vhnt, số 307
24 June 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ:
1 - Cát vô tình..............................................Ðinh Văn An
2 - Trăm trứng trăm con..................................Ngô Minh Hằng
3 - Nỗi nhớ..................................................Thạch Thủy
4 - Ninh Kiều một thuở.......................................Hàn Trân
5 - Lục bát tháng 6 II...........................................Song Vinh
6 - Tôi vẫn thấy....................................................DTDT
7 - Muộn...................................................Lillian Nguyễn
8 - Khi loài thú về nguồn......................................Cỏ Dại
9 - Mặc niệm.....................................................Cát Nhu
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Ngô Thế Vinh: Người oằn vai với những giấc mộng con............................Lê Tạo
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Chuyến đi....................................................Ý Liên
12 - Tản mạn về thiên nhiên.................................Tứ Diễm
Vẫn còn tháng 6. Tháng 6 của mùa hạ và cái đẹp rực rỡ của nắng, của hoa, và của những ngày hè nghỉ ngơi. Mong bạn đọc có những ngày bình yên và êm đềm nhất.
Vhnt số này giới thiệu thêm những cây bút mới đóng góp cho phần thơ và văn xuôi: Ðinh Văn An, Ngô Minh Hằng, DTDT, Thạch Thủy với những bài thơ êm ả như mây, chân thực như lòng, tha thiết như tình thương con người dành cho con người, và thân thương trìu mến như là kỷ niệm!
Cũng mời bạn đọc bài viết của Lê Tạo về tác giả Ngô Thế Vinh, về những giấc mộng của một người Việt Nam có lòng với quê hương và dân tộc.
Xin chúc một ngày hè thật đẹp.
thân ái,
PCL/vhnt
CÁT VÔ TÌNH
Em ném cát vào lòng biển vắng
Cát lòng em lấp lánh những vần thơ
Và biển vắng như tình anh thầm lặng
Suốt đời yêu mà chẳng thốt nên lời
Cát vô tình, cát chẳng hiểu cát ơi
Lòng biển đó ngàn sao trời quẫy
Cát có hiểu là mắt lòng biển vậy
Câm lặng nhìn, thương cát đấy, cát ơi
Cát vô tình, cát chỉ muốn đùa thôi
Ðể biển nhớ đến bạc đầu con sóng
Ðể biển khóc đến mặn lòng biển rộng
Trọn đời yêu thầm cát, cát ơi...
Em chỉ đùa mà chẳng chịu chung đôi
Ðể biển mặn và lòng anh cay đắng
Em chỉ biết ném vào lòng biển lặng
Cát vô tình để đau cả riêng anh.
Osaka 04/3/97
Ðinh Văn An
TRĂM TRỨNG TRĂM CON
Ai vá giùm ta một mảnh lòng
Tơi bời vụn vỡ với non sông
Ðiêu linh tức tưởi đời dâu bể
Mấy độ thăng trầm vẫn thủy chung
Ai sưởi giùm ta một cõi lòng
Lạnh lùng hoang vắng những ngày đông
Ôi, con chim én cô đơn ấy
Ðời mãi chia lìa vạn nhánh sông!
Ai hiểu giùm ta một chuyện lòng
Ðau thương cuồn cuộn sóng vô chung
Hồn ta quằn quại hồn vong quốc
Những vết thương buồn của núi sông
Hãy đến cùng ta, những tấm lòng!
Như ta đã đến tự hư không
Nhìn nhau mà nhận ra nhau nhé
Trăm trứng trăm con giống Lạc Hồng!
Và hiểu cho nhau những nỗi lòng
Ðể cùng chuyển núi lại dời sông
Nắm cho chặt nhé, tay nhau đấy
Thì có nhiều chi nước biển Ðông?!
Ngô Minh Hằng
Nỗi Nhớ
Bây giờ là mùa Hạ
Ngoài hiên chim ríu rít ca
Nhìn sợi nắng vàng mong manh
Xuyên qua cành cây kẻ lá
Anh nhớ đến em
Anh nhớ ngày ta quen nhau
Và những tháng ngày ta yêu nhau
Những ngày có em, có anh
Những tháng ngày có nắng vàng lung linh
Soi trên suối tóc
Những sợi tơ mềm có in dấu môi anh
Những tia nắng vàng hanh
Dừng lại trên mắt biếc
Dừng lại trên môi son
Ôi làn môi mầu nhiệm
Ðã bao lần đưa anh vào giấc ngũ triền miên
Mùa Hạ qua đi
Mùa Thu đến với những cơn mưa tầm tả
Mưa như những ngày Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau
Những cơn mưa miên man
Không làm hai ta chùng bước
Mình tìm đến nhau
Cho nhau những nụ hôn nồng ấm nhất
Anh thì thầm với em:
"Em biết không, mỗi lần ta hôn nhau trời lại mưa"
Và em nói trong vòng tay anh:
"Em muốn trời mưa hoài, mưa mãi,
để em được muôn đời hôn anh"
Rồi Ðông sang với những cơn gió bấc lạnh lùng
Lạnh như ánh mắt em
Ðã nhìn anh vào một chiều cuối Ðông
Thấy anh,
Em quay lưng cúi mặt
Như thể mình chưa một lần gặp
Hững hờ như khách lạ không quen
Tim anh ứa máu,
Ruột anh quặn thắt
Anh đau!
Như chưa bao giờ dược đau
Cũng như anh đã yêu
Như chưa bao giờ biết yêu
Hôm nay nhìn giọt nắng hanh vàng
Chợt nhớ đến em
Cơn đau chợt ùa về như làn sóng vở
Hòa cùng nỗi nhớ
Xoắn vào anh như cơn lốc kinh hoàng
Thạch Thủy
06/12/97
Ninh Kiều Một Thuở
Em người Cần Thơ, tôi Vĩnh Long
Ðò ngang sông Hậu nước một giòng
Những mùa lúa chín, mùa cây trái
Thơm gió hương nồng tóc hương đong
Chiều mang đồng nội đến Ninh Kiều
Xào xạc lúa vàng hát đăm chiêu
Trắng màu thiếu nữ tà áo lộng
Ruộng vắng buổi về trắng màu thêu
Vạc lụa bay bay mộng trên ngày
Ðường vào chốn cũ rụng hàng cây
Phố phường hờ hững người xứ lạ
Ai biết một mình giấc mộng đầy
Sợi tóc xõa dài Bắc Cần Thơ
Giòng sông hay tóc chảy mù mờ
Mấy chòm bọt nước vừa tan vỡ
Về đâu mái tóc cuộn vào mơ
Ninh Kiều trở lại mấy lần ngang
Bờ sông im vắng quán địa đàng
Uống buồn vị mặn làn chanh muối
Nắng đỏ ngày tàn buổi lang thang
Sông Hậu lúa vàng quê tôi xưa
Còn chăng gió mộng xạc xào dừa
Cây dài nghiêng bóng nàng con gái
Cặp sách lòng ai bỗng lưa thưa
Hàn Trân
Lục Bát Tháng Sáu II
THỰC HƯ
hình như ngày tháng quê người
có ta một bóng bên đời quạnh hiu
hình như chiều đó một chiều
em đi tóc xõa biển nhiều hờn căm
NGẪU NHIÊN
ta về thành phố hôm nay
dạo con đường vắng nhớ ngày đón đưa
nhặt hoa tìm chút hương xưa
chợt nghe tiếng gió đem mùa đông sang
ÐÃ QUA
ngày ta bỏ phố về nguồn
chiều lên chợt thấy một hồn đi hoang
hoàng hôn / sân cỏ / lang thang
đọc tờ thư cũ buồn sang phố người
THÈM
thèm ngồi quán cóc bên đường
thèm tô canh bí mẹ thường nấu cho
thèm đi học lớp i tờ
thèm, ôi!, thèm quá, một giờ chạy rong
CÓ THỂ
như giòng lục bát đong đưa
như em thuở đó tóc vừa chấm vai
như đời con nước chia hai
như ta trôi nổi tựa loài rong rêu
SÁU THÁNG CÒN LẠI
tâm hồn
tự dưng thấm mệt
tình yêu
gởi lời cách biệt từ đây
tương lai
heo hút chân mây
thành phố
cũng rất nhiều ngày trở lạnh
Song Vinh
Tôi Vẫn Thấy
Tôi vẫn thấy gì ở chốn đây,
Bosnia binh lửa đã phơi bày
Nồi da xéo thịt nhà không bóng
Huynh đệ tương tàn đường chật thây
Thế thời tao loạn người ngán ngẫm
Thua được trần ai kẻ trắng tay
Lầm than đâu phải riêng đất Việt
Cứu người xin chớ dị Ðông Tây.
Tặng Vi Kha nhân đọc bài "Tôi Thấy Gì" của bạn.
DTDT
Bosnia 5/97
MUỘN
Ngày xưa còn thơ bé
Ước thời gian trôi nhanh
Mơ áo dài, vàng khăn
Sánh vai cùng người lớn...
Bây giờ tôi đã đến
Bên chân cầu quạnh hiu
Con nước nào đưa lối
Cho anh trôi vào tôi
Lời tình ru tỏ muộn
Muộn cả dòng sông đời
Tôi đã tròn bốn muơi
Anh chỉ vừa ba mốt
Tình yêu nào không tuổi
Miệng nào ngọt không dao
Cứa vòng tay lơi, mỏi
Thả thời gian mau trôi
Ừ bây giờ đau lắm
Nhưng thôi đành lặng câm
Chiếc lồng son ai nỡ
Tặng đời nhau trăm năm
Lillian Nguyễn
Khi loài thú về nguồn
Khi loài thú đã mệt nhoài kiếp sống
Tìm về nguồn mong xoa dịu vết thương
Cũng là lúc con chim non bỏ tổ
Hót líu lo bỏ loài thú tật nguyền.
Loài thú dại đi hoang đời lưu lạc
Sống một mình cô độc giữa rừng hoang
Bởi đồng loại nhiều mưu toan phản trắc
Mà tình thân lạc mất tự bao giờ.
Loài thú đã một lần về tắm gội
Giòng sông xanh chẳng thể xoá vết hằn
Lằn roi xưa còn rỏ nét trên lưng
Loài thú dại kêu gào trong đêm tối.
Rồi một sáng trong nghĩa trang quạng vắng
Thú gục quì bên ngôi mộ hoang vu
Và bỏ ăn, bỏ thở, bỏ cuộc đời
Trút hơi cuối bên mộ xanh rêu phủ.
Khi loài thú xa nhau *, thì vạn vật
Cũng bùi ngùi thương xót cảnh chia ly.
Cỏ Dại
* nhạc Lê Uyên Phương
Mặc Niệm
Cúi đầu mặc niệm phút này
Cho nghìn tình cảm vụt bay theo đời
Người ta chẳng nói một lời
Ra đi là mất... một thời bên nhau
Cúi đầu mặc niệm tình đau
Người đi ta ở âu sầu riêng mang
Bây giờ ta bước lang thang
Lời mặc niệm hóa... lời than vô tình
Cát Nhu
Ngô Thế Vinh - Người Oằn Vai Với Những Giấc Mộng Con
Lời phi lộ: Nhà văn Ngô Thế Vinh đã cho xuất bản bốn tiểu thuyết trước 1975. Năm 1996, nhà Xuất bản Văn Nghệ tại Hoa kỳ đã phát hành một tuyển tập truyện ngắn của ông. Ðây cũng là tập truyện đầu tiên mà ông cho xuất bản tại hải ngoại. Những cảm nhận trong bài viết chỉ là cung cách thưởng ngoạn riêng của người viết với tác phẩm này mà thôi.
Những năm đầu thập niên 70 là những năm miền Nam nhuộm đầy khói lửa chiến tranh. Tiếng súng nổ giòn giã trên khắp bốn vùng chiến thuật. Người ta đọc báo, nghe radio, chuyền tai nhau những tin tức no 'ng bỏng gởi về từ những địa danh lạ hoắc ở chiến trường. Những bậc Cha Mẹ, phần lo lắng ngày đêm cho con cái trước cảnh lửa bỏng, dầu sôi nơi chiến tuyến, phần lo từng cái ăn, cái mặc cho con thơ nơi hậu phương. Tuổi thơ thì quanh quẩn sân trường, học những bài học lịch sử từ ngàn xưa, nghe những vần thơ từ đôi trăm năm trước. Còn tuổi trẻ? Tuổi trẻ nghe theo tiếng gọi núi sông. Tuổi trẻ lên đường. Tuổi trẻ vào lính. Tuổi trẻ trốn quân dịch. Tuổi trẻ chạy chọt ra nước ngoài. Tuổi trẻ đàn đúm, ăn chơi, bất cần đến ngày mai... Giữa một xã hội đầy biến động, mọi người tâ 't bật, ngược xuôi. Chuyện thực tế trong đời sống dĩ nhiên là chuyện hàng đầu. Chuyện văn chương, nếu có, thường xoay quanh những tác phẩm từ thời Tự Lực Văn Ðoàn như Hồn Bướm Mơ Tiên, Anh Phải Sống.v.v. hoặc chuyền tay nhau đọc những truyện chưởng lôi cuốn của Kim Dung, bàn tán quanh những chuyện tình buồn bã của Quỳnh Dao được đăng từng kỳ trên các tuần báo, nhật báo. Vì thế, chuyện văn học rất ít được quần chúng để ý tới. Ít ai màn nghĩ đến những nhà văn, nhà thơ, nhà báo đương thời. Vậy mà có một người nổi tiếng. Hầu như cả Sài Gòn, hay nói rộng hơn là cả miền Na m, đều nghe nhắc đến, bởi tên ông được đăng nhan nhãn trên các nhật báo, tuần báo ở Sài Gòn. Mọi người biết đến ông không phải vì tác phẩm Vòng Ðai Xanh của ông vừa đoạt giải Văn Học Nghệ Thuậ t toàn quốc 1971, mà biết nhiều đến ông qua vụ hầu tòa sau khi đăng một truyện ngắn (1). Và hai mươi lăm năm sau, 1996, truyện ngắn đã mang ông ra trước vành móng ngựa ngày nào, nay được dùng làm nhan d dề cho tuyển tập truyện ngắn của ông, được nhà Văn Nghệ xuất bản phát hành. Ðó là tuyển tập Mặt Trận ở Sài Gòn. Và nhà văn đó chính là Bác sĩ Ngô Thế Vinh.
Mặt Trận Ở Sài Gòn gồm mười hai truyện ngắn, trong đó có năm truyện ngắn viết trước năm 1975, một truyện viết năm 1971 và hoàn tất 1981 ở Sài Gòn, sáu truyện còn lại được viết tại hải ngoại. Sau mấy mươi năm thai nghén, tác phẩm hoàn thành. Một tác phẩm mang nhiều ước mơ khác nhau, mà tác giả gọi là những giấc mộng con, qua nhiều thời kỳ biến động của một đất nước mang hình chữ S, và của một đời người - một y sĩ quân nhân, một nhà văn khi còn ở trong nước và một Bác sĩ, một người trở lại cầm bút, một kẻ lưu lạc tha hương ở xứ người.
Là một người lớn lên trong thời chiến, Ngô Thế Vinh đã thấy rõ được những chết chóc không thể tránh khỏi của chiến tranh. Bước chân với những nhịp đập thiết tha vì công cuộc chung, đã bị bóp na 't từ trong trứng nước. Rốt cục, ông phải đi hầu tòa vì truyện ngắn này.
Cuộc chiến mà ông ghi lại có nhiều cảnh cười ra nước mắt. Một gia đình có người con trai và đứa cháu. Một đứa "nhảy núi", đứa kia theo lính "Cộng Hòa". Trong một cuộc đụng độ, hai anh em bắn n hau. Mỗi người gẫy một chân. Nước mắt người cha lưng tròng, cũng như Mẹ Việt Nam nhỏ lệ suốt hơn 4000 năm. "Những cẳng chân bị đạn bắn gẫy nát của lũ con cháu khiến ông nghĩ tới sự gãy đổ củ a cả một gia tộc, mà với ông gia tộc là trọn vẹn hình ảnh quê hương đất nước." (Chiến trường tạm yên tỉnh, trang 80). Dù không nói ra bằng lời, nhưng ông cho thấy chiến tranh chỉ là một cuộc huynh đê. tương tàn. Một cuộc chiến lẽ ra không nên có, để giảm thiểu những khổ đau chồng chất của con dân Việt.
Viết về chiến tranh, Ngô Thế Vinh viết bằng lối văn mạch lạc, khúc chiếc, gãy gọn. Vì thế ông đã thuyết phục, lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu của tập truyện. Nước Mắt Của Ðức Phật là một trong những truyện hay của tập truyện này. Truyện kể lại cuộc xâm nhập của một toán biệt kích, nhảy vào trận địa, tạo những nút chận, gây rối loạn ngay từ tuyến sau của các đơn vị địch quân. Toán quân này đã đụng độ, và đã giao tranh ác liệt với số địch quân rất lớn trong một hoàn cảnh hết sức khốc liệt, nan giải. Tàn cuộc giao tranh, hai người lính trong toán dìu nhau đi trên đất bạn, xứ Chùa Tháp. Bảy ngày sau, tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, "có một người lính công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mát đẩm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Ðức Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát. Và bên ngoài trời cơn mưa bão vẫn tràn trề." (Nước mắt của Ðức Phật, trang 38). Hình ảnh kết thúc câu chuyện là một hình ảnh bi hùng. Ðức Phật chỉ là một sự gián tiếp để nói lên cái cao đẹp, cái bình an mà con người đang nhắm tới. Không còn một sự cách biệt nào trong tôn giáo ở những cảnh ngộ đầy nư ớc mắt như vầy. Các đấng tối cao của các tôn giáo là người luôn hướng dẫn mọi người sống một đời an lành, hạnh phúc, không cấu xé lẫn nhau. Ðó cũng là ước mơ của ông, nhà văn Ngô Thế Vinh, và cũng là ước mơ của bao người. Nhưng chiến tranh được điều khiển bởi những tập đoàn quyền lực. Cho nên giấc mộng của những người lính bình thường, hay những những người dân thấp cổ, bé miệng khó thành hiện thực. Kết thúc câu chuyện ông viết "Gió lung lay cả đêm dài vô minh đang bao trùm khắp Á châu lục địa." (Trang 38). Chữ "lung lay", bản chất không mới, nhưng ông dùng rất hay, trong trường hợp này, tạo cho người đọc thấy cái sầm sập, dữ dội của gió, thấy cái trùng trùng, phẫn nộ của bão. Khi nói lung lay, người ta thường xử dụng trong những hình ảnh có gốc, có rễ. Cây dừa đan g lung lay trong cơn gió mạnh, căn nhà đang lung lay trước cơn bão táp, v.v... Hình ảnh cho thấy một phần gốc còn dính lại, và cả thân hình đang lắt lư, đong đưa, nghiêng ngẩ Nhưng ở đây là màn đêm. Màn đêm biểu tượng cho cái gì trong thời điểm bấy giợ Có phải là chiến tranh. Cái gốc của chiến tranh ở đâu? Ði xa hơn, kết thúc câu chuyện là hình ảnh hai người lính trong cuộc chiến. Một đã trút h ơi thở cuối cùng. Một đã kiệt quệ. Con người đã cạn láng năng lực nhưng chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Cái lung lay của màn đêm hay cái lung lay hết sức phi lý của chiến tranh? Cái gì làm lung lay gốc rễ chiến tranh? Lòng người. Ước mơ của con người. Ước mơ của một thế hệ. Ước mơ của cá nhân, cá nhân của nhà văn, của người lính Ngô Thế Vinh.
Thêm một ước mơ khác mà người đọc thấy rất rõ trong truyện "Người Y Tá Cũ" được viết vào năm 1994. Truyện kể về một người Y tá, tên Tụng, trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau tháng Tư 1975 anh là một trong số rất hiếm hoi những hạ sĩ quan của chế độ cũ được lưu dụng để làm việt tại một bệnh viện. Cũng chính nơi đây anh được săn sóc những người chiến hữu của anh, những người đang mang thương tật, sống vất va vất vưỡng, không bao giờ được ngó ngàng tới, mà cuộc sống chỉ còn là thoi thóp. Dĩ nhiên anh làm sao ngoảnh mặt, bởi ngoảnh mặt trước niềm đau thì nỗi đau ấy tăng gấp hai. Nó là niềm hạnh phúc của anh, hạnh phúc của một người y tá bình thường sau cuộc chiến. "Có lẽ suốt cuộc đời còn lại, chẳng bao giờ Tụng có thể quên được những đôi mắt trống vắng lạnh tanh của những người thương binh cũ, còn xa hơn cả sự tuyệt vọng buồn thảm, họ chưa chết hết phần xác nhưng đã chết cả phần hồn. Cuộc sống chỉ là đếm thêm cho mỗi từng ngày." (Trang 117). Nhưng niềm hạnh phúc mong manh của anh cũng bị tắt ngúm. Anh bị sa thải, trở lại quê nhà và tiếp tục cuộc đời ruộng nương thuở trước. Không giúp được bao nhiêu cho chiến hữu thương tích đầy người, nhưng được sống bên Mẹ già cũng là niềm hạnh phúc mới, dù rất mong manh, của anh. Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đó không kéo dài được bao lâu thì tai vạ ập tới. Giữa đời sống dân thường, giữa ruộng nương chất phát, "đang miên man giữa cái hạnh phúc của đất và người, bất chợt bàn chân Tụng đạp lên một vật như thép lạnh cứng - chưa kịp rút chân lại thì "ụp" tiếp theo là tiếng kêu "má ơi!" Cảm giác đau như xé khiến Tụng ngã quỵ, nhìn xuống thì một bàn chân đã đứt rời. Kinh nghiệm chiến trận khiến Tụng nhận ra ngay không phải lựu đạn mà là thứ mìn chuỗi chống cá nhân, chẳng biết ai đã ném vô và nằm im trong đám ruộng nhà mình tự bao gi Hòa bình rồi hạnh phúc tính là dài lâu nhưng rồi ra cũng chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày" (Trang 122). Ước mơ khi còn chiến tranh là được sống trong cảnh thanh bình. Nhưng sau tháng Tư 1975, đất nước đã hòa bình, nhưng niểm hạnh phúc cũng chỉ là ngàn cân treo sợi tóc! Niềm vui chỉ được tính từng ngày. Niềm vui không phải tràn trề, đầy ắp để được quyền chọn lựa theo lối tuyên truyền mỗi ngày chọn một niềm vui.
Những ước mơ trong thời kỳ chiến tranh bị bóp chết từ trong trứng nước. Niềm hạnh phúc sau khi đất nước thống nhất cũng chỉ là niềm hạnh phúc được tính từng ngày. Tuy nhiên, Ngô Thế Vinh không hề bỏ cuộc. Con đường ông đã vạch ra, ông vẫn cứ đi, dù chông gai vẫn đầy dẫy và hố ngăn cách vẫn trùng trùng. Bởi, không có gì ngăn cản một trái tim rộng mở tình thương. Không có gì làm chùn b ước một tấm lòng tha thiết với đời. Ở lớp tuổi tri thiên mệnh, làm một lưu dân, giấc mộng con năm 2000 vẫn bừng bừng trong ông như thời mới lớn. Giấc mộng con là làm sao để tạo được một th ế đứng cho lớp lưu dân, dựng nên một gạch nối để thắt chặt tình thân và sự gần gũi cho trăm họ đang lìa xa Tổ Quốc."... Bước khởi đầu vận động hình thành không phải chỉ là một mái nhà cho hội y sĩ, mà bao quát hơn là một Convention Center, một tòa nhà Văn hóa, một viện bảo tàng, một công viên Việt Nam. Ðó phải là công trình biểu tượng có tầm vóc, sẽ được thực hiện ưu tiên qua từng giai đoạn. Nếu nghĩ rằng ngôi đình là biểu tượng cho cái thiện của làng, thì khu công viên văn hóa ấy là biểu tượng cho cái gốc tốt đẹp không thể thiếu cho các thế hệ di dân Việt Nam từ những ngày d dầu đặt chân tới lục địa mới của cơ hội này, nó sẽ như một mẫu số chung rộng rãi cho một cộng đồng hải ngoại đang rất phân hóa, giúp đám trẻ hãnh tiến hướng Việt tìm lại được cái căn cước đích thực của tụi nô" (Giấc mộng con năm 2000, trang 154) Ngô Thế Vinh luôn nhìn về phía trước, bởi giá trị của quá khứ là bàn đạp để hướng về tương lai. Vì thế, niềm "ao ước không phải để có một ngôi đền thờ phụng, mà là một mái ấm của Trăm Họ Trăm Con, nơi ấy sưu tập và lưu trữ những giá trị của quá khứ, nơi hội tụ diễn ra sức sống sinh động của hiện tại, và là một điểm tựa thá ch đố hướng về tương lai, chốn hành hương cho mỗi người Việt Nam đang sống bất cứ ở đâu trong lòng của thế giới." (trang 157).
Ðây là một giấc mơ đẹp. Giấc mơ không chỉ của riêng ông mà là của rất nhiều người. Tuy nhiên, chỉù ước mơ, chưa đủ. Ước mơ mà thiếu sự chuẩn bị, thiếu một hướng đi đúng thì những ước mơ này trước sau cũng chỉ là mơ ước. Ông hiểu như vậy. Và đây, mô.t sự gợi ý, một hướng đi để biến giấc mơ trở thành sự thật của ông. "Mỗi Y Nha Dược sĩ đóng 2000 mỹ kim như một phần khấu trừ thuế rất nhỏ trong phần thuế khóa rất lớn mà họ đóng góp hàng năm trên các vùng đất tạm dung đang cưu mang họ, thì với một ngàn người tham gia số tiền hành sự đã lên đến hai triệu đô la tiền mặt, với tiềm năng ấy thì không có việc gì mà hội Y Nha Dược thê ' giới không làm được..." (trang 146) hay " "Bước khởi đầu chỉ đơn giản chỉ một đô la cho mỗi đầu người mỗi năm thì chúng ta đã có hơn một triệu mỹ kim cộng thêm với hai triệu mỹ kim nữa của Hộ i Y Nha Dược, Hội chuyên gia và các hội doanh thương. Sẽ không phải là nhỏ với ba triệu đô la mỗi năm để làm nền móng khởi đầu cho Dự án 2000 ấy." (trang 155)
Ðọc đến lối giải quyết vấn đề, hay nói rõ hơn là hướng đi để biến giấc mộng con thành hiện thực, người đọc có hơi ngờ ngợ với những điều mà ông đưa ra, dù đó là những điều tâm huyết. Với những người dân bình thường, việc quyên góp khó, nhưng dễ. Khó ở chỗ, họ là những người có lợi tức thấp, và dễ ở chỗ, tấm lòng họ luôn rộng mở vì lợi ích cho công cuộc chung. Ðiển hình như qua những lần lạc quyên, đóng góp giúp đở đồng bào tị nạn. Với hai triệu đô la mỗi năm, từ hội Y Nha Dược, thành quả này có được hay không, phải xét lại. Người dân thường đã mất niềm tin nơi giới Y Nha Dược khá nhiều trong suốt những ngày tháng lưu vong. "Là bác sĩ ở Mỹ có nghĩa là đã thuộc vào thành phần xã hội trung lưu trên cao, địa vị hoàn cảnh của họ là ước mơ ngay cả đối với rất nhiều người Mỹ bản xứ" (trang 151). Ðiều này không ai phủ nhận, nhưng "của" đóng góp và "cách" đóng góp của giới này vẫn là một dấu hỏi lớn. Nói thế không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn sự đóng góp của bao người tâm huyết và tấm lòng của họ trong suốt những năm tháng lưu vong. Nhưng con số này quá nhỏ so với một tập thể gần 3000 người của giới này ở hải ngoại. Nhắc đến Y Nha Dược sĩ, người đọc nghĩ ngay đến cảnh còi hụ năm 84 ở quận Cam khi hàng loạt Y Nha Dược sĩ bị còng tay đi giữa thanh thiên bạch nhật. Dân bản xứ phỉ nhổ, chính quyền bản xứ nghi ngờ lây đến cả những ngư ời lương thiện. Người Việt lưu vong ruột đau như cắt, và nhận cái nhục của giới này như cái nhục chung của một cộng đồng tị nạn. Xa hơn, gần đây, trong các công cuộc đóng góp cho người tị nạn, giới Y Nha Dược không phải là giới đóng góp hàng đầu, dù họ có mức thu nhập cao nhất. Ngay tại thành phố mà người viết bài này đang cư ngụ, tập thể này có con số không dưới 100 người. Trong công tá c gây quỹ cứu trợ người tị nạn gần đây, tập thể này chưa đóng góp được năm ngàn đô la, còn thua một hội sinh viên Việt Nam tại một truờng đại học cùng địa phương. Và mới đây thôi, tòa án San Di ego đang khởi tố hàng chục Y Dược sĩ, mà hơn một nửa lại mang máu đỏ da vàng. Vậy, chuyện đặt niềm tin vào hội Y Nha Dược để biến giấc mộng con năm 2000 thành sự thật là một việc nên xét lại từ trong trứng nước, trước khi hành động, để những người dân bình thường khỏi phải một lần nữa thất vọng đối với tập thể khoa bảng này.
Dĩ nhiên, độc giả vẫn hiểu, Giấc mộng con năm 2000, trước sau cũng chỉ là giấc mộng của Chính, một tên của một y sĩ trong truyện, hay giấc mộng của Ngô Thế Vinh, một phó thường dân, hay xa hơn, đây ch ỉ là một truyện ngắn, một tiểu thuyết chứ không phải một dự án để bàn luận đến sự giải quyết rốt ráo một vấn nạn lớn - hố cách ngăn, chia rẽ, hay lòng người phân tán trong cộng đồng người Việt lưu vong.
Bên cạnh lối văn đầy cuốn hút, Mặt Trận Ở Sài Gòn còn một số điểm mà tác giả quên để ý khi để những rung động của mình tự do trào ra ngòi bút. Tôi xin đơn cử một vài điểm sau.
Trong truyện ngắn Một Bức Tường Khác người đọc thấy sự lẫn lộn trong lối tính thời gian của ông. Trong truyện này, Ngô Thế Vinh đã viết về một người lính Hoa Kỳ, Jim, từng tham chiến Việt nam và Phan một bác sĩ Việt nam từng trị bệnh cho Jim trên đất nước Hoa Kỳ, sau cuộc chiến. Câu chuyện xoay quanh Jim và kết thúc bằng hình ảnh tự tử của anh. Câu chuyện được viết tại Brooklyn vào tháng 2, 199 1. Mở đầu câu chuyện, ông giới thiệu "Jim 40 tuổi, người Mỹ da đen, là cựu chiến binh Việt Nam." Dĩ nhiên, người đọc hiểu rằng số tuổi của Jim không phải tính ở thời điểm hôm nay, 1997, mà là tính ở thời gian ông viết câu chuyện, tức là vào tháng 2 năm 1991. Nghĩa là Jim phải sinh năm 1951. Ðoạn giữa ông viết "Jim đã ở trong quân đội gần năm năm, từ 66 tới 71. Với một lý do nào đó, hắn đã không được nhận vào Thủy quân lục chiến như ý nguyện. Do kỳ thị, hắn nghĩ vậy. Nhập ngũ, hắn được huấn luyện quân sự cơ bản chỉ trong tám tuần tại căn cứ Fort Jackson, tiểu bang Nam Carolina, sau đó học thêm cấp tốc tám tuần lễ nữa về tác chiế bộ binh. Hắn được nghĩ phép ba tuần lễ về Compton với mẹ và các bạn hắn trước khi được gởi qua Việt Nam" (Trang 96) Ðến đây, người đọc thấy gị Jim vào lính năm anh mới vừa... 15 tuổi và được gởi sang tham chiến tại Việt Nam sau một thời gian ngắn huấn luyện. Ðây là sơ hở, là lỗ hổng trong lúc dàn dựng câu chuyện. Không phải chỉ có một mình Jim sang chiến trường Việt Nam ở những năm cuối của thập niên 60, mà là nửa triệu lính Mỹ. Nhưng chắc chắn một điều: họ không ở lớp tuổi 15. Hư cấu trong tiểu thuyết là chuyện thường tì nh. Nhưng hư cấu không có nghĩa là đẩy câu chuyện đi đâu cũng được, đẩy nhân vật làm gì cũng được, và cho người lính nhập ngũ lúc nào cũng được. Sơ xuất này làm cho người đọc đặt dấu hỏi, và sức thuyết phục giảm đi rất nhiều.
Cũng trong truyện ngắn này, ông viết "Tôi phải dùng tới lưỡi lê để cận chiến với tụi nô Lưỡi dao đâm lút cổ tên VC, máu vọt ra đầy mặt, rồi đầu và thân dứt lìa. (Trang 101). Ở đây vì muốn diễn tả cảnh ghê rợn trong lúc cận chiến, tác giả đã dùng đủ: dao đâm, máu vọt, đầu và thân đứt lìa. Hành động đâm, máu vọt ra tia vòi, đúng. Nhưng đầu và thân không thể đứt lìa! Khi đâm chỉ có thể bị lủng từ trước ra sau, từ trái sang phải hay ngược lại mà thôi. Hình ảnh dùng như vậy là không thật. Trong một lối viết rất lôi cuốn, tác giả sơ ý để lọt một hình ảnh không thật, làm ch o độc giả ngờ ngợ điều ông muốn gởi gắm trong suốt câu chuyện, có khi điều ngờ ngợ này còn đi xa hơn nữa.
Xuyên suốt tác phẩm, ông rất ít khi nhắc đến hình ảnh của bà Mẹ, những bà Mẹ Việt Nam đúng nghĩa. Tuy vậy, ông có nhắc lại một chi tiết rất cảm động. Một bà Mẹ đã đau với cái đau triền miên của đất nước và lòng rộng mở vô biên, bất chấp "tai vách mạch rừng" của chế độ, một chế độ mà ngay cả cha và con còn chưa thể tin được nhau. "Hòa bình rồi được có con về là má vui, mặc cho họ nói chi thì nói, cái mửng bắt má dẹp khung hình thằng Ba thằng Tư trên bàn thờ là không khi nào má chịu. Lính ngụy hay không lính ngụy tụi nó vẫn là con Mâ Chòm xóm có gia đình nào mà không có con vô lín h rồi chết trận, vẻ vang hay không vẻ vang có cái đau nào bằng cái đau của bà Mẹ mất con. Họp tổ phường khóm má nói toáng như vậy, chịu hay không chịu thì thôi..." (Người y tá cũ, trang 120). Một vài nét cọ, ông đã tạo nên một bức tranh đẹp, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn. Hình ảnh bà mẹ rõ ràng, dứt khoát, sẳn sàng nói những điều muốn nói và nghĩ những điều dám nghĩ nhưng lòng thương con thì bao la, vô tận. Ðây là một thành công khác của ông.
Qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, người đọc thấy Ngô Thế Vinh rất chú trọng tới cách hành văn. Và đây cũng là điểm tạo cho ông có một chỗ đứng rất riêng biệt với những người viết khác. Từ trang đầu tới trang cuối, từ những truyện ngắn được viết ở những năm đầu thập niên 70, đến những truyện ngắn mới viết gần đây, tác giả vẫn sử dụng một lối viết trong sáng, gãy gọn, khúc chiếc. Câu văn không lê thê để tạo sự "ẩn mật", bùa chú. Câu văn không ngắn cũn cởn kiểu chặt khúc, bẽ đoạn, uốn éo chữ nghĩa để làm dáng như một mốt thời thượng. Ðiều này cho thấy ông rất cẩn trọng để văn chương không tuộc dốc như sức người giảm theo năm tháng. Và cũng chính điều này đã nói lên được sự thiết tha với chữ nghĩa của ông dù ông đã từng phải đối diện với bao nhiêu thăng trầm, dâu bể của đời thường. Xa hơn nữa, người đọc không hề thấy ông phẫn nộ, mà trước sau vẫn bình thản với ngôn từ.
Ngô Thế Vinh là nhà văn của thời cuộc. Ông lưu tâm đến thời thế, ông nặng nợ với cuộc đời. Ông muốn thời cuộc phải tốt hơn để con người sống thoải mái hơn. Ông muốn cuộc đời phải đẹp hơn để con người kéo dài hơn niềm hạnh phúc mà rút ngắn sự khổ đau lại. Vì thế, suốt từ trang đầu đến trang cuối của tác phẩm, chữ nghĩa của ông gắn liền với vận nước trong suốt một thời kỳ biến động của lịch sử. Chữ nghĩa của ông bật lên những ước mơ rất đời thường, rất giản dị, nhưng không phải dễ thực hiện. Nhà văn của thời cuộc là người sống thực và nói thực lòng mình. Họ dùng ngòi bút để đẩy cuộc đời đi xa hơn, đẹp hơn. Trong một xã hội nhiễu nhương, họ dùng ngòi bút hướng dẫn quần chúng đấu tranh để tiến tới một xã hội tiến bộ. Trong một xã hội tiến bộ, họ vẫn tiếp tục đấu tranh để khuôn mặt xã hội sáng hơn, đẹp hơn. Họ không bao giờ ngưng nghĩ. Họ sẳn sàng đi nhậu với chính trị nhưng không hề say sưa quyền lực. Ngô Thế Vinh là một trong nh ững nhà văn của thời cuộc hôm nay.
Dù có những chỗ không đồng ý với ông trong việc biến giấc mơ thành sự thật, nhưng tôi cảm phục ông. Bởi những điều ông viết là những rung động thực của một người cầm bút chân chính. Mặt Trận Ở Sài Gòn tuy còn đôi điều khiếm khuyết nhưng nó là một quyển sách mang nhiều tâm huyết của một nhà văn thời cuộc. Nó dàn trải được, và nói thay được cho rất nhiều người trong chúng ta, những người Việt đang lưu lạc trên mọi vùng của trái đất.
Lê Tạo
Ghi chú:
Bài phỏng vấn của Bách Khoa dành cho Ngô Thế Vinh, thực hiện 1972, được dùng thay cho lời tựa của tác phẩm này. Mở đầu, Bách khoa viết: "Nếu giải Văn trao cho Vòng Ðai Xanh không gây dư luận sôi nổi như giải Thơ thì trái lại vụ án Ngô Thế Vinh đã là đề tài cho rất nhiều anh em cầm bút trên các nhật báo cũng như tuần báo, tạp chí, trên báo dân sự cũng như báo quân đội..."
Chuyến Ði
Tôi đứng trên ngọn đồi nhìn ra xa những nhà cửa chập chùng bên dưới. Vùng đồi Berkley vào mùa hè im lặng vì hầu hết các học sinh đã về với gia đình. Hai cô bạn nhỏ của tôi đang tíu tít với chiếc máy chụp hình trong khi người bạn dẫn đường là cựu học sinh trường Berkley chỉ cho tôi xem chiếc cầu Golden Gate mờ mờ ẩn hiện như nỗi nhớ của tôi chợt trở về mười một năm trước. Thuở có hai chiếc xe van chở người và hành lý của lũ bạn và tôi vượt đồi dốc từ Los Angles đến vùng Redwood để cắm trại và đến thăm San Francisco. Ngày đó lũ chúng tôi còn trẻ lắm, hồn tên nào cũng còn mở rộng theo trang sách tuy lắm lúc cũng câm nín như những buổi trưa trong thư viện. K. ngày đó là tên tài xế của nhóm bắt đầu nổi tiếng vì dám u-turn trên freeway khi khám phá mình đi lạc đường. Tr. ngày đó còn gò người trên những bản vẽ, cũng tập tễnh chơi keyboard và hát bài Nha Trang Ngày Về mặc dù với Tr. Nha Trang vẫn mơ hồ qua lời kể của tôi. Ngày đó chúng tôi đến Redwood rất trễ, cây đèn pin cầm tay của K. với vùng ánh sáng yếu ớt soi bước tôi lần đầu tiên bỡ ngỡ trên vùng đồi núi của miền Bắc California. Tiếng cười dòn của Tr., cái nhanh nhẹn của K., cái thâm trầm của anh Ng. đã làm ấm cả một trời San Francisco mù mịt hơi sương. Và đám bạn gái của tôi thuở đó còn nghịch ngợm phá phách vây quanh tôi, khuôn mặt trầm lặng nhất của nhóm như cô bạn Phương vẫn thường bảo.
T. đề nghị chúng tôi tìm một chút gì để lót dạ trước khi lái xe đến San Francisco. Tiệm ăn Pakistant với món Kabbob làm tôi chợt nhớ San ta Monica những buổi ăn trưa vùng Bervely Hills đông đảo. Tôi nhớ Hải người đồng nhiệp đã dở khóc dở cười trước món ăn trưa lạ hoắc mà anh chàng lỡ gọi trong khi nhìn tôi ăn món Kabbob ngon lành mà tiếc rẻ. Ly nước lassie chua cả miệng làm cả 2 cô bạn và tôi đều nhăn nhó và mang tôi trở về thực tại. T. người bạn mới nhỏ nhẹ, hiền lành đến tội nghiệp, cố gắng gợi chuyện. Nhìn T. tôi có thể hiểu T. đã khó nhọc biết bao để trãi đời mình bao mùa trong campus. Không dưng mà 2 câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên ngậm ngùi trong hồn tôi:
Rồi có ngày mình bỏ trường bỏ lớp
anh cũng đi, em cũng đi như luật định trời dành.
Tôi muôn đời muốn làm một cô học trò nhỏ ở khuôn viên đại học, ở trường trung học. Tôi thèm cái giản dị mà lắm mộng mơ của đời học sinh. Tôi nhớ đôi mắt khoắc khoải của vị giáo sư già báo cho chúng tôi hay mùa dạy cuối cùng của ông năm nàọ Tôi biết ông trở về vùng Berkley để làm việc trong những ngày còn lạị Ông đã để lại cho tôi một chút kiến thức ít ỏi nhưng đã giúp tôi rất nhiều trong việc làm đầu tiên của tôi sau mùa hè năm đó.
Cuối cùng chúng tôi cũng rời Berkley và lái xe đến San Francisco. Cũng bãi đậu xe chen chúc người, cũng bức tượng đứng chơ vơ cúi nhìn đám đông nhưng tôi không còn là tôi với những náo nức của mười một năm về trước. Mùa hạ mang một chút gió biển lành lạnh, tóc tôi bay tung, quấn quít với những kỷ niệm. Hình như có một đôi mắt lạc loài nào đó giữa buổi chiều của San Francisco. Lũ chúng tôi bước lên cầu, những nhịp cầu vẫn soi mình trên vùng biển lặng như bao giờ. Người du khách đi lẻ loi bên thành cầu, đoàn xe vẫn lao vùn vụt, tôi bỗng dưng cảm thấy mình đã để trôi mười một năm qua một cách vô tình.
Ý Liên
Tản Mạn về Thiên Nhiên: Trời, Trăng, Sao, Hoa, Cây và Cỏ
Dường như từ thuở sang xứ lạnh lẽo này, ta rất hiếm khi được nhàn rỗi ngồi thưởng thức vẻ đẹp của buổi bình minh hay hoàng hôn. Những ngày mùa Ðông rét mướt, mặt trời cũng lười biếng thức dậy sớm, lại hay ẩn trốn sau những màn mây dày. Và ta cũng rét buốt, co ro trong lớp áo khoác mùa Ðông, mắt nhắm mắt mở, lò mò đi ra trạm bus gần nhà. Vừa đứng vừa run, và nghe hàm răng đang gõ theo nhịp rumba. Thử hỏi còn lòng dạ nào mà tận hưởng vẻ đẹp của buổi sớm mai chứ? Những ngày mùa Hè, mặt trời lại quá ư siêng năng, vội vã khoe vẻ đẹp với cảnh vật chung quanh khi đồng hồ chưa chỉ đến con số 5. Do đó, ta cũng hiếm khi có dịp được nhìn ngắm cảnh mặt trời mọc. Ta vẫn nghe mẹ tả cảnh mặt trời mọc buổi sáng sớm khi nhìn từ khung cửa phòng khách. Một cảnh đẹp khó tả, chỉ có thể nhìn ngắm và nhận biết bằng mắt. Nhưng ta chưa một lần nào có dịp thưởng thức cầ Ta vẫn tự hứa với lòng là sẽ có một ngày phải dậy thật sớm để nhìn ngắm cảnh bình minh. Nhưng dường như cái ngày đó chả bao giờ đến thì phải.
Buổi chiều, mùa Ðông rét lạnh, nên mặt trời thường đi ngủ sớm, chưa tan lớp đã vắng bóng mặt trời. Trên đường về nhà, chỉ có... mặt trăng làm bạn cùng ta. Mùa Hè, mặt trời cũng ham vui nên nán lại khá lâu trên bầu trời. 8, 9 giờ tối mà trời vẫn còn sáng. Rồi bất chợt khi mặt trời vừa lặn xuống thì trời sụp tối thật là nhanh. Nhanh đến bất ngờ. Ðôi lần, ta cũng bắt gặp được cảnh ông mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống ở phương Tây. Nhưng tiếc rằng khi đó ta còn đang bận rộn nhìn xe chạy phía trước, phía sau và cả hai bên. Còn phải nhìn những tấm bảng chỉ đường trên con đường xa lộ thẳng tắp hay uốn éo lượn vòng. Do đó, ta chẳng tài nào tập trung để thưởng thức được hết nét đẹp của cảnh hoàng hôn.
Ðến kỳ nghỉ lễ vừa rồi, trên đường từ Quebec về lại Montreal, ta đã có dịp ngồi nhàn nhã, để nhìn ngắm cảnh hoàng hôn. Chao ơi, thật là đẹp vô cùng. Ban đầu, mặt trời còn chói lòa, tỏa những tia nắng gắt khiến ta không dám nhìn ngắm. Khi đó, bầu trời xanh nhạt, trong vắt, không một gợn mây. Rồi từ từ, mặt trời ửng sắc cam đỏ, càng lúc càng tròn to hơn. Nền trời cũng từ từ pha thêm sắc xanh, xen lẫn với những ánh màu vàng, cam ở phía cuối chân trời. Càng lúc, mặt trời càng ửng sắc đỏ, càng lớn mãi thêm ra, và xuống thấp dần. Những màu vàng, cam xen lẫn tím càng lúc, càng hiện rõ nơi cuối chân trời, làm nổi bật những hàng cây xanh rì nơi phía xa xa. Và ở tận cùng trên cao của bầu trời, màu xanh dương duy nhất bao phủ cả vòm trời đang từ từ sậm màu. Từng đàn chim đang cùng nhau bay về tổ tạo thành những nét chấm phá tuyệt vời trên một nền trời được pha trộn với đủ sắc thật tài tình của thiên nhiên. Có lẽ ta chẳng bao giờ có đủ tài để pha trộn màu sắc khéo léo đến như thế. Mặt trời dường như cũng đã bắt đầu cảm thấy chán phô trương vẻ đẹp nên càng lúc lặn xuống càng nhanh. Cuối cùng, những hàng cây nơi phiá xa xa đã cản trở tầm nhìn để che dấu vừng dương đang muốn đi trốn. Khi đó, bầu trời như đậm thêm ra, và những màu sắc rực rỡ cũng từ từ tan biến để nhường chỗ cho bóng tối đang xâm lấn vũ trụ. Những hàng cây bên đường cũng không còn nhuốm màu xanh tươi mát. Mà đã bao phủ bởi một màu xanh tối, tạo thành những hình thù kỳ lạ với con mắt giàu tưởng tượng của khách viễn du.
Cuối tháng trước, trăng thật là tròn và sáng. Bầu trời về khuya đen huyền và lấp lánh những vì sao sáng. Vầng trăng sáng vằng vặc dường như hơi buồn vì bị quên lãng bởi người đời. Nên chỉ đành phô bày vẻ đẹp với những hàng cây cao, những cụm hoa đang khép lá, những bãi cỏ xanh mượt được cắt xén cẩn thận và với những chú côn trùng đang trốn núp trong bãi cỏ, gốc cây. Riêng ta, nhờ một sự tình cờ, mới phát giác ra được vầng trăng rằm đơn lề Có lẽ nếu những đóa hoa Quỳnh không nở rộ cùng một lúc, toả hương ngát nhà, khiến ta chợt tỉnh giấc và phát giác ra những đóa Quỳnh trắng muốt đang nở tung, xòe những nhị vàng. Khi đó, ta đã ngồi ngắm hoa thật say mê. Ðây là lần đầu tiên 8 đóa hoa Quỳnh nở cùng lúc, nên cả gian phòng tràn ngập mùi thơm của hoa. Và tình cờ, ta đã hé màn cửa sổ, để rồi chợt bàng hoàng, ngơ ngẩn khi thấy ánh trăng sáng đang lung linh chiếu rọi lên những cánh hoa trắng muốt. Chao ơi, thật là đẹp tuyệt vời. Chỉ trong một buổi tối, ta có dịp được ngắm cả hai vẻ đẹp dịu dàng, tinh khiết của thiên nhiên: hoa Quỳnh nở dưới ánh trăng rằm. Khi đó, ta đã kéo rèm cửa để ánh trăng tự do ghé vào đùa giỡn với hoa. Ðể ta được ngắm nhìn những cánh hoa mỏng dính, trắng muốt tràn ngập ánh trăng. Phải chăng ánh trăng đã làm tăng vẻ đẹp của hoa, đã khiến những cánh hoa dường như có vẻ trong hơn, dịu dàng hơn, tinh khiết hơn? Hay có thể ta đã bị say bởi ánh trăng, bởi hương hoa nên mới cảm thấy vẻ đẹp của trăng, hoa tăng thêm hương sắc? Ta không biết đã ngồi như thế đã bao lâu. Thời gian cứ từ từ trôi qua, và những đóa hoa Quỳnh cứ từ từ mở rộng những cánh hoa nhỏ và mỏng dính để khoe chùm nhị vàng, để toả hương tràn ngập gian phòng. Có lẽ khi đó cũng phải gần hai giờ sáng. Mọi người còn đang say sưa trong giấc nồng. Bên ngoài khung cửa sổ những cánh hoa còn đang khép kín, những hàng cây hiện mờ mờ dưới ánh trăng. Và có lẽ, những chú côn trùng đang dạo những khúc nhạc ròn rã, nhưng những lớp kính dày đã ngăn giữ tiếng động, nên với ta, không gian yên tĩnh lạ thường. Chỉ có tiếng máy lọc nước trong hồ cá đang chảy róc rách như một điệu nhạc nhẹ tô điểm cho một đêm tràn ngập ánh trăng và hương hoa. Thật cám ơn hóa công đã tạo nên những vẻ đẹp tinh khiết, tuyệt vời cho ta được dịp thưởng thức. Chỉ tiếc, nàng thơ có lẽ đã giận hờn khi thấy ta say mê với hoa, với trăng nên nàng chẳng ghé sang, cho ta dệt vài vần thơ ca tụng vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng dù sao, thì với riêng ta, vẻ đẹp của buổi tối hôm đó cũng đã tạo thành một bức tranh khó quên trong tâm trí. Một ngày nào đó, nếu ta đủ tài và có cảm hứng, ta mong ta sẽ diễn tả được phần nào vẻ đẹp đó lên trên những mảnh lụa dịu mềm.....
Còn nhớ thuở ấu thơ ta đã nằm đếm sao trời biết bao nhiêu lần trên căn gác nhồ Những buổi tối ở thành phố thân thương, với một mảnh trời đêm lấp lánh những ánh sao lung linh chiếu sáng. Một mảnh trời thật nhỏ bé vì bị che lấp bởi những tàng cây và những mái hiên nhà, nhưng với riêng ta là cả một thế giới huyền bí, y như trong những câu chuyện cổ tích bà vẫn kể. Ta đã tốn bao nhiêu đêm để nằm đếm sao trên mảnh trời nhỏ bé của riêng ta, để ráng định vị trí, gọi tên những vì sao lóng lánh xa thật xa, nhưng cũng thật thân quen. Ðể dành nhau với đám em làm "của riêng" những vì sao đẹp nhất, sáng nhất. Ở nơi đây, bầu trời đêm khoảng khoát quá, rộng mênh mông quá. Từ khung cửa sổ phòng, ta dễ dàng nhìn ngắm gần trọn vẹn cả một góc trời, với vô vàn vì sao sáng. Nhưng dường như những bận rộn của cuộc sống nơi đây đã khiến ta không còn thấy ham thích trò chơi đếm sao thưở nào. Hay có thể, giờ đây ta đã đủ lớn để không còn ưa thích những trò con nít thuở xưa chăng? Những vì sao ở nơi đây sáng lung linh, rực rỡ lắm, nhưng dường như cũng cùng chung phần số với vầng trăng. Có mấy khi được mọi người chú ý nhỉ? Chỉ có một lần, khi đó có hiện tượng "mưa sao", thế là cả thành phố náo nức, nhộp nhịp hẳn lên với những tin về "mưa sao" đăng trên báo, loan tin trên đài truyền thanh, truyền hình. Và người người náo nức rủ nhau ra khỏi thành phố để có dịp nhìn một hiện tượng lạ của thiên nhiên. Nhưng cũng chỉ sôi nổi được một, hai ngày, rồi cũng chìm vào quên lãng. Vì còn biết bao nhiêu là tin tức nóng bỏng khác nữa. Chả bù cho cái thưở còn ở quê nhà, chỉ một tin tức cỏn con cũng được mọi người nhắc nhở đến cả tháng sau đó. Phải chăng cuộc sống hối hả nơi đây khiến con người cũng tập được cái tính mau quên lãng chăng?
Mùa Hè, những hàng cây khoe bày những phiến lá xanh biếc, xanh lục thẫm, đang thi nhau đâm chồi, nảy lộc, vươn mãi lên thật cao, xòe những tán lá rộng ra để che nắng cho người đời. Ấy thế mà, dường như người đời lại không thấu hiểu được tấm lòng của cây. Bởi thế, cứ mỗi khi thấy những cành cây xòe rộng ra khỏi phạm vi cho phép, thì chính phủ lại phải tốn tiền để mướn người đi tỉa bớt những nhánh cây mọc vô ý thức này. Chẳng biết cây có đau xót vì sự bạc bẽo của loài người hay không. Chỉ thấy những giọt nhựa trong vắt, trông từa tựa như những giọt lệ, chảy ra. Rồi đọng lại trên những vết sẹo nham nhở trên thân cây vì bị loài người tàn phá. Mùa Thu, cây thi nhau thay đổi sắc lá, tạo thành một bức tranh đẹp tuyệt vời khiến những họa sĩ phải ngẩn ngơ thán phục tài sáng tạo màu sắc tài tình của thiên nhiên. Khiến những nhiếp ảnh gia có cơ hội săn lùng để "nắm, bắt" những góc độ tuyệt vời của những hàng cây nhuốm đầy cảnh sắc mùa Thu. Và cũng tạo ra nguồn thi hứng vô tận cho những thi nhân. Thế nhưng, với những bà nội trợ thời nay, những bà nội trợ không những chỉ quán xuyến công việc trong gian bếp, trong căn nhà nhỏ bé, mà còn đảm đương thêm những trách nhiệm khác ở ngoài công sở, thì những hàng cây mùa thu tuy đẹp nhưng... đáng sợ. Những phiến lá đủ màu tuy rực rỡ nhưng lại đáng ghét vô cùng. Ðừng trách móc vội nhé. Hãy thử hình dung mà xem: sau một ngày làm việc mệt mỏi từ sáng sớm đến chiều tối để trở về nhà với những phiến lá vàng rơi rụng bừa bãi trên thảm cỏ xanh, trên lối vào nhà. Rồi khi vào bên trong, lại phải chứng kiến thêm sự bộn bề thiếu ngăn nắp do đám con nhỏ bày bừa... Chao ơi, có lẽ sự bận rộn, mỏi mệt đã khiến tâm hồn nghệ sĩ của những bà nội trợ ngày càng bị lu mờ, kém cỏi theo thời gian, phải chăng?? Mùa Ðông, những hàng cây khô trụi lá lại làm tăng thêm vẻ hoang lạnh, quạnh hiu của mùa Ðông. Những mảng tuyết trắng đọng trên cành cây khô đen, tạo nên một vẻ đẹp khô, lạnh như những nét chấm phá mạnh bạo của thiên nhiên trong khung cảnh mùa Ðông giá. Có những lần ta đã phải thốt lên lời kinh ngạc vì vẻ đẹp khó tả khi những tia nắng mặt trời hiếm hoi của mùa Ðông phản chiếu lấp lánh trên những cành cây khô bao phủ một lớp băng giá trong suốt. Khi đó, những tia mặt trời đã dệt nên muôn vàn màu sắc rực rỡ khiến những hàng cây khô cằn bỗng trở nên đẹp tuyệt vời, rực rỡ như những cây pha lê trong câu chuyện cổ tích. Rồi khi nắng ấm mùa Xuân vừa thoảng qua, những hàng cây ủ rũ, khô héo chợt bừng tỉnh giấc, thi nhau đơm những nụ hoa rực rỡ, đâm những chồi non xanh mướt. Chỉ sau vài hôm, tưởng như một phép mầu lạ kỳ, thành phố bỗng như vừa thay cảnh sắc, với những tàng cây đầy búp non xanh mát mắt, với những đàn chim sẻ ríu rít chuyền trên cành, với những chú chim có sắc lông thật đẹp nhưng không biết tên đang thi nhau cất cao giọng hót...
Cũng như cây cối, những bãi cỏ vàng úa mùa Ðông cũng chợt bừng sức sống sau vài cơn gió ấm mùa Xuân thổi qua. Những cọng cỏ mỏng manh, nhỏ nhắn đã chen nhau mà mọc khắp nơi nơi tạo thành những tấm thảm xanh mượt mấ Ðầu mùa Xuân, trời vẫn còn se lạnh. Những trận gió Ðông dường như còn luyến tiếc, nên thỉnh thoảng vẫn trở về, xen kẽ với gió mùa Xuân. Ðôi khi những đóa hoa nở quá sớm đã bị héo tàn vì cơn gió lạnh bất ngờ. Nhưng những bãi cỏ xanh mướt thì vẫn cứ xanh biếc, vẫn cứ mơn mởn, mặc cho gió lạnh có muốn ghé lại bao lâu. Khi đó, hãy thử đi dạo trong những công viên của thành phố để nhìn những thảm cỏ xanh mượt chạy dài mãi đến tận chân trời. Hãy thử đi chân trần lên tấm thảm xanh dễ thương đó, để cảm thấy những ngọn cỏ ve vuốt gót chân ta, để cảm giác được hơi mát lạnh của giọt sương đêm còn vương đọng trên những nhánh cỏ...
Hãy thử tạm gác bỏ những nỗi bận rộn, lo âu của cuộc sống, dù chỉ tạm gác bỏ một vài giờ, để thả hồn hòa nhập với những cảnh sắc tuyệt vời mà tinh khiết, giản dị của thế giới tự nhiên đang bao quanh ta. Hãy thử một lần đi bạn nhé...
Tứ Diễm
August 9, 1994 - Viết trong khi 'nhàn cư vi bất thiện'