vhnt, số 293
1 May 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................BBT
T h ơ:
1 - Tháng Tư và Hội An.......................................Song Vinh
2 - Tình Cờ Gặp Gỡ Vào Một ngày Tháng Tư Ðầu Xuân................. Nguyễn Quốc Vinh
3 - Ca Dao Tự Thán........................................... Hàn Trân
4 - Hoài Vọng................................................... Ðan Hà
5 - Bài Thơ Cho Quê Mẹ......................................Tường Vi
6 - Tình Si.............................................. Phạm Văn Tiên
7 - Ðôi Tim Khổ Ðau.............................. Nguyễn Văn Tuấn
8 - Kinh Chiều............................................. Hoàng Vi Kha
9 - Ghét Người Dưng................................ Cát Bụi Tình Xa
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh Việt Nam - Phần II.............. Nguyễn Vy Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Người Trở Lại................................ Trần Hoài Thư
12 - Hậu Cứ....................................... Hồ Ðình Nghiêm
Hành trình của sáng tác thường khởi đầu từ một ý niệm phát sinh, từ một cảm xúc thăng trầm. Sự thăng tiến của ngòi bút đòi hỏi thời gian và thử thách - tác giả thử thách chính mình, nội dung thử thách với nội tâm, kỷ thuật thử thách giữa khuông khổ và khai phá. Và khi tác phẩm được gửi ra, thận phận nó thử thách với sự đón nhận của người đọc.
Những sáng tác bạn đọc trong số VHNT mang nhiều sắc thái riêng biệt. Nhưng dù kỷ thuật điêu luyện hay đơn sơ, dù nội dung xúc tích hay giản dị, chúng điều mang chung một điểm giống nhau. Là chừng như con tim của tác giả đã được chuyên chở trong mỗi sáng tác. Cho dù phản ảnh đó là mường tượng phảng phất hay hằn nét đậm sâu.
Vả chăng đây là một trong những nét đẹp chân thuần nhất của nghệ thuật, khi nhưng gì đón nhận (và ghi nhận)ở mỗi tác phẩm bởi người thưởng thức không chỉ nằm trong kích thước đo lường của hay dỡ, của sâu cạn, của ngắn dài.
Mà, có khi, là sự gửi gấm trực tiếp của một con-tim-rung-động-nên-sáng-tạo đến cùng một con-tim-rung-động-khi-thưởng thức. Giản di. Và trọn vẹn.
thân ái,
npn/vhnt
Tháng Tư và Hội An
Tháng Tư
Hồn tôi xao động
Ngỡ ngàng nhìn tờ lịch
Ủa
Cuối tháng Tư
Cuối tháng Tư thật rồi
Trở lại Hội An
Thành phố thân yêu ơi,
Thành phố nghèo xác xơ
Dân trơ xương cày ruộng
cơm thổi bếp khói mù
Hai mươi hai năm dừng lại
Thành phố của tôi,
Thành phố cũ già nua
Dường dồng lên dồng xuống
Bụi mờ mịt bát cơm
Cảm ơn người đã đến
Ngủ đi Hội An
Nụ hôn này cho em
Song Vinh
Tình Cờ Gặp Gỡ Vào Một Ngày Tháng Tư Ðầu Xuân
Vào một buổi chiều thứ sáu
tháng tư đầu xuân,
ta gặp gỡ nhau
theo sắp đặt
của tình cờ....
Sau thoáng ngỡ ngàng
nơi ngưỡng cửa giảng đường,
chỉ thấy lô nhô
những khuôn mặt
lạ nhiều hơn quen,
bất chợt...
một ánh mắt ý nhị
tìm đến đón chào
trong nét mặt thích thú
như đã nhận biết được
điều hiển nhiên....
Tôi khẽ giật mình,
tủm tỉm cười không đáp
mà nguýt dài,
rồi lặng lẽ
ngồi xuống bên anh
như tình cờ đã sắp đặt.
Hai ta sóng bước
chuyện trò bâng quơ
trong khuôn viên trường đại học.
Trời Cambridge
tháng tư đầu xuân
mà sao còn se sắt gió heo may....
Khẽ rùng mình...
dúi sâu tay vào túi áo khoác,
tôi vội lắc đầu cười mỉm....
Chợt nghe bàn tay ai
vuốt nhẹ lên vai
rồi quàng vào cổ tôi
chiếc khăn dạ
còn ấm hương da thịt
rởn rợn ngây ngất
quyện với thoáng cologne
phảng phất chếnh choáng
làm tôi hơi bỡ ngỡ
và đâm ra ngượng
trước cử chỉ thân mật
quá đỗi bất ngờ đó....
Ðã toan từ chối
nhưng không dám,
vả lại cũng chẳng muốn
coi nhẹ tình ý sâu xa của anh,
tôi chỉ biết bẽn lẽn
ngước mắt cảm ơn,
rồi vội quay mặt đi
Nhâm nhi chút bánh ngọt
bên ly cà phê tỏa khói
ta mãi chuyện trò miên man
và tâm tình cà kê
như hai thằng "đượi"
đang say cơn khua môi múa mỏ
đến nước chẳng nhớ nghe gì
nói gì mà mãi không dứt!
"Cái cậu này ăn nói có duyên đấy,
nghe có mà hay chửa!"
"Ối giời ơi,
thân em còn chính chuyên
bóng chiếc thế này,
đào đâu ra chồng
mà anh bảo hay chửa
thì chửa với ai đây!"
Chỉ loáng thoáng
những câu đưa đẩy
thật vớ vẩn vu vơ....
thế mà, gớm chưa,
cái giọng bắc kỳ nhà ai kia có khác,
điệu rụng điệu rơi ra,
nghe mà mê mệt hãi hùng thật!
Tôi lại học được của anh
chữ "hãi hùng" rất hóm hỉnh...
Bụng bảo dạ: "Cái anh này
sao mà lém lỉnh lẳng lơ thế,
rất đỗi dí dỏm duyên dáng,
pha chút nhảm nhí nhăng nhít,
tuy rằng có lúc
lại hết sức chân chỉ chững chạc.
Chịu thôi!"
Tôi tủm tỉm cười
đưa mắt lơ đãng
ngắm khuôn mặt xương xương
mà năm tháng đã đúc kết nên
nét rắn rỏi trong thoáng ngơ ngác bơ phờ....
Ánh đèn lung linh
khơi tâm tình miên man,
thời gian như ngừng trôi,
lặng chìm vào chơi vơi,
làm gì nói gì,
đi đâu về đâu,
nhớ chi quên chi,
giá như có một đêm nay,
đêm vĩnh hằng,
đêm của hư vô,
đêm không bao giờ bắt đầu
để rồi mãi mãi sẽ là
đêm không bao giờ tận....
Thế rồi cũng đến lúc
chia tay lúc canh khuya,
sương đêm nhẹ rơi,
tôi trả lại anh chiếc khăn.
Anh bảo: "Thôi,
giữ lấy đi để làm kỷ niệm."
Nghe mà đỏ mặt,
tôi mỉm cười rồi chợt nghĩ:
"Kỷ niệm gì cơ,
nghe sao mà trịnh trọng thế!"
Chẳng phải tôi đã có
cả một khung trời kỷ niệm
của một buổi chiều thứ sáu
gặp gỡ với ai kia
theo hẹn ước...
nhưng lại rất tình cờ....
Tôi sóng vai tiễn anh
ra tận đầu đường chờ xe bus.
Mặt đối mặt,
chưa kịp một đôi lời tạ từ bâng quơ,
còn mãi chuyện trò huyên thuyên
thì xe chợt trờ tới.
Tay ngượng nghịu trao tay
trong một khắc thinh lặng,
khẽ rùng mình, nhắm mắt,
tôi rướn người tới trước,
ôm choàng lấy
rồi gục đầu
xiết chặt đôi vai run run,
theo hơi thở nhát ngừng
thì thào những gì bên tai anh
mà như lơ đãng
chỉ tự nói với mình:
"A bientôt..."
trước khi cúi mặt bước nhanh,
rồi hớt hải quay đầu
ngước mắt nhìn trộm
bóng ai đang bước lên xe....
Tôi trân trối ngóng dõi theo
dáng xe xa khuất dần.
Ðồng hồ tòa thị sảnh
chợt ngân nga điểm nửa đêm,
lay tôi tỉnh mộng,
hé môi mỉm cười đón một ngày mới
mà nghe lòng mình
còn gợn thoáng lâng lâng
man mác: "Hôm nay
đã là một ngày thứ bảy
tháng tư đầu xuân...."
Nguyễn Quốc Vinh
(4/96 - 4/97)
Ca Dao Tự Thán
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay
Trời này chuổi nhớ đong đầy
Ðất kia đói rách , tù đày , lệ rơi
Hai mươi năm lẽ vời vời
Tóc loe hoe bạc tàn đời xa quê
Ở đây từng buổi đi về
Tuyết căm căm lạnh, hè lê lết đời
Vai oằn mấy nẽo chơi vơi
Nuôi đàn con nhỏ, nuôi người phương xa
Chắt chiu một mái, một nhà
Một quê hương nhỏ không qua khỏi rào
Những ngày tết, giỗ lao đao
Cuối tuần dời lại cho vào một hôm
Tổ tiên xin hiểu sức còm
Mã mồ bỏ lại ôm đồm được chi
Sơn thanh thủy tú gia qui
Ðể loài mán mọi da bì tã tơi
Nhiều đêm lã chã lệ rơi
Nhục người mất nước rã rời đêm thâu
Ngô Phù Sai kiếp hồi đầu
Lộng cờ ra gió ngựa câu dựng nhà
Hỡi người khóc hận can qua
Chí trai không lẽ bạc ra với đời?
Lỡ làm thân cải bên trời
Bao giờ quên được xa vời rau răm
Bờ kia cỏ úa lệ dầm
Gia thường đạo lý mồm câm ngọng rồi
Xương còm mòn mỏi nấm xôi
Tù đày một lũ trên đồi quê hương
Khóc cha , khóc mẹ đêm trường
Khóc anh , khóc chị nấm xương giăng đầy
Khóc người chiến sĩ rũ thây
Khóc Linh Sơn tự một ngày tận tâm
Khóc em bé nhỏ sinh lầm
Khóc từ thế hệ hờn căm lọc lừa
Khóc con đói sữa dột mưa
Khóc đoàn thiếu phụ bị đưa phá rừng
Khóc già tóc bạc còng lưng
Khóc nghìn văn hiến bỗng dưng cháy nhà
Khóc bàn tay máu không cha
Khóc thương cho lủ gọi cha một thằng
Khóc vành khăn trắng quốc tang
Khóc mồ vong quốc cỏ giăng cuộc đời
Khóc Hòn Vọng phụ chơi vơi
Khóc người chờ mãi con người hùng anh
Ngựa thiên lý , kiếm tung hoành
Chí Nhân , Cường Bạo. Ngày lành về chưa
Bên này cây cải muối dưa
Bên kia rau ủng lưa thưa đợi quà
Hàn Trân
Hoài Vọng
Chiều thấy dáng em về sau cánh cửa
Phía sân trường mây phủ xuống vuông hiên
Vườn cỏ biếc nằm im sau liếp nứa
Ngoảnh lại nhìn ngày tháng thật hồn nhiên
Nay xứ lạ trên đường cây in bóng
Chợt nhớ về hình ảnh một nàng thơ
Qua khung cửa vắng tanh sương tuyết đọng
Bóng thời gian đuổi bắt biết sao chờ
Nên anh phải lên đường tìm yêu dấu
Ủ cho tình ấm giữa giấc đông phai
Dù cách trở trùng dương đi chẳng thấu
Nhưng cố đi cho hết đoạn đường dài
Vì mơ ước trong lòng anh từ trước
Một mai nào được thấy lại Quê hương
Nên anh vẫn miệt mài theo từng bước
Mơ đường về hoa nở đóa yêu thương
Trời đông lạnh cố tìm hơi thở ấm
Khói lam hiền bên bếp lửa chiều xưa
Sưởi ấm tuổi đời những ngày ly xứ
Ðã xanh xao từ dạo gió sang mùa
Xin cầu nguyện cho đời nhiều may mắn
Và cho anh chân cứng với đá mềm
Nơi quê nhà qua những ngày khốn khó
Ðể muôn người tìm lại cảnh đoàn viên
Ðan Hà
Bài Thơ Cho Quê Mẹ
Chưa một lần được về thăm Hà Nội
Ðường hoàng lan mùi hoa sữa thơm bay
Băm sáu phố phường, nghe xa vời vợi
Hoa bằng lăng tim tím nở từng ngày
Dãy phố cũ năm xưa là nơi Mẹ
Ðã sinh ra và khôn lớn thành nhân
Tà áo ấy nơi phố phường hoa lệ
Có làm say chàng tuổi trẻ bao lần?...
Vì hạnh phúc vẫn vô cùng ngắn ngủi
Nên một ngày Mẹ hối hả vào Nam
Cùng sóng biển mang theo bao hờn tủi
Bởi Hà Thành là mãi mãi cách ngăn
Con ngậm sữa lớn khôn lên từ Mẹ
Tai quen nghe câu hò lúa miền Nam
Ðất phù sa sinh sôi bao thế hệ
Nhưng nào hay dòng lệ Mẹ âm thầm
Trưa, đâu đó tiếng đàn bầu khoan nhặt
Dòng sữa Nam từ Mẹ Bắc chảy ra
Con khôn lớn giữa miền Nam chân thật
Vẫn nghe câu quan họ Bắc chan hoà...
tường vi
Tình Si
Những
Chiều hồng mát nắng
Một mình bát phố
Trong công viên buồn
Trầm lặng suy tư
Về chuyện quá khứ
Tương lai xa gần
Nhọc nhằn kiếp sống
Dù rằng có lúc
Vật đổi sao dời
Lòng người khó biết
Trời còn đổi tiết
Duyên cứ bẽ bàng
Người còn sang ngang
Cuộc tình đã lỡ
Giây phút ơ hờ
Ðể giờ nuối tiếc
Ai biết đâu ngờ
Nếu
Tình đời đã thế
Còn gì nói nữa
Hai đứa đôi đường
Chuyện thường sẽ hết
Mà nào có biết
Duyên cũ vẫn còn
Kỷ niệm dĩ vãng
Một lần đã đến
Ðâu dễ phai mờ
Nhạt nhoà tâm tư
Dù là quá khứ
Nhưng nó ghi vào
Lịch sử muôn năm
Một lần đã trót
Muôn kiếp vẫn còn
Ðậm tình trong tim
Ta vẫn yêu người
Hỡi
Người tình yêu dấu
Dù rằng đã biết
Em đã qua cầu
Chẳng còn bên nhau
Thì người hãy nhớ
Ta vẫn yêu người
Trọn đời không phai
Tình mình vẫn mãi
Như lúc ban đầu
Nồng nàn yêu thương
Người thường có nhớ
Duyên cũ trong đời
Và rồi luyến tiếc
Tìm về chốn cũ
Hai đứa tâm tình
Chuyện mình trao nhau
Ta vẫn chờ em
Phạm Văn Tiên
Ðôi Tim Khổ Ðau
cho "Người Tình Trăm Năm"
Gặp Nhau
Hai mươi năm xa cách
Hai quả tim mõi mòn
Em đây mà xa quá
Nhìn em, anh tần ngần...
Bên nhau
Chân đồi chiều nghiêng đổ
Ai gọi tuyết trắng rơi
Bước bên em anh cố
Nhìn em đến vô hồi
Ôi! chiều đông run rẩy
Giữa phố núi mộng mơ
Lòng anh và em đấy
Với hai nửa tim chờ...
Xa Nhau
Bài ca nào văng vẵng:
Với đôi tim ghép lại
Và đôi hồn phiêu lãng
Thành khổ đau nửa đời...
Nguyễn V Tuấn
Boulder 3/1997
Kinh Chiều
Chiều xuống
Sương phủ mờ mọi vật
Bên song thưa
Dáng mẹ ngồi lặng im
Chút ánh sáng,
hững hờ và yếu ớt
Soi bóng gầy
đổ xuống thềm lạnh câm!
Mẹ khóc
không chỉ bằng giọt lệ gầy qua khóe mắt
mà chính bằng cuộc tan biến thương đau
giọt lệ đỏ như những giọt máu nào
đang chảy ngược về nhiều năm trước
Mẹ mang thân một loài cổ thụ
che cỏ cây bé nhỏ trước cơn giông
lốc trốc da,
máu chảy,
vẫn gắng gồng
mang đời Mẹ đổi đời cho con trẻ
Trong dòng chảy phủ phàng và nghiệt ngã
Trò chiến tranh Mẹ chỉ là nạn nhân
Thương tâm thay định mệnh đã an phần
Dao đồ tể có màng chi sinh mạng
Bảy mươi năm
nổi trôi theo vận nước
Khổ đau nào Mẹ chẳng bước chân qua
có ai ngờ đời vẫn lắm xót xa
Bảy mươi tuổi sống đời không Tổ Quốc!
Nắng đất khách không làm vui được Mẹ
Mưa tha hương chỉ thêm xót trong lòng
Lũ cháu con, bọn chúng có biết không??
Mẹ cam phận chỉ vì thương con cháu
Có đôi khi giữa công viên ngơ ngáo
Chốn đông người Mẹ vẫn thật cô đơn
Tháng năm qua, tóc Mẹ trắng thêm hơn
Nhìn chiếc lá rơi xa cành...
Mẹ khóc!
Và ánh sáng cuối ngày đã tắt
Mẹ vẫn ngồi im lặng với câu kinh
Lòng Mẹ đau, khi niệm câu Thái Bình
Không dám hỏi bao giờ về cố quốc!
Bao nhiêu năm vẫn hoài câu kinh ấy
Phật trên trời gạt gẫm Mẹ bao năm
Mẹ gắng tin
dù biết có thể lầm
Kinh Mẹ đọc chiều nay sẽ khác
Dù ngày mai Mẹ đây đã thác
vẫn mong rằng đất nước lại trổ hoa
những lời kinh chợt bỗng thiết tha
Ngày đang tắt
nhưng lòng Người đang nhóm Nắng!
Hoàng Vi Kha
Ghét Người Dưng
Hết lớp rồi nghe lòng như vắng vẻ
Bước chân em vang vọng có một mình
Chiếc lá chiều nghiêng bay ào rớt khẽ
Chim trên cành chợt lúc lắc nhìn em
Chiều thứ sáu chao ơi chiều thứ sáu
Nắng hanh hanh buông toả có một màu
Cuối tuần này em nên làm gì nhỉ
Bài học thì thôi để tới tuần sau
Chiều hôm nay hắn không còn đứng đợi
Hàng cây im như chợt ghé mắt nhìn
Em lang thang đi về con đường cũ
Kế bên đường không còn thấy người dưng
Em hồi đó như nụ hồng chớm nở
Bướm ong bay thế giới có một mình
Bỗng gặp hắn em quên dần sách vở
Liếc với nhìn thôi kệ cứ làm thinh
Chiều hôm nay ôm bên mình sách vở
Cánh hoa tươi loe lói... có một mình
Gió hiu hiu bồn chồn lên tiếng gọi
Hỡi ông trời... em bỗng nhớ người dưng...
Cát Bụi Tình Xa
25 tháng 04/97
Lời Giới Thiệu:
VHNT hân hạnh trích đăng phần II của tập biên khảo "Nhìn lại Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh Việt Nam" của Nguyễn Vy Khanh. Bài khá dài nên sẽ được đăng liên tục kể từ số này. VHNT cũng dự định sẽ đăng các phần còn lại của tập biên khảo công phu này để bạn đọc có được một cái nhìn khái quát về những diễn biến văn học đã xảy ra trong suốt 40 năm qua tại quê hương cũng như trên xứ người.
VHNT chân thành cảm tạ tác giả Nguyễn Vy-Khanh đã chia sẻ cùng chúng ta cái nhìn của anh về một giai đoạn văn chương đầy dâu bể của đất nước và con người Việt Nam - BBT
oOo
Phần II. Văn học Chiến tranh sau 1975
30-4-1975 được coi là mốc lịch sử phân chia văn học Việt Nam Cộng sản cũng như Cộng hòa. Ðối với "đồng minh" Hoa Kỳ, chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng chiến tranh sẽ vẫn tiếp tục đày đọa con người, vẫn có những kẻ buông súng phải trả giá trong những địa ngục trần gian có mỹ từ "trại học tập", sẽ còn chia rẽ nhiều người Việt dù cùng chiến tuyến.
1. Văn-học cộng sản hậu chiến:
Ở trong nước, "chiến thắng" xong, một cuộc chiến khác bắt đầu và cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh nội bộ dù đất nước đã thống nhất. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và chính quyền qu ân quản xong sứ mạng và biến mất. Và người thua cuộc trở thành tù binh, "con tin" của một chiến tranh vừa tàn. Bắt đầu một văn học cách mạng "cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các tỉnh phía Nam" tiếp thừa cái mô hình đã áp dụng ở Bắc vĩ tuyến 17 với những hậu quả nghèo đói, ly tán nhưng vô tình đã đưa tới chiến thắng 1975. Văn học tiếp tục phục vụ chính trị và một chiều. Việt Nam Cộng Hòa bị xóa trong lịch sử kẻ thắng đã đành, văn học của kẻ chiến bại Việt Nam Cộng hòa cũng bị xóa bỏ bằng những nghị định và chiến dịch. Nghị định 20-8-1975 của Lưu Hữu Phước bộ trưởng Thông tin Văn hóa của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam cấm lưu hành sách báo xuất bản tại miền Nam trước đô Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ IV (1976) ghi rõ nhiệm vụ phải "quét sạch ả nh hưởng của tư tưởng và văn hóa thực dân mới" ở miền Nam (19). Tác giả và tác phẩm. Những trình diện và những lớp học tập. Tháng 3-1976, từng đoàn từng đoàn cán bộ càn quét tịch thu hết sách báo x uất bản dưới thời chế độ cũ, để đốt, "tẩy". Chiến dịch thanh toán "bọn văn nghệ sĩ phản động" khởi đầu sáng 3-4-1976, hai ngày sau vụ nổ công viên Con Rùa đường Duy Tân: công an lùng bắt hầu hết văn nghệ sĩ và trí thức. Một danh sách 122 tác giả miền Nam với toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Sau đó là tù đày, cải tạo, và khi nghi bóng gió lại tiếp tục càn quyét thu vén sách Việt Nam Cộng Hòa n hư vào tháng 3-1981. Nhà Nước ra hẳn một cuốn danh mục sách và tác giả cấm lưu hành. Những gì không xuất phát từ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản đều phải xóa bỏ, phủ định, vì "mảng" văn học này bị kết án là "đồi trụy hóa con người", "phục vụ xã hội tiêu thụ miền Nam" tức một thứ "văn học phục vụ chính trị phản động", phản cách mạng - những cái nhãn hiệu có thể làm tiêu mạng con người! Từ 1975 đến nay có gần 20 cuốn sách chửi bới phê bình văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa: văn học tay sai nhưng đáng sợ như những trái bom! Miền Nam được "giải phóng", đất nước đã "thống nhất". Ðối với các nhà văn của chế độ là sự hồ hởi chiến thắng, là đời sống mới hậu chiến. Chế Lan Viên ca Ngày Vĩ Ðại (1975), Xuân Diệu Bay Theo Ðường Dân Tộc Ðang Bay (1977), Giang Nam thỏa mãn Hạnh Phúc Từ Nay (1978). Một Hội nghị các nhà văn giải phóng miền Nam được tổ chức lần đầu tại Sài Gòn ngày 17 & 18-6-1975 muốn lèo lái văn học giai đ oạn mới đi theo chính sách tình hình mới: tiếp tục đẩy mạnh sáng tác về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến thắng vĩ đại của dân tộc, văn học từ nay phải phản ánh khí thế của công cuộc đ ại lao động toàn dân, và văn học phải góp phần xây dựng con người mới (20). Bùi Hiển viết Tâm Tưởng. Dương Thu Hương có Ban Mai Yên Ả, Những Bông Bần Ly kể chuyện cô gái già kháng chiến xơ xác vào Sài Gòn "giải phóng" đi ăn tình cờ gặp một cô điếm lúc đầu liền có mặc cảm, nhưng cấu trúc "minh họa" của câu chuyện xoay qua chi tiết cô điếm ăn cắp ổ bánh mì bị bắt, cô gái già cả đời hy sinh cho c ách mạng bèn thôi không tiếc tuổi xuân nữa. Nguyễn Minh Châu viết Miền Cháy. Vũ Tú Nam viết Sống Với Thời Gian Hai Chiều. Xuân Thiều có Gió Từ Miền Cát. Ma Văn Kháng viết Mùa Lá Rụng Trong Vườn về xã hội Hà Nội đầy biến đổi phức tạp sau chiến tranh. Lê Minh Khuê viết Căn Nhà Bên Kia Sông, hy sinh tình yêu cho xây dựng chủ nghĩa. Nguyễn Mạnh Tuấn viết Năm Hòa Bình Ðầu Tiên rồi Những Khoảng Cách C òn Lại nói về sự gặp gỡ thành gần gũi của người Bắc Nam. Anh Ðức viết Người Về Hưu kể chuyện một thượng tá trở về đời bình thường, sống tốt với mọi người như đạo đức cách mạng đòi ho ?i. Vv và vv. Và dĩ nhiên một khuynh hướng hồ hởi chiến thắng với những truyện kể thành tích thời "chống Mỹ ngụy", chuyện nằm vùng phá hoại chế độ miền Nam, khơi động đấu tranh sinh viên như Giữa Cơn Lốc của Ðào Chí Hiếu, Ghi Chép Về Tây Nguyên của Nguyễn Văn Bổng. Chuyện tuyên truyền như Chùm Me Chín của Huy Phương muốn chứng minh chỉ có "cách mạng" mới giải phóng con người, trong truyện là một cô gái điếm.
Khi Nhà Nước ra nghị quyết phá vỡ những gì còn lại của chế độ cũ, Năm Hòa Bình Ðầu Tiên của Nguyễn Mạnh Tuấn liền theo đó mà minh họa theo công thức cứ người của xã hội cũ là xấu, nhưng khi có g iải phóng tự nhiên họ đều "bừng tỉnh và quyết sống khác đi". Ranh Giới của Lê Lựu chuyện "cách mạng" móc nối với một cô gái để cô ta tố cáo một nhóm "ngụy quân, công chức chế độ cũ" tổ chức đi chui. Miền Cháy của Nguyễn Minh Châu là miền đất vừa xong giao tranh, tức mới giải phóng: "... Xưa nay đất dưới chân những người vừa thắng giặc có bao giờ nở sẵn đầy hoa? Mảnh đất vừa được gi ải phóng này như một lời thách đố, như một thứ chiến trường mới lập tức mở ra trên chính vùng chiến trường cũ... Bước ra khỏi một cuộc chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và ng hị lực như bước vào một cuộc chiến tranh" (tr. 119-120). Tác giả sẽ thất vọng không lâu sau đó! Ðảo Yêu Thương của Hồng Dương và Ðất Mới Vỡ là nhũng chuyện tuyên truyền về nông dân thời "ngụy" và nh ững vùng kinh tế mới. Nhưng có khi quá cường điệu kể những chuyện không hề có hoặc dựng đứng ngôn từ "ngụy" mà có lẽ có người viết chưa bao giờ gặp hoặc nghe nói chuyện như nhận xét của Vương Trí Nhàn, một nhà phê bình văn học xuất phát từ chính chế độ cộng sản! (21)
Những cây viết miền Nam nằm vùng dĩ nhiên nay vẫn tung hoành, bí mật như Lý Văn Sâm (Bến Xuân, 1982; Những Bức Chân Dung, 1983), công khai như Trang Thế Hy (Con Cá Không Biệt Tăm, Mưa... - chuyện hai cơn mưa cách nhau 15 năm, những người "chân chính cỡ nhỏ" gặp gỡ người yêu vô bưng đi là "cách mạng"), như Sơn Nam (Bến Nghé Xưa, Chuyện Tình Một Người Thường Dân, Ngôi Nhà Mặt Tiền vv), Vũ Hạnh (Chất Ngọc), Ngụy Ngữ Riêng Ðông Trình (Rừng Dậy Men Mùa), Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Vàng Sao, Trần Duy Phiên và Tường Linh thì "tịnh khẩu" hoặc gác bút cùng trường hợp với Nguyễn Trọng Văn, cho đến thời "Cởi trói".
Sự hồ hởi vì "chiến thắng" quá bất ngờ lúc đầu rất là kịch liệt, nhưng trong văn chương cái chiến thắng này sẽ không kéo dài lâu. Cũng như về chính trị quân sự, những kẻ đã tham gia cái chiến tran h thần thánh giải phóng, trốn trong bưng biền ăn cơm vắt, sẽ phải nhường chỗ cho những kẻ chủ xướng chiến tranh. Ngay khi miền Nam được "hoàn toàn giải phóng", nếu các nhà văn từ Bắc vào hoặc chỉ viết về miền Nam như Chu Văn, Bùi Hiển, Tô Hoài (Một Người Bạn), Huy Phương, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, vv hồ hởi vui vẻ náo động văn chương thế nào thì một vài nhà văn miền Nam Việt Cộng đã bắt đầu tỏ lộ ê chề, buồn bã. Nếu Nguyễn Quang Sáng trong Người Con Ði Xa (1977) nay là đại tá trở về khải hoàn sung sướng thì Tô Ðức Chiêu trong truyện ngắn Ngày Về kể chuyện một anh "sư trưởng" xa cách vợ 20 năm, lúc đi mới cưới nhau được bảy ngày, nhưng khi "chiến thắng" về, người vợ đã cắt tóc đi tu, tuyệt thông (22).
Trong các tình cảnh sau 1975 được các nhà văn đưa vào tác phẩm , có những chuyện đạo đức giả như anh Tư trong truyện Ðứa Con của Trần Ninh Hồ (1976): anh cán bộ nằm vùng từng được chủ nhà bao che dưới thời Cộng Hòa, nay không dám cứu con trai của ân nhân phải đi học tập với lý do vớ vẩn "đưa anh ấy về sống với cụ khi anh ấy chưa hoàn toàn gột rửa được tội lỗi thì liệu cụ có vui lòng chung sô 'ng với một người như vậy không?" (23). Dĩ nhiên cha con anh em ruột còn chưa cứu được!
Trong cùng tuyển tập Ở Phía Nam đã được lựa chọn kỹ để kỷ niệm 10 năm chiếm miền Nam, một truyện khác kể lại phản ứng đặc biệt của một ông lão nông dân ở Duy Xuyên (Ðà Nẵng), bị ép vào hợp tác xã đã không chịu làm đơn, chỉ vì "Rứa hồi đánh Tây tui có làm đơn không? Hồi đánh Mỹ tui có làm đơn không? mà tui cũng đi theo mấy ổng? Thì tại răng chừ lại biểu làm đơn? (24)
Sau khi đã đời mừng chiến thắng và thống nhất, tâm hồn lắng xuống, thực tế hậu chiến hòa bình đã nhìn thấy, tài cán thời chiến mất hiệu lực thời bình, lúc đó cái "chiến tranh giải phóng thiêng liêng vĩ đại (...) bị quy kết là vô nhân tính, cam tâm tương tàn huynh đệ, làm cuộc thí nghiệm đối đầu cho những thế lực trên trời dưới biển dâu kia" (25)
Nhà văn đại tá bộ đội Nguyễn Minh Châu đăng bài "Viết về chiến tranh" trên tạp chí Văn Nghệ Quân Ðội số tháng 11-1978 chỉ trích việc nhà văn không được viết về những đau khổ mất mát do chiến tran h gây ra: "nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực...". Ông phê bình chung văn học chiến tranh do d dảng cộng sản điều động từ thời kháng chiến đến chiến thắng 1975 quá công thức và giả tạo, thiếu cảm xúc và quan hệ tình người. Hoàng Ngọc Hiến phụ họa theo với bài "Về một đặc điểm của văn h ọc nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua" (Văn Nghệ, 9-6-1979). Ông nhận xét rằng các tác phẩm của giai đoạn chiến tranh vừa qua là giả tạo vì các nhà văn phải làm văn học hiện thực một cách công thức.
Tất cả chỉ vì cái "cao cả" ảnh hưởng quá lớn cho nên lý tính lấn át cảm tính, cái hiện thực máy móc giết chết cái bản lãnh của cá tính! Cái "phải đạo" giết chết mọi suy nghĩ, sáng tạo: "Ðứng ở bìn h diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng mô tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng trên bình diện cái đang tồn tại, thì mối quan tâm hàng đầu là mô tả sao cho chân thật. Ðọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật, có thể gọi loại tác phẩm này là chủ nghĩa hiện thực phải đạo".
Nhưng nhà văn Nguyên Ngọc là người đã công khai hóa cái phản tỉnh này. Trong "đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học" vào tháng 6-1979, ông đã phê bình: "Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận của từng người, từng thành viên của đội ngũ đó thì còn khá sơ lược, giản đơn... Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh, còn tính sần sùi phức tạp của đời sống thì yếu hơn cho nên tính hiện thực của văn học có bị hạn chế. (...) Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết, vẫn cứ viết mà không thực tin ở chính điều mình viết ra: Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muối người..." (26)
Từ đó khởi đầu những hối hận, tự kiểm thảo, "khủng hoảng niềm tin" và nhìn lại cuộc đời. Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường cho mảng văn học phản tỉnh mới này, với truyện ngắn Bức Tranh đươ.c viết từ những năm 1976 với tựa Cái Mặt nhưng bị từ chối xuất bản cho đến 1985 (27). Ðề tài là chiến tranh sau chiến tranh, ông báo hiệu những biến dạng của con người sau chiến thắng. Bản tự kiểm, sự hối hận dày vò của một anh họa sĩ bộ đội đối xử không tốt với người bộ đội đã giúp anh khiêng quân dụng xuyên rừng. Vì trong rừng không có máy chụp hình, anh này chỉ xin anh họa sĩ vẻ chân du ng anh rồi đưa giùm cho bà mẹ của anh để bà tin con mình còn sống vì bà đã nghe nhầm tin con trai hy sinh. Nhưng anh họa sĩ hèn, lần lữa và dối lòng, nhận ơn mà không muốn trả, đã không đưa khiến bà mẹ già khóc đến mù đôi mắt. Còn anh họa sĩ nhờ vào bức họa chân dung anh bộ đội đó mà nổi tiếng như cồn. Tám năm sau, anh bộ đội làm nghề hớt tóc, người họa sĩ tình cờ là khách hớt tóc, một tấm a?nh chụp lại bức tranh nổi tiếng đó chưng trên tường, bà mẹ già mù lòa quét rác quẩn quanh, nhưng anh bộ đội hớt tóc vô tình hay cố ý không nhận ra anh họa sĩ khiến anh này phải hối hận dày vò sám hố i đã gây khổ cho mẹ con anh bộ đội: "Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất l ớn: Những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc màu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nẫ (...). Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm ... (28)
Sau đó ông viết Người Ðàn Bà Trên Chuyến Tàu Tốc Hành (1983) nói lên những đau đớn cá nhân và những suy nghĩ về cuộc đời và xã hội hậu chiến, với nhân vật cô Quỳ tìm lẽ sống. Rồi trong tập tru yện Bến Quê (1985) ông đã nói đến những cái nghịch lý, đau xót mà nghệ thuật trước nay chưa đề cập đến: Hương Và Phai phủ nhận cái quan niệm tàn bạo xem con người là trò chơi nghiệt ngã trong bàn tay của số phận và hoàn cảnh, đồng thời phủ định quan niệm về sức mạnh toàn năng và trơ vững không thể khuất phục của con người. Một Lần Ðối Chứng đặt lại vấn đề về sức mạnh khủng khiếp của hai tính ác và thiện gắn với phần "con" và phần "người" trong bản tính con người. Sống Mãi Với Cây Xanh đặt lại vấn đề về khả năng tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản ở một nước nông nghiệp lạc hậu, đặc biệt xã hội của người nông dân gia trưởng. Ðể chống lại một số tiền đề, Nguyễn Minh Châu bắt đầu một loại tiểu thuyết luận đề.
Nguyễn Trọng Oánh, một nhà văn tiền phong khác, trong tiểu thuyết Ðất Trắng (2 tập, 1979, 1984) đã muốn nhìn lại cuộc chiến tranh cách mạng vừa qua. Ông là nhà tiểu thuyết đầu tiên chuyển hướng khi dám nói lên những bất bình, hy sinh mất mát của người lính trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân ở ngoại vi Sài Gòn. Ðất Trắng không che giấu những tổn thất lớn, những sai lầm và đê hèn phản bội của một số bộ đội sĩ quan cao cấp. Cuộc chiến bớt thần thánh, trừu tượng mà tối đen, không lối thoát; thần chết và số phận con người bắt đầu lẩn quẩn, ám ảnh! Ðất Trắng cũng muốn nói lên cái thất bại thật sự của "chiến thắng 1975". Ý tưởng "trật lề", "trái đạo" này đã gây phẫn nộ bất bình trong giới lãnh đạo văn nghệ Hà Nội.
Kế đó có Nguyễn Kiên với Ðáy Nước và Trái Cam Trong Lòng Tay (12-83): từ cái bệnh của thể chất, ông chiêm nghiệm về ý nghĩa của sự sống; nhà thương là không gian nơi cho những tâm hồn cô đơn tìm đối thoại và đến với... người khác, những cựu chiến binh, thương binh. Chuyện để nói là những câu chuyện cũ, chuyện chiến trường. Trái cam cầm trong tay trong khuôn viên nhà thương chính là hạnh phúc tìm thấy sao bao năm chiến đấu....
Nguyễn Khải với Gặp Gỡ Cuối Năm, Thời Gian Của Người, Ma Văn Kháng với Mưa Mùa Hạ (1982), Mùa Lá Rụng Trong Vườn (1985) được giải thưởng của Hội nhà văn, đã có những suy nghĩ soi mói, chưa muốn thoát ly "đạo lý" cũ nhưng đã đòi thay đổi để có thể tôn trọng cá tính con người. Ðó cũng là trường hợp một số nhà văn như Vũ Bảo, Cao Duy Thảo, Dương Thu Hương, Trang Thế Hy, vv sau có truyện in trong tuyê?n tập Tướng Về Hưu (1988, nhưng ghi năm sáng tác 1984-1985), đã có những suy nghĩ chao đảo, những chớm nghi ng Tất cả những chao đảo này chuẩn bị cho những "đổi mới", "cởi trói" kể từ cuối năm 1986. Big Bang tới, nếu không thay đổi thì Big Crush sẽ còn tệ hơn!
Nguyễn Vy Khanh
(còn tiếp)
Người trở lại
Mười lăm năm sau, người học trò của cô Hạ trở lại ngôi trường cũ. . Vâng, chàng đang trở về sau bao ngày lênh đênh lận đận. Dòng đời, xã hội, chiến tranh đã khiến một thằng bé cô nhi trở thành tên phế nhân này. Ðây là một buổi chiều, một buổi chiều của trăm ngàn buổi chiều của đời chàng. Ðây là biển, là sóng, là mặt trời, là muôn ngàn lời réo gọi từ rặng phi lao, từ những kè đá, những làn gió lồng lộng ngoài khơi. Ðây là sức sống. Tôi khuyên anh hãy tìm về một nơi có biển. Hy vọng nó có thể phục hồi sức khỏe của anh. Ông bác sĩ trong quân y viện đã khuyên chàng như thế. Vâng, tôi xin nghe lời bác sĩ. Chàng đã đủ sáng suốt để nói với ông ta như thế. Bây giờ anh được tự do rồi. Vâng, tự do. Chàng cười lớn và vất điếu thuốc xuống nền. Tự do sau khi phải trả ở một nơi nào không biết tên, một cõi sống của thanh niên. Rồi tương lai của tôi, bác sĩ thấy không. Chàng cười mếu vừa bật lửa que diêm cháy từ từ cho đến tắt. Liệu thần kinh của tôi còn được thăng bằng không bác sĩ.
Từ bờ biển, chàng chống gậy lò dò bước vào cổng sau cô nhi viện. Con đường rải đá cuội, xào xạc dưới gót giày. Những bờ hoa vàng, trở nên sậm hơn trong màu chiều sắp dứt. Màu tường vôi mới quét, vàng tươi, phân biệt hẳn với màu đỏ tươi của mái ngói. Ngôi giáo đường năm xưa, ẩn dưới tàn phượng lớn, sum sê. Một đôi vợ chồng mục sư người ngoại quốc vừa bước qua sân. Trên sân viện, rải rác các em bé với quần áo đồng phục. Các em bỡ ngỡ nhìn chàng chống gậy bước qua. Làm sao các em biết thằng bé năm xưa cũng mặc bộ đồng phục như thế, cũng từng sắp hàng như thế, cũng từng chờ người ta bố thí tình thương như thế. Một em bé đang ngồi ủ rũ dưới một hành lang bên cạnh là con chó bọc nhung đen. Em đang nhìn đám trẻ chơi đùa trên sân cát. Chàng bước đến, ngồi bên em. Sóng biển vọng về như một bản đàn buồn bã. Hàng dừa cao ở hai bên đường dẫn về ngôi nhà thờ như cúi đầu cầu nguyện. Và căn phòng của cô Hạ khuất sau giàn hoa giấy đỏ. Tất cả như không hề thay đổi. Tất cả như sống lại trong hồn nó một chiều sắp tắt. Và trong giây phút ấy, tiếng dương cầm nổi lên, lướt thướt trong gió. Nó nhắm mắt. Lại một bản nhạc xưa. Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào... Mê lực nào như mời gọi chàng chống gậy lê về phía tiếng đàn. Phía trong căn phòng, qua khung cửa sổ, chàng nhìn thấy một người đàn bà, mập mờ trong bóng chiều tàn úa. Chàng kêu lên: "Cô Hạ ơi, cô Hạ ơi. Em trở về thăm cô đây..." Nhưng chàng chỉ thấy một người, một bóng người cũng nên, đang cúi đầu xuống, mình mẩy đẫm máu, bất động như một thây ma. Chàng la lên dồn dập: Cô Hạ ơi, cô Hạ ơi...
Trần Hoài Thư
NJ 15-4-1997
Hậu cứ
Ra khỏi đồn Măng Cá, người đàn ông có hơi tần ngần trước con đường ngập nắng. Màu hoa phượng đỏ thắm, rực rỡ đến nhức nhối và mặt nhựa đường như biết co giãn để cảnh vật cuối tầm nhìn mãi luôn xao động.
Trưa yên tĩnh, trưa đứng gió. Mọi thứ như thiêm thiếp giấc ngủ say. Có tiếng máy nổ nghe mỗi lúc một gần và rồi thì cận kề sát bên hông.
- Thiếu úy đi mô đó. Leo lên em cho quá giang.
Chiếc Honda 50 màu đen mới nước sơn. Nó sạch sẽ bóng loáng tới độ có thể phản chiếu trung thực những gì đang đọng vào đấy. Người đàn ông nhìn ra bộ quân phục mình mặc trên người. Màu cức ngự a trộn lẫn với màu bụi vàng. Màu sương gió và màu trận mạc. Một thứ màu xác xơ chẳng giống ai. Anh kéo chiếc nón xuống thấp trước trán và anh lắc đầu. Người lính trẻ phóng xe đi với tiếng máy gầm gừ hung hãn. Mọi thứ ở hắn thảy đều lạ lẫm trong mắt anh, mặc dù cả hai đều có cái phù hiệu số 1 giống nhau may chặt bên tay áo. Hắn quá trẻ và hắn có tác phong của một cậu học sinh sau giờ bãi học. Người đàn ông đi dọc theo hồ Tĩnh Tâm. Anh nhớ tới thằng em trai đang học lớp 10. Hắn cũng có một chiếc xe gắn máy. Hắn vừa có bồ và anh cầu mong hắn đừng phải chịu cảnh bị bồ đá. Trong đám lính của anh, cái lý do để tụi nó sớm nằm gai nếm mật đa số đều quy về mẫu số chung: Thất tình. "Em học không nổi Thiếu úy ơi... nhà em nghèo quá mạng!". Duy có mình thằng Phúc là ngoại lệ: "... Em vừa ra khỏi chợ Ðông Ba, có hai ông nội xáp vô kẹp tay em lôi đi. Cái mặt em như ri đây mà bọn nó đổ hô là Việt cọng. Tụi nó còng em về bót cảnh sát tẩn cho một trận nhừ tử: Mụ cô mi, hôm nọ mi đi rãi truyền đơn tau đã chụp hụt một lần rồi. Chứ cơ sở mi đặt ở chỗ mô? Khai mau... Nói Thiếu úy đừng cười, lúc nớ em khóc như cha chết mạ chết vậy. Khóc như rươi. Em đi lính với cái đầu óc d dặc sệt một chữ: Trả thù. Ba em chửi đồ báo đời. Mạ em khóc, con chi mà bất hiếu rứa bây! Vì mấy cái lời lẻ đó nên em không đành lòng chọn thứ dữ, em chui vô Sư đoàn 1 đặng gần gũi có chi mà phu. đỡ gia đình..."
Người đàn ông nhìn xuống hồ. Tĩnh Tâm, ai đặt cho mày cái tên nghe hay ho đến vậy? Mặt nước đục, cạn. Những cành sen khô cằn và mùi bùn thì luôn hôi tanh. Anh tháo gỡ cái bông mai trên cổ áo, cất v ào túi quần. Năm ngón tay vọc giỡn những tờ giấy bạc nhàu nát bên trong. Quang Trung, Lê văn Duyệt. Những vị tướng lỗi lạc được hậu thế ghi ơn và cái mãi lực khiêm nhường đáng phàn nàn mà nó có - Tiền lính là tính liền. Anh không đủ tĩnh tâm để toan tính được chuyện gì cả. Anh cũng là một đứa báo đời. Ðầu óc anh cũng đặc sệt một chữ: Trả thù. Anh hối hận đã không hỏi Phúc cái câu lý ra cần hỏi nhất: Mày đã trả thù được chưa? Mày có ngang tàng trở về và tẩn lại thằng cảnh sát ngày nọ một trận đòn sòng phẳng? Phúc à, ơn đền oán trả là câu nói mà tao cho là văn chương nhất ở cõi đời này. Cái chẳng được "văn chương" là sự yếu hèn luôn có trong mỗi chúng ta. Buồn tay tao vẫn mang khẩu Colt 45 ra lau chùi tháo gỡ lắp ráp lại mãi. Ðạn lên nòng nhưng đạn chẳng thể bay đi theo đời đạn. Tao quẩn trí và nhiều lần tau có ý định đào ngũ...
Ve kêu râm ran một góc vườn nhà ai cây lá rậm rạp. Vô tình, người đàn ông để cho bước chân đạp trên một lối đi quen thuộc. Anh hơi lưỡng lự, bần thần. Trong trí anh thoáng bày biện một hình ảnh v ừa diễn ra có thứ tự, lớp lang. Bụi chè tàu, cái bể cạn, vuông sân nhỏ, cây trứng cá, một cái am... Nó còn đó hay nó đã chịu sự đổi thay theo cái chia lìa của chủ nhân? Sau Mậu Thân, Ba Mạ anh đã quyết định bán căn nhà chôn đầy kỷ niệm ấy để vào ở hẳn trong Nha Trang. Anh là một thằng lính và Nha Trang là một địa danh quá đỗi cách xa với bàn chân anh. Sao Ba Mạ không mua nhà ở Ðông Hà Khe Sanh Quảng Trị cho tiện việc thăm hỏi? Ba Mạ trách cứ thì con xin cúi đầu đón nghe. Thiếu úy chứ có phải Thiếu tá Thiếu tướng gì cho cam. Thiếu úy là thiếu đủ thứ. Còn như Ba Mạ muốn lánh xa mũi tên hòn đạn chừng nào tốt chừng đó thì cũng có cái lý trong việc phòng hờ, nhưng nhân danh một Thiếu úy con cũng xin thưa là chạy trời làm sao cho khỏi nắng đây? Ba Mạ có tốn bạc triệu chạy chọt cho con về làm lính kie ^?ng trong đó thì ra phố thằng đạp xích-lô cũng có thể gây tử thương cho mình nếu cái số con đến hồi mạt vận.
Người đàn ông dừng bước. Anh sững sờ. Tất cả còn y nguyên, không suy suyễn chợt vẹt, và cảnh vật ấy, nó như mếu máo được gặp lại anh dù cậu bé hồn nhiên ngày nào giờ đã biến đổi ra thân phâ.n khác. Một hình nhân có thể làm con nít nín bặt tiếng khóc nhè:
- Dạ xin lỗi chớ anh muốn hỏi ai?
Ðứa con gái nằm ru em nhổm người dậy trên võng. Võng chòng chành. Hoa nắng lỗ chỗ đâm nát người anh.
- Phúc...
- Dạ không có ai tên Phúc ở đây cả.
Người con gái trả lời. Nó đứng ôm đứa nhỏ trên đôi tay gầy. Ðứa nhỏ ngủ say không nghe ra mẫu đối thoại và khoảng cách giữa ba người luôn cách ngăn bằng một vuông sân vàng nắng.
- Tôi nói lộn. Trước đây tôi ở nhà này, bây giờ tôi về chỉ để ngó qua một lần, rứa thôi.
Chiếc võng tạo thành những đường hằn đỏ lên da thịt đứa con gái. Nó nhìn tới người lính bằng ánh mắt lạ lùng. Cái ánh mắt thường có ở những tù binh đợi chờ anh lấy khẩu cung.
- Em cho anh xin một vài cây hương, anh thắp lên am rồi anh đi ngay.
Ðứa con gái biến mất sau cánh cửa đóng vội và anh nghiêm chỉnh đứng ở tư thế đợi ch Anh tự đánh cuộc và anh thất vọng với cái ý nghĩ là đứa con gái sẽ tái xuất hiện. Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh. Anh thầm thì đùa cợt. Ngay cả một con chó dữ bất thần nhảy ra giữa sân ngửa cổ tru tréo cũng chẳng có. Anh đốt một điếu thuốc. Khói Bastos xanh mắc cứng trong cần cổ, nuốt không xuống. A nh thèm uống vài cốc rượu cay với đồ nhắm tim cật ruột gan ngoài tiệm cháo lòng Ðồng Ý nhưng lại sợ mình đánh mất trí khôn.
Người đàn ông bỏ đi, anh ngạc nhiên khi tự nhận thấy là mình chẳng có một ham muốn nào cầ Người anh trống trải, tựa một cao điểm mà cả hai phía đều không tìm thấy cái vị trí chiến lược có nơi đó. Phúc, chẳng rõ tao có đủ can đảm để bước chân vào nhà mày không? Tao thích đánh một trận đánh cho thật đường hoàng. Chường mặt ra, trực diện nhau, phân minh giữa trắng và đen. Mồ hôi ràn rụa đổ khi người đàn ông ra tới phố. Anh dừng chân ở nhà sách và lựa mua một cuốn tiểu thuyết tình cảm. Truyện in chữ to dễ đọc, dày 160 trang vừa phải, đủ để tìm tới giấc ngủ; nhét nó vào túi quần người đàn ông bước lên những bậc cấp sức mẻ nền gạch hoa. Thằng con trai nhai cây tăm tre bật người khỏi chỗ ngồi, hắn quơ tay như đang phủi ruồi chờn vờn trước mặt:
- Anh đi một mình thôi ạ
Người đàn ông nhìn lui. Anh cởi nón và dùng nó để lau lên trán. Trán anh cau lại những nếp nhăn.
- Muốn có tiết mục đặc biệt thì nhớ nói sớm nghe đại ca.
- Là sao? Phòng có gắn máy lạnh hả.
- Dạ không. Khách sạn bình dân mà anh... Anh ưa có bò lạc không?
Người đàn ông đón lấy chiếc chìa khóa. Anh ngó cái hình xâm nơi tay thằng "quản lý khách sạn". Một đứa con gái cởi truồng, xấu xí và vụng về nét vẻ.
- Tui nói nó tắm rửa cẩn thận rồi chạy ù lên phòng đại ca hỉ?
- Tao không có hứng. Ngủ xong một giấc rồi hẳn tính.
Ðàn bà. Lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Tội nghiệp! Vày vò dẫm nát một cành hoa còn rẻ hơn ra chợ trời lựa mua một đôi bốt-đờ-sô ngó tử tế. Căn phòng nóng như một lò lửa. Người đàn ông mở toang cánh cửa sổ và tức thì những thứ tiếng động tạp nhạp dưới đường phố tràn ngập vào ngay. Tiếng động làm anh choáng váng, anh đợi một cơn gió thoảng ngang nhưng chẳng thấy. Anh vác mặt ngó xuống cái thế giới mà anh có bổn phận phải giữ gìn cho nó được an vui yên thắm. Anh ra tuyến đầu, làm cái hàng rào làm cái bờ đê làm cái vật cản, nhưng anh ý thức được có khi kẻ thù mình khôn g hẳn là những bóng đen đang di động trước mũi súng. Mệnh lệnh. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Ừ, thì cứ nên tin như vậy, nhưng thi hành trước khiếu nại sau thì quả là thái độ ngược ngạo dễ dẫn người ta đi vào tuyệt lộ. Anh tự nghiệm ra một bọn người lúc nhúc ngồi dưới giao thông hào như trung đội anh chẳng có đứa nào nuôi dưỡng được một sứ mạng gì gọi là ghê gớm, thậm chí có d dứa không lý giải được cái công việc giết người chẳng gớm tay của nô Bộ mặt dửng dưng, ngầy ngật thiếu ngủ. Ðôi mắt ánh lên nét ngây thơ nhưng miệng mồm thì ăn nói dữ dằn: "Tổ cha bây, không sợ chết hay răng mà cứ tràn lên hoài rứa. Ở ngoài nớ bọn bây có biết câu súng đạn vô tình không?... Ðụ mạ, đánh nhau hoài phát nhàm, làm răng yên yên một bữa tụi mình ngồi nhậu với nhau quên trời d dất Thiếu úy hỉ. Thiếu úy biết mụ Sẻ bán cháo lòng ở gần hồ Mưng không? Dách cô nhạn đó Thiếu úy. Mụ nớ nổi tiếng từ vụ Mậu thân kia, có người nói ban đêm mụ ra chuồng heo hốt thịt vụn sau khi nó bị ăn pháo kích tanh banh, vô tình hốt cả ruột gan của xác người nằm chết trong chuồng mà chẳng hay. Nghe ớn lạnh chưa? Tui quen thằng Bảy bên Ðại đội Hắc báo, hắn nói: "Mi lỡ ăn thịt người mà mi cha (?ng hay thì cuối cùng cũng huề tiền thôi. Thịt gì thì cũng đều được gọi là thịt cả, vấn đề là nó có phục vụ được cho cái bao tử luôn đói khát một bữa ăn no không?". Cái thằng nớ thì cóc có sợ ai cả, lính tráng mà được như hắn thì thua cọp nữa ạ. Cọp thiệt nhiều thì hòa bình ngay!"
Người đàn ông nằm vật xuống giường. Tấm khăn trải hoen ố và như tuồng nó được đánh cắp từ bệnh viện ra. Xanh cái màu xanh rất đặc thù. Anh rút cuốn truyện từ túi quần. Anh sửa thế nằm tho ải mái, kê gối cao và dọn lòng cất bước. Một chuyện tình không êm xuôi. Chàng và nàng đầu hàng trước nghịch cảnh. Chàng vào Thủ-đức và nàng lên xe hoa. Chàng luôn gọi nàng bằng cô bé - Nàng, chàng, cô bé. Cô bé nàng chàng... Người đàn ông gấp cuốn truyện lại, mệt mỏi ném nó xuống đất. Anh thấy xa lạ, không thể hòa nhập vào trong những dòng chữ ấy để cho hai nhân vật chính lôi kéo mình đi tới hết "đoạn đường chiến binh" của hỗ Anh thấy tiếc tiền, hối hận là đã không mua cuốn "Nghệ thuật Sống" hoặc cuốn "Ðắc nhân tâm".
Giấc ngủ không tìm đến. Người đàn ông ngồi dậy thắp thuốc hút. Anh mở bọc ny-lông đựng giấy tờ và nhặt ra một bức ảnh đen trắng. Tấm ảnh nhỏ như ảnh căn cước, trong đó đóng khung một khuôn mặt đen đúa. Khuôn mặt gượng cười trước ống kính và sự miễn cưỡng ấy như làm tăng lên vẻ ngây ngô có nơi mặt một đứa con trai tóc húi cua. Phía sau có hàng chữ viết nguệch ngoạc: "T.N. Phúc. Kỷ niệm ngày quyết định khoát chiến y". Trong bao ny-lông gạo sấy còn chứa đựng thêm những giấy tờ lụn vụn, những thứ mà người đàn ông từng mở ra và gấp lại nhiều lần. Những thứ giấy tờ tùy thân ca ' nhân mà thằng Phúc chỉ đưa ra nếu đứng trước mặt một thằng Quân cảnh có bộ mặt kháu ô Sao tóc mày dài vậy? Sao giày mày chẳng được bóng láng? Mụ cô mi, mi thử dãi dầu ở đường 9 Nam Lào. Mi thử ăn dầm ở dề bên sông Thạch Hãn. Mi thử đóng chốt gần cổ thành Quảng trị... coi thử mi có còn giữ được cái dáng dấp một thằng lính sạch nước cản mà mi luôn trau chuốt không? Bày đặt tra với kh ảo. Bỏ đi tám! Người đàn ông xếp ngay ngắn những nếp gấp có sẵn ở túi ny-lông, xong rồi buộc ở ngoài hai ba sợi cao-su, cất lại trên túi áo. Anh rửa mặt nơi cái la-va-bô cáu vàng và không nhìn mặt mình trong gươn g soi. Anh tựa cửa nhìn ra dòng sông giờ này xanh mát bóng mây. Anh đi đái, áo bỏ vào quần và đóng mạnh cửa phòng bước xuống cầu thang ẩm tối. Nắng đã co mình thu bớt những ngọn lửa. Tiếng động v ề chiều mỗi lúc một bành trướng hẳn lên, nó rầm rập chui đầy vào lỗ tai anh nhưng đôi khi anh chẳng nghe thấy gì cả, tựa một cuốn phim câm. Anh đi vô chợ, anh đứng trước "thị tại môn tiền náo" và mua một ly xi-rô trộn hột é với đá đập vụn. Ly nước rẻ tiền, mát ngọt, thông cần cổ và mang lại cho anh chút tỉnh táo. Cái tỉnh táo của một đầu óc đã nghe ra những mẫu đối thoại của mấy người b án hàng. Họ nói về thằng cha làm nghề mãi võ Sơn-đông đang đứng ngoài bến xe bán thuốc trị sán rất công hiệu. ừ, hắn mát tay lắm, ai đời mà nhổ răng mình ra hồi nào cũng không hay, thiệt êm ái dẹ dàng rứa đô Họ nói về những giọt nước mắt của con Năm, ai đời một chục lon sữa hiệu ông Thọ thì có sáu bảy lon chứa đựng toàn cả bùn với cát ở bên trong. Bọn mô mà chơi kiểu ác đức rứa hè, là m răng mà sinh con! Họ nói dạo này trong chợ thỉnh thoảng bà con la lên ơi ới như gặp ma, mã cha cái đứa diệu thủ thư sinh, hắn có bùa ngãi chi không mà móc hết tiền túi mình hôi mô chẳng biết.
Người đàn ông đi quanh quất trong ch Hàng vải, hàng bán nón lá, hàng bán chén đọi ly tách và cuối cùng là cái sạp bán hương đèn vàng bạc xe hơi nhà lầu thiếu nữ thanh niên. Tất cả đều bằng giấy, có chiếc xe đạp èo ọp lòi ra những nan tre. Màu sắc tập trung ở đó thật nhiều, rực rỡ, vui nhộn.
- Trời đất!... Anh Cư... Ngó lạ chưa tề. Rứa lon lá thu mô mà không đeo?
Người đàn ông vày vò chiếc nón trong đôi tay. Anh hối hận đã không mang cuốn truyện tình lỡ mua để tặng lại cô gái. Anh nhìn một thằng con trai đứng trong góc, mặt tươi rói. Tại sao không bôi râu mà lại tô son điểm phấn lên mặt hắn?
- Anh mới về.
- Ông già đâu?
- Ba em về làng chia tiền lúa, mai mới trở lại. Anh ngồi chơi. Người đàn ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Mắt anh vẫn ngó tới thằng con trai. Nếu khoát cho hắn bộ đồ trận bên ngoài, xong rồi hí hoáy vô cổ áo một hai cái bông mai bạc thì ai cấm?
- Anh uống nước.
Người con gái mang tới một cái ly, nước màu vàng sóng sánh, mùi đậu ván nướng cháy thơm át cả mùi hương đèn vàng bạc. Cô bận đồ bộ màu ruốc, nơi túi áo gài kín cây kim băng.
- Buôn bán ra răng?
Anh hỏi. Cô gái ngồi ké né nơi cái giường tre nhỏ:
- Dạ đắp đổi qua ngày. Tết nhất thì không nói, ngày thường vắng như chùa bà đanh.
Người đàn ông lấy thuốc ra hút. Anh thở khói xanh um. Cái thế giới người ngợm xe pháo nhà cửa ấy thật an lành. Sau cái chết, những kẻ đó có cầm súng để giết hại lẫn nhau một lần nữa không?
- Sao chẳng thấy súng ống?
- Anh thiệt méo mó nghề nghiệp.
- Súng bằng giấy có dễ làm không?
- Dễ. Mấy tháng trước có bà khách đặt làm một khẩu, ba em loay hoay có mấy tiếng là xong. Bà ấy nói con bà chết trận, chừ đốt cho hắn khẩu súng để xuống dưới khỏi buồn tay. Con bà lúc nào cũng nói súng là vợ đạn là con.
- Bữa mô rãnh làm cho anh một khẩu. Loại M-16.
- Tầm bậy nà. Anh là lính tráng mà chẳng biết kiêng cữ, cái miệng ưa ăn mắm ăn muối.
- Nếu kiêng cử thì còn chi để gọi là lính. Mấy người tu hành kiêng cử thịt cá thì cái đó đáng hoan nghênh.
- Ba biết người đặt hàng là anh thì sức mấy ông làm cho.
- Nói là anh đặt cho một người đã chết. Còn sống ai lại khơi khơi đi mua một khẩu súng giấy?
- Em nghe trong chợ họ đồn là sắp có hòa bình rồi, đúng không anh?
- Anh đâu biết. Mới ban hành lệnh ngưng bắn, nhưng mà cái đó đâu có liên quan chi tới hòa bình.
- Không liên quan ạ
- Giống như chuyện đốt pháo vậy. Năm hết Tết tới người ta mới đốt nó, ba trăm sáu chục ngày còn lại ai rãnh tay mà nghịch tới pháo?
- Anh nói chi mà tối nghĩa. Dạo ni ra đường em thấy lính tráng mô mà chật phố chật phường, nếu chiến tranh căng thẳng thì họ đã ở ngoài mặt trận cả rồi, có đúng không? Nội chuyện nớ thôi là đủ để mình tin sắp có hòa bình.
- Cũng đáng tin lắm. Hòa bình thì có trở ngại chi trong việc bán buôn này không?
- Chà. Câu anh hỏi mới trúng tủ Ba em. ít người chết thì hàng đồ mã phải chôn luôn môn bài.
- Mấy giờ em dẹp hàng?
- Anh hỏi có chuyện chi không? Rứa thì tối nay anh ngủ ở mô?
- Có rảnh Cúc ghé ngang dưới cầu Gia-hội đưa giùm anh cái gói ni.
Người đàn ông mở hạt nút túi áo, anh lấy bao ny-lông ra cầm ở tay.
- Cái chi rứa?
- Thằng lính của anh bị chết, anh muốn Cúc vô nhà ông già nó mà loan tin giùm.
- Í, không được mô, bậy nấ Tìm cô nào mà đưa thư xanh thì họa may... Em nhát gan lắm. Anh vô nhà họ thì hợp lẽ hơn.
- Giúp anh một lần đi mà.
- Em hứa làm cho anh một khẩu súng thiệt đẹp thiệt giống, cái đó hợp với em hơn. Ðúng không? Tưởng tượng mấy người trong nhà đó họ bu quanh em, họ tra khảo em, họ nằm vạ, họ khóc lóc, họ chửi rủa, em ngán lắm. Trời, cho em sống với chớ!
Người đàn ông cúi đầu xuống, anh ôm trán, anh vò đầu và anh đứng lên.
- Ðừng giận em nghe anh Cư.
- Không, anh nói câu đó với Cúc mới phải. Và Cúc cũng nên quên chuyện làm khẩu súng đó đi. Hòa bình gần kề rồi, thử làm con bồ câu rồi đem đi đốt coi thử ra răng, có chuyện lạ xẩy ra không?
- Tối anh có về không? Em đợi cửa.
- Tưởng có ba thì anh ghé, ổng về làng thì thôi, để khi khác. Nhắn với ba là anh có ghé thăm.
Người đàn ông quay lưng, anh nắm chặt cái túi ny-lông trong tay. Tay anh nhớp nháp cả mồ hôi. Anh đi lên cầu Trường-tiền, đứng vịn vài cầu mà hóng giô Từ xa, bóng chiều đã nhuộm thẫm hình dáng của núi. Gần hơn, cầu Bạch-hổ vàng vọt thứ sắc màu của một chân mây sắp đi ngủ. Cái chateau d'eau thọc lên như cột trụ muốn chống đỡ, muốn ngăn ngừa màn đêm. Tối đó có tiếng súng nổ lạch tạch, lát sau thằng Nhị xuất hiện với một hình hài sũng nước, mặt cắt không còn hạt máu, hắn mếu máo: Thằng Phúc... ông thầy ơi... thằng Phúc... Chuyện gì đó. Ðứa nào cả gan nổ súng đó. Tụi bây không biết
là lệnh ngưng bắn đã có hiệu lực từ mấy hôm nay... Dạ thằng Phúc, hắn rủ em bơi qua sông, hắn nói tụi mình chộp cổ con gà về nấu cháo cho ông thầy tẩm bổ...không biết tình hình ra răng, trời đen như mực, em quýnh quáng bơi một mạch, cầu Trời hắn chỉ bị thương thôi...
Phúc, những gì tao có thể làm cho mày tao đã rán sức. Tao đợi chờ mày suốt ba ngày ngồi bên bờ sông nhưng chẳng thấy xác mày nổi lên. Tao biết mày đã bị ăn đạn, những kẻ bắn mày là những đứa mới ngày nào còn đứng lạ mặt nhìn nhau, mời mọc trao đổi nhau điếu thuốc Bắc, Nam trên một hàng rào ngăn chia tưởng tượng. Mày đi lính vì một sự ngộ nhận và khi chết đi, cái đó có phải là ngộ nhận không? Chết vì một con gà, có đáng không Phúc? Cho dầu cái hành động đó nhằm chứng minh thứ chân tình mộc mạc có giữa thầy trò mình. Huynh đệ chi binh. Chữ ấy càng ngày càng nhạt nhòa đi và mày muô 'n làm đứa tô đậm nét?
Tiếng đò máy chạy giữa sông vang vọng ra trên mặt nước thứ âm thanh nghe phành phạch như cánh quạt của trực thăng đang cố gắng xuống bãi đáp. Người đàn ông cúi đầu nhìn theo đường sóng nhăn nhó giữa con nước đen, anh ném xuống dưới cái thẻ bài có khắc số quân và loại máu của anh. Vĩnh biệt nghe Phúc. Nước mắt anh ứa ra. Gần bốn năm ở quân đội, tham dự bảy trận đánh lớn nhỏ khác nhau, lần đầu tiên Thiếu úy Cư biết khóc.
Hồ Ðình Nghiêm
trích Văn Học 05/97