường hay làm chay, cúng lớn, phát chẩn, thí vàng. Những dịp này để dân chúng hội họp, cúng lễ. Những dịp Kỳ Yên, hát bội, làm chay cũng là dịp trai gái trong xóm, trong làng có cơ hội gặp gỡ, vui chơi, làm quen, hẹn hò và từ đó những mối tình mộc mạc,quê mùa, chân thật nhưng không kém phần lãng mạn, thơ mộng, dễ thương nảy nở, đăm chồi chẳng khác nào câu thơ của Nguyễn Bính trong bài Chân Quê: " Hoa chanh nở giữa vườn chanh ".
còn tiếp kỳ 2
Lương Thư Trung
Người khách lạ
Bây giờ chỉ còn lại một mình tôi cùng phòng Lab. Ðêm đã khuya, và tôi bắt đầu cảm thấy mệt lầ Những con bug đã hành hạ tôi không ít suốt cả ngày hôm nay. Kết quả vẫn không như ý muốn. Mắt tôi đã mở căng lên từng dòng, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phết. Trí não tôi phải nóng bừng khi nghĩ đến một chiếc xe vô hình đang chạy trên một chặng đường đầy những đèn xanh, đèn đỏ, cùng những câu hỏi. Ði lối nào. Về đâu. Ðâu là trạm dừng. Ðâu là trạm đến. Cái flowchart tưởng tượng của tôi vẫn chưa đạt được điều mong đợi. Mà ngày thứ hai, 10 giờ sáng là hạn chót tôi phải nạp project cho ông giáo sư. Món nợ vô hình chẳng khác một lưỡi hái. Chẳng bù, ông ta được sinh viên đặt cho cái biệt danh "Chuyên viên treo cổ" như tấm hình ai đã cắt từ báo dán trên vách tường.
Tôi bỗng nhiên nhớ đến abc. Có nên lên máy để cầu cứu cùng nàng hay không. Có nên thú thật với nàng là tôi đang ở trong một tình trạng tuyệt vọng. Còn hai ngày nữa, nếu cái project không nạp kịp, thì sau đó, hậu quả chắc phải ghê gớm. Một điểm F sẽ được ghi trên học bạ, và chắc chắn, không ai lại chịu mướn một tên sinh viên đến từ nước ngoài như tôi. Nhưng tôi không thể để abc biết rõ hoàn cảnh của tôi, một sinh viên, trong lúc tôi cố dấu với nàng về lai lịch, gốc gác, tuổi tác của tôi. Tôi không thể hạ tôi xuống. Từ lâu, abc vẫn xem tôi là người đồng nghiệp với nàng mà. Bao nhiêu điện thư, bao nhiêu lần nói chuyện trên Net, tôi đã cố đánh lừa nàng để giữ ưu thế. Từ học vấn. Từ kiến thức. Ðến văn chương, kinh nghiệm cuộc đời. Và abc đã hoàn toàn tin tưởng tôi.
Tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi lên trên Net. Nhà trường đã cho sinh viên được quyền xử dụng internet miễn phí để thực tập, và tôi đã dùng thì giờ nhàn rổi của mình để dạo chơi cùng cõi siêu không gian. Tôi lững thững vào thăm từng mái nhà mở của. Tôi đọc những bài thơ, bài văn tâm tình của bốn phương. Tôi lại được cơ hội đọc cọp những tạp chí văn học nghệ thuật, dù chỉ một đôi bài cốt để nhử độc giầ Ít ra, trò chơi này cũng làm tôi đỡ cô đơn hơn sau những giờ mệt lả cùng những project tối tăm mặt mày. Chiếc bóng tôi hiện lên trên vách tường chênh vênh, và âm thanh sôi rè rè của những giàn máy computer như một cung điệu buồn buồn làm tăng thêm nỗi hiu quạnh của một đêm học muộn. Sự thật tôi cô đơn hơn ai cô đơn. Năm nay tôi 43 tuổi, qua đây một mình, vợ bỏ theo cán bộ, tù tội trên 5 năm, ngày đi làm, tối làm nghề clean tức janitory. Cuối tuần, chui vào trường, gắng quên đi những hạt lệ để thay vào chữ Anh, chữ Mỹ và con bug hay những danh từ lạ hoắc. Tôi đến trường để may ra sách vở còn làm tôi vơi đi phần nào nỗi buồn và ít ra, tôi có thể trả thù được một người đàn bà mà tôi từng xem là vợ. Rồi cô sẽ ân hận, sẽ mở mắt thao láo, sẽ giật mình kinh hãi. Rồi cô sẽ chặc lưỡi hít hà để tiếc nuối tại sao lại đổi lòng đổi dạ sớm như vậy. Cô làm tôi phải sợ đàn bà. Vâng, chỉ vì tôi là một tên tù binh. Tôi không còn mang lon sĩ quan để cô có quyền hãnh diện. Tôi sẽ ngoi đầu lên khỏi cái hồ tăm tối, cái ao của mạt vận. Tôi sẽ học. Học đêm học ngày. Sẽ trở thành cữ nhân, cao học, tiến sĩ, sẽ kỹ sư. Rồi có ngày tôi sẽ trở về, tìm cô vợ trẻ hơn, đẹp hơn, làm cái đám cưới linh đình hơn, hay nếu tốt số, sẽ trở thành một chuyên viên của một công ty ngoại quốc ở Việt Nam... Có điều, tôi chỉ biết ôm lấy giấc mơ trong câm nín. Tôi dấu mọi người, như dấu abc, người nữ mà tôi quen trong cõi Net. Tôi nhớ hôm ấy, tôi gởi lên một tạp chí trên Net một bài thơ. Bài Hoen Lệ Xanh. Bài thơ như sau:
Khi một người bỏ đi thật xa
Tôi trở lại cùng cõi lòng phế cảng
Ngày xưa tôi qua dòng sông Thạch Hãn
Giờ mới hiểu rằng đá cũng còn đau
Những giọt buồn đong đặc từ lâu
Tôi đã nếm, tê thêm mùi cay đắng
Ðể dài thêm những ngày xa vắng
Ðể chạnh thêm những buổi chiều mưa
Con sáo bay rồi, lồng tía bơ vơ
Hàng dẻ hàng sồi hai hàng tân khổ
Những con đường mùa đông ủ rũ
Những xạc xào lưu luyến buổi từ ly
Thì người bỏ đi, tôi cũng bỏ đi
Con tàu hôm qua đã về thành phố
Có trạm dừng nào, ngôi nhà mái đỏ
Một ánh đèn, một ánh mắt tình thân
Những ríu ra ríu rít lăng xăng
Ðể tôi biết mình, một người hạnh phúc...
Sau đó tôi nhận một điện thư của một người nữ. Nàng nói nàng rất thích bài thơ của tôị Lá thư như thế này:
Thưa ông,
Tôi viết thư này để tỏ lòng mến mộ của tôi về bài Hoen Lệ Xanh của ông. Bài thơ đã nói về sự ngăn cách, chia ly, về nỗi buồn của một người ở lại đối với một người bỏ đi... Thật tội nghiệp cho những phận đời sống để mà xa nhau, ông nhỉ? Buồn thật là buồn ông ơi. Tôi nghĩ là tôi cần phải chia xẻ cùng ông nỗi buồn này. Xin chúc ông tiếp tục có những sáng tác khác để tôi còn được đọc thơ ông.
Ðó là lá thư đầu tiên và cũng là nhịp cầu đầu tiên để tôi được làm quen với abc. abc là ai, nàng không bao giờ cho tôi biết rõ về con người thật của nàng. Riêng tôi cũng chẳng cần thắc mắc về cái tên vu vơ đó. Với tôi, cái tình, cái cảm thông mới là quan trọng. Một tấm lòng, dù võn vẹn qua vài dòng chữ, nhưng ít ra là những ngọn lửa hồng quá sức tuyệt vời, sưởi ấm lại con tim hiu hắt của một người bị mất mát, thua lỗ. Kể từ ngày đó, tôi và abc tiếp tục trao đổi điện thự Những bài thơ mới, tôi dành cho nàng bằng tất cả sự ân cần, trịnh trọng. Những lá thư từ một nơi nào đó bỗng một ngày nằm trong ngăn kéo là abc, mà tôi lưu giữ lại trong máy, để mỗi ngày tôi phải mở ra, đọc lại đến thuộc lòng. Những lá thư san sẻ nỗi vui nỗi buồn, trời mưa trời nắng... Có những lá thư làm lòng tôi ấm lại. Cũng có những lá thư làm tôi phải buồn như muốn khóc. Nàng kể về party, dạ hội, màu áo chọn, những người lăng xăng bên nàng. Tôi đã tự nhủ là đây chỉ là một trò chơi. Một trò chơi trong cõi siêu không gian. Và trò chơi một ngày nào cũng phải chấm dứt. Nhưng cớ sao tôi lại phải tủi thân khi nhớ đến vị trí của mình. Một người đàn ông 45 tuổi, một tay sinh viên già, một janitor, một con ngựa mất bầy, một tay chồng có vợ bỏ... Trò chơi này đến bao giờ mới chấm dứt đây. Có lẽ tôi phải rút lui. Tôi sợ tôi sẽ bị buộc thêm một hệ lụy mới. Kinh nghiệm bản thân đã cho tôi một bài học cay đắng. Mơ và thực là hai thái cực. Thục Hiền, cô vợ của tôi, đã không phân biệt được tình trạng mơ và thực, để cuối cùng, chạm phải một thực tế quá tàn bạo. Rõ ràng, trò chơi quá nguy hiểm. Với abc, tôi là một tên đàn ông yêu thi văn, trí thức, chuyên gia, thích du lịch, khiêu vũ... Nói tóm lại là một người đàn ông lý tưởng cho những người phụ n
Tôi sợ. Chao ơi tôi sợ. Sợ như abc biết được con người thật của tôi. Và cũng sợ như tôi biết rõ con người thật của abc.
Chẳng thà không biết thì thôi. Biết rồi hai đứa hai nơi cũng buồn. Và tôi đã không còn lên máy cả tuần lể. Suốt cả một tuần, tôi buồn ghê gớm. Tôi nhớ tiếng tích khi có một email mới phát ra, và niềm vui rộn ràng như dấy lên khi đọc những lời hỏi thăm, tâm sự. Tôi nhớ đến bài thơ nho nhỏ của nàng, dù không được tới lắm, nhưng cũng mang tràn đầy con tim. Tôi nhớ, trên màn ảnh màu xanh những hàng chữ làm khỏa lấp nỗi cô đơn của tôi. Vâng, tôi quay cuồng cùng nỗi nhớ, vô hình, vô dạng. Nhớ một người mà tôi vẫn chưa biết rõ tên thật, gốc gác, lai lịch. May mà nhờ những bài học, bài quiz, và công việc túi bụi, khiến tôi dần dần quên đi abc.
oOo
Nhưng bây giờ tôi lại nghĩ đến abc như một người cứu rỗi. Ðến một người khách lạ ở trần gian, nhưng là một người quen thân ở cõi siêu không gian vô tận này. Chỉ có mỗi abc mới có thể giúp tôi tìm ra lời giãi cho cái project nghiệt ngã, hung bạo của ông thầy "treo cổ" này. Tôi biết abc là một chuyên viên về data base, tức là database administrator, liên quan đến data base của project tôi đang làm. Nàng đã từng cho tôi biết như vậy. Bởi vậy, tôi lại thêm một lần lên máy, và dấu nàng, để gởi những dòng như sau: "abc thân mến, Cả tuần nay được hãng cử anh đi công tác xa. Cả một tuần nay không lên được trên Net, làm sao abc biết được nỗi buồn của anh là to lớn đến dường nào. Trở về, anh thấy cả chồng thư của abc và anh đã đọc từng lá một. Cám ơn abc đã dành cho anh những lời thăm hỏi. Anh ao ước một ngày được gặp abc, để mời abc lên trên nhà hàng cao nhất của thành phố, cùng nhìn xuống Nữu Ước về đêm, và dòng Hudson như một dãi kim cương... Sau đó, chúng ta sẽ tìm một hầm cà phê ở khu French Square... Anh có một chuyện nhờ abc đây. Anh có thằng cháu đang học ngành điện toán. Nó kêu cứu anh giúp nó về một project về database. Nhưng anh chỉ chuyên về hardware. Tội nghiệp cho nó. Chỉ còn hai ngày nữa là phải nạp. Vậy anh nhờ abc làm một tay nghĩa hiệp một lần nhé abc. Anh xin gởi attached file về, để abc giúp thằng cháu đáng thương của anh."
oOo
Chiều ngày hôm sau, tôi lại tiếp tục công việc tại hãng Y. Như đã kể, ban ngày tôi là một sinh viên học toàn phần, và mỗi tối tôi làm nghề vệ sinh phòng ốc. Job cũng nhàn hạ. Dù tôi phải phụ trách cả hai tầng lầu trong một building 7 tầng. Tôi chỉ việc một tay cầm bình xịt, một tay cầm giẻ, hết lau bàn, ghế, ông điện thoại, tủ, ngăn kéo, kính cửa sổ, sau hết là vào các nhà vệ sinh đổ giấy, chùi nền, lau bể nước, mặt kính, và cuối cùng là vacumn thảm. Tôi đã trải qua hơn một năm với cái nghề này, nên mọi thứ đều trở nên quen thuộc. Tôi có thể biết những xảo thuật để qua mặt tay cai, chỗ nào hắn hay để ý. Ngoài ra tôi cũng còn biết từng thói quen của những nhân viên làm việc ở đây. Tay nào cẩn thận, tay nào bê bối, tay nào khó, tay nào dễ. Trong số những nhân viên, có nhân viên đến từ các nước khác như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Việt Nam, Ðại Hàn... Tôi biết được là nhờ tên của họ. Chẳng hạn người Việt Nam này có tên là Hoa Nguyen. Tôi chưa bao giờ gặp người này, nên chưa bao giờ biết rõ anh ta trẻ hay già, tính tình thế nào. Hơn nữa, tôi sợ gặp người đồng hương ở đây. Mặc cảm của người sa cơ hay cái kiêu hãnh một thời ngang tàng trên các chiến trường đã làm tôi s Tôi không biết nữa.
Giờ đây, tôi lại đẩy xe đến phòng người Việt Nam này. Việc làm đầu tiên là lấy thùng rác đầy giấy tờ đổ vào cái thùng rác lớn. Như thói quen, tôi hay liếc nhìn giấy tờ vất bỏ. Bất ngờ, tôi nhận ra nguyên cả project mà tôi đã gởi cho abc hôm qua.
Trần Hoài Thư
Ngày lễ Rombaden
Sean buông bút xuống, tiếng hát loáng thoáng đâu đâu như lúc có lúc không, tò mò chàng bước ra ngoài, tiếng hát hình như phát xuất từ hầm trú ẩn nhà đối điện, cả phần trên nhà sụp xuống, chỉ còn chơ vơ nửa bức tường nám đen. Bước dọc theo con đường đầy gạch đá ngổn ngang, tiếng hát càng lúc càng rõ hơn, tựa lưng vào gốc cây, Sean lắng nghe giọng nữ kim vang theo chiều gió như lời oán than buồn buồn:
Du, Du liegst mir im Herzen,
Du, Du liegst mir im Sinn;
Du, Du machst mir viel Schmerzen,
Weisst nicht, wie gut ich dir bin.
Trong tim ta vẫn có người,
Trong hồn ta vẫn có người,
Người để cho ta chua chát
Ta vẫn nhớ người, người ơi.
Mười một giờ. Buổi họp hàng ngaỳ với Ulrich Falkenstein và Hội Ðồng địa phương bắt đầụ Phòng họp là phòng ăn trước đây của một toà lâu đài còn sót lại sau những trận không kích của quân Ðồng Minh, tài sản của giòng họ lâu đời Von Romstein, một bàn gỗ dài làm bằng cây sồi, hai hàng ghế da thuộc, chạy song song theo tường, và một bức tranh khổ lớn treo trên tường đối diện cửa ra vào, hàng chữ hoa: Huyền Thoại Rombaden. Tất cả hai mươi người Ðức ngồi xung quanh bàn, một đầu là Ulrich, và phía đối diện là ghế dành cho Thiếu Tá Sean ÓSullivan: Chủ Tịch Uỷ Ban Quân Quản thành phố Rombaden. Sean bước vào phòng khi hồi chuông nhà thờ Marienkirche điểm mươì một tiếng, tất cả nhân viên người Ðức đứng dậy. Ra hiệu cho mọi người an toạ, Sean lên tiếng:
- Tôi cho phép các sĩ quan trực thuộc miễn họp hôm nay vì công vụ, ai có công việc khẩn cấp cần đệ trình lên không? Tôi nhắc lại: công việc khẩn cấp??
Một sự im lặng bao trùm mọi người. Tiếng sột soạt lật hồ sơ một cánh nôn nóng. Tin đồn truyền đi nhanh hơn mọi người đự tưởng. Sean sẽ ra đi trong một ngày rất gần. Mặc dù nghiêm khắc, nhưng Sean công bằng và khéo tổ chức, dưới sự điều khiển của Thiếu Tá Sean O'Sullivan, thành phố dần dần hồi phục lại phần nào sinh hoạt bình thường sau những tan nát vì chiến tranh, những tin tức bay về từ những thành phố lân cận trong vùng Bavaria, Schwaben và Wurttemberg cho thấy hỗn loạn khủng khiếp, nạn đói có nguy cơ xẩy ra, thêm vào đó là mùa đông sắp đến, thiếu thốn tất cả tiện nghi tối thiểu, chắc chắn số người tử vong sẽ gia tăng. Lạy Chúa, nếu ngươì Pháp thay thế Sean thì sao???
Từng ngươì một lắc đầu, sau cùng Ulrich lên tiếng:
- Thưa Thiếu Tá, ngày mốt là 26 tháng sáu. Chúng tôi xin phép được tổ chức ngày lễ Huyền Thoại Rombaden, đây là một ngày lễ truyền thống đã có hơn 150 năm. Dân chúng sẽ tụ tập tại trung tâm thành phố, diễn kịch, đọc lại trường thi Rombaden, xin Thiếu Tá cho phép?
Sean cảm thấy tình hình diễn tiến thuận lợi. Lực lượng Ðồng Minh trong vùng đủ sức kiểm soát tình hình, thêm vào đó là sự kính phục của người Ðức đối với Ðại Uý Blessings, người cầm đầu lực lượng cảnh sát, thành phần cộng tác với chế độ Hitler và cảm tình viên đã bị nhận diện, cô lập, ngoài ra tổ chức kịch nghệ còn có tác dụng nâng cao tinh thần dân chúng, vốn đã tê liệt sau khi thua trận, đang phải chịu đựng sự khắc khổ thời hậu chiến... nhưng... phải rồi... Huyền Thoại Rombaden từng được chế độ Nazis cho diễn trình trước công chúng???... có thể nào lại có sự khác biệt trong ý nghĩa ngày lễ Rombaden chăng??? Sean trả lời nhanh chóng:
- Tôi cần đọc lại Huyền Thoại Rombaden tối nay, và sẽ công bố quyết định ngày maị\ Nếu không ai có công việc cần đệ trình, tôi tuyên bố giải tán.
Trở lại văn phòng, thu xếp các công văn cần thiết, Sean nhìn quanh, mọi việc tiến hành ổn thoả cho việc bàn giao với Thiếu Tá Duqueste. Sean lái xe về nhà và vào thẳng phòng đọc sách với tập thơ của Hinterseer trên tay, tối nay chàng sẽ cố gắng tìm hiểu ý nghĩa và tác dụng của trường thi cổ xưa trên tâm hồn người Ðức, có sự khác biệt nào giữa tình tự dân tộc người Ðức và chủ nghĩa Quốc Xả... Ðối với Sean, thi ca Ðức là một trong những kiệt tác của nhân loại, Sean đã bỏ hàng giờ nghiền ngẫm về Goethes, Kants... từ lúc bước chân vào Ðại Học, Huyền Thoại Rombaden đã lôi cuốn Sean qua sự hùng tráng và bi thảm, thế nhưng chàng vẫn cảm thấy có sự vô lý khó giải thích trong từng giòng thơ Hinterseer!!!! Wolfram, vua các vị thần, cai quản vương quốc nằm sâu trong khu rừng đen (Black Forest).\ Mặc dù có thân hình tuyệt mỹ, Wolfrang lại sở hưũ nhiều năng lực kỳ lạ của loài dã thú: sự tàn bạo của gấu; sức mạnh của loài beo; nhanh nhẹn và mưu trí của loài chồn; và sự tinh khiết của thiên ngạ Wolfram ra lệnh Berwin, người con duy nhất, tìm chủng tộc thuần nhất và đưa họ về Khu Rừng Ðen, Berwin nhận lãnh sứ mạng ra đi, lang thang khắp nơi cho tới khi chàng đặt chân đến Rombaden và nhận biết rằng đây chính là chủng tộc Nhật Nhĩ Mãn (Aryans), chủng tộc thuần khiết nhất mà Berwin có sứ mệnh đem về khu rừng đen. Tại Rombaden, Berwin gặp gỡ Helga, Nữ Thần Sáng Tạo và hai người yêu nhau, thế nhưng trước khi Berwin đưa Helga và dân Aryans về Khu Rừng Ðen, một biến cố xẩy ra, Ernard: Thần Núi Tuyết, cai quản vương quốc trong rặng núi Alps, bắt cóc Helga và đưa nàng về vương quốc Alps. Berwin nhận thấy ngay giòng Aryans sẽ bị pha trộn nếu Helga thất thân với Ernard. Berwin hô hào dân làng Rombaden lên đường giải thoát Helga, cho biết ai hy sinh trên chiến trường, sẽ đạt được đời sống vĩnh cữu tại vương quốc của Wolfram. Trong trận đánh cuối cùng, Berwin được cha truyền cho tất cả sức mạnh kỳ lạc ủa mình, đã giết chết Ernard, nhưng Berwin cũng gục ngã và Helga, trong cơn tuyệt vọng, dùng dao tự kết liễu đời mình, xác 2 người được về Khu Rừng Ðen. Qua tình yêu và sự dũng cảm của Berwin và Helga, dân làng Rombaden được Wolfram chọn là chủng tộc thuần khiết nhất trên trái đất.
Sean gấp sách lại, thở dài. Ðã hơn mười năm trôi qua từ lúc rời mái trường UT Austin, Sean cố gắng tìm kiếm lời giải đáp cho vấn nạn phi lý của cuộc chiến tranh diệt chủng... và bây gi kỳ lạ thay... vào lúc gần rời khỏi nước Ðức, một vài tia sáng thình lình hiện ra trong trí chàng. Có thể nào Huyền Thoại Rombaden lại chính là câu truyện về người Ðức? Sean lật từng trang giấy, hồi tưởng lại những buổi thảo luận dài lê thê trong thư viện, những bài giảng về nguồn gốc, tình tự, tôn giáo của Ðức Quốc, tất cả đều đẫn đến sự mù mờ về người Ðức, tại sao cả một dân tộc lại thuần phục đi theo con đường huỷ diệt toàn diện của Hitler, làm sao họ có thể thiết lập lên những lò thiêu xác, phòng hơi ngạt, những cơ xưởng kỹ nghệ xử dụng vật liệu là thân xác con người. Một cơn điên của dân tộc.
Thế nhưng ở đây, trên ngay chính nước Ðức với những đổ vỡ hoang tàn, trong những vần thơ Hinterseer, người Ðức hé lộ cho thấy về chính con người của họ, Ðây là huyền thoại về một siêu chủng tộc, về sứ mệnh thiêng liêng tẩy sạch thế giới, về những khát vọng đối với cái chết, và phần thưởng tối thượng cho cái chết trên chiến trường. Người Ðức tự nhận là chủng tộc được Thương Ðế lựa ' chọn, nhưng Thượng Ðế nào? Không phải là Thượng Ðế của Jesus Christ. Thượng Ðế của họ là Thượng Ðế của người ngoại giáọ Wolfram là Thần Linh sống trong rừng thẳm mang nhiều tính chất dã thú hơn con ngườị\ Sean tự hỏi phải chăng người Ðức tự đồng hoá họ với Thần Linh hơn là quan niệm một Thượng Ðế duy nhất như các dân tộc khác. Trong tập luận án ra trường, Sean đã viết:
không dân tộc nào trong thế giới phương Tây lại sống gần với thần thoại hơn là dân tộc Ðức. Siegfried và những thần linh khác, đã bám rễ thật sâu trong tâm hồn người dân Ðức. Người Ðức tự đồng hoá chính họ với rừng thẳm, thiên nhiên, và dã thú. Trong những buổi tế lễ, dân Ðức có thói quen cắt cổ con vật, và dùng 1 cây gậy thấm máu con vật và chạm vào trán của mỗi người. Mục đích của buổi lễ là chuyển giao sức mạnh và can đảm của con vật tế thần qua người thợ săn và sau đó, người dân. Ngay chính Siegfried sau khi giết chết con rồng, đã tắm trong chính máu tươi của rồng để hoà nhập làm một với rồng.
Dân tộc Do Thái tặng cho nhân loại quan niệm một Ðấng Tạo Hoá và mười điều răn qua trung gian của Moises. Dân tộc Ðức ngay từ trong vô thức chối bỏ quan niệm một Thượng Ðế và mười điều răn, dù người Ðức là tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành nhất. Người Ðức vì thế luôn luôn sống trong 2 môi trường xung khắc nhau. Bề ngoài, họ là công dân của một xã hội văn minh, nhưng từ trong tiềm thức, họ sở hưũ sự tàn bạo của loài dã thú và niềm ao ước khôn nguôi được trở về với sự hùng tráng và bao la của rừng thẳm. Ðể đạt mục đích này, Ðức cần phải tiêu diệt Do Thái và qua đó, đạp đổ quan niệm một đấng Tạo Hoá duy nhất để trở về với những đấng Thần Linh trong rừng thẳm, trong Thiên Nhiên.
Sean mơ hồ nhận thấy lời giải đáp về sự tự huỷ diệt của dân tộc Ðức đã đến từ lâu, lúc chàng theo cánh quân Ðồng Minh vượt sông Rheine đánh vào nội địa nước Ðức. Trại tập trung Dachau, Schwabenwald, sự tàn bạo không còn lương tâm của lính SS, và thái độ tự tôn của người Ðức. Sean thầm nghĩ ngươì dân Ðức tôn sùng các Thần Linh Siegfrieds, Berwins, Helgas... hơn là Jesus Christ. Dân Ðức thật sự là 2 ước vọng khác hẳn nhau cùng chiếm ngự trong cùng 1 tâm hồn. Một mặt, họ đã cống hiến cho nhân loại những tài danh lỗi lạc như Beethoveen, Bach, Kants, Schiller, Schubert, Freud, Mozart và Goethe, nhưng mặt kia! sự thù hận bàng bạc trong Nietzsche, Schopenhauer, Fichte, Hegel, tiếng nhạc của Wagner ca tụng sự huy hoàng của Tử Thần, Tổ Quốc, và siêu chủng tộc, và hãy nhìn xem đân chúng Ðức tôn sùng Richard Wagner đến như thế nàố Adolf Hitler thấu hiểu điều này, và khai thác triệt để ước vọng thầm kín của người dân Ðức trong việc tự huỷ diệt chính mình. Adolf Hitler chỉ cụ thể hoá tư tưởng Nietzsche khi Nietzche nói về sự hiện hưũ của Siêu Nhân, như tia chớp sáng loè rực rỡ trong đêm tối, Fichte với sự khinh miệt dân La Tinh, Pháp và Do Thái là giống dân hạ đẳng, Schopenhauer với ước vọng chân thật nhất của con người là xoá bỏ tất cả.
Và như thế, Sean cảm thấy mọi việc dần dần sáng tỏ, huyền sử Rombaden đã cho Sean một giải đáp thích ứng về thái độ chối bỏ Thượng Ðế, chống Chúa, bài Do Thái như là ước vọng thầm kín nhất của dân Ðức để trở về với các đấng Thần Linh của họ Và câu trả lời của nghị viên Ludwig Von Romstein cùng các cư dân khác khi bị thẩm vấn về trại diệt chủng Schwabenwald: Chúng tôi vô tội, đó là tội ác của Hitler. Một sự dối trá trắng trợn, nguồn gốc của chủ nghĩa Quốc Xã đã tiềm tàng trong tâm hồn ngươì dân Ðức hàng chục thế kỷ, kèm theo là tinh thần dị giáo, siêu chủng tộc, ca ngợi cái chết, rừng thẳm, tất cả nhập chung làm một trong dân tộc Ðức, Hitler chỉ là mồi lửa làm bùng vỡ ước mơ của họ, mỗi người dân Ðức thực ra phải chịu trách nhiệm về sự tàn phá ghê gớm của cuộc chiến tranh này, và chỉ khi nào nhìn thấy khiá cạnh bi thảm đó, dân tộc Ðức mới có thể tránh khỏi sự thôi thúc tự huỷ diệt của chính hố
oOo
Sean lái xe đến văn phòng ngang qua những toà nhà đổ nát, đường phố còn ngập đầy những tàn tích chiến tranh, từng đoàn tù binh chiến tranh lầm lũi đọn đẹp dưới sự canh chừng của cảnh vệ Ba Lan, từ trong xe văng vẳng tiếng nhạc nhẹ của đài AFN, dừng xe bên cạnh bồn nước công cộng nay đã bị bom phá huỷ, Sean bước vào phòng họp đúng 11 giờ. Hội Ðồng địa phương ngồi thành 2 hàng bên cạnh bàn, phân nửa là tù nhân chính trị Ðức sống sót qua cái trại tập trung, số còn lại bằng cách này hay cách khác đã che giấu tung tích qua các đợt thanh lọc của chế độ Hitler, điểm nổi bật nhất là 5 phụ nữ cùng dự họp, biến chuyển đáng kể trong sinh hoạt chính trị nước Ðức thời hậu chiến, Ulrich lặng lẽ quan sát Sean, cố tìm hiểu những suy tư của người sĩ quan trẻ tuổi người Mỹ, thói quen ông học được qua bao nhiêu năm tháng tù đầy trong trại tập trung Quốc Xã, ánh mắt Sean linh hoạt hơn mọi khi, chân mày nhíu lại khi Sean nhìn từng người, Ulrich thầm nghĩ Sean có điều gì sắp sửa tiết lộ\ Sean lên tiếng:
- "Frau Meissner, sống ở Rombaden từ lâu, bà nghĩ sao về ngày lễ Rombaden?"
- "Thưa Thiếu Tá, đó là ngày lễ quan trọng nhất trong năm, dân chúng nhớ nằm lòng từng lời thơ Hinterseer."
- "Bà lớn lên trong huyền thoại Rombaden?"
- "Dạ đúng, thưa Thiếu Tá, sự tuyển chọn các diễn viên rất gắt gao, các trẻ em học về kịch thơ Hinterseer từ lớp mẫu giáo, thảo luận về truyền thống Rombaden rất thịnh hành trong công chúng."
Từng người một công khai phát biểu về cảm tình dành cho kịch thơ Hinterseer, niềm hãnh diện vào truyền thống Rombaden. Giáo sư Hans Moltke, cưụ giáo sư về văn chương Ðức trước khi Hitler nắm chính quyền, làm thư ký ngân hàng để che giấu tung tích dưới thời Quốc Xã, lên tiếng:
- "Bài trường thi là 1 trong những áng văn chương tuyệt tác của thế giới, đứng về phương diên thuần tuý văn học, ngoài ra bài này có ý nghĩa đặc biệt đối với dân địa phương: Hinterseer là người con phi thường của Rombaden, Hinterseer đồng nghĩa với bất t Hơn thế nữa, việc diễn lại kịch thơ trùng với khởi đầu của mùa hè, dân chúng sửa soạn để đi du lịch hay du ngoạn trong rừng. Thưa Thiếu Tá, chúng tôi, ngươì Ðức, có một tình yêu vô biên với rừng rậm, thiên nhiên."
- "Tôi biết, Herr Hoffman, ông là người đến từ thành phố khác, ông nghĩ sao về ý nghĩa ngày lễ Rombaden?"
- "Rất quan trọng, thưa Thiếu Tá, tất cả mọi trẻ em Ðức đều biết rõ ý nghĩa lễ Rombaden, kịch thơ Hinterseer đứng ngang hàng với tác phẩm của Schiller, Goethe, và.... Heine." Mặc dù là một tù nhân trại tập trung Quốc Xã, Hoffman lúng túng khi nhắc tên Heine,... tên Do Thái.
- "Herr Mass, tại sao chế độ Quốc Xã lại cho phép kịch thơ Hinterseer được đọc trong ngày lễ Rombaden?"
- "Thưa Thiếu Tá, tại sao lại không, đây không phải là bài thơ chính trị, hơn nữa, bài thơ đầy tình tự dân tộc của người Ðức."
Ulrich lắng nghe trong sự thích thú khi từng người một, khi phát biểu ý kiến về lễ Rombaden, không ai biết chút gì về ý nghĩ của Sean đối với Hinterseer, Sean nhìn vào tập thơ Hinterseer đầy dấu ghi chú xanh đỏ:
- "Frau Meissner, xin vui lòng cho biết ý kiến về Hinterseer qua lơì thơ sau đâỵ..'hỡi công dân Rombaden, chủng tộc Nhật Nhĩ Mãn, chúng ta có nên cho phép giòng giống Ernard làm ô uế chúng ta hay không?' "
Meissner ngập ngừng:
- "Dạ, tôi... không... biết..."
Sean nghiêm khắc nhìn thẳng vào Meissner:
- "Frau Meissner, bà có bao giờ tự nghĩ mình là giòng giống Nhật Nhĩ Mãn hay không?"
-"Dạ, tôi... không... hiểu..."
Sean lật thêm vài trang:
- "Ai có thể cắt nghĩa đoạn thơ sau đây: 'công dân Rombaden, bạn là người con Ðịnh Mệnh của Wolfram, Vua của Thần Linh?' "
Giáo sư Mass bắt đầu hiểu, ông ta khoác tay:
- "Ðoạn thơ chỉ muốn nói Rombaden là 1 thành phố đẹp, mỗi thành phố trên thế giới đều có huyền thoại đi kèm, ngay cả những thành phố ở Hoa Kỳ cũng vậy."
- "Tốt lắm, Herr Mass, ông nghĩ thế nào về Hinterseer với đoạn thơ:' Ta hứa hẹn sự chết, dâng hiến toàn vẹn, cái chết cho Tổ Quốc, cái chết cho cuộc sống đời đời...' "
Giáo sư Mass giật mình. Sean tiếp tục:
- "Ta tắm trong máu sư tử, ta phanh thây sư tử. Ta trở thành siêu nhân....Hãy tha thứ cho ta, vì ta có nhiệm vụ, thanh lọc giòng giống hạ đẳng, làm ô uế giòng giống ta."
Hội Ðồng rúng động, mọi người sững sờ nhìn nhau, giáo sư Moltke cầm lấy tập thơ Hinterseer như để che giấu xúc động:
- "Thưa Thiếu Tá, ai cũng có thể tìm thấy ý nghĩa tương tự trong thần thoại Hy Lạp."
- "Thần thoại Hy Lạp đầy rẫy sự chế riễu và nhạo báng cho sự sa đoạ của thần linh"
- "Dạ, thần thoại Na Uy và Ðan Mạch cũng cùng ý nghĩa với thần thoại Ðức "
- "Người Na Uy hay Ðan Mạch không xem trọng ý nghĩa của thần thoại, các ông, người Ðức, thật sự mang thần thoại vào đời sống hàng ngày."
- "Thưa Thiếu Tá ÓSullivan, Thiếu Tá có thể cho bất cứ thần thoại ý nghĩa nào cũng được, tuỳ theo ý Thiếu Tá"
- "Tốt lắm, ông đã đi đến trọng tâm của vấn đề, bọn Quốc Xã tìm cho huyền thoại 1 ý nghĩa, bài trường thi này cốt tủy là chủ nghĩa dân tộc cực đoan, Hitler tìm thấy ý nghĩa này và dân Ðức thích thú... đây chính là những gì mà chúng ta, dân tộc Ðức cần phải thực hiện..."
- "Thế nhưng..." Hoffman phản đối yếu ớt. "Hinterseer đã chết gần hai thế kỷ rồi mà."
- "Ông quên rằng tư tưởng Quốc Xã đã tiềm tàng trong tâm hồn người Ðức gần hai mươi thế kỷ hay sao."
Lời nói của Sean như một gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt mọi người, mỗi người lúng túng lảng tránh ánh mắt người khác, không ai dám nhìn thẳng vào Sean đang đứng ở đầu bàn, sự thật đến thật đột ngột khiến không ai không hổ thẹn khi nhìn thấy chính xác lương tâm của mình, được che giấu kỹ lưỡng qua bao nhiêu lời thơ, huyền thoạị Sự im lặng kéo dài như hàng thế kỷ cho đến khi cụ Bach húng hắng ho:
- "Ðôi khi tôi cảm thấy dường như có điều gì không ổn trong trường thi Hinterseer"
- "Tại sao ông không lên tiếng chất vấn?" Sean trầm giọng.
- "Thưa Thiếu Tá, làm sao tôi có thể đi ngược lại truyền thống."
- "Ông nói đúng, truyền thống dân tộc Ðức đòi hỏi sự tuân lời mù quáng, và đó chính là thảm kịch của dân Ðức ngày nay, bao lâu dân Ðức còn sẵn lòng đi theo truyền thống một cách thụ động như đàn cưù, quốc gia Ðức sẽ rơi vào tay những kẻ điên khùng. Chỉ khi nào có những người đứng lên đặt câu hỏi về ý nghĩa Rombaden, hay sinh viên đại học biểu tình phản kháng và chất vấn về huyền thoại, lúc đó mới thật sự an toàn khi tổ chức và đọc thơ Hinterseer."
Ulrich Falkenstein gần như giữ im lặng trong suốt cuộc họp, lúc này mới từ tốn lên tiếng:
- "Thế ngay ở Hoa Kỳ bộ không có truyền thống hay sao, thưa Thiếu Tá?"
- "Chúng tôi có truyền thống trong phóng khoáng, nếu Tổng Thống Hoa Kỳ đọc bài Tuyên Ngôn Ðộc Lập trong ngày lễ Ðộc Lập trước tượng cố Tổng Thống Lincoln, chắc chắn sẽ có người lên tiếng chất vấn và phản đối."
Ulrich gật gù nhìn mọi người trong phòng, làm thế nào họ thể tự xem là một người công dân Ðức lương thiện khi mỗi người từ trong tiềm thức đã có sẵn mầm mống độc tôn, và tin tưởng mù quáng vào sứ mệnh thiêng liêng của dân tộc Ðức, chủng tộc của Thượng Ðế, khi không ai dám lên tiếng phản kháng Hitler và ca ngợi chiến thắng thần thánh của Wehrmacht trong những năm đầu cuộc chiến, ít ra, Thiếu Tá Sean ÓSullivan đã vạch ra những sai lầm của họ, cho thấy rằng chính họ phải chịu một phần trách nhiêm về sự tan nát nàỵ
Sean nhìn chung quanh phòng họp, chàng cảm thấy mỏi mệt trong người, hướng về Ulrich Falkenstein, Sean lên tiếng:
- "Hôm nay tôi cho biết là ngày mai tôi sẽ đi công tác một thời gian, Thiếu Tá Duqueste sẽ thay tôi đảm trách công việc hàng ngày, nếu không còn công việc gì cần bàn luận, tôi tuyên bố giải tán."
oOo
Thu xếp giấy tờ vào trong túi xách, Sean bước ra khỏi phòng họp cùng với Ulrich, sự lạnh lẽo bên ngoài dường như gia tăng thêm sự nhạt nhẽo trong cuộc đối thoại giữa hai người, Sean lên tiếng phá tan bầu không khí lãnh đạm:
"Ulrich, bọn họ ghét tôi lắm, phải không?"
- "Ngược lại là khác, họ coi Thiếu Tá như là người lãnh đạo rồi. Chỉ có hai điều mà người Ðức nào cũng hiểu: là nghe lời cha và lãnh tụ Ông thấy khi người Ðức bị đánh bại, họ rất là ngoan ngoãn như thế nào. "
- "Ðiều quan trọng là họ có hiểu lời tôi nói hay không?"
- "Họ đang thực sự học bài học cần thiết trong việc tạo đựng một chế độ dân chủ. Chúng tôi có thể nhiều kinh nghiệm trong truyền thống, song le ý niệm dân chủ còn quá mới mẻ đối với chúng tôi, thí nghiệm dân chủ với người Ðức qua nền Cộng Hoà Weimar là sự hỗn loạn..."
- "Nhưng bao lâu họ chỉ biết thừa hành mệnh lệnh một cách mù quáng, lúc đó họ đang trở lại con đường tự huỷ diệt chính mình và huỷ diệt người khác." Sean cắt ngang.
- "Có những giá trị tinh thần cao quý mà người Ðức đã cống hiến cho nhân loại, và chúng tôi chiến đấu chống lại Hitler chính vì những giá trị này."
Sean cảm thấy sự phẫn nộ bùng lên trong người chàng. Phải rồi, ngay chính Ulrich, bằng chứng sống động nhất về sự tàn bạo của chế độ Quốc Xã, cũng bám víu vào niềm tin huy hoàng của nước Ðức. Không ai phủ nhận sự cống hiến to tát của Ðức vào văn học, âm nhạc, khoa học cho nhân loại, nhưng họ thiếu vắng một đam mê tự do và niềm tin tưởng vào phẩm giá con người, họ học được những gì sau những đổ vỡ kinh hoàng của cuộc chiến?, không ai có thể trả lời câu hỏi này trừ thời gian. Sean tự hỏi họ nghĩ sao về sự tàn bạo của quân SS, Wehrmacht, SA trong những vùng chiếm đóng trên Pháp, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Hoà Lan, Ngẳ Những câu trả lời có sẵn trên đầu lưỡi ngươì Ðức như con vẹt "Tôi không biết, đó là tội ác của Hitler......"
- "Thiếu Tá sẽ lên đường ngày mai?" Ulrich nhìn bâng quơ ra đường.
- "Phải, tôi đã viết một văn thơ cho Thiếu Tá Duqueste, đề nghị ông ta giữ ông lại trong chức vụ hiện thờị"
- "Rất tiếc là Thiếu Tá không tới Bá Linh, tại đó Thiếu Tá sẽ gặp một loại người Ðức khác hẳn, những chiến sĩ đích thực của chế độ dân chủ "
- "Có thể, hiện thời tôi không nghĩ gì hết về tương lai"
- "Chúc may mắn, Thiếu Tá"
Sean lái xe từ từ qua những đường phố nhỏ hẹp đầy ổ gà, tượng bán thân của Berwin và Helga ở trung tâm thành phố bị miểng bom cắt mất một phần, đứng chơ vơ in hình lên nền trời xám xịt, những cao ốc chung quanh trung tâm thành phố sụpđổ gần hết, những người dân co ro trong tấm ly lông đang rảo bước mệt nhọc trên đường, những toán tù binh chiến tranh đang dọn dẹp tại ngã tư nhìn trộm Sean lo lắng, Sean thở dài đạp mạnh ga, chiếc xe rú lên lao về phía trước để lại những đám bụi mù mịt phía sau.
Chung Lê
March 8, 97