vhnt, số 276
4 March 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................PCL
T h ơ :
1 - Băng hoại ..................................................Hàn Trân
2 - Bài trong nỗi cùng ...........................Nguyễn Ðăng Tuấn
3 - Thơ Cao Văn .................................................Cao Văn
4 - Mơ ơi! ..............................................Trần Thái Vân
5 - Không có anh ...............................................Thu Hồng
6 - Bài tạ lỗi cùng người ...............................Ðức Lưu
7 - Thơ Hồ Ẩn Văn ......................................Hồ Ẩn Văn
8 - Xuân mơ ................................................Christina Tran
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Ai đem con sáo sang sông ..................Nguyễn Ðức Bạt Ngàn
10- Giới thiệu sách mới .............................................
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Mẫu hình vẽ đồ sứ ..............................Nicholson Baker (Phạm Chi Lan dịch)
12 - Ngày Valentine .......................................Trần Hoài Thư
Bạn đọc thân mến,
Mừng mùa đông sắp hết, mừng tiết xuân đang thấp thoáng, Nhóm vhnt chúc bạn đọc có những ngày nắng ấm chan hòa với niềm vui khai vị của mùa xuân sẽ tới.
Số này gửi bạn đọc sáng tác thơ văn của những người cộng tác thường xuyên, và giới thiệu một người cộng tác mới, Hàn Trân, lần đầu tiên đóng góp cho vhnt. Mong đón nhận những sáng tác mới của bạn gửi cho vhnt. Và xin mời bạn thưởng thức vhnt số này.
Chúc một ngày thật vui và ấm áp.
thân ái,
PCL/vhnt
Băng Hoại
Sông bến đổ hồn ai buồn tê tái
Tôi đứng nhìn và lẳng lặng bâng khuâng
Con nước kia hờ hững đến vô ngần
Trôi bến mộng những tháng ngày hoang dại
Em vẫn nhớ từng vũng sầu buông xoáy
Ngõ thần tiên đã hụt hẫng hoang tàn
Cố tìm về khơi sóng nội bình an
Cơn mưa lũ nghẹn ngào trong đáy mắt
Ta là kẻ bên đường ai biết mặt
Nên làm loài giun dế thở tơ vương
Ngọn cheo leo xin đón gió vô thường
Trong buốt giá linh hồn tôi băng hoại
Tôi cứ tưởng mình chỉ là nhân chứng
Nhưng sao hồn bỗng đội đá đau thương
Mang lao đao về uỷ mị đêm trường
Cho lịm chết ngôn từ trong ánh mắt
Hàn Trân
Bài trong nỗi cùng
Thả mây trời
bay xuống bên vai em
tôi sẽ nhẹ nhàng
thăm hỏi
cõi đời đâu phải chỉ phong ba
còn dăm phút yêu đời
thăm người phương đó
trôi dăm sợi hong vàng óng ánh
chiều phương này vẫn sáng trong anh
khi mùa mở vòng vũ trụ
tết bay vờn của trí tâm anh
này hoa mai nở thắm trời
thả xuống người
dăm tình ngây ngất
nụ cười em rạng rỡ trong anh
nguyễn đăng tuấn
Về Ngang U.O.P. Nhớ Hồng
Chiều buông sợi nắng vỡ tan
Mắt em xanh, rõ mấy hàng cây xa
Con chim nội trú nhớ nhà
Nhớ em mộng mị rất là vô ưu
Nỗi Buồn Thất Nghiệp
Chạy quanh bóng tối cuộc đời
Sầu riêng nghe lạ đất trời bao dung
Nến hồng thắp rõ trời đông
Vói theo kỷ niệm tấc lòng sơn khê
Khi Về Houston
Diện lên nỗi nhớ trở về
Cỏ cây đồng phục nặng nề gió xô
Hôn em phải nhịp mơ hồ
Bàn tay vô ngại bất ngờ riêng tư
Ðoạn Buồn
Trời quen đất lạ mấy lần
Trận mưa sót lại tần ngần trăm năm
Ví dù tóc xỏa ăn năn
Sầu tôi ngủ giữa hương trầm ngực quen
Cao Văn
Mơ Ơi!
Em đi vào sa mạc
Nơi bão cát mịt mờ bay
Và đêm có một vầng trăng say
Bóng em say ngả
Ðen ngòm rất lạ
Cô đơn như gió hạ lạc loài
Em đi vào vùng bão tố
Sóng gào, nước dâng
Trăng giỡn với thủy thần
Mặt em ướt đẫm
Trong bóng đêm bàn tay sờ sẫm
Năm ngón buồn tê lạnh từ khi
Em đi về thời hoang dã
Ngôn ngữ kỳ quặc, ngoằn ngoèo trên đá
Nét đơn sơ, nét lầm lì
Như thời gian, năm, tháng
Bóng chim nào quá vãng
Sợi lông rơi trở thành chứng tích ngàn năm
Kỷ niệm nào xa xăm
Con đây dòng thạch nhũ
Em đi vào hoang mộng
Môi chúm, má nhăn
Ú ơ những lời không rõ
Tĩnh mạch rối ren, vội vàng hơi thở
Ðầm đìa trên mặt mồ hôi
Nửa khuya giật mình tỉnh giấc
Rã rời, rã rời
Tóc tai rối bời -
Hai sợi cô đơn rơi rụng
Một ngắn, một dài
Sợi tóc mai...
Những nơi em đi qua
Như vòng cung định mệnh
Của cuộc đời thất thiệt
Nơi tình yêu là cơn bão mịt mùng
Và tiếng cười là sự não nùng
Màu trắng gợn
Những nơi em đi qua
Tôi tìm không ra dấu vết
Cơn mưa đời xoi hết
Những chứng tích loài người....
Ðêm ôm lòng một kẻ ra khơi
Ðêm nghe buồn tràn lên chơi vơi
Em ơi...
trần thái vân
Không Có Anh
(viết cho những ngày không có nhau)
Không có anh, vào chiều thu gió nhẹ
Ai cầm tay, nâng từng ngón phiêu du
Khi lá rơi, vàng ối buổi sương mù
Ai đón lá, ngỡ tình thơ vưà đến
Không có anh, ai sẽ nhìn em trìu mến
Khi dỗi hờn, ai vội vã xin thua
Sợ giọt buồn, là ướt đẫm mi thưa
Ai chiụ lỗi, cho môi cười muôn thưở
Không có anh, khi đông về bỡ ngỡ
Hàng cây buồn, cúi mặt đứng bơ vơ
Hoa trắng bay, rừng núi phủ sương mờ
Bàn tay lạnh, ai đan từng hơi ấm?
Không có anh, thơì gian trôi thật chậm
Chỉ đủ vừa quên , rồi lại nhớ thêm
Ngày chưa qua, đêm đã đến êm đềm
Trăng vắng bóng, trời không vì sao sáng
Thu-Hồng
1/23/97
BÀI TẠ LỖI CÙNG NGƯỜI
Ngày xưa, em suối tóc mơ
Thả hồn ấm lạnh một bờ thiên thai
Tình đơm gấu áo vai gầy
Mềm môi một giấc mộng dài phù du,
Ta, tên lãng tử hoang lưu
Ruổi rong một kiếp lãng du bên trời,
Ðời ta trắng quá em ơi
Trắng tay, trắng cả một trời ái ân.
Ngày em gọi tiếng tình nhân,
Bụi đường lấm áo phong trần, ta đi.
Quên em giữa buổi dậy thì
Gỡ vòng tay vướng lòng tê tái lòng
Em về hiu hắt bên song
Ta đi ngậm chí tang bồng nổi trôi
Trách ta cúi mặt phụ người
Thương em hoang phế nữa đời gấm nhung.
Ngày ta mỏi gối, chồn chân
Ngày em vò võ gối chăn theo chồng
Mười năm vó ngựa bềnh bồng,
Mười năm lạnh kiếp má hồng em mang.
Ðôi lòng, một mảnh sầu giăng,
Tần ngần lỗi một nhịp đàn ngẩn ngơ
Ta chừ trống vắng, ơ thờ
Em chừ tình cũng thờ ơ bên chồng.
Ngày xưa, em mái tóc bồng
Sao ta chẳng hỏi còn không, những ngày
Tình đơm gấu áo vai gầy
Mềm môi ngọt giấc mộng dài xa xưa.
Trối trăn nay cũng bằng thừa
Một bài tạ lỗi những chua chát lời
Ðời ta trắng quá em ơi,
Trắng tay, trắng cả một trời của nhau ...
Ðức Lưu
chỗ ngồi
thưa em, cái gọi là quên
là khi nỗi nhớ đã quen thuộc rồi
thưa em, hạnh phúc trong đời
là bên trong chỗ tôi ngồi có em
tiếng câm
mai này, dù có bể dâu
cũng đành im tiếng gọi nhau, suốt đời
hiện hữu
có tôi trong cuộc sống này
có em trong cuộc-sống-nầy-của-tôi
nghĩa là vốn chẳng có tôi
mà em có nghĩa là tôi có mình
bất ngờ
thưa em, trong trái tim tôi
nhiều khi hạnh phúc làm tôi bất ngờ
thưa em, hạnh phúc bây giờ
là trong cuộc sống tình cờ có em
làm ngơ
đôi khi nhìn nhau bất chợt
đau lòng lắm, phải không em?
phấn son trên môi hời hợt
nho nụ cười xót xa thêm
nhìn nhau, ánh mắt không quen
mà nghe lòng vẫn đau. mềm. vết thương.
Hồ Ẩn Văn
Xuân Mơ
nắng xuân ghi chép câu thề
pháo hồng nhuộm lối ta về với nhau
đêm... xin chớ vội qua mau
sáng... đôi bướm lượn vườn cau sau nhà
áo the guốc mộc thật thà
hát ca dao mẹ chan hoà xuân vui
2/4/97
tn
Ai Ðem Con Sáo Sang Sông
chờ chi biển rộng sông dài
còn chăng ghẻ lạnh, gươm mài điêu linh
- nđbn -
Ngồi soi mình vào khoảng trời xanh. Ðâu đó vẫn là ánh sáng lồng theo đám mây che tự một thuở quê nhà. Vẫn triền miên một giọng hát. Vẫn đắm chìm theo câu hò mẹ ru. Con sáo sang sông nghìn xưa trăn trở trong tâm thức. Ðã có một thời là hoài vọng, mong mỏi, nổi trôi. Và những vết thương, những công phá, những qui hàng trốn chạy. Lịch sử nhầy nhụa. Sống như tưởng mình đã chết, đã hóa sinh, dù phải nương tựa vào đất trời nhưng tự linh hồn vẫn hàm dưỡng những bất phục, thờ ơ.
Bầy sáo đã sang sông. Ðã xổ lồng bay xa hàng loạt hàng đàn. Tiếng hò buốt nghẹn ngày nào bây giờ đã là tiếng thét điêu linh. Tự nhịp trống đồng nghìn xưa nuôi dưỡng linh hồn Lạc Việt. Chim Lạc ngạo nghễ chỉ bay về phương Nam nay đã phải thối thân thành những bóng sáo tội nghiệp. Phải bay. Bay không chỉ một đường phương Nam độc nhất. Chúng ta bây giờ cũng như thế. Hay đã như thế tự thời mới mở mắt. Mở mắt trong sự thiếu vắng nhân dũng của lịch sử, của tiền nhân.
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Xoay chuyển thế đất trời vào vận nước. Sự tựu thành hạnh phúc cho quê hương, no ấm cho dân tộc vẫn là hoài bão cho bất cứ ai. Nhưng nhân dũng phải là một. Lưỡi kiếm nhập một. Lịch sử chúng ta bây giờ đầy ắp lòng nhân. Nhưng nhân ái chưa đủ là thứ vũ khí sắc bén diệt thù. Mất dũng tính, lịch sử chỉ mở ra một con đường: con đường thất bại. Bài học lịch sử mãi còn đó và chói ngời thương đau. Kiếm thiêng đã được tôi luyện bằng máu, nhưng nô lệ vẫn đã đi qua hút cả một cuộc đời người. Cái chết đã đầy rẽ chia thì ích gì khi sống lại đa mang những tín điều trá ngụy. Lịch sử đã ý thức được hết mọi điều, nhưng như sức mạnh của đầu ngọn thác ào ào cuốn phăng; đến khi chúng ta định được ý niệm, thời cơ thì mọi sự đã an nhiên đi về biển, trầm sâu dưới đáy.
Ðặng Dung. Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh... và chúng ta lẻ loi bây giỡ. Giàu lòng hào khí nhưng thật nghèo trong chiến lược kết đoàn sức mạnh dân tộc. Bao độ vẫn còn là trăng soi. Tuổi già đi từ ngọn tóc trắng báo hiệu trên đầu cho đến tận cùng tan hoang trong tâm thức. Chí hướng của kẻ lên đường buổi đầu bao giờ cũng đầy ắp khí trượng phu. Nhưng sinh mệnh tổ quốc, lòng người bao giờ cũng sẵn bày những thế cờ oan nghiệt.
Mỗi đêm vẫn còn là bóng trăng lu với gió lao xao xô đuổi trên từng cao ốc, phân xé những tàng mây. Mây vô định nhưng còn vững chãi hơn phận con người mất nước. Ngàn xưa cũng chỉ là sự định hướng sẽ chẳng bao giờ - kẻ bại trận trước quân thù chắc chưa hèn yếu bằng kẻ bại trận của chính mình. Bại xuội, chua cay. Sống và chết. Sống không chu toàn được việc đời và chết thì trong trái tim hận cừu cao dày hơn núi.
Vẫn là triệu con chim sáo bị xua đuổi ra khỏi lồng, và lời tiễn đưa đầy ắp tử sinh. Trò chơi không thêu dệt bằng tâm hướng vô vi như thuở Không Lộ mỉm cười chứng kiến trời không quạnh buốt. Trò chơi đã hóa hiện bằng máu. Sự cuồng bạo làm nao lòng nhân loại, nhưng đó cũng là điều khiến cho nhân loại sợ hãi hèn yếu quay lưng.
Mùa hạ miền đông bắc địa cầu vẫn có những cơn nóng sốt quá quắt của ngày nhiệt đới. Sự đối cực vẫn là hình ảnh cồn cát xanh chạy theo triền dừa lấp loáng ký ức cùng men say khói ám của những ngày mưa quê xa; tiếp nối như dặm dài lưu vong mãi trôi không ngừng như sông con, như suối nguồn kéo theo vạn ý tình ra khơi, mất đắm. Tiếng chim lạ hoan hỉ. Lời nguyện cầu của tử tội ra pháp trường. Tất cả đều vỡ vụn trong tâm thức quê hương. Tâm thức trắng vỗ lên triệu tiếng còi man rợ cuồng điên say máu cũng những kẻ đang khua môi chiến thắng, hòa bình.
Hãy vui đi em thơ, quê nhà và ngọn cờ bất nghĩa.
Vẫn còn hoài một phương này lửa dậy nuối vọng về một phương kia đắm chìm trong cuộc sống mặc áo giấy. Như lũ cô hồn tứ cố vô thân đêm đêm phất phơ đầu bãi cuối bờ. Chiến thắng không che lấp được tủi nhục. Vinh quang không nguôi được bão tố. Sông dài bể rộng núi cao tượng hình xứ sở hắt hiu. Tình mẹ, tấm lòng nhân dũng nuôi dưỡng kháng chiến. Sự uy liệt của đất nước, hào hùng của tiền nhân. Tất cả kết tụ thành di sản hư hoại khổng lồ cho cháu con thừa hưởng.
Ðêm gió, quê người đầy sương. Giữa thềm đá lạnh vẫn còn đôi mắt sơn khê vọng nhìn bốn phương tám hướng. Trên nền đất quê xưa chắc vẫn còn những cánh chuồn vỗ về đưa hơi cho đám lau sậy hoài hủy nhớ thương. Chắc vẫn còn thì thầm từng âm sóng vỗ mãi theo tình tự đã mất quân bình trong cuộc sống. Những bầy gió xưa còn vồ vập suốt chiều dài tổ quốc? Trường Sơn cao đối đầu cùng biển Ðông sâu, hay sông Ðỏ phương Bắc đã chìm đi tham vọng nuốt chửng sông Rồng phương Nam. Sự tương tranh lâu ngày đã trở thành thói quen bất trị. Việt nam. Mỏm đá nhọn đâm buốt vòm trời lịch sử loài người. Việt nam. Chòm đại hùng bay lạc ra ngoài trục định hướng. Bay lạc hay bay ngược giữa triệu tấm lòng hóa thạch vô tri.
Lịch sử vẫn lên đường, ra đi ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên như thảm họa. Ngẫu nhiên như dân tộc đang no bằng tung hô và ngợi ca. Chút khoai sắn tình nghĩa đã vắng bóng. Sự bình dị đã chết trước tiến trình cách mạng hóa lịch sử của người cộng sản. Giai cấp nào là giai cấp công nhân. Là liên minh công nông. Là chuyên chính, là vô sản tuyệt đối. Nước mắt chảy xuống. Giai cấp này tựu thành và sản sinh giai cấp kia. Duy nhất. Thống trị và bị trị. Một thế hệ máu bị lừa bịp. Cách mạng. Dân tộc. Tổ quốc. Thù nhà nợ nước. Bác và Ðảng. Cừu hận. Oan khiên.
Ngày xưa tìm nhau trong tri kỷ, trong men rượu, trong tâm đắc, hay tìm nhau trong đường đi. Ðường đi dù vạn dặm nhưng vẫn nằm trong đất nước. Mây trắng nơi nào cũng là mây quê hương. Sự tang bồng dễ thương trong ý nghĩ. Sáng bún bò Quảng Trị. Chiều mì quảng Tam Kỳ, hay ngày mai hủ tiếu Bạc Liêu. Sự lăn tròn trên tấm thảm quê hương thuở nào, bây giờ mở ra dặm đường tuyệt tận. Vời trông nơi đâu? Suốt một vòng địa cầu còn quá nhồ Nhỏ trong chí luân lạc nhưng thật mênh mông cho cuộc quay về.
Thưa Mẹ, đất nước đang vô cùng tang thương, con biết.
Nguyễn Ðức Bạt Ngàn
Giới Thiệu Sách Báo Mới tháng 3, 1997
Tháng Giêng tháng Bảy Buồn Như Nhau, tập truyện đầu tay của Hoàng Nga, Làng Văn xuất bản, sách dày 206 trang, giá 12 Mỹ kim. Sách gồm 14 truyện ngắn đặc sắc của một cây bút nữ từng được bạn đọc Văn Học yêu mến. Từ khi Trần Vũ cho in "Ngôi nhà sau lưng văn miếu" năm 1990, đây là tập truyện đầu tay vào loại xuất sắc của văn chương hải ngoại. Truyện nào của Hoàng Nga cũng hay, tác giả có tài kể những chuyện bình thường trong đời sống gia đình với một giọng văn thông minh, tinh nghịch, lôi cuốn người đọc một cách tự nhiên, nhưng đọc xong truyện Hoàng Nga lúc nào cũng có một dư vị buồn man mác. Ngòi bút của Hoàng Nga linh hoạt nhất trong những chuyện lấy nhân vật là đàn bà, và qua đời sống những nhân vật nữ này, hiển hiện cả một thời đại. Một tác phẩm cần đọc.
Sách hiện có bán tại các hiệu sách qua nhà phát hành Làng Văn, Canada.
Cò Đùm, tập truyện ngắn của Doãn Quốc Sỹ, Văn Nghệ xuất bản, Thay lời Tựa của Hoàng Khởi Phong, bìa của Khánh Trường, sách dày 140 trang, giá 8 Mỹ kim. Hoàng Khởi Phong cho rằng tác giả không cố ý làm văn chương, chỉ muốn dùng văn chương ghi lại những chiêm nghiệm của ông về thăng trầm của lịch sử, như cách lấy ngón tay chỉ mặt trăng, và yêu cầu bạn đọc nên chú ý tới mặt trăng, ngón tay chỉ là phương tiện. Nhận định của người viết tựa có lẽ không chính xác cho nội dung toàn tập truyện. Nhất là truyện Cò Ðùm. Ðây là một truyện tiêu biểu cho nhân cách tinh thần và văn phong Doãn Quốc Sỹ, giống như "Chiếc chiếu hoa cạp điều". Muốn có sách xin liên lạc nhà xuất bản Văn Nghệ.
Ðường Mây Trên Đất Hoa, của Hoà thượng Hư Vân, Thích Hằng Ðạt và Nguyên Phong phóng tác, Văn Nghệ xuất bản, giá 13 Mỹ kim.
Nhà xuất bản giới thiệu như sau về tác giả: "Ngài đã chứng kiến năm triều đại Mãn Thanh, cuộc chiến tranh Nha phiến, chiến tranh Trung Nhật, hoà ước Nam kinh, cách mạng Tân Hợi, cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc và Nghĩa Hoà Ðoàn. Ngài đã trải qua những nội ưu, ngoại hạn của thời thành lập Trung Hoa Dân Quốc, Nam Bắc chiến tranh, Ngũ Tứ vận động. Ngài đã chia sẻ những khổ đau kinh hoàng của dân chúng trong thế chiến thứ nhất, thứ hai, cũng như những cuộc tranh chấp giữa các phe phái quân phiệt, các đảng phái như Quốc Dân đảng, Cộng sản đảng... Bất chấp mọi khó khăn trở ngại và tình hình chính trị xáo trộn, ngài vẫn ung dung hoằng pháp, xây dựng hàng chục cảnh chùa, trùng tu hằng trăm tháp tổ, dạy dỗ hàng nghìn tăng chúng, truyền giới cho hàng trăm nghìn người..."
Tác phẩm tu học của một đại sư Trung Hoa từng trải qua nhiều thăng trầm như chúng ta, nên rất cần thiết cho các Phật
Nửa Đời Còn Lại, tác phẩm cuối cùng của nhà văn, nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, bìa của Khánh Trường, Văn Nghệ xuất bản, sách in đẹp, dày 440 trang, giá 18 Mỹ kim. Giống như lối viết của "Hơn nửa đời hư", tác phẩm này cũng có cáchkể chuyện cà kê mộc mạc, dí dỏm và sâu sắc, là văn phong đặc biệt miền nam của Vương Hồng Sển. Liên lạc nhà xuất bản Văn Nghệ để có đủ bộ tác phẩm của Vương Hồng Sển xuất bản tại hải ngoại.
Chỉ Là Hư Không, tác phẩm thứ tư được xuất bản của nhà văn Trần Sỹ Lâm (sau Hoài niệm 1989, Nỗi buồn sau lưng 1992, Cùng một màu áo 1995), Ðồng Văn xuất bản, sách dày 210 trang, giá 12 Mỹ kim. Tác phẩm là một tuyển tập 13 truyện ngắn mà theo nhận xét của nhà văn Bùi Bích Hà trong Lời Bạt, "nhân vật chính của 13 truyện ngắn ấy đều là những người phụ nữ Huế, dưới nhiều nhân dáng khác nhau nhưng cùng có chung một thân phận, gánh chịu nhiều bất hạnh trong chiến tranh, trong tình phụ, trong các định chế xã hội khắc nghiệt thời đại họ". Về văn phong, Bùi Bích Hà so sánh tác giả như "một người làm vườn, yêu thiên nhiên và vẻ đẹp, đi nhặt những đóa hoa tàn rụng quanh gốc cây, đặt bông hoa lên tay nhìn ngắm ngậm ngùi". Sách do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành.
Việt Nam, ngày tôi trở về, tiểu luận của Lê thị Thấm Vân, Anh Thư xuất bản, sách dày 110 trang, in đẹp, giá 8 Mỹ kim. Ðây là những ghi nhận của Lê Thị Thấm Vân trong chuyến trở về thăm quê hương, và vì là một cây bút trẻ trưởng thành ở Hoa Kỳ, nhờ không mang nặng những ám ảnh của quá khứ nên ghi nhận của Thấm Vân có những nét độc đáo riêng. Muốn mua sách xin liên lạc Trần Mạnh.
Về Bắc, tập truyện ngắn của Lập Phương, Mõ xuất bản, sách dày 274 trang, giá 10 Mỹ kim. Lập Phương là một tác giả trẻ sinh trưởng và lớn lên ở Miền Bắc, gia đình thuộc thành phần chịu nhiều ngược đãi của chế độ nên đã vượt biên và định cư ở Hoa Kỳ. Kinh nghiệm sống đó giúp Lập Phương viết ra tác phẩm đầu tay này. Trần Kiêm Ðoàn nhận xét như sau về truyện Lập Phương trong lời Tựa: "Từ những mảnh vụn của đời sống, đến nnhững hình ảnh đặc trưng, nhất là nghệ thuật mô tả và nghệ thuật sử dụng từ, Lập Phương đã đưa người đọc về lại Miền Bắc, một miền Bắc với trùng trùng cảm xúc ai oán của nhiều thế hệ, khi trên từng thể xác và giữa mỗi tâm hồn mang đầy thương tích chiến tranh". Sách hiện có bày bán tại các hiệu sách.
Mặt trời, lá và em, thi tập của Thái Thụy Vy, Sông Phố xuất bản, tranh bìa Ðinh Cường, phụ bản tranh Thái Tuấn, Phạm Cơ, Minh Hoàng, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyên Khai, bạt của Phạm Lệ Thúy, thơ in mực tím trên nền giấy vân thật đẹp. Tác phẩm thứ tư được xuất bản của Thái Thụy Vy ( sau Nụ hôn loài lan tím dại 1992, Vũ điệu loài lan tím hoang 1994, Hoa tím niềm riêng 1995.). Rõ ràng thi sĩ là người say mê màu tím, nên thơ trong tập là thơ tình thơ mộng, như màu tím học trò.
Sau Cuộc Đổi Đời, tập truyện của Dương Tiến Ðình, tác giả tự xuất bản, tựa của nhà văn Nguyễn Tấn Hưng, Bạt của nhà văn Ðạt Thạnh, sách dày 224 trang. Tập truyện gồm 12 truyện ngắn viết về những cảnh cười ra nước mắt của Miền Nam sau 1975, viết bằng một lối văn đơn giản dễ hiểu, không cầu kỳ rắc rối, nhưng đọc rất hấp hẫn. Nội dung truyện có ý hướng chống cộng được viết khéo kể khéo nên không nặng nề chất tuyên truyền. Sách tặng không đề giá bán và địa chỉ liên lạc để mua.
source: Văn Học magazine, số 131, tháng 3/1997
Mẫu Hình Vẽ Ðồ Sứ
Nguyên cả một mùa hè năm đó Lucy về Connecticut thăm bà dì ở có một mình. Bà quả phụ Charles Parch là dì ruột của mẹ cô. Dì có cái thú thích chơi đồ sứ và có kiến thức rất rộng về những bộ sưu tập đồ cổ làm bằng men sứ. Dì làm chủ vài bộ tách chén quí hiếm của hãng Bow & Chelsea chuyên sản xuất đồ men sứ danh tiếng. Trong bộ sưu tập của dì, có một cái lọ sứ vẽ hình hoa mận nở trắng ngát, một cái hũ đựng kem với hình vẽ diễn tả câu chuyện ngụ ngôn về con nhái và con bò (con nhái muốn to bằng con bò), một cái đĩa sứ có hình con sâu róm đang hóa thân thành bướm rực rỡ từ phía sau cái bóng sâu, nổi bật trên mầu nền xanh nhẹ tráng nước men bóng dầy để phủ lên những vệt nứt rạn từ trong. Thật ra, những món đồ sứ của dì không hẳn quí như giá trị nguyên thủy của nó vì có những cái đã bị vỡ và được hàn gắn lại. Lâu dần, những vết vỡ rạn chỉ còn để lại những vệt nâu mờ nhạt nhìn kỹ mới thấy.
Có một cái tô lớn kiểu Kakiemon trưng trên nóc tủ ở đầu giường trong phòng dành cho khách mà Lucy đang ở. Cái tô sứ vẽ hình hai con chim nhỏ xíu mập tròn, một cái cây có tàn lá rậm toả nhiều nhánh mầu xanh, và một con rùa tía. Những thợ vẽ chén tách đồ sứ cho đó là giống chim đa-đa nhưng thật ra chỉ là mấy con chim cút tầm thường. Mỗi lần đi ngang qua, cô nhìn kỹ cái tô kiểng để tìm xem có dấu vết gì đặc biệt mà dì Parch cả quyết đó là sản phẩm hiếm quí của hãng Bow. Dì giữ nó từ nhiều năm nay, dì bảo là đã nghĩ và "cảm nhận" về nó từ rất lâu, mỗi lần chạm nó là dì nói: Ðúng thật là "có con trâu ở trong này". Xưởng làm đồ men sứ Bow là xưởng đầu tiên dùng xương bò trộn với bột men sứ để làm tách chén đồ kiểng quí, dì Parch giải thích như vậy.
"Trời, sao tội quá vậy ?", có lần Lucy đánh bạo góp ý, "sao lại giết con bò để lấy xương làm đồ sứ kiểng. Cái tô trong phòng con tuy có đẹp thật nhưng mà ... sao thấy tội quá đi dì ơi!"
"Người ta dùng xương con bò đã chết rồi con à. Lấy xương con bò để chế đồ sứ, khỏi uổng phí những lóng xương chẳng có lợi ích gì. Người ta bỏ xương nấu rục để thành keo tủy sền sệt, rồi lại bỏ vào lò nung cho đến khi xương thành mầu đen, rồi nung nữa cho đến khi thành bột mầu trắng. Khi xương thành chất mầu đen, người ta dùng làm mực để vẽ, còn khi xương thành bột trắng mịn thì dùng để trộn với men sứ, bột thạch cao, bột đá, đất sét và nước... để làm tách chén kiểu đó con."
"À ra vậy." Lucy gật đầu đáp.
Sáng hôm sau lúc vừa ngủ dậy, cái đầu tiên đập vào mắt cô là hộp mầu sơn mà dì Parch cho làm quà sinh nhật lúc mười tuổi của cô. Mở nắp, những mầu căn bản còn y nguyên, mịn màng chưa bao giờ chạm tới. Nhìn lên nóc tủ, lại thấy cái tô kiểng trưng ở đấy, tự dưng Lucy cảm thấy muốn vẽ ghê gớm.
Có điều bây giờ còn quá sớm, vào phòng tắm lấy nước pha mầu sẽ làm động đánh thức cả nhà, vì cái vòi nước dẫn nước khi mở ra là kêu ầm ầm như muốn rung chuyển cả nhà. Chỉ có mỗi cách là dùng nước miếng để trộn mầu sơn. Cô dùng cọ sơn vẽ lên cái tô kiểu, phải mất đến 45 phút mới xong mấy hình vể Cô kéo ghế để đứng nhìn cho rõ. Có lúc tưởng nước bọt muốn khô, nhưng chỉ cần nghỉ để thở một lúc, lại có nước bọt để vẽ tiếp. Cái mảng bị nứt đổi mầu vàng khè, cô tô đè lên sau cùng, để có đủ chất lỏng nước miếng trộn với mầu để tô lên một lớp dầy.
Ở dưới nhà có tiếng động từ nhà bếp, cô mang cái tô kiểu vừa vẽ xong đem xuống khoe với dì.
"Ồ, mấy cái mầu này đẹp lắm!" Dì Parch khen rối rít. "Con có thể thành thợ vẽ đồ sứ được. Ngồi cạnh thằng Thomas Freye hay Jefferyes Hammett ÓNeale ở xưởng Bow thì con có thua gì họ. Mấy tên này cả ngày chỉ có biết vẽ chim cò hoa hoè, cành miến... là cùng thôi. Làm thợ vẽ đồ sứ thì vui và có nghệ thuật tính, nhưng đừng nên làm nghề tráng men sứ vì có vài người chết vì bị chất chì thấm độc, nguy hiểm lắm đó con."
"Con làm thợ vẽ đồ sứ được hở dì ? Dì nói thật không?"
"Sao không, dì thấy con có khiếu rõ ràng." Dì Parch cả quyết.
oOo
Ở trường, Lucy chọn ngành nhân chủng học, nhưng cô cũng có lấy vài lớp dạy làm đồ gốm tráng men căn bản, cô biết cách trộn hồ, pha bột và đúc khuôn. Thành quả khá nhất từ mấy lớp học nhem nhuốc luộm thuộm này là một cái lọ cổ cao trông giống như cái lọ trong bộ sứ hiệu Chelsea của dì Parch. Cô vẽ hình hai con chuồn chuồn sặc sỡ đậu trên một cánh hoa Tử-Kinh, rồi rụt rè ngại ngùng mãi mới đem cho dì coi.
Dì ngắm nghía nhận xét một lúc, rồi nói, "Ừ, mấy cái gân trong cánh chuồn trông tinh xảo lắm," rồi dì tư lự nói tiếp, "nhưng mà sao dì vẫn không cảm thấy có con bò ở trong này con à..."
Lúc này mấy hãng bán dụng cụ nặn đồ sứ kiểu Anh cổ truyền chắc gian lận gì chứ chẳng sai. Chắc họ dùng thứ bột nào khác, chứ làm gì có xương trâu xương bò thật trong này. Cô lầm thầm trong miệng, bắt đầu mất tin tưởng với mấy hãng buôn sản xuất dụng cụ.
Lần đó cô đặt mua một bịch lớn 20 cân loại bột xương từ một hãng sản xuất ở tận Chicago, hãng Midway Gelatin & Supply gì gì đô Thứ bột xương tán nhuyễn có mầu ngà ngà như bột kem, không được mịn màng như quảng cáo cho lắm. Dùng máy trộn trôn xoáy, cô nhào bột xương cùng với chất keo và dung dịch feldspar, trong một cái thau bằng nhựa, trộn nhào kỹ cho đến khi dẻo quẹo để vặn bình lọ. Sau khi đem vào lò nung, lấy ra chỉ có hai cái còn nguyên vẹn dưới sức nung nóng của lò nướng, hai cái bình hình bát giác may mắn sống sót. Cô vẽ hình một cành nho và những bông hoa sơn-trà trên từng cạnh của bình. Dì Parch xem xong khen cô khéo tay và có con mắt mỹ thuật, lọ và hình vẽ rất đẹp và hợp kiểu nhau.
"Nhưng mà sao dì vẫn không cảm thấy có con bò ở trong này con ạ" Dì lại nhận xét một cách tự tin.
Chắc dì nói đúng. Có gì thiếu xót trong cái đám bột men nặn mà cô đặt mua, chắc gì họ dùng bột xương trâu thật, biết đâu họ thế bằng một thứ bột hóa học hay cái gì đô Ừ mà không biết mấy con bò đực già lụ khụ còn có tên gì," cô nghịch ngợm nghĩ thầm.
"Ở bên Kernfield có cái cậu này có nuôi một con bò già khú." Một hôm dì Parch tiết lộ.
Cái người nuôi con bò lụ khụ sắp chết tên là Gabe, sau khi nói chuyện với dì Parch, bảo là sẽ vui vẻ để cô ghé thăm nông trại và con bò yêu quí của anh ta sẵn trên đường cô ra phi trường trở lại Hartford. Gabe là một người đàn ông to lớn vạm vỡ, có nét trầm trầm và nói năng có vẻ chân thật, cười lớn tiếng khi có điều gì vui. Anh ta dẫn Lucy đi vòng vòng qua mấy dẫy nhà chứa, chỉ cho xem mấy con vật anh nuôi.
"Ðây là con Anatole đấy ạ", cô hỏi.
"Nó đấy cô ạ. Nó già quá nên gần điếc đặc tới nơi. ANATOLE!" Anh dùng khúc củi to đập rầm rầm vào cột nhà, "Chào cô Lucy đi ch" Lucy vuốt đầu con bò nằm lừ đừ trong xô "Nó ốm quá, trông thấy cả xương sườn ..."
"Dạ, tại thương chăm sóc nó nên nó còn sống tới giờ, không biết lúc nào thì nó đi." Gabe lại tiếp, như hiểu rõ mục đích chuyến thăm của cô, "Cái xương chậu này có thể làm được dăm bộ tách chén đồ sứ đó cô ấ" Nói xong, nhận ra như mình vừa lỡ lời, anh hạ thấp giọng, "nó đi rồi tôi sẽ nhớ nó lắm."
Trước khi ra về, anh chàng còn nhiệt tình ghi cho Lucy địa chỉ của vài người trong vùng cũng có bò già sắp chết như anh, còn chỉ cho cô cách thương lượng để mua lại với giá rẻ những cái xác con bò chỉ còn xương là dùng được. Cô nói cám ơn. Lúc chia tay, họ nhìn nhau, có điều gì như là quyến luyến.
oOo
Vài hôm sau, Gabe gọi Lucy báo tin con Anatole càng ngày càng tệ. "Chắc nó sắp đi thật rồi cô à, bác sĩ thú y bảo nó khó cầm cự, chắc không qua khỏi tuần này. Hôm nọ tôi có nói với vợ sắp cưới của tôi về ý định của cô muốn mua xương bò làm đồ men sứ, Gina có vẻ thích thú lắm. Chúng tôi định đặt một bộ đồ men sứ của hiệu Tiffany làm kỷ vật kỷ niệm ngày cưới, nhưng biết cô đang muốn làm đồ sứ bằng xương thiệt, sẵn đây chúng tôi đặt cô làm cho một bộ bằng chính xương của con Anatole."
Hơi một chút khựng lại, khi Lucy nghe anh chàng nói về cô vợ sắp cưới nào đó bây giờ mới biết. Cô im lặng một giây.
"Cô vẽ hộ cành hoa passion như kiểu lọ cổ truyền nhé, thêm những cánh chuồn và bọ hung chung quanh." Anh chàng lảm nhảm.
"Ðể tôi nghĩ xem sẽ vẽ kiểu gì cho đẹp," Lucy đáp một cách thờ ơ.
Tuần sau, cô gọi lại Gabe, anh báo là con Anatole đã đi rồi. "Tôi ôm nó trong lòng lúc nó lâm chung, hệt như mọi khi tôi vẫn ôm nó vỗ về những lúc nó bệnh. Bây giờ thì nó thuộc về cô, nếu cô vẫn còn muốn nó ..." Nói xong, Gabe lặng im, như đang cố trấn tĩnh cảm xúc của mình.
"Anh chị chắc là buồn lắm ..." Tự dưng cô không muốn nhắc đến tên cô vợ sắp cưới của anh ta.
"À, Gina cũng ra đi mất rồi," anh vội nói tiếp, "Cô ấy không chết, nhưng đi theo một người đàn ông mới gặp ở hội chợ nông nghiệp vừa rồi."
"Vậy thì ..."
"Bây giờ mọi sự đã thay đổi. Tôi đã giao xác con Anatole cho một nhóm người này sẽ lọc xương rửa sạch, rồi sẽ cắt thành đoạn nhỏ để gửi cho cô." Anh bỗng có vẻ quan trọng nhấn mạnh hơn, "mà cô vẫn còn muốn bộ xương con Anatole thật chứ ?"
"Vẫn còn mà anh, tôi nghĩ sẽ dùng xương nó làm một cái gì đặc biệt." Cô vội đáp.
"Vậy thì mời cô về đây, chúng ta có thể đi ăn tối, nói chuyện về dự định của cô sẽ làm gì với tàn dư của con Anatole của tôi."
oOo
Xương của Anatole được nung với sức nóng tới hơn 3000 độ, rồi tán nhuyễn thành bột thật mịn. Lucy dùng một kỹ thuật tinh xảo để vẽ những cành măng tây và hình một con công xoè cánh rộng trên những chiếc đĩa sứ làm bằng xương của Anatole. Lần đầu tiên, cô cảm thấy thích thú và mê mẩn dành trọn tâm hồn để trình bày tác phẩm, vì cô biết chắc đây là đồ sứ kiểu làm bằng xương bò thật. Hơn nữa, một phần cũng bởi cô muốn tỏ lộ cho anh chàng Gabe cù lần biết một chút tài nghệ của mình, đã có công biến những khúc xương của con bò thân yêu của anh thành những món đồ trưng bày đẹp để Biến tro bụi thành bảo vật tinh thần, biết đâu anh chàng sẽ đỡ buồn hơn trong lúc tang gia bối rối này, cô thầm nghĩ. Cái mẫu hình vẽ bộ đồ sứ này, cô họa lại từ một mẫu trong tập sách biên khảo của các nhà làm đồ sứ chuyên nghiệp. Bộ đĩa đem trưng ở một hội chợ triễn lãm nghệ thuật đồ sứ ở Albuquerque, chiếm giải danh dự đồ sứ cổ truyền.
Nhưng dù có thắng giải ở đâu, thì dì Parch vẫn là giám khảo thứ thiệt. Dì cầm nó trên tay ngắm kỹ, xoa nhẹ lên cái hình cành măng, dì nhắm mắt như đang cảm nhận điều gì. Rồi dì lại bảo Lucy đem cái tô nứt cô tô vẽ lại trên phòng mang xuống cho dì so sánh, cầm trong tay, suy nghĩ, rồi lại cầm cái bằng xương Anatole lên mân mê.
"Ðúng rồi con à, dì "cảm thấy có nó" trong này thật. Chúc mừng cho con."
Nghe dì nói xong, mừng quá Lucy rót cho hai bà cháu hai tách nước táo hâm nóng để ăn mừng thành công, lòng thấy sung sướng. Xong Lucy mở phần đồ ăn trưa cô mang theo cho hai bà cháu sửa soạn bữa ăn cho hai người. Dì Parch không thích ăn olive lắm, chẳng bù cho cô bao giờ cũng mê olive, cũng thủ sẵn một ít trái ngâm chua để ăn kèm với những bữa ăn. Bên cạnh tiệm bán olive mà cô hay ghé, có một cái tiệm lúc xưa bán đồ chơi trẻ con, nhưng từ khi thành phố phát triển và trường đại học cộng đồng mở rộng, tiệm đổi thành tiệm bán đồ chơi cho người lớn. Những món đồ kỳ lạ như nến làm hình bàn tay gân guốc, hoặc là thứ sơn đỏ giả làm máu phun vào quần áo như cái mốt thời trang quái đản mới phát sinh. Ông chủ tiệm bán olive bắt đầu làm thân với vợ chồng bán "đồ chơi người lớn", từ khi tiệm của họ thu hút được nhiều khách. Có thể là để cạnh tranh hay là vì tinh thần hòa đồng, mà ông Olive nghĩ ra cách để hấp dẫn khách của ông bằng cách bỏ những tròng mắt làm bằng bi thủy tinh trộn chung trong những lọ olive trông thật buồn cười. Lúc ông ta múc olive cho Lucy, chắc mải nhìn ngắm chung quanh nên cô không để ý ông ta nhón tay nhặt mấy tròng mắt ra, không may còn sót một viên trong gói.
Lúc đang ăn, dì Parch ngưng lại nhả trong miệng ra cái gì cưng cứng không giống trái olive ngâm dấm, hòn bi tròn, tròng mắt đang nhìn dì trừng trừng bất giác làm dì giật mình thả rơi. Một tiếng khô cạch kêu lên, cái tô kiểu hiệu Bow quí của dì vỡ ra làm đôi.
"Chết! thôi vỡ mất cái tô rồi," cô kêu lên.
Dì Parch tần ngần nhìn mảnh vỡ, rồi bật đứng dậy, "Dì phải đi nằm bây giờ..."
Khoảng năm giờ chiều, Lucy vào phòng đánh thức dì, dì trông thay đổi hẳn, như một người khác. Mái tóc dài trắng luôn bới gọn, bây giờ xõa tung trên gối.
"Ðể con lấy keo hàn cái tô vỡ lại dì ạ" Cô nói như để an ủi bà.
"Nó bể và đã dán đi dán lại nhiều lần rồi," dì nói nhỏ như là thở dài, giọng nhỏ lại, "thôi con đem nghiền nát nó ra xem có dùng lại được không, giống như xưởng Bow vẫn thường làm vậy. Con cứ làm theo kiểu mẫu của con, chỉ cần nhớ giữ lấy truyền thống nghệ thuật này." Dì lặng im một lúc, rồi vỗ nhẹ vào cánh tay của cô.
"Con mắt nó đã nhìn thấy bà rồi. Bà vừa nghĩ ra một điều mới cho di chúc. Con nghe đây."
Lucy cúi sát xuống mặt bà.
"Mẫu hình con chim cút". Bà thều thào nói nhỏ.
oOo
"Gabe ạ, dì Parch mất rồi." Lucy thổn thức trong phone.
"Ồ ..." giọng anh ngạc nhiên.
"Dì tặng nhà thương một số tiền khá lớn, họ mới báo là sắp gửi cho tôi vài lóng xương dài nhất của dì giữ đông lạnh."
"Trời ơi ...", anh kêu lên, không kềm chế được giọng mình.
"Tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Dì muốn được tưởng niệm. Mặc ai muốn nghĩ gì thì nghĩ về điều tôi sẽ làm."
"Nhưng mà ..." Gabe ngập ngừng.
"Tôi muốn nhờ anh một chuyện này. Mấy người quen lúc trước tán xương con Anatole, anh có thể liên lạc với họ dùm tôi được không ?"
"Tôi cũng không biết nữa. Anatole chỉ là một con bò già. Nhưng mà để tôi gọi cho họ xem sao ..."
oOo
Hai năm sau, trong một buổi tiệc cưới trang hoàng ấm cúng, giữa những chùm hoa tươi trên bàn giữa phòng, có một cái tô lớn bằng men sứ kiểu Kokiemon đựng nước trái cây đặt ở chính giữa. Khi nước trái cây múc gần cạn hết, trong lòng tô nổi rõ hình vẽ hai con chim cút mập tròn, một tàn cây nhánh rộng mầu xanh, và một con rùa tía.
"Nhân dịp này tôi đặc biệt muốn cám ơn bà dì Parch của tôi đã đưa tôi và anh Gabe đến với nhau," Lucy nói giọng đầy cảm xúc, "Dì chắc chắn sẽ vui lắm nếu có mặt lúc này. Xin mời mọi người nâng ly để tưởng niệm lòng phúc hậu và sự tha thiết của dì dành cho nghệ thuật đồ men sứ cổ truyền. Xin tưởng niệm dì." Mọi người cùng nâng ly uống cạn.
Một tiếng rạn vỡ nhỏ phát ra, từ một miếng nước đá, trong cái tô men sứ đựng nước trái cây ở trên bàn.
Phạm Chi Lan dịch
nguyên tác "China Pattern", Nicholson Baker,
(The New Yorker, Feb. 3, 1997 issue)
Ngày Valentine
Hôm nay là ngày Valentine. Ngày của tình yêu. Anh cũng bắt chước mọi người dâng trái tim đỏ này cho em, thay vì chiếc nhẫn kim cương mà em cứ ao ước khi đứng ngoài cửa tiệm hột xoàn. Ðối với anh, quà Valentine của anh còn quí giá gấp trăm lần hột kim cương mà cựu nữ tài tử Elizabeth Taylor đeo nữa. Bởi kim cương, hột xoàn, dù có nặng bao nhiêu, cũng không đủ chứa tình yêu mà a nh dành cho em. Bởi lấy những thứ kim loại quí này để làm kim bản vị mà đo lường thì tình nghĩa trăm năm sẽ trở thành mây thành khói trong một sớm một chiều, nói gì đến bạc đầu bạc tóc hay hoa râm như hai đứa mình.
Ừ, qua xứ này, khi không lại đẻ ra bao nhiêu chuyện. Nào là Father day, Mother Day, nào là Haloween, nào là Lễ Tạ Ơn, nào là Secretary Day, hay Valentine Daỵ..Hết lễ này đến lễ khác. Suốt ngày, trên TV cứ nhảy đi nhảy lại big sale, đại hạ giá nhân dịp... Suốt ngày, những quảng cáo cứ như ma lực làm em chắc lưỡi hoài: "Ông ơi, hột xoàn sale đến 40%, quá rẻ đi anh ơi" "Ông ơi, cái vòng nạm bạc kia đẹp quá anh ơi. Ðeo nó vào làm người ta phải trở nên sang quí phái ..." "Chừng nào anh mua cho em cái nhẫn để chưng ngoài Fortune Off?" Em hỏi làm chi những câu hỏi quá khó trả lời. Ừ phải chi anh có một phép lạ, để biến đổi con tim này thành kim cương hay hồng ngọc như trong câu chuyện Trương Chi ngày xưa, để em có thể nhìn tận mắt sức nặng, tầm cỡ của nó so với cái vật mà em ao ước... Nhưng cái phép lạ này không bao giờ có, và dù anh có nói bao nhiêu, giải thích bao nhiêu về ý nghĩa của tình yêu, về cái hạnh phúc, thì em vẫn cứ ao ước. Thôi thì chỉ còn cách bám vào mấy cái credit card: "Thì em cứ tha hồ dùng Master, Visa, American Express..." Anh biết em sẽ chùn lòng. Em sẽ ăn không ngon ngủ không yên về nhữn g tờ bill gởi về cuối tháng. Hôm nay là ngày Valentine. Khi không cái chữ Anh, chữ Mỹ này lại trở nên thân thiết với em đến thế. Nhập gia tùy tục mấ Thôi thì bắt chước như người bản xứ, buổi sáng sớm, anh chúc mừng em.
Happy valentine. Em hỏi ngay anh: "Anh thưởng em cái gì?". Anh muốn chứng tỏ anh là một tay yêu vợ số một, hơn bất cứ một ai trên cõi trần gian này. "Em muốn anh tặng em cái gì nào?" "Tùy anh." Cám ơn em vì em không nhắc đến cái hột xoàn lấp lánh, để anh phải đề nghị xài cái thẻ Visa. Anh nhìn ra ngoài sân nhấ Hôm nay trời quá đẹp. Giữa mùa đông lạnh căm căm của vùng Ðông Bắc, tự dưng có một ngày mà nhiệt độ lên tới 50 độ, thật quả vô cùng đặc biệt. Chắc Ông Trời cũng muốn san xẽ tình yêu xuống khắp thế gian, để ban cho một ngày xuân nắng ấm. Anh đề nghị: "Hay là chúng mình cùng đi chơi xa. Về Virginia. Và tìm một nhà hàng. Hôm nay anh sẽ đãi em tất cả? Muốn gì được nấy" Em mừng, ríu ra ríu rít. "Mình phải đi sớm. Ừa, anh nhớ ghé nhà băng rút ra ít tiền xài dọc đường. Ừa, vai anh đỡ nhức chưa. Ðể em lái tiếp anh..."
"Hôm nay là ngày của em mà."
Anh mở cửa mời em vào xe như một chàng trai hào hoa quá mực. Anh cũng tự nhủ đừng nóng nảy khi em nói điều gì chạm tự ái của anh. Còn nữa. Anh quên rồi. Anh vào lại nhà, tìm băng nhạc Nat King Cole có bài Smoke Gets In Your Eyes. Anh biết bài này em rất thích. Dù em không bao giờ chịu ngồi để anh phà khói thuốc mà nghĩ đến trong đôi mắt em là một vùng mây khói. Bài kỷ niệm của hai đứa mình phải không em. Ít ra để anh còn nhớ đến đôi mắt đẹp ngày xưa. Và chắc e m cũng nhớ lại một thời anh theo em cũng vì đôi mắt đó (dù bây giờ anh mới biết ngày ấy em đã tô than quá đậm, đánh lông mi quá kỹ, lại giả vờ chớp lia lịa để bắt hồn xác anh). Cho anh tưởng tượn g thêm một tí. Hai đứa sẽ nhắc lại chuyện xưa suốt cả lộ trình. Thời anh bắt đầu quen em, trồng cây si trước nhà em, dầm mưa đội nắng theo em mà không dám ngõ lời. Thời chiến tranh luân lạc, hai đứa xa cách trùng trùng. Anh sẽ kêu em hát lại những bản nhạc kỷ niệm cũ, như bản gì mà anh quên tên: "Em xin làm ánh trăng thanh, soi trên dòng anh lênh đênh", rồi bàn tay anh sẽ nắm lấy bàn tay em, mà xiết mạnh để biểu lộ tình nghĩa của anh sau bao năm làm chồng... Giữa lúc anh đang lục lại chồng băng cassette thì tiếng chuông điện thoại lại reng. Anh bắt ống nghe. Bên kia đầu dây là giọng nói của lão Mike, xếp anh.
"Tánh, mày vào hãng gấp. Cái system bị crashed rồi."
Trần Hoài Thư