vhnt, số 290
22 April 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................BBT
T h ơ:
1 - Tuyệt Nhiên ...................................Nguyễn Ðăng Tuấn
2 - Thư Mẹ / Nhớ Ngoại ......................................... Ý Nhi
3 - Lục Bát Mẹ.......................................... Ðinh Yên Thảo
4 - Mưa............................................. Trương Trọng Hoàng
5 - Khóc Thương Mẹ............................................Chân Mây
6 - Chuyện Xưa.................................................. Ðan Hà
7 - Thơ Federico Garcia Lorca................ Trần Thuyên chuyển ngữ
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
8 - Phỏng Vấn Phan thị Vàng Anh............................. Thúy Nga
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
9 - Yêu Thương Giữa Hoang Tàn............................. Chân Mây
10 - "Rick"................................................ Phùng Nguyễn
Bạn thân mến,
vhnt số này là một tiếp nối của chủ đề "Mẹ" trong số vhnt vừa quạ BBT chân thành cám ơn sự tham gia đông đảo của các bạn trong việc đóng góp cho chủ đề nêu trên. Không còn nghi ngờ gì nữa, "Mẹ" vẫn luôn luôn là nguồn sữa dồi dào cho cảm hứng.
Chủ biên Phạm Chi Lan nhắn với chúng ta là cô sẽ lần lượt hồi âm những bức thư chi buồn của đông đảo bạn đọc và thân hữu trong thời gian sắp tớị Phạm Chi Lan mong rằng các bạn sẽ thông cảm cho sự châ.m trễ củA cô trong việ phúc đáp.
Riêng BBT cũng xin cáo lỗi cùng bạn đọc về một sơ xuất trong số trước, vhnt #289. Tác gia/ củ thư vhnt là Nguyễn Phước Nguyên, không phải Phùng Nguyễn như đã liệt kê.
Bây giờ xin mời các bạn cùng chia sẻ tâm tình của những người viết.
thân ái,
PN
TUYỆT NHIÊN
kính dâng song thân
Người đi như lá rụng
mây bay soãi trên ngàn
trăm năm một lần mỏi
cõi đời có như không
em nghe không tiếng nói
của người rồi trăm năm
rừng phong du lá thổi
tịnh không một chốn nào
Ngang qua đây đời nhỏ
than thở gì phiến mây
muộn phiền gì sóng cả
rặng lau rạp im lìm
Tiếng chuông nơi trần thế
mắt lệ rồi còn ai
thì thầm đôi lời kinh
cho ngày sau bát ngát
Cúi xuống chiều qua mau
cúi xuống đời qua sau
mây bay như lá thổi
đời rồi tịnh nhiên không
Ðời không cao tiếng nói
đời thôi mỏi trầm luân
đời là tịnh nhiên không
tuyệt nhiên đến vô cùng
Nguyễn đăng Tuấn
THƯ MẸ
Thư Mẹ, con nhận sáng nay
Mà sao có nắng của ngày sắp qua
Thư rằng... Mẹ bảo cùng cha
Gắng cho con học dẫu xa quê nghèo
Dằn lòng, Mẹ có gieo neo
Mai con khôn lớn, xóm nghèo ắt vui
Bỗng dưng con lại ngậm ngùi
Tình thương Cha Mẹ tựa trời... biển... sao
Trong thư Mẹ, nắng dạt dào
NHỚ NGOẠI
(Gửi cho Ngoại)
Nhớ ngoại, chiều nay con nhớ Ngoại
Nhớ nôn nao, lòng cũng bồn chồn
Nơi xa ấy, Ngoại ơi...!!!... làm gì đó???
Mong thư xa, ngày tháng mỏi mòn
Cháu của Ngoại chiều này nhớ lắm
Nhớ dáng Ngoại vất vả sớm hôm
Trưa nắng cháy gồng lưng gánh nặng
Đêm đêm về thao thức canh năm
Làm sao quên những ngày Ðông giá
Lặng lẽ mình Ngoại may áo ấm
Xưa nuôi con,dến giờ nuôi cháu
Suốt một dời, vất vả lo toan
Ngoại của con, chiều nay nhớ quá
Biết làm sao thăm Ngoại thương yêu
Cánh nhạn dã nghiêng về phương ấy
Cháu thầm trao thương nhớ vô cùng
Ý Nhi... D.H.
LỤC BÁT MẸ
chia buồn cùng PCL
I.
Ði cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
Chợ đời học mấy chữ khôn?
Có bằng lòng mẹ dạy con làm người.
II.
Nhà người che khuất ngõ sau
Nên em đâu hiểu ruột đau chín chiều,
Tìm đâu mộng tưởng trăm điều
Hãy tìm bên mẹ trời yêu dạt dào.
III.
Mẹ già như chuối chín cây
Câu ca ai hát, nghe đầy nỗi đau
Thời gian- bước chậm, bước mau
Mẹ ơi! Ðừng bước theo sau chữ ngờ.
ÐINH YÊN THẢO
Mưa
Dầm mưa đây bỗng nhớ mưa nhà
Nhớ màu trời xám dịu lòng ta
Nhớ hương của đất bay bay nhẹ
Nhớ tiếng nước lăm tăm vỡ ca.
Tôi đi trong mưa, giọt lệ trời
Nỗi buồn xa xứ oằn hồn tôi
Ðất mẹ khung trời xưa thân thiết
Như trước mắt đây sao xa xôi!
Mưa lạnh tát ùa qua thời gian
Màn trời lồng lộng ngăn không gian
Chút tơ tình vương hoài trong dạ
Theo suốt đời tôi miên man. . . .
Trương Trọng Hoàng
15/04/97
Khóc Thương Mẹ
(Chia sẻ niềm đau của chị PCL)
Khóc...
Thương Mẹ
Thuở ban sơ
Cưu mang, ấp ủ
Thương con hơn thương Mẹ
Giấc mơ ngày con chào đời
Niềm hạnh phúc chôn vùi đớn đau
Khóc...
Thương Mẹ
Thuở tập nói
Tiếng Mẹ đầu môi
Mẹ nghe lòng sung sướng
Giọt mồ hôi chợt tan biến
Trên trán những vết nhăn cuộc đời
Khóc...
Thương Mẹ
Ngày đến trường
Cầm tay Mẹ dắt
Trên lối mòn quanh co
Dõi mắt về đường tương lai
Mẹ lo, con ngã thời ai nâng?
Khóc...
Thương Mẹ
Thời con lớn
Tình thương càng đầy
Như tuổi đời của Mẹ
Năm canh mấy khi tròn giấc
Ngại chi mưa nắng bạc mái đầu
Khóc...
Tiễn Mẹ
Ngày chia ly
Trên môi lần cuối:
Mẹ ơi! Con gọi Mẹ
Mẹ có nghe lòng nức nở?
Thương mãi ngàn năm một Mẹ hiền
Chân Mây
Chuyện Xưa
Hôm nay ngồi ngắm ánh trăng xanh
Chiếu xuống vườn sau một bóng lành
Cây cỏ ngủ say chìm vào mộng
Không gian tươi mát một màu thanh
Khung cảnh hồn nhiên của đất trời
Không làm quyến rũ được hồn tôi
Bởi chưng lòng vẫn ray rứt nhớ
Một quãng đời qua sống tuyệt vời
Ngày ấy em còn tóc xõa vai
Ngồi mơ ước chuyện cuối thôn Ðoài
Mơ cau thơm nụ, trầu xanh lá
Ước mộng ban đầu đẹp nắng mai
Anh chép thơ xanh, gửi nắng vàng
Trong vườn lá gió chợt khua vang
Em ngồi bên cánh hoa lan dại
Như dạo trong hồn khúc hân hoan
Rồi ước chúng mình đẹp lứa đôi
Vì chưng em đã lớn khôn rồi
Mẹ Cha ngày một cao thêm tuổi
Sẽ được ủi an suốt cuộc đời
Nhưng chuyện chúng mình chưa đến đâu
Bỗng dưng tan tác mộng ban đầu
Người đi khuất nẻo khung trời loạn
Thăm thẳm trùng khơi biết tìm đâu
Ðan Hà
Thơ Federico Garcia Lorca
trích Selected Poems
Bản dịch Anh ngữ - Merryn Williams - Bloodaxe Books Ltd, 1992
Back from a Walk
Assassinated by the sky,
between the shapes that move toward the serpent
and those that move toward the glass,
I'll let my hair grow.
With the tree of amputated limbs, unsinging,
and the child with the blank face of an egg.
With little broken-headed animals
and ragged, dry-footed water.
with all that is exhausted, deaf and dumb
the butterfly drown in the inkwell.
Stumbling with my different face each day.
Assassinated by the sky.
Sau Lần Tản Bộ
cho Lan
Ám sát bởi bầu trời,
giữa những hình tượng đi dần vào xà thể
và những hình tượng chuyển dần đến pha lê,
Tôi mọc tóc dài.
Với thân cây tàn khuyết nhánh, không ca hát,
và đứa bé gương mặt trứng tròn vô tư.
Với những loài thú nhỏ vỡ đầu
và rách tươm chân nước cạn khô.
Với tất cả những gì đã kiệt quệ, điếc và ngu đần
con bướm chết chìm trong giếng mực.
Lao đao với gương mặt tôi khác biệt mỗi ngày
Ám sát bởi bầu trời.
oOo
Casida for the Reclining Woman
To see you naked is to remember the earth.
The flat earth, emptied of horses.
The earth without a rush, pure shape
closed to the future: a silver boundary.
To see you naked is to understand the desire
of the rain that seek a fragile form,
or the fever of the seás great face
which can't find the light of its cheek.
Blood will resound through little rooms
and will come with swords flaming,
but you will not know where they conceal themselves,
the toad's heart, the violet.
Your stomach is a struggling of roots,
your lips are a formless daybreak.
Under the lukewarm roses of your bead
the dead moan, waiting their return.
Bài Thơ Lúc Em Nằm
cho BBBB
Ðể nhìn em lõa thể là để nhớ xưa trái đất.
Trái đất phẳng bằng, cạn vó ngựa nện đau.
Trái đất không bôn ba, hồng hoang nguyên thể
tương lai chối từ: lấp lánh lằn ranh.
Ðể nhìn em lõa thể là để hiểu lòng khát vọng
của cơn mưa rơi tìm hình dáng mong manh,
hay của mặt đại dương trong cơn mê sảng
trên dung nhan mình không tìm thấy ánh dương quang.
Máu sẽ vọng âm xuyên những buồng tim nhỏ
và sẽ đến bằng những rực lửa dáo gươm,
em sẽ chẳng biết nơi ẩn mình của chúng,
trong tim cóc sần sùi, giữa mỗi nụ hoa.
Rễ sống chen mầm dạ em chất chứa,
cánh môi em là vô dạng bình minh.
Giọt mồ hôi em nở nụ hồng thoảng ấm
Rơi thấm mong chờ nỗi chết hồi sinh.
oOo
Casida of the Rose
The rose
was not looking for the daybreak:
almost eternal on its branch
it looked for something else.
The rose
was not looking for knowledge, or for a shadow:
the boundary of flesh and dream
it look for something else.
The rose
was not looking for the rose.
Unmoving in the sky
it looked for something else.
Bài Thơ Hoa Hồng
Hoa hồng
không trông đợi bình minh:
như bất diệt trên cành
hoa tìm tâm nguyên khác.
Hoa hồng
không tìm sự hiểu biết, hay bóng hình:
ranh giới giữa thịt xương và ảo mộng
hoa tìm tâm nguyên khác.
Hoa hồng
không đi tìm hoa hồng.
Bất động trong bầu trời
hoa tìm tâm nguyên khác.
Trần Thuyên chuyển ngữ
Phỏng vấn Phan Thị Vàng Anh
Vừa trở về sau một chuyến đi dài gần bốn tháng, cây bút trẻ Phan Thị Vàng Anh trông phờ phạc cứ như vừa đi lao động vất vả ở đâu đó về. Chị là nhà văn VN đầutiên và duy nhất trong số 35 người của 28 nước vừa tham dự một chương trình viết văn do Trường đại học Iowa tổ chức (Cơ quan Thông Tin Mỹ tài trợ). Chắc là bận rộn tối ngày mới ra nông nỗi.
* Chương trình khóa học của Vàng Anh chắc là căng thẳng lắm?
- Không, ngược lại mới đúng, nó được tổ chức gần gụi nhất với bản chất của người viết văn, là tự do muốn làm gì thì làm, không ai bị ép phải tham dự đầy đủ chương trình cầ Tất cả các buổi sáng đều rảnh. Các hoạt động đều tập trung vào buổi chiều, thường làm chung với khóa học viết văn hai năm (writing workshop) của Ðại học Iowa, tiếp xúc trao đổi với các sinh viên, cũng là cách họ tạo điều kiện cho sinh viên của họ tiếp xúc được với người viết của nhiều nước; trình bày về truyện ngắn của mình, cách viết của mình, cách thảo luận với sinh viên xung quanh một số chủ đề đã được chuẩn bị hoặc cùng với sinh viên chuyển ngữ tác phẩm của mình ra tiếng Anh.
* Với Vàng Anh, điều gì thú vị nhất trong chương trình này?
- Tôi chú ý đến cách tổ chức của họ, chu đáo ngay từ khi gửi giấy mời: ở đâu, có xe bus gì chạy ngang qua trước cửa, gần những chợ gì, nhiệt độ lần lượt trong ba tháng ra sao, lại còn dặ n dò chớ nên mang áo lạnh nặng nề vì có cửa hàng đồ cũ rất tốt và rất rẻ ở gần bên. Có khi còn chi tiết đến mức dặn, không nên cho bản thảo vào vali gửi máy bay, nhớ mang theo người, tốt nhất là photo làm hai bản. Cách sắp xếp chỗ ở cũng dựa trên tính cách, thói quen của từng dân tộc. Tôi và một cô gái Hàn quốc được xếp ở ngay cạnh bà quản lý, bà này bảo người chấu Á các chị nhút nhát... Vừa đến nơi, cất đồ đạc xong, mở cửa ra đã thấy treo trước cửa các bảng chỉ dẫn cần thiết: bản đồ,nhà hát, chương trình chiếu phim. Thú vị nhất là gặp ở hành lang một cô. Cô hỏi:"Vàng Anh hả?". Thì ra đó là người trong ban tổ chức, chắc họ phải học thuộc tên của mọi thành viên từ trước đô Còn tôi mất một tháng rưỡi mới thuộc được tên đơn giản của mỗi ngườị Tôi nghĩ đến tác phong của người quen tiếp khách, biết rõ khách cần gì, thiếu gì hay quên điều gì... rất chu đáo, tế nhị và chẳng cần phải nói "thắt chặt đoàn kết", "hữu nghị giữa hai dân tộc"...
* Riêng Vàng Anh có gì đáng kể lại?
- Ði, cứ một thân một mình mà đi thôi và đã đi được nhiều bang, qua nhiều thành phố của Mỹ: Chicago, New York, Philadelphia, Washington D.C., Atlanta, Virginia, Texas, California. Tự lo, tự mò mẫm, không đi theo phái đoàn mà du lịch balô ở Mỹ nên cũng biết được nhiều hơn. Sau nữa là đi nói chuyện, tại hai trường đại học Harvard, Yale và Trung tâm William Joiner. Nói rất ngắn về bản thân mình thôị Tôi có được kinh nghiệm qua những người đi trước để tránh nói nh ững điều chung chung, mơ hồ; phải nói càng cụ thể về bản thân càng tốt để tạo cơ sở ban đầu cho cuộc giao lưu.
* Qua những câu hỏi người nghe đặt ra với Vàng Anh, có thể thấy họ muốn được nghe điều gì?
- Muốn biết rõ người đang nói chuyện là ai, chịu ảnh hưởng từ gia đình như thế nào trong cách viết, họ còn muốn hiểu về ký ức chiến tranh của thanh niên VN, về tự do sáng tác, chế độ kiểm duyệt...
* Về tự do sáng tác, Vàng Anh trả lời ra sao?
- Bất cứ câu trả lời nào tôi cũng nói từ góc độ suy nghĩ của cá nhân mình và không khái quát cho người khác. Với câu hỏi này thì trong phạm vi đề tài cho đến bây giờ tôi vẫn viết (về tình yêu, về đời sống thường ngàỵ..), tôi vẫn viết tự do, không ai ép cũng chẳng ai cấm điều gì.
* Còn đối tượng đến dự?
- Có người Việt, có người Mỹ, có nhiều sinh viên và có cả những đứa trẻ vô đó ngủ từ đầu đến cuối.
* Còn những người Việt trẻ định cư ở Mỹ mà Vàng Anh đã gặp?
- Tôi có gặp vài người viết trẻ, họ không viết bằng tiếng Việt mà viết bằng tiếng Anh, "Hợp Lưu" nếu đăng lại của họ đều phải dịch ra tiếng Việt. Một vài người khác, 20-23 tuổi, tôi gặp trong những chuyến đi, họ tốt lắm. Và tôi nhận ra thế này: họ được bố mẹ dạy về một VN khác, đi học ở trường lại được học về một VN khác nữ a, khi về đến VN lại nhìn thấy một thực tế khác với nhiều điều đã học, nên họ nhìn một cách khách quan.
* Là một người viết trẻ, đi nước ngoài một chuyến dài ngày, Vàng Anh thu nhận được gì vào hiểu biết của mình?
- Nghĩ khác đi dôi chút so với những gì tôi đã nghĩ trước khi đị Tôi đi và thấy nước Mỹ rất giầu, rất đẹp, và đó không phải chỉ là nước Mỹ chỉ có ăn chơi và bạo lực, mọi người đều phải làm việc cật lực để tồn tại chứ không nhà nhã như ta. Ðặc biệt, người Mỹ không lãng mạn, mà rất thực tế và hiếu khách, nhiệt tình. Có người hay khai thác mặt xấu của nước Mỹ và cường điệu sự giàu đẹp của nước mình để chứng tỏ rằng mình yêu nước. Tôi nghĩ tình yêu đó giả tạo, chẳng cần phải "cương" lên như thế. Càng đi xa thì như là bản năng, tôi càng yêu càng nhớ nước mình nghèo, nước mình không có được cái này, chưa có được cái kia. Nhưng như mình yêu mẹ mình vậy, chẳng cần phải tô vẽ thêm điều gì: mẹ mình xấu, mẹ mình già, mẹ mình thiếu công bằng thì mì nh cũng vẫn yêu...
* Riêng đối với nghề viết, thêm bớt được gì không?
- Ðược gặp nhà văn nhiều nước tôi hiểu thêm một chút về văn học của nước người tạ Tuy nhiên cái thu được về nghề không phải là kiểu thu được về cách chấm câu nhả chữ, không ai dạy điều đó cũng như sẽ không ai chịu học ai. Cái thu được cho nghề chính là những kiến thức mới, những kinh nhiệm mới, kể cả những kinh nghiệm nhỏ nhất như cách đổi tiền lẻ, cách đi xe điện ngầm chẳng hạn...Những điều này bổ xung vào vốn sống của tôi nhiều lắm, bởi với tiêng tôi, vốn sống là điều cần nhất cho việc viết văn của tôi.
* Còn dự định sắp tới?
- Tôi chưa có. Tôi chỉ đang mong rồi đây sẽ có thêm nhiều nhà văn trẻ như tôi cũng sẽ có cơ hội đi ra nước ngoài để thấy thêm và hiểu thêm. Ðừng sợ người trẻ còn non nớt hay dễ lung lay. Cứ theo kinh nghiệm của tôi, ra nước ngoài tôi thấy mình còn yêu nước gấp bao nhiêu lần khi còn sống ở trong nước.
* Cảm ơn câu chuyện thú vị của Vàng Anh.
Thuý Nga thực hiện
(TTCN 29-12-1996)
Yêu Thương Giữa Hoang Tàn
Ðã hai đêm rồi Diễm không ngủ. Cứ nghĩ đến tin tức chiến sự mỗi ngày một dồn dập trên màn ảnh tivi Diễm không sao chợp được mắt. Những tiếng pháo đại bác nghe được từ xa mỗi ngày một gần càng làm nàng lo sợ không ít. Không biết những gì sẽ xảy đến cho cuộc đời nàng vào những ngày trước mặt.
Nhìn đứa con trai đầu lòng mới ba tháng còn đang yên giấc ngủ như một thiên thần, nàng cảm thấy đau xót cho số phận của nó. Nghĩ đến tương lai của các trẻ thơ vô tội sinh ra và lớn lên trong một đất nước chiến tranh, Diễm tự hỏi không lẽ công lý chỉ là bạn tốt của hòa bình thôi sao? Có biết bao những trẻ thơ lớn lên chưa một lần được thấy cha của mình. Nghĩ đến đây, Diễm vội xua đuổi ý nghĩ về Thu, chồng của nàng. Thu thành hôn với Diễm hơn một năm trước đây khi Thu vừa được lên chức quận trưởng. Tuần trăng mật của hai người thật ngắn ngủi diễn ra ngay chính căn nhà Thu mới mua cuối phố. Nhưng Diễm hiểu Thu rất bận rộn với chức vụ mới, nhất là tình hình trong quận cũng bắt đầu thiếu an ninh. Giữa hai chữ chiến tranh và tình yêu thì ở giữa chỉ có hai chữ hy sinh và mất mát. Nàng chỉ mong sao định mệnh của nàng chỉ có một chữ hy sinh hiện diện.
Ầm! ầm! Những tiếng nổ long trời lở đất vang lên trong đêm tối. Cả một vòm trời nhóe sáng lên rồi lại tắt đi. Ðứa con của Diễm giật mình khóc ré lên. Diễm ôm vội đứa con chạy về căn hầm trú ẩn trước mặt được dựng lên bằng vài miếng gỗ và mấy bao gạo đặt phía trên. Diễm vỗ nhẹ con và cất tiếng ru con ầu ơ. Ðã mấy hôm nay, Thu phải ở lại lập tuyến phòng thủ không về được nhà. Diễm bắt đầu lo sợ cho chồng nàng. Diễm thì thầm đọc kinh cầu xin Thượng Ðế phù trợ cho chồng nàng được bình an. Trời bắt đầu sáng. Những tiếng đại bác cũng thưa dần và nhỏ đi. Cả một đêm qua, thành phố cựa mình với những vết thương bom đạn cầy xới. Một thành phố yên lành bao năm qua sáng nay thức dậy trong hoang tàn đổ nát.
Tiếng đề ba của đại bác không còn chỉ nghe vào ban đêm mà đã bắt đầu nghe được giữa ban ngày. Diễm thu xếp vài đồ dùng cá nhân cần thiết, rồi ẵm con chạy vào trung tâm thành phố để ở bên cạnh chồng. Nàng quay lại nhìn căn nhà lần cuối. Căn nhà hai vợ chồng mới dọn vô hơn một năm trước. Lớp sơn mới còn chưa kịp phai màu, những ấm êm của chăn gối còn chưa kịp nguôi ngoai nay vội bỏ lại sau lưng. Hai dòng nước mắt Diễm chảy dài trên má. Túp lều lý tưởng của một cuộc tình đầy mơ mộng rồi đây không biết có tránh khỏi những trận mưa pháo. Dọc hai bên đường dẫn vào trung tâm quận lỵ, từng dãy nhà xụp đổ tan hoang. Bao nhiêu giấc mộng xây dựng cơ đồ của dân lành chỉ còn lại những đám tro tàn. Những cây nhang còn khói nghi ngút trước những bàn thờ của người quá cố vừa được làm qua đêm. Ngoài đường phố, người người gồng ghánh chạy ngược chạy xuôi hỗn loạn. Họ bất chấp nguy hiểm và sự chết. Những tiếng gọi mẹ, những tiếng gọi con như chim lạc bầy vang lên khắp phố. Những tiếng pháo kích lại bắt đầu vang lên từng loạt như xé cả không gian. Như một phản ứng tự nhiên, Diễm ôm chặt con lao mình xuống bờ cỏ bên đường. Một tiếng nổ rất gần. Khói bụi bay mờ mịt. Tai Diễm ù đi không còn nghe rõ. Hai mẹ con phủ kín bởi những bụi đất văng lên. Ðứa bé gồng mình khóc lớn. Tay nàng như bị ướt đẫm. "Trời! Máu!" Diễm la lớn. Trong cảnh hỗn loạn, tiếng kêu cứu của Diễm chỉ là một âm thanh rất nhỏ không được nghe thấy. Mắt Diễm nhạt nhòa bụi đất và nước mắt. Ðứa bé đã bị trúng miểng đạn nơi bụng. Tội nghiệp thằng bé còn quá nhỏ để có thể chịu đựng được đau đớn. Diễm vội lấy áo cuốn chặt lấy bụng đứa bé. Diễm ôm con theo đoàn người chạy về phía trước bất kể sống chết. Nàng phải vào trong tuyến phòng thủ phía trước để gặp Thu may ra cứu kịp đứa bé. Bỗng Diễm nghe một tiếng "em" vang lên như sét đánh bên tai. Diễm nhìn về phía chiếc xe jeep trước mặt. Thu nhảy vội ra khỏi xe ôm chầm lấy Diễm. Thu băn khoăn và vội vã:
- Em và con không sao chứ? Anh đang trên đường về nhà đón em và con vào đây.
Diễm nghẹn ngào không sao nói ra thành tiếng. Diễm đã mệt lả người như muốn ngã quỵ. Thu nhìn đứa bé nằm bất động ướt đẫm máu. Thu không thể tưởng tượng những gì đang xảy ra trước mắt chàng. Ôi chiến tranh! Giá như hai tiếng đó đừng hiện diện trong ngôn ngữ của người đời thì hạnh phúc cho nhân gian biết mấy.
Một nấm mồ nhỏ được đắp lên giữa bãi cỏ loang lỗ những hố bom. Hai mái đầu xanh gục đầu lặng lẽ trong sương lạnh. Những con giun dế vô tình vẫn cất lên những bản nhạc tiễn đưa hoang dại. Véo! Véo! Véo! Những âm thanh rợn người của sự chết lại làm chủ không gian. Thu kéo vội Diễm chạy về phía hầm phòng phủ. Thu dìu Diễm bước xuống những bậc tam cấp chật hẹp. Mùi hôi của đất và đồ dùng dư thừa làm Diễm cảm thấy khó chịu không ít. Thu đưa cho nàng dĩa cơm gạo xấy nguội lạnh và an ủi:
- Anh biết em rất khó chịu vì chưa quen với cảnh này bao giờ, nhưng em cố gắng ăn chút đi rồi uống viên thuốc này để lấy lại sức.
Diễm gật đầu rơi nước mắt vì cử chỉ âu yếm của chồng. Diễm cố ăn để có thể chống cự với những khó khăn trước mặt. Thành phố vẫn tiếp tục bị pháo ngày đêm. Các lối dẫn vào thành phố đều bị phong tỏa. Thu đang họp khẩn cấp với các chỉ huy về tình hình nguy cập của quận thì người lính cầm máy truyền tin chạy lại như vừa bắt được liên lạc khẩn cấp. Qua cuộc đối thoại, Thu được cấp trên cho biết chừng vài giờ nữa sẽ có trực thăng đến để di chuyển thương binh và tiếp tế lương thực. Thu ra lệnh cho lập một tọa độ mới để trực thăng có thể đáp xuống an toàn. Những người lính với những chiếc băng ca chuẩn bị sẵn sàng tải thương khi trực thăng đáp xuống. Thu cầm một cái gói nhỏ dúi vào tay Diễm và nói:
- Em cầm cái này để chuẩn bị ra đi.
- Anh có đi không? Diễm hỏi.
Thu gật đầu cho qua vì Thu biết rằng Diễm sẽ không chịu đi nếu Thu còn ở lại. Hai chiếc trực thăng hạ cánh dưới làn mưa pháo. Những người lính khệ nệ khiêng những thương binh chạy hướng về hai chiếc trực thăng. Thu kéo Diễm chạy theo. Một tiếng nổ trước mặt họ. Khói bay mù mịt. Thu đẩy nhanh Diễm lên chiếc trực thăng nói trong tiếng ồn ào của tiếng động cơ:
- Em an tâm ra đi. Anh ở lại sẽ lo liệu đi sau.
Chiếc trực thăng từ từ cất cánh. Một tiếng nổ sát bên. Thu ngã chúi mình về phía trước. Thu chồm dậy và chạy trở lại chiến hào. Thu đưa mắt nhìn theo chiếc trực thăng nhỏ dần trên bầu trời ảm đạm. Thu cảm thấy yên tâm, sung sướng trong lòng.
"Anh Thu!" Một tiếng gọi chát chúa vang lên từ phía sân trước mặt. Thu bàng hoàng như chết đứng khi nhìn một người thiếu nữ đang chạy lại. Không phải là Diễm chứ, chàng cầu xin. Diễm ôm chặt Thu trong nghẹn ngào:
- Em không thể xa anh. Chúng mình sống chết có nhau. Em đã nhảy xuống đất khi trực thăng vừa cất cánh.
Thu không biết phải nói thế nào nữa ngoài lời khích lệ:
- Ðược, vợ anh chung tình lắm. Vợ anh can trường lắm. Ðây món quà anh tặng cho em.
- Súng! Diễm la lên.
- Ừ, súng. Em cầm lấy để chiến đấu với anh. Sẽ có lúc em phải cần xử dụng nó nhưng điều đó anh không mong xảy ra.
Lúc hai người còn là tình nhân, vì Diễm tò mò nên Thu đã chỉ cho Diễm cách bắn súng ngắn và ném lựu đạn. Không ngờ, bây giờ Diễm lại có dịp hành nghề. Mọi người bỗng lặng hướng về chiếc máy radio khi người xướng ngôn viên báo cho biết sắp có một thông cáo quan trọng từ phía chính quyền. Không gian thật nặng nề như ép trước ngực người nghe. Lệnh đầu hàng được ban ra. Thu nửa tỉnh nửa mơ ngồi xuống chiếc ghế thất vọng. Một lát sau, Thu ra lệnh cho mọi người rời công sự chiến đấu mặt thường phục trở về nhà.
Sáng nay, trời u ám lạ thường. Những cụm khói vẫn bốc lên nghi ngút từ những căn nhà trúng bom đạn. Thu nhìn vào khoảng không gian xa vắng. Mới hôm nào thành phố hiền hòa, bình yên trong nắng ấm, giờ đây đầy những vết thương của bom đạn cầy xới.
Trải qua gần nửa đời người sống trong chinh chiến, Thu đã mất đi niềm vui của tuổi xuân, mất đi những cuộc hẹn hò tình tứ của tình yêu, mất đi người con đầu lòng yêu dấu. Thu quay sang nhìn vợ để tìm chút an ủi:
- Thôi thế là xong. Bây giờ mình làm lại cuộc đời, nhưng làm bằng cách nào với hai bàn tay trắng hả em?
Diễm đưa tay lấy sợi dây chuyền đeo cổ có hình Chúa từ trong cái túi nhỏ Thu đưa cho Diễm lúc ra đi và nói:
- Ðây, vốn của chúng mình đây.
Thu cầm sợi dây chuyền mỉm cười:
- Có vốn rồi, việc đầu tiên em phải sinh lại cho anh một đứa con khác nhé.
- Một hai gì cũng được, nhưng là con gái thôi.
- Sao vậy hả em?
- Vì em có muốn hòa bình trên mặt đất.
Thu cười chọc ghẹo:
- Giữa hòa bình và tình yêu, em chọn con đường nào?
Chân Mây
Rick
1.
Dù đã xế chiều, không khí trong công viên vẫn còn nóng nực. Trên chiếc băng gỗ đặt dưới tàng cây du râm mát, lão già Mễ Ramon ngồi đối diện Quảng, cặp mắt nhỏ hấp háy nhìn ra bãi cỏ xanh rực nắng. Lão là học viên của lớp huấn nghệ miễn phí dành cho người lớn nơi Quảng làm phụ giáo. Lão Ramon đưa tay chộp một miếng khoai tây chiên thái mỏng thồn vào mồm, tợp một hớp bia, hỏi:
“Chú mày hôm nay không phải đi học sao?"
Quảng có cho lão biết là anh đang theo học lớp tối ở trường Đại Học Cộng Đồng của thành phố.
"Không. Hôm nay thứ Sáu, không có lớp. Còn ông?"
"Tao nghỉ… lâu rồi. Tao ăn tiền trợ cấp tàn phế lao động. Bây giờ ‘chúng nó’ bắt tao đi học để kiếm nghề khác."
"Chúng nó?"
"Thì sở Lao Động chớ còn ai nữa! Mẹ nó, mấy bài toàn khó quá tao học không vô!"
Thấy lão cằn nhằn, Quảng vừa buồn cười vừa tội nghiệp cho lão. Ai đời tiếng Anh thì nói như gió mà mấy bài toán cộng trừ nhân chia của tụi con nít lão lại bó tay. Vậy mà sáng hôm nay anh bỏ quên chìa khóa xe trong ổ khóa, chỉ cần cái móc áo bằng sợi thép và hai phút đồng hồ là lão đã mở tung cánh cửa xe khóa kín cho anh. Tan học, Quảng rũ lão ra công viên uống mấy lon bia để đền ơn. Anh hỏi lão:
"Ông qua Mỹ lâu chưa mà nói tiếng Anh rành quá vậy?"
"Qua Mỹ? Tao sanh ở đây mà. Gần năm chục năm rồi. Nửa thế kỷ, chú mầy biết không? Nửa thế kỷ."
"Bộ hồi nhỏ không có học hành gì sao?
"Học gì được mà học. Cha mẹ tao là di dân lậu, suốt ngày đi làm mướn ngoài ruộng, nhốt tao trong mấy cái nhà tiền chế bằng tôn khi thì nóng như lửa, khi thì lạnh như nước đá. Lấy gì đi học?"
Lão Ramon ngưng lại, tợp thêm ngụm bia, tiếp:
"Mười ba tuổi tao theo cha mẹ đi làm mướn ở mấy cái nông trại. Thằng con tao mới đây cũng theo nghề nông, nhưng nó được làm cai. Nó có bằng Trung Học mà!"
Lão có vẻ phấn khởi, ngửa cổ uống cạn lon bia. Quảng cũng nâng lon bia lên nhấp nháp. Chất bia đắng làm anh nhăn mặt. Anh vẫn thích uống bia trong ly đá thật lạnh, cái thói quen anh có từ khi còn ở quê nhà. Buổi chiều xuống êm ả. Bóng những cây du trong công viên ngã dài thêm. Có tiếng trẻ con cười dòn tan ở phía bên kia, nơi có chiếc cầu tuột và mấy cái xích đu sặc sỡ. Quảng đưa mắt nhìn quanh. Những chiếc bàn gỗ đặt rải rác trong công viên lúc nãy còn trống trơn bây giờ đã có người chiếm ngụ. Tại sân bóng rổ, mấy cậu bé quần đùi áo thun đang tranh giành nhau trái banh tròn màu cam. Một lão bụi đời râu ria xồm xoàm đang lục lọi mấy cái thùng rác gần khu nhà vệ sinh.
Lão già Mễ vói tay vào cái túi giấy trên bàn, lôi ra hai lon bia, hỏi Quảng:
"Làm thêm lon nữa nghen chú mầy?"
Quảng nhún vai:
"Làm thì làm. Mà ông uống ít thôi, coi chừng về nhà bị ‘bà xã’ cằn nhằn."
"Ăn nhằm gì. Mụ vợ tao thì biết gì!"
Lão giật chiếc vòng nhôm khui lon bia định ném vào thùng rác cạnh đó, bỗng ngưng lại. Tên "bụi đời" Quảng nhìn thấy lúc nãy ở gần khu nhà vệ sinh đang kéo chiếc xe đẩy bằng nhôm hướng về chiếc thùng rác gần nơi hai người đang ngồi. Mớ tóc dài và đám râu quai nón rậm rạp cộng với bộ mặt lem luốc tạo cho hắn một vẻ ngoài không được lương thiện cho lắm. Hắn mặc một bộ đồ lính màu xanh bẩn thỉu, vai mang sợi dây cột vào chiếc xe đẩy – đánh cắp ở một siêu thị nào đó – trong đó chứa đầy vỏ lon bia, lon nước ngọt, và giấy báo. Lúc đi ngang qua mặt Quảng, hắn chợt dừng lại, cặp mắt xanh mệt mỏi dưới hàng chân mày màu vàng lem luốc nhìn anh chăm chú. Hắn đưa tay trỏ gói thuốc lá trên bàn ngỏ ý xin. Quảng cầm gói "KOOL" hút dở, lấy ra một điếu trao cho hắn cùng với chiếc bật lửa. Tên "bụi đời" đón lấy, châm lửa, rít một hơi dài, rồi thở ra một đám khói xanh. Cặp mắt xanh của hắn vẫn dán vào anh, ánh mặt ngập ngừng, dò hỏi. Quảng hơi xoay người đi, lẫn tránh cái nhìn của hắn, lòng xao xuyến. Đôi mắt xanh cặp, chân mày vàng, ánh mắt ngập ngừng này hình như anh đã gặp ở đâu…
Gã "bụi đời" nghiêng người đặt chiếc bật lửa lên cái bàn gỗ, xoay mình bỏ đi. Mấy cái lon rỗng trong chiếc xe đẩy kêu lắc cắc theo nhịp bước đi của hắn. Được dăm bước, hắn bỗng dừng lại, đưa cặp mắt xanh nhìn Quảng một lần nữa, buông thỏng hai tiếng "Cám ơn" rồi quay mình kéo chiếc xe đẩy đi tiếp. Quảng nghe như có một luồng điện vừa chạy xuyên qua người mình. Gã "bụi đời" vừa ngỏ lời cám ơn anh bằng tiếng Việt, với lối phát âm đặc biệt của đám GI. Quảng thảng thốt kêu lên:
"Rick! Phải Rick đó không?"
Gã "bụi đời" dừng lại, ấp úng vài giây rồi hét lớn:
"Koong?"
Đó là cách Rick phát âm tên của anh mười bốn năm về trước. Chỉ trong vài giây, cả người Quảng đã lọt thỏm trong vòng ôm chặt chẽ của gã "bụi đời", mũi anh tràn ngập mùi khai mốc của bộ đồ hắn đang mặc. Buông anh ra, Rick quay lại lão già Mễ Ramon tự nãy giờ đang ngơ ngác quan sát hai người:
"Đây là ‘Koong.’ Hắn đã cứu mạng tôi lúc tụi này còn ở bên ‘Nam’."
Rick vói tay tóm lấy cái bịch giấy chứa mấy lon bia nguội ngắt, nói tiếp:
"Mình phải uống mừng mới được!"
2.
Quảng hạ thấp đầu lúc chui ra khỏi hầm truyền tin làm bằng những bao cát. Chân anh dẫm ngay vào vũng sình trước cửa hầm. Buông tiếng chửi thề tục tĩu, Quảng đưa chiếc giầy lính lên trét đại mớ sình vào vách hầm. Anh băng qua sân doanh trại lỗ chỗ đá xanh lênh láng nước, hậu quả của mấy cơn mưa rào trước đó. Doanh trại vắng hoe. Không phải cắm trại, đám lính tráng chắc đã chuồn cả về Sài Gòn ăn nhậu, chơi bời hết rồi! Người lính gác lặng lẽ nhìn Quảng bước qua cổng. "Chắc hắn cũng chán ngấy như mình, chiều thứ Bảy mà phải đứng gác," Quảng nghĩ thầm.
Quảng theo đơn vị về đồn trú tại vùng ven đô này đã hơn ba tháng. Cái đồn nhỏ tạm bợ được dựng lên dọc con đường nhựa nhỏ loang lổ ổ gà dành cho bộ chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội yểm trợ. Số còn lại đóng rải rác trong khu dân cư lân cận. Phía bên phải của ngôi đồn nhỏ là những ruộng lúa xanh mướt bị ngăn lại bởi những vườn cây ăn trái. Đối diện với đồn là một xóm nhà, tranh lẫn ngói, với những cây cau khẳng khiu và tàng lá rũ rượi trên cao. Phía bên trái là một bãi đất hoang mọc đầy cỏ dại, kế đến là ngôi miếu nhỏ đổ nát. Cạnh ngôi miếu là quán cơm của Hoa. Quảng đang hướng về phía quán cơm.
Mẹ con Hoa mở quán cơm này vài tuần sau khi đơn vị của Quảng đến đồn trú tại đây. Quán là một căn nhà lá nhỏ, vách ngăn bằng những tấm "phên" tre mỏng. Phía sau quán là một vườn chuối lâu ngày không được chăm sóc, đám cỏ hoang mọc lẫn vào những bụi chuối um tùm. Một góc quán được ngăn ra làm nhà bếp, trên vách treo ngổn ngang những nồi niêu soong chảo. Một chiếc kệ gỗ cũ mèm trên bày những thức uống nghèo nàn và mấy thứ lặt vặt khác ngăn phần còn lại với khu thực khách. Phía sau lưng kệ là cái chõng tre ọp ẹp, giang sơn của mẹ con Hoa khi họ không phải tiếp khách. Khu thực khách là bốn năm chiếc bàn gỗ và những chiếc ghế đẩu thô sơ. Mọi thứ, kể cả ngôi quán, trông có vẻ tạm bợ như chính cái nghề nghiệp của mẹ con Hoa. Nguồn thu nhập chính của quán là đám lính tráng đóng quân gần đó, còn dân chúng trong khu lân cận hiếm khi ghé vào.
Quảng cẩn thận nhắc chân qua khỏi thanh tre chặn ngang cửa quán. Anh bị vấp ở đây mấy lần mà vẫn chưa hiểu tại sao thanh tre lại nằm ở một chỗ bất tiện như vậy. Mấy tên trong toán cố vấn Mỹ của tiểu đoàn đang ngồi ở chiếc bàn cạnh cái cửa sổ làm bằng những nan tre đan mắt cáo. Có cả Rick trong đám nhưng không thấy Tuấn "Ròm" thông dịch viên đâu cả. Rick ngồi tựa lưng một cách lười biếng vào tấm vách tre, nâng chai "băm ba" lên chào anh. Quảng cười đáp lễ, bước lại phía Hoa đang lúi húi chiên xào món gì đó trong bếp.
"Cô Hoa hôm nay trúng mối khách sộp nghe! Bác gái đâu rồi?"
"Mẹ em đi chợ trên Sài Gòn, sẵn ghé thăm nhà, mai mới về. Anh Quảng ăn gì em làm." Hoa trả lời, đưa cánh tay lên gạt một mảng tóc nhỏ lòa xòa trên vầng trán đẫm mồ hôi.
"Cho tôi một tô mì gói thịt bò. Với lại một chai băm ba."
Quảng ngồi ở chiếc bàn đối diện với đám cố vấn Mỹ, đưa mắt nhìn ra con lộ nhỏ. Buổi chiều đang xuống dần ngoài kia. Con lộ vắng vẻ, thỉnh thoảng một chiếc xe đạp chạy qua, người trên xe cắm cúi đạp nhanh. Ở trên nóc những mái nhà tranh, làn khói bếp của bữa cơm chiều tỏa ra dịu dàng. Rick rời chỗ ngồi bước đến gần. Hắn dùng đáy chai bia chạm khẽ vào ly bia của anh tỏ ý mời, hỏi nhỏ:
"Koong, anh không về Sài Gòn hôm nay?"
"Không. Tôi phải trực. Hôm nay sao mấy ổng ‘hiền’ quá vậy? Chui vào cái quán xếp này uống bia, mấy cái bar trên Sài Gòn ế hết."
"Vợ Trung Sĩ Nhất Carson lên bàn mổ hôm nay. Xếp muốn cả bọn ở nhà một bữa. Tối nay về cầu nguyện cho bà ấy."
Hèn chi nãy giờ tên Trung Sĩ Nhất da đen Carson ngồi làm thinh, nốc bia tì tì. Rick móc túi thẩy cho Quảng gói thuốc lá hiệu "KOOL" màu xanh lá cây, nâng chai "băm ba" lên tu một hớp, rồi lững thững quay về bàn. Trong nhóm cố vấn, Quảng chỉ quen có Rick và Tuấn, tên Trung Sĩ thông dịch viên gầy gò, nhỏ thó. Thỉnh thoảng Tuấn mang một chai whisky và mấy lon đồ hộp chui vào hầm truyền tin bày trò nhậu nhẹt. Hắn thích tâm sự với Quảng về đàn bà con gái. Theo chỗ Quảng biết, hắn đang để tâm theo đuổi Hoa, cô chủ quán cơm này. Đôi khi Tuấn dắt Rick qua nhậu với bọn anh. Quảng cũng thích tên GI láu lỉnh lành tóc vàng mắt xanh này. Qua Rick, Quảng học được một mớ tiếng Anh, phần lớn là những câu chửi tục. Có lần Rick bảo anh, "Thằng Tuan nói tiếng Anh như … shit, phải chi Koong làm thông dịch viên cho bọn này." Quảng cười trả lời, "Cám ơn, nhưng tôi thích mang máy truyền tin hơn."
Hoàng hôn đã xuống bên ngoài. Ngọn đèn dầu Hoa Kỳ được Hoa mang lên lúc nãy tỏa ánh sáng vàng vọt trong ngôi quán tồi tàn. Tô mì và hai chai bia làm Quảng cảm thấy tức bụng. Anh định gọi Hoa tính tiền, nhưng nàng đã bỏ đi đâu mất. Quảng khật khưỡng đứng dậy, băng qua cái bếp đầy mùi dầu mỡ, ra khu vườn chuối. Anh đứng trước một bụi chuối rậm rạp, tò mò nhìn vòi nước nhỏ từ cơ thể anh bắn tung tóe vào thân cây chuối trước mặt. Có vật gì động đậy ở lùm cây gần cái miếu hoang. Quảng ngẩng lên nhìn. Một thể khối màu trắng mờ mờ hiện ra trong cái chập choạng của hoàng hôn, … một chiếc đùi đàn bà. Rồi lại thêm chiếc nữa. Quảng banh mắt ra nhìn trân trối. Hoa đang lúi húi thay quần áo trong đám cây! Trước mặt Quảng là một Hoa rất "thành thị" trong chiếc quần ống loa và chiếc áo ngắn tay phồng cổ hở. Nàng nhét vội bộ đồ bà ba mặc trong quán lúc nãy vào cái giỏ nhựa, nhìn quanh quất, rồi rón rén đi ra phía con lộ nhỏ, mắt không rời ngôi quán nơi có ánh đèn dầu Hoa Kỳ xuyên qua khung cửa mắt cáo. Một chiếc Honda màu đen chờ sẵn dưới gốc cây điệp ở lối vào miếu tự bao giờ. Tiếng nổ đặc biệt của động cơ bốn thì "xoáy xi lanh" vang lên dòn tan. Chỉ trong mấy giây, Hoa và chiếc Honda đã khuất dạng trên con đường dẫn về thành phố.
Quảng nhún vai, kéo quần lên, quay vào quán, nghĩ thầm, "Vậy là chết thằng Tuấn rồi, con nhỏ có bồ." Bỗng dưng anh khựng lại, người lạnh toát. Đám cố vấn Mỹ, "mẹ" đi xa, quán không người coi, điệu bộ lén lút, bộ đồ thời trang, chiếc Honda "xoáy xi lanh." Quảng nhào vào quán, chân đá phải chiếc thau nhôm kêu đánh rầm một tiếng. Đám thực khách Mỹ hoảng hốt đứng cả dậy, chai lọ lỏng chỏng. Trung Sĩ Nhất Carson chộp cây XM18 nòng ngắn lên đạn lắc cắc, miệng hỏi:
"Chuyện gì vậy? Vi Xi hả?"
Quảng không trả lời. Anh không biết nói làm sao cho mấy tên ngu ngốc này hiểu. Lão Trung Sĩ Nhất da đen lại ngồi xuống, miệng lẩm bẩm "Asshole". Nỗi lo sợ làm Quảng gần như nghẹn thở. Anh nuốt nước miếng ừng ực, nhìn quanh quất. Trên nền đất khô ráo phía dưới lò bếp có đặt một cái lon guigoz. Vùng đất chung quanh chiếc lon bị sẫm lại do nước từ trong lon rỉ ra. Hai sợi dây đồng bọc nhựa đen nhỏ xíu chạy ra từ chiếc lon và mất hút dưới đám củi khô ở góc bếp. Quảng đã nhìn thấy loại "đồng hồ ngòi nổ" đầy tính sáng tạo này nhiều lần. Khi mực nước trong lon cạn đến một mức độ nào đó, cây đinh đóng vào mảnh gỗ tròn nhỏ nổi trên mặt nước sẽ hạ xuống theo và chạm vào cây đinh ở đáy lon. Sự tiếp xúc sẽ làm mạch điện được nối lại, và khối chất nổ ở đoạn cuối của những sợi dây đồng sẽ nổ tung.
Quảng quay lại hét lên, "Plastic!" Thật là công hiệu! Viên Đại Úy cố vấn trưởng thét lớn "Get the hell outa here!" Mấy tên Mỹ nhẩy dựng lên, phóng ra cửa. Quảng cũng phóng theo. Có tiếng chân của Rick đuổi theo phía sau. Bỗng có tiếng kêu đau đớn của Rick, rồi tiếng thân người đổ xuống. Quảng quay đầu lại. Rick nằm sóng soài trên mặt đất ẩm ướt, hai tay ôm lấy ống chân phải, miệng rên rỉ. Hắn đã vấp vào cái thanh tre ngu ngốc chặn ngang cửa ra vào. Lúc này đám lính Mỹ đã chạy ra tới con lộ nhỏ. Quảng ngần ngừ một chút, rồi quay lại, lúng túng xốc cơ thể dềnh dàng của Rick lên. Anh choàng tay phải của hắn vào vai mình dìu đi. Rick nhảy lò cò, miệng chửi thề ỏm tỏi. Bỗng dưng cả người hắn đổ ập về phía trước, thân hình to lớn của hắn đè lên người Quảng, đẩy anh ngã sấp mặt xuống vũng sình nhỏ. Điều cuối cùng anh còn nhận thức được là một vùng sáng chói lòa đến từ phía sau. Anh ngất đi trước khi kịp nhìn thấy ngôi quán tồi tàn bùng lên như viên pháo bông, mùi khói khét lẹt, và những mảnh tre trúc bắn ra vung vãi.
Quảng tỉnh dậy trong bệnh viện 3 Dã Chiến Mỹ, ngoại trừ nỗi ê ẩm do sức chấn động của tiếng nổ, cơ thể anh không bị một vết thương nào đáng kể. Tấm thân dềnh dàng của Rick đã như một tấm lá chắn kiên cố che chở cho anh. Về phần Rick, ngoài mảng lưng cháy xém bởi lửa và hơi nóng, một mảnh vụn tre bắn ra từ ngôi quán đã cắm sau vào phần mông bên phải của hắn. Lúc đám cố vấn Mỹ kéo nhau vào thăm hai người tại bệnh viện, Trung Sĩ Nhất Carson bảo Quảng, "Thằng Rick được tụi Charlie gắn cho cái lỗ đít thứ hai!" Quảng và Rick chia tay tại bệnh viện. Họ chỉ gặp lại nhau mười bốn năm sau.
3.
Quảng nhả ga, cho xe chạy chậm lại rồi quẹo trái ở đường Baker. Còn khoảng nửa dặm nữa anh sẽ đến chỗ Rick "tạm trú". Quảng đưa tay phải mân mê chiếc hộp làm bằng bìa cứng đựng tấm bánh pizza còn nóng, lòng phân vân không biết phải mở lời với Rick như thế nào. Ở lần hội ngộ bất ngờ trong công viên, hai người vào tiệm tạp hóa mua một xâu bia rồi kéo nhau về "nhà" của Rick, một chiếc xe buýt phế thải nằm han rỉ trên một bãi đất trống ở khu downtown tồi tàn của thành phố. Ở đó, hai người vui vẻ, hào hứng nhắc lại những địa danh, những tên người, những kỷ niệm nhỏ mười bốn năm về trước. Rick và Quảng cười sảng khoái nhắc tên Trung Sĩ Nhất Jackee Carson và câu bình phẩm "bất hủ" của ông về cái vết thương trên mông Rick. Trong suốt câu chuyện, cả hai đều cố tránh nhắc đến hoàn cảnh hiện tại của Rick – một điều rất khó khăn vì tất cả mọi thứ chung quanh họ đều như muốn nhắc nhở về điều đó. Quảng ra về với những dằn vặt, thắc mắc về cảnh ngộ của bạn mình.
Trong những tuần lễ kế tiếp, Quảng đến tìm Rick khá đều đặn ở khu hoạt động của đám "bụi đời". Cư dân ở đây đã bắt đầu quen thuộc với tên đàn ông Đông phương nhỏ thó với bước đi tập tễnh; đôi khi họ chận anh lại xin một điếu thuốc hay chỉ hờ hững cất tiếng "Hello" với anh. Cuối cùng rồi Quảng cũng kéo được Rick về thăm căn apartment một phòng nhỏ xíu của vợ chồng anh. Mới đầu thì Rick từ chối. "Tôi không muốn làm phiền hai người," hắn nói. Quảng cũng đã nghĩ đến việc này. Vẻ ngoài lôi thôi của Rick có thể tạo sự e ngại, đề phòng cho bất cứ ai mới gặp hắn. Quảng đã kể cho Duyên, vợ anh, nghe về mối quan hệ giữa anh và Rick. "Bây giờ Rick đang ở hoàn cảnh khó khăn, anh cũng không biết làm sao để giúp hắn," Quảng bảo vợ "Anh mời anh ấy về đây, em làm mấy món Việt Nam đãi anh ấy," Duyên nói, giọng thương cảm. Lần đầu tiên gặp Rick, Duyên không dấu được vẻ e dè khi đối diện ông khách Hoa Kỳ cao lớn, râu tóc rối bù, quần áo lôi thôi lếch thếch. Tuy vậy, nàng có vẻ hài lòng khi nhìn thấy ông khách tận tình chiếu cố món "bò tái chanh" và "cà ry gà" độc đáo của mình. Đến lần thứ hai thì Quảng nhận thấy Duyên đã có vẻ tự nhiên hơn. Ít nhất nàng cũng đã cố gắng giải thích cho Rick – bằng cái vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của mình – phương pháp nấu một nồi canh chua cá bông lau.
Quảng và Duyên lấy nhau đã hơn năm năm nhưng chưa có con. Đời sống bất trắc, vô định ở quê nhà và cái tương lai mù mịt của những năm tháng đầu tiên ở nơi đất khách đã khiến hai người trì hoãn việc có thêm miệng ăn trong gia đình. Khi vừa đặt chân lên nước Mỹ, Quảng đã ghi danh cho cả hai vợ chồng theo học ở trường dạy sinh ngữ dành cho người lớn của thành phố. Buổi tối, Quảng đi làm cho một nhà hàng ăn của Mỹ, và Duyên làm cho một nhà hàng ăn Trung Hoa. Cũng nhờ vào số vốn tiếng Anh còm cõi còn sót lại của thời Trung Học và những năm ở lính, gần đây Quảng tìm được một chân phụ giáo, coi sóc bài vở cho đám di dân gốc Mễ ở một cơ sở huấn nghệ của thành phố. Anh cũng sắp chấm dứt niên học đầu tiên ở trường Đại Học Cộng Đồng gần đó. Cuộc tái hội bất ngờ giữa anh và Rick, ngoài nỗi vui mừng gặp lại người bạn cũ, đã làm anh ngỡ ngàng không ít. Thỉnh thoảng anh bắt gặp ở đâu đó, trên TV, báo chí, lớp học, điều gọi là "Hội Chứng Sau Việt Nam," nhưng anh không hiểu rõ lắm. Ít nhất đám GI đã từng tham chiến tại VN như Rick còn có một quê hương, một mái nhà để trở về. Còn anh và đám bạn bè cùng cảnh ngộ mới thật sự mất tất cả, Quảng nghĩ. Có đôi khi anh muốn hỏi Rick về những biến cố đã xảy đến cho hắn kể từ lúc hai người chia tay ở Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ tại Sài Gòn mười bốn năm về trước, nhưng anh đã kiềm chế được. Có những điều khó nói, cho nên có những điều không nên hỏi, Quảng tự nhủ.
Vậy mà cuối cùng rồi Quảng và Rick cũng đặt chân lên cái bờ vực hiểm nghèo của quá khứ ở dọc đường bằng hữu của họ. Mới tuần trước đây Rick và Quảng, mỗi người chiếm ngự một băng ghế trên chiếc xe-buýt-nhà-ở của Rick, vừa nhẩn nha uống bia vừa kể nhau nghe về những kinh nghiệm của họ trong cuộc chiến tranh mà cả hai cùng tham dự và cùng thất bại. Họ nói về những ruộng vườn xanh tươi ở miền Nam với những thân dừa mập mạp, những thân cau khẳng khiu, và những trái bom napalm với khối lửa đỏ lòe và đám khói đen khịt. Họ nói về những thời điểm như tết Mậu Thân, mùa Hè năm 72, về những địa danh như A Shau, A Lưới, Mỹ Lai, Quảng Trị. Họ nói về những thây người đã đổ xuống, những giòng máu đã chảy ra. Máu Việt Nam, máu Hoa Kỳ.
"Những giòng máu của ‘đồng minh’ đã đổ xuống quê hương chúng tôi một cách không cần thiết."
"Không cần thiết?"
Rick hỏi lại, đôi mắt xanh mờ đục nhìn Quảng đầy vẻ nghi hoặc.
"Đúng vậy! Sự hiện diện của đám GI đã làm thay đổi ý nghĩa của cuộc chiến. Bằng cách đổ quân ào ạt vào miền Nam, người Mỹ đã biến chúng tôi – trong con mắt của người dân VN và của thế giới – thành một lũ ‘hợp tác’. Lẽ ra mọi sự đã có thể khác đi, cho chúng tôi và cho cả anh nữa, Rick ạ. Lẽ ra anh đã là thầy giáo, doanh gia, công nhân, hay gì gì đó. Nhưng chắc chắn không phải là thằng bum sống nhờ vào mấy cái lon rỗng trong thùng rác!"
Có tiếng Rick hét lên giận dữ:
"Nếu anh nghĩ vậy thì tại sao còn đến đây? Tại sao anh không thu dọn đống cứt vàng khè của anh và cút khỏi chốn này?"
Hắn chấm dứt câu nói cay độc của mình bằng cách ném mạnh lon bia uống dở vào vách chiếc xe buýt. Mọi vật trong lòng chiếc xe buýt tồi tàn bỗng mang một vẻ trì trệ, xấu xí ở mức cực điểm, từ lon bia móp méo trên sàn xe đang vung vãi đám bọt trắng xóa với tiếng kêu phì phì, Rick với mớ râu tóc rối bù đang trân trối nhìn lon bia, cho đến Quảng ngồi bất động trên chiếc băng ghế bẩn thỉu như một con hà mã thô kệch với trái tim uất hận đang rỉ ra những giòng máu tẩm độc hôi thối. Cuối cùng Quảng lặng lẽ đứng dậy, khập khiễng bước ra khỏi chiếc xe buýt. Trên quãng đường ngắn ra bãi đậu xe, lòng Quảng chất ngất muộn phiền và ân hận. Con đường về nhà anh đêm hôm đó bỗng dài ra và đầy bất trắc.
Quảng bước xuống xe, vói tay nhặt cái hộp giấy đựng tấm bánh pizza cặp và nách rồi khóa cửa xe. Khu này không "tử tế" gì mấy, cẩn thận vẫn hơn. Anh ngẩng đầu nhìn về hướng chiếc xe buýt cũ kỹ màu vàng nằm cách đó khoảng một trăm mét. Anh đã có thể đậu xe gần chỗ Rick ở, nhưng anh cố tình đậu xa một chút. Tim anh bỗng như hụt đi một nhịp khi nghĩ đến những điều ngu xuẩn, độc ác mình đã nói với Rick lần trước. Nỗi đau đớn, phiền muộn gây ra bởi những mất mát, những nhục nhằn của cái biến cố mười mấy năm trước đã như con rắn độc nằm mai phục trong trái tim bệnh hoạn của anh chờ ngày phun nọc. Và nọc độc đã chạm vào người bạn bất hạnh của anh, người có lẽ cũng đã đau khổ muộn phiền không kém gì anh.
Rick ngồi trên sàn xe, hai chân đặt trên bậc thang lên xuống ở cửa xe, hút thuốc. Đôi chân Quảng hơi khựng lại một chút rồi tiếp tục tiến về phía trước. Còn cách chiếc xe buýt chừng mười mét, anh dừng lại. Rick ngẩng đầu lên nhìn anh, rồi lại cúi xuống, điếu thuốc trên môi hắn rực lên trong hơi kéo mạnh. Quảng vẫn đứng tại chỗ, tay cầm hộp bánh pizza đưa thẳng về phía trước, vẻ mời mọc. Rick lại ngẩng lên nhìn. Hắn chậm chạp đưa một tay ra sau lưng sờ soạng. Lúc hắn đưa tay ra, Quảng thấy một xâu bia với những cái vỏ nhôm in màu đỏ trắng lấp lánh dưới ánh nắng chiều. Quảng nhăn mặt nghĩ đến mùi vị đắng nghét của chất bia không còn hơi lạnh. "Không biết gần đây có chỗ nào bán nước đá hay không?" Anh tự hỏi.
Phùng Nguyễn
08.95