vhnt, số 274
25 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Mặt Nạ........................................................Lê Tạo
2 - Lòng Buồn Như Thơ..........................Nguyễn Phước Nguyên
3 - Trăng..................................................Trần Thái Vân
4 - Một Năm Dài Tuổi Trần.....................................Ly Thơ
5 - Thân Phận của Thi Sĩ..................................Tô Thùy Yên
6 - Yêu Chi........................................................Bặt Âm
7 - Nỗi Buồn Thấy Ở Trong Nhau...............................Song Anh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
8 - Một ngày cuối năm trên con đường ở Boston..............................Trần Trung Ðạo
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h:
9 - Tản Mạn Về Một Nhà Thơ Nữ, Thủy Trang............Lê Mai Lĩnh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Con Ngỗng Ðầu Tiên.....................................Isaac Babel (Trịnh Tường dịch)
Thơ là tiếng hé môi đầu tiên của loài người. Thơ đến với người và ở lại với đời cho mãi đến ngàn sau.
Hình ảnh của thơ là cánh én đầu xuân, là sợi khói lam chiều, là vóc dáng gầy còm của ông lão, là giàn bông giấy đỏ của tuổi mười ba...
Thơ tôn vinh cuộc sống. Thơ đẩy đến tận cùng của hoài niệm, nhớ nhung. Thơ diễn tả rốt ráo hạnh phúc và đau khổ. Thơ bỏ màu đậm nét, phân biệt trắng đen. Thơ tiên tri thời cuộc. Thơ đẩy lùi quá khứ đau thương. Thơ hừng hừng nhựa sống, bước về tương lai trước mặt... Vì thế, tâm hồn người làm thơ có lúc nhẹ nhàng, cũng có khi tràn đầy bão nỗi.
Trong số này, bên cạnh những mục thường xuyên, trong phần thi ca, bạn sẽ bắt gặp những người thơ cũ mới như: Ðông A, Ðức Lưu, Sương Mai, Nguyễn Quốc Vinh, Hồ Ẩn Văn, Trần Hoài Thư. Và, vẫn như bao giờ, Trần Thuyên giới thiệu đến chúng ta những bài thơ bằng Anh ngữ chọn lọc, và cũng được chuyển sang phần Việt ngữ rất nghệ thuật của anh.
Nàng thơ đang bước đến. Nhưng, điều quan trọng là ta có sẳn sãng giang rộng vòng tay để đón nhận nàng hay không, phải không bạn?
Chúc các bạn tìm được niềm vui trên diễn đàn này.
Lê Tạo / VHNT
Mặt Nạ
Người dấu sau mặt nạ
những trùng trùng kẽm gai
đẩy ta vào địa ngục
hỏa thiêu trọn hình hài.
Tóc người buông nghìn lối
ngõ nào chốn thiên thai
Hơn một lần ta đuối
xuôi theo những gót hài.
Tiếng người như chim hót
vực ta từ đáy sâu
lên cao, lên cao vút
rớt xuống nghìn lưỡi dao.
Bước người như chân sáo
nhún nhảy trái tim ta
Hơn một lần lỗi nhịp
vỡ oà vạn xót xa.
Tim người mang mặt nạ
ngốc nghếch ta dại khờ
gió bao giờ ngừng lại?
ta tin: người yêu ta!!!
Ðời mang toàn mặt nạ
mặt trống bọc da người
chiều nay ta lên núi
nhìn trời, nghêu ngao chơi.
1992
Lê Tạo
lòng buồn như thơ
vâng, người già có nỗi buồn của người già
nhưng người trẻ có nỗi buồn chẳng trẻ
- Lưu Quang Vũ -
có những lúc lòng đau
mình hãy cười thật lớn
tránh ánh mắt nhìn nhau
(những điều nhìn thấy, ớn!)
đời đâu còn mơ mộng
theo gió lồng lộng bay
vất vưởng dưới tàn cây
chiếc võng buồn tuổi trẻ
những thằng con lạc mẹ
trong vất vả văn chương
mong tìm gặp quê hương
tay ôm đầu, thơ khóc
cổng trường đời mời mọc
những lừa lọc, đãi bôi
bạn bè vào lớp học
ta đứng giữa sân chơi
hỏng mùa thi, sách đốt
ta đôn đáo ngược xuôi
tuổi trẻ mình, con chốt
đem thí giữa cuộc vui
một hôm tình yêu đến
(ngỡ bờ bến bình yên)
mỗi năm thắp ngọn nến
hai năm, tình đã quên!
mười năm, lần nhìn lại
mà đau xót màu da
du mục đời oằn oại
lang thang đất người, ta
thơ làm sao về được
đến quê nhà phong niêm
nên hai tay chống ngược
cho máu chảy về tim
(quê hương mình sẽ gọi
bằng tiếng lòng lặng im)
buổi chiều nay thơ khóc
ngày cuối tháng tim đen
thơ trào từ tim, óc
tìm một người thân quen
để còn nghe tên gọi
bằng tình người nhúm nhen
npn
Trăng
Còn đây trăng một ánh
Ðầu đông đứng nhìn đời
Ðêm về đêm rất lạnh
Tháng chạp buồn chơi vơi
Cả năm trăng đứng lẻ
Trọn đời gió đi hoang
Ðịa đàng xưa vắng vẻ
Chim xa bay lên ngàn
Ta về từ tâm thức
Tìm một nẻo hồng ân
Dấu chân ngày che khuất
Tuyết dựng đường đông phân
Trăng gầy như trí nhớ
Ðùng đục màu thời gian
Áo quần chừng bỏ lỡ
Nên muôn đời vẫn vàng
Ta đi từ vô thức
Tìm suối chảy tâm linh
Nghe đêm về đau nhức
Dưới giọt sương vô tình
Trăng chỉ còn ấn tượng
Không màu sắc hình thù
Bóng hằng nga vất vưởng
Múa trên vầng thiên thu
Trăng cuối năm tháng chạp
Như đầu năm tháng giêng
Ta đi về khác lúc
Vẫn chung mối ưu phiền...
trần thái vân
Một Năm Dài Tuổi Trần
Một năm dài mệt mỏi
Em bó gối ngồi nghe
Cuộc tình trôi nhè nhẹ
Như hè về lối xưa
Một năm dài đong đưa
Em vừa thôi dệt mộng
Nên trời mưa lọng cọng
Thành mảnh vỡ dưới chân
Một năm dài tuổi trần
Em làm thân cỏ lá
Chưa vàng khi mùa hạ
Mà hồn đã sầu riêng
Một năm dài triền miên
Em về nghiêng nỗi nhớ
Chất đầy vào trăng thơ
Lung linh bờ dĩ vãng
Một năm dài lãng đãng
Em nhỏ dáng vai gầy
Chấp nhận thân phận nầy
Như bóng cây đơn độc
Ly Thơ
thơ Tô Thùy Yên
(trích tập Thơ Tuyển - 1995)
Thân Phận Của Thi Sĩ
1.
Cô đơn bằng Thượng Ðế,
Yếu đuối nhu linh hồn,
Làm sao tôi trèo lên
Vực thẳm tờ bản thảo
Trắng im lìm giá băng.
Ngó thấy tự đằng xa,
Cuộc đời hàm tiếu thật.
Tôi lỡ dại ôm ghì
Làm dập hoa, sướt gai
Còn gì tuổi trẻ nữa?
Chắc tôi sẽ cắt đứt
Huyết mạch cánh tay buông.
Tất cả máu có thêm
Dòng nào cho tiểu sử?
Có xóa dùm nó chăng?
Chẳng bao giờ danh vọng
Mọc đôi cánh lang thang.
Triết lý dạy cắn răng.
Tôi kiệt sức, kiệt sức.
Cuộc đời, cuộc đời ơi.
2.
Thần thánh rủi hụt chân
Rớt xuống trần oan hận,
Thấy nhà thờ kính cẩn
Thành lưỡi gươm tuốt trần.
Có đọc thuộc thánh thư,
Linh hồn tôi vẫn vậy.
Tôi vẫn không thể lạy
Dù đứng trước hư vô.
Ðầu tôi cứng và trơn,
Thượng Ðế làm sao ngự?
Tôi đành trốn chủ nợ
Ðịnh mệnh đòi linh hồn.
Năm tháng nhúng hoàng hôn
Ðến rã rời thể xác.
Tôi thấy đã mất mát
Tất cả trừ cô đơn.
Cuộc sống nhiễm lầm than
Nằm liệt trên buồn bã.
Thượng Ðế điềm nhiên lạ.
Tôi đánh liều cười khan.
Yêu Chi
Lá đùa trên mặt lộ
Trong dòng xe chạy nhanh
Em và tôi quẩn quanh
Trong cuộc tình không tới
Không yêu là có tội
Yêu rồi còn tội hơn
Có gì đâu (ngoài) nụ hôn
Trao nhau trong tất tả
Ðời chia nhánh muôn ngả
Em đi về một phương
Tôi bằn bặt nhớ thương
Một tình yêu mưng độc
Tìm về nơi rêu mọc
Hoài niệm dĩ vãng xưa
Run rẩy buồn trong mưa
Một nhánh cây cô quạnh
Bặt Âm
(02/19/1997)
nỗi buồn thấy ở trong nhau
ở bên nầy cuộc sống
buồn, cũng giống nhau thôi
mình ngậm kín trên môi
chỉ nhìn nhau, cũng hiểu
đừng trách tao cười, diễu
tao cũng trĩu lòng đau
chỉ có khác là tao
không thét gào, đấm ngực
cùng đứng bên bờ vực
đời chờ chực đẩy xô
trên triền sóng nhấp nhô
mày và tao chới với
với nhau hoài, không tới
giữa thế giới lặng câm
tao gọi, mày nghe không
bằng tiếng lòng đứt đoạn
đừng rủ tao nỗi loạn
mình cũng phải chờ phiên
cả nhân loại đang điên
thêm hai thằng, cũng vậy!
chớ trách tao nói bậy
đừng nghĩ nữa, là xong
cuộc sống vốn bất công
là những vòng hệ lụy
mày nhớ nhà tiều tụy
tao chết, quị, trong tim
thôi, mày hỡi, lặng im
cho lắng chìm nỗi nhớ
đêm hai thằng nằm mớ
gọi ấm ớ... quê hương
song anh
Một ngày cuối năm trên con đường ở Boston
"Boston có gì đặt biệt kể anh em nghe chứ ", một người bạn mới quen trong một lần ghé lại Santa Anna vào đầu tháng trước, hỏi. Tôi chưa kịp trả lời thì anh chàng lại hỏi tiếp "Anh đi nhiều nơi, có thấy đâu đông đúc và sang như khu Little Sai Gon không?" anh chàng vừa hỏi, vừa nhìn ra con đường Bolsa tráng lệ với hàng trăm siêu thị, nhà hàng đầy màu sắc sặc sở chạy dài mút mắt. Ánh mắt anh ta không dấu được niềm kiêu hảnh về khu Bolsa, một trong những thành tựu lớn nhất của người Việt tại California. Tôi nhâm nhi thêm hớp trà để câu giờ một hồi rồi đáp: "Có chứ, ở Boston có đường Dorchester cũng chẳng thua gì Bolsa của Quận Cam". Tôi tự cảm thấy sự so sánh của mình là quá đáng, bèn vớt vát "dĩ nhiên mức độ sầm uất cũng tỉ lệ với dân số, không thể so sánh giữa một thành phố có trên trăm ngàn dân Việt như Santa Ana và thành phố có khoảng chục ngàn dân Việt như Dorchester ở Massachusetts". Sầm uất cở một phần mười khu Bolsa cũng làm bà con ngán lắm rồi, tôi nghĩ thế. Không ai có phản ứng gì về câu trả lời của tôi, vì đơn giản, trong số cả chục người cùng ngồi tán dốc trong quán cà phê ở khu Phước Lộc Thọ sáng hôm ấy chưa ai nghe tới đừơng Dorchester ở Boston bao giờ.
Sáng hôm sau, ngồi trên máy bay trở lại Boston, nhớ lại câu chuyện, tôi cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ vì tính tự ái dỏm của mình thì ít nhưng xấu hổ với con đường Dorchester khiêm nhượng thì nhiều. Lẽ ra tôi không nên đem con đường Dorchester nghèo nàn để so sánh với đại lộ Bolsa huy hoàng tráng lệ kia. Làm như thế là gián tiếp mỉa mai và khinh rẻ con đường mà tôi đang sống. Làm như thế là có lỗi với con đường mà tôi đã đi qua trong suốt gần mười năm nay. Trên con đường đầy ổ gà, không sạch sẽ, thiếu bóng cây, bóng đèn ấy tôi đã cư ngụ, gia đình tôi đã cư ngụ, hàng ngàn đồng bào tôi đã cư ngụ.
Bao nhiêu người đã ăn nên làm ra cũng nhờ vào con đường nầy, mặc dù không phải ai cũng biết ơn nó. Cách đây không lâu một người bạn kể lại câu chuyện một ông nhà giàu (nhà giàu ở đây có thể là bác sĩ, nhà buôn, chủ tiệm v.v...) nọ có hai ba cơ sở làm ăn (có thể là phòng mạch, tiệm buôn, v.v...) ở Dorchester, có năm bảy căn nhà cho thuê ở Dorchester nhưng khi được hỏi có phải nhà ông ta ở Dorchester thì ông ta lắc đầu quầy quậy "tôi ở ngoại ô, chung quanh toàn da trắng không à". Chẳng những thế ông ta còn phán rằng "Dorchester là thành phố tội ác dẩy đầy, trộm cắp lia chia, ai mà dám ở". Ông ta chắc phải biết, trừ phi ông mang từ Việt Nam một tài sản kếch sù, sự giàu sang mà ông đang có cũng phát xuất từ con đường đầy bụi bặm ấy. Thế mới biết, không phải ai cũng nhớ tới nguồn gốc của chính mình, không phải ai cũng nhớ đến quá khứ nghèo nàn, khốn khổ của mình, không phải ai cũng nhớ đến những ngày đầu tiên đi sắp hàng mua từng vỉ cánh gà, từng gói mì ăn liền bằng Food Stamps trong cái rét căm căm của miền đông bắc. Tôi cũng vậy, khi đem Dorchester ra để so sánh với đại lộ Bolsa nguy nga tráng lệ, cũng đã có lỗi với con đường Dorchester rồi.
Trên con đường đó tôi đã gặp và làm quen với một bác HO già. Bác thường hay đứng trước cỗng nhà tôi để đón xe đi làm tiền mặt. Chủ đưa bác đi đâu thì bác đi đó. Một hai tuần đi làm cho hảng giấy, dăm ba tuần đi làm hãng nhựa. Cái giá của tự do không rẻ chút nào. Năm nay, bác chắc đã trên 60 tuổi. Mái tóc đã bạc phơ và bao nhiêu vết nhăn đã hằn trên khuôn mặt già nua, kết quả của những năm dài lo âu và tù tội. Tôi chợt nhớ bài thơ "Người Lính Già ở San Jose" tôi viết cách đây mấy năm khi chương trình HO đang ở cao điểm. Có lần tôi hỏi "bác mơ ước gì nhất bây giờ", bác trả lời rất gọn "Về nhà", nhưng rồi bác lại nói "dĩ nhiên là khi đất nước không còn Cộng Sản". Tôi tin rằng đại đa số người Việt đều nghĩ và mong muốn như bác. Tôi cũng tin rằng chúng ta dù có hàng trăm điều khác nhau, mâu thuẫn nhau, không đồng ý với nhau thậm chí ghen ghét lẫn nhau nhưng trong tận đáy lòng của mỗi người cũng đã chia xẻ một mẫu số chung quan trọng đó. Bác không thích nói về chuyện riêng đời mình. Khi hỏi bác về chức vụ, bác cười "tôi cũng là lính già như người lính già trong thơ anh thôi". Tôi mời bác đi tham dự đêm thơ nhạc 30/4. Bác đến và rất thích bài thơ "Người lính già ở San Jose", chỉ vì hoàn cảnh của bài thơ gần gũi với tâm sự bác. Có lần tôi hỏi bác "vợ con bác ở đâu?" Bác chỉ đáp bâng quơ "Chúng không ở đây". Câu trả lời mơ hồ của bác cũng đủ để tôi hiểu chuyện đời bác không có gì vui để kể. Trong diễn văn nỗi tiếng đọc trước quốc hội Hoa Kỳ, danh tướng Douglas McArthur đã kết luận bằng một câu danh ngôn "người lính không bao giờ chết họ chỉ tan dần đi mà thôi". Người lính già ở San Jose và người lính già ở Boston đang tan dần vào lịch sử Việt Nam trong những cách khác nhau như thế đó. Năm, mười năm sau, một trăm năm sau, hai trăm năm sau, các nhà sử học Việt Nam biết đâu lại chẳng đến con đường Dorchester đầy bụi bặm hay đại lộ 101 ở San Jose để tìm lại dấu vết của những người lính già VNCH đã tan đi trên đất khách.
Trên con đường đó mỗi buổi sáng tôi đã gặp hàng trăm tuổi thơ Việt Nam sắp hàng ở góc Savin Hill, Fiels Corner... chờ xe bus đưa đến trường. Những chiếc xe bus màu vàng nối đuôi nhau đưa các em đến tương lai huy hoàng của nước Mỹ. Nói như tổng thống Bill Clinton, các em là chiếc cầu của tương lai hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Các em may mắn quá. May mắn lớn nhất là không phải là được làm công dân của một cường quốc nhưng là vì các em không phải sống trong những ngày cháo rau khoai sắn như hàng triệu đứa trẻ cùng thế hệ các em bên kia bờ trái đất. Các em sẽ không bao giờ hiểu thế nào về những cụm từ "kinh tế mới", "trại cải tạo", "kế hoạch nhỏ", "trồng cây, trồng người". Các em sẽ lớn tự nhiên như cỏ dại, hoa rừng, vươn lên trong cuộc đời một cách hiên ngang, không sợ hãi. Các em sẽ cố gắng học để trở nên những Eugene Trịnh, những David Ho, những thiên tài gốc Á Châu đã làm rạng danh nước Mỹ. Anh chỉ muốn nhắc em một điều mà cách đây không lâu, một nữ học sinh đã nói trong một hội nghị về nhân quyền ở Châu Âu "em không bao giờ quên rằng em là người Việt Nam". Chừng đó đủ rồi, và chừng đó cũng can đảm lắm rồi. Biết bao nhiêu người không nói lên được những lời đơn giản đó. Nước Việt Nam vẫn còn đó em ạ. Ngày tổ tiên ta vượt sông Dương Tử cho đến bây giờ đã hơn bốn ngàn năm rồi. Em biết không? thân hình nhỏ nhoi, mái tóc đen, chiếc mủi tẹt, màu da vàng mà em đang có là sự tích lủy của bao nhiêu máu xương, mồ hôi, nước mắt trong suốt bốn ngàn năm di truyền của giòng giống Lạc Long. Thế hệ của anh, của cha mẹ các em, và nhiều trong số các em, đã không chỉ vượt qua sông mà còn vượt qua cả một Thái Bình Dương bao la sóng gió để tìm đất sống. Nhưng chúng ta cũng sẽ trở về với sông Dương Tử, về với quê hương Việt Nam thân yêu em ạ. Ðất nước ta dù còn đang bị che khuất bởi đám mây đen nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ đen như thế mãi.
Trên con đường Dorchester, tôi đã gặp những quán ăn thanh lịch, những tiệm quán dể thương, những cơ sở thương mại tiện nghi và đa dụng. Nhưng quan trọng nhất Dorchester vẫn là nơi gặp gở của những người quen thân đầp ấp chân tình. Buổi sáng đi ra đường là nghe tiếng nói Việt Nam, nghe tiếng cười Việt Nam, tiếng chào hỏi Việt Nam vang lên ríu rít. Nụ cười đâu mất tiền mua nhưng tặng nhau nụ cười là món quà tinh thần quý giá nhất, làm ấm lòng nhau trong những mùa đông nơi đất khách như thế nầy. Trong những chiếc áo còn dính đầy sơn, những chiếc quần còn đóng bụi, các chị các anh đã quây quần, quấn quít lấy nhau. Cần gì phải biết tên, biết họ. Trên thế giới nầy người ta có thể giả mạo nhiều thứ, tiền bạc, máy móc, dung mạỗ.. nhưng tôi tin không ai có thể giả mạo được tiếng cười và tiếng khóc Việt Nam. Những ly cà phê phin nóng hổi, những điếu thuốc mời nhau làm vơi đi bớt những cực nhọc lo âu sau một tuần vất vả. Những anh chị làm nghề xây dựng, làm work center hẹn nhau ở Ba Lẹ, ở Viễn Ðông, ở Fields Corner. Những chuyến xe dừng lại đón người, đi và đến, nhịp nhàng và đều đặn. Nghĩ lại những ngày tôi mới đến Mỹ cách đây 15 năm mà tội nghiệp cho chính mình. Ngày đó, làm gì có cà phê phin, phở Hòa, Bánh Mì Ba Lẹ. Mỗi sáng, tôi ra Dunkin Donut mua một ly "rè-gu-lơ cốp-phi" và rồi lội bộ 2 dặm đường kiếm dăm ba chữ Mỹ. Muốn thêm một chút đường hay bớt đi chút sữa cũng không biết làm sao nói cho cô gái tóc vòng mắt xanh kia hiểu. Bây giờ bà con đở hơn chúng tôi xưa nhiều, có Hội Việt Mỹ để học Anh Văn, có Fields Corner Insurance, Nguyệt Nga Lang... để lo bảo hiểm xe cộ, nhà cửa, có bác sĩ Chỉnh, bác sĩ Nhuận, bác sĩ Hiệu... để chăm lo sức khỏe, có Trường Thịnh, Viễn Ðông để mua sắm thức ăn, có chị Dung để nướng bánh mì Ba Lễ Bây giờ, bà con có đông đảo người Việt để hỏi han nhau, chia xẻ với nhau những chuyện vui buồn. Mọi giá trị, dù vật chất hay tinh thần, nếu có nhiều quá thì cũng bị giảm giá, cũng có chuyện không hay xảy ra, nhưng thà có nhiều còn hơn không có, phải không bà con?
Cái đẹp và chiều sâu của thành phố Boston, của con đường Dorchester không thể hiện ở chỗ nguy nga, tráng lệ, sang trọng nhưng là ở những tấm lòng của mỗi người Việt Nam đang định cư trên thành phố nhỏ nầy. Tất cả rồi sẽ qua đi chỉ có tình người là còn lại. Một trong những nhà văn quen thuộc với văn học Việt Nam trong nước trước 1975 cũng như tại hải ngoại hiện nay, là Trần Hoài Thư cũng đã yêu mến một cách say mê con đường Dorchester như chính tôi đã và đang yêu mến. Tôi xin trích một đoạn khá dài của anh Trần Hoài Thư mới gởi lên Internet sáng nay, để làm kết luận cho bài viết, và cũng để chia xẻ với độc giả niềm hảnh diện về thành phố, về con đường mà chúng tôi đang sống. Anh Trần Hoài Thư viết "Mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa làm xong bài thơ nói về một thành phố đã cho tôi những cơn say rất ngọt và những đêm thức trắng trong mỗi lần tôi ghé lại. Bởi tôi đã bất lực trong việc diễn tả nỗi kỳ diệu này. Những bạn hữu đã quen rất lâu hay những người mới gặp một lần. Những tấm lòng tri âm và tri kỷ.v.v. Không phải ở Boston có MIT hay Harvard. Chúng dành cho người bản xứ, từng một thời là nơi dành riêng cho giai cấp giàu có và địa vị của Mỹ. Không phải Boston có thư viện rất nổi tiếng nằm bên bờ Ðại Tây Dương, với lối kiến trúc rất tân kỳ, nổi tiếng nhất nhì của nước Mỹ. Cũng không phải Boston có một mùa thu tuyệt vời ở những cánh rừng ngoại ô. Cũng không phải Boston có một truyền thống văn hóa rất đặc thù từ những người tiền phong theo chiếc tàu May Flower. Ðó là chuyện của người bản xứ. Còn đối với người Việt xa xứ này, nó cũng vẫn như mọi thành phố khác. Con đường Dorchester qua những tiệm ăn, tạp hoá Việt Nam. Và một khu Việt. Và những gương mặt da vàng. Và những lời trao đổi bằng tiếng mẹ đẻ vang trên bãi đậu xe. Ðời sống vẫn bận rộn. Cõi lòng vẫn quay quắt. Nhớ nhung vẫn bão bùng. Bạn hữu mấy thằng trôi thất tán. Mấy thằng đợi một chuyến đò ngang... Cái mẫu số chung ấy là mẫu số của bất cứ người tị nạn nào trong chúng ta... Cám ơn Boston với những con tim kỳ diệu. Nếu không có những con tim này, tôi nghĩ, chắc chắn sẽ không có Trần Trung Ðạo. Có phải vậy không Ðạo."
Cám ơn anh Trần Hoài Thư, đúng vậy, tình người đã nuôi sống chúng ta cho đến ngày nay và sẽ nuôi sống dân tộc ta mãi mãi sau nầy. Xin hãy vì tình người mà sống và xin hãy đem tình người để đối đải với nhau.
Trần Trung Ðạo
Boston cuối năm 1996
Tản Mạn Về Một Nhà Thơ Nữ, Thủy Trang
Dòng Thơ Lưu Lạc 1 là tựa đề của một tập thơ gồm của hai người, một đàn ông, một đàn bà.
Viết về người đàn ông, không phải là tôi không làm được nhưng tôi không làm. Viết về người đàn ông, lại là người đàn ông thi sĩ, dễ dẫn tới những tai nạn mà hậu quả không thể lường trước được. Rất có thể sẽ mất cái đầu để không còn mái tóc phiêu bồng. Rất có thể sẽ mất cái mũi để không còn biết hương thơm của cuộc đời. Rất có thể sẽ mất hàm răng để không còn nhâm nhi thực phẩm trần gian. Rất có thể sẽ mất đôi tay để không còn cầm ly thù tạc với những ông thần nước mặn như Lâm Chương, Dư Mỹ, Trần Hoài Thư, Phan Xuân Sinh, Trần Trung Ðạo, Phạm Văn Nhàn, Trần Doãn Nho, Lương Thư Trung, Ðông Nghi, Trần Mộng Lâm, Nguyễn Bá Dĩnh... Rất có thể sẽ mất đôi mắt để không còn chiêm ngưỡng dung nhan mùa hạ, mùa thu, mùa xuân hay mùa đông của những cô nương nõn nường đẹp như sương khói...
Ví dụ như, nếu tôi khen thơ của hắn ta hay (mà thơ hắn ta hay thật), hắn ta sẽ cho rằng, nhân loại có trên năm tỷ người thì đã có tới 99.99 phần trăm đã công nhận thơ của hắn hay, thì việc tôi khen thơ hắn hay là việc bằng thừa. Hay đôi khi hắn gọi tôi khen theo, ăn có, khen theo phong trào. Nghĩa là tôi không được gì hết.
Ví dụ như, nếu tôi chê thơ của hắn dở (mà thơ của hắn dở thật), hắn ta sẽ cho rằng, cái thằng cha mắm ruốc, mắm nêm là tôi biết chó gì thi ca mà bày đặt lạm bàn, lạm ghế. Chẳng may gặp đứa thích dùng tay chân có máu võ sĩ trong người thì to chuyện. Handicapped như chơị Tôi ngu gì. Ðời còn đẹp.
Nhưng viết về đàn bà thì mức độ an toàn cao hơn, ít lắm cũng 99.99 phần trăm.
Ví dụ như, nếu như tôi khen thơ của bà ta hay (mà thơ bà ta hay thật), hy vọng tràn trề là bà ta sẽ cảm ơn tôi, theo sau là nụ cười và cái liếc mắt có đuôi sẽ chạm vào người tôi thành một tiếng nổ vì trong tôi luôn luôn có một quả mìn chưa được châm ngòi. Nổ được là một điều hạnh phúc. Hay tôi còn gọi nụ cười đường phèn và cái liếc mắt nam châm hết sãy.
Ví dụ như, nếu tôi chê thơ bà ta dở (mà thơ bà ta dở thật), thì nhìn vào khuôn mặt bà ta sẽ biết sắp mưa giông hay bão tuyết. Dù thế vẫn vô hạị Và hẳn nhiên bà ta sẽ nói thêm: "Em chả chơi với anh nữa đâu. Anh kỳ thấy mồ. Bye bye". Người đàn bà làm thơ bỏ đi và tôi đứng đó tiếc hùi hụi. Nhưng biết làm sao được. "Âu là tại số."
Những điều tôi vừa nói ở trên là tôi nói chung chung, chẳng nhắm vào ai. Chẳng phải tôi nói riêng cho Nguyễn Bá Dĩnh hay Thủy Trang là đồng tác giả của Dòng Thơ Lưu Lạc. Cũng chẳng phải tôi nói với Hồ Xuân Hương hay bà Huyện Thanh Quan hay Ngô Minh Hằng hay Xuân Thiên Vị. Chẳng qua là tôi dùng cái chung chung đó để làm phần nhập đề cho một phóng bút về Thủy Trang.
Trong Dòng Thơ Lưu Lạc , phần thơ của Thủy Trang là 18 bài. Bài thơ dài nhất có 20 câu là bài Mưa đêm nhớ quê. Hai bài ngắn nhất gồm 4 câu là bài Buồn và Bên bờ mộng.
Với ngần ấy bài thơ, với ngần ấy chữ, với ngần ấy nghĩa, với ngần ấy thời gian cầm bút, tôi có một nhận xét là Thủy Trang làm thơ chưa đều tay. Nhận xét này bảo đảm trăm phần trăm đúng cho những người đi vào đời thơ chưa lâu. Chưa đều tay. Ðiều này dễ nói nhưng nhiều người tránh nói vì cả nể hay vì sợ mất lòng người đẹp. Lại là một người đẹp thi sĩ nên dễ khiến người ta sợ mà không nói ra.
Cái sự không đều tay này bắt nguồn từ nguyên nhân như sau: thiếu kinh nghiệm sống. Do vậy làm thơ trên cái vốn trời cho và bằng những cảm xúc, chất liệu loanh quanh có sẵn.
Có một câu nói nhiều người thường nói nhưng lại là một câu tôi ghét nhất, đó là "Thơ mình, vợ người". Có nghĩa nói rằng thơ mình là số một, vợ người là number one.
Chỉ có những tên ngu dốt mới quan niệm như thế. Những tên như thế chẳng đáng được gọi là thi sĩ. Thi sĩ gì cái đứa ngu bỏ mẹ như thế. Anh phải có một sự thông minh tối thiểu để thấy rằng, bài thơ nào của anh là được, là khá, là hay và những bài thơ nào cần bỏ đi, vứt vào sọt rác. Anh cũng phải thấy rằng, có những bài thơ của người khác là dở và có những bài thơ của người khác suốt đời chưa chắc anh đã làm được hay như họ. Về vợ mình, vợ người cũng thế. Ca dao có câu:
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng
Cơm nguội, đó chỉ là một cách nói khiêm nhường của người đàn bà cho xuôi việc mà thôị Chứ trong họ luôn luôn là núi lửa, là bếp than hồng nếu như anh biết khơi, biết thổi, biết hà hơi tiếp gió, biết đun nóng nấu sôi. Còn như anh cứ "thơ mình vợ người" láng cháng có ngày vào nhà thương hay nghĩa địa là cái chắc.
Kinh nghiệm chiến trường không ít, trận mạc tham dự cũng nhiều, thế mà khi đụng vào thơ Thủy Trang có vẻ như tôi đang run nên cứ vòng vòng bên ngoài, thậm thụt ở biên địa, án binh bất động bên này biên giới, chưa muốn vào sâu tiến nhanh, chưa muốn dứt điểm thu gọn chiến trường. Tại răng rứa. Là vì, tôi chưa tin tôi đủ sáng suốt, bình tỉnh, để nói và viết những điều cần viết và nói. Tôi muốn bài viết của tôi phải đúng, hay và mới mẻ. Nhưng thế nào là mới mẻ, là hay là đúng thì khó định hình cho chính xác. Cái khó là ở chỗ đó. Biết làm răng bây chừ.
Như trên tôi đã nói, Thủy Trang, qua 18 bài thơ trong Dòng thơ lưu lạc chưa được đều taỵ Như thế có nghĩa là có cái thì ngắn có cái thì dài, có cái cao có cái thấp, có cái rộng có cái hẹp, có cái rất hay có cái không hay. Cái hay tôi sẽ nói sau, giờ thì tôi nói cái không hay trước.
Chẳng hạn như trong bài thơ Bóng xuân có những câu như sau:
Năm nay xuân đến... thôi thì cũng
Lại nấu bánh chưng cho đỡ buồn
Nhân bánh còn gì hơn kỷ niệm
Mặn nồng thì cũng của quê hương
Hai câu thơ trên (1 và 2) ta nghĩ tới bánh chưng thật, cụ thể là nếp, thịt và mỡ heo, tiêu, muối, hành, bột ngọt được bọc bởi lá chuối hay nylon. Nhưng ở câu thứ ba Nhân bánh còn gì hơn kỷ niệm làm ta nghĩ tới một thứ bánh chưng vẽ, không có thật. Chúng ta cũng có thể hiểu, theo tác giả, bánh chưng trong ba ngày Tết là món ăn quốc hồn quốc túy, gợi ta nhớ tới kỷ niệm quê nhà. Ðây là một ý hay. Nhưng gọi là nhân bánh còn gì hơn kỷ niệm dễ gây khó hiểu cho độc giả.
Hay trong một bài thơ khác là bài Dặn dò, trang 36 có những câu như sau:
Con buồn có lẽ cũng nhiều
Nếu không con chẳng khóc chiều hôm nay
Ba đi thoát nợ kiếp này
Mà sao con lại buồn ray rứt buồn
Hay là con sợ quê hương...
Quá xa xôi để ba còn nhớ ra
Nửa vòng trái đất mù xa
Lối nào thì cũng phải qua nghìn trùng
Qua đoạn thơ trên, với những câu Ba đi thoát nợ kiếp này hay Lối nào thì cũng phải qua nghìn trùng khiến người ta nghĩ tới người con khóc cha ngày cha qua đời, chết. Ý tưởng trên còn được bổ khuyết với hai câu cuối của bài thơ Mai kia đất nước yên vui, Má về mang chút tro đời về sau cũng nói về cái chết.
Nhưng ngay sau đó lại có hai câu: Thu về gió lạnh mênh mông, Ba đừng quên khoác áo bông lên người thì lại đang nói về một người cha còn sống, cần mặc áo bông cho đỡ lạnh vì gió thu mênh mông.
Hay trong bài thơ Mưa đêm nhớ quê trang 34 có những câu như sau:
Sá gì một mảnh quê hương ấy
Mười mấy năm qua biệt đến giờ
Những con đường bụi hanh hao nắng
Thì có gì đâu mà dây dưa
Trong rất nhiều bài thơ của Thủy Trang, tình yêu quê hương và nỗi nhớ đan chéo, bàng bạc như là chủ đề của thơ Thủy Trang, nhưng khi viết Sá gì một mảnh quê hương ấy thì chữ "sá gì" để ở đây là không ổn. "Sá gì" là một tình cảm miệt thị, xem thường. Chẳng hạn như "Sá gì tên Lê Mai Lĩnh" hay "Sá gì ba cái lẻ tẻ đó". Khi đã yêu quê hương với tình cảm thiết tha, thì chính con đường bụi hanh hao nắng cũng là kỷ niệm, cũng là một trời nhớ nhung tha thiết, như thế nó cũng có gì để dây dưa lắm chứ. Tại sao lại thì có gì đâu mà dây dưa. Con đường bụi hanh hao nắng là dấu tích của kỷ niệm một thời thơ ấu, là không gian của một ngày đầu đời chập chững bước đi, là con đường tình của những ngày thiếu nữ bắt đầu biết yêu. Tôi ra lệnh cho thi sĩ Thủy Trang là phải biết trân quí nó, những con đường bụi hanh hao nắng. Ðại khái, đại để, đại loại là như thế những cái chưa hay, những câu thơ chưa đạt.
Bây giờ là những câu thơ hay, những ý thơ hay hết biết, hết sẩy.
Trong bài thơ Ðợi xuân trang 28 có những câu như sau:
Mùa đông dai dẳng trong trời xám
Nỗi nhớ chừng như cũng đậm màu
Phải chi thấy lại vườn cau cũ
Lòng chắc xanh như những lá trầu
Cái tứ thơ trong hai câu cuối hay hết cỡ thợ mộc phải chi thấy lại vườn cau cũ, lòng chắc xanh như những lá trầu.
Hay trong bài Québec ngày mưa có những câu như sau:
Dưới thành sông nước ngậm ngùi
Phà xa nhả khói đưa người sang sông
Sầu lên mưa xuống trùng trùng
Trở về còn sót giữa lòng... chút xưa
Hai chữ "chút xưa" trong câu cuối rất hay.
Ðại khái, đại để, đại loại là như thế những câu thơ, tứ thơ rất hay, rất đạt. Nhưng...
Nếu thẩm định hay nói một cái gì đó về thơ Thủy Trang mà chỉ căn cứ trên 18 bài trong Dòng thơ lưu lạc thì thật là bất công cho Thủy Trang và thiệt thòi cho người đọc.
Hay nói một cách khác, chúng ta hay Thủy Trang có thể nói một điều như thế này: "Cái đó là của Thủy Trang chứ không là Thủy Trang". Hay nói một cách khác, "Cái đó là của tôi chứ không còn là tôi". Ðiều tôi muốn nói là, sau Dòng thơ lưu lạc, thơ Thủy Trang đã trưởng thành hơn nhiều. Hay nói một cách cụ thể hơn, những bài thơ của Thủy Trang sau Dòng thơ lưu lạc hay hơn, đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng hơn. Nếu tôi nói sai xin Thượng Ðế cứ đày tôi xuống hỏa ngục. Lên Thiên Ðàng tôi sẽ không có bạn để cụng ly.
Chẳng hạn như trong bài thơ Hạ xưa:
Chùm hoa tương tư màu tím nhớ
Vẫn nở trong tôi những độ hè
Ðã qua lâu rồi mùa phượng đỏ
Lòng vẫn còn vang vọng tiếng ve
"Màu tím nhớ", "những độ hè", "lòng vẫn còn vang vọng tiếng ve" trong 4 câu thơ 28 chữ trên là những "thần ngữ". Hay hết biết!
Chẳng hạn như trong bài Lãng quên:
Tôi về xứ sở của lãng quên
Niềm riêng nỗi nhớ đã phai màu
Người vẫn hãy còn xa biền biệt
Giờ đã thôi về trong chiêm bao
Ðây là một bài thơ hay. Và dưới đây cũng là một bài thơ hay, bài Vàng thu:
Thu về vàng điểm trên cao
Trời lao xao gió, lòng nao nao buồn
Chân hoang rạo rực trên đường
Lung linh hoài niệm tưởng còn bóng xưa
Ngày thu sầu ngẩn sầu ngơ
Hồn thu u uẩn đậu bờ nhớ nhung
Hơi thu khoắc khoải mông lung
Mây mùa thu đọng tưởng chừng nhớ ai
Tôi viết bài này như để trả một món nợ hay nói đúng hơn là tôi thực hiện xong một lời hứa. Ðó là, đêm ở nhà Dư Mỹ, trong lần ra mắt tập thơ Chén rượu mời người của Phan Xuân Sinh và Dư Mỹ, ngồi cạnh Thủy Trang, tôi thấy đôi mắt của nàng lạ lùng quá. Do sự xúi giục của thần ve chai, tôi có hứa là tôi sẽ làm một bài thơ về đôi mắt lạ lùng đó. Ðại khái là, mai khi về, trước khi qua biên giới, xin hãy để lại cho tôi đôi mắt. Hoặc là, tôi lộng kính tôi thờ, hoặc là, tôi gối đầu giường vỗ về giấc ngủ, hoặc là, khi kẹt mồi, tôi lấy tôi nhậu. Nhưng khi tỉnh giấc chiêm bao, tôi ra lệnh cho tôi không được làm bài thơ như thế. Vì rằng, nếu bài thơ dở, thì đây là một sự xúc phạm. Nếu bài thơ hay, đi vào văn học sử, người đời sẽ nguyền rủa tôi là ông già dịch, hư thân mất nết, gần xuống lỗ rồi mà còn ham. Ðó là chưa nói tới tai nạn tên bay đạn réo. Mất cả chì lẫn chàị Mất tình mất nghĩa.
Ðiều sau cùng tôi muốn nói, bài viết này chưa làm tôi hài lòng. Nó chưa thể hiện đúng tầm cỡ ngòi bút Lê Mai Lĩnh và chưa nói hết trọng lượng thơ của Thủy Trang.
Hy vọng rằng, 43 năm nữa, khi tôi 100 tuổi và Thủy Trang hơn 80 tuổi, lúc đó, một ông già viết về một bà già sẽ chững chạc, đàng hoàng, sâu sắc, bay bướm và lãng mạn hơn. Nói chung là chắc đọc được hơn bây giờ. Amen.
Lê Mai Lĩnh
(Connecticut, đầu năm 1997)
1 Dòng thơ lưu lạc, thơ Nguyễn Bá Dĩnh & Thủy Trang, Làng Văn xuất bản 1992 tại Canada
LGT: Isaac Babel, sinh tại Odessa, Nga, và dường như chết trong một trại tập trung tại Tây Bá Lợi Á. Cái chết của ông vẫn còn là một bí ẩn: không biết vì thương hàn, hay bị bắn chết. Năm 1975, ông được phục hồi danh dự trong hàng ngũ đảng viên cộng sản Nga.
Khi còn trẻ, ông phục vụ trong quân đội Sa hoàng, nhưng lại theo đoàn quân Bolsheviks năm 1917. Ông phục vụ trong cơ quan mật vụ Cheka lúc bấy giờ, và trở thành sĩ quan hậu cần cho đơn vị khét tiếng Budeny, gồm toàn dân Cossack. Giai đoạn này cho ông những kinh nghiệm và chất liệu viết văn - một chàng thanh niên Do Thái mơ mộng, hiếu hoà tìm cách thích nghi với, và có lẽ đã hấp thụ phải bầu không khí man rợ, bài Do Thái của đời lính tại Nga. Khởi đi từ những kinh nghiệm này, Babel đã viết những truyện ngắn thật đặc sắc trong tuyển tập "Hồng Kỵ Binh". "Con Ngỗng Ðầu Tiên" được trích từ truyện này. Xin mời bạn đọc thưởng thức truyện ngắn này của Babel, một Hemingway của Nga.
oOo
Con Ngỗng Ðầu Tiên
Savitsky, tư lệnh Sư đoàn VI, đứng lên khi trông thấy tôi. Tôi không khỏi ngạc nhiên trước vẻ khôi vĩ của ông ta; màu tím của nẹp quần, màu đỏ trên vành mũ sĩ quan, cùng với hàng huy chương đỏ rực trên ngực ông khiến cho tôi có cảm tưởng khi ông đứng lên căn lều chỉ huy bị xé đôi ra, như một lá cờ xé đôi bầu trời. Mùi xà bông thơm nồng từ người ông toát ra. Ðôi chân ông dài như chân một cô gái được bó chặt trong đôi giầy ủng bóng loáng cao tới gối.
Ông nhìn tôi mỉm cười, đập đập chiếc roi ngựa trên bàn rồi mở một tờ công văn trên bàn. Ðó là một mệnh lệnh cho Ivan Chesnokov dẫn trung đoàn tiến về phía Chugunov-Dobryvodka nhằm lùng và diệt địch. Mệnh lệnh này vừa được vị tham mưu trưởng soạn thảo trình vị tư lệnh ký.
"Về phần diệt địch," vị tư lệnh bắt đầu viết nguệch ngoạc, ngòi viết văng mực tứ tung trên cả tờ giấy, "tôi ra lệnh cho Chesnokov phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, kể cả bị cách chức nếu không hoàn thành nhiệm vụ; vì Chesnokov từng làm việc với tôi nhiều tháng tại mặt trận, và phải hiểu rõ điều đó."
Vị tư lệnh ký tờ công điện một cách mạnh bạo, quăng cho người lính hầu, rồi nhìn tôi một cách vui vẻ với đôi mắt mầu xám.
Tôi trình ông sự vụ lệnh đưa tôi về làm việc tại Bộ Tham Mưu Sư Ðoàn.
"Cho vào Nhật Lệnh, nhập sổ quân bạ," vị tư lệnh nói. "cho anh được hưởng mọi sự thoải mái của sư đoàn, ngoại trừ ngoài mặt trận. Anh có biết đọc, biết viết không?"
"Thưa có." Vẻ trẻ trung và sỗ sàng của ông làm cho tôi hơi khó chịu. "Thưa, tôi tốt nghiệp luật khoa tại đại học St. Petersburg."
"Ồ, một con mọt sách, phải không?" Ông cười phá lên. "Mắt kiếng nữa chứ! Thật là một vật xấu xí! Họ đưa anh về đây mà chẳng hỏi han gì sất; chỗ này không thích hợp với mắt kiếng. Nhắm có chịu nổi không?"
"Thưa sư đoàn trưởng, tôi sẽ cố gắng." Tôi trả lời, và được người sĩ quan quân nhu dẫn xuống khu doanh trại nằm trong một ngôi làng gần đó."
Viên sĩ quan quân nhu đeo ba-lô của tôi trên vai. Trước mặt chúng tôi là con đường làng. Mặt trời đang hấp hối, tròn và vàng như một trái bí, chiếu những tia nắng cuối cùng trên bầu trời.
Chúng tôi đi lên một ngọn đồi nhỏ. Khi tới trước một căn lều có những dàn hoa leo che phủ, viên sĩ quan chợt dừng lại, và nhìn tôi, nói với một nụ cười tội nghiệp: "Mắt kiếng không dùng được vào việc gì ở đây hết. Không làm sao mà tốp cái vụ cứ gư?i những cậu ấm về đây. Ở đây không phải là chỗ cho những ông trí thức. Nhưng nếu anh tỏ ra chịu chơi, và dám 'chơi chịú, thì đám ôn hoàng này sẽ chấp nhận anh nhập bọn."
Ông ta hơi lưỡng lự một chút, chiếc ba-lô của tôi vẫn còn được ông ta mang trên vai, rồi tiến lại gần tôi như muốn nói gì thêm, nhưng lại dang ra xa và chạy tới một cái vườn gần đó nhất. Ðám lính Cossack ngồi lổm nhổm chung quanh, đang cạo râu cho nhau.
"Ê, tụi bay," viên sĩ quan nói, đặt chiếc ba-lô của tôi xuống đất. "Ðồng chí Savitsky ra lệnh tụi bay kiếm cho anh chàng này một chỗ ở. Không được rắc rối gì hết, nghe chưa? Hắn còn trong giai đoạn học tập."
Sau khi nói xong, mặt sĩ quan đỏ bừng, và ông ta quay lưng đi không thèm nhìn lại. Tôi dơ tay lên chào đám Cossack. Một tên có mái tóc dài, hung hung vàng, và gương mặt dễ coi của dân miền Ryazan, bước tới chỗ đặt chiếc ba-lô của tôi quẳng nó ra ngoài hàng rào. Xong hắn quay lưng lại và thốt ra một tràng cười khèng khẹc thật khả ố.
Một gã Cossack già hơn hét lên: "Số không-không, bắt súng, vào thế, bò hỏa lực." Gã cũng phá lên cười.
Trò đùa vô duyên của gã chấm dứt sau đó. Tên tóc dài cũng bỏ đi chỗ khác. Tôi phải bò khắp sân để lượm lại những bản thảo, và quần áo bị văng ra tung tóe lúc nãy. Nhét tất cả vào ba-lô, tôi bước về góc vườn đối diện với đám Cossack. Gần căn lều, trên một cái lò gạch, một nồi thịt heo đang bốc khói. Hơi khói toả ra cũng giống như khói thổi cơm chiều của những căn nhà cư dân trong làng, trộn lẫn với cái đói với nỗi cô đơn khủng khiếp trong đầu tôi. Tôi lấy rơm phủ lên chiếc ba-lô làm gối, và nằm dài trên đất đọc bài diễn văn của Lenin tại Ðại hội quốc tế cộng sản khóa IỊ Tôi say sưa đọc, mặc kệ mặt trời sau những rặng đồi hình răng cưa rọi nắng lên mình tôi, cũng như mặc kệ những tên Cossack xéo cả lên chân tôi. Chúng không ngớt tìm cách chọc ghẹo tôi bằng những câu đùa giỡn châm chọc. Nhưng tôi đang ở một thế giới khác. Tôi đặt tờ báo xuống, và tiến về phía bà chủ nhà đang ngồi dệt vải trên ngạch cửa.
"Bà chị này," tôi nói, "Có gì cho tôi ăn không?"
Người đàn bà giương đôi mắt kèm nhèm nhìn tôi, rồi lại cúi xuống.
Sau một lúc, bà ta nói: "Ðồng chí, cứ cái kiểu này, hết nấu cái này đến cái khác cả ngày thì tôi chỉ có nước thắt họng."
"Mèng đét ơi!" tôi lầu bầu, và dùng nắm tay đẩy vào vai người đàn bà. "Bộ chị muốn tôi 'lý luận' với bà chị, phải không?"
Nhìn xung quanh, tôi thấy một thanh kiếm của ai đó nằm lăn lóc trên đất. Một con ngỗng xấu xí vừa đi lạch bạch trên sân, vừa rỉa lông. Tôi chụp cổ nó lên, và đè xuống đất, rồi dùng gót giầy nghiến lên đầu nó cho đến khi bẹp dí, khiến cổ con ngỗng dài ngoẵng ra, đôi cánh run lẩy bẩy.
"Mẹ kiếp," tôi nói, và dùng thanh kiếm cắt tiết con ngỗng. "Bà chị, đem nấu con ngỗng này dùm tôi."
Người đàn bà hấp háy đôi mắt, xách con ngỗng lên, quấn vào cái tạp dề trước ngực, rồi đi vào bếp.
Vừa đi người đàn bà vừa lầu bầu nói: "Ðồng chí, điệu này chắc tôi thắt họng quá." Và bà ta đóng cánh cửa nhà bếp lại.
Ðám kỵ binh Cossack ngồi trên sân, vây quanh chiếc nồi lớn bốc khói ban nãy. Họ ngồi nghiêm trang như những thày tế lễ đang dự một cuộc lễ thiêu, và cũng chẳng buồn nhìn nhõi gì đến con ngỗng tôi vừa giết ban nãy.
"Thằng nhóc này ngon!" Một tên vừa nói, vừa nháy mắt với đồng bọn, vừa xì xụp húp tô súp bắp cải.
Ðám Cossack trịnh trọng bắt đầu bữa ăn của họ với phong thái "hào hoa" của những nông dân, và mạnh tên nào tên nấy húp xùm xụp, nhưng vẫn tôn trọng kẻ trên, người trước. Tôi dùng cát lau lưỡi kiếm cho sạch máu con ngỗng "vô phước" vừa bị tôi giết lúc nãy, rồi lững thững đi ra ngoài cổng, rồi lại đi vào. Một nỗi cô đơn, và buồn nản khủng khiếp tràn ngập cả thể xác lẫn tâm hồn. Chưa tối gì lắm mà mặt trăng đã treo lủng lẳng trên khoảng sân trống như một chiếc bông tai rẻ tiền.
"Ê, anh bạn," thình lình Surovkov, tên Cossack già nhất bọn nói. "Ngồi xuống đây, ăn đỡ với tụi này vài miếng trong khi chờ đợi nấu xong con ngỗng."
Y rút trong ống giầy ra một cái thìa đưa cho tôi. Chúng tôi bắt đầu ăn súp bắp cải, và thịt heo họ nướng hồi chiều.
"Báo nói gì vậy?" Gã tóc vàng gợi chuyện cho tôi bớt bỡ ngỡ.
"Lenin viết trong báo này," tôi nói, và rút tờ "Sự Thật" ra. "Lenin nói rằng mọi sự hiện nay đều khan hiếm."
Và dõng dạc, như một kẻ điếc nặng, tôi đọc thật to bài diễn văn của Lenin cho đám Cossack nghe.
Màn đêm quấn lấy tôi trong lớp sương mờ lành lạnh những vì sao, màn đêm như bàn tay của một người mẹ hiền êm ái đặt lên vầng trán hâm hấp nóng của tôi. Tôi tiếp tục và hân hoan đọc bài diễn văn của Lenin, nhưng vẫn cố tìm "sự thật" nằm giữa những câu văn.
"Sự thật làm mọi người khó chịu, như bị ngoáy vào mũi," Surovkov nói, khi tôi đọc tới đoạn cuối. "Vấn đề là nhổ nó đi bằng cách nào, chứ không phải như Lenin làm. Nó nằm trong một đống hổ lốn. Không thể nhào lại mổ đại như gà mổ thóc được!"
Lời nhận xét về Lenin của Surovkov, trung đội trưởng, chấm dứt buổi nói chuyện của chúng tôi. Chúng tôi nằm trên đống rơm, lăn lóc ngủ dưới những vì sao xuyên qua mái nhà mục nát. Chúng tôi gác chân lên mình nhau tìm hơi ấm. Và trong giấc ngủ, tôi mơ. Tôi mơ thấy đàn bà, nhưng quả tim tôi, không còn trong trắng vì dính máu, đã mất khả năng yêu thương.
Isaac Babel
Trịnh Tường dịch