vhnt, số 285
3 April 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ:
1 - Bợi tui yêu tiếng Huế.....................................Ðan Hà
2 - Mùa đông........................................................Chinh
3 - Chút phôi pha................................................Song Vinh
4 - Felicity's April's star.........................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
5 - Cuộc mơ....................................................Hàn Trân
6 - Giận nhau.........................................Trần Nguyên Thảo
7 - Ngày xưa học trò................................................BeLi
8 - Ðến đi/Come and go............................Trương Trọng Hoàng
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Phiếm luận về lương tâm........................Ý Nhi (N.K.D.H)
10 - Sống để Ăn hay Ăn để Sống???? ..................Tứ Diễm
11 - Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc,
Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (kỳ 3)....................Khải Minh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
12 - Cánh cửa sau................................................Ý Liên
13 - Thân em như tấm lụa đào (phần 1/2)..........Nguyễn Bá Dĩnh
Choose an author as you choose a friend.
Mượn lời Wentworth Dillion: Chọn tác giả như chọn bạn, để gửi đến bạn đọc những người”bạn”trong số những tác giả đóng góp bài cho vhnt số này. Mong bạn đọc tìm thấy một chút, hay phần nào sự đồng cảm từ những bài viết, sáng tác của những người cộng tác.
Xin giới thiệu Ðan Hà đến với vhnt lần đầu với một bài thơ giọng Huế thật tự nhiên và thật hồn nhiên, thêm những giọng thơ quen thuộc của những tác giả mà chúng ta đã quen tên. Phần diễn đàn văn học, Ý Nhi và Tứ Diễm với 2 bài phiếm luận thật ý nhị, dí dỏm và thông minh. Ý Liên với truyện ngắn đặc sắc và Nguyễn Bá Dĩnh với phần đầu của một truyện tình.
Chúc bạn có những ngày yên ả đầu mùa xuân.
thân ái,
PCL/vhnt
Bợi Tui Yêu Tiếng Huế
Chi lạ rứa cái eng ni dệ ghét
Chộ người ta có giọng noái quê mùa
Không biết nghe thì đành chịu thiệt thua
Chớ đừng hỏi noái cái chi lạ rứa
Vì quê tui có sông Hương núi Ngự
Bên ni bên tê cùng một nhịp cầu
Nghe điệu hò trên bến Phú văn lâu
Nên cái nhớ cái thương đeo tui miết
Eng có biết lời Mẹ ru tha thiết
Từ thủa nào còn nằm ngã trên nôi
Lời ca dao ngọt lịm ở đầu môi
Ðã thấm đậm vào lòng tui thủa nhỏ
Thì bây chừ tại mần răng mà bỏ
Nên muôn đời vẫn nhớ tiếng quê tui
Dù khen chê hay ghét cũng chịu thôi
Vì đây tiếng Mẹ Cha miềng muôn thủa
Tui vẫn giữ dù sông bồi biển lở
Vẫn sắt son mãi mãi với thiên thu
(Hò ơi... Eng với tui không hận, nỏ thù
Cớ mần răng ngắt bí hái bù tui luôn)
Chàn bù bí là quê hương tôi đó
Eng không chăm nom vun tưới thì thôi
Ðừng có hòng tui thay tiếng đổi lời
Ðể tui tiếc một đời tui dại dột
Lời của người xưa: biết thì thưa thốt
Nếu không biết thì dựa cột mà nghe
Tui không cần đến những tiếng khen chê
Vì tui vẫn muôn đời yêu tiếng Huế.
Ðan Hà
Mùa Ðông
Mùa đông có mưa lâm râm
Buổi chiều tôi đi nhặt lá
Khi gió hái đi từng chiếc lá *
Tôi biết tìm gió ở đâu?
(Nhìn tôi xanh ngắt mặt mày).
Mùa đông nhìn nắng rất buồn
Tôi ngồi làm thơ về nắng
Buổi chiều cơn mưa đi qua
Làm ướt bài thơ ẩn mật
(Ðêm về ai sẽ dỗ tôỉ).
Mùa đông ngồi riêng một góc
Vẽ chân dung ai méo xệch
Môi đen thâm, tóc rũ ướt
Chiều bầy quạ đen ghé ngang
(tưởng vừa tìm được xác chết).
28 tháng 3 , 97
Chinh
* thơ PCL
Chút Phôi Pha
Chiều trên vùng đất nhỏ, ta ngậm ngùi
tiếc tưởng chuỗi ngày qua. Thánh Thư
ơi! niềm nhớ thật đầy, thư miền xa
không đủ ấm, góp tâm hồn ánh mắt
gởi Thánh Thư yêu
Ta bước trên dốc đời nắng nhạt, tay
thư sinh hỏi lại đã hao gầy. Núi ở
đây, núi cũng lắm mây bay. Sông quá
nhỏ, cho ngày hò hẹn. Dạo bước nương
dài lòng ta khắc khỏai. Bao chừ Thánh
Thư về cây lá đón che. Áo Thánh Thư
bay trắng nửa góc trời. Ta tự hỏi,
Thư còn hay Thư mất
"Này Thánh Thư, ta ở đây buồn quá
đủ, gót giang hồ ràng mãi nợ công
danh, đêm nối đêm cúi xuống bóng một
mình. Căn gác nhỏ, sống chung tình
đáng tội"
”Núi đẹp lắm Thánh Thư nè! Hôm nào
về ta dẫn Thánh Thư đi, ngó giọt
sương đọng tóc Thánh Thư dài, ta răng
khểnh ngây ngô cười chế nhạo"
"Nào có biết bước đi bước lỡ! Ta
nguyện cầu lần quỳ xưng tội với
Thánh Thư. Ngày còn xa ta ấp ủ tự
lâu rồi. Hôm chợt đến thấy nửa
lời lúng túng"
Thánh Thư ơi! ngày đêm chốn này mất
dần ranh giới, ta ngỡ ngàng quanh ngôn
ngữ xa xôi. Yêu mắt Thánh Thư đẹp
như ánh sao trời, tay Thánh Thư nhỏ,
trọn đời hồn ta gởi lại
Có trong nhớ niềm thương bất tận. Ta
đam mê ngực thiếu nụ hồng. Thiên
đường đây dăm lũ quỉ đứng hầu,
địa ngục đó bóng mình ta lạnh lẽo
Song Vinh
FELICITY'S APRIL'S STAR
In the golden liquidy honey sunshine
A dream, was it?...
a sweeping glance of a brief hallucination:
Flowing silk butterfly wings of white "aó dài,"
flying in the whispering breeze
jet black streams of my long ancient hair
singing the songs of Trịnh Công Sơn,
the sad and wistful compositions...
Almond-shaped glistening brown eyes,
streaken with the ghosts of memories -
A drop of starry tear formed
falling fast across endless pit dark space
of deaf and dumb, numbing history
Forming a waiting wishing star!
In April 1997, twenty two years later,
Standing in the backyard of my American home
in the midst of the Apple trees
I have planted exactly a year before
to mark the 21st anniversary of SaiGon's Fall,
I tear fast at the button of my sweater,
plunging it at the sun,
Shut my eyes and make the wish:
"A peaceful and prosperous 21st Century
For my country, my people,
and the World!"
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
Tuesday, 4/1/1997
Cuộc Mơ
Sáu mươi độ F hôm nay ấm quá
Ðợi chờ hoài mùa đông rồi cũng qua
Nhìn Thứ sáu vào ngày thêm chưng diện
Tan sở về sẽ lắm cuộc buông tha
Mùa xuân đến vui mừng đông đã tạ
Khi hè tàn lo lạnh của thu sang
Mỗi Thứ hai chờ Thứ bảy qua hàng
Ðêm chủ nhật nghe buồn đi ngủ sớm
Ðời lạnh nóng những vòng quay dị hợm
Ðợi chờ rồi vui lắm lại qua mau
Những đớn đau cứ tiếp nối làm màu
Tô với điểm bao trủng tròn không đáy
Người đã đến cho mây gần mấy cụm
Ðọc hồn người đầy dấu hỏi không tên
Người ra đi như sương phủ bên rèm
Ôm hơi khói từng tấc vuông mờ ão
Một hình bóng đong đưa sầu một dạo
Ngày cũng tàn cuộc nhớ cũng phôi phai
Nhưng tin ai. Nhịp máu chảy mệt nhoài
Làm sống dậy những đồi xưa cỏ úa
Người hân hoan hạnh phúc vừa bắt gặp
Tôi ngại ngùng lắp bắp chúc vài câu
Chiều thứ sáu chẳng biết có nên sầu
Thì thứ bảy không chờ rồi cũng đến
Nhìn bàn giấy lẫn lộn hình với chữ
Những đi về có phải những phong ba?
Kiếp phù du có ngắn lắm không là
Thời mong đợi biết thế nào là đủ
Hàn Trân
Giận Nhau
Thế là hai đứa đã giận nhau
Gặp nhau ngoảnh mặt mắt nhìn đâu
Cuối đường trông thấy lòng muốn gọi
Nhưng rồi đành chỉ ngóng nhìn theỗ.
Mắt buồn đừng ướt khóc trời ngâu
Tay hờn đan vội phiến u sầu
Tóc dài quên ngủ bờ vai nhỏ
Em bỏ tình rồi, em ở đâu?...
Ðêm nay anh thấy một vì sao
Long lanh như mắt ấy nghẹn ngào
Biết là em giận rồi ngoảnh mặt
Như dòng sông lạ chẳng tìm nhau
Bao giờ mắt mới mỉm cười theo
Vai nghiêng tình tự gió mây chiều
Tay ôm, dòng tóc bình yên nhớ
Nụ tình trao tặng, gió mùa reo...
trần nguyên thảo
1/29/97
Ngày xưa học trò
Em muốn nhặt từng cánh hồng nho nhỏ
Cho vui buồn theo ký ức đi rong
Chuyện ngày xưa, đem gom góp vào lòng
Mai mốt xa rồi, có nhớ với thương
Trời đầu xuân, nắng giăng hờ góc phố
Phơn phớt buồn, như lưu luyến mùa sang
Có hàng cây, bên nhau mà đứng lặng
Theo ngọn gió chiều, tiễn bước em đi
Em muốn viết một chút gì, thương lắm
Cho bạn bè, những buổi học sớm trưa
Có ngôi trường với ghế đá lưa thưa
Chiều tan lớp, bên hàng me lóng ngóng
Sao nhớ qúa từng cánh hồng nho nhỏ
Ép hôm nào, trong góc vở, ngủ yên
Chuyện học trò còn đầy ắp, y nguyên
Hôm qua đó, sao chừ xa xa lắm...
Bé Lì
3/97
COME AND GO Ðến Ði
Clouds come to the sky Mây đến,
And go mây đi,
No trace left. không vết bợn.
She came to my life Người đến,
And went người đi,
A heart wound! một nhát lòng!
16/03/97
Trương Trọng Hoàng
PHIẾM LUẬN... VỀ LƯƠNG-TÂM
Bàn đến chữ "Lương Tâm”, người Tây Phương định nghĩa lương-tâm là lòng bản - nhiên của con người và phân biệt được thế nào là tốt và xấu. Người Pháp họ gọi là conscience hay conscience morale, còn người Anh người Mỹ họ gọi độc nhất một chữ là conscience.
Ấy vậy , nhưng người Việt Nam chúng ta trong ngôn ngữ lại có nhiều hình-dung từ nói về lương-tâm, nếu suy nghĩ kỹ thì thật là ý nhị và sâu xa.
Hình như các cụ ngày xưa vẫn coi lương-tâm là một con vật hay giống một loại gì đó!!?!..... Chẳng lẽ lương tâm lại là con vật sao? Sao vậy? Nếu là con vật thì phải có răng hay sao? Lương tâm mà lại là con vật được hay sao , thật là vô lý qúa phải không ạ?
Thế nhưng mà các cụ nhà mình cũng thâm thúy và ý nhị lắm , vì nếu không có răng thì tại sao người Việt Nam mình lại có câu nói: “Lương tâm cắn rứt” ấy? Nếu không có răng thì làm sao mà lại biết cắn và rứt chứ?
Ðây là lúc cái "con lương tâm” của con người chúng ta lúc còn trẻ trung, năng nổ , đầy đủ răng, thì khi chúng ta làm gì sai, nó mới cắn rứt được chứ!!
Còn khi cái "con lương tâm” của mình đã bệ rạc hay nói cho đúng ra thì nó đã lão hóa, y như là nó đã rụng hết răng - vì rụng hết răng nên nó không thể nào mà cắn rứt ta được nữa - nhưng nó không có răng thì còn lợi, do đó dù lương tâm nó có già có lão hóa đi chăng nữa, nó vẫn còn đay nghiến và gậm nhấm ta; mà phải công nhận rằng nó rất giỏi thức nữa cơ đấy nên mới có câu: "ngày đêm lương tâm cắn rứt và đay nghiến."
Nhưng, cũng tùy thời giá, nhưng thường thường khi ai bán nó thì giá rất ư là rẻ mạt , vì vậy mà ta vẫn có câu: "con người bán rẻ lương tâm", bán thì bán vậy , rất rẻ, nhưng giá rẻ là bao nhiêu?... thật ra đến nay ta vẫn chưa ước định được”con lương tâm”đó nó rẻ và rẻ như thế nào? Bao nhiêu xu?... bao nhiêu đồng?
Mà cùng hay, lương tâm thì hình như ai cũng có thì phải - Vậy mà có kẻ lại bảo rằng: “ông hay bà nọ vô lương tâm”(hay không có lương tâm). Té ra là các vị đó không có lương tâm thật hay sao? Có người thì cũng có, nhưng chắc vì bương trải cuộc đời quá hay sao hoặc giả vì bỏ nó vào cặp, trong va li , tuí xách, hay lỡ khòm lưng nên bị rơi mất rồi... hay bị ai lấy mất?... nên các cụ ta còn nói: "ông đó, bà kia đánh mất lương tâm". À, mà khi đánh mất thì phải đi tìm chứ - còn trong khi những người bị mất "con lương tâm” kia - không hiểu các vị đó có tiếc rẻ mà đi tìm nó lại chăng?
Hoặc giả là con lương tâm của ai đó có răng nanh rất sắc, cắn hồi đau quá nên ai kia không chịu đựng được phải mang ra chợ bán rẻ mất rồi?
Ðấy là nói cho vui câu chuyện thế thôi!!!... ngẫm lại cho cùng thì Tiếng Việt , ngữ pháp Việt Nam quả là giàu và súc tích, bất kể một loại gì kể cả lương tâm mà các cụ nhà ta vẫn có hình dung từ để chỉ rõ cho con cháu thấy được nó là gì và nó là như thế nào!
Người viết xin mượn lời thơ của nhà thơ làng Vị Xuyên - Tú Xương - để kết thúc bài này nhé:
Chúc cho khắp cả ở trên đời
Vua quan sĩ thứ người trong nước
Sao được cho ra cái giống người!!
Ý Nhi
(N.K.D.H)
Sống để Ăn hay Ăn để Sống????
Tự dưng bữa nay TD chợt nhớ đến mấy câu trong một quyển sách tập đọc thưở bê Bài đó như vầy nè:
Hôm bữa nọ, tôi đi ăn giỗ
Ngồi bốn người một cỗ vui sao
Heo quay, gà rán, tôm xào,
Gà hầm cà-rốt, xu hào cũng ngon
Món nộm sứa vừa giòn vừa mát
Măng nấu cua một bát đầy tràn
Ðĩa rau sà-lách trên bàn
Chủ nhân đi lại hân hoan chào mừng
Kể cũng ngộ nhỉ? Giỗ, Tết, đám cưới, sinh nhật, đầy tháng, thôi nôi, dọn sang nhà mới, tiễn bạn bè đi xa, đón bạn bè từ nơi khác lại, v.v... đều có dính líu đến cái vụ ăn uống, nhậu nhẹt hết cả đó mà. Vậy thì”Ăn để Sống” hay”Sống để Ăn”???????
Dĩ nhiên là một số người khi đọc đến đây sẽ đáp liền rằng: “Thì ăn để sống, chứ ai lại sống để ăn, hỏi vậy mà cũng hỏi...” Ừ, thì cứ tạm cho là "Ăn để mà Sống", ăn để có đủ sức mà làm việc, mà đi chơi, nhưng sao TD vẫn thấy cái cách trả lời này có vẻ không ổn thế nào đó nghen. Này nhé, nếu ĂN chỉ để SỐNG, vậy sao còn phải bày vẽ ra món này, món kia, tiệm này, tiệm nọ chi cho phiền hà? Sao không đổ chung những thứ thực phẩm đầy đủ chất dinh dưỡng vào nồi rồi, nấu theo kiểu nào đó cho chín. Thế là xong, nhanh và gọn mà lại đủ chất bổ để SỐNG, đúng không nè?? Tại sao lại phải lích kích bát đũa dĩa ly tách chi cho phiền hà, phải ngồi vào bàn ăn cho rắc rối cuộc đời chứ?? Hay nếu muốn tiết kiệm thì giờ hơn thì các nhà dược sĩ, bác học sẽ phát minh ra các loại thuốc viên chứa đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho mỗi người. Đến bữa ăn, mọi người chỉ cần bỏ vài phút uống viên thuốc kèm chút nước, thế là xong, như vậy có phải là tiện lợi vô cùng không hở?? Khỏi cần tốn thì giờ đi chợ búa, đánh lộn với nồi niêu soong chảo trong bếp, khỏi phải lo rửa chén bát, nồi, khỏi phải lau chùi nhà bếp... Tiết kiệm được biết bao nhiêu là thì giờ, phải thế không????
Chẳng hiểu mọi người nghĩ sao. Chứ dạo TD còn ở VN, có một lần thầy của TD cũng bàn về đề tài này mà cả lớp đã nhao nhao phản đối kịch liệt. Vì đứa nào cũng ngán ngẩm trước cái viễn cảnh không lấy chi làm vui vẻ nếu vụ uống thuốc thay cơm được lan tràn trên thế giới. Cứ thử tưởng tượng mà xem nhé. Trong một buổi tiệc cưới, cô dâu, chú rể trong bộ lễ phục đẹp mắt đi từng bàn chào hỏi bà con cô bác xong khẽ cất tiếng mời mọi người”nhập tiệc". Khi đó các quan khách sẽ vui vẻ nâng ly ( nước lạnh thôi, uống beer, rượu không có tốt cho sức khoẻ) chúc mừng cô dâu, chú rể, rồi đưa tay lấy một viên thuốc đã được để sẵn trong một cái đĩa nho nhỏ trình bày đẹp mắt trước mặt, cho vào miệng nuốt. Thế là xong phần”ĂN để SỐNG", nhanh và gọn quá ha. Sau đó, đến màn trình diễn văn nghệ và tán dóc. Thật là tiện lợi vô cùng, đúng không?? Nhưng hỏi thật nha, có ai muốn tổ chức đám cưới kiểu đó không hở??????
Tương tự như thế, các buổi họp mặt bạn bè nếu không có cái vụ ăn uống lu bù thì thử hỏi có mấy người sốt sắng tham gia??? Rồi những bữa cơm tối của gia đình nữa ch Khi đó còn đâu những cảnh cả gia đình ấm cúng quây quần quanh mâm cơm, vừa ăn uống, vừa kể cho nhau nghe những chuyện ngoài xã hội, trong học đường. Chao ơi, nếu thật chỉ”ĂN để mà SỐNG”thì cuộc đời này buồn tẻ biết bao nhiêu, có phải thế không hở???
Chẳng biết mọi người nghĩ sao chứ với riêng TD, những kỷ niệm thưở nhỏ luôn luôn gắn liền với những món ăn vặt rẻ tiền mà ngon chi lạ, hình ảnh mẹ hiền luôn gắn liền với những món ăn độc đáo do chính tay mẹ nấu, những tình cảm về quê hương Việt Nam đã pha trộn với những món ăn, phong cảnh riêng biệt của dân tộc mình. Nếu chỉ tách rời những kỷ niệm, hình ảnh riêng biệt ra thì sẽ thành những mảnh vụn lộn xộn, vô nghĩa. Chẳng hiểu tự bao giờ những món ăn đã liên kết những hình ảnh, kỷ niệm cũ lại với nhau trong ký ức, một cách vô thức nhưng thật khó phai m Ðến một lúc nào đó, tình cờ được nếm lại một món ăn lâu ngày chưa được ăn thì bỗng những kỷ niệm, hình ảnh cũ lại trở về tràn ngập, thân quen khiến ta bùi ngùi thương nhớ. Chao ơi, như thế”ĂN đâu phải chỉ để SỐNG”đúng thế không????
Có phải nhà văn Vũ Bằng cũng có cảm giác như thế khi viết quyển "Thương Nhớ Mười Hai”??? Những nỗi nhớ thương xứ Bắc xa vời đã thấp thoáng xen kẽ qua những món ăn, trái cây. Những dòng chữ miêu tả những món ăn, cây trái theo mùa không chỉ còn đơn thuần là viết về những món ăn, mà bộc lộ cả một trời nhớ thương của nhà văn với người vợ hiền nơi đất Bắc xa vời vợi, khiến cho người đọc cũng bị cuốn hút với tình cảm của tác giả, cũng cảm thấy chút bùi ngùi, xót xa, thương nhớ cái miền đất xa xôi ở đầu kia của Tổ quốc dẫu rằng chưa một lần ghé thăm, nhưng những dòng chữ của tác giả đã thu ngắn lại khoảng cách, đã khiến ta thấy thân quen với những nơi chốn xa lạ, những món ăn độc đáo chưa một lần nếm qua... Như thế có ai nỡ kết luận nhà văn Vũ Bằng đã”SỐNG để ĂN "hay không??? Dẫu rằng, suốt cả mấy trăm trang giấy, tác giả chỉ viết về những món ăn, có những món ăn thật cầu kỳ, rắc rối, viết về những cách thưởng thức món ăn thật tốn thì giờ.
Trong kho tàng tục ngữ, ca dao của dân tộc, có ai đủ sức để đếm hết những câu có nhắc nhở đến những món đặc sản của mỗi địa phương? Mỗi khi nghĩ đến một món ăn thì tự dưng vô tìnhTD lại nhớ đến một địa danh trên đất nước VN, dẫu rằng chưa một lần đi đến nhưng sao mà thấy thân quen chi lạ. Chẳng lẽ miếng ĂN lại có sức mạnh đến thế sao?? Ôi, thương sao những câu ca dao được ngâm nga theo từng tiếng mẹ ru thưở xa xưa, để thấm sâu vào từng thớ thịt, từng kẽ tóc khiến ta chợt bùi ngùi thương nhớ khi tình cờ nghe ai đó ngâm nga nơi đất lạ quê người.
Ở cái xứ lạnh lẽo này, đường xá xa thăm thẳm. Dù phương tiện di chuyển rất văn minh, nhưng mỗi ngày hầu như mọi người đều phải tốn rất nhiều thì giờ khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Có lẽ chưa có nơi nào mà thì giờ lại quý giá như cuộc sống ở những xứ được gọi là văn minh như bên ni. Chao ơi, còn ai dám nghĩ đến những giấc ngủ trưa êm đềm, những món ăn ngon lành nhưng cầu kỳ rắc rối, đòi hỏi rất nhiều thì giờ để nấu nướng cũng như thưởng thức. Có lẽ bởi vậy, nên người ta đã tiết kiệm thời gian đến nỗi những tiệm chuyên bán fastfood mở ra đầy rẫy khắp phố phường. Nhưng như vậy cũng chưa đủ nhanh, người ta lại nghĩ đến cách drive thru hay free delivery nữa chứ. Thật tiện quá mà phải không? Chỉ lái xe đi ngang qua tiệm, hay nhắc phone order vài món thế là xong cái vụ "ĂN để SỐNG” rồi còn chi. Hay đơn giản hơn nữa, cuối tuần đi mua sẵn vài hộp thức ăn đông lạnh để dành trong tủ. Tan sở về nhà, bỏ vô microwave nhấn vài cái nút, thế là xong một bữa ăn coi bộ cũng ngon mắt và đủ chất bổ rồi. Riêng đám sinh viên nghèo, luôn thiếu thốn cả về tiền bạc lẫn thì giờ thì luôn luôn trung thành với cái châm ngôn "ĂN để SỐNG” vào những giờ phút bận bù đầu bù cổ. Khi đó, thì bất cứ món chi có thể cung cấp tạm đủ một số năng lượng cần thiết, đủ xoa dịu cái bao tử đang nổi loạn là quá đủ rồi, cần chi phải bày vẽ thế này thế nọ cho rắc rối. Thế nhưng, đừng tưởng là dân sinh viên hổng có thích thú cái mục "SỐNG để ĂN” đâu nha. Khi kỳ thi cử đã tạm xong, mọi người lại vui vẻ mà ca cẩm rằng "SỐNG mà không ĂN thì sống làm chi". Rồi kéo nhau đi ăn hàng tưng bừng để bù lại những tháng ngày chỉ ĂN để mà SỐNG.
Mà dường như ai cũng thế cả, nếu ai cũng chỉ nghĩ ĂN để SỐNG thì những nhà hàng sang trọng đến những tiệm ăn nho nhỏ đã phải đóng cửa từ lâu rồi, đâu có thể càng ngày càng mở rộng thêm lên như hiện nay. Thử hỏi ngay cả các nhà danh sĩ thời xưa đã từng dạy người đời rằng ”"iếng ăn là miếng nhục", thế sao họ lại còn kèm theo biết bao nhiêu là thủ tục rắc rối cầu kỳ về vụ ăn uống "miếng thịt thái không vuông, không ăn. Chiếu trải không ngay, không ngồi”. Rồi những người giàu có lại phô trương sự giàu sang của họ bằng những món ăn đắt tiền cho mọi người nhìn mà thèm được địa vị như họ. Hay như Từ Hy Thái Hậu đã đãi một tiệc rượu độc đáo đến nỗi chưa có vị vua chúa nào trên thế giới có thể bắt chước được. Như thế phải chăng vô hình chung mọi người đã chấp nhận cái cách suy nghĩ”SỐNG để ĂN", đúng vậy không????
Vậy thì ta nên đáp sao cho phải khi có người thắc mắc rằng”Sống để ăn hay ăn để sống”bi chừ hở?????
Tứ Diễm
Chú thích của vhnt:
Với tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của mọi người, VHNT đăng bài viết phê bình của Khải Minh hoàn toàn với tính cách phổ biến và mong chỉ làm một diễn đàn để tác giả và độc giả có cơ hội trao đổi những chủ đề liên quan đến văn học, đó là mục đích của VHNT khi đăng loạt bài này của Khải Minh. Ðộc giả có thể đồng ý hoặc không đồng ý với nhận xét phê bình của tác giả Khải Minh về loạt bài góp ý với ba tác giả phê bình về thơ là Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quý Toàn và Thụy Khuê, VHNT xin mời bạn tham gia góp ý và sẵn sàng làm trung gian chuyển thư của bạn đọc đến tác giả KM về loạt bài "góp ý...” này.
(Tiếp theo kỳ 3)
Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (*)
Ðỗ Quí Toàn: Tìm Thơ Trong Tiếng Nói.
Quyển tiệp ký của ÐQT xoay quanh vấn đề ngôn ngữ. Ở một vài câu, ông chạm gần đến khí thơ nhưng vì cái nhìn về thơ của ông lại khác nên tôi đành than: tiếc thay!.
Sách của ÐQT không dễ đọc vì nó quá dễ dãi. Nó không có bố cục, không có chương tiết rõ ràng. Nó được ghi nhanh chép vội (tiệp ký) nên người đọc phải chịu khó đọc thay vì nói chuyện dài dòng vậy. Ðọc xong tôi thấy có nhiều cách đặt vấn đề với ông, cuối cùng tôi chọn cách kết hợp vừa nói theo từng trang vừa gom lại những chủ đề rải rác. Khi nói theo từng trang, tôi chia ra hai cột: cột ”ngôn ngữ thường ngày" và cột”Ngôn ngữ thơ theo theo ÐQT". Trong hai cột này tôi xin mạn phép thêm bớt ít tiếng nếu cần để cho rõ nghĩa, hy vọng ý chính không bị hiểu lầm.
Tiếng nói, Tiếng nói, Trang
ngôn ngữ ngôn ngữ thơ theo DQT
thường ngày (văn).
-------------------------------+------------------------------------+--------
- Ý nghĩa quan trong.Xếp đặt quan trong. 29
- Viết văn (có hệ thống). Làm thơ (sống, tự nhiên) 30
- Chọn và ghép riêng biệt. Chọn ghép cùng lúc 32
- Nhân tạo, mòn phai. Hồn nhiên. 47
- Phân tích, xếp loại, Thực tại toàn thể, 48 tự điển. cuộc đời.
- Qui ước, phạm trù. Xuất hiện lần đầu. 52
- Sáng nghĩa. Nghĩa mờ dịu với cảm súc.72
- Thực dụng. Ma lực, thần chú. 78
- Lưu lạc, khái niệm. Cội nguồn (tiếng mẹ đẻ).84
- Ấn định sẵn, lập lại. Của mình, bản gốc. 91
- Không chú trong tính nhạc. Có nhạc điệu, láy, đối... 94
- Tỉ giảo. Sống lại trong sự vật 96
- Phân tích chính xác. gộp thể, mơ hồ, trực tiếp. 98
- Theo luật văn phạm. tự ghép nối mỗi tiếng. 99
- Dễ đoán trước. Lạ lẫm, bất ng 103
- Chờ đợi đúng(tự nhiên) Chờ đợi sai (ngạc nhiên) 107
- Dài dòng, đơn giản. Cô đọng, xúc tích. 108
- Giản dị chi tiết.Giản dị toàn thể. 112
- Khuôn sáo, tự động hóa. Tạo ngỡ ngàng. 114
- Rỗng. Ý t124
- Công cụ ngữ pháp. Tiết tấu.128
- Ðơn vị câu, mệnh đề. Ðơn vị ch 130
- Thiên về lý, ý tưởng. Thiên về cảm xúc. 131
- Nội dung cần thiết. Hình thức cũng cần thiết. 133
- Ðại ý, thực giác. Ðặc điểm ngôn ngữ, 139 trừu tượng, siêu giác.
- Càng rõ càng tốt. Mờ ảo, tình tứ. 144
- Bắt chước, mô phỏng Ðộc đáo. 144 được.
- Phê bình có lợi, dễ. Phê bình cũng vậy vậy, khó. 146
- Ðóng, khép kín. Mở rộng. 147
- Như đồ ăn liền. Như đồ phải nấu nướng 147
- Lượng thông báo ít. Lượng thông báo đa dạng. 152
- Chuỗi từ ngữ văn phạm. Tổng thể ngôn ngữ.153
- Nói sao hiểu vậy. nói ít, hiểu nhiều.157
- Chuyển dịch được. Không chuyển dịch. 163
- Qui thức quen. Qui thức lạ. 166
- Hoán chuyển thêm bớt. Tinh thiết. 171
- Tham dự trò chơi ngôn Sáng tạo trò ngôn ngữ mới 172 ngữ đã có.
- Tàng ý thỏa thuận. Ðổi cách hiểu ngầm. 181
- Hợp tác nói - nghe. Ðiều kiện thông cảm. 183
- Tiền đề gợi ý. Ý trực tiếp,không giả thuyết.187
- Phân biệt đúng sai. Không ranh giới hay -d 189
- Ngôn ngữ nhận định. Ngôn ngữ hành động.190
- Xác định. Mập mờ, bất định. 191
- Nói cho thính giầTự nói cho mình nghe.215
- Ðọc để biết. Ðọc và sáng tạo. 216
- Một lối rõ ràng. Mở ra nhiều cánh cửa. 224
- Diễn nghĩa sự vật. Huyền nhiệm đang được 225 khám phá.
- Có thể thay chữ, tiếng. Mỗi chữ có duyên số riêng. 247
- Cường độ hiểu theo số Cường độ cảm hơn số 280 lượng ngôn nglượng ngôn ngữ.
Lướt qua hai cột trong bảng phân biệt văn - thơ, Chúng ta thấy từ đầu đến cuối quyển sách, ÐQT đã tìm đủ mọi cách để vạch ra một ranh giới giữa thơ và văn,chỉ tiếc là ông bị vấn đề ngôn ngữ ám ảnh đầu độc để không thoát qua ngưỡng cửa văn vần như tôi sẽ góp ý trong một vài chi tiết sau:
Ngay từ trang đầu, ÐQT đã chấm hỏi cho một xác định của mình về thơ:
"Cái gì là thơ nhỉ? Cái gì gây ra thứ rung động mà chúng ta, mỗi người cảm thấy khi nghe một thứ để ta gọi nó là bài thơ? “.
Ðọc đến đây tôi hơi thất vọng. Cũng may nó là”tiệp ký" nên nhủ lòng kiên nhẫn đọc hết. Tôi thấy văn xuôi, tiểu thuyết làm độc giả không những rung động mà còn cảm động khóc ròng hay cười ngất. Ðối với tôi, thơ là một luồng khí tạo ra cảm giác mới, cảm động mới, sự sống mới... không nhất thiết phải là khóc, cười, hay, dở nơi độc giầ Nó bắt độc giả chấp nhận ngay cả cái vô nghĩa của ngôn ngữ để cảm xúc nhập tâm trọn vẹn. Có nghĩa là con người phải tự hủy, tự biến đổi để kết hợp với nô
Ở trang 43, ÐQT viết: “Làm thơ là tìm lại tiếng nói hồn nhiên sơ khai, như khi loài người mới bắt đầu tập nói..." Xa hơn nữa: “Thơ là những trao đổi riêng tư giữa người làm thơ và người đọc thơ. Phương tiện để trao đổi là tiếng nói... “rồi ông áp dụng sơ đồ truyền thông sau:
Gốc (Cảm thọ của thi sĩ)
|
|
v
Tín hiệu (thành lời nói)
|
|
v
Bản văn thông điệp (bài thơ in ra hoặc đọc lên)
|
|
v
Giải tín hiệu hay giải mã (nghe hay đọc bài thơ)
|
|
v
Tiếp nhận (Cảm thọ của người đọc hoặc nghe)
Theo sơ đồ này ÐQT đã đồng hóa thơ và thi sĩ. Than ôi thơ thì chỉ có một mà thi sĩ sao mà nhiều. Theo lý luận triết học thì chắc chắn thi sĩ không thể đồng hóa là một với thơ được. Vậy thơ phải có trước thi sĩ và thi sĩ có trước ngôn ngữ như sơ đồ sau:
Gốc (thơ nguyên thủy)
/\
/ \
/ \
/\
Khí| Các thi sĩ (cảm thụ của thi sĩ)
thơ | |
( vô | Tín hiệu (thành lời nói)
nghĩa | |
ngôn | Bản văn thông điệp (in ra hoặc đọc lên)
ngữ) | |
| Giải tín hiệu hay giải mã (nghe hay đọc)
| /
\/
\ /
\ /
\/
Tiếp nhận (cảm thụ của người đọc hoặc nghe)
Theo sơ đồ của tôi thì truyền thông trong thơ quan trọng nhất là phần khí. Khí vừa đi qua thi sĩ vừa đi thẳng đến người tiếp nhận cùng một lúc bằng những trực giác, ẩn giác trong một tiếng, một chữ hoặc bằng bất cứ hình thức trình bày nào đó trong câu thơ.
Phần khí thơ này không phải ÐQT không nhắc đến, chúng ta có thể tìm thấy rải rác những tiểu đề hoặc những câu bóng bẩy như:
“thần chú” (tr. 75);”Bài thơ một huyền nhiệm”(tr.229); "Bậc đại gia không nhất thiết đã biết tại sao trong bài thơ mình phải dùng chữ nào, đặt câu nào. “Viết xong ngắm nghía tuyệt nhiên không biết là có nên không. “Chỉ biết rằng nó phải như thế, không thể khác được” (tr. 172); ”Làm thơ cũng giống lên đồng là vậy”(tr. 233)
Tôi cho đây là những tiếng, những câu đáng đọc và khai triển nhất trong ÐQT nhưng tiếc thay!, tiếc thay tâm trí ông lại vô tình cho điều cốt tủy của thơ.
Từ đây trở đi với cái nhìn của tôi, phần lớn quyển sách của NQT đều áp dụng cho văn vần vì văn vần không cần đến khí thơ. Thí dụ như khi ông viết về hiện tượng "tiền nhân đè nén”thì hiện tượng này chỉ đúng khi chấp nhận thơ là văn vần. Khí thơ như hơi thở, nó không bao giờ giống nhau vì không bao giờ có hai hoàn cảnh giống nhau nên những ai cảm thấy bị tiền nhân đè nén thì có lẽ họ đang viết văn vần.
Ở trang 115 ÐQT viết: “Chất thơ không phải ở các ý bất ngờ, hình ảnh rùng rợn. Mà phải ở ngôn ngữ”. Ở đây ông có vẻ muốn đồng hóa Ngôn ngữ với Thi sĩ và với thơ. Thực ra, nếu ta đã lý luận được thơ không khởi nguồn ở thi sĩ thì ngôn ngữ thi sĩ cũng không phản ảnh được chất thơ. Chất thơ là một luồng trực giác, vô thức đi qua thi sĩ tạo một giác quan mới mà ngôn ngữ còn như vô nghĩa, nghĩa là ngay chính cả thi sĩ cũng không nghĩ được vì nó không cần nghĩ, vì nó chưa có trong kinh nghiệm loài người, vì nó vừa sinh ra, còn tinh túy một giác quan mới, chưa tạo thành ý niệm gì về ý nghĩa nơi chúng ta.
Ở trang 120, ÐQT ghi lại 6 loại nhà văn, nhà thơ phân loại bởi Ezra Pound: Người khám phá, phát minh; Các bậc đại gia; Người pha chế; Văn sĩ, thi sĩ; các nhà làm văn chương; các tác giả thời thế. Theo tôi, thi sĩ chỉ có một loại: tính tình phóng khoáng, hồn nhiên, cõi lòng trong suốt như thủy tinh để ánh sáng, âm thanh, hình tượng... của vô thức cảm xúc, của tiềm thức mặc khải chiếu qua.
Ở trang 124, ÐQT muốn dùng chất thơ (do âm điệu hoặc do ý tứ) để phân biệt văn và thơ.
"Một câu có vẻ trầm bổng, vần câu sau giống vần câu trước, thì nói có chất thơ nhờ âm điệu. Một đoạn văn không có các yếu tố âm điệu nhưng các chữ dùng trong đó gợi ý tứ nhiều thì nó có chất thơ ở ý nghĩa."
Nói nhập nhằng như vậy thì cũng giống như NHQ tuyên bố:
"càng ngày ranh giới giữa các thể loại văn học càng mờ dần, nhạt dần; một mặt, chất thơ cứ lấn sang văn xuôi, mặt khác, chất văn xuôi cứ thâm nhập vào thế giới của thơ. Mọi sự phân biệt tách bạch đều có vẻ gì như là một sự ngây thơ. Nó giả tạo và nó khiên cưỡng." (Thơ v.v... Và v.v.. tr.102)
Nói theo kiểu huề vốn của ÐQT và của NHQ này thì văn học chúng ta đang phá sản và cộng sản (Dân tộc ta sống với nắng gắt, mưa dầm nên có rất nhiều mũ tặng cho nhau mỗi khi muốn đùa). Nhờ có phát triển mới sinh ra ngành này nhánh kia nay lại gom lại thì để đợi nó héo khô đun bếp. Thật ra, thơ cũng có thể ví như tôn giáo, nó không thực dụng, không bán được như văn xuôi (thiên hạ dễ cảm động khi đọc tiểu thuyết hơn truyện Kiều), không diễn tả, giải thích dễ dãi như văn vần (những bài vè, bài kinh, bài dậy đời... dễ nhớ). Nó ở đó như niềm tin (vì không giải nghĩa được nên tin) một tôn giáo. Nó ở trong chúng ta một cách tự nhiên như một ám ảnh thần thánh. Nó là cái khí vô hình đi qua phổi chúng ta phát âm thành thơ.
Ở trang 166, ÐQT lập lại: “Làm thơ, là thay đổi qui thức quen thuộc của ngôn ng”. Tôi muốn góp ý về cái qui thức rất tương đối về không gian và thời gian của ngôn ngữ. Vì hôm nay nó lạ, ngày mai sẽ quen, rồi cũ, rồi mòn, rồi thơ trở thành văn... Nó cũng có thể quen với rất nhiều người mà lạ với NHQ, với ÐQT chẳng hạn. Với tôi, về phương diện ngôn ngữ, làm thơ là dọn trống hồn mình để khí thơ tạo ngôn ng Ngôn ngữ vô niệm. Khí thơ sẽ truyền cảm trực tiếp đến người đọc một trực giác riêng để cảm cái vô nghĩa ngôn ngữ này. Nghĩa là thơ không nên có qui ước ngôn ng
Ở trang 211, ÐQT tóm tắt: “thơ là một diễn trình cần có ít nhất hai người - và thường thường chỉ có hai người”. Nếu ta hiểu một người là thể thơ, một người là khí thơ thì câu trên duyên dáng vô cùng. Có lẽ những người đi tiên phong, tìm tòi phải sống với những cái mơ hồ, bấp bênh, đúng sai, mâu thuẫn để kẻ đi sau thấy và hoàn thành một con đường thẳng. ÐQT ở trang 215 đã trích lời T.S. Eliot tạo đôi phần mâu thuẫn với mấy lời tóm tắt trên kia: “Một là thi sĩ tự nói cho mình nghe... “(tr. 215).
Ở trang 231, ÐQT cho rằng thi sĩ có ít nhiều dự án khi sáng tác. Một đề tài tương đối nhỏ nhưng với kinh nghiệm của tôi khi sáng tác, tôi rất kỵ dự án này, bố cục kia. Chính những cái chủ quan này làm tắc nghẽn khí thơ làm những gì viết ra được đều chỉ là văn suông. Ðiều tôi muốn góp ý ở đây là: Thơ không có dự án, nó tự viên mãn trước khi truyền lực vào tín hiệu, ngôn ng Xa hơn xíu nữa, chính ÐQT cũng đã nhận ra điều mình vừa nói ở trang 231 là chưa có phản đề. Ông tiếp:
“Thi sĩ dựng lên một sân khấu, ở đó tiếng nói bắt đầu trình diễn không cần có một bản thảo, một đề án. Không phải chỉ người làm thơ mới buông thả cho tâm tưởng mình tự do như vậy. Nhà văn như Henry Miller cũng thú nhận.... “tôi tuân theo bản năng và trực giác của tôi. Tôi không dự kiến trước. Nhiều khi tôi viết những điều chính tôi không hiểu, tin tưởng rằng sau này có lúc tôi sẽ hiểu rổ Tôi tin tưởng vào thằng người đang viết, vào nhà văn, hắn là chính tôi”. (tr. 237)
Tôi lại thắc mắc tại sao ÐQT lại bỏ lỡ cơ hội nói về khí thơ khi trích dẫn những lời lạ lẫm này. Tiếc hơn nữa bây giờ chính ông, ÐQT, tuyên bố:
“Thiếu gì các cảm xúc của chúng ta không giải thích được. Nếu một cảm xúc không giải thích được thì ngôn ngữ của cảm xúc đó cũng không giải thích được. Người ta chỉ truyền cho nhau một cách trực tiếp, không đi qua lý trí phân biệt. Như nghe một tiếng thét giữa đêm khuya chúng ta thấy sợ. Tiếng thét không ra lệnh "hãy sợ đi," tiếng thét là nỗi sợ hãi. Nó đi qua tai, nhập vào mình, mình rúng động như bị truyền nhiễm nỗi s Vì đó là tiếng người. Thơ đến mức như một tiếng thét, hiếm hoi thay. Ðến mức đó gọi là thần chú, là qui thức siêu việt của ngôn ngự" (tr. 244)
Ôi "thần chú”, ôi”qui thức siêu việt của ngôn ngữ” ại sao lại là những tiếng kết luận lãng nhách này.
(Những lời than có vẻ quá khích này chỉ diển tả cái tiếc ngẩn tiếc ngơ của tôi đối với ÐQT thôi. Nếu ông chú tâm thêm vào khí thơ thì đời tôi đã nhàn hạ hơn nhiều).
Phần còn lại của sách, tôi nghĩ chỉ áp dụng cho văn vần thí dụ như cách xếp hạng”hay”,”dở”cho thơ:
1) Thơ hay tự nhiên là thú nhất
2) Thơ hay và khéo cũng tốt
3) Thơ hay mà không khéo thì dễ thương
4) Thơ khéo không thôi thì hơi thường
5) Thơ khéo mà không hay xin miễn.
(và những thứ khác có vần mà không phải thơ)
Theo tôi, nên đổi những tiếng "Thơ” trên thành "văn vần” có lẽ hợp với tư tưởng của ÐQT hơn.
Từ trang 273 đến hết sách, ÐQT nói về "Ngâm tẩm hong phơi”, nghĩa là cách trau chuốt, sửa đôỉ thơ cho hoàn hảo.
Trong phần này tôi chỉ góp ý phải giữ lại phần khí thơ cho trọn vẹn. Khí thơ như hơi thở, thở ra rồi không lấy lại vào phổi được nữa nếu không nó sẽ biến thành nhân tạo. Tất cả những phần văn vần, văn xuôi chen lẫn trong bài thơ đều nên ”Ngâm tẩm hong phơi”tạo điều kiện cho khí thơ thanh thoát.
Tới đây, tôi xin mượn chính lời của ÐQT để kết luận những gì tôi muốn góp ý:
"Chúng ta không thể mô tả các đặc tính của một vật gì nếu chúng ta không biết chắc chắn mình đang có vật đó trong tay. Nếu không biết chắc mình đang đứng trước cái vật gọi là "ý nghĩa thật" của bài thơ, nếu mỗi chúng ta đều còn đang đi tìm cái ý nghĩa thật đó, thì làm sao chúng ta mô tả các đặc tính của nó được? Không mô tả các đặc tính của nó được thì làm sao nhận ra được một lời giảng giải chính là ý nghĩa thật của bài thơ? “(tr. 239)
Nói vậy đứng đắn quá, sợ không hợp với người thơ phóng khoáng, tôi xin đảo lại lời của Ðỗ Hữu Mục nói với ÐQT: "thôi, thế là cậu không làm thi sĩ được nữa! “(tr. 282) thành: “Cuối cùng, cậu chỉ là thi sĩ thôi”. Như vậy khí thơ sẽ có cơ hội tạo ra nhiều cảm quan chưa từng hiện hữu nơi loài người.
Còn tiếp...
Khải Minh
(*) Chú:
- Nguyễn Hưng Quốc ((Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ, 1988; Nghĩ Về Thơ, Văn nghệ, 1989; Thơ, v.v...và v.v..., Văn Nghệ 1996)
- Ðỗ Quí Toàn (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, Thanh Văn, 1992)
- Thụy Khuê (Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ, 1996)
Cánh Cửa Sau
Hắn thường đi ngang cánh cửa sau của nhà Diễm vào buổi chiều. Năm đó Diễm vẫn còn bé bỏng mặc dù đã học xong lớp 12. Không được tiếp tục vào Sài Gòn tiếp tục việc học như đám bạn , Diễm phải ở nhà trông coi cửa hàng cho bố mẹ. Buổi chiều thay mẹ nấu cơm chiều, Diễm thích mở rộng cánh cửa đằng sau bếp trông ra đường Sinh Trung và con dốc nhộn nhịp xuống Chợ Ðầm. Căn nhà đối diện với nhà bếp của Diễm với cái tường vôi đầy hoa dây leo với con bé tóc bím đi ra đi vào nhanh như là len lút cũng làm Diễm tò mò, và ông già câm gầy ốm sửa e đạp bên kia đường thường hay giơ cánh tay xương xẩu lên chào mỗi lần nhìn thấy Diễm cũng đã trở thành thói quen trong cái thời khóa biểu buổi chiều của Diễm. Hắn bỗng dưng thường đi ngang qua cái cửa sau vào đúng vào lúc Diễm đang vo gạo chuẩn bị nấu cơm chiều. Mái tóc Beatle của hắn chao động đủ để hắn nghiêng đầu vào nhìn Diễm đang chậm rãi vò từng nắm gạo cười một nụ cười vô tội vạ. Nhưng nụ cười của hắn dễ thương đến độ Diễm cứ thắc mắc hắn là ai, con nhà nào, học trò hay công nhân viên nhà nước sao lại còn cả gan mang mái tóc kiểu đồi trụy như thế. Hắn cứ đi ngang qua cái cửa sau nhà Diễm như đúng hẹn và Diễm cũng không muốn trễ nãi những lần nấu cơm chiều.
Buổi sáng thì Diễm quên khuấy cái tên có mái tóc Beatle, Diễm lo phụ mẹ trông hàng quán. Một buổi sáng ế ẩm, khách hàng chưa muốn đê"n cửa tiệm, Diễm ngồi ăn vặt với mớ vú sữa trên Thành mà Diễm vừa mua từ người bán hàng rong thì hắn bước vàọ Chính là hắn, người từng đi ngang qua cánh cửa sau gửi cho Diễm những nụ cười trẻ thơ. Hắn lại nghiêng đầu, rung động mái tóc Beatle, cười với Diễm ấp úng hỏi mượn chiếc xe ba-gát chở hàng của nhà Diễm để làm công tác lao động trong phường khóm. Vì là mới dọn tới khu này ít lâu, Diễm phải điều tra cặn kẽ trước khi trao chiếc xe gia tài của nhà Diễm cho một người không quen biết. Hắn tự khai lý lịch là người láng giềng của Diễm , chỉ cách cái mặt đường và mấy cái mái nhà nếu Diễm chịu khó bước ngang về hướng nam của nhà Diễm. Diễm nhìn theo hướng hắn đang chỉ dẫn thì biết là hắn nói thật. Nhà của hắn là ngôi nhà mà tiếng đàn dương cầm mỗi ngày níu bước chân chim của Diễm, làm Diễm suýt té nhiều lần vì vấp phải ổ gà mỗi lần ghé qua nhà thăm chị Hương Bình, hay chị Hoa để tán gẫu. Bố của hắn là thầy dạy đàn dương cầm, mẹ của hắn nghe nói một thời sắc nước hương trời đã từng làm các bậc anh tài khổ công đeo đuổi và bà thích ghé nhà chuyện trò với mẹ của Diễm mỗi buổi sáng trước khi đi chợ Diễm cảm thấy an tâm khi cho hắn mượn chiếc xe ba-gát vì hắn là người láng giềng của Diễm chứ không phải vì nụ cười ở dằng sau cánh cửa sau.
Ở nhà mãi cũng chán Diễm làm đơn xin vào Thương nghiệp. Vừa được chân kế toán còm thì Diễm phải đi tập văn nghệ. Hôm được tuyển chọn vaò đội muá để đi trình diễn ở Ty Thương nghiệp, Diễm cố thoái thác cũng không được. Ðám bạn đồng nghiệp thì cứ nhao nhao cổ động "Diễm mà muá thì đẹp lắm, mi phải đại diện cho phân đoàn kế toán chứ”. Diễm biết mình không từ chối được một khi anh chàng”vũ sư", tên bạn học cùng khóa đã ghi tên Diễm lên danh sách. May mắn thay , hai bàn tay lao động của Diễm chưa đến nỗi cứng đơ như củi, trái lại thêm phần dịu dàng uyển chuyển sau những lần tập luyện khổ công đầy ngượng ngùng. Diễm bắt đầu học muá điệu "Hoa Champa”, "Trống Cơm", và các điệu múa dân tộc khác mặc dù Diễm chẳng biết gì về âm nhạc. Ðêm trình diễn cũng đã đến. Mặc dù anh chàng dạy múa đã hết hơi động viên nhưng Diễm thấy hồi hộp vô cùng sau cánh gà trong hoá trang người Lào để múa điệu "Hoa Champa". Tiếng trống mạnh mẽ bắt đầu và theo sau là điêu nhạc quen thuộc, Diễm xuất hiện với tư thế quay mặt vào tường và đôi tay cong theo điệu múa. Một tiếng trống nữa lại bắt đầu, Diễm vừa xoay người sau cái nhún người duyên dáng để chuẩn bị bước theo điệu nhạc thì Diễm suýt vấp ngã vì hắn đang ngồi chễm chệ ở dàn trống , vẫn nụ cười vô tội vạ, mái tóc đồi trụy kiểu Beatle. Hắn làm như không nhận ra Diễm, mà có lẽ không nhận ra Diễm thật vì bây giờ Diễm là cô gái... Lào với mái tóc dài buí cao, với mắt kẽ to, với môi son má phấn trông rất tuồng và những vòng hoa sứ quấn vội vã trên búi tóc, lủng lẳng trên cổ và trên đôi chân. Diễm luýnh quýnh, Diễm vụng về, Diễm lỗi nhịp đàn, nhịp trống, Diễm muốn trốn chạy cái nụ cười như đang chế diễu Diễm vụng về đến tội nghiệp. Một tràng pháo tay vang lên miễn cưỡng khi Diễm quay lưng vào hậu trường. Lam, anh chàng tập múa, khổ sở bức tóc bức tai rên rỉ”như vầy là hỏng hết rồi, Diễm ơi là Diễm ơị Sao bữa hổm múa coi hay lắm mà”. Diễm không thèm nghe tiếng anh chàng càu nhàu chạy vào thay quần áo mặc cho Lam réo gọi đằng sau "bài sau nhớ đừng có như dzậy nữa nghen".
Kể từ đêm văn nghệ đó, Diễm không muốn đúng hẹn nấu cơm chiều dù là những ngày nghỉ. Bẳng đi một daọ, Diễm lại thấy nhơ nhớ bờ tường vôi, dàn hoa leo tím và ông già câm bên kia đường Diễm lại ra cửa sau mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, nhưng hắn không còn đi ngang nữa. Buổi sáng cuối tuần đang trông hàng cho mẹ thì Diễm nghe xôn xao ở phiá bên kia đường, người ta tụ tập đông đảo trước mặt nhà hắn. Linh cảm một chuyện gì khác thường, Diễm hỏi ông già Chín Ðất người bên cạnh nhà hắn khi ông ta tình cờ đi ngang qua. Ông ta trầm ngâm giây lát rồi thở dài "thằng Linh đi vượt biên bị bắn chết mới đưa về”. Diễm thảng thốt, lặng người, nụ cười hôm nào còn quá trẻ thơ kia mấ Nhìn ra phía nhà hắn, người mẹ nức nở vật vã , Diễm bỏ vào nhà thẫn thờ Buổi chiều đến Diễm vẫn nấu cơm chiều, giàn hoa leo bên kia bức tường vôi không còn bí mật, ông già sửa xe đạp bỗng trở nên xa lạ, con đường Sinh Trung nằm câm nín. Cánh cửa sau theo gió đưa kẽo kẹt một điệu buồn, bỗng dưng Diễm mong muốn nhìn thấy lại nụ cười trẻ thơ của hắn, nụ cười đã không còn trong đời sống quen thuộc sau cánh cửa sau này nữa.
Ý Liên
Thân em như tấm lụa đào
Từ xa, Ngọc quan sát Việt vừa đi về phía nàng vừa nhìn vô dãy phố bên phải. Ngọc làm bộ không thấy, đi ngược chiều lại với Việt, đụng thẳng vô ngực chàng, rồi lên tiếng:
- Nhìn ai trong tiệm mà không ngó đường sá để đụng người ta vậy?
Việt nhìn kỹ, thấy Ngọc, bắt tẩy:
- Cái nầy là làm bộ đụng người ta rồi vu oan giá hoạ đó nghen!
Ngọc nheo mắt, cười đưa đẩy:
- Anh nói bậy hoài, coi chừng Thúy nghe được nó rầy tôi đó! Mà Thúy đâu rồi?
Việt hơi suy nghĩ về cái nheo mắt của Ngọc nhưng cũng trả lời:
- Bả ở nhà. Lâu rồi sao Ngọc không đến chơi? Lúc nầy ở Hốc Môn hay ở Sài Gòn?
Ngọc lơ đãng, hơi cúi đầu và bằng một giọng trầm buồn, nói nho nhỏ như chỉ để chính mình nghe:
- Lúc nầy cô đơn lắm anh ơi! Từ ngày anh Huy đi học tập đến giờ, tôi gởi thằng Lộc cho ngoại nó, còn tôi thuê nhà ở một mình nơi đường Trương Minh Giảng để đi làm cho tiện. Cuối tuần tôi mới đi về thăm nó. Còn Thúy và anh lúc nầy ra sao?
- Cũng vậy vậy thôi!
Ngọc nhìn thẳng vào mắt Việt, hỏi:
- Bộ tính chuyện nhận nơi nầy làm quê hương dài dài hay sao?
Việt cười, nhìn thẳng vô đôi mắt Ngọc. Chàng nghe có một điều gì khác lạ, cảm thấy Ngọc không còn là Ngọc ngày xưa nữa. Ngọc vẫn còn đẹp. Mấy người bạn học cũ của Thúy, vợ chàng, người nào cũng đẹp, nhưng có lẽ Ngọc trội hơn cả. Ðôi mắt của Ngọc đen lay láy, sâu hút, lúc nào cũng toát ra một cái gì mơ mơ mộng mộng. Cái mơ mộng của đôi mắt đó dường như đã bị lớp sơn đời che dấu...
Thời kỳ còn học bậc trung học, Ngọc ở với ngoại nàng, cách nhà Thúy chừng mươi mười lăm thước. Hai cô nhỏ học trường Nguyễn Trãi, cùng đi cùng về mỗi ngày hai bận, cùng để tóc thề, cùng làm nhiều cậu học trò mới lớn ray rứt trong lòng. Cho đến khi Ngọc rớt Tú Tài I thì hai cô nàng không còn chung trường nữa, nhưng vì nhà ở gần nhau nên vẫn tiếp tục qua lại với nhau. Khi Thúy đậu xong Tú tài II, xuống Sài Gòn vào đại học thì Ngọc vẫn chưa xong phần I. Từ dạo ấy, còn lại một mình ở Bình dương, Ngọc buồn lắm, chỉ trông cuối tuần Thúy về để qua chơi. Hôm đó, chiều thứ bảy, Ngọc rủ Thúy đi ăn bò viên ở gần rạp hát. Thúy không thích đi ăn ở ngoài đường nhưng lâu không gặp Ngọc nên chìu bạn. Cả hai vừa đi vừa nói chuyện. Ngọc mở đầu:
- Có ông thiếu tá ba mươi ba tuổi, làm trong thành Công binh, muốn hỏi tao làm vợ, mày thấy sao?
Thúy hỏi lại:
- Mày gặp ổng hồi nào?
Ngọc cười:
- Ngày nào tao đi học về ổng cũng lái xe jeep theo sau năn nỉ đòi chở giùm về nhà. Lúc đầu tao không chịu, nhưng mấy tụi nó xúi nên tao rủ chị em con Hận con Tình lên ngồi đại cho ổng đưa về nhà.
Thúy dừng bước, đưa mắt nhìn người bạn gái lâu ngày không gặp, dò xét:
- Mày có yêu ổng không?
- Yêu gì lẹ dữ mày?
- Sao mày gan vậy?
Ngọc cười khì:
-Con nầy đã là sinh viên rồi mà còn cổ hủ quá!
Ðến chỗ bán bò viên, hai cô nàng chọn một chiếc bàn xa xa nơi một góc rồi ngồi xuống trên hai chiếc ghế thấp lè tè. Ngọc nhanh nhẫu dơ tay ra hiệu cho chú Ba, miệng nói lớn:
- Cho hai tô đặc biệt. Một tô nhớ đừng bỏ hành nghe chú Ba!
Thúy tiếp tục câu chuyện:
- Mày nói thực tao nghe, mày có yêu ông thiếu tá ấy không?
- Yêu khỉ gì! Thật tình tao yêu ông anh họ của mày đã đi du học rồi. Nhưng thôi, chuyện cũ mà!
- Mày nói anh Hưng ở Thụy sĩ?
- Mà thôi đừng nói đến ảnh nữa, nghe đâu ảnh có vợ người Bắc dữ lắm phải không?
Thúy nghe tội nghiệp con bạn thân của mình, không lấy được Hưng mà vẫn lo cho Hưng. Thúy triết lý:
- Theo tao, phận gái tụi mình không nên chạy theo người mình yêu mà phải biết dừng lại với người yêu mình. Tụi con trai đời nay, khi mình yêu họ, họ hay làm tàng lắm mày ơi!
Ngọc bâng khuâng, suy nghĩ. Hai tô bò viên đã được thằng bé con chú Ba mang đến bàn, bốc khói thơm phứt. Xe bò viên ở đây của chú Ba nỗi tiếng ngon nhất tỉnh, là chỗ hẹn của các cô cậu học sinh mỗi chiều từ trường về nhà. Thúy nghiêng đầu ngửi mái tóc của mình rồi nói:
- Chà, tao mới gội đầu, giờ mùi bò viên lại dính vào nghe lạ quá!
Ngọc vẫn im lặng, suy tư. Thúy hỏi:
- Mày chưa quyết định gì sao?
Nhún đôi vai thon thon, Ngọc nhìn thẳng vô mắt Thúy:
- Mắt mày vẫn đẹp như ngày nào!
- Tao chỉ đi Sài Gòn học thôi chớ có đi sửa mắt đâu mà thay đổi.
Ngọc giải thích:
- Ý tao muốn nói là mắt mày vẫn còn ngây thơ như lúc xưa...
Thúy bật cười:
- Ý cha! Không còn ngây thơ đâu mày ơi. Trong lớp tao có mấy anh chàng để ý tao quá chừng, nhưng toàn trung kỳ không hà. Có anh chàng người Phan Thiết, có anh người Quảng, có anh người Nha Trang...
Ngọc cướp lời:
- Mày sướng quá đi! ở đây chẳng có nhiều người để tao chọn cho đã!
Thúy nhắc bạn:
- Mày nói tiếp về cái ông thiếu tá gì đó đi.
- Cái ông ấy vừa già vừa không đẹp trai!
Thúy lại triết lý:
- Chồng đẹp là chồng người ta mày ơi! Ðừng có ham đẹp, mai mốt mấy con nhỏ theo sát nút, hơi đâu mà giữ!
Ngọc trở lại vấn đề:
- Mày thấy tao có nên nhận lời lấy ông thiếu tá hay không? Tao bây giờ chán học quá rồi!
- Thôi mày hẹn ổng tuần sau đến nhà mày rồi kêu tao lại xem mắt thử cho.
Chuyện hẹn Huy đối với Ngọc chẳng có gì khó khăn cả, vì trưa thứ bảy nào, khi tan trường, Huy cũng lái xe jeep xuống Búng, chờ đợi trước cổng trường Ngọc . Cuối tuần sau đó, y như hẹn, Ngọc mời Huy đến nhà và gọi Thúy sang chơi.
Bước vào nhà ngoại của Ngọc, Thúy đã thấy một người đàn ông trên ba mươi, mặc đồ lính, khổ người hơi nhỏ, da đen sậm, trên mỗi cổ áo, mỗi bên, có thêu một bông mai màu đen, ngồi ngay ngắn trên salon. Ngọc ngồi đối diện. Ngoại của Ngọc thấy Thúy, mừng rỡ:
- Chà con nhỏ lâu không thấy, giờ coi lại thấy khác quá, mà đẹp ra. Con đi học ở Sài Gòn có cực không con?
- Thưa ngoại cũng không cực gì lắm!
Quay sang Huy, Thúy chào:
- Chào anh.
- Chào cô.
Có lẽ Huy mắc cỡ nên rất ít nói hôm đó, chỉ toàn những chuyện xã giao không ăn nhập đâu đâu cả. Tóm lại, Huy không phải là người hoạt bát. Sau khi Huy ra về, Ngọc hỏi Thúy liền:
- Mày thấy sao? Ðược không?
Ngoại của Ngọc xen vào:
- Cái con khùng nầy, ai đời nay nó lấy chồng mà gặp ai nó cũng hỏi ý kiến. Tao thấy thằng này được lắm. Người ta đàng hoàng, hiền hậu mà làm ông này ông kia nữa. Phải không Thúy?
Thúy nhìn ngoại của Ngọc mỉm cười, rồi nói "thưa ngoại phải đó!".
Ngọc nắm tay Thúy kéo ra sau nhà, lắc mạnh:
- Mày đừng nghe bà tao, nói thiệt đi, thấy sao?
- Ông thiếu tá nầy coi bộ hiền, nhưng chỉ được 2 tiêu chuẩn của mày là”ô”và”cô”mà thôi.
Ngọc thắc mắc:
- Hai tiêu chuẩn”ô”và”cô"?
Thúy giải thích bằng một câu hỏi:
- Có phải mày thích con trai đen hay không?
-Phải.
- Thì”ô”nghĩa là đen đó. Mày có nghe nói quạ ô, ngựa ô hay không?
Ngọc vói tay đập vô mông của Thúy làm Thúy kêu”úi chà" rồi nói:
- Con quỷ, tao thích đen là đen vừa vừa thôi chứ đen như quạ ô hay ngựa ô thì ai mà chịu! Còn tiêu chuẩn”cô”là gì, mày nói tiếp đi.
- Dễ ẹt,”cô”nghĩa là cô độc, cô độc là còn độc thân đó!
Nói đến đây, Thúy như sực nhớ ra điều gì, hỏi Ngọc:
- Mà mày đã điều tra lý lịch rồi chưa?
Ngọc nhún vai:
- Lý lịch ba đời thì tao chưa biết, nhưng cũng biết sơ sơ chàng là người Vĩnh Long, con trai một, cha là điền chủ nhưng chết rồi, chỉ còn mẹ, mai mốt lãnh trái phiếu người cày có ruộng mệt nghỉ.
Thúy ngắt lời:
- Ái chà, tao muốn nói lý lịch nghĩa là chàng ta có vợ chưa, mấy con. Mày muốn làm vợ người ta mà chẳng biết gì cả. Tao nói mày nghe, mấy thằng cha sĩ quan ở dưới tỉnh lên, thằng cha nào cũng vợ con đùm đề hết đó mày. Mày đã quên chuyện con Hồng ở Lái Thiêu rồi hay sao?
Ngọc kéo một chiếc ghế nơi bàn ăn, đẩy Thúy ngồi xuống và nói:
- Mày đừng lo, khi nào tao chịu rồi mới xét lý lịch. Bây giờ mày nhắc cho tao biết những tiêu chuẩn còn lại của tao là gì?
Không cần suy nghĩ, Thúy nói ngay:
- Thì còn hai là”đô”và”bô". Ðô là đô con, còn”bô”là đẹp. Mày ưa quên quá đi! Trước kia mày hay nói là mày thích con trai đen, độc thân, to con và đẹp trai, thì nói cho gọn không phải là”ô-cô-đô-bô”hay sao?
Thúy nói xong, Ngọc phá lên cười. Thúy cũng cười theo.
Bà ngoại của Ngọc từ nhà trên nói vọng xuống:
- Hai cái con nầy, hể không gặp nhau thì thôi mà gặp nhau thì cười bể cửa bể nhà người ta!
Ngọc vừa cười vừa trả lời ngoại:
- Ngoại nói nhỏ chớ! Nói lớn người ta nghe tụi con ế chồng à nghe!
Dứt trận cười, Thúy nhìn Ngọc, đổi giọng, nghiêm nghịnói:
- Chuyện lấy chồng là chuyện của mày, nhưng tao thấy ông nầy không đến nỗi. Mà mày lôi thôi quá! Suy nghĩ cho kỹ rồi tự quyết định đi!
Sau đó, một phần vì chán học, một phần vì Huy cũng có tiền bạc, địa vị và vì ngoại nàng không muốn để "thùng thuốc nỗ”trong nhà, xúi ra xúi vào nên Ngọc đã chịu lấy Huy làm chồng. Ðám cưới được tổ chức rất linh đình. Từ Sài Gòn, nhà trai đi tận Hốc Môn rước dâu, có quay phim, có chụp hình, nhộn nhịp vô cùng.
Tốt nghiệp đại học xong, Thúy lập gia đình với Việt. Việt làm cho một ngân hàng ngay tại Sài Gòn. Hai người mua nhà gần Cầu Bông, Ða-Kao. Khi ấy, vợ chồng Ngọc đã có Lộc và Huy cũng đã được thuyên chuyển về Sài Gòn làm ở trường Cao Ðẳng Quốc Phòng, trên đường Thống Nhất, góc Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vợ chồng Thúy chưa có con nên căn nhà lầu hai tầng quá rộng. Việt đi làm, một mình Thúy ở nhà cũng đơn chiếc nên rủ vợ chồng Ngọc về ở chung, mỗi cặp một tầng. Mối thân tình kể từ thời còn nhỏ lại càng thắm thiết hơn. Hai năm sau, Việt đổi về miền Tây làm việc nên vợ chồng nàng bán nhà, chia tay cùng vợ chồng Ngọc từ đó. Cho đến tháng tư bảy mươi lăm thì vợ chồng Thúy lại về Sài Gòn còn Huy, thì đi tù cãi tạo. Khi đó, Việt và Ngọc cùng làm việc chung một chỗ, còn Thúy vẫn ở nhà săn sóc con cái.
Hai năm sau ngày đổi đời, Ngọc cũng bắt đầu thay đổi. Chuyện Huy trở về xem chừng như không có nhiều hy vọng vì chức vụ khá quan trọng của chàng trước bảy mươi lăm. Ngọc lại còn quá trẻ để có thể thủ tiết nuôi con vô hạn định. Vả lại, trước đây, cuộc hôn nhân của Ngọc và Huy cũng chỉ là một cuộc hôn nhân mà động lực chính là địa vị, danh vọng của người chồng. Thế nên, cũng như bất cứ một người đàn bà trẻ đẹp nào vắng chồng lâu ngày, Ngọc đã không thể ép mình mãi với mấy câu châm ngôn của Khổng Mạnh. Nàng gởi đứa con trai đầu lòng cho mẹ ở Hốc Môn và thuê một căn nhà ở riêng một mình trên đường Trương Minh Giảng. Ngọc vốn dĩ đã đẹp nhưng vẻ đẹp ngày xưa của cô nữ sinh non nớt làm sao so bì được với cái đẹp chín mùi của gái một con. Ngọc bắt đầu thèm khát tình yêu, thứ tình yêu không đắn đo suy tính mà nàng chưa hề biết được mùi vị ra sao. Mạch tư tưởng của Việt bị một người bộ hành đi ngang qua, hỏi giờ, làm gián đoạn. Việt đưa cổ tay mang đồng hồ lên cho người bộ hành cùng xem với mình. Mười hai giờ rưỡi. Vẫn còn sớm, chưa đến giờ đọc báo. Cứ mỗi buổi trưa, Việt thường hay ra ngoài, đi loanh quanh trên các lề đường gần sở làm cho đỡ buồn hay tìm bà hàng chè đậu ăn một chén cho vui miệng. Chàng lấy tay làm một cử chỉ vô nghĩa rồi hỏi lại Ngọc:
- Ngọc thì sao?
- Thì sao bây giờ? Ðịnh hôm nào ghé thăm anh và Thúy đây. Có đường giây nào chắc chắn không?
Việt liếc nhìn chung quanh, nói nhỏ cho mình Ngọc đủ nghe:
- Ðường nào cũng vào ngõ cụt! Ngọc có gì hay không?
Ngọc đưa đẩy:
- Chuyện nầy đâu nói ở ngoài đường được. Hay là chiều nay anh đưa Ngọc về nhà sẽ nói cho nghe.
Việt nhăn mặt, lưỡng lự:
- Hay là tôi chở Ngọc về nhà tụi nầy dùng cơm và nói chuyện luôn thể?
- Ði làm về, Ngọc cần phải tắm rồi đi đâu thì mới đi. Hay là chiều nay anh chở Ngọc về cho Ngọc xối qua loa một tí nước, sau đó mình sẽ đến nhà anh, được không?
Việt nhún vai, đồng ý. Chiều đó, Việt chở Ngọc về nhà nàng. Con đường Trương Minh Giảng vẫn tấp nập xe cộ. Sau bảy mươi lăm, chương trình kinh tế mới không làm giảm được số lượng người trong cái thành phố oi bức nầy. Các gia đình cũ bị cộng sản xếp vào loại phản động đã bị đuổi khỏi thành phố rồi nhưng các hộ cán bộ ngoài Bắc lại vào ngay để thế chỗ. Những đám hành khất, những người vô gia cư sống quanh quẩn trên các vĩa hè thì càng ngày càng đông. Cái máy 50 phân khối của chiếc xe Honda dame cũ mèm không đủ mạnh để đèo hai người một cách thoải mái. Việt quay đầu lại nói với Ngọc:
- Xăng mua lậu bị pha dầu lửa nhiều quá nên máy yếu nhớt!
Ngọc pha trò:
- Hay là tại tôi nặng nên xe chạy không nổi?
Cả hai cùng cười. Qua khỏi cổng xe lửa số 6 một đoạn, Ngọc ra dấu cho Việt chuẩn bị dừng lại vì đã gần đến nhà. Nhà Ngọc thuê ở trong khu Kiến Thiết. Khi Việt dừng xe lại, Ngọc bước xuống, mở khóa cửa, đứng sang một bên, mời Việt vô nhà trước, chỉ chiếc ghế salon bọc vải màu "bordeau”mời ngồi rồi nói:
-Anh ngồi chơi, để Ngọc đi xối mấy gáo nước cho đỡ khó chịu nha!
Còn tiếp kỳ 2
Nguyễn Bá Dĩnh