vhnt, số 282
25 March 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................................PCL
T h ơ:
1 - Vừa qua....................................................Song Vinh
2 - Bí ẩn của làn nước....................................Ðông-A
3 - Ðôi khi tôi muốn khóc...................................Cát Nhu
4 - Chung cuộc.....................................Thiên Phượng Lynh
5 - Ðám táng linh hồn......................................Hàn Trân
6 - Phố mùa thu.............................................Thụy Phong
7 - Life............................................Trương Trọng Hoàng
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
8 - Thông điệp của thơ..............................Thích Trí Hải
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
9 - Rớt xuống đời nhau......................Nguyễn Ðăng Tuấn
10 - Người ở lại..................................Nguyễn Bá Dĩnh
Gửi đến bạn đọc vhnt #282, với phối hợp nhiều sáng tác thơ và văn của những tác giả cộng tác thường xuyên. VHNT mong đón nhận thêm những bài viết về phê bình văn học, tiểu luận, và những bài viết về những bộ môn nghệ thuật khác, để diễn đàn của chúng ta thêm phong phú, đúng với chủ trương tinh thần yêu quí nghệ thuật, và chỉ nghệ thuật mà thôi!
Thành thật cám ơn các bạn đã tham gia đóng góp sáng tác đông đảo, đều đặn, và ủng hộ nhiệt tình cho vhnt.
Chúc bạn một ngày thật êm ả và tràn đầy niềm vui.
thân ái,
PCL/vhnt
Vừa Qua
Một ngày kia dáng xưa về phố lạ
Chôn chân buồn nhìn thế sự đổi thay
Tay xanh xao ôm nắng ngọt Tân Bình
Vầng tóc rũ quyện sương nồng Ðà Lạt
Em đến nhận bên tháng ngày nơi khác
Vùng linh hồn cô quẫn bạn hư hao
Chân lang thang dăm lối lạ giang hồ
Người thân quyến giờ đây xa tầm với
Như hốt hoảng có đêm dài ngu muội
Ðịnh mệnh buồn đan đón bước bôn ba
Ôi thương đau nơi quá vãng ngọc ngà
Ðem chật vật ấu thơ chiều tìm kiếm
Thôi có thật sang Thu vàng kỷ niệm
Thẳng hình hài soi bờ nước mú khơi
Tóc lộng bay xoa gió biển ven đời
Từ quay bước như chưa lần tự thú
Anh nhìn kỹ Em, bên này ấp ủ
Lần trở về xong để đó làm vui
Một hôm xa khao khát giấc ngủ vùi
Chừng vẻn vẹn dăm ước mơ không toại
Ôi bất chợt tim đau men băng hoại
Bởi giòng đời miền tranh sống triền miên
Ðêm tiếp đêm dài manh mún ưu phiền
Xanh tư tưởng tâm tư vùi nín lặng
Sao chất ngất vốc lẻ loi cay đắng
Hỏi han ơi nằm chết gục bên đài
Hai cách xa như có lúc khôi hài
Thân vỡ vụn cài nụ hôn mắt ngọc
Song Vinh
Bí ẩn của làn nước *
Có những nỗi đau không thể nói nên lời
Ðành câm lặng theo cùng năm tháng
Dẫu dòng sông có chảy hoài ra biển
Có bao giờ con nước cạn lòng khơi
Nỗi đau này mãi mãi chẳng thể nguôi
Cũng chẳng thể cùng ai chia sẻ
Năm tháng trôi qua vết thương còn rớm máu
Muốn khóc òa nên sao nước mắt nghẹn trào
Chỉ dòng sông thấu được nỗi đau
Cứ thắt ruột vật vã hoài con sóng
Bao người đi qua soi bóng mình đáy nước
Mặt chập chờn nào cảm được dòng đau
Dòng sông ơi, sao mãi lặng câm
Cứ lặng lẽ đêm ngày chịu đựng
Phù sa chở đắp bồi bao bến bãi
Mà vết thương lòng chẳng thể nguôi ngoai.
Ðông A
* truyện ngắn của Bảo Ninh
ÐÔI KHI TÔI MUỐN KHÓC
It is rare that you meet someone who asks for nothing in return for
friendship but friendship itself, someone who knows nothing
about you one day and all your secret thoughts the next
To my very special friend, B.M
đôi khi tôi muốn khóc
khi xung quanh mình
tất cả mọi người
đều đã ngủ
đôi khi tôi muốn khóc
cho những niềm riêng
không nói được
thành lời
đôi khi tôi muốn khóc
khi nhìn bóng em
gầy guộc
... đổ bên tường
đôi khi tôi muốn khóc
khi dư luận
luôn luôn ngược chiều
với những điều tôi nghĩ về em
đôi khi tôi muốn khóc
một mình
... vì biết rằng nơi ấy
có giọt nước mắt em rơi
Cát Nhu
CHUNG CUỘC
Một kiếp phù du cũng cuộc đời
Bây chừ ngoẳnh lại mười năm chẵn
Người đó ta đây vẫn bằng không
Nhớ nhớ thương thương chất thành sông
Sông nào có lúc mà không cạn
Thế thái xưa nay khó tránh sầu.
Ðời ta thuở ấy đơn lạnh giá
Em đến làm chi ấm cõi lòng
Hoa tình kết lại đan thành gút
Cho đến bây chừ biết trách ai
Môi em lúc đó trinh như mộng
Dẫn dắt hồn anh đến cõi sầu
Muôn ngàn tội lỗi anh xin nhận
Tội lỗi này đây tội chữ tình.
Tình yêu khó định lắm ai ơi
Mấy ai nghĩ đúng mà làm đặng
Chẳng những mỹ miều em lại ngoan
Yêu ngươì con gái dáng đoan trang
Khi nào em chết anh xin chết
Hai đứa nằm chung một áo quan.
Thiên Phượng Lynh
Ðám Táng Linh Hồn
Trời trêu dung ruỗi một chốn này
Cho mình hội ngộ ngõ ngất ngây
Bao nhiêu mơ mộng xưa khô chết
Trổ lá đơm hoa xác thân gầy
Bấy năm những tưởng mình chai đá
Sâu quằm mấy tuổi phủ rong rêu
Thời gian sương điểm vài hạt muối
Bỗng bốc hơi bay , bến ngã chiều
Bước nhỏ lên xe lặng bồi hồi
Em vào ghế cũ niềm chơi vơi
Lâu rồi nơi ấy dành tê tái
Hai buổi đi về chỉ riêng tôi
Tự biết chẳng là em cố ý
Vô tình lùi lại giấc mê rồi
Ðột nhiên ta trở thành đờ đẫn
Ðong đầy mộng mị trẻ đôi mươi.
Hay là em muốn tìm xao xuyến?
Trở về để nhớ chút xa xôi?
Thuở đó ngày ngày không dám nói
Chung đường, chung lối, chẳng chung đôi
Em trông phố thị lùa qua mắt
Tôi chất tương tư một chỗ ngồi
Xe tới, xe lui, xe bùi ngùi
Khó gì một tiếng yêu mà thôi
Nên đành cuộn xoáy hồn lăn bánh
Nhựa tối những lời thẹn dấu môi
Bây giờ em đến chờ ta đấy?
Ðời lắm phong ba, lưỡi chữa dầy
Xin em hãy nhìn ta thật kỹ
Ðọc hết cõi lòng tan tác đây...
Trời ơi! ánh loé nào kinh khiếp
Trói chặt ngón tay cuộc thiếu thừa
Hay là thắt cổ hồn ta chết
Một bước sang ngang , lạnh chưa vừa
Thôi! mượn chuyến này làm tống biệt
Ðám táng linh hồn lặng lẽ đưa
Hàn Trân
PHỐ MÙA THU
Se lạnh chiều hôm thân nương náu
Chợt biết thu về qua ngõ sâu
Bâng quơ xác lá rơi thật thấp
Âm thầm lăn lóc giữa phong sương
Vạt nắng già ngủ bên lề cỏ
Lơ là chiếc bóng loãng màu hoen
Chập chờn mây tím giăng cùng khắp
Tịch mịch lòng ai đón thu vào
Lạnh lùng chân bước không định hướng
Phố vắng thêm hoang nét mỏi rời
Xiêu vẹo lầu cao cư xá thấp
Rong rêu chập chùng trong mắt cay
Vườn cũ người xa cây hoang phế
Tượng buồn khóc mếu giữa đìu hiu
Từng băng ghế đá phơi bạc thết
Run rẫy mỗi khi gió trở nguồn
Vài con chốt nhỏ tung bụi vấn
Lõa lồ hạt cát trốn loanh quanh
Lộ dấu chân quen bao rạn vỡ
Nằm chờ năm tháng phủi mòn tay
Lạc lỏng lần theo hương man mác
Một vùng nghi ngút cõi trần ai
Ẩn hiện đâu đây hình bóng cũ
Tóc rối chiều thu vẫn mộng thường
Mặc trầm ký ức tim tê tái
Nửa kiếp phù du lắm rụng rời
Nhiệm mầu một thưở như vẫn mãi
Giữa phố mùa thu vời vợi tìm.
Thụy Phong
(Mùa Thu 1997)
LIFE
In the memory of my dear medical ethics Professor!
Last month he just taught me about the death
This morning I heard the news he passed away!
How cruel and how heartless is the fate!
Knocked him down no message beforehand!
I still remember clearly his jokings
He teased everyone, he teased everything
Those times I felt very amused and laught
Why now they makes me be crying?
Life is too difficult to be explained
And human life is too fragile to be maintained
Look at the dark sky this night I ask
Do we live this life as a try in vain?
Trương Trọng Hoàng
16/03/97
THÔNG ÐIỆP CỦA THƠ
Hơn ai hết, thi nhân là người cảm thức sâu xa những thống khổ nhức nhối của cuộc tồn sinh, và truyền đạt cho ta chân lý đầu tiên của Phật qua muôn vàn sắc thái, bằng những vần điệu bất hủ như chính sự vô thường, khổ, như chính cuộc đời.
Ta là ai, từ đâu đến, sinh ra để làm gì... nỗi khắc khoải ấy không ngừng trở lại trong tâm hồn thi nhân:
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Ðộc đương nhiên nhi lệ hạ
Trần Tử Ngang
Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa đến
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ
Nhất Hạnh dịch
Nỗi khắc khoải ấy biến thành một niềm nhớ mông lung, một tình hoài hương, cái quê hương mà ta không biết. Ðó là tâm trạng ta bắt gặp từ thuở bé, sau mỗi trưa ngủ dậy, bỗng dưng òa khóc không duyên cớ. Ta có cảm giác như đã đánh mất đi một cái gì mà ta đã quên bẵng mặt mày. Ðó dường như là một tiền kiếp xa xăm ta vừa quên vừa nh Lớn lên, đó là nỗi sầu vơ vẩn, không đối tượng mà thi nhân gọi là "nỗi sầu thế kỷ" (mal du siècle) khiến người phàm tục xem họ là kẻ than mây khóc gió, không ốm mà rên. Song kỳ thực, đó là dấu hiệu thức tỉnh của những con người hiếm hoi chưa bị ô nhiễm bởi cuộc túy sinh mộng tử (sống say chết mộng). Tâm trạng khắc khoải này trở thành một nỗi đau mãnh liệt, một khoảng trống rợn người:
Nửa đời bỏ lạc thâu canh
Nửa linh hồn bỏ nước xanh lên bờ
Khổ đau về chẳng hẹn giờ
Hoang liêu phố rộng bước hờ hững đi
Bùi Giáng- Mưa Nguồn
Khoảng trống này là một thử thách gay go với người độc cư lâu năm chầy tháng. Khi tất cả đều được bỏ sau lưng, người độc cư đối diện với hư vô vây bủa, và dần dần thấy rằng chỉ có cái Không đó là thực, gần như sờ mó được, nhưng lại không thể nào chịu đựng:
Sau lưng, trước mặt, hư không một trời
Tuệ Ðăng
Cảm giác đau khổ vì khoảng trống đó là một loại ma ngũ ấm, nghĩa là một thứ phiền não phát sinh từ cái thân ngũ uẩn. Nó không do cảnh ngoài, không có đối tượng rõ rệt, nhưng nó bao trùm khắp cả, hiện diện khắp nơi, làm cho hành giả có thể phát điên lên được. Có thể diễn tả nỗi sầu ấy như nỗi "sầu tình" của Nguyễn Công Trứ:
Sầu ai lấp cả vòm trời
. . . . . .
Giống ở đâu vô ảnh vô hình
Khiến ngẩn ngẩn ngơ ngơ đủ chứng
Hay như nỗi hoang liêu trong Mưa Nguồn:
Sầu thiên cổ chợt về trên nước đạo
Có lúc nỗi sầu ấy trở nên thác loạn:
Trung tâm trái đất ruột rà rối tung
Ðó là một nỗi sầu to rộng như của đất trời:
Ðất với trời chung một nghĩa bơ vơ
Vũ Hoàng Chương cũng diễn tả cái "thành sầu chất ngất" ấy trong Thơ Say:
Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu không sụp đổ
Nỗi sầu không tên tuổi, nỗi hoài hương tiền kiếp ấy mãi theo chân con người suốt cuộc tồn sinh mỗi lúc tàn canh tỉnh rượu:
Rồi tôi lớn đi vào đời chân bước
Cỏ mùa xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu? Xưa chính đã chỗ này
Mưa Nguồn
"Cỏ mùa xuân" ấy phải chăng là Phật tính nguyên sơ, bản lai diện mục, viên bảo châu vô giá mà tên cùng tử là ta đã lỡ đánh mất tự bao giờ. Phải chăng đó là một nửa linh hồn của ta đã bị bỏ lại trong nước xanh, khi ta bước lên bờ kiếp sống lãng du đau khổ, để rồi thỉnh thoảng "giật mình lại nghĩ thương mình xót xa", để chợt có lúc đang đi bỗng dừng bước tự hỏi: ta đi đâu bây gi Và một cảm giác cô đơn vô hạn bỗng trào dâng: Cô độc là gì còn nên nói
Vui là vui gượng với tri âm
. . .
Mắt xin khép vì nghe buồn bước tới
Từ bốn bên gió đẩy lại hoang liêu
Mưa Nguồn
Giữa vũ trụ bao la, mỗi con người là một dấu chân lạc đà bé bỏng trên sa mạc đã quên mất đường về chốn cũ:
Người đã định một lần thôi để hỏng
Ðường vu vơ về chốn cũ trăm năm
Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm
Mưa Nguồn
Dù người ta có tìm cách lãng khuây trong men rượu, cuộc tình, "Nó" vẫn thỉnh thoảng xuất hiện:
Hai người, nhưng chẳng bớt cô đơn
Xuân Diệu
Dập dìu bên liễu chùng buông
Tình chưa thoảng chợt, tiếng buồn lại dâng
Mưa Nguồn
Làm sao khuây khỏa được, khi ta đã đánh mất đi một nửa linh hồn trong nước xanh để bước lên bờ đau khổ. Trong khổ làm gì tìm thấy được hân hoan, Niết bàn thật sự. Phật đã dạy: "Ðời khổ thì thật là khổ, không thể làm cho vui lên" (Kinh Di Giáo). Quả vậy, cái vui của ta cũng chỉ là trá hình của đau khổ, là mặt trái của đau khổ:
Tìm trong đau đớn có hân hoan?
Lạnh giá hay không giấc mộng vàng?
Mưa Nguồn
Dù mộng có vàng son cách mấy thì cũng chỉ là mộng, vô cùng băng giá, và không thể tìm trong đau đớn mà có nỗi hân hoan. Cho nên thi nhân vẫn ôm mối hận không bao giờ thỏa mãn:
Trời đất lạnh và lòng anh không thỏa
Gởi hồn đi phương hướng hút heo ngàn
Hồn ngơ ngác loay hoay về hỏi dạ
Có bao giờ dạ thỏa giữa không gian
(Mưa Nguồn)
Giữa cảnh xuân về rộn ràng oanh với yến, thi nhân cũng không thể quên nỗi sầu vạn đại, nỗi mất mát khôn khuây vì "nửa linh hồn" đã "bỏ nước xanh lên bờ":
Lệ đã chảy ròng ròng rớt xuống
Với xuân về oanh yến rộn bên tai
Em quốc sắc em thiên hương đã uổng
Làm sao khuây khỏa hận thiên tài
(Mưa Nguồn)
Làm sao không đau khổ khi thấy rõ rằng tất cả chỉ là sương với bóng, ảo và mộng: Sương với bóng bay về trên cỏ nội
Bủa mịt mờ ảo mộng lạnh bốn bên
(Mưa Nguồn)
Ðó là một nỗi ray rứt khó chịu, khi mọi vẻ đẹp của cuộc đời đều mong manh hư ảo, càng đẹp càng như là không thật có, và càng mau tuột khỏi tầm tay. Hạnh phúc bao giờ cũng mơ màng như sắc như không, như vang như bóng, luôn luôn mang theo nó- như trái cây mang hột giống-bóng tối của đau khổ và huyễn mộng:
Chiều bên lá lung lay vàng cửa khép
Bóng trời sa trùm tiếng phủ em cười
(Mưa Nguồn)
Làm sao không đau đớn khi ta phải sống mà không biết tí gì về chính mình, về ngọn nguồn của sống chết, của khổ đau và hạnh phúc:
Trời, thuở đó ngần nào em khổ sở
Khóc khi nhìn gió thổi nước sương buông
Tìm xa vắng bên kia bờ đổ vỡ
Dòng sông đâu em có biết ngọn nguồn?
(Mưa Nguồn)
Ấy vậy mà cuộc đời đâu có để cho ta dừng lại tìm hiểu, hỏi han cho ra lể Nó cứ tiếp tục chảy tuôn, thời gian cuồn cuộn như thác đổ trên đầu ta, để vào một buổi sáng đẹp trời, nhìn vào gương ta bỗng thấy tóc ta đà trắng bạc:
Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
Hựu bất kiếncao đường minh cảnh bị bạch phát
Triêu như thanh y, mộ thành tuyết?
( Lý Bạch)
Không tránh khỏi cái lúc ta phải dừng lại ngạc nhiên tự hỏi:
Ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy
Ðời chúng ta là mấy trăng tròn
(Mưa Nguồn)
Và đau khổ chợt thấy:
Ô thiều quang tan biến vội sao mà
(Mưa Nguồn)
Trong dòng sống vô thường ấy, từ vật chất đến linh hồn, thân và tâm, cảnh và người, không lúc nào dừng trụ. Ðây chính là hành khổ trong giáo lý Phật. Mọi sự tuôn chảy như thác lũ, từ cuộc dâu bể của cảnh vật:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Ðêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
(Tú Xương)
đến cuộc dâu bể của nội tâm,"không bao giờ ta gặp lại tâm hồn ta chiều nay" (Nous n'aurons jamais plus notre âme de ce soir):
Em ngó buổi chiều buồn có phải
Buồn cũng như buồn những buổi chiều xưa
(Mưa Nguồn)
Tuổi trẻ đi qua không bao giờ trở lại:
Những nhịp bước bên đường còn dội mãi
Vang về đâu không vọng lại hồi âm
. . .
Tóc xanh kỳ hẹn sai ngày
Khóc ngang ngửa mộng canh dài mấy phen
(Mưa Nguồn)
Kỳ hẹn dù có đúng ngày đi nữa cũng thành sai, bởi vì tới đó tóc xanh đã trở màu, và mộng hóa ra ngang ngửa làm cho thi nhân phải khóc:
Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai
(Mưa Nguồn)
Nẻo mộng cứ sai hoài, là vì "ngày theo tiếng thưong không tiếng gọi", vì thời gian không chờ tuổi trẻ, vì "hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình" và:
Xuân xanh xô cổng chạy dài
Bỏ sương tuyết phủ phượng đài phía sau
. . .
Ô vạn vật vẫn chờ nguồn nước lũ
Tự ngàn năm tuôn dạo tự khe rừng
(Mưa Nguồn)
Cuộc đời đã là mộng huyễn, 'đất trích chiêm bao' thì cuộc tình cũng chỉ là huyễn mộng, "yêu nhau là hẹn sai giờ ngó nhau". Quả vậy, không thể có tình yêu (theo nghĩa hẹp) khi con người quá tỉnh giác bén nhạy trước cái mong manh hư ảo của cuộc đời, vì vừa nhìn nhau một cái thì "mộng đã bước vào trong mơ": giây phút hiện tại đã là mộng (vì không dừng trú), mà mộng đó đang trôi qua, tiếp tục trôi mãi, rốt lại cuộc đời chỉ là mộng tiếp theo mơ... Sở dĩ con người mê sắc là vì không thấy đúng như thật, trông gà hóa cuốc, thấy bụi thành ra mây, và vì hẹn sai giờ ngó, nếu ngó đúng thời nghĩa là vào cái lúc hoa tàn nhụy rữa, thì khó mà mê cho nổi:
Nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ
Bụi bay là áng mây mờ
Yêu nhau là hẹn sai giờ ngó nhau
(Mưa Nguồn)
Bên cạnh nổi thống khổ vì tính chất mộng ảo vô thường, còn có nỗi hoại khổ của tử biệt sinh ly, của sự "nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương" vốn là đề tài cho bao thiên trường hận ca bất hủ của loài người kim cổ:
Thiên trường địa cửu hữu thời tận
Thử hận mang mang vô tuyệt kỳ
(Trường hận ca)
Ðó là cái hận khi:
Một tiếng nói một nụ cười chợt tắt
Hết mấy phen buồn trở lại bên đời
(Mưa Nguồn)
Ðó là nỗi khổ của cảnh:
Ðầu mùa trăng rạng tỏ
Hoa bướm vội tan lìa
(Mưa Nguồn)
Và của cảnh:
Em chết bên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
(Bờ Lúa)
Trước nỗi đời thê thảm vì tất cả đều tuột khỏi tay ta: tuổi trẻ, hạnh phúc, sắc màu, bóng dáng... thi nhân phản ứng bằng một cuộc sống vội vàng vì biết rõ:
Một phút nữa thôi
Và màu sẽ mất
Suối sẽ xa đồi
Như mây xa đất
(Màu thiên thanh mở)
Vì biết rõ "Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại, tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu" nên thi nhân yêu đời say đắm:
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
(Phụng Hiến)
Nhưng càng yêu đời thì càng thấm thía nỗi khổ của sự chết chóc:
Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với ngươi thôi
Ta chết lặng bó tay đầu lắc
Ðài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi
(Phụng Hiến)
Cái chết rút về số không tất cả mọi nỗ lực của con người. Nó là vố đấm chí tử cuối cùng của khổ đế, làm cho câu hỏi về bí ẩn của cuộc đời chẳng bao giờ được trả lời thỏa đáng:
Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm
Em ngó mãi những chiều về trở lại
Mang được gì về trong cõi trăm năm
(Chiều)
Mang được những gì về, nếu không là cái Không lớn rộng?
Cảm thụ sâu xa tính chất vô thường, khổ, không của cuộc đời, thi nhân tìm lối thoát ra khỏi tuyệt vọng. Lối thoát đó trước nhất và cuối cùng đối với họ là nghệ thuật, là thơ. Khi ti sĩ thở than về nỗi mất mát của tuổi trẻ, hạnh phúc, của chính sự sống, Cuộc Ðời bèn an ủi họ rằng không nên tuyệt vọng:
Em bảo rằng: đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thắm lại với trời hồng
(Phụng Hiến)
Nghệ thuật và thi ca sẽ có thể diễn đạt tất cả nỗi đau khổ phù du mộng ảo của kiếp nhân sinh. Với thi ca cái đó sẽ thường được làm cho trường cửu, cái chết và nỗi khổ sẽ trở thành bất t Khổ không còn là khổ khi nó trở thành đối tượng khách quan của nghệ thuật. Muôn đời người ca kỹ bến Tầm Dương vẫn còn đang gảy khúc Tỳ Bà, chiếc áo xanh của quan Tư Mã đất Giang Châu cho đến ngày nay vẫn chưa ráo lệ. Ngày xưa người chinh phụ bẻ cành liễu tiễn chồng, thì ngày nay sự biệt ly ấy vẫn còn tiếp diễn dù cảnh và người có khác. Cái cảnh đời phù du, hạnh phúc chóng tàn cũng vậy, không bao giờ thay đổi:
Người kỹ nữ ngày xưa trên bến nước
Sẽ đi về trong bóng nguyệt quanh năm
Và sẽ nhắc với đời em chuyện trước
Vòm nguyên tiêu rơi rụng giữa trăng rằm
(Về giữa ngọ)
Vũ trụ như một sân khấu tái diễn mãi hoài một tấn tuồng, dù diễn viên có thay đổi theo từng thế hệ:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
(Mai sau em về)
Hỏi tức là đã trả lời: không có chi khác lạ, vẫn cảnh phồn hoa phố thị với những cuộc tình ngang ngửa. Càn khôn vũ trụ ngày xưa là của riên của những "chàng chàng thiếp thiếp" thì bây giờ "đón bước em xinh" của thế hệ kịch sĩ mới tái diễn màn kịch cũ:
Ðây phồn hoa của thị thành
Ðây hồn thu thảo khóc tình ngửa ngang
(Mai sau em về)
Thi nhân chỉ hỏi nhỏ một câu:
Sầu đau nhan sắc bất bình ra sao?
(Mai sau em về)
mặc dù đã biết rằng:
Ngày sau chỗ ấy
Mây mù quyến rũ trăng sương
Em về sẽ thấy
Mông lung sầu mộng gái buồn
(Gái buồn)
Cảnh hợp tan, tan rồi hợp vẫn tiếp diễn mãi hoài bao lâu còn sự sống, cũng như bốn mùa vẫn luân chuyển bao lâu vũ trụ xoay vần. Ðó là sự Vĩnh Viễn Trở Về của mọi sự:
Ðầu xuân dậy thiết tha vang hưởng của
Tiếng thu trưng trong điệp khúc mai sau
(Về giữa ngọ)
Vì vĩnh viễn trở về, nên ly biệt cũng sẽ là trùng ngộ:
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu nguyên xuân
(Chào nguyên xuân)
Cuộc tồn sinh vốn đã là "đất trích chiêm bao" thì hãy cứ thong dong mà sống và chết, đừng ngại chi cái cảnh lên thác xuống ghềnh:
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh
(Phụng Hiến)
Ðó cũng chính là lý do khiến Bồ tát không sợ sinh tử - vì sinh tử như huyễn mộng- và có thể dấn thân vào cuộc đời dưới bất cứ hình thức hóa sinh nào:
Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây
(Chào nguyên xuân)
Sở dĩ con người đau khổ là vì không chịu sống giản dị như bông huệ ngoài đồng, như thiên nhiên hay loài vật:
Con kiến bé có bao giờ lận đận
Lúc đi về trong cổ lục chiêm bao
(Trò chuyện)
Trong miền "đất trích chiêm bao", không những đau khổ trở về, mà mùa xuân cũng trở về với cây xanh lá, dù tóc xanh có phai màu:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trươc miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
(Chào nguyên xuân)
Mọi sự của cuộc đời sẽ tái diễn điệp khúc y hệt: vô thường, khổ, không... cũng như chim vẫn cứ bay quanh từ vạn kỷ. Trực nhận được lẽ đó thì không còn thác loạn điêu đứng vì nỗi dâu biển trong cuộc tồn sinh. Hãy để cho cơn buồn bay qua như giấc mộng, như bóng chiều, bởi lẽ tất cả đều là mộng huyễn, và giấc mộng cuối cùng cũng như giấc mộng nguyên sơ không khác gì cả:
Tuổi thơ em có buồn chiều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua
Bể dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh
(Áo xanh)
Kỳ thực ta có mất mát gì đâu, vì tuyệt đối ta không có gì để mất. Ta thường đau khổ vì cái Không, mà không biết nó chính là quê hương của ta, nghĩa là của một cái Không vốn tịch mịch từ vạn kỷ. Không trở về Không là sự trở về sơ nguyên mộng, là sực tỉnh từ cơn trường mộng dâu bể đa đoan:
Tôi thấy người mừng rỡ xiết bao
Trời xanh hơn lá ở trên cao
Con chim nhảy nhót bên cành nhánh
Người nắm tay tôi rủ bước vào
(Người về)
Người là ai thế? Phải chăng đó là bản lai diện mục của ta, là hồn sơ nguyên mộng, là cái Ta bất khả hủy diệt có trước cả đất trời, vượt ngoài tất cả trần gian khổ lụy, là nơi trú ẩn vững chắc nhất: "Ngươi hãy là một hòn đảo cho chính ngươi" (Kinh Pháp cú). Thấy được Người, thì vạn vật bỗng trở nên mới mẻ, trời thêm xanh, chim chóc cũng vui mừng nhảy nhót. Người rủ ta bước và thế giới của Người, nghĩa là thế giới của Không tịch, của Pháp giới tánh bát ngát nguyên vẹn như rừng xanh:
Ngôi nhà người dựng giữa rừng xanh
Cửa gió bằng cây có nhánh cành
Ðể khép sơ sơ và cũng để
Mở mời anh chị bước vào nhanh
(Người về)
Người, cái Ta nguyên vẹn vô thủy vô chung, vốn rất gần ta mà ta không hay không biết, cũng như Niết bàn vẫn ở khắp nơi mà ta không hề gặp được. 'Rừng xanh' đây tượng trưng cho cái Tâm hồn nhiên tươi sáng của thuở 'tình chưa biến động' chưa đau khổ vì cuộc bể dâu. Nó vừa ở trong gang tấc mà cũng vừa cách mấy trùng quan san, do nghiệp lực của ta nhìn thấy. Ta có thể bước vào nhanh trong rừng đó nếu muốn. Rừng ấy vốn là quê hương của ta, nhưng vì mãi theo đuổi những sắc màu huyễn hoặc, ta quên mất đường về, đến nỗi khi chợt về lại trong rừng, thì ta ngỡ mình đã đi lạc vào một nơi xa lạ:
Hôm nay tôi kiếm củi trong rừng
Lạc mất đường về chợt bỗng dưng
Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm
Là quê thân thiết biết bao chừng
(Người về)
Ngôi rừng, cõi Không, cõi Hoang sơ bát ngát vốn là quê hương ta, mà ta lại sợ hãi, vì từ vô lượng kiếp, ta đã bỏ nó để đi tìm những cái Có không ra gì, những cái Có đau khổ phù du. Ðến khi gặp lại nó thì ta lại tưởng mình đi lạc, đâu ngờ rằng ta đi lạc đã từ lâu, nay mới đúng lúc gặp đường về. Do "bối giác hiệp trần" (quay lưng với giác ngộ mà chạy theo cát bụi), ta đã nhận giả làm thật, đến nỗi khi gặp cái thật- cái Không bao la, hồn 'sơ nguyên mộng' - thì ta lại sợ hãi chạy trốn. Ðó phải chăng là nguồn gốc mọi khổ đau của con người, nhất là của thi nhân, những người có cảm thụ bén nhạy nhất trước những sắc màu âm thanh hình ảnh giả dối của trần gian vũ trụ.
Thích Trí Hải
Rớt Xuống Ðời Nhau
Tình yêu đầu đời bao giờ cũng là niềm rung cảm tận cùng và nguyên sơ. Tôi đã bao năm xa cách Hoa. Ðếm làm gì nữa những kỷ niệm tuyệt vời đó. Long lanh và rực rỡ. Nhớ không Hoa, ngày nào hai đứa mình quen nhau em nhỉ. Ngôi trường Nữ của em xơ xác và bụi bặm. Chả bù với trường của anh. Mấy ông Võ Tánh, dân võ biền thì lại được đãi ngộ lạ lùng. Hai hàng cây sao ôm bóng suốt đường Bá Ða Lộc. Tình ơi là tình! Chỉ dăm bước là tới biển. Bãi cát trắng xóa, tuyệt vời. Hàng thùy dương lả ngọn xanh đưa. Sóng vồn, sóng vỗ. Hai đứa mình đã nô đùa như thế. Và bắt đầu như những ngày cuối năm dương lịch. Năm nào Hoa nhỉ? Ðâu cần thiết phải nhớ rõ năm nào! Bước đến người thương và thương thêm người đến. Ôi em đã thẹn thùng không dám gặp tôi để tỏ lời tâm sự. Em đã gặp tôi rồi cơ mà. Tôi thì bận rộn lo cho ban văn nghệ trường chuẩn bị cho kỳ tranh đua cấp tỉnh. Không phải chỉ có Nha Trang còn có các trường từ các quận như Diên Khánh, Ninh Hòa... Hoa lấp ló thế nào tôi chẳng rõ. Phương đã bạo dạn đến gặp tôi và nhắn nhủ. Hoa muốn gặp anh. Hoa là ai? Anh cứ đến trường Nữ sẽ biết...
Tôi đã lẩn thẩn bước qua trường Nữ. Hoa đứng đó. Trọn vẹn. Ngập ngừng. Hoa có quà gửi đến anh. Bồi hồi và ngơ ngẩn. Ơ sao lại là tôi! Tôi kêu thầm như thế. Quá đỗi bất ngờ. Mới ngày hôm qua, Niên, người bạn cùng lớp và đồng thời là người đệm đàn cho ban hợp xướng, đã tâm sự với tôi là Niên thích Hoa lắm. Còn tôi? Ðâu dám biết đến ai... Tôi chỉ quanh quẩn bạn bè đồng lớp. Không phải vì nhát đâu. Nhưng vì... năm trước đó. Cái mùa hè mệnh danh đỏ lửa đã cuốn lôi biết bao bạn bè của tôi ra khỏi trường, khỏi lớp. Này Minh, này Mến, này Tường... đã thôi cắp sách đến trường, theo dòng sinh mệnh của đất nước ra đi. Tôi buồn quá thể, đã đăng vào không quân nhưng ông cụ ở nhà đã lôi tôi về vì hai người anh đã ở trong quân đội rồi. Thôi thế thì học hành tiếp vậy. Cái lớp mười hai năm ấy, với tôi, rất là buồn thảm. Nguyên suốt mùa hè, tôi đã đốc thúc anh em bạn học chung sức với trường lo cho người tản cư từ tuyến đầu Quảng Trị vào tá túc. Ôi sao buồn cái đám người tự xưng là đánh Mỹ cứu nước. Ðánh ai? Chỉ thấy người dân Quảng Trị, vốn đã nghèo lại càng xác xơ thêm. Ðất đã cày lên sỏi đá giờ thì cũng không có đất mà dung thân! Tôi ngao ngán cho những người dân vô tội. Cha tôi đã từng tham gia kháng Pháp, cuối cùng cũng phải trốn qua Tàu bởi vì đám người quỷ đỏ đó. Chúng đã lôi những đồng chí Ðại Việt của cụ ra bờ sông thanh toán. Ðến phiên cụ, chúng bảo để ngày hôm sau, mong cụ sợ mà về với chúng. Về với đám quỷ đó sao? Cụ đã lẩn trốn sang Tàu và nương náu bao năm trời rồi mới về lại. Tôi bất giác thở dài...
Hoa đã đến với tôi như thế. E ấp đầy mật ngọt. Vâng thì làm quen. Ðời tôi sao lại được ân sủng này vậy? ừ nhỉ để nhớ lại xem sao. Hai đứa đã giẵm nát nhàu bao phố bao phường của Nha Trang hiền hòa. Ðộc Lập cong cong. Duy Tân ngây nắng. Và biển. Gió biển đã nhiều lần thổi tóc Hoa bay bay, quấn lấy tôi. Như những dây tơ lớp lớp. Tôi làm sao quên được những ngày hai đứa ngụp lặn trong nước biển sớm mai khi trời chỉ mới ửng hồng. Thế giới của riêng ta thôi. Vừa mới rời nhau là nhớ lạ lùng. Ray rứt. Lại chạy đến gõ cửa. Khi gặp. Khi không. Nhiều lần Hoa phải lẻn bố đến gặp tôi bởi vì cô nương phải trông tiệm thuốc tây nữa chứ. Bố đánh chết, Hoa đã hớt hải nói với tôi như thế. Tôi chỉ biết trố mắt và lè lưỡi, sợ hại cho Hoa thôi. Khi nào đến tiệm không thấy Hoa nhưng thấy có cậu em là tôi nháy mắt với lũ em để chúng vội thông báo cho chị Hoa. Liều ơi là liều. Bố biết được đánh đòn Hoa chết. Tôi cãi, em lớn rồi chứ bộ! Ngày xưa làm sao bố biết được mẹ em? Hoa ngắt lời tôi. Khác chứ bộ, hai đứa còn đang đi học, còn ăn bám nhà, còn lễ giáo, còn đủ thứ khác nữa...Tôi cười, cố nói thêm. Bộ lễ giáo, bộ còn đi học... là không được gặp nhau chăng? Bộ em là gỗ, anh là đá hả? Ðá còn biết buồn khi đúng tuổi nữa đấy. Hai đứa đã mười bảy rồi chứ bộ, không còn con nít nữa đâu, đúng tuổi rồi đấy cô nương ạ. Có người mới mười ba đã bong bóng vỡ đầy tay rồi mà. Thôi Hoa không tranh luận với anh nữa đâu. Hoa bị đòn làm sao anh thấy được. Tôi câm nín khi nghe Hoa nói đến thế.
Thế mà hai đứa vẫn gặp nhau dài dài. Ðêm đêm đến đón Hoa ở tiệm khi cửa hàng vừa đóng, chở nhau bằng xe đạp ra mãi tận bãi biển. Cát mềm. Sóng rì rào. Mùa xuân. Sóng vỗ ngập hồn. Ðêm nguyệt tận tỏ ngời. Rưng rức. Mùa xuân quá đỗi ngọt ngào. Tháng giêng ngon tuyệt!
Ngày tôi thi xong tú tài hai, chuẩn bị vào Sàigòn lên đại học, Hoa đã tìm đến nhà tôi. Thanh thiên bạch nhật. Ông bà cụ tôi hân hoan đón tiếp. Lần đầu mà được cưng quá chừng. Tôi thấy vui lây. Giọng Huế nhỏ nhẹ. Thưa bác. Hoa nhìn tôi và cười. Tươi như đám cúc trước nhà. Vàng tươi.
Trên đường từ New Hampshire trở về lại Pensylvania , nơi tôi đang sống. Ngày thứ hai đầu tuần, đáng lẽ như thường lệ, giờ này tôi đang ở sở, cặm cụi với công việc thường ngày. Những bài thảo chương của chương trình điện toán thực hiện cho các hãng xưởng ở đây. Việc lúc nào cũng bù đầu. Hết từ chương trình này qua chương trình nọ. Nào là kế toán điện tử, nào là kế hoạch hóa sản xuất với từng giai đoạn sản xuất... Ðã gần hai mươi năm rồi! Không hiểu định mệnh nào đã đưa tôi đến đây. Tôi nhủ thầm như thế. Xa quê hương hơn hai mươi năm trời, vật lộn với đời sống. Ngày tôi qua đây, thân đơn, thân độc. Thế rồi tôi cũng đã lập gia đình với một người đồng hương. Hai đứa cũng cùng học luật ở Sàigòn trước bảy mươi lăm. Ðến cả điện toán tại nơi này, cũng học chung nữa. Tại xứ Mỹ. Rồi người cũng đã bỏ tôi đi. Kiếp tôi là thân cô độc, là gã cô đơn. Tôi nhủ thầm như thế.
Cuối tuần, tôi lái xe đưa các con lên trên vùng New England để chúng có dịp nghỉ xả hơi sau khóa học dài. Cũng tội chúng nó, đã xa mẹ, tôi đâu nỡ không gần gũi với chúng! Kệ. Hy sinh cho chúng nó bớt tủi thân. Còn thân tôi, mặc đất mặc trời. Lái xe đăng đẳng hơn năm trăm dặm đường rồi để xe lại cho lũ con. Tưởng bắt kịp được chuyến xe cuối ngày của chủ nhật để về lại. Không kịp. Thế là làm chuyến trở về muộn màng. Muộn màng như đời tôi.
Mới tuần rồi, giữa "hai công việc", tôi cũng đã nghỉ cả hơn tuần. Buồn, chả có gì làm, ở không thì nghe như lạ mặt với chính mình. L'étranger. Tôi quyết định lái xe lên Montréal, Canada. Mùa đông. Thăm hai người anh chị tinh thần. Ðể xem xứ đất lạnh quạnh vắng thế nào. Người anh tinh thần, thật ra tôi đã quen biết từ khi còn bé xíu, là người bạn rất thân của ông anh tôi.
Mãi sau này, qua cuộc đổi đời, dun rủi một hôm tôi vớ được một tạp chí, đọc một truyện ngắn của anh. Anh này đã dựng truyện chung quanh một người chị của tôi. Tôi đọc ngấu nghiến và sửng sốt. Như những viên bi lạc mất bất ngờ tìm lại được khi còn nhỏ. Từ một nơi không ngờ tới. Lại thêm người chị nữa. Ðôi uyên ương thật đẹp. Ðời thật hiếm hoi hạnh phúc. Nhìn hạnh phúc người, tôi vui lây.
Hai người còn tổ chức ra mắt tôi với một số bằng hữu tại Montréal. Nhà thơ nhạc sĩ. Ôi tôi chỉ lên đường thăm anh chị. Tôi cảm thấy nhột. Dăm ba bài hát để níu kéo cuộc đời. Dăm lời thơ để than thở thân phận. Dù sao thì cũng để đánh dấu những kỷ niệm một thời. Hai mươi năm rồi. Cũng sông cũng núi cũng mong chờ. Giờ đây sông núi, ừ xa thẳm. Và nỗi mong chờ, ôi hắt hiu!
Bao đêm rồi tôi đã tự xoáy lòng mình như thế. Hãy đợi đêm khuya tự hỏi mình. Thơ Bá Dĩnh đấy, như dấy lên từ tâm thức sâu thẳm của tôi. Hay, tôi đi từ cõi xa buồn (nhái theo tinh thần thơ Thủy Trang), bởi vì, cơn gió nào bay qua, bay qua bao chặng đường, bay qua bao nẻo cũ. Tôi đã soạn từ lời thơ Thủy Trang, từ người về mang theo gió đến người về trăm ngọn gió. Thật đấy, trăm ngọn. Ðếm sao hết bao gió bão cuộc đời. Ðếm sao xuể bao bể dâu chồng chất...
Chuyến xe từ New Hampshire đã dừng lại tại Boston. Thành phố đầy người. Những tòa nhà chọc trời xen lẫn với những cơ xưởng cũ kỷ. Nơi tôi đã đến dăm ba bận. Lần mới nhất, thăm người thi sĩ xứ Quảng. Người của thao thức, người xin đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười. Chuyến xe đời trôi nổi cũng thế thôi. Nhớ ra, hai mươi mốt năm thăm thẳm. Xứ người bận rộn liên miên. Còn xứ tôi đã sinh ra và đã bỏ đi? Từ những gông xiềng tù ngục, chúng đang cố gắng đổi bộ mặt, để sống sót, sau bao năm theo bác và đảng, sau bao năm nhận những tên ngoại tộc Stalin, Lenin làm cha làm thầy. Rớt bành bạch. Những kẻ vọng ngoại có bao giờ có chỗ đứng trong lòng dân tộc. Còn tình tự nào hơn cho dân tộc bằng tình tự ca dao. Bằng sáo diều êm ả. Bằng Nguyên Ðán tuyệt vời.
Nguyên Ðán. Tôi nhớ tới Nguyên Ðán năm nào, năm cuối cùng của bậc trung học. Tôi đã cùng Hoa tung tăng khắp phố phường. Pháo nổ hồng bên ngõ tâm tư. Như một buổi trưa nào. Hai giờ học được nghỉ vì thầy không đến dạy. Lang thang cùng bạn bè. Chợt nhìn qua vườn sứ đỏ. Hoa ở đó. E lệ. Thủy cúc của tôi nở vàng tươi. Sũng nước. Một chút trời thơm hương.
Bao giờ tôi trở về quê cũ. Bao giờ nhỉ? Trở về quê cũ để cùng người hân hoan. Hoa ạ. Ðời anh như nắng tắt bên đồi. Những câu thơ của Trần Trung Ðạo như thấm vào lòng tôi. Buổi chiều bắt đầu của đời người ập tới. Giữa đông. Như những cánh đồng đầy tuyết trắng. Suốt dọc đường. Như cơn bão tuyết chập chùng. Hoa ơi, ngày Nguyên Ðán năm sau đó, trở về từ giữa năm học, ngang qua nhà em... Tiệm thuốc tây đóng kín. Tôi đã đi qua như thế liên tiếp bao lần. Cửa vẫn đóng chặt. Lần mò đến tiệm sách của Phương, hỏi nhỏ. Hoa ra sao? Phương nhìn lên. Mắt ướt. Chao ôi, việc gì thế
Hoa. Kỷ niệm như những bông tuyết xứ nầy. Rớt. Rớt.
Rớt xuống đời anh. Lạnh cóng ./.
Nguyễn Ðăng Tuấn
Người Ở Lại
Thu rón rén bước từng bước khi đi qua hành lang phía trước bàn giấy của Ðông. Nàng bước rất nhẹ nhưng Ðông cũng biết, khẽ nhoẻn miệng cười. Thu mỉm cười đáp lễ, hai má đỏ bừng, cảm tưởng như những người xung quanh đang dán mắt vào nàng.
Cái hành lang tầng một đi ngang sở Tín dụng của Sàì-Gòn Ngân Hàng không biết có gì hấp dẫn mà Thu qua, lại mỗi ngày rất thường. Sau ba mươi tháng tư, Sài-Gòn Ngân Hàng sáp nhập vô ngân hàng thành phố HCM, lưu giữ hầu hết nhân viên cũ. Hồi trước, Thu là một nhân viên bình thường. Sau ngày đổi đời, nàng trở thành bí thư của anh Hai Hồng, phó giám đốc ngân hàng thành phố đặc trách bộ phận Sài Gòn Ngân Hàng. Chẳng những làm bí thư cho phó giám đốc, Thu còn phụ trách công đoàn. Do đó nàng tha hồ đi tới đi lui, chẳng ai thắc mắc. Mà làm sao dám thắc mắc khi nghe đâu Thu là thiếu úy Việt cộng nằm vùng, cha nàng là thượng tá tập kết mới về. Nàng còn mẹ. Hai mẹ con đều làm việc trong Sàì-Gòn Ngân Hàng từ khá lâu trước 75.
Trong cái bối cảnh đó của ngân hàng, Ðông là một cấp chỉ huy cũ được chế độ mới lưu dung để thanh lý. Thanh lý ở đây có nghĩa là đi đòi các khoản mà dân chúng nợ ngân hàng trước 75. Còn số tiền dân chúng ký thác trước 75 thì không được "cách mạng" đề cập. Ngay cả số tiền hưu trí của nhân viên cũng bị lờ luôn với lý do lý do "tập đoàn Thiệu Kỳ đã mang tiền theo hết rồi!".
Trước 75, dù làm việc chung nhưng có bao giờ Thu dám gợi sự chú ý của Ðông. Phần Ðông, có thấy Thu thì chắc cũng không bao giờ để ý đến nàng. Lý do giản dị vì Thu không đẹp, mặc dù là gái một con. Chồng nàng, một thiếu úy Cộng Hoà, đã ly dị với nàng trước ngày Cộng sản chiếm miền Nam.
Nhưng sau ba mươi tháng tư, chuyện đời đổi khác. Ðông chỉ là một tên "ngụy", số phận không biết sẽ ra sao. Còn Thu lại thuộc gia đình "cách mạng", tương lai rực rỡ. Thế nhưng, dù thuộc giai cấp mới, Thu vẫn mang trong người những sở thích rất "ngụy", bởi vì nàng cũng sinh ra, trưởng thành và sống trong môi trường miền Nam. Tuy biết Ðông đã có vợ con, nhưng với Thu chuyện ấy có nhằm gì khi nàng đã một lần dang dở. Câu "thà làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé" đúng ra là một câu nói chơi, nhưng nhiều khi cũng là một suy tư có thật. Qua thời "cách mạng", Thu được lột xác, vùng lên, không còn mặc cảm về hoàn cảnh và thân phận của thời đã qua. Cha nàng đã tìm cách giới thiệu cho nàng nhiều người có địa vị và tương lai trong xã hội mới, nhưng nàng vẫn chưa chịu ai. Nàng không sao quên được Ðông, nhất là khi so sánh chàng với những anh Hai, anh Năm nón cối, dép râu quê mùa dai dẳng theo đuổi ve vãn nàng.
Ngày nào, dù có việc cần hay không, nàng cũng qua, lại trước nơi làm việc của Ðông. Lần nào đi ngang qua, nàng cũng rón rén, nhưng không lần nào, hai người không nhìn thấy nhau. Riết rồi Ðông để ý.
Một hôm, tình cờ chạm mặt nhau trong sân giữ xe, Ðông lên tiếng trước:
- Chà cô Thu làm việc thong thả quá nhỉ!
Thu bẽn lẽn:
- Ðâu có đâu, thưa ông giám đốc!
- Thời buổi này mà giám đốc chi cô Thu!
Cả hai cùng cười. Hôm ấy Thu vui lắm. Trước đây, là một nhân viên thường, nàng làm sao có dịp gần gũi chuyện trò với Ðông. Rồi từ đó những buổi chiều tan sở, Thu cố tình ra lấy xe cùng lúc với Ðông. Nhà Ðông ở Thị Nghè, còn Thu ở cư xá Thanh Ða nên cùng đường về. Có điều, Thu đi xe Honda còn Ðông thì "hồ hởi" với chiếc xe đạp.
Một hôm, chờ Ðông đạp xe một quãng, Thu phóng Honda theo sau, trờ tới, đi kè bên cạnh, cười hỏi:
- Muốn kéo không?
Theo phản xạ, Ðông đưa tay trái níu vai Thu. Mấy giây sau, Ðông hơi ngại nhưng đã trễ, chẳng biết làm sao lấy tay ra. Thu phá tan sự yên lặng, khích:
- Níu chặt nghen! Nếu sợ bà xã thấy thì bỏ tay ra cũng không muộn!
Là đàn ông, ai lại sợ lời khích của đàn bà nên Ðông hỏi lại:
- Bộ cô không sợ ông xã hay bà già thấy hay sao?
Thu cười ngặt nghẽo:
- Ông xã thì không có mà bà già thì sao lại sợ!
Thế rồi từ đó, những buổi chiều tan sở Thu Ðông vừa kéo nhau vừa trò chuyện. Lâu ngày, cả hai đều cảm thấy bất tiện vì xe cộ quá nhiều. Thu đề nghị thẳng:
- Muốn tui ngày mai chở đi làm không? Nếu muốn thì chờ ở đầu đường, tui sẽ đi ngang rước cho.
Sau đó, Thu đón Ðông đi làm mỗi ngày. Lúc đầu, Ðông hơi ngại người quen thấy, nhưng nghĩ cho cùng, thời buổi khó khăn, chẳng ai rảnh lo chuyện người khác! Rồi một cách tự nhiên không hẹn trước, việc xưng hô giữa hai người bỗng trở thành trống trỗng, thường thiếu chủ từ. Hôm đó, trưa thứ bảy, trên đường về, Thu gợi ý:
- Ba má về Long Ðiền thăm ngoại, muốn ghé nhà chơi không?
- Ghé thì ghé.
Ðông trả lời không suy nghĩ, và hỏi tiếp:
- Ba làm gì?
Thu thành thật trả lời:
-Ðại tá chánh ủy sư đoàn. Sợ không?
Ðông nhún vai không nói. Khi đến nơi, Ðông mới biết nhà Thu là căn biệt thự của một đại tá miền Nam đã di tản. Dì Bảy, ở với mẹ con Thu từ khi Thu còn nhỏ, chạy ra mở cửa, nhìn Ðông, nở một nụ cười thân thiện:
- Chào cậu Ðông!
Ðông ngạc nhiên, chờ dì Bảy đi xuống sau, hỏi Thu:
-Sao dì Bảy biết tên?
Thu hỏi lại:
-Sao biết bả là dì Bảy?
Ðông vỡ lẽ:
- Thu kể chuyện cho bả nghe?
Thu cười, quay đi không trả lời. Ðông đâu biết trong nhà Thu, dì Bảy là người để Thu tâm sự. Mối tình Thu dành cho Ðông ngang trái quá làm sao nàng dám tâm sự với ai. Chỉ có dì Bảy, bà vú của nàng. Vì thương Thu, dì bảy tự nhiên có cảm tình với Ðông, người xếp trẻ có đôi mắt biết cười:
- Cậu Ðông bảnh trai quá hén, hèn chi...
Bà nhìn Ðông, nói rất tự nhiên. Ðông đỏ mặt vì mắc cỡ mà Thu cũng e thẹn. Nàng gắt: -Dì Bảy này thiệt...
Dì Bảy và Thu mời Ðông ở lại dùng cơm chiều. Ðông nửa muốn nửa không, vì chưa cho vợ hay. Như đoán được lý do, Thu châm chọc:
-Thôi dì ơi, người ta chưa xin phép bà xã, đâu dám ở lại ăn cơm!
Ðông biết là một câu nói khích nhưng vẫn nghe tức. Chàng lên tiếng:
- Cho mượn điện thoại được không?
Thu dẫn chàng vô phòng ngủ của ba mẹ nàng, chỉ điện thoại. Vô tình gió đóng sập cánh cửa lại. Cả hai nhìn nhau. Êm vắng và riêng tư quá! Họ như thuộc về nhau từ giây phút ấy... Cho đến khi bé Hiền gõ cửa phòng gọi, Thu mới giật mình tỉnh mộng. Nàng e thẹn liếc nhìn Ðông nằm trầm ngâm bên cạnh, cố làm ra vẻ tự nhiên:
- Mình ra ăn cơm đi..anh!
Tiếng "anh" nàng nói nghe thật ngọt ngào, tình tứ. Riêng Ðông, một cảm giác ê chề, rã rượi ùa đến. Hối hận vì đã phản bội vợ? Sợ phải sa vào lưới Việt cộng? Không biết, chàng không muốn biết gì cả. Tiếng bé Hiền làm chàng tỉnh lại:
- Bảy kêu má và chú xuống ăn cơm!
Ðông bước ra, xoa đầu Hiền. Chàng chợt nhớ đến đứa con gái đầu lòng cũng trạc tuổi con bé. Hiền đứng yên cho Ðông xoa đầu. Ðông hỏi một cách vô ý thức:
- Ba Hiền đâu?
Hiền ngước lên nhìn mẹ, đưa mắt hỏi. Thu hơi khó chịu:
- Muốn làm ba nó không mà hỏi!
Ðông chợt nhận ra sự vô ý của mình, lí nhí xin lỗi.
Hôm ấy dì Bảy thết Ðông toàn những món đắt tiền, ít ai được ăn trong thời buổi đó. Nhìn chén súp yến thứ dày sớ, vàng óng ánh, Ðông cảm thấy được cái chua chát bùi ngùi của ý nghĩa đổi đời. Ðổi đời, trong một xứ chậm tiến, có lẽ không gì khác hơn là thay đổi về giai tầng xã hội. Ðúng ra, giai tầng không thay đổi, chỉ có nội dung của nó thay đổi mà thôi. Vẫn còn mãi mãi giai cấp giàu sang với tất cả những đặc quyền đặc lợi, và giai cấp nghèo khổ suốt đời thiếu trước hụt sau. Ðiều thay đổi chỉ là một sự hoán vị đột ngột và khôi hài. Ðông suy nghĩ miên man, nuốt thức ăn một cách khổ sở khó khăn. Thu tưởng Ðông mắc cỡ, nói đùa:
- Ăn đi, lớn rồi mà còn mắc cỡ sao?
Hiền cười rộ lên. Dì Bảy cũng cười chúm chím. Ðông nói đỡ:
- Lâu rồi không ăn yến nên nghe lạ!
Hiền và dì Bảy không hiểu ý Ðông, nhưng Thu hiểu. Nàng thừa biết những thứ gia đình nàng đang hưởng chính là những thứ gia đình Ðông đã có trước kia. Ðã hơn hai năm sau ngày "giải phóng". Những dự trữ, tiết kiệm của một gia đình trung lưu bình thường có lẽ cũng đã teo như hy vọng mong manh dành cho một chuyến ra đi. Càng ngày, những cuộc vượt biên càng khó khăn vì mạng lưới công an biên phòng càng được củng cố vững chắc. Hơn ai hết, Thu biết rõ điều đó, cũng như biết rõ khát vọng của Ðông. Nàng khẽ thở dài.
Cuộc tình vụng trộm của Thu và Ðông đi dần vào ngõ cụt. Thu là con duy nhất của một Ðại tá Việt cộng, và chính nàng cũng là cán bộ. Ðông là một "ngụy quyền". Chỉ bấy nhiêu thôi, đã không đường hoà hợp, nói chi đến việc Ðông không hề muốn bỏ vợ con mà Ðông rất yêu thương. Mối tình đó, với Ðông, chỉ là cuộc phiêu lưu nhất thời.
Những cuộc vui bên cạnh Thu không đủ xua đuổi hẳn cái vẻ u hoài, tư lự nơi Ðông. Có khi Thu mắc mỏ:
- Anh sao...lúc nào hồn vía cũng làm như để đâu á...
Hoặc:
- Mượn xài đỡ buồn thôi! Không bắt phải bỏ bả đâu mà lo!
Thu nói gì thì nói, Ðông vẫn không đổi, vẫn giữ nét suy tư khó hiểu.
Về phía mẹ Thu, bà ta cũng đã nghe phong thanh liên hệ giữa con gái bà và Ðông. Một hôm, trong bữa ăn chiều không có ba Thu, mẹ Thu hỏi:
- Con có dính líu tình cảm với thằng ngụy Ðông phải không?
Thu chối biến:
- Làm gì có!
- Chuyện cả ngân hàng ai cũng biết, chỉ mình tao là chưa hay thôi! Thằng ngụy đó có gì hay mà mày ưa nó?
Thu gắt lại:
- Hồi xưa má cũng gọi người ta giám đốc, bây giờ sao cứ hở là ngụy này ngụy nọ!
Mẹ Thu xẳng giọng:
- Chà, chưa chi mày đã binh chằm chặp rồi! Tao gọi ngụy là nhẹ đó! Nó có vợ con rồi mày biết không? Ðừng nói là mày không biết nghe!
Thu ngoe ngoảy bỏ đũa đứng dậy, bước ra lấy xe honda phóng đi. Hiền chạy theo, kêu "mẹ! mẹ!". Dì Bảy cũng hối hả gọi "Thu! Thu!". Mẹ Thu vẫn ngồi yên, bật khóc. Dì Bảy
quay trở lại, lên tiếng:
- Dù gì nó cũng lớn rồi! Nó còn trẻ mà cô độc, bộ không tội cho nó hay sao?
Mẹ Thu hằn học:
-Tội! Tội! Tui tội cho nó thì ai tội cho tui! Ðể nó dan díu với thằng ngụy có vợ mà chị coi được hả?
Dì Bảy thản nhiên:
- Tui thấy đâu có sao! Miễn nó vui là được!
Mẹ Thu than:
- Thiệt tui tức dì cháu chị hết sức! Cũng tại chị cưng nó quá nên nó đâm hư!
Dì Bảy vùng vằng:
- Ðược rồi, ngày mai tui về quê tui ở cho khỏi làm hư người khác!
Nói xong, dì Bảy bỏ vộ phòng riêng nằm khóc. Hiền đứng bên bà ngoại, ngơ ngẩn nhìn hết người nầy đến người khác. Thấy tội nghiệp, mẹ Thu ôm cháu vào lòng, nhớ lại thời Thu còn nhỏ, chồng bà vô bưng, bỏ hai mẹ con côi cút. Một đêm, khoảng hai giờ sáng, Thu bị cảm, lên cơn sốt. Cảnh nhà đơn chiếc, bà lính qua lính quính, chỉ biết ôm con than khóc. Cũng may, ông trung úy hàng xóm tốt bụng, lấy xe jeep chở mẹ con bà đi nhà thương chữa trị. Sau đó bà về quê năn nỉ người chị bà con bạn dì lên ở chung. Từ đó ba người sống chung, thiếu đủ có nhau, cho đến khi Thu lấy chồng, rồi ba Thu lén lút trở vô Nam hoạt động, móc nối với gia đình, kết nạp Thu vô cụm điệp báo kinh tế thành.
Ðêm ấy, khi ba Thu về, mẹ Thu kể lại câu chuyện. Lúc đầu, ông giận lắm, nhưng suy nghĩ kỹ, cảnh đơn chiếc của Thu là do ông, nên ông dịu lại. Số là trước đây, vì công tác, Thu đã phải đi đi về về, giờ giấc bất thường khiến chồng nàng nghi ngờ, sanh ghen. Dĩ nhiên, Thu không thể tiết lộ bí mật với chồng, một phần vì nàng không muốn chồng dính líu vào tổ chức, phần khác, vì chồng nàng là sĩ quan "ngụy". Cuối cùng, vợ chồng Thu chia tay. Nàng rất buồn nhưng không thể làm khác được.
Ba Thu thở dài:
- Ðể từ từ tôi tính. Mà nó đi đâu vậy?
Mẹ Thu đang sốt ruột vì đã gần hai giờ sáng mà Thu chưa về. Bà gắt:
- Cũng tại ông hết! Con không cha thì như vậy đó!
Ðêm đó Thu ghé nhà bạn gái, ngủ lại. Sáng hôm sau nàng nhờ bạn xin phép nghỉ vì mắt nàng sưng húp. Hôm sau nữa, Thu mặc tạm áo quần bạn, vô thẳng sở làm, nhưng lánh mặt mẹ. Tìm gặp Thu vào giờ nghỉ trưa, mẹ Thu năn nỉ:
- Muốn gì thì về nhà tính. Con Hiền khóc suốt ngày hôm qua đó!
Chiều đó, Thu về nhà. Cả nhà ai nấy đều mừng, không dám đá động đến chuyện đã qua.
Mấy tháng sau, chuyện tình Thu Ðông cũng chẳng có gì mới mẻ. Thu thấy Ðông sống gượng gạo, qua ngày, chán nãn bèn tội nghiệp, đề nghị:
- Muốn vượt biên không?
Ðông mở to mắt nhìn Thu, thăm dò. Nàng tiếp:
- Không gạt đâu. Muốn đi thì tui dàn xếp cho đi!
Ðông hỏi:
- Bằng cách nào?
- Quê tôi ở Long điền nên tôi biết nhiều chủ tàu đánh cá lắm. Tôi cung cấp bãi cho họ để đổi một số chỗ trên tàu.
Ðông nghi ngờ:
- Bãi đâu Thu có mà cấp?
- Ðồ khờ, tui không có thì ai có? Bộ không biết tôi làm gì sao?
Ðông hỏi dò:
- Mình đi với ai?
Thu phì cười, hỏi lại:
- Bộ anh muốn đi với bả và mấy đứa nhỏ phải không?
Ðông im lặng. Thu lặng người, hơi mất bình tĩnh nhưng sau khi cân nhắc, nàng quyết định ngay:
- Cho cả nhà anh đi luôn với điều kiện qua bên đó không được bỏ mẹ con tôi. Chịu không?
Ðông đùa:
- Thì sướng chớ sao! Hai vợ là sướng rồi!
Thu quạu:
- Tui không giỡn đâu đó nghe!
Hôm sau, Thu móc nối với tên thượng úy Tất, trước đây là trưởng cụm điệp báo của nàng. Tất vẫn chưa vợ, hiện làm việc cho Công an thành. Lâu rồi không gặp lại Tất, Thu không biết gã còn say mê nàng như dạo trước không. Dù sao, nàng cũng tự tin nơi tài thuyết phục của mình. Hai người hẹn nhau trong một quán ăn. Tất mừng rỡ:
- Thu vẫn khoẻ đấy chứ? Gia đình lúc này thế nào?
- Em vẫn cô đơn anh à! Vẫn một mình ở vậy nuôi con!
- Xạo hoài! Các cô gái Sài gòn là ghê lắm!
Thu mỉm cười, ỡm ờ:
- Em có phải gái Sài Gòn đâu! Em quê Long Ðiền mà!
Tất đắm đuối nhìn sâu vào mắt Thu, rồi như chợt nhớ ra, gặng hỏi:
- Thu đến tìm anh có việc gì thế?
Thu làm ra vẻ thật thà pha chút hờn trách:
- Lâu, nhớ anh, tìm thăm anh không được sao?
Tất sung sướng thấy tự ái được vuốt ve, càng tỏ ra lịch thiệp.
Thu ôn tồn dẩn dụ Tất, chịu đi chơi với hắn cả tuần, rồi sau đó rủ rê vượt biên, hứa sẽ lấy Tất khi đến bờ tự do. Là đảng viên trung kiên, mới đầu, Tất ngần ngừ không chịu, nhưng sau lại đồng ý. Hai người bèn bàn kế hoạch.
Vấn đề là phải tìm được bãi đáp an toàn để đổi một số chỗ trên tàu đem bán, lấy vàng làm vốn. Tất nhận nhiệm vụ đi Long điền liên lạc với Hai Hồng, trưởng công an tại đó, vốn là bạn thân của Tất, để đề nghị chia chác. Thu lo móc nối với chủ tàu. Cuối cùng, tất cả đều đồng ý là chủ tàu lo liệu mọi thứ cho chuyến đi, được mang theo 20 người và phải trả cho tên Hai Hồng 30 cây vàng. Phía Thu được mang theo 15 người. Ngoài Tất, Thu, bé Hiền và gia đình Ðông là tám người, bảy chỗ còn lại bán rẻ cho bảy người bạn thân, lấy chút vàng mang theo làm vốn.
Phần Ðông, chàng cho vợ hay quyết định vượt biên và nói dối là chi phí tốn 15 cây vàng cho cả gia đình 5 người. Vợ chàng dốc hết số vàng dành dụm thì vừa đủ. Ðông mang số vàng ấy giao cho mẹ nhờ cất giùm mà không nói lý do. Chàng tính, nếu đi lọt, số vàng ấy coi như để lại cho ba mẹ chàng, nếu không lọt, sẽ lấy lại chi dùng.
Ðến ngày đã định, Thu ngụy tạo một số giấy di chuyển do ngân hàng cấp cho gia đình Ðông đi Long điền thăm bà con. Gia đình Ðông được nàng giới thiệu với Tất như những người mua chỗ trên tàu vượt biên. Tất hướng dẫn gia đình Ðông. Phần Thu, dẫn những người còn lại đi thành một toán thác. Khi cả đoàn xuống đến Long điền đầy đủ, người của chủ tàu đón vô tạm trú trong ngôi nhà do Hai Hồng thu xếp.
Ðêm đó không trăng nhưng ánh sao trên cao cũng đủ cho thế gian một chút ánh sáng lờ mờ. Hai giờ rưỡi sáng có lệnh bắt đầu ra đi. Ðông cõng đứa con nhỏ nhất, một tay dắt đứa con giữa. Vợ Ðông nắm tay đứa con đầu lòng theo sau, đi lẫn vào trong đoàn người từ Sài Gòn xuống, hướng dẫn bởi cậu con trai của chủ tàu. Thu đi sau cùng. Bé Hiền được một người lớn cõng. Tất đã đi trước từ lâu. Ðoàn người lầm lũi đi. Lũ con nít như cũng cảm thấy sự nghiêm trọng nên cũng nín khe. Ðông chốc chốc quay đầu nhìn lại vợ con khuyến khích.
Khi đoàn người còn cách bãi biển chừng 500 thước, Thu cho lệnh ngừng lại và ngồi xuống. Từng cơn gió biển thổi lạnh buốt. Không một tiếng động nào ngoài tiếng sóng rì rào và tiếng côn trùng rả rích. Từ xa, có ánh đèn pin chớp nháy ba lần, ra hiệu. Thu cho đoàn người đứng dậy, tiến thẳng ra bãi. Cách bờ chừng năm, sáu thước, một chiếc tàu nhỏ đợi sẵn. Mực nước biển giấc khuya đã bắt đầu thấp. Ðông cõng đứa con nhỏ, lội xuống nước đi về phía tàu. Ðặt đứa bé lên tàu xong, Ðông quay lại cõng tiếp đứa thứ hai, rồi thứ ba. Vợ Ðông vẫn đứng chờ trên bãi. Bên cạnh, Thu nắm chặt tay bé Hiền. Giữa lúc ấy, có tiếng quát:
- Tất cả đứng im! Không được cử động!
Ðoàn người chạy tán loạn về phía tàu. Ðông chụp tay vợ, kéo vội xuống nước. Tiếng quát lần này lớn hơn:
- Tất cả đứng im!
Giữa lúc ấy, Thu la to:
- Cái gì vậy, anh Tất?
- Bắt tất cả bọn phản động lại!
Khi đó, Thu mới vỡ lẽ là đã bị Tất và Hai Hồng gài. Tất trấn an:
- Ðồng chí Thu đừng sợ! Chúng ta chỉ bắt tụi ngụy thôi! Bố của đồng chí đã được báo cáo, đang đứng đàng sau đây!
Thu xoay đầu, thấy ba nàng đứng cách nàng không xa lắm, giữa sáu, bảy tên cận vệ, tên nào cũng ghìm AK. Thu tức muốn phát khóc, nhưng nàng trấn tĩnh ngay, tính toán khẩn cấp. Nàng biết mẹ con nàng chắc chắn không thể ra đi được nữa. Nhưng còn những người khác thì sao? Còn gia đình Ðông? Nàng không sợ Ðông hiểu lầm là nàng đã bán đứng chàng, nhưng thật tình nàng không đành lòng thấy Ðông lâm vào cảnh tù tội. Nàng hít một hơi dài đầy buồng phổi, la lên:
- Tất cả đứng im, không được nổ súng!
Rồi Thu quay về phía ba nàng, giọng pha chút tình cảm:
- Ba đến đây làm gì vậy ba?
- Ðem con và bé Hiền về. Ba nàng trả lời cộc lốc.
Thu quay sang Tất:
- Anh đã hứa với người ta, đã lấy vàng của người ta, sao lại làm vậy?
Tất cười lớn như chế giễu:
- Nếu tôi không hứa, làm sao bắt được bọn phản động này?
Bọn này chẳng những tráo trở mà còn tham lam độc ác nữa. Thu nghĩ có lẽ Tất và Hai Hồng muốn lấy luôn số vàng của chủ tàu mang theo.
Bất thình lình, Hai Hồng lớn tiếng, ra lệnh:
- Tất cả mọi người trên tàu xuống trở vô bờ hết, không sẽ bắn bỏ!
Không chần chờ, Thu la lớn:
- Ðừng xuống! Ðừng xuống! Mọi người cứ tiếp tục ra đi, nhanh lên!
Hai Hồng xoay qua phía Thu:
- Ðồng chí muốn chống lại cách mạng?
Thu rút cây súng lục giấu trong người ra, bắn một phát lên trời, quay về phía ba nàng, nói lớn:
- Con và Hiền sẽ ở lại, nhưng nếu ba cản không cho tàu ra khơi, con sẽ chết nơi đây!
Tất và Hai Hồng đồng thanh la lớn:
- Các đồng chí hãy bắt luôn đồng chí Thu!
Ba Thu từ nãy giờ yên lặng, bỗng lên tiếng:
- Các đồng chí đứng yên tại chỗ!
Rồi quay sang Thu, ông nói như năn nỉ:
- Sao con lại làm như vậy?
Thu làm như không nghe lời ba nàng hỏi, chĩa thẳng súng vô thái dương Hiền, lên cò, hướng về phía ba nàng, gằn từng tiếng một:
- Ba đừng ép con! Nếu phải chết, con sẽ cho Hiền chết trước để ba được toại nguyện!
Tiếng Hiền khóc ré lên:
- Má! Con không chịu chết đâu! Ngoại! Ngoại!
Ba Thu quýnh lên:
- Ðừng làm bậy! Ðể từ từ tính!...
Thu vừa khóc vừa nói:
- Ba thừa biết là con đã hy sinh hạnh phúc riêng tư như thế nào cho ba, cho cách mạng. Ðược rồi, kể như ba không có đứa con bất hiếu nầy!
Ba Thu bối rối, tìm cách trì hoãn:
- Ðừng hấp tấp, con! Từ từ rồi ba tính cho!
Thu vẫn làm như không nghe, quay sang phiá chiếc tàu đang nổ máy, la lớn:
- Cho tàu ra khơi đi, mau lên!
Tất và Hai Hồng cùng bốn tên công an bất chợt chạy về phía Thu, định cướp súng. Một tràng đạn AK nổ dòn, xoáy sâu vào cát trước mặt bọn Tất làm cả bọn vội dừng lại. Ba Thu quát lên, ra lệnh:
- Ðứng lại! Các đồng chí không được địng đến con và cháu tôi!
Tiếng máy tàu rú lên, lắc lư lấy trớn chạy thẳng ra khơi. Từ hông tàu, Ðông gọi lớn:
- Thu xuống nhanh lên!
Thu nhìn theo mà nước mắt đẫm má. Thôi đã hết. Cuộc tình. Hò hẹn. Ðón đưa. Quị xuống cát, nàng nức nở nói vói theo:
- Anh đi đi! Em ở lại!
Tiếng sóng vẫn thản nhiên nhịp nhàng vỗ vào bờ. Mặt trời từ từ ló dạng, chiếu những tia sáng đầu ngày lấp loá khiến mắt Thu bị mờ nhoè, không còn thấy rõ hình bónh con tàu nhỏ đang đi vào biển cả mênh mông ./.
Nguyễn Bá Dĩnh