vhnt, số 269
6 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Trời Lạnh Chợt Nhớ...........................Nguyễn Thành Tâm
2 - Thiếu Nữ Mừng Xuân.......................................Ian Bùi
3 - Trích Thơ Xuân Ðộng Hoa Vàng....................Phạm Thiên Thư
4 - Cánh Én Mùa Xuân...................................Trần Thu Hồng
5 - Xuân..............................................Nguyễn Tiến Dũng
6 - Trích thơ Xuân Ðường Vào Tình Sử................. Ðinh Hùng
7 - Nghị Lực Mùa Xuân Không Phải Mặt Trời.....Nguyễn P. Nguyên
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
8 - Phỏng vấn Nhà Thơ Vũ Ðình Liên...............Lưu Quang Ðịnh
9 - Tết Trâu: Tản Mạn Về Trâu...........................Tứ Diễm
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
10 - Thú Dữ....................................................Hồ Như
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Hàng Xóm..........................................Nguyễn Bá Dĩnh
Bạn,
Sáng nay ra sau nhà lúc trời vừa chớm nắng. Bước đến một góc vườn. Và cúi xuống nhìn. Thủy tiên đã nẩy mầm sau những ngày đông buốt giá. Những bụi hồng cũng đâm nhiều chồi mới, như một hứa hẹn.
Mùa Xuân thường chỉ được nhắc đến trong thi văn mỗi khi Tết về. Sau đó, mùa Xuân đi vào quên lãng.
Những vần thơ, bài văn bạn đọc trong số VHNT Xuân này cũng thế. Bất quá, chỉ là một nhắc nhở, một đánh dấu của chu kỳ thời gian vận chuyển, của thời tiết giao mùa.
Hy vọng những tâm tình được chuyên chở trong các bài viết bạn sẽ đọc sau đây mang đến cho bạn một chút ấm áp, một ít hứa hẹn của mùa Xuân đang về. Hơn thế nữa, ước ao rằng cảm giá đó sẽ ở lại trong bạn. Sâu đậm hơn. Dài lâu hơn.
Thân ái,
Nguyễn Phước Nguyên /vhnt
L Ờ I C H Ú C T ẾT
Nhân dịp xuân về, vhnt xin chúc bạn đọc gần xa và thân bằng quyến thuộc một năm mới an khang thịnh vượng - vạn sự an lành - Mong mùa Xuân sẽ mang lại cho tất cả chúng ta nhiều màu sắc mới trong tinh thần, và nhiều thành quả tốt đẹp trong cuộc sống.
oOo
Ð Í N H C H Í N H
Bạn đọc vhnt thân mến:
Trong vhnt số 268 vừa qua, trang thư vhnt, người viết đã viết nhầm tên tác giả. Xin được đính chính, bài hát "Ði Qua Vùng Cỏ Non" của tác giả Trần Long Ẩn, thay vì đã viết là TCS.
Thành thật xin lỗi,
BBT/vhnt
Trời Lạnh Chợt Nhớ
Trời đất khách độ rày trở lạnh
Khác hôm nào nắng cháy thịt da
Nhớ khi xưa dạo bước thành Ða
Mắt ngây nhìn tà áo thướt tha.
Áo trắng trong ủ hình cô gái
Má hây nồng, nụ hé ấp e
Lòng ngây dại khách nhìn quên bước
Dáng yêu kiều điểm chút rụt rè
Gió Xuân Hương lướt nhẹ thịt da
Người thấm lạnh nghe chừng tê tái
Lê bước vội quay về phố chợ
Thấy ấm lòng nhấp giọt cà phê
Mây lơ lửng điểm hờ đỉnh núi
Lâm Viên kìa, ôi đẹp làm sao
Ðà cất bước, cố nhìn ngoảnh lại
Chợt nghe lòng gợn chút nao nao
Rồi từ đấy tôi lìa xứ sở
Bỏ sau mình tất cả dấu yêu
Còn đâu nữa bóng hình năm cũ
Áo lụa đào đậm nét diễm kiều
Thông rạng rỡ, xứ này vẫn lạnh
Sớm mây trời đậm điểm hơi sương
Nắng ửng vàng phủ trùm cây cỏ
Thấy chút gì gợi nhớ gợi thương
Tôi tự vấn lòng còn ray rứt
Mất điểm gì thấm đậm niềm thương
Chợt bật nghĩ: thì ra có thiếu
Cái gọi là không khí quê hương
Nguyễn Thành Tâm
Thơ Xuân của Phạm Thiên Thư
(trích Ðộng Hoa Vàng)
20.
hạc xưa về khép cánh tà
tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
em về hong tóc mùa xuân
trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành
63.
đôi chim nho nhỏ trên cành
giục nhau đan lá cỏ xanh bên đường
nửa đời mây nước du phương
thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân
65.
cuối xuân ta lại tìm qua
tiêu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
sớm thu ta đánh đò sang
bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
82.
non xanh khoác áo sương hồng
con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa
Cánh Én Mùa Xuân
(Tặng T. trong ngày đầu năm)
Trời bên ấy vào xuân chưa anh nhỉ?
Mai có vàng nở nộ đón mừng xuân?
Phố hàng hoa muôn sắc đẹp vô ngần
Dưa hấu đỏ ngọt tình quê nước Việt
Ở bên đây, xuân về em nào biết
Không mai vàng, én lượn báo xuân sang
Chỉ tuyết bay, hoa trắng phủ muôn đàng
Thông cúi mặt cho qua muà đông giá
Xa quê nhà, xuân nay em nhớ lạ
Mái tranh nghèo, khói vợn buổi chiều xuân
Lá chuối xanh Me gói bánh bao lần
Ðêm đà xuống Mẹ còn đun bếp lửa
Em thương Mẹ tóc màu phai hơn nữa
Xám màu da vì nắng cháy bên nương
Bàn tay buồn gầy guộc chỉ còn xương
Mẹ gồng gánh nuôi đàn con thơ dại
Em vẫn nhớ hàng dưà xanh nhà ngoại
Cứ xuân về, Mẹ làm mứt dừa tươi
Em vô tư bên Mẹ mãi vui cười
Rồi xếp lá làm kèn kêu rộn rã
Khi xuân đến, én bay về muôn ngã
Em thích nhìn những cánh én bay xa
Giữa trời cao chim én lượn la dà
Em mơ ước theo chim về xứ lạ....
Mùa xuân ấy qua rồi, nay nhớ lại
Ðồi thông buồn, nên chợt thấy chơi vơi
Nhớ làm sao quê Mẹ thât. xa vời
Xin là én bay về nơi cố xứ
Thu-Hồng
XUÂN
Lại xuân về nữa ư?
Thêm một năm xa xứ
Thêm một tuổi ưu tư
Thêm một đêm mất ngủ
Nghe xuân mà buồn thêm
Mai, đào sao không thấy
Chỉ tràn nỗi tìm quên
Trong thời gian tuôn chảy
Ô kìa xuân đang về
Sao buồn tôi mắt đỏ
Nhớ mùa này nơi quê
Trong hồn xuân bỏ ngỏ
Nguyễn Tiến Dũng
(01/30/1997)
Thơ Xuân của Ðinh Hùng
(trích Ðường Vào Tình Sử)
Tình Lại Mới
Ðã bao mùa xuân xa tôi rồi,
Em mới về đây ngồi cạnh tôi.
Ðôi mắt, đôi môi ngày hạ ấy
Có cười vui nữa chẳng là vui!
Ðâu biết lòng em còn trẻ thơ?
Em không hờn giận để tôi ngờ...
Cuộc đời đi hết - tôi ngồi lại
Ngắm mặt buồn quen, hoa thủa xưa.
Chao ôi! Lời nói được bao nhiêu!
Em ngủ đi em! Xuân mộng chiều...
Tỉnh giấc nhìn nhau, tình lại mới,
Mà lòng yêu thế có là yêu?
Thanh Sắc
Ðầu xuân có rừng xuân đẹp
Suối bạc, ngấn vàng long lanh.
Con hươu sao quỳ khép nép,
Uống ngọc bên hòn đá xanh.
Ðầu xuân có giòng sông trắng,
Thuyền ai chờ khách nằm đây.
Con chim nhạn biếc theo mây
Trên bến cát hồng xa vắng.
Ðầu xuân có hội đua hồng,
Có cuộc thi tà áo lá.
Ðầu xuân này cỏ thêu nhung
Bướm với hoa đồng lơi lả.
Ðầu xuân có tiệc xuân tình,
Núi xanh và trời xanh biếc.
Mây đào có má đào xinh
- Em chớ để tình xưa chết.
nghị lực mùa Xuân không phải mặt trời
tình yêu ở mặt tuyệt đối nhất của nó, là
một sự bình thản, trong vô cùng...
em hỏi: chu vi của tình yêu - rộng, lớn?
trong căn phòng ẩm hẹp không cửa sổ, nghẽn ướt hơi người quyện thán khí, khi đôi bờ môi đưa nhau vào hòa nhập cơn thở,
em có hình dung bao la đất trời?
khi đôi vòng tay tìm nhau cuối bóng đêm, rồi quấn quít dìu nhau vào ánh sáng,
em có cảm nhận vô cùng vũ trụ?
nói yêu em bằng câu thơ đầu tiên chưa bị đọa đầy vào ngục tù chữ nghĩa, ửng lên khóe mắt, ẩn mật hương trinh, thoát thai vào hóa thân em - những vết chàm trên làn da kỳ nữ. những dòng sông. những hồ lệ. trong suốt tương lai. thủy tinh quá khứ.
khi em khóc,
trong tôi
đêm vắng bình minh.
em có biết?
em - người yêu tôi ở điều không thể hiểu.
ngôn ngữ của tình yêu
không là vần thơ
không là tiếng nhạc
không là nụ cười, nước mắt
không là hạnh phúc, khổ đau.
mà là tiếng nói câm nín của một con tim với thinh lặng của một con tim, khi
hai con tim
không chung một giòng máu
không chung một nhịp đập, nhưng
chung một màu đỏ truyền sinh tịnh mặc cội nguồn.
em - người hiểu tôi ở điều không thể yêu.
tình yêu bước chân trần trên giá băng đường tim mùa đông tái buốt đi tìm mùa xuân cành khô đâm chồi ấm. em, mặt trời không phải của riêng ai. nhưng bóng tối trong mỗi chúng ta là của riêng mỗi chúng ta. tuyệt đối. điều tôi tin - sự hiện hữu của mặt trời không có thật. điều tôi tin - hạnh phúc có thật, khi trong bóng đêm tôi chọn chờ một mặt trời không bao giờ mọc.
tôi chọn ngồi trong bóng đêm chờ một bình minh không bao giờ đến -
tia sét là em. em có biết?
một đoạn phim có người tự vẫn, cắt mạch máu mình.
tại sao khi tự vẫn người ta hay ngồi trong một bồn nước? (dòng máu rất đẹp khi loang dần vào lòng nước trong suốt, phải không em?)
từ đó,
mỗi khi muốn tìm cái chết,
tôi nghĩ đến khi tôi không còn sống để yêu em nữa. là điều không thể. và
tôi chọn sống yêu em trong tuyệt đối tình yêu mình. như
tôi chọn sống tuyệt đối cho tình yêu mình. để yêu em.
từ đó, trong tôi -
dòng máu của bầu trời là quang kiều ngũ sắc.
dòng máu của áng mây là những giọt mưa.
dòng máu của núi rừng là khe, là suối.
dòng máu của cuộc đời sự thinh lặng giữa muôn âm.
dòng máu của tình yêu là từng làn hơi tôi chọn tiếp tục thở,
khi em không còn trong cuộc sống.
dòng máu của mùa xuân là thân cây mùa đông nghị lực đâm chồi.
tôi chọn ngồi trong bóng đêm chờ một bình minh không bao giờ đến -
tia sét là em.
em có biết?
npn
Tản Mạn Về Trâu
Theo Âm lịch, Trâu xếp hàng thứ nhì trong 12 con giáp. Có rất nhiều giả thuyết được đặt ra để... đoán mò xem tại sao chàng Trâu chậm chạp, hiền lành lại được đứng trước chú hổ oai hùng và cả chú rồng uy vũ. Thoạt nghe qua thì giả thuyết nào cũng thật là hợp lý. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ lại thấy không ổn. Cho nên không nêu giả thuyết nào ở đây, kẻo không lại nhàm tai bạn chăng.
Trâu là loài động vật nhai lại, sinh con và nuôi con bằng sữa trâu tươi (chứ không phải bằng sữa bò đóng hộp hay sữa bột à nghen). Nhìn chung, Trâu có vẻ xuề xòa, giản dị và có vẻ kém bề... nhan sắc nếu đem so sánh với anh em họ hàng Bố Nhưng vốn bản tính hiền lành, không ưa suy bì tỵ nạnh, Trâu luôn hài lòng với "nhan sắc Trời cho" của mình, vẫn thản nhiên ăn, uống, làm việc ào ào. Với bản tính hơi lo xa và cũng hơi ham ăn một tí, nên hễ có dịp là Trâu ta cứ nuốt lấy, nuốt để tất cả các loại ngũ cốc lẫn rơm cỏ, nhồi thật chặt bao tử, để dành đến khi rảnh rỗi mới đem ra... nhai lại. Có lẽ Trời cũng thương, nên ban cho Trâu một bao tử thiệt bự có tới bốn ngăn lận, tha hồ mà "tích trữ đầu cơ" thức ăn.
Như đa số các loài động vật khác, Trâu có bốn chân. Mỗi bàn chân chỉ có mỗi một móng sừng cứng, đen bóng, rất thích hợp cho việc... kéo cày. Nhìn kỹ thì Trâu thuộc loại "mày râu nhẵn nhụi" nên hơi kém vẻ oai phong. May nhờ có bộ sừng cong vút nhọn hoắt trên đầu kéo lại, nên trông cũng không đến nỗi nàọ Ðuôi Trâu ngắn và thẳng, chỉ có mỗi một túm lông nhỏ ở phần cuối, nên không thể xua ruồi muỗi (nói chi là giết). Ðôi mắt Trâu hơi hí, lông nheo lại cụt lủn nên các nàng nhà Trâu không biết chớp chớp mắt làm duyên. Mũi Trâu hơi tẹt, lỗ mũi lại bự và có sẹo (vì bị chủ "xỏ mũi" từ hồi còn nhỏ) nên có vẻ hơi kém mỹ thuật một chút. Nhìn chung thì "dung nhan" của Trâu ta tuy không được mỹ miều cho lắm, nhưng cũng chẳng có vẻ hung ác khủng khiếp. Trâu lại vốn ăn chay trường từ nhỏ, chưa hề sát sanh, dẫu là giết một con ve, con bọ (vì có muốn giết cũng không được).
Nhưng chẳng hiểu tại sao lại bị gieo tiếng dữ qua thành ngữ "đầu trâu, mặt ngựa" nhỉ? Thật oan cho Trâu ta quá. Có lẽ điểm đặc biệt nhất của Trâu là... móm, chỉ có mỗi một hàm răng mà thôi. Kích thước của răng Trâu hơi quá khổ, có lẽ vì phải nhai bù cho chiếc hàm bị thiếu chăng? Chẳng hiểu "nụ cười" của nhà Trâu đẹp xấu ra sao, nhưng chỉ thấy quảng cáo "con bò cười" mà thôi. Có lẽ Trâu ta đã không dám cười nữa kể từ sau trận cười lăn lộn ngày xưa, đến nỗi va vào đá rụng hết một hàm răng chăng? Vì có tâm hồn ưa ăn uống nên vòng số 2 của nhà Trâu chênh lệch khá nhiều với hai vòng còn lại. Nhưng vốn vô tâm lại xuề xoà, không lo chưng diện bề ngoài nên Trâu chẳng cần "diet" bao giờ cả. Da Trâu màu đen mốc, lại hơi dầy nên chỉ thích hợp để căng trống. Chứ không được dùng để chế biến thành các loại cặp, ví, giày như da họ hàng nhà Bố Sữa Trâu màu trắng đục, tương tự như sữa bò, nhưng hơi có mùi tanh nên không được dùng để uống và chế biến như sữa bò.
Từ khi cất tiếng... rống chào đời, Trâu con thường được gọi là Nghé. Mãi đến sau tuổi... dậy thì, bể tiếng mọc... sừng, Nghé ta mới được chính thức xếp vào sổ... lao động của loài Trâu, hay còn được gọi một cách văn vẻ là Sửu hay Ngưu (Ngầu), hay Buffalo. Và từ ấy, Trâu ta bắt đầu kiếp kéo cày trả ơn cho chủ.
Có lẽ trí tuệ và nhan sắc thường ít đi đôi với nhau thì phải. Họ nhà Trâu tuy có kém vẻ mỹ miều nhưng lại thông minh hơn họ nhà Bò khá nhiềụ Chả thế mà chỉ có câu "ngu như bò", hay thậm chí "ngu như chó", chứ chưa ai lại quở là "ngu như trâu" cả. Và Trâu cũng có tài nhớ đường về. Nên các cụ thường khuyên rằng "lạc làng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu". Cũng may là loài Trâu không có môn vổ.. đá giò lái như loài ngựạ Nên ta cứ thongdong mà "nắm đuôi trâu", khỏi mắt trước mắt sau lo canh chừng "hàm chó, vó ngựa". Cũng vì quan niệm rằng "yếu trâu còn hơn khoẻ bò" hay "trâu ho bằng bò rống" nên Trâu ta thường bị chủ "đặt con trâu trước cái cày" để rồi:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
Trót mang cái tiếng "khoẻ như trâu", và vì trót sinh ra để làm cái kiếp "trâu cày, ngựa cưỡi". Cho nên họ nhà Trâu cứ phải hùng hục ra sức mà kéo cày. Nhưng như đã nêu ở trên, Trâu không có "ngu như bò". Nên đôi lúc, Trâu ta cũng ưa dở quẻ "thính tai họ, điếc tai cày" để... trốn việc. Ðến lúc ấy thì các vị chủ nhân chỉ còn cách xuống nước, nhỏ nhẹ bảo rằng:
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng cấy, cày với ta...
Vì vốn bản tính hiền lành, chất phát, nên Trâu ta lại ngoan ngoãn vâng lời chủ để tiếp tục cày tiếp. Thế là cái cảnh:
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm, mắt mở đuổi Trâu ra càỵ...
Và
Ruộng đầm, nước cả, bùn sâu
Suốt ngày cùng với con Trâu cày bừa.
lại tiếp diễn đều đều mỗi ngày. Cứ như vậy, số phận con trâu gắn liền với cái càỵ Vào ngày mùa, sau một ngày vất vả chở lúa ngoài đồng về, Trâu còn phải làm thêm "part time job": đạp lúa đến tận khuya. Theo nhịp độ làm việc siêng năng cần mẫn của chủ, Trâu ta cũng cặm cụi ra sức mà làm. Ðến khi già yếu, mắtmờ, chân chậm, chưa động sức đã "thở hồng hộc như... trâu" thì lại bị đem ra ngả thịt. Thịt trâu màu hơi tái, không được thơm ngon bằng thịt bò nhưng cũng vẫn có giá trị dinh dưỡng nếu nấu nướng đúng cách. Chỉ có điều, thịt trâu khi nấu chín rất ngót. Chả thế mà các cụ đã phải nhắc khéo các chàng rể rằng "Làm rể chớ nấu thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại", kẻo có ngày lại bị gán cho cái tiếng... ăn vụng thì phiền. Da trâu sau khi thuộc xong, thường được dùng để bịt mặt trống. Bong bóng trâu sau khi tẩy rượu sạch cho hết mùi, thường được các lái buôn dùng làm bình chứa nước hay đựng rượu. Sừng trâu có thể làm tù và hay chế biến thành các vật dụng để trang trí. Xương trâu tuy không được ngon bằng xương bò, nhưng cũng được tận dụng trong việc nấu nướng.
Ngày xưa, dân ta đa số sống bằng nghề nông nên luôn quan niệm "con trâu là đầu cơ nghiệp". Và không có chi bằng "ruộng sâu, trâu nái". Cho nên, khi có chút tiền bạc dư dả thì lại rủ rê nhau:
Tháng Tư đi tậu trâu, bò
Ðể ta sắp sửa làm mùa tháng Năm
Vì:
Có Trâu sẵn tằm, tơ, lúa má
Không Trâu, không hoa, quả, đậu, mè
Lúa gặt, cắt lên đã có Trâu xe,
Lúa chất trữ lại để dành Trâu đạp...
(Lục Súc Tranh Công)
Cũng vì thế mà Trâu đã được xếp hàng đầu trong lục súc (6 loài vật nuôi trong nhà): Trâu, Chó, Dê, Ngựa, Lợn, Gà. Hơn thế nữa, vô hình chung, Trâu đã trở thành một người bạn thân thiết của nông dân Việt Nam, chia sớt những nỗi nhọc nhằn sớm hôm. Ta có thể thấy được điều đó qua câu:
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng cấy cày với ta....
Có lẽ chưa có con vật nào lại được người nông dân trìu mến như thế, ngay cả loài chó, vốn được yêu quý vì đức tính trung thành. Trâu được nhắc nhở nhiều qua các câu thành ngữ, ca dao còn truyền lại từ ngày xưa. Câu "trâu lấm vấy quanh" thường dùng để chỉ những kẻ làm sai nhưng lại ưa đổ lỗi cho người khác. Với cảnh hiềm khích, ghen ghét nhau thì có câu "trâu buộc ghét trâu ăn". Câu "dắt trâu chui ống" ám chỉ những người mơ toàn chuyện viễn vông. Câu "trâu chậm uống nước dơ, trâu ngơ ăn cỏ héo" chế riễu những người luôn chậm chạp nên thường hay bị thiệt thòị Dùng để so sánh sự háo hức của trẻ em trong các dịp giỗ chạp "trâu bò được ngày phá đỗ (đỗ = đậu xanh), con cháu được ngày giỗ ông". Các tay buôn bán thì thường ưa chèo kéo "trâu béo kéo trâu gầy" để nâng giá hàng lên. Hay có khi lường gạt theo kiểu "mua trâu, vẽ bóng". Vì thế, nên mới có câu "thật thà như thể lái trâu, thương nhau như thể nàng dâu mẹ chồng". Các cụ lại còn khuyên rằng: "mua trâu xem vó, cưới vợ xem nòi". Kẻo không lại xào xáo cửa nhà, để rồi nàng dâu tỉnh bơ tuyên bố: "chồng dữ thì em mới sầu, mẹ chồng mà dữ mổ trâu ăn mừng". Hay ngụ ý về tình cảm nam nữ "trâu tìm cột, chứ bao giờ cột lại tìm trâu". Thành ngữ "trâu cui" thường dùng ám chỉ người hữu dũng vô mưụ Từ "ngưu ẩm" ngụ ý chế riễu kẻ không biết cách thưởng thức vị ngon của trà, chỉ uống ừng ực như... trâụ Còn biệt danh "trâu nước" của chàng Quách Tĩnh chắc chẳng xa lạ gì với các vị ưa "ngâm cứu" film bộ HongKong. Ngoài ra, lại có câu "gái mười bẩy bẻ gẫy sừng trâu" để chỉ sức mạnh của tuổi thanh xuân. Chẳng hiểu sao các cụ lại ví von thế nhỉ. Ðã có chú Trâu nào bị bẻ gẫy sừng chưa? Có khi các cụ lại tin rằng: "trâu trắng đi đến đâu, mất mùa đến đấy". Chẳng hiểu có thực thế chăng? Và tại sao thành phố Sài Gòn ngày xưa lại được gọi là "Bến Nghé" nhỉ? Trong truyện Phong Thần, tướng Hoàng Phi Hổ đã cưỡi Trâu khi ra trận. Trong truyện "thằng Bờm", trâu đã được nhắc nhở đến khi phú ông toan đem đổi "ba bò, chín trâu" để lấy gói xôi của Bờm. Trong truyện "Con Trâu" của Trần Tiêu, con trâu luôn là niềm mơ ước suốt đời của gia đình bác Xã Bổng. Trong truyện "chú Cuội", thì:
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Thả trâu ăn lúa, gọi cha ơi ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên....
Trâu gắn liền với nghề nông, với người nông dân, với thửa ruộng luống càỵ Trâu còn gắn bó với các em bé chăn trâu. Hình ảnh các em bé mục đồng vừa chăn trâu vừa thổi sáo đã được gợi nguồn cảm hứng sáng tác của biết bao nhiêu họa sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ. Biết cơ man nào mà kể cho xiết những tác phẩm xoay quanh đề tài "Ngư, Tiều, Canh, Mục". Chỉ tiếc rằng loài Trâu vốn thiếu cảm nhận về mặt nghệ thuật, cho nên chung quy cũng chỉ là "đàn gẩy tai trâu" mà thôi.
Còn gì dễ thương hơn cảnh một chú bé ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, dưới bóng tre ngà râm mát, thả hồn theo tiếng sáo du dương trầm bổng giữa buổi trưa Hè vắng lặng. Thật khác hẳn với sự ồn ào thô lỗ của các chàng chăn bò xứ Texas. Nhưng phải chăng nghề chăn trâu quả thật nhàn hạ, sung sướng như nhạc sĩ Phạm Duy đã miêu tả trong bài "Em bé quê":
Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Có lẽ chẳng đúng mà cũng chẳng sai. Có nghề nào mà không cực nhọc chứ. Này nhé, trời rét thì lo che phên, nứa quanh chuồng, trải rơm rạ cho Trâu nằm khỏi lạnh. Trời nóng thì lo tắm rửa sạch sẽ cho Trâu, bắt ve bọ cho Trâu khỏi ngứa. Khi ở ngoài đồng thì lo cắt cỏ tươi để dành cho Trâu ăn buổi tốị Khi về chuồng thì phải quét dọn chuồng Trâu cho sạch sẽ, trải rơm rạ mới cho Trâu nằm. Ðổ nước sạch có pha chút muối cho Trâu uống. Nhưng bù lại, sau những lúc bận rộn săn sóc cho Trâu, các em mục đồng lại được dịp họp nhau mà đùa giỡn vui vẻ. Nhìn chung thì nghề chăn trâu khá dễ dàng, thích hợp với lứa tuổi trẻ em. Chẳng thế mà tên nào ưa làm biếng học hay bị nhiếc là "không học thì chỉ có đi.... chăn trâu". Nhưng nói vậy không có nghĩa là mục đồng nào cũng dốt cả đâu à nha. Bằng chứng là vua Ðinh Tiên Hoàng, vị anh hùng thống nhất đất nước, vốn xuất thân từ nghề mục đồng mà ra. Ông Ninh Thích, thời Chiến Quốc, tuy tài giỏi nhưng chưa gặp thời. Sau nhờ gõ sừng trâu, nghêu ngao hát mà tình cờ được vua Tề Hoàn Công biết đến và trọng dụng. Nhưng nghề chăn trâu coi vậy cũng không phải là dễ dàng cho lắm. Lơ đễnh mà để trâu đạp ngã cây lúa, hay ăn lúa thì rắc rối to. Ngay như chàng Ngưu Lang, dẫu là phò mã của Trời, lỡ sơ sểnh để trâu ăn lúa cũng bị trừng phạt ngay lập tức. Mà của đáng tội, Trâu vốn rất thích ăn lúa nhưng lại bị cấm không cho ăn. Nên hễ có dịp là Trâu ta bèn ăn vụng cho bõ thèm. Cho nên làm nghề chăn trâu phải biết rèn luyện sao cho họ nhà Trâu ngoan ngoãn vâng lời, kẻo không có ngày thậm cấp chí nguy. Nhất là khi "trâu ta" không chịu "ăn cỏ đồng ta" mà cứ xăm xăm đòi "xực phàn" lúa ruộng người. Phải biết săn sóc đàn Trâu chu đáo, không để Trâu bụng đói về chuồng, v.v... Tóm lại phải biết 1001 bí quyết trị... Trâu thì mới có thể ung dung vừa cưỡi trâu, vừa nghêu ngao hát: "Ai bảo chăn trâu là khổ..."
Như đã nói, Trâu vốn hiền lành, cả tin nên thường hay bị loài người bắt nạt mà chẳng biết. Cứ nai sức làm lụng hùng hục như... trâu. Ðể rồi khi nản chí, vừa toan tính... "quit job", thì lại được chủ ngọt ngào bảo rằng:
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng cấy cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đó, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa trổ bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Mới thoạt nghe qua, nào là "trâu ra ngoài ruộng cấy cày với ta". Rồi còn "ta đây, trâu đó, ai mà quản công" thì quả thật công bình, chí lý vô cùng. Thế nên Trâu ta lại nai lưng ra, kéo cày tiếp tục để hy vọng tương lai tươi sáng "bao giờ cây lúa trổ bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn". Giá Trâu cũng chịu khó ngẫm nghĩ "nhai lại" câu trên dăm ba lần, chắc đã nhất định "quit job" ngay lập tức liền. Vì vốn dĩ "Trời sinh... Trâu, sinh cỏ", Trâu ta đâu cần phải đem thân làm kiếp "trâu cày" để nhận lãnh những ngọn cỏ FREE trời cho chứ. Mà biết đâu, không cày, không bừa thì cỏ lại mọc nhiều hơn, mơn mỡn hơn gấp bội phần nữa ch Quả thật là bất công vô cùng, phải thế không? Lúa gặt xong, gánh về thì người hưởng cầ Phần Trâu chỉ được nhai vài hạt lúa. lép hiếm hoi sót lại nơi cọng rơm lạt lẽọ Thỉnh thoảng, chủ tội nghiệp tặng chút "bonus" để khuyến khích tinh thần, thế là nhờ "trâu bò được ngày phá đỗ" mà Trâu nhà ta lại hăng sức để cày bừa hùng hục tiếp tục. Chẳng còn cái dại nào hơn nữa, Trâu ơi.
Bản tính vốn rất hiền lành, nhưng đôi lúc Trâu lại bị loài người lôi cuốn vào các cuộc chiến. Ngày xưa, sau khi gặt hái xong, thường có tục lệ Chọi Trâu để giải trí nên người ta thường nhắc nhở nhau rằng:
Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về
Nhưng có lẽ đáng nhớ nhất là cuộc chọi Trâu thú vị của Trạng Quỳnh với sứ giả Trung Hoa. Chú Trâu đực dũng mãnh to lớn của Tàu đã phải chạy dài khi bị chàng Nghé nhỏ bé Việt Nam khát sữa rượt theọ Trong thời Chiến Quốc bên Tàu, nước Yên đã hạ được hơn 70 thành của nước Tề, chỉ còn sót lại một thành Cừ Tức Mặc. Tướng nước Tề là Ðiền Ðan dùng mưu bắt 1,000 con trâu đực khoẻ mạnh. Mình khoác áo đỏ vẽ nhiều mặc sặc sỡ, sừng buộc những lưỡi gươm nhọn sắc. Ðuôi buộc sẵn một nắm cỏ khô tẩm dầụ Khi xuất trận, quân Tề xua đàn trâu đi trước rồi đốt những túm cỏ khô buộc đuôi trâu. Bị nóng, Trâu cuống cuồng, xông thẳng vào trận địch. Khiến quân Yên hoảng sợ, ngỡ ma quỷ hiện hình, nên rối loạn hàng ngũ, giày xéo lên nhau mà chạy, chết rất nhiều. Thừa thắng, Ðiền Ðan đã chỉ huy quân Tề chiếm lại được những thành trì đã mất. Ðiển tích này đã được nhắc nhở trong hai bài Ðường Thi dưới đây:
Con Trâu
Mài sừng cho lắm cũng là Trâu
Ngẫm lại mà coi thật lớn đầu
Trong bụng lam nham ba lá sách
Ngoài cằm lem lém một chòm râu
Mắc mưu đốt đít, tơi bời chạy
Làm lễ bôi chuông, nhớn nhác sầu
Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ
Năm dây đàn gẩy biết chi đâu !
Học Lạc
Con Trâu Già
Một nắm xương khô, một nắm da,
Bao nhiêu cái ách đã từng qua
Ðuôi kia biếng vẫy Ðiền Ðan hoả
Tai nọ buồn nghe Ninh Tử ca
Sớm thả đồng đào, ăn đủng đỉnh
Tối về chuồng quế, thở nghi nga
Có người đem dắt tô chuông mới
Ơn đức vua Tề lại được tha
Khuyết Danh
Theo tục lệ ngày xưa, mỗi khi đúc xong một quả chuông đồng thì phải giết một con trâu làm lễ Hấn Chung, nghĩa là Bôi chuông. Lấy máu trâu bôi vào quả chuông, tiếng chuông đánh lên mới ngân nga và vang xa. Bài thơ trên còn nhắc đến việc vua Tề Tuyên Vương thấy người ta dắt con trâu đi để giết lấy máu tô chuông, liền tỏ lòng thương và ra lệnh tha cho con trâu này khỏi bị giết.
oOo
Ðầu năm mới tào lao thế cũng tạm đủ. Bài viết cũng nên chấm dứt, kẻo không cứ đem "đời tư" họ hàng nhà Trâu ra phân tích, bàn bạc theo kiểu:
Dí dầu, dí dẩu, dí dâu
Dí qua, dí lại, dí trâu... dzô chuồng
như vầy riết thì..... (hổng biết nói chi nữa :-)). Mến chúc các bạn một năm Ðinh Sửu vui vẻ và mạnh khoẻ (như Trâu). Riêng các bạn cầm tinh con Trâu, sẽ có một năm tràn trề may mắn, tiền bạc dồi dào (như cỏ ngoài đồng), tăng chức, tăng lương nhưng không tăng thêm việc làm (tránh khỏi cảnh cày hùng hục như... trâu). Với những bạn còn ca bản "Ðời tôi cô đơn" sẽ sớm gặp được ý trung... ngưu, ý quên, ý trung nhân. Những ai đã "yes, I do" thì sớm cộ. nghé ngọ để dzui nhà dzui cửa. Ai đã có nghé ngọ rồi thì.... có thêm nữa càng dzui :-))
Tứ Diễm
Jan. 20, 1997
Thú Dữ
Trong sở thú Marwood (Anh), có nhiều loại thú nhỏ, hiền lành và dễ thương. Nhưng ông chủ tỷ phú mới mua sở thú không cần biết chúng dễ thương như thế nào. Ông ta muốn mọi sự đen trắng phân minh: cuối năm, sở thú, một mối đầu tư, có mang lại được 20% lợi nhuận cho đáng công ông bỏ vốn?
Sợ mất lòng chủ và mất việc, ông giám đốc sở thú đòi sa thải mấy con thú vô hại để thay bằng những loại dữ dằn gây cảm giác mạnh lôi cuốn người xem. Trong khi đó, cậu con trai ông chủ lại có bao nhiêu sáng kiến về quảng cáo và biến sở thú thành khu vui chơi lành mạnh độc đáo, nơi trẻ con có thể thấy thiên nhiên mang nhãn hiệu các công ty lớn, và nếu may mắn, được nhìn ngắm con gấu Panda hiếm có nghiêng đầu nhe răng theo chu kỳ nhất định.
Với thành phần diễn viên cũ của Con Cá Tên Wanda (1) và lối khôi hài rất "phớt tỉnh Ăng Lê", Thú Dữ có tất cả sự lộn xộn, quýnh quáng, rối rắm, lầm lẫn và trật vuột của một phim hài, nhưng không ồn ào quá đáng. Không biết có phải chính vì tinh thần "phớt tỉnh Ăng Lê" mà cuốn phim không ngại ngùng cho một xác chết lót đường đi đến kết thúc có hậu ai cũng vui như Tết?
John Cleese là trục chính của cuốn phim, nhập vai dễ dàng và tự tin. Kevin Kline trở lại vai trò thích hợp của mình, mẫu đàn ông phù phiếm và... không có duyên. Jamie Lee Curtis, ngoài thân hình vẫn còn hấp dẫn, khá mờ nhạt tuy tròn vai.
Thú Dữ không phải là loại phim tham vọng, vừa muốn chọc cười vừa muốn có... chủ đề. Nhưng nếu bạn cảm thấy chán suy nghĩ và muốn có vài giờ phút giải trí nhẹ nhàng, Thú Dữ chắc chắn là một lựa chọn không cần đắn đo nhiều.
Hồ Như
(1) A Fish Called Wanda (1988)
Fierce Cretures (1997)
Ðạo diễn: Robert M. Young
Diễn viên : John Cleese, Kevin Kline, Jamie Lee Curtis
Hàng Xóm
Huân ngồi thẳng người, chăm chú xem truyền hình, tay mân mê lần da thuộc của chiếc ghế salon mới mua được mấy ngày, miệng chúm chím cười khoái chí. Giá như tiệm bàn ghế không "sale" 50% sau lễ Giáng-Sinh, chắc Huân vẫn chưa mua vội. Tội gì phải mua giá nguyên! Bộ salon nầy đã được Huân để tâm từ lâu nhưng những lần trước, tiệm chỉ "sale" 25% nên Huân vẫn còn tiếc tiền không mua. Huân tự nhủ:
- Phải "sale" 75% thì ông mới mua cho!
Thế nhưng, cái bản mặt vênh váo của người bạn hàng xóm mỗi lần nhắc đến bộ salon mà hắn mới mua làm Huân ngứa ngáy khó chịu. Huân nói thầm trong bụng:
- Mày kỹ sư thì kệ mày. Tao sẽ chơi trội gấp hai lần cho mày xem!
Cứ nghĩ đến Thanh, người bạn hàng xóm ấy, Huân lại nghe tức ưng ức. Năm ngoái, Huân vừa tậu chiếc tivi 26 inches hiệu Sony thì một tuần sau đó, Thanh lại khuân về chiếc tivi 28 inches. Ngày hôm sau, Thanh kiếm cớ sang nhà Huân chơi, nói bóng nói gió:
- Ấy, mình định mua cái tivi 26 inches như bồ nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thêm có 300 đồng nữa, tội gì không chơi!
Huân đâu chịu thua, đem cái tivi mới mua còn cáu cạnh bán rẽ cho một người anh bà con mới qua từ Việt Nam, rồi đến ngân hàng xin "credit line" để lấy tiền mua ngay cái tivi khác 32 inches. Mua xong, Huân tìm cách qua nhà Thanh để khoe. Khổ nỗi, dạo ấy vào cuối tháng bảy, gia đình Thanh đi nghỉ hè ở tận Myrtle Beach cả tuần nên Huân đành nuốt giận, chờ đợi ngày về của người tuy không bà con cật ruột, cũng chẳng phải là kẻ thù truyền kiếp nhưng cuộc sống cứ y như bám cứng vào cuộc sống của Huân. Vợ Huân thấy chồng cả tuần cứ đi ra đi vào, ăn ngủ không yên, mắt cứ lâu lâu lại trông sang nhà Thanh, cằn nhằn:
- Anh làm gì mà trông đứng trông ngồi người ta dữ vậy? Bộ nhớ vợ người ta hả?
Huân trợn mắt nhìn vợ:
- Em không nói thì thôi, mà cứ mở miệng là nói bậy. Vợ thằng đó có ra gì đâu mà anh phải nhớ!
- Nói vậy chớ vợ anh ấy "ra gì" thì anh nhớ sao? Mà sao anh ưa chê đè người ta dữ vậy?
Huân im lặng. Vợ Huân tiếp:
- Nói chơi chứ em cũng thừa biết là anh đợi người ta về để khoe cái tivi mới mua chớ gì! Mua tivi lớn hơn tivi người ta mà phải đi mượn nợ đầy đầu thì đâu sướng ích gì! Thà cứ xài cái tivi nhỏ mà có tiền đi nghỉ hè như người ta có phải khoẻ thân hơn không!
Như bị chạm nọc, Huân lớn tiếng:
- Anh nói em nghe, mấy thằng du học ưa ra cái điều tây phương. Thật ra chỉ là bắt chước tụi tây mà thôi. Ði du lịch như thế, được mẹ gì. Mua sắm đồ đạc thì còn, mà đi du lịch thì sau đó còn gì?
Vợ Huân thấy chồng giận, không thèm cãi nữa.
Chờ đợi mãi rồi ngày gia đình Thanh trở về cũng đến. Một hôm sau ngày Thanh về lại nhà, Huân tà tà ghé qua. Huân chưa kịp nói gì, Thanh đã khai pháo:
- Ông không đi voyage coi vậy mà sướng, đỡ tốn. Tụi này năm nào cũng đi, tốn tiền quá. Nhiều khi tôi muốn không đi nghỉ hè nữa, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy tội nghiệp mấy đứa nhỏ. Mình sanh chúng ra thì cũng phải làm đủ bổn phận cha mẹ. Bạn bè chúng ai cũng đi nghỉ hè, tắm biển mà chúng không được đi, chúng sẽ mặc cảm chết!
Huân càng tím ruột bầm gan vì nghĩ rằng tên hàng xóm khốn nạn biết mình thất nghiệp, không có tiền đi nghỉ hè nên nói xỏ nói xiên. Huân cố giữ bình tỉnh:
- Ấy, mình cũng thích đi tắm biển lắm chứ, nhưng khi xưa mình ở vùng biển, thường thấy người ta chết trôi nên sợ lắm. Con nít ham vui, mình làm sao coi chừng chúng phút này qua phút khác được, nhỡ chúng bị sóng cuốn ra cho cá mập ăn thì lúc ấy có ân hận cũng đã muộn màng. Anh đi tắm biển hoài, phải coi chừng lũ con lắm mới được!
Thanh biết là Huân rủa mình, nhưng chẳng thèm trả lời. Ðược thể, Huân tiếp:
- Mà nghĩ lại năm nay nếu mình theo ông đi nghỉ hè có lẽ đỡ tốn hơn. Số là mấy đứa nhỏ chê cái tivi cũ. Tính bà xã mình ưa chiều con nên mà mình lại chiều bà ấy nên mua đại cái Sony mới.
- Ông sang nhỉ!
- Sang thì cũng chả sang gì. Có điều mình không bần tiện thôi. Nhưng kể mình cũng xui, mua cái tivi 32 inches mà hình coi chả đẹp chút nào cả, còn có phần kém xa cái tivi 28 inches của ông nữa!
Thanh cười gằn:
- Thì đem mà trả lại cho hãng!
- Lúc đầu mình cũng tính vậy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy mất công lắm. Kệ, đời ta ba đời nó!
Biết Huân đang thất nghiệp, Thanh nói xéo:
- Thật ra tivi thì mua cho có vậy thôi chứ mình cũng đâu có thì giờ xem. Bồ rãnh cả ngày thì còn xem chứ tôi làm không hết việc trong sở, tối còn đem mấy cái "projects" về nhà làm tiếp thì còn đâu giờ giấc mà xem tivi!
Trở về nhà, Huân vừa khoái chí, vừa hậm hực. Khoái chí vì đã chơi trội tên hàng xóm một bực, còn hậm hực vì bị hắn xỏ lại. Huân lẩm bẩm:
- Mẹ mày, đừng tưởng có cái bằng kỹ sư mà làm phách. Hồi còn ở Sài Gòn, tao chấp hết mấy thằng kỹ sư bác sĩ. Tao chả cần là gì cả mà xế tao láng coóng, chúng mày bì thế nào được!
Trời chạng vạng tối. Huân không thèm bật đèn, ngồi một mình nơi salon mà nhớ lại thời vàng son xa xưa. Khi ấy, cha mẹ Huân có tiệm xuất nhập cảng xe honda trên đường Hàm Nghi, làm ăn khấm khá. Huân là con trai một, được nuông chiều nên không thèm ăn học gì mà chỉ lêu lổng chơi bời. Cha mẹ Huân thì không được sung sướng như đứa con cưng của mình, giàu thì giàu chứ cũng phải đầu tắt mặt tối cả ngày với hàng đống lettres de crédit, hàng trăm thứ giấy tờ và con số. Cha Huân xuất thân từ một gia đình nghèo, chịu khó quen rồi, cũng muốn kéo con vào khuôn khổ nhưng mẹ Huân vì quá cưng con nên cứ làm kỳ đà cản mũi:
- Thôi kệ nó ông, mình có một đứa con trai, nhiều nhỏi gì mà khắc nghiệt nó. Tiền của mình mai sau cũng để lại cho nó chớ cho ai. Bây giờ không cho nó xài, nhỡ nó có chuyện gì thì lúc ấy hối hận cũng đã muộn rồi!
- Bà cứ chiều nó cho nó sinh hư. Sống chết là cái số, nhưng làm trai mà không học hành thì coi sao được, người ta ai mà nể cho!
- Ối ông ơi, học hành mà làm gì thời buổi chiến tranh nầy! Ông coi mấy người đậu bằng bác sĩ kỹ sư kìa, rồi cũng phải đi lính đi tráng, lương được bao nhiêu! Mà tôi cũng đâu có học hành gì, bộ người ta khinh tôi lắm sao?
- Bà này cứ...
- Thôi đi ông, kệ mẹ con tôi. ông có chê thì bỏ tôi đi. Ông nên nhớ rằng nếu không có vốn của ba mẹ tôi cho thì với cái bằng cử nhân luật của ông, ông có được như ngày nay không?
Mỗi lần muốn dạy con trai thì mỗi lần vợ chồng gây lộn. Riết rồi cha Huân để mặc cho hai mẹ con Huân muốn làm gì thì làm.
Rồi đến ngày đất nước đổi thay. Cha Huân muốn đi theo dòng người tị nạn nhưng mẹ Huân thì tiếc của, không chịu đi. Cha Huân nài nỉ:
- Bà ạ, tôi ở ngoài đó trước năm 54, tôi biết chúng nó lắm bà ơi! Miệng thì nhân nghĩa mà lòng dạ và hành vi thì rắn độc thú dữ còn thua. Lúc nào cũng nhân dân làm chủ mà nhân dân thì cả chục người chui rúc trong một căn nhà như cái rọ còn lũ đày tớ chúng nó thì dinh thự nhà cao cửa rộng. Mình bỏ hết mà đi đi bà ơi!
- Hứ, ông nói! Cả cơ nghiệp mình làm quá nửa cuộc đời bây giờ bỏ ngang xương sao? Ông với tôi có cầm súng ngày nào đâu mà sợ? Cộng sản cũng là người chứ cọp beo gì sao mà sợ dữ vậy! Không, tôi không đi đâu hết. Ông đi một mình đi. Tôi còn thằng em bạn dì nó tập kết hồi đó bây giờ nó sẽ về. Nghe nói nó làm lớn lắm!
- Bà ơi, đừng bao giờ ỷ lại chúng nó bà ạ. Với chúng nó, anh chị em ruột hay cha con ruột còn chưa nghĩa lý gì, sá chi là chị em bạn dì bạn cô! Bà thấy đó, thằng Ðặng Xuân Khu chẳng đấu tố cha đẻ nó là gì. Tôi nói mẹ con bà nghe, mình đi đi, đừng tiếc của. Phải tiếc thân trước bà ạ. Còn thân thì còn của, lo gì. ở lại thì thân chẳng còn, nói làm gì đến của!
Cha mẹ Huân cứ dằng dai như vậy cho tới khi đường phố Sài Gòn đã đầy những tên lính cộng sản Bắc việt miệng còn hôi sữa. Cha Huân buồn lắm, nhưng biết làm gì. Huân thì ỷ vào tiền mẹ cho nên vẫn tung hoành xả láng.
Ðến 1979, khi bộ máy cộng sản đã đi dần vào khuôn khổ, lúc ấy mẹ Huân có hối hận nhưng đã muộn rồi. Qua hai lần bị đánh tư sản, gia đình Huân cũng không còn bao nhiêu. Nhà thì cộng sản không chiếm hết nhưng xin một nửa để làm trụ sở công an phường. Có trời cũng không dám ở, nói chi đến người. Thế là gia đình Huân phải dọn đi, đổi lấy một căn phố nhỏ, trong hẽm, gần xóm Bàn cờ. Người em bạn dì của mẹ Huân thì mấy lúc đầu ghé rất thường xuyên để xin khi thì chiếc xe honda, khi thì cái đồng hồ "không người lái", nhưng rồi sau đó cũng biến mất, không dám can thiệp gì.
Sau đó, ba mẹ Huân mót hết tiền bạc còn sót lại để lo cho vợ chồng Huân vượt biển trong đợt cộng sản đuổi Hoa kiều ra khỏi nước, khi tình nghĩa anh em xã hội chủ nghĩa đã nhạt phai mặc dù "núi vẫn liền núi, sông vẫn liền sông"!
Huân đến Mã Lai suông sẻ, rồi được Canada nhận cho ở tại Montréal.
Tiếng điện thoại chợt reo vang. Huân giựt thót mình, đứng dậy, bật đèn rồi cầm ống nghe:
- Allo.
Bên kia đầu dây, tiếng vợ Huân vang lên:
- Sao anh không đón em về?
- À... anh đi ngay!
Thì ra vì bận suy nghĩ, Huân quên giờ đón vợ. Vợ Huân, Lan, là người tương đối an phận. Nàng rất ít nói và chiều chồng. Có lẽ do thói quen từ khi còn ở Sài Gòn. Ngày xưa, gia đình Lan nghèo, cha nàng lại hay cờ bạc thành ra nợ nần tứ tung. Mẹ Huân là một trong những chủ nợ của gia đình Lan. Ðến ngày đổi đời, gia đình Lan cũng vẫn chưa trả nổi số nợ cho mẹ Huân. Một hôm Mẹ Huân đến nhà Lan để đòi nợ, thấy Lan hợp nhãn nên đề nghị với ba mẹ Lan xin cưới Lan cho Huân. Ba mẹ Lan nghĩ rằng con gái mình có thể có nơi nương tựa nên đồng ý ngay. Vả lại, biết đâu không nhờ mối tình sui gia mà mẹ Huân sẽ không đòi món nợ kếch sù. Riêng Lan, sau ngày đổi đời, cũng như nhiều cô gái khác, không còn định hướng nỗi tương lai của mình nên cũng gật đầu cho xong chuyện.
Từ Mã lai đến Montréal, gia đình Huân cũng như mọi người, nghĩa là sau khi rời khỏi trại Longue Pointe, người nào nhiều lắm cũng chỉ có một bao quần áo cũ và một sổ trương mục của ngân hàng Scotia tặng với kết số dư 10 đồng. Lúc đầu, Huân chán nản, không muốn làm gì cả, nhưng vợ Huân kiên trì khuyên nhủ nên Huân cuối cùng cũng chịu đi làm. Qua mấy năm sau, nhờ vợ biết quán xuyến tiện tặn nên vợ chồng Huân dành dụm được chục ngàn. Huân dùng số tiền ấy để "down" mua một căn nhà mới được xây dưới sự bảo trợ của thành phố, giúp người lần đầu mua nhà.
Cái không may mắn cho Huân là phần đông người Việt chủ các căn nhà mới ấy là những người có công ăn việc làm tương đối vững vàng. Một số là những kỹ sư trẻ, một số là công chức trung cấp, và tệ nữa cũng là những chuyên viên điện toán. Chỉ có Huân làm công việc mà phần đông người Việt mới đến hay làm: travail général. Travail général là làm tất cả, cái gì cũng có thể làm được nhưng không có cái nào chuyên môn. Tiền lương thì minimum hay trên minimum một tí. Thế nhưng, nhờ quyết tâm, nhờ không tốn những khoản tiền mà người mình mới qua cho là phù phiếm như voyage, ăn restaurant... nên Huân vẫn chu toàn được cuộc sống của gia đình. Chỉ có điều là ngân sách được tính sít sao lắm, thành ra hơi ngộp thở!
Trong những người Việt hàng xóm của Huân, chỉ có Thanh là gai mắt gai mũi nhất đối với Huân. Có lẽ vì nhà Thanh nằm đối diện ngay nhà Huân. Cũng có thể vì nhiều lý do khác chẳng hạn như việc Thanh ưa khoe bằng cấp làm phật lòng Huân. Ðể "chơi lại", Huân nói bóng nói gió để chọc tức người hàng xóm của mình. Nhận thấy vợ Thanh không đẹp bằng vợ mình, Huân nhận định với Thanh:
- Mai mốt, mình cưới vợ cho con thì phải lựa con dâu cho đẹp mới được!
- Lý do?
- Ấy, tại vì con mình không bảnh trai lắm mà lấy vợ xấu thì mấy đứa cháu còn ra thứ gì.
Thanh ứa gan lắm vì vợ Thanh là người được mô tả có cái nhan sắc của một người đàn ông xí trai. Ðể chơi lại, Thanh ưa mua những món đồ cùng hiệu với Huân nhưng lớn hơn, đắt hơn.
Sáng thứ bảy hôm đó, Huân đang ngồi trong phòng khách, nhìn xéo qua nhà Thanh, chợt thấy người realtor đang đóng tấm biển bán nhà. Huân khoái chí như mở cờ trong bụng. Ðúng là thằng ấy không dám "chơi" với ông nữa nên phải dọn đi! Buổi chiều, đợi Thanh về, Huân tà tà sang hỏi đểu:
- Bộ ông mất việc sao mà phải bán nhà?
Thanh dằn cơn tức, nhỏ nhẹ:
- Không, hãng mình làm càng ngày càng phát triển. Mình dọn đi chỗ khác vì tụi nhỏ càng lớn, căn nhà nầy càng ngày càng chật hẹp đối với gia đình mình, vả lại...
- Vả lại sao?
- Vả lại, hồi xưa mình mới có job thì ở tạm đây thôi, chứ khu nầy là khu bình dân, ở lâu con cái sao khá nổi!
Huân hứ một tiếng, bước về nhà, không thèm nói một câu từ giã.
Nguyễn Bá Dĩnh