vhnt, số 289
17 April 1997
Trong số này:
thư vhnt.....................................................Phùng Nguyễn
T h ơ:
1 - Khóc Mẹ..........................................Thiên Phượng Lynh
2 - Ru Mẹ Thiên Thu.............................................Hàn Trân
3 - Mẹ, Blue Bonnet.....................................................NDP
4 - Chi Lan, Chi Lan..............................................Thu Hồng
5 - Vườn Trầu Của Mẹ / Mồ Côi...................Lương Thư Trung
6 - Bông Hồng Trắng Cho Lan.................................Tường Vi
7 - Ngó Lên Ngỡ Mắt Ai...........................................Chinh
8 - Ngày Cuối Cùng.....................................Trần Thái Vân
9 - Du Tử Ngâm................................Ma/nh Giao / Ðông A dịch
10 - Mới Hay Lá Ðã Lìa Cành..................................Ðan Hà
11 - Bài Thơ Gửi Chị........................................Ðức Lưu
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
12 - Thư Cho Mẹ - Tùy Bút...................................Nguyên Hạnh
13 - Mẹ Của Con Ơi! .............................................Hưng Ng.
14 - Những Kỷ Niệm về Mẹ Tôi......................Lương Thư Trung
15 - Khung Cửa Gió.......................................Trần Hoài Thư
16 - Viết Thật Ngắn Về Mẹ..............................Dũng Florida
17 - Gởi Mẹ Cha Một Lời Muộn Màng.....................Sung Nguyễn
Mẹ già như chuối ba hươn
Như xôi nếp một, như đường mía lau...
Thiết nghĩ bài vở và nội dung trong số VHNT 289 này đã đủ để nói lên tình cảm của bạn bè và thân hữu VHNT dành riêng cho chị Phạm Chi Lan khi phải bước vào một khúc quanh hụt hẫng của cuộc đời.
Tất cả,
Không chỉ là
nén hương tâm hồn,
lời cầu nguyện tim
cho người đã khuất;
Mà còn là
đau thương cùng chia sẻ,
nước mắt chung lau khô
với người ở lại.
Bởi đứng trước một vực thẳm mất mát quá sâu rộng như thế,
Ghi nhận nào, cũng thiếu
Nhắc nhở nào, cũng thừa.
Ban Biên Tập
PCL/vhnt
KHÓC MẸ
(Ðặc biệt thân tặng Phạm chi Lan)
Chiều tím thê lương khóc Mẹ hiền
Nắng nhạt chiều tàn hoàng hôn xuống
Xe tang chầm chậm tiễn người đi
Mẫu tử từ đây cách biệt rồi
Âm dương hai ngã không sum họp
Thôi đành ôm mãi nỗi tiếc thương
Tôi nhớ ngày xưa thuở thiếu thời
Mẹ từng nuôi dưỡng tấm thân tôi
Gian lao vất vả không ngần ngại
Mẹ chỉ mong rằng con lớn khôn
Tình thương của mẹ rộng thênh thang
Tựa biển bao la, biển thái bình
Tôi nguyện sẽ có ngày đền đáp
Ðâu ngờ chữ hiếu trả chưa xong!
Ðêm nay thanh vắng qùi bên mẹ
Nức nở hai hàng lệ cứ tuôn
Mẹ tôi đã ngủ giấc ngàn thu
Vĩnh biệt đàn con, vĩnh biệt đời
Cô đọng trong tôi ngàn nỗi nhớ
Nhớ bầu sữa mẹ, nhớ không nguôị
Thiên phượng Lynh
Ru Mẹ Thiên Thu
(Chia sẻ niềm đau của Chi Lan)
Tiếng vào đời con bắt đầu bằng mẹ
Dòng sữa hiền sưởi ấm cuộc đời con
Thiết tha đưa mẹ chỉ muốn vuông tròn
Con khôn lớn là một nguồn hạnh phúc
Trong những giấc tối, trưa, chiều rất mực
Ca dao nào ru ngủ những buồn vui
Tuổi thơ xanh. Mẹ! Mẹ! để khóc vùi
Chờ cho mẹ xoa đầu quen sợi tóc
Buổi trường làng ngỡ ngàng lúc mới học
Mãnh áo quần lành lặn thẳng đường may
Mẹ chắt chiu con của mẹ thật đầy
Cho con trẻ ấm êm đời khởi bước
Bài ngụ ngôn điển tích nào có được
Ðã có lần mẹ kể dưới ngọn đèn
Học vào đời từng bước, từng bước len
Cơm, sờn áo mẹ bàn tay tận tụy
Con khổ lắm, mẹ nhẹ lời an ủi
Lớn hkôn rồi, mẹ, mẹ khó khăn trôi
Cõi đau thương mẹ giành lấy bồi hồi
Mẹ muốn cả những gì con bất hạnh
Vòng âu yếm, bàn tay giờ đã lạnh
Cuộc vui buồn con chia sẽ ai đây
Bàn tay con sẽ lạc lỏng chốn này
Và sợi tóc thiếu tình ai trao chuốc
Con quỳ xuống, cúi đầu từng giọt nước
Khóc cho mình, cho mẹ, cuộc chia tay?
Khóc cho ai, nhân sinh tử lạc loài
Cho tạo hóa trớ trêu giờ ly biệt
Con quỳ xuống, cúi đầu thầm gọi khẽ
Mẹ! Mẹ! nào bây giờ mẹ có nghe?
Lòng thổn thức mẹ thôi hết vỗ về
Cồn nước mắt đang ngập tràn huyết quản
Con quỳ xuống, bên cõi hồn tan tác
Ca dao nào một thuở mẹ triền miên
Ca dao nào ru giấc ngủ mẹ hiền
Giấc vĩnh biệt vào ngàn thu im tiếng
Hàn Trân
Mẹ, Blue Bonnet
Gởi Phạm Chi Lan
Mùa Xuân đi qua thành phố Arlington
Biêng biếc Blue Bonnet trên bãi cỏ xanh
Bầu trời tháng Tư thơm ngậy mùi nắng mới
Chuyện đau thương em nói không đành!
Mùa Xuân trở về trên thành phố Arlington
Có tiếng nhựa cây vỡ ra trong gió chiều
Lời thổn thức của một chia ly phải đến
Cội Hòe năm xưa nay rũ bóng tiêu điều
Mùa Xuân rong chơi trên thành phố Arlington
Có đám mây xám kéo ngang mặt trời
Che em âm thầm trong nỗi đau chất ngất
Mẹ - Hạt nước mắt lẻ loi vào phút cuối đời!
Mùa Xuân ở lại cùng thành phố Arlington
Cúi nhìn Mẹ ra đi trong xe tang buồn
Có tiếng chim líu ríu nơi cổng vào nghĩa địa
Và - Blue Bonnet xanh biếc giòng lệ em tuôn...
NDP
4/15/97
Chi Lan, Chi Lan
Mắt lệ cho Lan
Quấn vành tang trắng
Khóc Mẹ Chi Lan
Về miền hoang lạnh
Chi Lan... Chi Lan
Dòng thơ mặn đắng
Ðau xót Chi Lan
Từ nay hiu quạnh
Niềm đau Chi Lan
Niềm đau vạn kỷ
Ôm nhẹ Chi Lan
Lau dòng lệ chị
(Thương nhiều Chi Lan)
Thu-Hồng
Vườn Trầu Của MẸ
Kính dâng hương hồn Từ Mẫu
Vườn trầu của MẸ vàng tươi,
Lá trầu gió thổi như cười dưới trăng.
Tôi vẽ trong tôi một bức tranh
MẸ tôi vẫn sống như trường sanh
Bên vườn trầu tốt màu vàng nắng
Mừng đón con về như tái sinh.
Than ôi! Ðời khác hơn cơn mộng!
Thế sự mang mang không chìu người
MẸ tôi mất sớm, vườn trầu héo,
Héo cả đất trời, héo cả tôi.
Lá trầu theo gío đong đưa,
MẸ tôi theo gió, vườn xưa rộn ràng. . .
MỒ CÔI
Cha tôi mất, tôi còn " cải tạo "
Mẹ tôi " đi ", tôi vẫn trong tù
Tôi đau đớn, mồ côi từ ấy
Lòng tôi buồn, rưng rức ngàn thu! ! !
Lương Thư Trung
Bông Hồng Trắng Cho Lan
Thế là bông hồng trắng
Ai cài lên áo tôi
Tóc sợi dài sợi vắn
Rơi quanh chỗ Mẹ ngồi
Nhìn ra qua khung cửa
Tháng tư sao mưa rơi
Cho tôi thêm lần nữa
Hôn dịu dàng Mẹ tôi
Cuộc đời này quá ngắn
Tôi xa Mẹ đời đời
Ai đem bông hồng trắng
Vừa cài lên áo tôi...
tường vi
4/15/97
Ngó Lên Ngỡ Mắt Ai
"Theo ta vào bóng lá
Ngó lên ngợ mắt ai
Ta nổi trôi như bọt
Chỉ còn áo sờn vai..."
(Hoàng Chính Nghĩa)
Tôi
bước
xuống
những
bậc
thang.
Ngồi một mình.
Khóc.
Khuôn mặt ai trong vũng nước đen.
Nửa quen - nửa lạ.
R
ơ
i
xuống
bàn tay khô,
sợi tóc bạc.
Có ai đếm được trăm năm?
Ðời còn tôi
ngồi đây -
nguy nan một giờ.
Đêm giật mình vỡ toang.
Bào thai
ngày bật máu.
Trời khuya
sóng sánh
những vì sao.
Tôi nào tìm được giữa mênh mông,
đôi mắt người.
Chinh
15 tháng 4, 97
NGÀY CUỐI CÙNG
Còn chăng một tiếng kinh cầu
Nghe hồi thiên cổ nhuộm màu thời gian
Khói hương lên nẻo niết bàn
Lệ đời nhỏ xuống địa đàng vô tri
trần thái vân
Du Tử Ngâm
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy.
Mạnh Giao
Khúc Hát Người Con Ði Xa
Mẹ hiền cầm mũi chỉ
Khâu áo con đi xa
Ðường chỉ mẹ may kỹ
Sợ con về chậm nhà
Ai bảo tấc lòng cỏ
Báo ơn xuân được mà.
Ðông A dịch
Mới Hay Lá Ðã Lìa Cành
Vắng chim én báo tin Xuân
Cột mai khoe nụ trước sân đâu rồi
- đây chiều xuống chơi vơi
Chợt nghe tâm sự rã rời cỏ cây
Tưởng Xuân rắc mộng xuống tay
Ngờ đâu bông tuyết rơi đầy chung quanh
Mới hay lá đã lìa cành
Lạc loài từ độ còn xanh bóng đời
Ðan Hà
BÀI THƠ GỬI CHỊ
Ðêm nay gió lặng, trăng trong,
Vẩn vơ, lại thảo vài giòng chị ơi
Dạo chị chen giữa chợ đời
Ít, nhiều có biết tăm hơi bên nhà?
Em, từ thuở chị chia xa,
Bát cơm, chén nước, me già em thăm
Nước ao em gánh, em châm,
Thóc nhà côi cút âm thầm em xay,
Rau, bèo em cũng chăm tay
Dường như thiếu chị chúng rày xác xơ,
Vườn sau, ngõ trước lặng tờ
Vắng hơi chị, chúng cũng vờ tương tư,
Me, từ dạo chị bôn ba
Khóc nhiều, đôi mắt đã loà mấy năm
Chiều chiều me ngóng xa xăm
Chờ nghe lũ nhạn kêu thầm gọi con
Hắt hiu một kiếp sống mòn
Mỗi con nhạn lạc, mỗi buồn mẹ vương.
Tóc già sao mãi điểm sương
Lòng già sao mãi nặng vương vấn hoài
Ðêm nào me cũng thở dài
Hỏi em con nhạn lạc bầy về chưa
Ðôi lần dối mẹ, em thưa:
Chị chưa về được! Thư, thưa đây rồi
Chừng như lòng mẹ bồi hồi
Bảo em khẽ đọc từng lời mẹ mong
Vâng, em cũng khóc trong lòng,
Vài giòng dối me, gạn trong nỗi buồn.
Lọ là mười bốn Tam-nguơn (*)
Mẹ thường khăn gói dâng nhang trên chùa
Thuyền từ bi thế mà chưa
Một lần cho mẹ tôi vừa cuộc vui,
Cửa thiền cứu rỗi muôn người
Mà sao nỗi khổ mẹ tôi vẫn đầy,
Sau lần bệnh ấy, mẹ đi
Bỏ em côi cút chốn này chị ơi!
Một vành khăn trắng buông xuôi,
Ðám tang vỏn vẹn chục người đưa ma.
Ngày xưa khóc chị xa nhà,
Ngày nay khóc mẹ đi xa mất rồi.
Năm dài, tháng hạn dần trôi
Bụi đường nuôi lớn em rồi chị ơi
Ngậm ngùi nhớ thuở xa xôi
Tiếc ngày níu áo, quà đòi chị trao
Ðêm nay chợt ngẩn ngơ sầu
Chạnh lòng nhắn chị vài điều, thế thôi
Thư em viết cạn mực rồi
Như bao thư trước, chẳng lời chi hay.
Thôi thì gửi nốt lần này
Biết đâu sẽ chẳng còn ngày gặp nhau,
Mộ mẹ côi cút, hắt hiu
Ðất gò, nên cỏ buồn thiu, cứ vàng.
Khi nào rảnh rỗi ghé sang,
Chị ơi cũng một nén nhang, gọi là
Chút lòng kẻ ở miền xa,
Năm cùng, tháng tận, nhớ nhà về thăm...
Ðức Lưu
(*) Tam Nguơn:
Thượng nguơn: rằm tháng Giêng
Trung nguơn: rằm tháng Bảy
Hạ nguơn: rằm tháng Mười
THƯ CHO MẸ
Mẹ!
Có những ngày con đi lang thang trên những con đường đông đúc của thành phố mà lòng nghe trống vắng lạ kỳ. Ðó là những lúc con hoang mang trước cuộc đời thay đổi, không biết định hướng tương lai, không biết hành động đúng sai, không biết mình là ai và phải làm gì. Con chỉ cảm thấy lẻ loi cô độc vô vàn trong dòng sống vội và xót xa vì sự bất lực của mình trước những đau khổ của kiếp sống phù sinh. Những lúc đó, nếu Mẹ không dang rộng vòng tay tình thương nâng đỡ cho con thì có lẽ con đã quỵ ngã vì nổi cô đơn nghiệt ngã và chết dần mòn trong những suy tư dằn vặt của chính mình.
Mẹ! Chưa bao giờ con đặt câu hỏi trực tiếp đối với Mẹ. Có lẽ vì trước mặt Mẹ, con thấy mình quá nhỏ bé và dường như những câu hỏi con đặt ra đều vô nghĩa. Con đã thầm lặng quan sát Mẹ nhiều lần. Mẹ như một đóa hoa huệ ngát hương giữa thảo nguyên bát ngát. Mẹ trầm lặng, thông thái mà giản dị, luôn gần gũi với mọi người và chăm sóc cho tất cả như con ruột của mình. Ánh mắt Mẹ rất bình an, từ ái song lại xa thẳm vô cùng. Ánh mắt ấy thể hiện tính cách của Mẹ: Mẹ chỉ ban phát tình thương và không đòi hỏi gì ở các con của mình. Mỗi khi có người tâm sự những nỗi đau khổ cho Mẹ, M ẹ thường từ ái cúi thấp mắt để tránh rơi lệ đồng cảm và thong thả lựa từng lời xoa dịu cơn đau của người tâm sự. Mẹ biết không, những lúc đó nhìn nghiêng trông Mẹ giống hệt Mẹ Maria, thánh thiê.n và chan hòa tình thương. Chính thái độ đó của mẹ làm con hiểu rõ vì sao con luôn cảm thấy mình là một đứa trẻ lên ba chập chững tập đi trong vòng tay của Mẹ, ăn từng miếng ăn Mẹ mớm, lập lại từng lời nói của Mẹ và không bao giờ muốn đặt những câu hỏi lẩn thẩn với Mẹ.
Mẹ ơi, con viết những dòng chữ này về Mẹ song có lẽ Mẹ sẽ không bao giờ đọc được vì Mẹ đang ở một nơi rất xa. Vả lại, Mẹ không bao giờ muốn đọc những lời khen về mình cũng như không bao giờ muốn ai thần tượng hóa mình, gắn bó với mình quá mức. Khi êm tốn, giản dị, trung thực và vị tha đó là tính cách của Mễ Ðó cũng là những đức tính Mẹ luôn dặn dò chúng con nên trau dồi. Những đức tính này, con có lẽ học được chỉ trong muôn một.
Mẹ, có những phút giây cảm thấy cô độc nơi xứ sở này, những tính cách, hình ảnh của Mẹ, những kỷ niệm thân thương với Mẹ, và những lời dạy của Mẹ lại tràn ngập lòng con, xoa dịu đi nổi đau của con và cho con thêm sức mạnh. "Mỗi ngày học thêm một ít trí tuệ, bớt một ít ngu tối, để khi nhắm mắt xuôi tay mình có thể mỉm cười hài lòng là đã không phí thời gian sống trên mặt đất..." Lời nói bình dị đó của Mẹ như là phương châm cho cuộc sống của con. Con biết rằng dù xa cách nghìn trùng, Mẹ vẫn ở bên con, vẫn chăm sóc cho con bằng tình thương không phân biệt. Cuộc sống của Mẹ là bài học sống động cho. Ánh mắt Mẹ nhìn xuống với nụ cười từ ái như đang cười con thần thánh hóa Mẹ, phải không Mẹ?
Nguyên Hạnh
Mẹ Của Con Ơi!
Mẹ nhỏ của con ơi
Máu chảy xuân thơm mắt lệ ngời
Vú mẹ đã khô nguồn sữa cũ
Tình con còn lại bấy nhiêu thôi
(Hồ Dzếnh)
Lúc Vi đẩy cửa sau ra vườn thì mẹ đã thức. Chàng rón rén đạp nhẹ trên thảm lá vàng ẩm hương đêm. Mặt trời chưa lên hẳn, vài tia hồng hồng tiá tiá nhuộm một góc trời. Vi nín thở, xốc chiếc ba lô nhỏ đeo trên vai, thì thầm một mình " thưa mẹ, con đi...". Gió ban mai mát rượi, quệt vào hai má. Bất giác Vi đưa tay lên dụi mắt...
Tối qua, lúc sửa soạn hành lý, trong lúc bố dặn dò từng chi tiết như thể bắt Vi học thuộc lòng, từ giờ xe chạy, giờ xe đến, khi nào phải đưa vàng cho chủ tàu... cả nhỡ bị bắt thì phải nói ra sao. Vi vâng dạ nho nhỏ, tay vẫn tống những thứ cần thiết vào ba lô. Khi đó, mẹ chỉ đứng phiá bên kia bàn yên lặng. Vi không ngẩng lên nhìn vào mắt mẹ, nhưng Vi biết mẹ khóc. Ðến khuya, Vi đến bên ôm lấy vai mẹ " Thôi mẹ đi nghỉ đi. Mai con đi sớm, mẹ đừng dậy làm gì, cho mệt ". Hai vai gầy gò của mẹ rung lên trong cánh tay đứa con trai út. Vi nhớ mình đã nuốt ực vội vã, cái gì như thể một ngụm đời, vị chua cay pha lẫn mùi êm dịu, chắc đó là một thời niên thiếu vừa trôi xuống, tan đi.
Lần này không phải là lần đầu Vi vượt biên. Còn ba tháng nữa Vi mới hai mươi tuổi, mà chàng đã khá kinh nghiệm trong nghề, kể cả hai lần bị bắt! Vi mỉm cười chua chát mỗi khi tự cho mình là người hành nghề vượt biên. Mà quả thật, từ ngày buồn rầu cầm mảnh bằng trung học có con dấu ngoằn ngoèo đỏ chói, xong chẳng biết để làm gì, Vi chỉ có mỗi một việc để làm, là đi tìm đường vượt biên thôi. Cứ nghĩ đến mảnh bằng là chàng lại mường tượng ra ngay ông thầy Việt văn đáng kính giờ chẳng biếtt số phận ra sao. Chỉ vì thầy đã có mỗi một tội dám than thở với học trò ngày phát bằng lần đầu tiên với con dấu lạ hoắc " Thày trò mình cầy cục mãi với nhau bao năm trời, giờ mới có kết quả, thì họ ở đâu nhảy xổ vào phê luôn cho mấy chữ ngoằn ngoèo, mà chẳng biết họ có biết đọc hay không! ". Vài hôm sau họ đến bắt thầy đi ngay trong giờ học, Vi ngồi ngay cửa vào nên trông rất rõ nét mặt cương nghị của thầy lúc đi ra giữa hai người mặc áo vàng, ánh mắt thầy vừa ngạo nghễ vừa chua chát, nhưng Vi biết thầy không ân hận gì. Vi quay nhìn đám bạn im lặng phiá sau, chợt vừa sợ hãi vừa căm tức " Trong chúng mày có ít nhất một thằng phản phúc "... Khi đó Vi cũng đã đưa tay lên dụi mắt như bây giờ, chào mẹ thì thầm để ra đi.
Chàng biết bệnh mẹ đã trở nặng từ mấy tháng nay, trí nhớ mẹ kém dần, phần vì thuốc ngủ, phần vì lo buồn. Lần này ra đi, Vi có cảm giác sẽ không còn nhìn thấy mẹ. Chàng đã muốn từ chối khi người ta đến gọi, nhưng bố nhất quyết bảo Vi đi, vì chiến trường bên Miên hình như lại sôi lên, tuy hiện giờ thì không ai thèm gọi Vi đi lính vì cặp kính cận thị ( Vi chưa thấy người lính nào của họ đeo kính bao giờ cả ) hay vì lý lịch Vi chẳng rõ. Nhưng ai biết đâu được khi họ cần để trám vào một chỗ trống? Lẽ sống thì khác biệt chứ cái chết thì nào khác gì nhau, nhất là những cái chết vô nghĩa, dập vùi? Bố bảo "Con chết ngoài biển hay đâu thì chết cho có chủ đích, chứ đừng ngồi mà chờ họ mang đến cái chết rỗng không ". Cho nên Vi phải đi, dù thương mẹ đến vô cùng...
Lần ấy Vi lại bị bắt. Mấy tháng tù trở về, chàng hối hả hai ngày đường về thăm nhà cũ. Vi cẩn thận không vào nhà ngay, mà tạt trước vào nhà bạn ở cùng cư xá, vì chàng đã kinh nghiệm rằng sự trở về không khéo léo sau nhiều tháng vắng mặt có thể gây phiền phức vô cùng cho người ở nhà. Tuấn ái ngại bảo Vi " Mẹ mày yếu lắm rồi, nhà chả có ai vì ông cụ mày phải đưa bà cụ lên Sài gòn cho gần đường đi khám bệnh mỗi ngày ". Vi lặng người đi một lúc, tuy không ngạc nhiên. Khi đi Vi đã khuyên bố nên đưa mẹ lên nhà trên kia, vì ở đây tuy yên tĩnh nhưng không tiện thuốc thang cho mẹ. Lấy chìa khóa nhà Tuấn đưa, Vi phải chờ gần tối hẳn mới dám len lén về nhà mình. Cánh cổng rít lên, đống lá xoài lào xào dưới chân, cành khô kêu răng rắc. Vi vòng vào cửa sau, nhẹ nhàng luồn tay vào chỗ nứt trên cửa, đẩy then vào nhà. Vết nứt thân yêu Vi đã bao lần luồn tay vào mở cửa mỗi khi lén đi chơi về trễ. Hơi ẩm mốc toát ra từ căn bếp, nồng nồng ngai ngái. Vi đứng yên trong bóng đêm mờ mờ cho đến khi mọi vật hiện dần ra trước mặt. Trong căn bếp này, xưa mẹ đã tươi cười nhanh nhẹn ra vào. Vi nhớ mẹ hay làm bánh bẻ ngày giỗ tết, món mà Vi thích nhất. Chợt Vi hít mạnh, hơi thật sâu, trong mùi ẩm mốc chàng nghe chừng như có cả mùi cà cuống của món quà năm xưa còn xót lại. Vi mỉm cười, ứa nước mắt thì thầm " Mẹ nhỏ của con ơi " ...
Mấy năm sau thì mẹ mất. Ngày đưa mẹ, Vi khóc như cả đời chưa được khóc bao giờ. Trên xe tang bên quan tài mẹ, chàng nghiến chặt hai hàm răng bật máu. Ai cũng khóc, nhưng có lẽ ai cũng ngạc nhiên khi thấy Vi khóc nhiều như thế. Chị Hương nhìn Vi ái ngại qua ánh nến lờ mờ. Chị Uyên ngồi cạnh, sụt sùi đặt bàn tay lên đùi Vi lúc chiếc xe tang lầm lũi đi vào nghĩa trang. Ở đó, người ta đưa mẹ vào nơi hoả táng. Bố và anh Triết đặt mồi lửa vào khung trống, trong có quan tài mẹ. Vi sững sờ nhìn ngọn lửa bùng lên, tự nhiên hốt hoảng nghĩ mẹ nằm trong lửa... Mẹ thân yêu, mẹ dịu dàng... , mẹ giờ đây u sầu lặng lẽ. Mẹ mát rượi, mẹ ngọt ngào... , mẹ giờ đây bùng bùng lử a đỏ. Mẹ nhỏ của con ơi... Hôm sau bố và anh em Vi đến đem tro mẹ ra sông, khấn nguyện rồi thả mẹ trôi theo giòng ra biển. Con sông thân yêu dẫn về Thủ Ðức, nơi có mái nhà xưa êm đềm, có mẹ tươi cười ra vào han hỏi. Cốt mẹ được gửi trên chùa, mẹ giờ ngàn năm yên nghỉ bên tiếng chuông mõ buồn buồn như thủa nào ngày tết Vi theo mẹ đến chùa...
Mười mấy năm qua vùn vụt từ ngày Vi mất mẹ. Bố cũng đã qua đời xa nhà. Vi cũng thương bố lắm, người một đời cặm cụi chăm lo cho sáu đứa con ăn học nên người. Vi vẫn nhớ một đêm khi đi ngang phòng bố mẹ, nghe bố buồn buồn than thở với mẹ " chỉ có mỗi thằng Vi út ít là không xong được cái bằng đại học ở đây thôi! ". Lời than của bố làm cho chàng nhớ mãi. Bố một đời học thức, nhưng công danh trắc trở, hai ba lần ly loạn tan hoang, Vi biết bố chỉ có một ước ao làm sao cho tất cả các con đều có bằng đại học. Thế mà chỉ lọt có mỗi mình Vị.. Vi không quên lời bố, nên đâm ra ám ảnh vào sự học! Ngày Vi trình luận án, chàng chẳng thiết gì đến mảnh bằng hay lời khen ngợi, mà chỉ thanh thản có mỗi một điều quan trọng nhất là làm cho bố mẹ an lòng bên kia chín suối. Ðể chàng tìm lấy chút êm dịu cho chính cõi lòng mình.
Cốt mẹ được các chị đem từ bên nhà sang đây khi ra đi. Ở phi trường, Vi lo người ta dốc cả mẹ ra lục lọi. May sao mẹ thiêng liêng khiến cho họ để các chị đem mẹ đi yên lành. Ngày chàng từ Âu châu bay sang thăm mẹ, Vi rộn rã như sắp được gặp mẹ thật trên đời. Khi máy bay nghiêng cánh đáp, Vi nghe mình thì thầm " Mẹ ơi mẹ, con đã về đây..." giọng nghẹn ngào như thể hôm xưa lúc Vi chào thầm mẹ ra đi.
Hưng Ng.
4/97
NHỮNG KỶ NIỆM VỀ MẸ TÔI
Thắm thoát, Má tôi đã mất tròn mười bảy năm, hồi tôi còn trong trại tập trung, mà dường như, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng Má tôi đã chết.
Buổi sáng hôm ấy, từ một trại tù lớn, tôi bị người ta kêu tên chuẩn bị đồ đạc cá nhân cùng với mười người bạn khác lên hội trường nói đôi ba điều, rồi xuống một chiếc giỏ lãi chờ sẵn dưới kinh, để đi về một nơi, mà tôi chưa biết chỗ nào. Sau gần một ngày chạy băng qua nhiều đầm, nhiều lung, nhiều cánh đồng còn hoang dã, rồi vào rạch, vào ngòi vùng Hòa An, Phụng Hiệp đổ ra sông cái Hậu Giang miệt Mái dầm, Cái Côn và dừng lại ở đó, bắt đầu những ngày mới của những năm tháng dài đoạ đày với công việc mới là làm gạch, làm ngói. Ở đây, trong tình cờ, tôi gặp một người bạn của thằng em tôi nhận ra tôi, dù sau nhiều năm không gặp lại. Trong dè dặt, kín đáo, Thành, tên người bạn nhỏ, đã cho hay Má tôi vừa mới mất được mười hôm, ngày mùng mười tháng hai âm lịch. Tôi đứng lặng người như chết điếng từ hồi nào. Mắt tôi mù mịt. Tất cả không gian, cảnh vật quanh tôi ùa chụp một màu tang tóc, thê lương, ảm đạm. Tôi còn đang chết đứng, chưa kịp hỏi thêm điều gì, Thành lại cho tôi biết, chuyến ghe dưa hấu của Thành bán dọc theo các chợ làng, chợ quận bên dòng sông Cửu Long này là dọ đường vượt biên, và Thành muốn tôi vượt trại cùng đi, nó sẽ giúp, không tốn tiền bạc gì.
Trước tin Má tôi mất, tôi không còn lòng dạ nào để mưu tìm một đời sống khác. Giữa Tự do và Mẹ, tôi không một chút do dự, đã trả lời với Thành:
"Cám ơn em, Má anh mất, anh không còn muốn gì nữa trên đời."
Từ đó tới bây giờ, ngồi viết những dòng này, đã mười bảy năm, tôi cứ nghĩ rằng Má tôi vẫn còn sống hoài, như mặt trời vẫn mọc vào mỗi sáng, rồi lặn vào mỗi chiều, cứ hiện hữu, còn đó, có đó trong lòng của những đứa con của Má.
Từ thuở nhỏ, lúc chạy giặc Tây, Má tôi hay kể, tôi ốm yếu nhất. Tía tôi cõng tôi trên lưng, chạy về hướng cánh đồng lác miệt Cái Nai, mịt mù sậy, lác, năn, rau muống trốn Tây, mà tôi cứ khóc hoài, dỗ gì cũng không nín. Lớp sợ Tây, lớp lo con đói, con bịnh vì trời trên đầu thì nắng chang chang. Vả lại đường rừng, đường bụi, vướng chân, vướng cẳng nên Tía tôi cũng mỏi chân, mỏi cổ, mỏi vai và kiệt sức nhưng vẫn cố sức bồng ẳm con mình đến chỗ an toàn. Còn Má tôi sức yếu, cũng bườn theo, lội bùn, lội sình, băng mương, băng rạch, đùm bọc, dắt díu mấy chị em tôi, quên cả mạng sống của chính mình. Ðược tới chỗ an toàn, Má tôi bắt đầu nấu cơm bằng rơm, bằng rạ, bằng những cây bố rừng cho các con có chút cơm, chút cháo mà mắt mũi mờ mịt vì khói rơm, bố rừng chưa được khô.
Khi tôi lớn hơn chút nữa, Má tôi kể lại, cũng chạy giặc Tây về miệt Cái Sắn. Lần này là chạy luôn, bỏ nhà, bỏ ruộng, bỏ vườn lưu lạc có hơn mười lăm năm trời trôi nổi không bến, không bờ. Con còn nhớ, con theo Má cắt những cây bố rừng, bó lại từng bó vừa sức, ôm về với Má để dành nấu cơm. Tối, Má giăng mùng dưới lùm tre trên chiếc đệm bàng rách, chúng con bu quanh Má ngủ vùi, mặc cứt chim, cứt cò trên đọt tre rơi đầy, mặc sương đêm rơi ướt mùng, ướt đệm. Hoặc hồi chạy giặc về quê ngoại ở Mặc Cần Dưng, Tía che chòi, che trại dưới bóng xoài, con cũng hay theo Má ra vườn tre của Ngoại lắc gốc tre, kéo những nhánh tre từ trên bụi, trên cao xuống phụ Má mang về, vựa lại để làm củi. Tía thì lo cày bừa, vất vả biết dường nào để kiếm gạo, kiếm cơm. Có lần, Tía bị bò chứng lên, chạy giật về bờ mương, làm Tía mất thăng bằng, té chống tay xuống ruộng, gãy lìa cổ tay. Con nhớ Má lo chở Tía đến ông thầy Sáu Màu lo thuốc bó tay cho Tía. Má phải vất vả cả tháng trời với đôi bò, vì chị em chúng con còn quá nhỏ, ăn chưa no, lo chưa tới, nên không giúp Má được gì nhiều. Ðược Má kể lại, ông Nội là một nhà Nho, có mở trường dạy học, học trò rất đông và Tía cũng là một nho sinh khi mới cưới Má. Rồi vì chuyện áo cơm, Tía phải vất vả lo cho Má con mình như vậy, đến phải cơ cực, gãy tay, cày bừa mưa nắng, mà âm thầm, chịu đựng dãi dầu.
Má thì nhà quê, nhà mùa, sớm hôm chỉ biết lo cho chồng, lo cho con cái trong nhà. Nhưng Má có lý tưởng của Má, là lúc nào Má cũng muốn lo cho con cái được đi học, đi hành thành người. Vì thế, khi anh, chị, em con vừa đủ tuổi là Má đưa đến trường dạy tháng của các thầy giáo vườn như thầy Chín Nhậm, thây giáo Trang, thầy giáo Ngân, hoặc trường đồng ấu bên cạnh thất Cao Ðài với những đoá hoa Qùi nở vàng sân, để học vần ngược, vần xuôi. Rồi khi lớn thêm chút nữa, Má cho tụi con lên tỉnh. Con biết Má đứt ruột, đứt gan, cắn răng để con phải xa mình. Nhưng con biết Má vui khi các con học hành tiến bộ, khi đậu bằng sơ học, đậu bằng tiểu học.
Sau năm 1954, khi gia đình mình hồi cư về quê cũ, vườn hoang, ruộng hoang được dọn dẹp, trồng trọt lại, Má vẫn muốn chúng con tiếp tục đi học. Má thì tiếp tục hy sinh, tiếp tục cùng với Tía chịu cực, chịu khổ, suốt cuộc đời hy sinh cho con, không bao giờ con nghe Má thở dài, than mệt, dù con biết cha mẹ mệt mỏi biết chừng nào.
Cứ mỗi cuối tuần về, lần nào cũng như lần nào, Má vò đầu, xoa trán, lo nấu món này, món nọ cho con cái quây quần nhau lại ăn uống vui vầy. Má cụ bị cho con từng trái chanh, trái ớt, trái xoài, trái quít. Bán được nãi chuối, buồng cau, trái dừa, trái mít, Má gói tiền trong tấm giấy dầu, loại giấy gói xi măng, nhét dưới khay trầu, kẹt tủ để dành cho con mua qùa, mua tập vở, mua thêm sách, mực. Má tiện tặn, không dám xài tiền, tất tất đều dành dụm cho con mình, để có mà ăn học. Sau này, khi con lớn khôn, ra đời đi làm, có tiền lương, mỗi tháng con ra nhà dây thép, mua gởi về Má ba ngàn đồng, nửa số tiền lương của con, để Má mua trầu cho Má, mua thuốc hút cho Tía, mua thức ăn,thức uống cho Tía, cho gia đình. Nhưng, lần nào con về thăm nhà, y như rằng, số tiền con gởi về mấy tháng trước Má còn gói nguyên trong tờ giấy dầu, khi hết phép, lúc con trở lại nhiệm sở, Má mở gói giấy dầu ra đưa cho con và căn dặn con hãy cất giữ để phòng khi đau ốm, thiếu hụt. Thế mới biết, cha mẹ lúc nào cũng hy sinh và hy sinh cho con cái như nước sông, nước biển, tràn đầy, không khô, không cạn nỗi.
Má thì sống một đời giản dị. Có dịp đi đâu, ra xóm, ra tiệc, chiếc aó bà ba màu huyết dụ, bên trong chiếc áo túi màu trắng, với vài ba miếng trầu là đủ rồi. Còn ở nhà, Má chỉ mặc bộ aó quần bằng vải ú màu đen. Cái áo túi của Má, mỗi lần về thăm nhà, con thường lấy mặc đi cùng xóm. Má nhìn con mặc áo túi, Má ngồi têm miếng trầu với chiếc chìa vôi bằng sắt đóng vôi dày bịt, Má cười cười, hài lòng con mình còn trẻ con, còn quyến luyến mùi mồ hôi dính trên aó Má, không muốn rời Má. Má dư hiểu rằng dù lớn bao nhiêu tuổi, dù đã có vợ, có con, đã lăn lóc với đời, nhưng lúc nào con mình cũng cần sự chở che của mẹ, lòng yêu thương của mẹ.
Khi lớn lên, con đọc sách vở, con thấy các bậc thức giả thường hay ví Mẹ là biển, là hoa hồng. Riêng với Má của con, Má là những bữa cơm chạy giặc. Má là chiếc áo túi bằng vải ú. Má là nụ cười khi thấy con mặc chiếc áo túi của Má. Má là vườn trầu vàng trước sân nhà mình. Má là những cơ khổ, những ngọt ngào, những bình dị, những hy sinh, những hiền đức. Má gởi lòng mình cho con cái trong từng trái chanh, miếng cá kho, cá nướng, trong từng trái chuối phơi khô, cái bánh phồng ngày Tết, cái bánh ít, bánh tét ngày giỗ chạp. Ở đâu cũng có Má. Ở đâu Má cũng vỗ về, Má cũng muốn con vui, Má nén tiếng rên khi đau yếu, Má nén tiếng thở dài khi đuối sức, khi mệt mỏi.
Trên chiếc xuồng câu với những con cá rô biển bà lớn bằng bàn tay, mà ngày nào Má ngồi câu bên đống chà với mồi tép vào mùa nước giựt tháng mười âm lịch, Má có đó với nụ cười, với con cá vừa câu được. Hoặc những ngày tháng năm nước đổ, đục ngầu, Má câu cá mè vinh với mồi bằng lá dây cứt quạ, một loại dây mọc ngoài ruộng theo bờ đê, bờ ranh, có vị rất đắng. Những con cá mè vinh cườm lớn bằng cái dĩa bàn với bụng thè lè cặp trứng, làm Má vui trong bụng. Ðối với riêng con, Má là những niềm vui đó, những kỷ niệm êm đềm đó.
Má đứt ruột, đứt gan gởi lòng mình trong những lon dưa mắm, lon chuối phơi khô ngào đường, lon cám nếp Má rang thơm lừng gởi vô trại cho con, khi con bị bắt từ tháng năm, hai mươi hai năm về trước, trên đường về thăm cha mẹ, mà chưa được gặp mặt lại một lần. Má có đó với lon đường, lon chuối, với những buồn lo, những thương nhớ con mình đến đau yếu, mất ăn, mất ngủ rồi sanh bịnh mà chết.
Lúc sanh tiền, Má thích trồng bông, trồng kiểng. Gốc Bạch Mai trong khạp da bò, gần bốn mươi năm, lớn bằng bắp chân, lúc nào hoa trắng thơm cũng rụng xuống đất, xếp thành một vòng tròn chung quanh cái khạp da bò. Má vẫn về đó với hương thơm của hoa Bạch Mai, với khoảng sân nhà của Má. Vườn trầu vàng của Má còn đó. Mấy năm sau, Má không còn ăn trầu, trầu vẫn còn sống nhưng lá bớt vàng đi. Dường như vắng Má, trầu không tốt, không vàng, nhưng với con lúc nào cũng có Má với những lá trầu thân thương trong gió, trong nắng:
" Lá trầu theo gió đong đưa,
Mẹ tôi theo gió vườn xưa rộn ràng."
Mỗi lần con ngồi một mình nhìn ra gốc Mai già, nhìn ra đám kiễng của Má. Những cánh hoa Mười giờ, những bụi cỏ Lan, cỏ Chi mà Má trồng chung quanh bàn Thông Thiên vẫn nở những cánh hoa tím, con thấy Má lom khom tưới nước, vô chưn, vô gốc, nhìn ngắm những cánh hoa là đà mặt đất. Giàn Dạ Lý Hương bên cạnh vườn trầu của Má, với những chùm hoa vẫn nở nhưng héo hắt, vẫn toả mùi thơm vào mỗi khi trời sụp tối, con ngỡ như Má có đó với mùi thơm.
Dưới ao cá trắng sau nhà, bên kia là bụi tre bông, là mấy gốc dừa xiêm, dừa lửa, là những nhánh chanh quằn trái xà xuống mặt nước, những con cá chài, cá he nghệ vàng nghín, cá mè vinh, cá vãnh lên ăn đầy mặt nước mỗi lần Má rãi cho nắm cám rang, nắm cơm nguội hoặc năm ba con cua bằm nhỏ. Những bụi bông súng Nhật, màu tím, mà Má đã trồng trong ao cá, vẫn nở bông. Rồi những con ốc đắng đeo theo gốc cây, theo dạ tấm ván bỏ dài ra giữa ao, theo những cọng bông súng mà Má vớt lên vào những trưa hè tháng ba, tháng tư, trong bụng đầy trứng, đầy ốc con, vẫn không ai bắt, vẫn còn như hồi Má còn sống ngày nào. Con có thả thêm cá linh, cá mè vinh, cá vãnh nhưng không lớn bao nhiêu, không sanh sản bao nhiêu như ao cá của Má ngày trước. Thế nhưng, mỗi lần ra đứng bên ao, bên gốc chanh, bên gốc bụi tre bông, nhìn những bụi bông súng, nhìn những con cá lên dọi đầy mặt nước khi con rãi nắm cám rang, con nghe buồn nhớ Má quá chừng, con đứng khóc một mình ngoài bờ, ngoài bụi. Con thấy Má như đang đứng đâu đây, đang nhìn cá ăn, đang xem mấy bụi bông súng nở, đang hái trái chanh, đang căn dặn con đủ điều.
Trong nhà, từ cái sàng Má máng, từ cái rổ Má treo, từ cái ấm, cái bình trà mà Má uống nước trà mỗi ngày, từ cái khay trầu, bình vôi bằng sành, chìa vôi bằng sắt, ống ngoáy bằng vỏ đạn đồng, nhất nhất có Má ở đó trong cái sàng, cái rổ, cái ấm, cái bình trà, cái khay trầu, cái ống ngoáy, cái bình vôi. Lúc nào con cũng lau chùi, giữ gìn những kỷ vật ấy của Má hồi còn ở nhà, cũng như bây giờ, ở trong lòng.
Ngày xưa, khi vườn cam quít của mình còn xum xuê, trái là đà dưới thấp, nhất là những ngày gần giáp Tết, lúc nào Tía cũng chừa lại khoảng bốn hoặc năm cây, trước khi bán hết cho lái buôn. Con nhớ Má dặn con bắc thang, trèo lên hái xuống, đem rửa sạch, chưng cúng ông bà ba ngày Tết. Rồi Má bảo con mang chục qúit này, chục cam kia đến cho bác tư, cho cô ba, cho bà con chòm xóm, mỗi người ít trái chưng ở bàn Thông Thiên, cúng Trời Phật. Con nhớ Má lúc nào cũng dạy: "Bà con ăn thì còn, mình ăn thì hết". Ở nhà có món gì ngon, Má kêu hết con cháu đứa này, tới đứa khác đến để cùng ăn cho vui. Sau này, khi con về ở nhà, con giống Má quá chừng. Ðến mùa xoài cát, những cây xoài cát cập mé mương, mấy năm đó trái dữ quá. Con trèo lên hái xuống, mới có một phần cây, mà gần hơn chiếc đệm bàng. Con cũng "dú" chín, cũng mang đem cho chòm xóm, con cháu giống như hồi Má còn sống. Con nghĩ chắc Má cũng vui lắm, vì con làm điều này là lúc con nhớ lời Má dặn ngày nào Má còn sanh tiền.
Con nghe vợ con kể lại, Má rất cưng hai đứa cháu nội, con của con. Mỗi lần nó nhõng nhẽo, khóc thét, là y như rằng, vợ con sẽ bị Má rầy. Hai đứa nhỏ biết bà Nội cưng càng khóc lớn, khóc nhiều hơn. Nhưng vợ con biết Má rất thương dâu, thương cháu, nên chỉ biết dỗ con cho thật nín để Má vui.
Thời gian trôi, mà con thì biền biệt vẫn chưa về. Má tuổi càng ngày càng già, sức khỏe càng ngày càng yếu, nhà mình càng ngày càng túng quẩn, nên khi Má đau thuốc men càng khó khăn. Bịnh ít riết thành bịnh nhiều. Con biết Má ráng chờ con về nhưng không chờ nổi. Má lên nằm bệnh viện được hơn tháng, rồi chích thêm thuốc tại phòng mạch tư của bác sĩ Phước, cũng đở. Tết nhất tới nơi, Má muốn về nhà để cúng kiến ông bà ba ngày Tết và cũng để thấy lại ngôi nhà của mình, xa cách lâu, Má thấy nhớ quá là nhớ. Thế mới biết, không có ở đâu bằng mái nhà của mình, dù nhà tre vách lá, cơ hàn. Lần này, Má không muốn đi lên tỉnh trị bịnh nữa. Bịnh thì như nước lụt, như dông, như bão, không ngăn, không tránh, thuyền sao khỏi chìm, khỏi tróc sào, tróc bến.
Trước ngày Má mất, con được các anh chị kể lại, Má cứ nằm thiêm thiếp hoài. Mắt Má vẫn mở to như mong ngóng một điều gì. Té ra, các anh chị giật mình, vì trong nhà còn thiếu con dâu và hai đứa cháu nội của Má, đó là vợ và hai con của con, đang làm rẫy bên Tân Châu, chưa hay Má đang hấp hối. Khi có người lên Tân Châu cho hay, vợ con và hai đứa con của con về, khoanh tay thưa Má, thưa Nội các con mới về, và vuốt mắt Má, Má mới nhắm mắt ra đi, như Má bằng an, hài lòng đã gặp được những người mà Má yêu thương trước phút lâm chung. Thế mới biết, con trai, con gái, dâu, rễ gì đã là con trong gia đình, nếu biết hiếu đạo, cha mẹ nào cũng thương yêu qúi mến như nhau, cho đến khi nhắm mắt cũng không muốn rời.
Má mất năm ấy, thọ được bảy mươi lăm tuổi, tính đến nay Má đã chín mươi hai tuổi trời. Con biết Má thích hoa kiểng, nên có trồng dưới chân mộ Má một nhánh Ðào Tiên. Năm nào gần Tết, trái cũng đầy nhánh, những trái đào tiên da xanh dờn, to hơn trái bưởi. Khạp da bò với gốc Bạch Mai của Má, con vẫn giữ y vị trí cũ, bên bàn Thông Thiên. Con vẫn tưới nước vườn trầu. Con vẫn giữ hàng bông dâm bụt Má trồng theo lối đi từ dưới bến sông lên nhà như trước. Hàng rào xương rồng của Má vẫn cao, đầy gai, không ai vượt qua được. Mấy bụi cây sống đời cạnh lu nước, Má cắm năm xưa, vẫn sống đời, xanh lặc lià. Con có nuôi mười con vịt hoa Anh Ðào, để đẻ trứng, giống như Má hồi còn sanh tiền lúc nào cũng nuôi một bầy vịt đẻ. Bây giờ, không giống như ngày trước, không có giống vịt ta cổ lùn như vịt của Má nuôi. Nhưng mỗi sáng sáng, khoảng bốn giờ, chùa công phu vài hiệp, con thức dậy nấu nước, chăm trà rót cúng bàn thờ, cúng Tía Má, rồi con bước ra chuồng vịt thấy vịt đẻ trắng đất, nhớ Má ngày nào cũng nấu nước trà sớm, lui cui thăm chuồng vịt đẻ, Má mừng. Con cũng có trồng thêm một nhánh long nhãn, gần bên chân mộ Má, loại nhãn dày cơm, hột nhỏ mà Má rất thích. Nay cũng đã có trái nhưng không nhiều, mùi nhãn chín đủ thơm chung quanh mộ Tiá Má.
Mỗi lần có cau tươi, cau dày, vợ con lựa những trái cau ruột trắng phau, chẻ làm sáu miếng, têm vôi vào lá trầu, để trong cái diã kiểu xưa có con rồng, đem lên khay trầu trên bàn thờ, van vái Má về ăn trầu như hồi Má còn sống. Biết Má không ăn miếng nào, nhưng có van vái như vậy để nghĩ rằng lúc nào Má vẫn còn ở trong nhà, ở bên con cháu như ngày nào.
Những kỷ niệm về Má, suốt cuộc đời con, không làm sao kể hết. Kỷ niệm nào cũng êm đềm, cũng ngọt ngào, cũng thân thương, cũng gần gũi, cũng ấm áp mà chữ nghĩa thường không làm sao ghi lại hết được. Suốt đời con, con mang mãi trong lòng hình bóng Má, những kỷ niệm của Má để lại như báu vật thiêng liêng nhất, của riêng con, của đời con.
Các con của Ba Mẹ,
Mỗi người trên đời này, ai cũng có một bà Mẹ, ai cũng có một người Cha. Khi Ông Nội, Bà Nội của các con còn sanh tiền, Ba đã sợ cái ngày cha mẹ trăm tuổi, dẫu biết rằng đã là con người không ai có thể tránh khỏi cái ngày cuối cùng ấy. Ba đã biết bổn phận làm con từ lúc Ba còn nhỏ, nhưng tất cả những gì Ba mang lại cho Ông nội, Bà nội của các con vui lòng, quả thật còn quá ít ỏi, so với công lao dưỡng dục của các đấng sanh thành, không thấm vào đâu, không nghĩa lý gì. Ðiều thiệt thòi nhất trong đời Ba, có thể nói là Ba không được chăm sóc Ông Nội, Bà Nội của con lúc già yếu, không lo thuốc thang Ông Nội Bà Nội của con lúc ốm đau, không lo chôn cất Ông Nội, Bà Nội của con lúc trăm tuổi, tội bất hiếu này, Ba nghĩ sẽ làm cho Ba không lúc nào quên được. Thành ra, Ba muốn nhắc lại một vài kỷ niệm về Bà Nội, để các con thấy rằng ba dẫu đã lớn tuổi rồi nhưng lúc nào ba vẫn thấy cần có Bà Nội. Dịp khác, Ba sẽ kể các con nghe những kỷ niệm về Ông Nội. Lúc Ông Nội các con mất, các con còn quá nhỏ, để các con biết rằng, các con khôn lớn như ngày nay, học hành như ngày nay, có cơm ăn, có áo mặc như ngày nay, một phần lớn là nhờ vào công đức của tổ tiên, của ông bà các con gầy dựng từ mấy thế hệ trước để lại, không phải ngẫu nhiên mà có như vậy. Các con chỉ cần mở lòng ra nhận tình yêu thương của Ông Bà Cha Mẹ là các con đã khôn ngoan rồi, các con đã hạnh phúc rồi, cho dù các con có lớn bao nhiêu tuổi trong đời sống này.
Hạnh phúc thay những người con biết nhận những ân huệ từ những đấng sanh thành ban tặng, cho nhiều lần, cho cả đời mà không khi nào biết đòi lại bao giờ!
Lương Thư Trung
Boston, Tháng Hai, năm Ðinh Sửu
Khung Cửa Gió
Tiếng chuông nhà thờ rung lên từng hồi từ phía đồi cao. Gió mang lời chuông đến. Giờ này cô đang ngồi trong phòng, đánh đàn dương cầm. Bóng cô lặng lẽ trong màu sắc sậm tối. Ánh sáng không đủ soi rõ gương mặt của cô - một gương mặt như Ðức Mẹ... Chỉ thấy một bờ suối tóc đen thẫm, xõa lên bờ vai gầỵ "Cô H. A. cô đánh đàn hay quá Cô đánh thêm cho em nghe đi, cô." Môi cô nụ cười bao dung: "Em muốn nghe thêm hay sao?" Bàn tay cô lại vuốt trên đầu tôi, trìu mến. "Gió lọt vào phòng nhiều quâ Tiếng đàn loãng trong tiếng gió. Lại có cả tiếng sóng nữa. Em đóng cửa phòng cho cô nhé." Tôi bước về phía khung cửa. Cánh tay yếu đuối của thằng bé cô nhi không đủ sức kéo vào khung cửa sổ. Gió biển thổi vào lồng lộng. Tôi nghe tiếng sóng gầm đâu đây. "Gió nhiều quá cô ơi" Nhưng cuối cùng tôi cũng khép lại cánh cửa. Mười ngón tay của cô H. A. lướt trên phím. Những nốt bắt đầu nhảỵ Những âm thanh bắt đầu trổi lên dịu dàng. Và bây giờ tôi có thể nhìn rõ đôi mắt của cô. Rồi cô bắt đầu hát. "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ âu yếm như vầng trăng tròn..." Có một lúc nào đó, tôi nghe đôi má tôi lạnh. Tôi khóc. Cô đã nhắc về một người mẹ mà tôi và tất cả những đứa bé trong cô nhi viện không được may mắn có được. Nếu có là bà Tiên trong giấc mơ, nhỏ dùm giọt lệ trên thân phận chúng tôi. Nếu có là những lời rập khuôn từ những người giàu lòng bác ái đến thăm chúng tôi, mang theo những đồ chơị Nếu có là nỗi buồn tủi khi nhìn lên bầu trời đêm đầy sao mà mơ một lời mẹ kể về Tấm Cám... Tôi chùi nước mắt. Rồi tôi bỗng nhiên thấy đôi mắt cô H.A cũng nhòa nhạt. Thì ra thằng Marốc đã nói với tôi tuần trước. "Mẹ cô H.A. đã chết rồi. Chết ngoài Bắc lận. Tao nghe mấy chị nói như thế."
Tự nhiên tôi bước từ từ đến bên cộ Tôi nhìn lên cô, rồi òa khóc. Không biết tôi khóc cho thân phận cô nhi của tôi hay nỗi mất mát to lớn của cô H.A Hay cả hai. Phải. Từ kinh nghiệm của tôi, tôi mới hiểu hơn bao giờ về một thứ tình mà tôi bất hạnh không có, ngay từ khi lọt lòng mẹ.
Trần Hoài Thư
Viết Thật Ngắn Về Mẹ
(Tặng Lan muội)
Tôi ngồi trước máy điện toán đã lâu mà vẫn chưa biết phải viết gì. Viết gì về mẹ bây giờ. Nhân một lời nhắn của một người em trên tờ VHNT, tôi mới giật mình sực nhớ là đến ngần tuổi này, hình như tôi chưa hề viết cho mẹ một điều gì. Một người bạn nói "Thế thì còn đợi gì nữa mà không viết?" Nhưng viết gì đây? Bởi mẹ đã là một điều gì đó quá tuyệt vời. Tôi chỉ cảm nhận niềm hạnh phúc là mình còn mẹ. Tôi chỉ e những dòng chữ vô tri mình viết không đủ để diễn tả sự hy sinh và tình yêu vô bờ của Mẹ dành cho tôi.
Ngày ấy, mẹ tôi đã đau lòng biết bao nhiêu khi thằng em kế tôi bỏ học đi đăng lính Thủy quân lục chiến mà không cho bà biết. Mẹ đã lang thang như bà mất hồn đi tìm con từ trại này qua trại khác. Ði tìm con ban ngày, và ban đêm về nhà tụng kinh, cầu xin Phật tổ Như Lai độ trì cho con mình. Một ngày gặp lại, bao sầu lo biến tan và lúc đó Mẹ là một người đàn bà hạnh phúc đã tìm lại được con mình.
Ngày tôi lên Quang Trung học quân sự, ngay tuần đầu đã xiết bao nhớ Mẹ. Cuối tuần đi lang thang trong trại, ngó ra ngoài thì thấy Mẹ đứng đó tự bao giờ, tay xách hai giỏ đồ thăm nuôi. Ôi Mẹ thân thương của con!!!!!
Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tan hàng, chạy từ đơn vị về thì nhà đã lạnh tanh. Bố mẹ và 5 đứa em đã di tản qua Mỹ. Tôi đã khóc chưa từng được khóc. Còn nhớ trước đó hai tuần trong vùng hành quân, tôi nhận được điện của mẹ tôi hối tôi về gấp. Dòng diện chỉ vỏn vẹn vài câu: "Con về gấp. Mẹ bị thương." Tôi đã điên lên khi nhận bức điện này. Ðã tới xin tiểu doàn trưởng xin về thăm Mẹ. Khi cầm tờ giấy phép trên tay thì không về được vì VC đã chặn đường tại Long An, không về Sài Gòn được. Thế là trở lại đơn vị mà lòng tôi tan nát. Mẹ tôi ra sao? Tại sao lại bị thương? Ðến khi về được thì Mẹ đã ra đi. Trên tờ giấy Mẹ để lại nhoè nhoẹt nước mắt, đại ý bảo Mẹ phải theo Bố và các em, chứ Mẹ không nỡ bỏ hai con ở lạị Lúc đó thằng em tôi thất lạc ngoài Ðà Nẵng sau khi Thuỷ quân lục chiến rút đi cũng về tới. Hai anh em đã khóc ròng. Mẹ bây giờ ở đâu??
Ngày qua Mỹ đoàn tụ gia đình, thấy Mẹ đã già đi và tóc bạc hơn nhiều. Cầm tay Mẹ sau 15 năm xa cách cứ tưởng như mới hôm nào.
Vài dòng cuối muốn nói với Mẹ là con thật hạnh phúc khi còn Mẹ, Mẹ ơi!!!!!
Dũng Florida
GỞI MẸ CHA MỘT LỜI MUỘN MÀNG
thương tặng PCL
Biết bắt đầu từ đâu, khi ngôn từ ở đời là hư, là vọng. Biết nhớ lại từ đâu, khi dòng sâu đời không chờ, không đợi một ai.
Tìm nơi nào trong quá khứ để con trở về mà không tủi sầu. Ðã nhiều năm rồi, con quên hẳn đi những ngày thơ đằm thắm. Mỗi ngày qua, mẹ cha khép kín trang đời, đóng cửa với tuổi già. Vết nhăn nào trên gương mặt xuân xưa, con không hề để ý.
Bánh xe đời. Con chạy theo đuổi bắt những bóng hình, bao cuộc tình riêng. Con tự cho mình khôn lớn ở tuổi đôi mươi. Mỗi ngày qua, con đã bỏ lại sau lưng mình tuổi ấu thơ xưa vốn có mẹ cha đầm ấm. Ngày càng thêm xa, đường vui con đã không dừng, dù một phút. Mẹ cha như cây già. Mẹ như nhánh cành - và Cha như thân cằn cỗi. Cây cha mẹ hứng bao phũ phàng, đen trắng thói đời để cho hoa nở, để cho lá tươi, để cho trái xanh thành quả ngọt. Ơ thờ ngày tháng trôi về buổi hoàng hôn thầm lặng - Tóc già nay đã bạc phơ. Ầu ơ... ơ... tiếng ru đời con sắp vĩnh viễn đi xa.
Cha ơi, đã xa rồi cuộc chơi, cha làm bò cho con cỡi. Con cheo leo trên vai và cổ của cha với lòng tin vững chắc; dù bàn tay thơ ấu có lần bịt hẵn mắt cha.
Mẹ ơi, tìm lại mối thời gian. Con đã quên những ngày con đòi mẹ ru con ngủ giấc trưa nồng - thói quen của đời con. Con đã quên những ngày con đòi mẹ cầm tay dắt bước đến trường làng - niềm mến thương của đời con. Ở tuổi đôi mươi, con chỉ biết lý lẽ thiệt hơn, con dè xẻn từng ánh mắt nhìn cha, từng lời khi gần Me. Mẹ cha cho con niềm vui, lặng lẽ tự cách xa, ngắm nắng chiều phôi pha đi qua chuỗi ngày già.
Con mang nghĩa Mẹ tình Cha đi vào cuộc đời phong ba. Thềm xưa in bóng Mẹ chờ, cỗng làng hằn dấu chân Cha đứng ngóng. Con có trở về không? "Tình Cho Không" nên cha sẽ không sống đời để chờ con trả. "Tình cho không" nên mẹ sẽ không sống đời chờ ngày mai con đền đáp. Câu ca dao xưa con đã thuộc lòng, nuí Thái Sơn kia cao vời vợi, biển Ðông lòng rộng bao la. Có mấy ai đã thuộc bài mà thấu hiểu lời haỵ Xin cha mẹ ru thêm con một lần cho con khôn lớn, để cho con niệm lời sám hối muộn màng.
Sung Nguyễn