vhnt, số 283
27 March 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ:
1 - Freeway đời..................................................Lê Tạo
2 - Ðông ca.......................................................Ý Liên
3 - Mai ta về....................................................Song Vinh
4 - Sống mãi mùa xuân............................................Ý Nhi
5 - Người hành khất.........................................Hàn Trân6 - Tôi một ngày...................................................Chinh
7 - Thương biết là bao.........................Nguyễn Thị Hoàng-Ân
8 - Không đề cho một buổi chiều......................Phạm Chi Lan
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê (kỳ 1) - Khải Minh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Như chim non rời ổ (tùy bút)...................Lương Thư Trung
11 - Sài Gòn Tết Ðinh Sửu (bút ký).........................Phú Lê
12 - Kẻ bán nước.......................................Bùi Thanh Liêm
13 - Về hướng mặt trời lặn......................Trần Hoài Thư
Ðầu mùa xuân mưa tưới đẫm những cánh đồng khô mùa đông, những nụ hoa, những cánh lá biếc mầu xanh ngọc thạch đã làm khung cảnh bừng sáng, hoa dại đã ngập ngoài đồng, e ấp nở, và nắng thì óng ả lóng lánh như những sợi kim tuyến thật đẹp. Mùa xuân đem tươi mát cho tâm hồn bạn, sau khi đã trải qua những tháng mùa đông dài lạnh lẽo. Chúc mừng mùa xuân 97, và mong mùa xuân sẽ còn ở lại lâu hơn trong lòng chúng ta.
VHNT số này gồm nhiều sáng tác phong phú, chọn lọc. Phần thơ vẫn dồi dào với nhiều cây bút mới, trẻ trung và ý tưởng trong sáng, hồn nhiên. Phần sáng tác đa dạng, gồm tùy bút, bút ký và truyện ngắn. Ðặc biệt kỳ này mục "Diễn Ðàn Văn Học" khởi đăng bài "Góp ý về thơ..." của Khải Minh, bài tiểu luận này sẽ được đăng làm nhiều kỳ.
Với tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của mọi người, VHNT đăng bài viết phê bình của Khải Minh hoàn toàn với tính cách phổ biến và mong chỉ làm một diễn đàn để tác giả và độc giả có cơ hội trao đổi những đề tài liên quan đến văn học, đó là mục đích của VHNT khi đăng loạt bài này của Khải Minh. Ðộc giả có thể đồng ý hoặc không đồng ý với nhận xét phê bình của tác giả Khải Minh về loạt bài góp ý với ba tác giả phê bình về thơ: Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quý Toàn và Thụy Khuê. VHNT sẵn sàng làm trung gian chuyển thư góp ý của bạn đọc đến tác giả KM về bài "góp ý..." này.
Chúc bạn một ngày thật vui, với mùa xuân tươi mát trong lòng.
thân ái,
PCL/vhnt
Freeway Ðời
Freeway đời có trăm ngàn hướng tới
Em chọn Anh, một ngã rẽ an toàn
Em chọn Anh lòng trăm năm thanh khiết
Mặc bão cuồng cùng sóng thét đại dương.
Free way đời những buồn-vui, vinh-nhục
Bao non cao cùng muôn vạn vực sâu
Sông mấy khúc, đời người mấy lúc?
Trái tim em đủ rọi sáng tinh cầu.
Con sông chảy, nước trôi xuôi về biển
từng từng cao, mây gió tới ngang đồi
Trăng triệu tuổi và muôn đời bất biến
Tình xưa sau vẫn mãi mãi chưa nguôi.
Freeway đời, ta cùng em một lối
Lòng thênh thang trên muôn dặm hành trình
Freeway đời, ta và em bước tới
Cùng khóc cười trên những bước nhục vinh.
Lê Tạo
Ðông Ca
như mùa đông thức giấc
em trở mình hoang vu
cây khô không còn nụ
chim bay, mãi, xa mù
tuyết về thêm rét mướt
trên nỗi buồn viễn du
không rượu mà say khướt
nỗi nhớ thương ngục tù
lá qua đời rất vội
cỏ thương thân phù du
có bao giờ em hỏi
cuộc sống nào thiên thu?
môi cười trong giấc ngủ
gió lộng làm lời ru
gối đầu lên xưa cũ
người đã về thiên thu
Ý Liên
Mai Ta Về
Mai về thăm quê ngoại
Hay quê nội, quê nhà
Thăm những người thân quyến
Giờ thì nhớ, thì quên
Hồn đong đầy kỷ niệm
Ngôn ngữ vẫn còn đây
Vẫn mầu da, mầu tóc
Sao ta, lại ngập ngừng
Từng lá thư chập chững
Lời điện thoại loanh quanh
Ðăm gói quà qua lại
Nghe xa cũng là gần
Mai đi về Việt Nam
Hai mươi năm mê mải
Chợt thấy mình già nua
Chợt thấy mình lạc lõng
Mai ta về Việt Nam
Thăm quê cha quê mẹ
Thăm mồ mả ông bà
Thăm luôn cả đời ta
Song Vinh
Sống mãi mùa xuân
Mơ phai sóng mắt lưu đày
Nghe muà xuân lạ qua tay trở mình
Sao người từ những lặng câm
Ai đưa tôi đến thăng trầm mai sau
Xuân về mang những niềm đau
Của người lữ khách mối sầu ly hương
Ý Nhi
Người hành khất
Người hành khất lê la
Cứ mỗi buổi chiều tà
Ðón người về qua cổng
Dù nắng đổ mưa sa
Xuân xanh lang bạt rồi
Túi ăn mày trắng phơi
Nên bao giờ cũng đói
Tháng cùng ngày rụng rơi
Ăn xin chỉ một người
Một chút tình mà thôi
Ươm mơ lên mùi vị
Ðỉnh lầu vàng chơi vơi
Lầu kia xa xôi quá
Thân mướp xác que già
Nện chân đều bước lạ
Thất thểu về xót xa
Mưa ê ẩm lên đèn
Em nụ cười bỏ quên
Ta nhặt được mừng rỡ
Hồn lật nhào chổng chênh
Hôm ấy , đổ chân xiêu
Giọt nước đọng mỹ miều
Nhấm làn môi tưởng rượu
Ôm gió vào hiu hiu
Em bước nhỏ đi về
Ta chuỗi ngày ngô nghê
Bao giờ ngừng xin sỏ??
Chừng nào hết tái tê??
Từ chọn ngõ tơ vương
Chốn cũ em chẳng còn
Mây mù phơi tan tác
Ta chết lịm cuối đường
Ăn mày giờ đầu bạc
Biết mấy gì yêu thương
Nên vẫn tràn ngơ ngác
Một nụ cười mờ sương
Hàn Trân
Tôi Một Ngày
Tôi một ngày một mình
một ngày biết ru ai?
chiều loang xuống trên giòng sông thao thiết
núi xám lắt lay theo giòng nước buồn
Tôi ngồi bên sông đếm thầm cánh hạc
Một ngày một mình
Tôi một ngày lau sậy
rào rạt và nhỏ nhoi
lao đao nhìn mặt trời chiều hôm nay rụng xuống
đỏ thẫm hai bàn tay
mặt trời vừa rụng xuống
tôi rụng xuống giòng sông gian nan
Soi mình qua giòng nước
thấy nhạt nhoà những đám mây bay...
Tôi một ngày một mình
Một ngày nghĩ về người vừa xa
Muôn trùng xa khuất
thầm lặng tiếng ru
Nâng chút rượu lên môi nghe nồng cay buổi chiều
Rêu phong ngày tháng cũ
Ai chờ tôi chốn ấy
Ngậm ngùi nước mắt chảy ngược vào hồn
Ðập vào lồng ngực đói
Chiều bập bùng lửa than
bập bùng tiếc nhớ
Từng bầy én bay quanh hàng cây úa gốc
Trắng xóa một ngày buồn
Màu trắng thường làm tôi rưng rưng lệ.
26 tháng 3, 97
Chinh
Thương Biết Là Bao
Tôi làm chiếc bóng, ở hậu-trường nhìn họ
Những đứa em tranh đấu trên sân khấu cũ mèm
Giăng cờ vàng ba sọc đỏ, xuống đường,
Học đả đảo, đòi tự do, dân chủ...
Về thăm quê, đường đi lạ lẫm...
Tôi ngồi trong bóng tối,
Lẳng lặng nghe chúng, cũng những đứa em,
Bàn chuyện kinh doanh, "...nho nhỏ lúc đầu!"
Cần cù, im ỉm lựa thời cơ
Nhả bao nhiêu thì bước đến bấy nhiêu
Người ở hiền gặp lành, trời sao phụ!
Những đứa em tôi,
Bao nhiêu năm phá sản...
Rị mụi lắp tháo hardware,
Ðọc sách báo tự học về nhu liệu,
Trong đêm khuya, qua vách gầy như thời đại
Tiếng ai học Anh-Văn, "How much... Bao nhiêu!"
Trên con đường đi thăm đất nước,
Chiếc xe đò xóc đầu đụng nóc xe,
Infrastructure còn đợi tới bao giờ...
Những đứa cháu bu khi xe đổ bến!
Áo quần lem luốc, chân không dép,
Da cháu mềm, đạp đá đã chai rồi!
Những đôi mắt quá đẹp vì u-ẩn,
Khôn lõi chuyện đời mà đần kiến thức học đường
Bài học chính trị học qua loa cho xong buổi,
Ðợi tan trường là vội vã cắp rổ, rá đi buôn
Chân chạy, miệng xin, tranh khách với bạn hàng,
Ôi! Gánh nặng manh áo, miếng cơm
trên đôi vai gầy thơ dại!
Tôi ngồi ăn ở một quán sơ soàng,
Cơm nóng, món xào, canh chua cá lóc...
Bao nhiêu ăn mày tụ bên gốc cây
ngay trước mặt,
Mẹ bồng con gầy cọm,
Anh, chị ẵm đứa em không
mặc quần,
Im lặng đợi chờ,
Ánh mắt nhìn tôi u uất đong những
ánh dèm pha...
Chị với cháu làm sao biết được ta!!!
Ôi! Thương quá! Tình ta như đất rẫy...
Như sông Hồng, sông Hương, sông Cửu
Nhức xương gân như dãy núi Trường-Sơn!
Ta vẫn chờ, như chờ đợi cả đời ta,
Vẫn nhẫn nhục như đất đai sông núi...
Bởi tương lai nằm trước mặt chúng ta,
Chỉ bắt được bằng trường kỳ hướng thượng!
Khi ta về trên quê hương thứ hai,
Nhìn lũ em kỹ sư bác sĩ,
Sống cuộc đời giản dị, vui với những
công tác cộng đồng...
Những cuộc thảo luận khắp phương
Trên mạng internet anh em sắp gặp!
Ta vẫn hiểu dân tộc còn chia năm xẻ bảy,
Nhưng công sức tụ vào một mục tiêu chung!
Ta tự hiểu bổn phận của chính mình,
Ta tự biết trách nhiệm mình rất nặng!
Những đứa em đứa cháu của ta:
Hai bên mặt của quả Cầu tròn,
Xoay xoay đều quanh một vì sao:
Như thời đại này đến rồi đi,
Như quy-luật vũ-trụ không dời đổi!
Sự thật luôn luôn như tấm gương sáng lạn,
So vào đây những khuôn mặt giáo điều
Cuối cùng rồi cũng sẽ thắng dối gian!
Những giáo điều và thù hận bưng lấy mắt anh em,
Sẽ bung tróc khi ghẻ hờn khô vẩy!
Từ muôn phương, con cháu của Văn-Lang
Góp bàn tay chung sức dựng non sông,
Bốn ngàn năm tiếng loa còn vang-vọng!
Và những ánh mắt thơ-ngây
của những trẻ thơ đời lầy lội,
Sẽ sáng bừng ngày hội lớn thanh bình!
Ðời no ấm, ước muốn sống hiền hoà thành sự thật!
Nguyễn Thị Hoàng-Ân
Không đề cho một buổi chiều
Khi gió hái đi từng chiếc lá
ánh sáng lạ thường tỏa rạng
không gian tuyệt diệu âm thanh
đã cứu lấy tất cả
dù hương tàn và hoa rất mong manh!
Hãy ân cần buổi chiều
để cứu lấy hoàng hôn
giọt lệ trong tim đã rớt
ướt đẫm buổi chiều rất lạnh
đợi chờ bàn tay rất ấm
giữ kín một cơn gió tàn đông
trong tim quạt hồng hơi lửa
để tình đừng phai
và ngày đừng tắt!
Thời gian biêng biếc ánh sao
như đêm hè xanh ngát
trong ta chưa nguôi buổi đầu
chưa kịp ân cần với một hoàng hôn
và ngày đi qua rất vội
Hãy giữ lấy tình yêu
xin hãy cứu lấy tình yêu!
Phạm Chi Lan
Góp Ý Về Thơ Với Nguyễn Hưng Quốc, Ðỗ Quí Toàn, và Thụy Khuê
Ðọc 5 quyển sách của 3 tác giả trên tôi có mấy nhận xét sau: Thứ nhất: cả 3 người đều đặt vấn đề về sự khác biệt giữa văn và thơ. Có nghĩa là cả 3 đều gặp bế tắc trong việc định nghĩa thơ, chưa có một giải thuyết thỏa đáng về thơ. Thơ chỉ được nhận diện, được tìm thấy như một sự kiện chứ chưa tác giả nào truy tới nguồn gốc phát sinh của nô Thứ hai: vì chưa định nghĩa được thơ, cả 3 đều nói về thơ theo cách thực nghiệm (trích dẫn rất nhiều thơ) và luận lý (nêu ra rất nhiều lý thuyết), có nghĩa còn nhìn thơ rất mơ hồ, rất có thể đúng và rất có thể sai. Thứ ba: Cả 3 đều chú trọng vào Ngôn Ngữ (văn bản và truyền thông). Thơ và ngôn ngữ bị trộn trạo trong những cách phê bình theo cảm xúc, chủ quan. Chưa ai phân tích được cái vô nghĩa của ngôn ngữ trong thơ và chưa nhận ra dạng thơ trước khi có ngôn ng Thứ tư: cả 3 đều không tự sáng tác thơ để biện chứng luận thuyết của mình. Người đọc có cảm tưởng như đang nghe người mù nói về mầu sắc, có thể rất hay nhưng không hẳn thực dụng. Thứ năm: Không có tác phẩm nào chứa đựng một lý thuyết mới mẻ riêng biệt. Trong hai quyển đầu của Nguyễn Hưng Quốc (NHQ), chúng ta thấy một hiện tượng trả bài đã học một cách trôi chảy. Tác phẩm thứ 3 lập lại biên khảo của Ðỗ Qúi Toàn (ÐQT) (Qui tắc tương đương; tiền đề thích hợp; Qui thức ngôn ng). Thụy Khuê (TK) lại tóm lược ít nhiều những gì ÐQT đã nói suốt cả quyển sách của ông trong phần "Nhận diện thơ" (tr. 47). Dù sao đi nữa, trong 8 năm vừa qua, chúng ta có 5 tác phẩm góp nhặt tìm kiếm thơ. Bên cạnh đó còn rất nhiều bài viết, nhiều công trình nguyên cứu về đề tài này đã và đang sửa soạn xuất hiện. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do sự nhàm chán những cái được hiểu lầm là thơ trong văn học. Người sáng tác hình như nhìn thấy rõ hơn cái không phải là thơ trong thi phẩm của mình (ÐQT); người đọc thơ cố sưu tầm một định nghĩa, một hình tượng nào đó để cảm nhận và phê bình thơ (NHQ, TK). Tôi cũng không ngoại lệ và đã trả một giá rất đắt cho con đường học hỏi, sáng tác và nghiên cứu thơ. Sau hơn 15 năm, viết rã tay vài trăm bài có nhạc điệu, tình lý, ngữ ngôn cũ mới; đọc NHQ, ÐQT, đọc Tây, đọc Tầu đến hoa mắt... nhưng thơ vẫn không hiện ra. Tôi chán nản và gác bút. Thơ vẫn không buông tha, nó ám ảnh triền miên, nó thách đố tôi đấu với nó từng đêm, từng đêm... mệt mỏi đến khi cạn hết những tư tưởng, quên mọi quan niệm, mất hết ý thức... đến khi buông tấm vải đỏ của những tay đấu bò rớt xuống thì lạ thay con bò mộng thơ kia hiền lành đứng lại và hiện ra bản chất đơn giản của nô Tôi ngạc nhiên và tìm ra một vài bí mật của thơ và tạm tóm tắt trong sơ đồ sau:
____Trực giác_________<< Vô Thức, Tiềm Thức >> __________
| / |\
| |
| /|\
| |
| / | \
|
| Nội giới ----> Thi giới <--------- Ngoại giới
|
| Tâm linh Siêu thực thể Thiên nhiên
|_Ẩn giác___ Siêu giác Tâm giác Thực giác
| Vô niệm Quán niệmQuan niệm
| Chiêm niệm Giác niệmTrí (ý) niệm
| Tâm tưởng Nghiệm tưởng Liên tưởng
| Mặc khải Tượng trưng So sánh (ẩn dụ)
| ... ......
| / / \ \ |
|/ / \ \ | chất
| / / \ \ | liệu
| Nghệ Lý Tình Ngôn |
|thuật ngữ |
| \ \ / / |
|\ \ / / |
| \ \ / / |
|\ \/ / |
| Thể Thơ <-------->Văn (vần, xuôi)
| | ^
| | |
|----Khí thơ, lực thơ ------> THƠ|- NHQuốc
|- DQToàn
|- TKhuê
Ý nghĩa sơ đồ này trong bài "Lý Thuyết Thơ" tôi đã phân tích tỉ mỉ. Chúng ta thấy, dẫn đến thơ chỉ có hai nguồn: 1 là "khí" (trực giác và ẩn giác) và 2 là"thể" ( nghệ thuật, lý, tình, ngôn). Thí dụ trong vế đầu của khổ thơ sau:
Ngỗng lạc đầu mây trắng
hơi thở đêm khói trắng
thân phận xa nguồn
thời gian trắng
mùa đông
...
Trong đó:
"Ngỗng, mây trắng" là ngoại giới
"lạc" là nội giới
"Ngỗng lạc mây trắng" là thơ giới
Tiếng "đầu" ở đây không lý giải được. Tôi chỉ biết nó bất chợt xuất hiện khi sáng tác. Nó ở đó, không mang nghĩa mà mãi mãi là một ẩn giác trong một trực giác tạo thành khí thơ.
Tôi dựa vào sơ đồ này để góp ý về thơ và mạn phép xếp 3 tác giả trên vào phía văn vần, không hẳn vì họ không nhắc đến "khí thơ" nhưng vì họ, hoặc chú trọng về phần "thể" quá nhiều hoặc họ không mang kinh nghiệm sáng tác để phân tích phần "khí".
Sau đây tôi sẽ chia bài góp ý làm hai phần. phần đầu nói riêng từng tác gỉa. Phần hai,tổng hợp các tác giả trong một vài chủ đề nào đó.
Nguyễn Hưng Quốc (NHQ)
Trong cả quyển 1 (Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam): NHQ trình bày và phân tích thơ qua sơ đồ tương đối cũ và đơn giản sau:
+hình ảnh --> hơi thơ
| |
Âm + vần + nhịp | |--> nhạc điệu
| | |
+cảm xúc --> giọng thơ |--> THƠ
|
Ý tưởng + cảm xúc + hình tượng --------> tứ thơ
Cái sơ đồ này có thể so sánh với nhánh "thể thơ" trong sơ đồ trên. Trong đó Ngôn là nhạc điệu, Lý là ý tưởng và Tình là cảm xúc. So với sơ đồ của tôi, ở đây NHQ thiếu phần nghệ thuật, đợi đến tác phẩm thứ 3 ông mới trích dẫn một cách khái niệm về cách trình bày văn bản của văn thơ. Nếu những yếu tố trên cộng với một sự nhấn mạnh về Ngoại giới để tạo nên chất liệu thơ của NHQ thì cả quyển 1 có thể tóm lược trong sơ đồ sau:
Nội giới ---> Thị giới <----- Ngoại giới--
\ | / |
\ |/ |
\ | /|
Lý Tình Ngôn |
ý tưởng cảm xúc nhạc điệu |
||
thể thơ | (hình tượng) |
|+
+-------------------------> VĂN
Từ đây chúng ta có thể sáng tác được những áng văn vần và văn xuôi có giá trị và hay. Vì phần "khí thơ" không được để ý tới nên chúng ta có thể thay những tiếng "thơ" trong tác phẩm này bằng 2 tiếng "văn vần" tôi thấy có vẻ hợp lý hơn. Hy vọng NHQ cho ý kiến.
Trong quyển 2 (Nghĩ Về Thơ): NHQ cố phân tích những khác biệt giữa văn và thơ nhưng vì không nhìn rõ yếu tố quan trọng nhất tạo nên thơ là "khí thơ" nên ông đã viết rất ơ hồ và tự thú nhận: "tôi rất ít tự tin" (tr. 26). Ông thêm: "thơ và văn, đặc biệt thơ, chứa đựng trong nó rất nhiều yếu tố "siêu lý", vượt ra ngoài và vượt lên trên mọi tham vọng phân tích và khái quát của con người... " Có nghĩa là ông đã vô tình nhắc đến cái "khí thơ" nhưng tiếc thay lại bỏ qua. Trong quyển 3, (chương 6, tr. 101-102), ông lại có vẻ phủ nhận những nhận định về những khác biệt này.
Phần còn lại của quyển thứ 2, NHQ chỉ dùng cảm quan của mình để nói về những cái rất tầm thường như cảnh sắc, cái đẹp, cái mới, cái ngông, cái sáo, cái riêng và cái chung trong thơ mà theo tôi nghĩ chỉ áp dụng được trong văn vần. Các phần trích dẫn trong hai quyển 1 và 2 này rất nghèo nàn, đa số là những bài cũ từ 30 năm trở nên. Hơn nữa những nhận định lại rất mơ hồ vì tác giả không tự sáng tác để biện chứng cho luận thuyết của mình. Hai lý do trên làm độc giả, kẻ thích thơ thì đi vào cõi mù mờ, người muốn tìm hiểu thơ thì dễ bị một ề huyền thoại cố ý Ừ áp chế cách thưởng thức và sáng tác mà chính NHQ sẽ mâu thuẫn đề cập tới trong tác phẩm thứ 3.
Còn tiếp...
Khải Minh
(*) Chú:
- Nguyễn Hưng Quốc ((Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ, 1988; Nghĩ Về Thơ, Văn nghệ, 1989; Thơ, v.v... và v.v..., Văn Nghệ 1996)
- Ðỗ Quí Toàn (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, Thanh Văn, 1992)
- Thụy Khuê (Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ, 1996)
NHƯ CON CHIM NON RỜI Ổ
Con yêu dấu,
Thế là con đang bắt đầu những ngày thực tập tại hảng PictureTel, trên một vùng đồi hiu hắt, vắng tanh, xa lạ, cách căn nhà trọ của mình tới những bốn mươi lăm phút lái xe, về hướng bắc.
Ba mẹ nhớ lại hồi nào con còn quá bé bỏng, khi ba bị đày đọa trong rừng tràm. Mẹ dắt hai chị em con vào thăm nuôi ba, con ngồi lọt trong lòng ba. Con khoe con đã học thuộc cửu chương, con đã làm được toán cọng, toán trừ, con thuộc những bài học vần ngược, vần xuôi của chị, dù con chưa được đến trường, chưa được đi học. Những điều này, ba được biết, do mẹ con khi rỗi rãnh, lúc nhớ thương và lo cho ba nhiều, mẹ con thường dạy con như vậy để che dấu một nỗi lòng...
Rồi những lần, hai cha con mình, trên chiếc xuồng câu bé bỏng đầy rau muống đồng, hoặc bông súng, mã đề, hoặc cua, ốc, cá, lươn sau một buổi cha con mình trầm mình trong nước trên cánh đồng xa về hướng rạch Bần, để xúc mô, xúc ụ hoặc giăng lưới vào mùa nước nổi tháng tám, tháng chín.
Hoặc mỗi chiều, ba một bên, con một bên, hai cha con mình lùa ven bầy vịt đẻ vào chuồng, vào ổ, sau một ngày cho ăn, chăn giữ trên cánh đồng sền sệt bùn vào mùa cắt gặt vụ lúa Hè Thu tháng sáu, tháng bảy.
Trong dòng đời xuôi ngược, dù ở quê nhà hay trôi giạt đến một vùng đất lạ này, lúc nào ba mẹ cũng nghĩ rằng hai con là những người bạn bé nhỏ, thân thiết của ba mẹ. Ðể được tâm tình, to nhỏ và cũng để chia xẻ những ngọt bùi, những kinh nghiệm mà ba mẹ biết được cùng những lời khuyên dạy ngọt ngào như một quà tặng êm đềm, thân ái.
Như bao nhiêu bậc làm cha mẹ trong cõi đời này, ba mẹ lo cho con từng bước đi, sợ con trợt ngã, té đau. Nhớ ngày nào , mới tới định cư tại thành phố này, hai con đi học, ba ngồi trong nhà cửa đóng kín, qua khung cửa sổ, ba đăm đăm nhìn xuống con đường vắng tanh, mong ngóng con về. Mỗi lần có cơn bão tuyết phủ chụp dữ dội, với những lớp tuyết dày tới đầu gối, ba mẹ bồn chồn, lo đứng lo ngồi. Nhiều lúc muốn ứa nước mắt, sợ con mình lạc đường hoặc giá lạnh giữa trời. Nhưng rồi mọi khó khăn, bỡ ngỡ cũng qua đi. Ba mẹ mừng vui khi thấy hai con học hành theo kịp bạn bế
Hôm nay ngày đầu tiên con đi thực tập. Mẹ con sắp xếp cho con mọi vật dụng cần thiết. Trời mùa đông nơi đây lạnh kinh khiếp. Mẹ con xuống đứng bên con. Chiếc xe đang nổ máy. Mẹ nhắc nhở con đủ điều. Con có biết mẹ của con ứa nước mắt khi nghĩ con một mình lái chiếc xe đơn độc, hòa nhập vào dòng xe ngập trùng, vun vút trên xa lộ liên bang, mà ngày nào, mỗi lần đi dâu, đều có ba ngồi bên cạnh. Con như con thuyền nhỏ đang đi trên dòng sông lớn, rộng thênh thang phía trước. Con như cánh chim non vừa chập chững tập bay xa cái ổ ấm êm, mà ở đó,mới hôm qua, con chim non còn chờ mẹ đút mồi, tíu tít mỗi ngày. Ba mẹ lo cho con, lo cho con thuyền nhỏ trên dòng sông, lo cho cánh chim non rời cái ổ ấm êm bằng rơm, bằng cỏ...
Trời thì giá buốt. Nước đông thành đá. Tuyết lại bắt đầu rơi thêm. Ba mẹ lo con không có kinh nghiệm lái xe. Khi con đi rồi, ba bồn chồn trong lòng, cầu nguyện... Ba cứ thấp thỏm lo s Ba tính từng giờ, từng phút, để đoán xem giờ con rời khỏi hảng. Ba gọi điện thoại cho con mấy lần, nơi con ở trỗ Chú Dự nói con chưa về, làm ba càng lo lắng, cuống quít.
Thế mới biết, ngày xưa, cách nay trên bốn mươi năm, ông Nội của con cũng lo cho ba như vậy, khi ba một mình lên tỉnh dự kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công lập. Hoặc sau này, khi ba đi thi Trung học, ông Nội con dặn ba ráng làm bài. Vì ông Nội con nghĩ mình già yếu rồi, chỉ biết chữ Nho, chữ Hán, không biết chữ Quốc ngữ, nên có đi theo cũng không giúp ba được, còn làm ba lo lắng thêm. Nói thì nói vậy thôi. Chứ khi tan giờ thi, trên đường về nhà trọ, phía bên kia dốc cầu Hoàng Diệu, ông Nội con từ dưới quê lên hồi nào, trong bộ đồ bà ba trắng tinh, mang đôi guốc vông, đi ngược lên dốc cầu để đón ba. Ba còn nhớ như in lời ông Nội con: "Làm bài được không con?"
Bây giờ, đối với con, tấm lòng của ba, không khác gì ông Nội của con dành cho ba ngày xưa.
Bà Nội của con cũng vậy. Con biết đó, người mẹ nào cũng bấm ruột, bấm gan để cho con mình đi xa, dù xa một ngày, một buổi. Hồi ba còn học lớp nhứt hoặc lớp đệ thất, tương đương với lớp năm, lớp sáu bây giờ, bà Nội con phải để ba lên tỉnh học xa nhấ Vì nhà mình nghèo, nên ba phải tự túc nấu cơm, chứ không đóng tiền ăn cơm tháng như các bạn khác. Mỗi lần cuối tuần, ba thường về nhà lấy thêm gạo, thêm củi. Bà Nội cứ xoa đầu ba hoài, hôn lên trán, lên tóc. Lo làm hết món bánh này đến món bánh khác cho ba ăn. Rồi cắp nắp, cụ bị từ trái ổi, trái chanh, từ cái áo, cái khăn cho ba. Bà Nội con không quên cho ba thêm tiền để mua cá, mua tập vở, sách học. Bán được chục quít, chục xoài, quày cau, buồng chuối, bà Nội con gói trong tấm giấy dầu để dành cho ba.
Bà Ngoại con cũng cùng một tấm lòng. Ngày gia đình mình chuẩn bị cho chuyến lưu lạc này, Ngoại hết nắm tay mẹ con rồi nắm tay hai con. Bà Ngoại bịn rịn, căn dặn mẹ con, rồi căn đặn con điều này, điều khác, không muốn con cháu đi xa mình.
Bây giờ, mẹ con cũng giống bà Nội, bà Ngoại. Nhất nhất món ngon, vật lạ gì mẹ con cũng chờ các con về, cùng nhau ngồi lại với nhau, mẹ con mới vui, mới thấy ngon. Vắng một đứa là thấy nhà trống vắng rồi. Từ đời nào cho tới đời nào, làm cha mẹ như mặt trời phát ra những tia nắng ấm, làm mưa cho xanh tốt mùa màng. Từ trên cao chiếu xuống, từ trên cao mưa xuống, bao la, từ tâm, rộng khắp, mãi hoài, không mệt mỏi...
Con yêu dấu,
Chiều hôm qua, tuyết lại rơi nhiều.Mẹ nhắc ba lên đón con về, vì sợ trời trơn trợt. Ngồi ngoài xe, nơi bãi đậu xe của hảng, ba nhìn những người làm ở đó lũ lượt ra về vào giờ tan sBa dõi mắt tìm con.Với hằng ngàn công nhân người bản xứ lão luyện trong chuyên môn, già dặn với tuổi đời, ba thấy con thật bé nhỏ hòa vào dòng người ấy, còn ngây thơ, khờ dại.Ba nao nao trong lòng.Một đứa bé Việt Nam, ở một vùng quê hẻo lánh xa mù, mới ngày nào có ba còn đi "cải tạo".Rồi đứa bé ấy theo mẹ thăm nuôi ba, bị chìm đò, bị phỏng xăng, phỏng lửa, bị ngộp nước, bị chết chìm, chết hụt.Giờ con đang phải chiến đấu đơn độc, lẻ loi, âm thầm trong dòng người xa lạ này.Một cuộc chiến đấu không dễ dàng.Ba tưởng tượng đến ngôn ngữ con phải nói với họ, cung cáchcon phải ứng xử với họ, cùng công việc con phải làm với hỗBa nghĩ rằng con như một người chiến sĩ tí hon trong mặt trận: "Ðời".Một mặt trận, nếu ba được phép tham dự như con, ba sẽ bị đánh giạt ra ngay tức khắc.Vì ba đã già yếu, chậm chạp, không còn bắt kịp với dòng tiến hoá của khoa học, của nhân loại, của xứ sở văn minh này.Ba về kể lại những ý nghĩ của ba trong lúc ngồi chờ con, cho mẹ con nghe.Mẹ con rất xúc động.
Con yêu dấu,
Cái lo lắng của ba mẹ là cái lo lắng của người già.Niềm tự tin của con là niềm tự tin của tuổi trẻ.Vượt lên trên cái lo lắng của ba mẹ là tấm lòng bao dung, yêu thương, bảo bộc vô bờ, cùng những kinh nghiệm của mấy mươi năm già nua, lăn lóc,phong trần.Ðôi lúc không còn hợp thời, hợp cảnh, nhưng không phải hảo huyền, vô ích.Chị con và con còn phải học hỏi nhiều hơn ở trường, ở nơi làm việc, ở ngoài đời, kể cả những kinh nghiệm già nua của ba mẹ.
Cánh chim non dễ mỏi như con thuyền nhỏ ra giữa dòng sông lớn, dễ bị sóng dập, sóng dồn.Mỗi lần nghĩ tới điều đó, ba mẹ thấy thương các con biết dường nào!!
Hỡi những cánh chim bé nhỏ của ba mẹ ơi ! Các con hãy tiến lên như các con đã chọn cho mình một lối đi và đang bay về phía trước, trong dòng đời!
Thân ái,
Ba mẹ
Lương Thư Trung
Sài Gòn Tết Ðinh Sửu
Chúng tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất trưa ngày 26 Tết. Quang cảnh từ phi cảng về khách sạn chả thấy vẻ gì là Tết cả trừ lúc xe chạy ngang qua các chợ. Không khí Tết lồ lộ qua các gian hàng bán dưa hấu lẫn trái cây đủ loại và hoa - đặc biệt như cúc và mai. Những đóa cúc vàng choé nhởn nhơ tươi mát. Mai bày bán từng cây trong chậu hoặc từng nhánh trông rất dễ thương. Ðã lâu rồi tôi mới có dịp nhìn lại những bông mai thật. Hoa và nụ mai vàng tươi thắm làm lòng tôi rung động. Phút chốc tôi quên phứt những nhọc mệt của chuyến đi, khí hậu nóng bức của Sài Gòn, tiếng động cơ lẫn tiếng kèn xe bóp liên hồi và dòng xe cộ như mắc cửi để cảm xúc lâng lâng trào lên. Nỗi xúc động vì mình đang được trở về ăn Tết tại quê hương.
Sài Gòn bụi bặm quá sức. Khói xe dày đặc. So với lần về kỳ trước thì xe gắn máy và ô tô có nhiều hơn. Nhiều con đường được mở rộng ra nhưng vẫn chưa đủ chỗ cho các con ngựa sắt tung hoành ngang dọc không theo lề lối phép tắc nào. Bầu trời tháng chạp ít mây và nắng hình như có bớt nóng. Với người dân ở đây thì thời tiết đang trở nên mát mẻ nhưng đối với người Việt định cư ở vùng ôn đới như tôi thì hãy còn nóng quâ Tuy nhiên ẩm độ không cao nên người it' ra mồ hôi đỡ khó chịu.
Ai cũng có vẻ hối hả. Nhìn dáng nét và cách ăn mặc người dân tôi thiển đoán nền kinh tế có khá hơn đôi chút. Các cô trông đẹp hẳn rạ Trẻ em có khuôn mặt bầu bĩnh và rạng rỡ hơn rất nhiều so với vài năm trước. Thành phố dường như đang trải qua cơn sốt xây cất. Dọc theo đại lộ Thống Nhất cũ từ Dinh Ðộc Lập dài đến Thảo Cầm Viên tôi đếm được khoảng năm cao ốc đang xây dở dang.
Chỉ còn vài hôm nữa là Tết mà hình như chỗ khách sạn tôi đang trú ngụ không một nhân viên nào đả động tới. Khách sạn đông đảo người thuê nhưng chủ nhân chẳng buồn mua một chậu quất hay cành mai nào để trang trí đón ngày đầu năm. Ai cũng có vẻ mặt đăm chiêu tư lự. Mọi người thờ ơ vì ngân sách gia đình thiếu hụt bởi vật giá gia tăng bất ngờ chăng. Tôi chẳng rõ và cũng không muốn tìm hiểu.
Chiều hôm sau chúng tôi dạo chợ hoa. Bóng chiều càng chập choạng tàn dần thì quang cảnh chợ hoa Nguyễn Huệ càng náo nhiệt lên. Người đổ xô đến từ muôn phíạ Chen chân không muốn lọt. Hoa và người đua nhau khoe sắc thắm. Các cô giờ ăn diện dễ s Tôi mê man lạc giữa rừng hoa thật và hoa biết nóị Ðại lộ Nguyễn Huệ đã được chỉnh trang. Những kioskes ngày xưa đều bị phá thay vào đó là những bồn hoa và cây palms được trồng lên. Con đường như rộng hẳn rạ Chợ hoa khởi đầu từ khúc giữa đại lộ Nguyễn Huệ kéo dài đến giáp ranh con lộ trước bến Bạch Ðằng. Ðủ loại hoa. Mai nhiều nhất. Có những chậu mai được nghệ nhân uốn theo hình dáng những con vật và trên cành chi chít đầy nụ. Có chậu cao ngất bằng nhà hai tầng. Giá cả thay đổị Từ vài chục ngàn cho đến năm, sáu triệu đồng. Phần đông hoa được chở đến từ những tỉnh miền Tây như Bến Tre, Gò Công hoặc ven đô như Hóc Môn, Củ Chị Muôn hình vạn trạng. Ðủ loại hoa kiểng. Người đi xem khá nhiều nhưng mua thì ít. Máy ảnh với đèn flash bấm loạn xẫ Xen lẫn vào chợ hoa là các quán nhỏ di động bán nước giải khát hoặc các thức ăn nhễ Khung cảnh ồn ào náo nhiệt như ru tôi về với những kỷ niệm xa xưa.
Càng gần cuối năm càng thấy thiên hạ ùn ùn đi sắm Tết. Những chiếc xe xích lô chở những chậu quất, với màu vàng bóng lưỡng của trái che lấp hết màu xanh của lá, luồn lách qua lại trên những con lộ bình thường đã nhỏ hẹp mà giờ còn hẹp hơn vì hàng họ bày chật vỉa hè. Nhiều người ngồi sau Honda một tay ôm khư khư những cành mai, tay kia bám chặt lấy yên xe. Tôi đọc báo thấy nói năm nay mùa rét đế sớm ở miền Bắc nên đào Nhật Tân trở nên khan hiếm. Một cành đào hoa nở đẹp giá khoảng một triệu đồng tức gần trăm đô la Mỹ. Không có đào Nhật Tân thì đào Ðà Lạt về chiếm chỗ. Thỉnh thoảng cũng thấy xe ô tô chạy ngang với vài chậu hoa cúc, hoa hồng, hoa mai nhấp nhô phía sau. Dưa hấu cận Tết giá rẻ không ngờ. Ði đâu cũng thấy hàng đống dưa đổ bày bán. Chắc mọi người ai cũng đợi gần đến giao thừa mới đổ xô đi sắm Tết. Rõ ai cũng biết định luật chung của hàng Tết là càng gần đến đêm trừ tịch giá càng rẻ ối. Có nhiều thứ như mứt hay hoa đến giờ chót giá cả tự nhiên trở nên bèo. Nhưng chỉ có giới nghèo mới đợi phút cuối chứ dân khá giả họ đã sắm sửa xong xuôi từ khuya. Một món hàng bán chạy nữa là rượu ngoại. Tuy nhiên người mua phải biết rành rọt chỗ bán chứ lớ ngớ mua lầm phải rượu Made in Cholon thì hỏng kiểu.
Ngày 30 Tết qua chầm chậm. Có nhiều nơi đóng cửa nghỉ sớm từ ban trưa nhưng cũng có nhiều nơi mở đến gần giờ giao thừa để bán đổ bán tháo hàng hoá mong vớt vát chút nào hay chút ấy. Ngày hôm đó chạy xe chơi vòng quanh chúng tôi né tránh những con đường gần chợ búa. Vì xung quanh các ngôi chợ đường xá nghẽn kín. Bà con kẻ bán người mua tràn ra chận hết nửa con đường, chỉ chừa phân nửa còn lại cho xe cộ thông quạ Khỏi phải nói cũng đoán tình trạng hỗn độn như thế nào. Cách tốt nhất là tránh né các đoạn đường này cho chắc ăn.
Trừ khu trung tâm thành phố nhiều du khách không kể, những khu khác đường xá bắt đầu vắng vẻ khoảng chạng vạng tối 30. Thấp thoáng trên đường những công nhân sở vệ sinh đang dọn dẹp sạch sẽ hàng đống rác. Vài công nhân chạy lúp xúp sau xe thùng đổ rác một cách vội vã mong cho mau hết công việc đặng về kịp cúng giao thừa. Xe cộ càng lúc càng thưa dần trước cửa khách sạn tôi đang trú.
Chúng tôi đón giao thừa một cách lặng lẽ trong khách sạn. Tôi không thấy gì khác lạ hết. Mấy hôm trước các tờ báo thành phố hô hào nhà nhà gõ nồi niêu xon chảo, chùa chiền đánh trống, nhà thờ thánh đường rung chuông đón giờ giao thừa nhưng tại nơi tôi ở mọi việc trôi qua trong sự yên lặng không ngờ. Không một tiếng pháo hay tiếng nào khác. Lịnh cấm đốt pháo đã được người dân thi hành triệt để. Với tôi, thiếu pháo làm ngày Tết mất đi chút ý nghĩa. Ðêm giao thừa trôi qua âm thầm như những đêm khác mà thôi.
Hồi tưởng lại ngày còn bê Cả năm tôi chỉ mong đến tối giao thừa. Ráng nhướng mắt thức cho đến giờ phút thiêng liêng giao hoà giữa năm mới và cũ, nhìn ba tôi quần áo lễ phục trịnh trọng đốt nén hương trầm cúng trước bàn thờ gia tiên. Lễ bái hoàn tất ông cho phép tôi cầm cây nhang cháy đỏ mồi vào phong pháo dài lòng thòng treo trước sân mà một đầu phong được cột chặt vào cành tre cặm ngay ngắn làm biểu tượng cho cây nêu. Tôi khoái chí nhìn những viên pháo nổ dòn tan và mũi phập phồng hít vô mùi thuốc pháo thơm lừng. Tiếng nổ kéo dài từ đầu đến cuối hẻm, từ ngõ nọ đến ngách kia. Nhà nào cũng đốt. Cơn buồn ngủ hầu như đã biến đi mất tiệt. Bọn con nít chúng tôi, nhiều đứa vẫn còn ngái ngủ, túa ra chạy đi dành nhau lượm những viên pháo tịt ngòi. Ôi! Những kỷ niệm thời thơ ấu nay còn đâu.
Sáng mùng một khí trời trở nên mát mẻ lạ thường. Dân Sài Gòn quần áo chỉnh tề đẹp đẽ chở nhau đi thăm mộ, viếng chùa, lễ nhà thờ hoặc chúc Tết thân nhân bạn bè. Tôi và nhà tôi nhàn tản dạo quanh thành phố bằng xe Honda mà một người bạn thân đã cho mượn từ vài ngày trước. Chạy ngang qua những ngôi chùa lớn thấy đông đảo khách hành hương. Chúng tôi động tính hiếu kỳ xuống gởi xe vào xem cho biết. Nhưng chỉ độ năm mười phút chịu không nổi khói nhang nghi ngút đành phải bò ra vì mắt cay quá sức. Chùa nào cũng thấy tấp nập người đi lễ. Nhiều cô cậu ra về với lộc trên taỵ Khổ cho các cây cảnh trong ba ngày này. Trơ trụi là cái chắc!
Bắt đầu từ mùng hai thời tiết ấm dần. Buổi sáng trời trong ít mây nhưng buổi tối khi mặt trời lặn thời tiết mát hơn. Xem tin tức thấy nói dân chúng đổ xô đi chơi ở những nơi như Ðầm Sen, Suối Tiên, Kỳ Hòa vv.... Cũng nghe lời than phiền vì giá vô cửa đột ngột tăng lên. Những nơi giải trí ca nhạc hay kịch ban đêm đầy ắp ngườị Sinh hoạt chung quanh Bến Bạch Ðằng rất sôi động vì rất đông người đi ăn và nghe nhạc sống trên các chiếc tàu cỡ nhỏ chứa khoảng hơn trăm ngườị Ngoài ra Vũng Tàu và Ðà Lạt là hai nơi du lịch hấp dẫn đối với dân thành phố. Khách sạn ở những nơi đó tha hồ chém. Giá phòng gần như tăng gấp đôi.
Qua mùng sáu sinh hoạt hầu như bình thường trở lại. Ðường phố lại kẹt xe trong giờ giao điểm. Các cơ sở thương mại hầu hết đều mở cửạ Không nghe ai nhắc đến những lời chúc đầu năm hoặc nghe trẻ con xin tiền lì xì nữạ Mọi người trở về với những âu lo toan tính của cuộc sống riêng mình. Tết đã qua thật rồi. Sài Gòn trở về với bộ mặt hối hả tất bật.
Phú Lê
(3/14/97)
Kẻ Bán Nước
Thoạt đầu mới nghe ông Bạc tự xưng mình là "kẻ bán nước" nhiều người ngộ nhận, tưởng ông là cố tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Nhưng ông Thiệu chỉ bán nước được có một lần rồi đứt bóng, còn về phần ông Bạc, ông bán nước đều chi, ngày này sang tháng nọ, vô số kể. Nói rõ hơn là ông Bạc sinh nhai bằng cái nghề bán nước này.
Từ bé, ông Bạc đã nuôi giấc mơ trở thành ông chủ. Gia phả nhà ông không có ai liên hệ gì với người anh em Ba Tàu, nhưng ông cùng chung một quan niệm với họ, dùng câu "phi thương bất phú" làm kim chỉ nam trong cuộc sống. Thời đệ nhị cộng hòa, ông Bạc đã xoay sở làm ăn đủ mọi thứ nghề. Khi cuộc đời ông bắt đầu lên hương, khi ông vừa mới lên làm chủ được một công ty xuất nhập cảng ngũ cốc thì miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Biến cố này, người miền Nam gọi là bị mất nước, người miền Bắc thì gọi là được giải phóng. Mất hay được, ông Bạc không cần biết, ông chỉ biết rõ vài năm sau đó bao nhiêu tài sản, công trình mồ hôi nước mắt của ông đã bị họ đến tịch thu công khai, dưới chiêu bài "đánh đổ tư sản mại bản". Uất hận trào dâng nhưng không làm gì được nên ông đành thu vét phần tài sản còn lại cùng vợ con tìm đường vượt biển. Ở đất liền thì bị cướp cạn bây giờ ra biển ông lại bị cướp biển "sạch sành sanh vét, cho đầy túi tham."
Cho đến ngày đặt chân sang đất Mỹ để định cư thì gia đình ông chỉ còn hai bàn tay trắng. Ở luống tuổi quá nửa đời người, ông Bạc bắt đầu làm lại từ đầu, tất cả khởi sự từ con số không to tướng. Nhưng ông không nản. Ông lại tiếp tục xoay sở bằng đủ mọi thứ nghề. Từ vùng khỉ ho cò gáy của tiểu bang Mississippi gia đình ông di chuyển về vùng nắng ấm miền Nam của tiểu bang California. Vùng đất ông chọn là một trong những nơi có khí hậu lý tưởng nhất thế giới. Thành phố có tên gọi là San Diego. Ðất lành chim đậu. Một trong những lý do ông Bạc chọn thành phố này bởi vì đây là nơi làm ăn được. Ông tính đường dài, mặc dù bây giờ còn hai bàn tay trắng, nhưng một ngày nào đó khi trở thành ông chủ tất nhiên là ông phải cần đến khách hàng, và chỉ ở những thành phố lý tưởng, dân tình hiền hòa thì mới có mòi tiến triển trên con đường thương mại.
Ông Bạc không bắt chước những người bạn cùng tuổi, những người tuổi đã cao mà còn ráng chui vào trong đại học kiếm thêm tín chỉ để đi kiếm việc làm kỹ sư hoặc cán sự điện t Ông biết rõ học cho lắm như họ rồi sau này cũng đi làm công cho người ta, lương ba cọc ba đồng, bị sa thải lúc nào không hay. Chỉ có mình làm chủ chính mình thì mới khá được. Thế là ông bắt đầu xoay đủ thứ nghề. Trong thời gian thất nghiệp ông hàng ngày đội chiếc nón lá rộng vành đi dạo ven biển San Diego để nhặt lon nhôm. Nhìn chồng mình ngày càng đen như con cuốc làm bà Sắc, vợ ông, không khỏi mũi lòng. Bà thương chồng vô hạn, bà thầm nghĩ, từ một ông chủ của một công ty lớn của miền Nam Việt Nam bây giờ ông Bạc phải lủi thủi hàng ngày trên bãi biển đi moi rác nhặt lon như một kẻ hành khất, điều đó đủ chứng tỏ chồng bà là một kẻ có nhiều nghị lực. Nhưng bà đâu có biết được ông Bạc đang nuôi chí lớn. Ông đi dọc biển là để nghiên cứu tình hình làm ăn. Những lúc cầm cây moi rác tìm lon, đầu óc ông suy nghĩ mông lung. Ông nghĩ đến những miếng ăn, thức uống có thể bán được cho dân đi tắm biển. Ông để ý đến những "mode" quần áo nào đang được thịnh hành. Ông tự hỏi ở đây mở dịch vụ cho thuê phao tắm như ở Bãi Sau, Vũng Tàu được không?
Và ông Bạc đã thử hết. Ông đẩy xe cút-kít bán "hot dog" và bia lạnh dọc bãi biển San Diego. Ông in áo thun "T-shirt" màu mè hoa lá cành bán cho khách du lịch. Ông mở sạp cho thuê phao. Ông suy đi nghĩ lại, làm ăn trên bãi biển này chỉ đủ hốt bạc cắc, muốn làm ăn lớn ông phải binh đường khác. Với số tiền lời kiếm được trong những năm tháng buôn bán trên bãi biển San Diego, cộng thêm một số tiền vay được của ngân hàng, ông đi mua lại những căn nhà cũ kỹ, bỏ công sức ra tân trang và bán lại lấy lời. Ông chỉ làm được vài lần, bán được chừng vài căn nhà là quyết định bỏ cuộc. Lý do là ngành địa ốc ở tiểu bang Cali không còn hái ra tiền như hồi đầu thập niên 80 nữa. Hơn nữa với đồng vốn cò con như ông không thể cạnh tranh lại những công ty địa ốc với số vốn hàng trăm triệu đô-la. Bỏ địa ốc, ông Bạc tiếp tục đầu tư vào những trò chơi kinh doanh khác, như mở garage sửa xe, mở tiệm giặt ủi, mở tiệm bán "Food To Go", v.v...
Bôn ba chẳng qua thời vận, và thời cơ đã đưa đẩy ông Bạc trở thành ông chủ của ngày hôm nay, và cơ sở của ông là một cửa hàng bán nước lọc có tầm vóc trong vùng. Ông Bạc tự hào rằng nước lọc của cửa hàng ông tinh khiết nhất không nơi nào sánh bằng. Bạn bè đến cửa hàng ông chơi thể nào cũng có một màn chào hàng. Ông sẽ mang ra một ống thí nghiệm, giải thích:
- Ðây là ống đo độ tinh khiết của nước. Ðể tôi cho bạn thấy sự khác biệt của nước máy chưa lọc và nước đã qua hệ thống lọc của bổn tiệm.
Ông thọc ống nghiệm vào trong ly nước chưa lọc, biểu đồ ghi số 100 ppm (particles per million), trong khi chỉ có 1 ppm trong phần nước lọc rồi.
Mới nhìn qua, đâu có ai ngờ được cái nghề bán nước này hái ra tiền. Nhưng chính vì không ai ngờ mà ông mới làm ăn được. Ban ngày ông và bà Sắc thay phiên nhau gác cửa tiệm. Cửa tiệm ông ngoài bán nước ra còn bán những bình lọc nước và những bình chứa nước đủ cở. Thường thường những khách hàng vào trong tiệm mua từ 5 gallons trở lên, có nhiều người còn chở cả thùng phuy, cả xe vận tải. Ban đêm, tuy cửa tiệm đã đóng nhưng người ta vẫn có thể mua nước, qua những cái máy bán tự động đặt bên ngoài cửa tiệm.
Chẳng mấy chốc mà tiếng tăm của ông nổi lên như cồn, mặc dù địa bàn hoạt động của ông còn giới hạn, chủ yếu cung cấp cho giới bình dân trong vùng, đặc biệt là cộng đồng Mễ Tây Cơ. Bây giờ nhắc đến ông Bạc bán nước, dân sống ở thành phố San Diego ai mà không biết. Người mừng cho ông làm ăn thành công thì ít, mà kẻ ghen tị, ganh ghét thì nhiều. Có kẻ nói xỏ nói xiên, nhằm ngày Tết chúng gọi lạ chúc tụng:
- Chúc ông bạn yêu nước năm mới bán nước được nhiều nhiều.
- Chúc ông năm nay tiền vào như nước.
Ông biết kẻ phát biểu câu này muốn chơi xỏ ông, vì nước chỉ có đi ra từ tiệm của ông, chứ có bao giờ đi vào! Một hôm trong bữa tiệc tân gia ở nhà một người bạn thương gia trong vùng, đề tài bán nước lại được mang ra bàn cãi. Thiên hạ úp mở ám chỉ ông, họ bảo nhau rằng có người đang sống bằng nghề bán nước. Bực quá, ông Bạc nói thẳng: - Ừ cho là ta đây bán nước đi, nhưng ta bán nước của Mỹ, chưa hề bán nước Việt Nam.
Có người nghe vậy vội phụ họa theo:
- Ðúng đó, bác Bạc. Bác là người Việt Nam, bán nước Mỹ, cho người Mễ!
Thế là bàn tiệc được dịp cười vang rân.
Như đã nói ở trên, tiệm nước của ông Bạc nằm trong khu dân lao động, thuộc cộng đồng Mễ. Khu vực này rất an ninh, chưa hề xảy ra các vụ trộm cướp, và cũng có lẽ bọn cướp nghĩ là bán nước như ông chỉ thu được bạc cắc nên chúng không thèm chiếu cố. Tuy nhiên có điều duy nhất làm ông Bạc bực mình là ở đây thỉnh thoảng có kẻ vào xin ăn. Những tên ăn mày vào tiệm của ông Bạc chỉ chuốc lấy thất vọng não nề. Nhìn những kẻ tay trên hai lòng bàn tay của ông Bạc thì biết liền; bàn tay mà thầy tướng số đã tuyên bố là đồng tiền lọt vào không có chỗ chui ra. Có nhiều tên ăn mày vào xin ăn bị ông Bạc xin ngược lại:
- Hôm nay tiệm tao bán buôn ế ẩm quá, tiền bạc đâu mà bố thí cho mày. À, mà mày hôm nay làm ăn được bao nhiêu? Có dư giả thì làm ơn chia sẻ với những người kém may mắn.
Ông vừa nói vừa đưa cái hộp quyên tiền cho trẻ em bị tật nguyền, của cơ quan từ thiện CARE đặt ở tiệm ông.
Một ngày mùa hè đẹp trời. Hôm nay tiệm ông Bạc bán đắt, nước lọc không kịp để bán, dân chúng phải xếp hàng dài dài chờ mua nước. Vào cuối ngày, bà Sắc lui cui bên trong quầy đếm tiền. Ông Bạc thì đang cầm cái chổi lau nhà đẩy tới đẩy lui. Có tiếng đẩy cửa. Ông Bạc không thèm quay lại, quát lớn bằng tiếng Anh:
- Ðóng cửa tiệm rồi. Làm ơn mua bằng máy bên ngoài đi.
Khách hàng không nói gì, tiếp tục lọc cọc bước vào bên trong. Ông Bạc quay lại, nhìn thấy một hành khất bị cụt một chân lên đến háng đang chống nạng bước vào, trên tay là chiếc nón lâ Hắn khỏi cần lên tiếng ông bà Bạc cũng biết hắn muốn gì. Nhìn thấy kẻ tàn tật làm ông Bạc không khỏi mũi lòng. Một thứ tình cảm yêu thương nhân loại chợt dấy lên thật mảnh liệt. Ông đi đến bảo tên ăn mày:
- "Amigo!" Nhìn thấy cảnh "amigo" tật nguyền như vầy làm tôi đây không nỡ ngoảnh mặt làm ngơ.
Nét mặt ông Bạc đột nhiên trở nên hân hoan:
- Tôi xin biếu "amigo"... 5 gallons nước.
Tên ăn mày ngơ ngác không hiểu gì. Ông Bạc phải làm dấu năm lần bảy lượt thì hắn mới vỡ lẽ. Hắn lắc đầu, định chống nạng đi ra, nhưng nghĩ sao hắn quay trở lại, chỉ vào cái bình chứa nước, dung tích 5 gallons. Ông Bạc hiểu ý hắn muốn nói là hắn không có bình chứa. Ông mím môi, lắc đầu, giọng lạnh lùng:
- "No way!" Không thể được. Muốn thì đứng ở đây mà uống cho hết!
Bùi Thanh Liêm
Tháng 3, 1997
Về hướng mặt trời lặn
tặng Ng. Lương Sơn
Cuối cùng chúng tôi cũng đành phải gạt nước mắt bỏ lại đằng sau những bè bạn đồng đội. Trận pháo quá bất ngờ, với những quả sơn pháo đầu tiên đã rớt ngay trên đầu, đúng ngay vào nhóm ba người đang dùng cơm. Chuẩn úy Tự, trung đội trưởng trung đội 4, mới nhận trung đội chưa đầy 6 tháng, và hạ sĩ Bao, tử trận ngay tại chỗ. Chĩ có tên tà lọt bị miểng đạn trúng ngay vào bụng, làm thấy cả những khúc ruột bầy nhầy trên phần bụng. Hắn được chúng tôi kéo vào hầm. Y tá lắc đầu tuyệt vọng. Người lính truyền tin của đại đội cố gắng liên lạc máy, nhưng bất lực. Viên trung úy đại đội trưởng hốt hoãng thấy rõ. Mắt ông đục lờ. Những người lính khác thì nép sát vào trong những hằm bao cát.Tiếng rên rỉ của Bao làm khổ sở mọi người không ít. Tiếng rên đứt doạn, nghẹn tắt, rồi thỉnh thoãng rống lên thống thiết. Hắn kêu cha ơi, mẹ ơi, em ơi, con ơi..Hắn kêu ông thầy ơi, giúp em, em đa quá, bọn mày ơi, giúp cho tao một phát súng, tao chịu hết nỗi rồi. Nhưng chúng tôi đã bất lực. Y tá đã cố gắng cầm máu, băng bó lại phần ruột lủng, nhưng hắn không thể che hết phần hạ bộ đang bịtrốc trơ đỏ lòm tua tủa gân và mở trắng nhầy nhụa. Có phải hôm nay là buổi tận thế rồi sao. Khi con người không còn gì để tin cậy, để nương nhờ, khi con người còn hơn con chó bị xe cán, khi Thượng Ðế thì thật xa, mà địa ngục thì kế cận, vuốt ve trên từng sợi lông, sợi tóc... Ðâu là hàng ngũ. Ðâu là đại bàng, mặt trời, đâu là sơn ca, họa mi, báo cáo kiến cắn, hai chết, một bị thương nặng cần tãi thương. Ðâu là chiếc trực thăng có dấu thập đỏ, hay chiếc xe ambulance chờ đợi ngoài quận như ngày xưa. Chúng tôi đã hiểu, rất hiểu từ ngày thị trấn mà chúng tôi đã bỏ lại. Chúng tôi đã mất rồi, mất một cách hết sức ngỡ ngàng, kỳ lạ. Ngày xưa, con đường liên tỉnh lộ chúng tôi đã quá chừng thân thuộc, nhớ từng cây cầu, cánh rừng thưa, một hai buôn thượng, nhớ ngay cả những cuộn khói từ những rẫy xa, trắng nuột và mong manh, hay những đám người Thượng mang gùi hiện giữa một vùng xanh thẩm của bắp, lúa hay đồn điền cà phê.. Bây giờ chúng tôi phải trốn tránh như đám chuột nhắt chui nhủi trong rừng già. Thế giới xưa đã cắt đoạn. Chúng tôi phải làm gì bây giờ. Tự nhiên tôi thèm có một cuộc tấn công của địch. Ðể mọi sự được phân giải, rõ ràng, dứt khoát. Có thể chết, bị thương, hay cũng có thể bị bắt tù binh. Nhưng ít ra, tôi cũng biết rõ về số phận của mình. Còn bây giờ, đám con chắt chiu giữa một nơi hẽo lánh, xa lạ, bị cách ly hẳn với thế giới bên ngoài... Rồi tôi nghe tiếng súng nổ chát chúa nổi lên từ phía hầm y tá. Thì ra hạ sĩ Phát đã lén lấy súng của ai đó, để nòng vào màng tang và bóp cò.
oOo
Chúng tôi lại di chuyển. Cuộc họp ngắn vừa qua chúng tôi quyết định phải rời quận đường bỏ trống này càng sớm càng tốt. Người ta đã bỏ chạy rồi thì chúng tôi ở đấy làm gì. Trời ngã chiều. Rừng ơi rừng ơi, xin cho tôi một giấc ngủ dịu dàng đi nhé. Núi ơi, núi ơi, núi mãi ngủ ngàn năm, không thức dậy để khóc cùng đám con bơ vơ lạc đàn. Mệt. Tôi cảm thấy gót chân mình thốn đau. Một hạt cát hay hạt sỏi nào vô tình nằm trong giày, mà trong nỗi kinh hoàng bủa ngập, tôi không kịp rũ ra. Giờ nó hành hạ tôi. Vẫn là hạt cát của hệ lụy. Vẫn là hạt cát của kiếp nhân sinh. Phía Tây, mặt trời mời gọi. Nơi đó, chúng tôi sẽ về. Phải về, để chim tụ lại đàn, để ngựa gặp lại bầy. Trời ơi, mới ngày nào cả đại đội còn đứng nghiêm sắp hàng điểm danh quân số, viên thượng sĩ thường vụ còn báo cáo hàng quân, mới ngày nào, trong doanh trại còn vang động tiếng cười tiếng nói, con chó vàng quen thuộc còn vẫy đuôi mừng từng thằng lính một, bây giờ, còn lại đám quân tơi tả, tang thương. Ai còn sống, hay ai đã chết. Ai tiếp tục cuộc chơi hay ai đã bỏ cuộc. Sư đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, ngày nào tiền hô hậu ủng, bây giờ họở đâu. Tôi biết, cuối cùng, vẫn là nỗi thèm khát được sống. Sống là trên hết. Dù trên cửa miệng của họ, những lảnh tụ, những mặt trời, mặt trăng, luôn luôn phát ra những thứ danh từ cao đẹp như tổ quốc ghi ơn, chúng tôi luôn luôn ở bên cạnh các bạn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.
Có ở trong rừng, mới hiểu được nỗi vất vã khi chúng tôi phải bương qua những khu dày dặc dây leo hay những bụi gai dại. Thấy nó rất gần, nhưng không phải dể dàng để bước đi một bước trong cõi thênh thang. Chúng tôi vừa mở sinh lộ, vừa nghe ngóng từng tiếng động khả nghi. Ðây là một vùng giáp ranh ba tỉnh cao nguyên, nơi được xem là mật khu, là hậu cần của những đoàn binh xâm nhập. Chúng tôi phải ngửi thử xem có mùi phân người hay mùi nước tiểu hay những chiếc lá khô hay những hộp lương khô có vương vãi ở đâu đây hay không. Chúng là dấu hiệu của con người, và chắc chắn là những người đang cố triệt hạ chúng tôi. Những người lính gốc Thượng, hay gốc Nùng của đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh hơi người. Lúc này, chính họ là những người dẫn đầu. Họ nắm giữ vận mạng của mọi người. Họ giơ tay lên, là cả bọn ngừng lại. Họ khoác tay là cả bọn lại tiếp tục. Chúng tôi di chuyển rất chậm. Sựchậm này cũng do một phần chúng tôi phải mang theo một người bị thương ở chân trong lần pháo kích cuối cùng. Hắn bám lưng thằng Minh. Hai đứa là anh em cột chèo, nên chúng dìu nhau từng bước.
Dù ở trong rừng, chúng tôi cũng biết rõ nơi chúng tôi sẽ về mà không cần la bàn, hay bản đồ. Cứ nhắm về hướng Tây, tức hướng mặt trời lặn mà tiến. Thế nào cuối cùng, bên kia núi là xóm làng, và có thể là một thị trấn, hay một con đường lộ chính, hay một đồn binh địa phương quân, hay là lá cờ quen thuộc nhưng sao lại khó khăn quá đổi. Người lính mở đường sục xạo nghe ngóng. Gai nhọn xước mặt mày tươm máu, lẫn cùng mồ hôi và đất bụi. Những đôi mắt đục lờ, thất thần. Không có lấy một nụ cười. Không có lấy một tiếng chửi thề. Gương mặt mỗi thàng ánh lên vẽ lo âu tột cùng. Người lính trẻ bỗng nhiên khóc như con nít.Người lính già cười mếu máo:
"Mày làm như con nít lên ba, làm sao tao gã con gái cho màỵ.."
Thằng tà lọt của tôi thỉnh thoảng hỏi tôi: "Ông thầy, mình đi đến đâu rồi". Tôi không nói. Chưa bao giờ tôi thương nó như lúc nàỵ Nó quá trẻ. Nó còn có một đời quá dài trước mặt. Phải đến nơi mặt trời lặn mày à. Nơi này mất thì nơi khác còn. Phải hy vọng mới có thể tiếp tục cùng cuộc chơi. Tôi đã dỗ dành tôi, và dỗ dành nó. Dỗ dành trong lúc, tiếng chuyển quân vọng về càng lúc càng rõ. Họ đi như thể vào chỗ không ngườịCó lẽ họ vừa đi vừa chạy cũng nên. Tiếng chân rầm rập nện trên đường lộ lẫn cùng tiếng xe molotova dội vào tâm não. Rõ ràng họ đang di chuyển về hướng Ðông, hướng biển. Có phải họ đã thắng rồi sao? Có phải, cuối cùng, sau mấy mươi năm giằng co,làm chết cả triệu thanh niên Nam Bắc, thù địch, địch thù, nay đã đến hồi cáo chung rồi sao ? Trận kết thúc gì mà quá sức lạ lùng vậy. Mới cách đây hơn một tuần, thị trấn vẫn còn an ổn, tiếng hát của Lệ Thu từ rạp chiếu bóng vẫn còn lướt thướt trong xuất tối, và chiếc xe díp của đại đội vẫn còn chở đám sĩ quan từ hậu cứ về thành phố tìm quán nhậu, cùng những chai bia lăn lóc, bây giờ thầy trò anh em thất thơ thất thểu tìm cách chạy thục mạng, bán sống bán chết...
Khi chúng tôi ra khỏi cánh rừng già, mặt trời úa vàng trên vùng cỏ tranh, và thắm trên triền đồi thấp xa xa. Dưới chân đồi là xóm nhà ẩn hiện. Nhìn lối kiến trúc, chúng tôi hiểu nơi này, là xóm làng của người Kinh. Thấy không khí có vẽ bình yên, như hình ảnh dịu dàng của những cuộn khói tan lẫn vào thinh không, chúng tôi không ai bảo ai, mừng đến chảy nước mắt. Thì ra, cuối cùng, bến bờ đã đạt, ngựa lạc đã tìm lại đàn, đàn con thất tán đã trở lại cùng một mái nhà. Và chúng tôi cùng nhau di chuyển vào làng. Trên đường đi, chúng tôi lại gặp một bà lão. Chúng tôi chặn lại hỏi thăm, nhưng bà lão đã nhìn chăm chăm vào mặt chúng tôi:
" Các ông đã bị thua rồi. Các ông bỏ súng về nhà là vừa".
Thằng Tá, biệt danh là Tá Lò Heo, chửi lớn:
"Ð.M., bà theo cách mạng thì tôi cho bà theo cách mạng".
Nó chỉa súng vào bà lão, hù. Mặt bà lão không tỏ gì sợ hãi.
"Tôi nói thật với các ông, nẫu về đây mấy ngày hôm nay, nẫu lập dân quân, phát súng ống..."
Giữa lúc ấy là cả rừng người từ làng đổ xô ra, như một đoàn mãnh thú, đàn ông, đàn bà, con nít. Họmang súng ngắn, súng dài, dáo, mác. Những tràng súng nổ dòn dã của khẩu AK vang lên. Chúng tôi thất đảm đến độ kinh hoàng. May mà còn bờ đê, để chúng tôi nhào xuống, nép mình vào đấy. Chúng tôi đã không bắn trả. Những đứa con nít, những người đàn bà ấy đâu có xứng đáng là kẻ địch của chúng tôi. Rồi chúng tôi lại cùng nhau chạy vào rừng. Lúc này mạnh ai nấy tìm đường chạy. Chạy thục mạng, bất kể. Chúng tôi như thể một bầy vịt hỗn loạn, tang thương. Nhưng chạy về đâu. Mặt trời cũng sắp lặn.
Trần Hoài Thư