vhnt, số 264
21 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ :
1 - Cúi Mặt .....................................................Lê Chung
2 - Tháng Chạp Quê Người ............................Trần Trung Ðạo
3 - Khúc bạc đầu .............................................. Ðông A
4 - Chị Tôi ................................................... Ðức Lưu
5 - Ký Ức Rời .................................................. Cỏ May
6 - Trên Cao ................................................... Ðinh Chinh
7 - Chút Tình Cho Huế ............................................... THT
8 - Màu Sầu Ðương Xứ .....................................Vân Hoành
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Ngục Tù Văn Chương ...................................... Khải Minh
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
10 - Ðiểm Phim: Con Diều Xanh .......................................TCA
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11 - Người Tà Lọt .................................... Trần Hoài Thư
12 - Những Chiếc Mặt Nạ ( Y Cựu Dịch) ............... HWANG SUN-WON
Bạn đọc thân mến,
Xin thông báo cùng bạn đọc vài điều cần thiết:
1) Chắc bạn đọc để ý nếu đọc vhnt từ số 259 trở đi, mục "thư vhnt" được ký "BBT/vhnt" thay vì "PCL/vhnt" ? Thưa vâng, PCL đã tạm nghỉ chọn bài và viết thư vhnt từ số vhnt #259. Vì bận rộn công việc và cũng cần thì giờ nghỉ ngơi để trở lại với những sáng tác đang viết dở dang, nên tôi nhờ một ban biên tập tạm thời thay thế PCL trong việc chủ biên báo mạng vhnt. Ban Biên Tập tạm thời này sẽ tiếp tục thay tôi phát hành vhnt cho đến khi tôi trở lại.
Bài vở gửi đến vhnt@saomai.org hay lanpham@saomai.org sẽ được chuyển cho BBT phụ trách về bài vở.
2) vhnt sẽ ra 2 số mỗi tuần, vào ngày thứ ba và thứ năm, thay vì 3 số như trước. Bài vở sẽ nhiều hơn, thêm những mục thường xuyên như: điểm phim, điểm sách, thơ dịch, giới thiệu những khuôn mặt văn học VietNam và thế giới, truyện dịch, thơ dịch, giới thiệu sách báo, sinh hoạt văn nghệ, văn học, diễn đàn văn học, tiểu luận, cùng với những mục cũ như thơ, tùy bút và truyện ngắn, sáng tác. Mời bạn tham gia đóng góp cho những mục mới này cho tờ báo của chúng ta thêm phần đa diện, dồi dào phong phú.
3) Tuyển tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng #2 sẽ được phát hành vào đầu tháng 7, 1997, sẽ gồm những sáng tác đặc sắc chọn lọc từ vhnt #200 trở đi cộng với những sáng tác mới nhất của các văn hữu vhnt chưa từng xuất hiện ở đâu. Tuyển tập sẽ giống như hình thức VHNT #1, với nội dung phong phú và tươi trẻ hơn nữa .
Mời bạn đọc và các văn hữu hãy cộng tác đóng góp bài vở cho tuyển tập này, xin gửi bài về vhnt@saomai.org, ghi rõ "đóng góp cho VHNT tuyển tập #2" trước hạn chót nhận bài April 15, 1997.
4) Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là Tết Nguyên Ðán (Feb. 7, 1997), vhnt sẽ dành 2 số đặc biệt trong tuần đầu tháng 2, để đăng những sáng tác văn chương đặc biệt về Xuân. Mời các bạn hãy đóng góp bài vở cho 2 số đặc biệt trong tuần trước Tết.
Mến chúc bạn đọc một Năm Mới an lành, may mắn, thành công và ớc nguyện như ý.
thân ái,
PCL/vhnt
Cúi Mặt
Non cao ngẩng mặt nhìn trời
Rừng phong ngập gió rã rời tâm can
Bao năm theo dấu địa đàng
Một hôm chợt tỉnh mênh mang nỗi sầu
Ơn trời nghĩa đất bao lâu
Bên đường còn ngại nhịp cầu tử sinh
Ðêm nay soi lại bóng hình
Xanh xao râu tóc: vô minh chập chùng
Lê Chung
Tháng Chạp Quê Người
Thân tặng anh chị Thủy Trang, Thanh Huy, Hoài Thư, Bá Dĩnh, Ðăng Tuấn chút buồn vui cuối năm Bính Tý 1996.
Tháng Chạp đêm nằm nghe bão tới
Gió thét từng cơn, gió hãi hùng
Cây đập rung nhà, trời lửa chớp
Nhớ thuở còn trôi giữa biển đông
Thương những oan hồn xưa chết uổng
Chết ở đầu sông, ở cuối nguồn
Một giải đất nghèo bao thế kỷ
Bạn thù chia một nấm mồ chung
Thương kẻ trong tù ngồi bó gối
Ðợi một mùa Xuân chửa trở về
Sông núi vẫn còn sông núi đó
Mà xa như cách mấy sơn khê
Tháng Chạp quê người không thấy Tết
Chỉ thấy dài thêm nỗi nhớ nhà
Mộng lớn chưa thành, năm sắp hết
Ngày đi cứ tưởng mới hôm qua
Người thân, có kẻ về phương khác
Ném lại đằng sau những hẹn hò
Như chuyến xe đời lao đi mãi
Bụi đường, mưa nắng biết ai lo
Người thân, có kẻ đang buồn lắm
Nhân thế đầy vơi chuyện khóc, cười
Vườn Xuân, cho dẫu muôn ngàn sắc
Cũng xin hoa bưởi một màu thôi
Tháng Chạp, ôm đàn ra đứng hát
Gõ nhịp mà nghe lạnh kiếp người
Tiếng nhạc bay xa vào cõi vắng
Ngoài sân tuyết trắng lạnh lùng rơi.
Trần Trung Ðạo
Khúc bạc đầu
Tuyết rơi ròng trắng xóa
Tình bạc rã rời lòng
Trời đất đau màu lạ
Phủ tang đời rỗng không
Ðêm thâu trắng sợi bạc
Tư mã ảnh trầm sâu
Văn quân hình trống bóng
Âm phượng ứa thanh sầu
"Bạch đầu" không kết khúc
Giá lạnh buốt băng lòng
Thời rơi lời bạc phếch
Trời trăng treo trắng tròng
Cành nữ la tơi tả
Nhánh lìa rã nhánh bâu
Chiếu long tu cuốn chặt
Tơ nhện bạc trơ mầu
Ỷ cầm vang độc khúc
Tơ đứt tuyệt tri âm
Ðen đêm đầu mai trắng
Tuyết ngập song bóng thầm.
Ðông A
Chị Tôi
Còn đêm nay nữa rồi thôi
Ngày mai khăn gói chị tôi theo chồng
Lạ chưa, tự thuở má hồng
Mấy phen lệ chị lưng tròng thế đâu
Mẹ vờ trông chị, mắng yêu:
"Rõ hay, đã bảo lắm điều nghĩ xa!
Tôi nay còn khoẻ cơ mà
Nước ao tôi gánh, thóc nhà tôi xay
Rau, bèo tôi hứa chăm tay
Vườn sau, ngõ trước chóng chày cũng xong,
Em cô tôi ẵm, tôi bồng
Áo quần tươm tất, bận lòng cô sao?
Lọ là nhà cửa quạnh hiu,
Nhớ cô, tôi ngóng nhạn chiều đã sao!
Xin cô lau mắt đi nào
Ngót vài canh nữa họ vào rước dâu
Cô buồn, tôi lại thêm sầu
Vô duyên, ai bảo làm dâu xứ người..."
Mẹ chải tóc chị một hồi
Nghẹn ngào, mẹ cũng sụt sùi phân bua
Bên ngoài trời đổ cơn mưa
Chị cầm tay mẹ rồi thưa mấy lời:
"Con đi, nhà vắng một người
Bát cơm, chén nước, mẹ thời thay con
Tội con xa mẹ, chiếc đơn
Năm dài, tháng hạn rồi con sẽ về"
Chị tôi nước mắt dầm dề
Bồng tôi thật nhẹ vỗ về tay êm:
"Ở nhà vâng mẹ, chóng ngoan
Khi nào rảnh rỗi chị sang cho quà"
Tôi ôm chị, chợt khóc oà
Và từ hôm ấy chị xa tôi rồi...
Năm dài, tháng hạn vẫn trôi
Vườn sau vẫn vắng bóng người chị xưa
Ðầm đầm trời lại đổ mưa
Ðượm bao kỷ niệm ngày xưa mỗi chiều
Mẹ tôi nay đã yếu nhiều
Vẫn thường trông bóng nhạn chiều xa xăm
Lòng tôi chừ vẫn lặnh căm
Chị ơi có nhớ về thăm, cho quà !!!
Ðức Lưu
Ký ức rời
(thương về VThuần)
I.
Hôm nay trời về mưa, tôi về nhớ
Mảng ký ức rời, rơi lả tả trong tôi
Chiều trao ngày nụ hôn tạm biệt
Tia sáng cuối cùng khuất lấp chân mây
II.
Tôi hoảng sợ nhìn đêm dần đến
Ðêm giấu đi những mặt người
Ðêm hắt hiu những nụ cười
Ðêm xót xa vùi sâu mưa vào tóc
Ðêm nhắc hoài ký ức môi anh
Mưa
Ðêm
Và anh...
Tôi ngại ngùng nhìn mưa
Tay níu chiều
Ơi đêm
Thôi
Ðừng đến sớm
III.
Chiều nay loanh quanh vùng giáo đường im lả
Chờ hồi chuông ngân một tiếng ân tình
Thương anh mắt đọng hạt trăng khuya
Trăng xa vắng
Và anh xa quá
Mắt anh buồn còn lại chỉ màu đêm
Ðêm hoang lẽ
đong đưa mãi muộn phiền
IV.
Tiếng chuông chìm
Âm thanh vời đọng lại
Giáo đường hoang
Tượng chúa buồn tênh
Chúa nhợt nhạt, nhìn tôi, tên ngoại đạo
Loay hoay hoài chẳng nhớ một lời kinh
Và ngoài kia đêm đang dần đến
Mình tôi ngồi
như có như không.
CỏMay
Trên Cao
Tôi còn lẽo đẽo
Mang nhiều mộng nghèo ...
(Tôi Còn Yêu - Phạm Duy)
Có trên cao
giấc mộng dày.
Diều bay
diều đứt dây.
Tôi chìm
Tôi chìm
Tôi chìm
Vào mây.
Cuộc tình,
ai thả bay?
Là la lá lá là la...
Có trên cao
mảnh trăng gầy.
Vướng trên cành
diều đứt dây.
Dưới này
tôi ngồi say
tôi ngồi say
Thấy đẹp biết bao
diều đứt dây.
Tiếc hoài
chút mộng bay.
Là la lá lá là la ...
Có trên cao
Ðêm quánh đầy.
Mảnh trăng
lưỡi liềm
cắt dây.
Ai đu bay
Xin nắm lấy tay.
Mảnh trăng lưỡi liềm
sẽ cắt dây.
Ôi đâu rồi
mộng tôi xây?
Là la lá lá là la...
Chinh
14 tháng 1, 1997
Một Chút Tình Cho Huế
Tôi xa mẹ tôi ngày còn nhỏ
Ba tôi thương con không tục huyền
Nhà trọ nghèo, nền đất, mái tôn
Ðêm mưa dầm ễnh ương than khóc
Kiệt thành nội qua đường Hàng Ðoát
Những ánh đèn le lói hắt hiu
Theo tiếng rao hàng trăn trở không nguôi
Huế ơi Huế ơi buồn chi rứa Huế
Nhà tôi nghèo,
Quanh năm nồi cá cơm kho mặn
Con bé quê
thay mẹ tôi săn sóc gia đình
Quê nó nghèo, lụt lội, quanh năm
Mười tuổi nó bỏ làng biệt xứ
Nồi cá cơm khô kho ngày khốn khó
Nó dành cho tôi, mặn lạt,chua cay
Nó dành cho tôi, sợi chỉ đường may
Kết dùm lại từng đường tà, áo vá
Nó dành cho tôi, như bà mẹ khổ
Không biết hôm nay nấu món ăn gì
Tôi miệt mài theo những áng mây
Khinh bỏ lại những quách thành khóc lóc
Tôi thù ghét những mái nhà rêu mọc
Những con người lãng vãng tựa hồn ma
Những tháp ngà phong kiến buổi hôm qua
Tôi chạy đuổi những áo hồng áo tím
Như lúc đội mưa chờ một người con gái
Huế mưa dầm, tôi cũng đợi, dầm mưa
Khi tôi quá buồn, bỏ Huế mà đi
Con bé nhìn theo cúi đầu không nói
Năm tôi rời nhà, nó lên mười sáu
Ngực đã dậy thì, tóc đã chớm vai
Tôi bỏ Huế đi, theo những dậm dài
Bỏ lại ba tôi, con gà trống ốm
Bỏ lại một nơi sương mù buổi sớm
Bỏ những con đường phượng nở tháng năm
Bỏ lại cầu xưa ai đi qua sông
Ai cuống quít khi trời vừa nổi gió
Trong tôi cũng không còn con bé khó
Ðã một thời chia xẻ lầm than
Giờ bao năm xa cách quê hương
Ba tôi đã nằm trong lòng đất
Ngày người qua đời tôi không có mặt
Con bé cùng chồng trở lại chịu tang
Tấm hình nào o đứng chít khăn
Huế ơi Huế ơi, tôi nào có biết
Huế ơi Huế ơi, phương trời viễn biệt
Trái tim này tôi xin gởi về o
Một cánh hoa, dù quá đổi hèn thua
Vẫn xinh đẹp hơn cả ngàn bông quí
Ðể cho tôi vẫn nhớ hoài xứ Huế
Có một loài sen rực đỏ ngàn năm
Trần Hoài Thư
5/12/96
Màu Sầu Ðương Xứ
Mây trĩu buồn xuống thấp
Sương ủ sầu mang mang
Gió bàng hoàng heo hắt
Nắng bỡ ngỡ hoe vàng
Ðất se trời nhuốm lạnh
Phảng phất dáng hồng hoang
Ðời chợt đong trắc ẩn
Sóng vang lời trùng dương
Lá vang lời đại lục
Ðá vang lời trường sơn
Sao vang lời im lặng
Thoang thoảng tự thiên đường
Người chợt buồn ngao ngán
Lệ rơi hoen ố nét tan thương
Nghe giữa trời nhuốm lạnh
Màu hư vô đã nhuốm phủ trên ngàn
Vân Hoành
Nhà Tù Văn Chương
"Văn Lang": lúc này dùng để diễn tả một ngục tù chữ nghĩa là đúng nhất. Bao nhiêu thế hệ văn nghệ sĩ đã chung thân cạn kiếp thê thảm, cả dân tộc bị đầy đọa vì tội có máu thơ, tội nhất sĩ nhì lung tung với nó. Nhà tù này có rất nhiều điểm lạ:
1. Nhà tù: giống như nhà thờ, nhà chùa, nhà nước..., nó chỉ chịu làm danh từ thần thánh, oai nghiêm. Không ai nói nhà tù là tù nhân như trong trường hợp nhà văn, nhà tù... khiêm nhường làm tính từ chỉ người viết văn, tu hành. Có nghĩa là nó tinh vi từ bản chất.
2. Nó lý tưởng đến nỗi phát sinh danh từ Ngục Sĩ .
3. Nó dung nhận mọi chế độ chính trị(phong kiến, thực dân, tư bản, cộng sản, cá nhân, tập thể...), mọi tôn giáo... Chính trị gia, Tín đồ, Vua chúa thường dân... ai làm văn nghệ, cũng làm tù nhân.
4. Tù nhân tự trói mình một cách vô thức (được sinh ra trong nhà tù) và ít nhiều trường hợp ý thức (biết bị tù nhưng không thoát ra được). Có ít tù nhân vẫy vùng tìm thoát nhưng đa số đều kiệt sức, nản chí rồi tự làm cai tù tự bắt trói mình đem về hành hẫ
5. Nhà tù này không hàng rào, không qui luật. Mỗi tù nhân tự tạo một hàng rào kiên cố nhất bằng một quá khứ nhồi sọ, đan với một hiện tại chủ quan và gài mìn với một tương ai tiền định. Chúng ta cũng công phu tự tạo một chế độ hà khắc, dã man nhất (trắng đêm lao tâm, suốt ngày lao lực). Ở Việt Nam chúng ta cũng bị chữ nghĩa ràng buộc, ra hải ngoại lại cũng cố vác cái gông cùm văn chương theo. Nơi kia kiếp nọ chắc chúng ta vẫn trung thành với danh hiệu ngục sĩ ma quái. Về thể xác, chúng ta ăn chay vì nghèo, vì suy tư bồng bềng không có thời gian, tự phạt xác vì cô đơn, tự thức trắng đêm, tự đầu độc bàng mọi thứ trà, cà phê, rượu, thuốc... cho đến đầu bù tóc rối, thân tàn ma dạị Về tinh thần, chúng ta tự cô lập với gia đình xã hộị Chúng ta tự chối bỏ gia phả bằng cách đặt bút hiệu như Tú Xương, Tú Da, Tú Mỡ, Tú Ngông, Tú Mộng, Tú Ðủ Th làm danh số tù, ôi những số tù lãng mạn. Chúng ta bỏ vợ hoặc chồng nằm bơ vơ từng đêm và cho con cái phơi nắng tắm mưa triền miên.
6. Tù này không có án, thường thường không chỉ là chung thân nhưng là cạn kiếp.
Còn bao nhiêu hiện tượng lạ nữa, nếu bạn tự thấy mình là tù nhân văn chương chữ nghĩa, bạn sẽ suy nghiệm ra mọi thứ quỷ quái khác. Tóm lại đây là nhà tù lương tâm, tù nhân không biết ra rồi đi đâu. Số phận? Bế tắc?
Cuộc đời " ngục sĩ " hiện ra những hậu quả sau:
1. Chúng ta ca tụng nhau để diễn tả sự thật bằng một cách khác.
2. Chúng ta tự bất mãn và nguyền rủa mình liên miên. Tự tra tấn thần kinh não tủy để chữ nghĩa chảy ra, chúng ta đem chữ nghĩa ra tra khảo dã man rồi hành quyết. Chữ nào sống sót, đem đăng báo, in sách rồi nghe những lời chửi thật tình, những lời khen lấy... khen để..., những lời phê bình ba phải. Cuối cùng chữ nghĩa nào cũng có thể là nạn nhân để cho chúng ta tự nguyền rủa.
3. Chúng ta nghèo đói suốt kiếp (Tú Xương, Tản Ðặ) vì chữ nghĩa không ăn được, bán không ai mua, lại không dụng vào việc khác được. Chúng ta lập trường phái vô thực (nghĩa đen nhiều hơn nghĩa bóng).
4. Chúng ta mãn nguyện và trở thành cao ngạo nhất thời (vài giờ, mấy ngày, nửa tháng) cho đến khi tự nhìn thấy mình dở và ngu.
5. Chúng ta đãng trí ghê gớm, vội vã vô cùng, lúc nào cũng bị hoảng vì áp lực vô hình của thời gian, không gian đè nén. Bản thảo nhiều khi chưa tới tay người nhận chúng ta đã phóng theo sửa chữ này đổi tiếng kia. Tác phẩm vừa in xong chưa tặng ai hoặc chưa bán cho ai chúng ta đã muốn phủ nhận, lo tái bản với nhiều sửa đổi.
6. Chúng ta thành một lũ gàn vui vui như Hội Văn Bút hiện tại.
7. Chúng ta hãm hiếp " văn chương, một đêm sinh nở đủ loại thơ văn. Tự phá sản tiền bạc để in tác phẩm.
8. Chúng ta mất tự tin phải nhờ bạn tù quen sửa bài, nhờ "ngục sĩ" ghê gớm đề tựa, viết bạt đầu, bạt mạng, nhờ quảng cáo giới thiệu lung tung.
9. Chúng ta khổ đau càng nhiều càng tốt bằng cách lấy hai ba số tù (bút hiệu) khác nhau cùng một lúc. (Ðinh Hùng, Thứ Lang...)
10. Chúng ta trở thành bệnh tật (Hàn Mặc Tử), thành điên (Bùi Giáng).
11. Chúng ta tự tử thê thảm. (Lý Bạch, Nguyễn Tất Nhiên).
Ôi biết bao giờ mới tả hết những hậu quả oan nghiệt của người Văn Lang. Khổ, đói, bệnh, điên rồi chết thảm là số phận tự nguyện. Hỡi thơ văn huyền hoặc!.
Hôm nay đọc bài "Ta Về" (1) trong Thơ Tuyển Tô Thùy Yên", tự nhiên tôi thấy muốn nhại lại người đã tự tử công khai một lần như sau:
Ta về mù cõi hoang đường lớn
Thơ chẳng em chào tủi áo phai
Sao sánh văn chương mềm phế phủ
Mười năm Yên thế, ngậm ngùi thay.
Lại khởi sự mười năm cỏ dấp
Văn thần tử nạn tiếc nghìn thu
Mười năm mạt vận soi hồn nước
Ta khóa thân tù khổ luận sơ
Ta về văn xiết niêm luật phá
Nếp trán sâu nhuần vận rủi may
Ta gán lòng yêu trời đất cũ
Thương mình cát bụi chẳng mây bay.
Chỉ có thế, thơ câm nhạc nín
Niệm văn hồ sách bụi xôn xao
Mười năm thơ hứa về, chưa thấy?
Chữ bạc màu đi, ý bạc màu
...
Mười năm thơ hận một tiếng "Ta"
Tiết tâm đọng váng bóng xa rườm rà
Ôi Thùy Yên anh khờ căm "ngục-sĩ"
Mười năm thơ đến không "Ta Về "
Nguyên nhân ngục thảm này chính là Hồn Thơ ". Hồn thơ không chấp nhận tạp niệm con người. Thơ như một đứa con cưng của Thượng Ðế ngự nơi địa đàng, như một bông hồng gai góc, ai cũng muốn kết nghĩa cầu hôn ôm lấy. Nhưng vườn hoa kia, địa đàng kia là thánh địa, là Văn Lang thực thoại. Nó trổ gai, tạo ngục tù nơi mỗi người tạo thử thách để bảo vệ đứa con cưng nàỵ Những ai vội vàng sơ ý vì bất cứ một lý lẽ nào đó đều thảm hạị Tô Thùy Yên đã thốt lên "Ta Về", không biết anh đã thỏa chí hay thất chí, hiện tại anh vẫn ở chỗ đôi bờ thực và mộng. Chúng ta đợi anh mười năm nữa, Mười năm thơ đến không Ta Về " xem sao".
Lối thoát duy nhất không phải là dùng tâm sức, triết lý để vẫy vùng vượt ngục nhưng là tự hủy hết tạp niệm con người (giáo dục, suy tư, quan niệm, tên tuổi, địa vị, trường phái ...). Khi trần truồng nguyên sơ như Thượng Ðế, chúng ta trở v tiềm thức hoang sơ sẽ thấy con đường dẫn nhập vào thơ, vào thế giới thực thoại Văn Lang. Những xiềng xích niêm luật sẽ tự động vô dụng. Tới đây không phải chúng ta vượt thoát tù ngục nhưng là vì ngục tù không còn nữa. Thơ sẽ tung cánh hóa thân ta thành Việt Ðiểu thần thoại.
Khải Minh
(1). Bốn khổ đầu bài Ta Về " của Tô Thùy Yên như sau:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai...
Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ?
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu.
Mười năm, mặt xám soi khe nước,
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.
Ta về qua những truông cùng phá,
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may.
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ,
nghe tàn cát bụi tháng năm bay.
Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Ðời im lìm đóng váng xanh xao.
Mười năm, thế giới già trông thấy,
Ðất bạc màu đi, đất bạc màu...
Con Diều Xanh
(The Blue Kite)
Đạo diễn : Tian Zhuangzhuang
Diễn viên : Lu Liping, Guo Baochang, Chen Xiaoman
Âm nhạc : Yoshihide Otomo
1. Một cuốn phim Trung Hoa bị chính quyền cấm. Đề tài xoay quanh cuộc sống một gia đình, làng xóm Trung Hoa sau khi Mao Trạch Đông đã ngồi vững trên chiếc ghế lãnh đạo. Chỉ hai yếu tố này cũng đủ để người xem đoán rằng cuốn phim phải mang một nội dung tố cáo nhất định, như những cuốn phim đã từng bị cấm của Zhang Yimou và Chen Kaige, hai nhà đạo diễn Trung Hoa nổi như cồn vì nghệ thuật làm phim cũng như về sự gan lì thách thức chế độ. "Con diều xanh" của một đạo diễn còn xa lạ với giới thưởng ngoạn và phê bình thế giới : Tian Zhuangzhuang.
2. Đối với tôi, "Con diều xanh" (1993) là một nửa của "Sinh tồn" (1)(đạo diễn Zhang Yimou -- 1994). Một nửa bối cảnh: "Sinh tồn" trải từ cuối thời phong kiến Trung Hoa đến quá Cách Mạng Văn Hoá; "Con diều xanh" khởi đi từ sau cuộc Đại Trường Chinh đến cao trào của Cách Mạng Văn Hoá. Một nửa nghệ thuật : "Con diều xanh" không có sự tế nhị sâu sắc của "Sinh tồn", không có niềm tin và hy vọng vào nghị lực bền bỉ của con người chịu đựng và vươn lên trong hoàn cảnh ngặt nghèọ Mặt khác, chính vì thiếu sự tinh tế, "Con diều xanh" là một bản cáo trạng mạnh mẽ và không ngơi nghỉ về thứ chủ nghĩa Cộng Sản được dựng lên và duy trì ở Trung Hoa.
3. Khi viết câu trên, tôi cẩn thận không bỏ tên của Mao Trạch Đông hay một cá nhân nào vào đô Tôi tin rằng một chế độ không phải là công trình của một cá nhân hay nhóm nhỏ, mà là một quá trình phức tạp của những tác động khác nhau, trong đó không những có chủ nghĩa và luật pháp, mà còn có tâm tính con ngườị Xem "Sinh tồn" hay "Từ giã ái Phi"(2) (đạo diễn Chen Kaige -- 1993), tôi thấy cả những "chủ trương", "lề lối" phi nhân của chế độ lẫn những con người lợi dụng cơ hội trả thù, ám hại nhau. "Con diều xanh" nhấn mạnh vào riêng khía cạnh phi nhân của chế độ trong đó chính sách và phong trào nhà nước khuyến khích con người làm hại nhau vì ngây thơ tin tưởng vào "tinh thần sửa sai" của Bác Mao và Đảng cũng có, vì ích kỷ muốn bảo vệ chính mình cũng cô Sự "kiểm thảo" chỉ là quá trình tìm ra con dê tế thần. Cho dù không có tư thù, người ta vẫn lấm lét tìm cách tránh mũi dùi nhà nước bằng cách lôi người nào khác ra thế chỗ. Một chế độ kéo dài trong mất mát, sợ hãi và đau buồn.
4. "Sinh tồn" kết thúc với cái nhìn về tương lai, niềm hy vọng cũ kỹ "ngày mai sẽ khá hơn." "Con diều xanh" kết thúc như "Tắt đèn" (Ngô Tất Tố), trong khoảnh khắc rối rắm tuyệt vọng của một con người, tượng trưng cho sự bất lực tuyệt vọng của một tầng lớp, thế hệ hay quốc gia. Cậu bé bị đánh tỉnh dậy, nhìn lên trời từ chỗ ngã xuống. Con diều xanh của cậu vướng vào cành cây trước đó ít lâu đã bị rách tơi tầ Phải chăng đó là hy vọng của cậu, của mẹ cậu, qua những năm dài cơ cực và u ám, hướng về ngày mai tốt đẹp hơn, nhưng cuối cùng vẫn không giữ được?
5. Phải mất một năm sau khi cuốn phim được phát hành ở Mỹ, tôi mới đủ can đảm xem nô Đúng như tôi đoán, "Con diều xanh" gợi cho tôi nhiều hồi tưởng đau buồn riêng tư. Tôi không biết có phải cuốn phim được làm ra để tìm danh vọng (khêu gợi sự tò mò của thế giới về "một cuốn phim chống chính quyền bị cấm") hay không, nhưng tôi muốn nghĩ rằng Tian Zhuangzhuang dựng nó để tặng cho những người dân Trung Hoa đồng bào của ông, những người bị từ khước quyền được sống cuộc đời đơn giản, bình yên.
6. Cảm nghĩ cuối cùng sau khi xem xong cuốn phim là câu tự hỏi: Chừng nào ngành điện ảnh thô sơ non kém của Việt Nam có được cuốn phim như "Con diều xanh" hay "Sinh tồn"? Chừng nào những câu chuyện tương tự như trong những tác phẩm của Trần Mạnh Hảo, Dương Thu Hương có mặt trên màn ảnh Việt Nam?
TCA
(1) "To Live"
(2) "Farewell my concubine"
Người Tà Lọt
Cuối cùng chúng tôi đã thoát. Tôi đã kêu tên lính truyền tin người Mỹ, ngừng lại, nô mo Vi Xi. Tôi đã hét bên tai hắn, xì tốp, xì tốp, nhưng hắn vẫn chạy, hồng hộc mà chạy. Rõ ràng hắn vẫn còn sợ những người dân trong bộ bà ba đen đang cắm cúi trên những cánh đồng, những mái nhà tranh lẩn khuất dưới những hàng dừa, rặng tre. Hắn đã bắt tôi mệt muốn đứt hơi để chạy theo cùng. Có một lúc nào đó, hắn té nhào trên đường ruộng, sau đó, lồm cồm bò dậy, tiếp tục chạy. Hắn to lớn. Gương mặt quá trẻ, máu dầm dề trên mặt, mái tóc vàng dính dầy bụi. Chiếc áo trận bốn túi đã rách toẹt trên vai, lộ màu da trắng. Tôi tiếp tục la, tiếng Mỹ tiếng Việt trộn chung. Xì tốp. Nô chicken Vi Xi. Việt Nam nô Vi Xi. Bởi vì tôi hiểu chúng tôi đã trở lại cùng cõi sống. Những ngôi làng trước mặt là sự sống mà. Tôi đã biết rõ hơn ai hết mấ Người dân ở đấy là thuộc chúng tôi, ấp trưởng ở đấy đã từng mời trà mời thuốc kể chuyện chiến tranh với chúng tôi. Nhưng đối với tên Mỹ này, hắn không thể hiểu. Trận chiến vừa xảy ra, đã cho hắn một bài học. Ðám người da vàng mũi tẹt cùng một ngôn ngữ với tôi đã tìm cách giết hắn, bắt sống hắn. Ông thầy của hắn, viên thiếu tá cố vấn đại đội của tôi cũng đã bị giết rồi. Xác ông ta đang nằm trên ngọn đồi đằng sau hắn. Hãy tha lỗi cho hắn. Bởi vì trước mắt hắn, kẻ thù vẫn có gương mặt mái tóc như tôi. Như vậy làm sao tôi kêu hắn ngừng lại, thở một lát, nhắm mắt lại một tí, cho hai chân xả hơi vài phút. Tôi thì quá mệt. Mệt đến độ nghe cả tiếng thở của mình rống như ngựa phải kéo chiếc xe đầy hành khách lên con dốc cao. Tôi thở hào hển, quị xuống đường nhiều lần, té ngã mấy bận, nhưng tôi không thể bỏ tên lính Mỹ này được. Chỉ có mỗi một mình tôi để hắn nhờ cậy và tin tưởng. Chiếc máy truyền tin đã không còn xử dụng được nữa, và hắn đã vất lại mặt trận đằng sau. Giữa lúc đó, hai chiếc trực thăng đã xuất hiện trên nền trời về chiều. Phía sau chúng tôi, mặt trời đỏ ối cố gượng cùng chân ngày. Tên Mỹ bây giờ mới hết sợ. Chúng tôi cùng cởi áo, phất làm dấu. Một chiếc trực thăng đã vờn trên đầu, sau đó bay một chỗ. Còn chiếc thứ hai thì bay quanh, trên cao để yểm trợ. Tên Mỹ vội ôm choàng lấy tôi, như xiết thân thể tôi thành từng mảnh. Hắn kêu tôi là lieutenant, dù tôi mới thiếu úy. "Lieutenant, thank you. Thank you." Gương mặt hắn đầy những vết xướt, máu vẫn còn rỉ. Ðôi mắt hắn xanh lơ. Tôi cũng ôm chặt hắn, mừng đến muốn khóc. Thì ra, chúng tôi vẫn còn sống sót.
Bỗng dưng hắn lột chiếc đồng hồ của hắn và tặng tôi. Tôi cũng vậy. Chúng tôi cũng trao đổi quà tặng, mà nước mắt như sắp chảy xuống má. Hắn nói gì tôi cũng không nghe, bởi tiếng máy tàu đã át cả tiếng nói. Hai đứa nằm ngã vào thành ghế trực thăng. Chân tôi nhức nhối ghê gớm. Cả châu thân cũng vậy. Muốn nhắm mắt. Muốn quên. Muốn coi tất cả như một cơn ác mộng. Ấy vậy, tôi vẫn còn thở hổn hển. Người xạ thủ trực thăng đã trao bi đông nước cho thằng Mỹ. Hắn mời tôi trước. Tôi ra dấu để hắn uống trước. Trực thăng đã bốc cao. Ngọn đồi bỏ lại. Trò chơi kỳ lạ dành cho đám thanh niên Bắc Nam, Mỹ Việt đã bỏ lại. Gió phất vào lòng trực thăng khiến da thịt tôi đau tê. Lúc này tôi mới cảm nhận được cái cay đắng nhất của người bị thua cuộc. Bạn bè mới hôm qua còn gặp gỡ. Lính tráng mới hôm qua còn đông đúc. Bây giờ. Tại sao? Tại sao cái chết thì quá dễ dàng như vậy. Ai là kẻ chịu trách nhiệm. Cái đám lãnh tụ. Những nhân danh, mỹ từ. Ðại bàng hay sơn ca. Ðại đội trưởng hay trung đội trưởng là tôi? Phải, tôi hiểu hơn ai hết là sự khinh địch. Phải chi trước khi tiến lên đồi tấn công vào mục tiêu, cấp trên thương tình cho hàng trăm quả đạn pháo dập, hay hơi ngạt như chiến thuật của Mãnh Hổ Ðại Hàn, thì đơn vị chúng tôi đâu có đến nỗi như hôm nay. Phải chi, thay vì từ dưới chân đồi tiến lên, chúng tôi nhảy trực thăng từ ngọn đỉnh để đánh xuống, thì làm sao lại có cái cảnh cả đơn vị phải tuyệt vọng chịu trận trước hàng ngàn viên đạn từ cao điểm. Và phải chi tôi ra lệnh rút trung đội lên cao, thay vì rút xuống để chạy, thì đâu có đến độ mấy thằng con của tôi phải nằm gục dưới chân tôi? Một bài học về lòng yêu nước không đúng chỗ. Tôi cố gắng duổi hai chân như bầm dập, đau thốn. Cám ơn ai đây để tôi lại thêm một lần nữa còn sống sót. Bên cạnh, tên Mỹ trẻ tuổi đang nhìn đăm đăm vào trong khoảng không. Chắc hắn cũng như tôi. Muốn quên nhưng vẫn cứ nhớ. Nhớ đến cái thân hình to lớn của viên thiếu tá cố vấn. Ông chết thật mau lẹ. Chỉ một viên đạn là ông nằm sấp xuống. Sau đó đến phiên những sĩ quan khác. Rõ ràng địch đã đợi chúng tôi, canh sẵn mấy sĩ quan để nả xuống những viên đạn đầu tiên. Tội nghiệp cho ổng. Mới chiều hôm qua, chiếc xe Jeep chở ông lên đồi cùng với người lính mang máy cho ổng. Và ông vui vẻ bắt tay mấy tên sĩ quan đại đội, lại mời thêm những điếu thuốc đầu lọc. Ông lại mang theo cả chai rượu Napoleon cổ lùn, hứa sẽ uống để ăn mừng sau khi trở về lại đồi. Bây giờ xác ông đã bỏ lại. Bạn bè đồng đội tôi cũng đã bỏ lại. Thảm thê. Ðau nhức.
Chiếc trực thăng đã đáp xuống sân bay của sư đoàn, dưới ánh sáng của những ngọn điện trăm nến. Tôi khốn khổ lắm mới nhảy ra khỏi lòng tàu. Chân cất không muốn lên. Ờ, mới đây tôi đã chạy mấy cây số, băng qua bao xóm làng, bương trên bao cánh đồng, bờ kinh, bờ ruộng như một tay mà-rà-tông số một, bây giờ tôi như một kẻ liệt bại. Viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng pháo binh đã chạy đến và dìu tôi về xe. Anh ta hỏi về tình trạng của thiếu úy Li, sĩ quan đề lô tăng phái. Tôi nhìn anh, mếu máo: "Li chết rồi". Anh thả tôi ra, đứng nhìn về hướng núi. Sau đó anh nói: "Tội nghiệp cho hắn, tôi vừa nhận được thiệp đám cưới. Ðáng lẽ tôi không cử hắn đi theo..." Giọng nói của anh mất còn trong tiếng máy trực thăng. "Tôi không biết phải ăn nói làm sao với gia đình hắn nữa". Xe đưa tôi trở lại đồi. Ðêm lập loè những ngọn đèn thiếu nến trong dãy doanh trại. Chúng tôi bây giờ chẳng khác những con chim lạc bầy. Tơi tả. Rách nát. Những bóng người thấp thoáng ở trên sân. Thì ra họ là những thân nhân từ khu gia binh dưới chân đồi. Họ đã thấy tôi. Họ ùa tới. Những người đàn bà trở nên hung dữ vây chặc tôi. Họ như một đàn mãnh thú tấn công con mồi. Họ khiến tôi hoảng hồn. Dường như họ đã biết rõ sự tình. Tôi vụt chạy vào căn phòng dành cho sĩ quan độc thân. Tôi khóa chốt cửa. Trong bóng tối, tôi đứng yên, hai tay ôm lấy mặt. Bỗng nhiên tôi òa khóc như đứa trẻ. Khóc như chưa bao giờ được khóc. Căn phòng tối đặc. Căn phòng chỉ có chiếc giường trận, với cái tủ bằng thùng đạn pháo binh, mà Sơn, người lính ô đô của tôi đã xếp vào đó những bộ quần áo giặt ủi, với chiếc ghế gỗ do một tay lính mộc nào đó của đại đội đã đóng cho tôi, mà trên ấy tôi vẫn hay để sợi dây ba chạc, khẩu súng lựu đạn, tấm bản đồ hành quân. Ngày hôm qua căn phòng vẫn còn rộn ràng với tiếng cười tiếng nói. Bây giờ nó như một cõi tha ma. Tôi hiểu hơn ai hết tôi là một kẻ được may mắn. Nhưng may mắn để càng thấy rõ hơn về nỗi mất mát... Tiếng gõ cửa yếu và nhẹ kèm theo tiếng nói khe khẽ. "Thiếu úy. Tôi là Phú, trung sĩ nhất Phú, hạ sĩ quan hậu cứ đây". Tôi mở cửa. Giọng nói của Phú lạt đi. "Thiếu úy có muốn xuống quân y viện không? Mình có thể theo trực thăng tải thương". Giọng hắn lại thì thào:"Ðừng nên ở đây, đám đàn bà này họ sẽ xé xác mình ra đấy thiếu úy". Tôi gật đầu. Phú lái xe dodge xuống đồi. Tôi dựa vào ghế, duỗi hai chân. Ðau nhức tê cứng. Tôi không muốn trở nên anh hùng sao cứ bắt tôi trở thành anh hùng. Tôi không muốn chết sao cứ bắt tôi sống mãi với cái chết. Tôi không muốn chạy tại sao lại cứ bắt tôi chạy. Có lẽ tôi phải đào ngũ. Tôi lại liên tưởng đến Li. Câu nói của vị tiểu đoàn trưởng pháo binh làm tim tôi như quặn. Li là bạn của tôi, dáng cao, tính tình đôn hậu. Anh có một người vợ sắp cưới, hoa khôi tại thành phố Qui Nhơn. Ai cũng biết. Họ có một mối tình thật đẹp. Li hãnh diện kể cho tôi nghe với niềm tự hào: "Nàng có bao nhiêu tay thương gia giàu có, sĩ quan cao cấp, con cháu của các viên chức cao cấp ngắm nghé, nhưng nàng vẫn từ khước. Tao với nàng có rất nhiều kỷ niệm đẹp từ tuổi thơ đến tuổi học trò..." Tôi vẫn còn nhớ đến lúc anh gục xuống. Tôi đã xem những phim ảnh về chiến tranh, về những lối chết trên mặt trận, nhưng tôi nhận ra sự thật không phải như vậy. Từ trên mỏm đá tôi tuyệt vọng nhìn từng con mồi dưới bãi đá trống trải lằn lượt gục xuống, dễ dàng như một trò chơi. Tôi tự biết về sự dịu dàng của một cái chết là như thế nào. Tự nhiên một viên đạn đồng được bắn đến bằng một tốc độ siêu thanh, quá đột ngột, quá mau lẹ đến độ con người không có lấy một phản ứng. Chỉ có chăng là cái hãi hùng nếu hắn còn sống, khi viên đạn kia không tìm ra chổ huyệt. Hắn càng hiểu hơn về giá trị của đời, của hơi thở, của kiếp làm người. Hắn càng sợ chết. Hắn càng ham mê cuộc đời. Hắn càng bấu víu vào cuộc đời. Quỳnh ơi. Bây giờ anh du thủ như vậy đó. Lạy Trời, cho anh quên. Phải chi một viên đạn bắn trúng vào tim anh. Phải chi anh nằm xuôi tay, xuôi chân. Rồi sẽ chấm dứt những thét gào, những nhịp tim đập, những giọt lệ thầm. Rồi sẽ hết những lần leo đồi xuống dốc, săn đuổi em như săn đuổi một bóng ma. Phải làm gì thêm nữa để em một lần động lòng. Phải đổ máu bao nhiêu lần nữa để em mới biết thêm trong con tim của anh vẫn còn mang mối tình dành cho em đó. Phải làm gì để có thể quên hình bóng một người anh yêu dấu. Ngày xưa, người ta đã tát những bạt tai vào mũi miệng anh, để những giòng máu cam tuôn ra khỏi hai lỗ mũi, và thằng nhỏ đã khờ dại cứ để vậy, không chịu chạy đi tìm những chiếc lá dâu quấn lại nhét vào lỗ mũi, hay tìm dến bể nước, hít hà vào thành xi măng để cầm máu. Thằng nhỏ đã muốn những cốc máu đỏ của hắn mang lại lòng thương hại của những người lớn, xung quanh hắn, chập chờn trên giòng tuổi thơ của hắn, mặt dỏ gay vì rượu, mắt ngầu đỏ cùng những tia nhìn. Ðể thương xót tôi. Ðể từ bi, từ độ, để may ra đau dùm cái đau của tôi, máu tôi là máu các người. Và bây giờ, tôi lại thêm một lần nữa, anh lại thêm một lần nữa. Quỳnh ơi, anh phải làm gì thêm để em hiểu anh. Nói đi. Mặt anh đã tươm máu rồi.Ðôi chân anh đã như liệt tê rồi. Ðồng đội anh đã gục ngã bên anh rồi. Ðạn đã chưà anh ra rồi. Anh đã sống sót rồi. Nói đi, anh phải làm gì để em mở hai tay mà ôm anh, và để anh sẽ ngã vào ngực em, mà khóc như con nít. Nói đi. Anh phải làm gì để không còn những lần về thành phố phá phách, chơi bời, hay ngồi trong chiếc xe lam chạy qua trường Sư Phạm mà chờ một điều ân sũng. Nói đi. Tôi chụp súng, mũ rằn, chụp mấy băng đạn, lựu đạn. Tôi điên khùng với ý nghĩ đêm nay tôi sẽ làm loạn. Một mình tôi sẽ làm một tên phản loạn. Tôi sẽ cho cả thành phố, dinh ông Tư Lệnh, Tỉnh Trưởng, cả ngôi trường của em nữa, biết mũi súng này. Tôi sẽ đánh thức hết mọi người. Ðể họ biết về chiến tranh. Về những tên buôn bán xương máu. Về đám lãnh tụ Bắc, Nam, Mỹ Việt. Họ đâu có biết cái đau, cái hận, cái căm, cái nhục này. Họ đau có hiểu một khi lát mả tấu chém bửa trên đầu này. Họ có cung phi mỹ nữ, dinh thự bảo vệ tối đa. Họ có mấy chục triệu tuổi trẻ Bắc Nam lót đường để họ xây cái tháp đỉnh. Phú ơi,tao sẽ làm cho bọn nó biết.Ðồ chó má. Nhưng Phú không cho tôi mang trừ khẩu súng lục."Thiếu úy không nên mang súng M16. Quân cảnh sẽ làm khó dễ thiếu úy." Hắn giựt súng và giây ba chạc của tôi rồi đẩy tôi ra khỏi phòng.
Bây giờ tôi đang ở tại phòng cấp cứu. Dưới ánh đèn neon, căn phòng nồng nặc mùi ê te. Những người bị thương đã được tải về nằm la liệt. Quần áo trận máu đã bám cứng đông như màu huyết heo sậm tái. Tôi đã nhận ra Nài. Hắn đã đen, má đã hốc hác vì tuổi trẻ lọan cuồng của hắn nay lại càng hóp và đen chẳng khác một con ma đói. Hắn nằm yên, máu như trào ra khỏi miệng. Chỉ có đôi mắt của hắn thì hết mở ra rồi lại nhắm nghiền lại, như cố chiụ đựng cùng vết thương trên đầu. Hắn là trung sĩ mới trình diện đơn vị và được bổ sung vào làm tiểu đội trưởng của trung đội tôi. Tôi phải quặn cả tim ở mỗi tiếng kêu cha mẹ ơi con đau quá cha mẹ ơi. Tôi muốn chạy trốn. Tôi quá sợ để nhìn những đôi mắt và những gương mặt như thể hằn lên những nét đau đớn tột cùng. Trời ơi. Tôi biết tôi có lỗi với họ. Chỉ có một cái lệnh thất thần : Rút xuống hết, bọn bây rút xuống hết là cả một bi kịch. Tại sao trung đội ba của Mưng lại bình an. Tại sao tôi không cho trung đội tôi rút lên đỉnh đồi để tránh những ổ đại liên đang đặt từ cao điểm. Tôi tự biết lỗi của tôi rồi. Yêu nước, hy sinh, anh hùng, đã không đúng chỗ. Tôi đã từng nghe bạn bè tôi kể về những lần thí quân tàn bạo và ngu xuẫn. Chẳng hạn tay tướng bay trên trời ra lệnh một tiểu đoàn bằng mọi giá phải vượt sông, để cuối cùng cả tiểu đoàn bộ binh phải tuyệt vọng dưới lòng nước, trước hàng hàng viên đạn từ trên bờ nhả xuống. Tôi cũng đã từng nghe về cái chỉ thị quái đản khi tay tư lệnh bắt hết tiểu đoàn này đến tiểu doàn khác tiến chiếm ngọn đồi mà chẳng nghĩ đến việc dội bom hay pháo yểm trợ. Có phải tay chỉ huy có trách nhiệm chưa bao giờ đứng trên một ngọn đồi để nhìn xuống chân hắn hàng trăm hàng ngàn hang đá như những pháo đài kiên cố. Và giữa trăm ngàn hang kia, người lính làm sao biết hang nào là địch quân ẩn nấp. Ngu xuẩn để thí quân. Tại sao lại không bắt chước đám Mãnh Hổ Ðại Hàn, tiết kiệm từng giọt máu của binh sĩ. Tại sao lại không bắn pháo bằng đầu đạn hơi ngạt để hơi tỏa xuống hầm, thốc mữa đui mù đám chuột trước khi lên tấn công đồi. Quân đội. Một điều hết sức lầm lẫn là quân đội chúng tôi lại lọt vào tay những tên tướng chỉ biết lo đão chánh, hay chưa bao giờ đau cái đau của lính. Có lẽ tôi điên khùng rồi. Mà tôi điên khùng thật. Khi không cả một đại đội hôm qua còn đầy đủ hôm nay lại tan hàng, thất điên bát đão. Nhưng tôi không dám nói. Tôi chỉ là một thiếu úy quèn, chỉ biết tuân lệnh răm rấp. Tôi mà cãi lệnh có nghĩa là bị tội nặng. Họ sẽ đưa tôi ra toà án quân sự mặt trận cũng nên.
Có lời rên rỉ phát ra từ cuối phòng cấp cứu. Ông Thầy em chết mất. Ông Thầy làm ơn cho em ân huệ cho em viên đạn, em chịu không nổi ông thầy. Tôi nhận ra thằng Sơn, tên hạ sĩ trẻ tuổi nhất của đơn vị. Sơn, Sơn tao đây, tao đang có mặt bên mày đây. Anh đang có mặt bên em đây. Mày không chết đâu. Em không thể chết đâu. Sơn. Tôi vuốt mặt Sơn. Hay Nồi. Thằng ăn cắp giấy khai sinh. Thằng đòi yêu tổ quốc vào năm 16 tuổi trong khi thiên hạ đổ bao nhiêu tiền bạc chạy làm văn phòng hay làm lính ma lính kiểng. Sơn cũng được mà Nồi cũng được. Nhưng tôi thích gọi em là Nồi. Cái nồi quê mùa, cục mịch, hạ cấp. Cái nồi như định mệnh của những người nông dân không dám đặt tên đẹp tên thơ tên anh hùng thục nữ cho con cháu họ. Bởi họ sợ thần linh. Bởi họ không dám mơ ước những điều vượt ra ngoài lũy tre xanh. Nhưng định mệnh lại túm cổ những đứa con của đất. Trong ấy có Nồi. Sơn hay Nồi. Tại sao mỗi lần tôi gọi Nồi thì nó đỏ mặt, mắc cở. Tôi biết hôm nay tôi còn sống cũng là nhờ hắn. Hắn hụt hơi, loạng quạng, xiêu đổ, ngã nghiêng. Hắn mạnh như trâu, chạy trên bụi trên gai, vấp té, nhưng vẫn không rời tôi một bước. Tôi ôm nó, nâng đầu nó lên cánh tay của tôi, nói như lời ru: "Tao hứa là kỳ này tao sẽ cho mày đi phép về thăm vợ con mày. Tao sẽ cho mày nửa tháng để mày tha hồ đi. " Sơn thều thào: "Cám ơn ông thầy" rồi hắn thiếp đi.Tôi tung cửa hồi sinh nhào vào văn phòng bác sỉ trực bệnh viện. Không hiểu sao tôi lại làm như vậy. Tôi lại rút khẩu colt mà tôi đã dấu sẵn trong người. Tôi gặp ông y sỹ trực đang ngồi sau bàn. Ông ta đang nói gì đó trong điện thoại. Hành động của tôi đã làm ông ta khiếp hãi. Ông bỏ ống điện thọai xuống, run rẩy thấy rõ. "Thiếu úy muốn gì? " "Thưa bác sĩ, tôi muốn lính của tôi được săn sóc. Tại sao các ông lại không lưu tâm gì đến họ. Tại sao các ông lại nhét họ như nhét vào hộp cá mòi, để họ nằm chờ chết. Tại sao các ông không động một chút gì từ tâm, ban cho họ chút nước biển, chút thuốc men để cầm cơn đau. Các ông bắt họ nằm ở đấy mấy tiếng đồng hồ. Các ông không biết đầu họ đã bị mã tấu chém não trắng lòi ra..." Tôi chĩa súng vào người ông. Rõ ràng tôi không còn tự chủ được nữa. "Vâng, thiếu úy đừng nóng. Thiếu úy hãy bỏ súng xuống. Thiếu úy hãy bình tỉnh" Ông đại úy y sĩ đưa hai tay như che chở thân hình, rồi nói tiếp: "Họ đang chờ được phân phối mà. Thiếu úy hãy thông cảm hôm nay thương binh nhập viện quá nhiều mà". Bây giờ tôi mới nguôi giận. Bọn này luôn luôn có những cớ để bào chữa. Tôi đã biết có những người bác sỹ có lương tâm, nhưng bên cạnh vẫn có những tay không thể xứng đáng là một con người. Chúng ăn cắp thuốc Tây đem về làm của riêng, để dành cho phòng mạch hay pharmacy của chúng. Trong khi những người thương binh bất hạnh cần một bình serum thì trong kho của chúng thì đầy ngập đồ ăn cắp. Chúng mặc áo giám định trong những hội đồng y khoa, hối lộ, thông đồng, bắt buộc những tay mắt cận thị nặng, hay điếc nặng ra lại mặt trận, những tay mắt sáng về làm việc trong những đơn vị tác chiến. Chúng dành thì giờ nhiều cho phòng mạch của chúng hơn là cho đồng đội chúng tôi. Tôi biết rõ nên tôi phải giận đến cuồng điên như thế này. Tôi biết rõ tôi không thể nhìn Nài, Sơn cứ quằn quại trong phòng hồi sinh cấp cứu nhưng chẳng có gì cấp cứu hồi sinh. Cả mấy tiếng đồng hồ họ vẫn chưa được ai buồn tình săn sóc. Trời ơi, tôi không thể nhìn chúng mà bất lực như thế này.
Nồi ơi, em hãy cố gắng mà sống. Tôi biết em đã hy sinh vì ông thầy. Khi em kêu rên trong cổ họng chính là lúc những lổ hổng toét lở trên bụng, bã vai của em đã chịu thay cho tôi. Em đã chịu chết cho tôi mà. Thật là kỳ lạ, tại sao em lại gánh hết tất cả những đau đớn, thảm kịch trong khi lẽ ra tôi phải gánh, phải chịu? Tôi khùng đây. Nếu mà tôi làm tướng, tôi sẽ cho em qua Ðài Loan để thấy con gái Tàu, qua Nhật để thấy con gái Nhật. Tôi sẽ cấp cho em nhà cao cửa rộng, để em rước chị Nồi về. Tôi sẽ đền ơn đáp nghĩa những lần em căng võng trận cho tôi, tìm hái lá giang để nấu với thịt quân tiếp vụ, giặt áo giặt quần cho tôi, cầm súng mắt gầm gừ khi tôi về thành phố...
Nồi, sao em lại thiếp mê man. Tôi hứa tôi sẽ làm một tờ sứ vụ lệnh, và nhân danh xử lý quyền đại đội trưởng, tôi sẽ cho em phép. Về thăm vợ dại con thơ. Nhưng hãy ráng để sống, Nồi ơi...
Sau trận đánh ấy, sư đoàn treo cờ rủ. Ngày hôm sau, tôi lại theo trực thăng của ông Tướng Tư Lệnh trở lại ngọn đồi. Suốt cả đêm, pháo binh Mỹ bắn hàng ngàn quả đạn pháo, thả hàng hàng trái sáng cho quân Ðại Hàn đổ xuống mặt trận, và cả trăm xác Việt Cộng nằm chết ngỗn ngang bên cạnh những người không may của đơn vị tôi. Ông Tướng ngồi lặng cả mười lăm hai chục phút trên một mỏm đá. Chúng tôi đã thu nhặt được xác của ông thiếu tá cố vấn. Áo quần của ông đã cháy đen, cả thân thể của ông bị thiêu, mở căng chảy. Gương mặt của ông đã không còn nhận được nữa. Ðen và phồng như quả bóng. Tôi bước giữa các xác người. Tôi lại nhặt được khẩu súng lục cán bằng ngà của ông sĩ quan cố vấn. Tôi vội nhét vào trong lưng quần. Tôi dấu mọi người. Khẩu súng quá đẹp, tôi phải giữ.
Cuối cùng như một phép lạ, Nồi vẫn còn sống. Cả phần bụng bị vá chùm vá đụp. Mấy ngón tay cái bị co cứng liệt bại. Chiếc sẹo dài trên đầu đã bị che khuất bởi những ngọn tóc bắt đầu mọc trên lớp da non. Trong thời gian Nồi dưỡng thương, tôi vẫn thường trở về bệnh viện, đẩy chiếc xe lăn chở hắn ra ngoài hành lang, để hắn nhìn ra biển. Biển xanh bạt trùng. Ngoài khơi, cù lao mờ ẩn. Hắn say sưa kể lại những lần hắn theo ghe ra ngoài cù lao, theo dấu rùa, ba ba, để đào những quả trứng. Hắn cũng khoe về cái động thâm u hắn theo đám người đốt đèn bảo, đi tìm yến sào. "Ông thầy biết không, yến sào có màu đỏ như huyết qúi lắm. Người ta nó chim yến chúng nó ho ra máu, khạc cả huyết để làm yến sào. Em không tin. Nhưng làm cái nghề lấy yến giàu lắm ông thầy. Chỉ có điều phải vất vã lắm." "Như vậy, Nồi muốn làm nghề ấy không? " "Em muốn, nhưng mình không có vốn. Với lại khó mà xin được cái giấy phép hành nghề. Cù lao nào cũng có chủ. Họ không cho tay lạ vào đâu" Tôi đổi sang câu chuyện khác: "Lần này Nồi có 7 ngày xuất viện cộng thêm nửa tháng phép thường niên, mày về đâu?" "Em về Nha Trang, thăm vợ con em. Em nhớ thằng nhỏ của em quá trời ông thầy". Hắn trả lời xấu hổ. Tôi cũng cảm thấy vui lây. Ở hắn là cả một chất sống, lạc quan để sống. Hắn không bao giờ kể về những thảm kịch hôm qua. Hắn cũng không bao giờ than thở một lời về định mệnh nghiệt ngã của hắn. Hắn nằm trên giường bệnh, cô độc suốt buổi, nhìn những người thân nhân tấp nập thăm nuôi bằng đôi mắt dửng dưng. Có lẽ cuộc dời của hắn đã quá bất hạnh rồi. Hắn đã quá quen thuộc với cái cô độc quá rồi.
Không ngờ sau lần xuất viện ấy, Nồi đã không còn trở về đơn vị nữa. Và tôi cũng không còn nhớ đến hắn nữa. Bởi không có hắn, tôi vẫn tìm ra một người ô đô khác. Ðời trận mạc, giáp kề với tử sinh từng giờ từng phút, ai có thì giờ để nhớ lại một hình ảnh, hơn nữa, một người lính trẻ vô danh như Nguyễn văn Nồi. Hơn nữa, sư chọn lựa bõ ngũ đã quá quen thuộc với đơn vị. Ngay cả tôi cũng bị thôi thúc bởi một ngày bỏ bộ đồ xanh trở về ẩn trốn để chờ đợi hoà bình. Chiến tranh mỗi ngày một khốc liệt, và cấp lãnh đạo ở Sàigòn dường như chỉ biết xâu xé nhau. Mỗi ngày, hết đoàn biểu tình này đến đoàn biểu tình khác tiếp tục lọan cuồng trên các con đường phố dưới khói lựu đạn cay. Lúc này có lẽ cái câu khôn thì sống dại thì chết đã trở nên một ám ảnh không rời. Tôi cầu Nồi đủ trí khôn sau những năm dại khờ ăn cắp giấy khai sinh tình nguyện yêu tổ quốc.
Khôn thì sống dại thì chết. Có phải vậy không? Hai mươi năm sau cuộc chiến, lúc này lời thôi thúc nào đã được tiên nghiệm. Những kẻ trốn lính, đứng bên lề đã sống sót, đã vượt biển, đã theo chương trình đoàn tụ để thêm một lần được sống. Những lãnh tụ, tướng lãnh , những tay quyền lực lại thêm một lần được sống. Chỉ có những người như bè bạn tôi, đồng đội của tôi là dại. Bởi họ không chịu chạy khi người khác chạy. Bởi họ đứng ở tuyến đầu che chở bảo bọc cho một hàng ngũ đằng sau đào tẩu. Chỉ có Nguyễn văn Nồi là dại. Bởi không có giọt nước mắt nào lại nhỏ thành lệ đỏ. Anh hùng. Cứ nhắm mắt kêu gọi anh hùng. Nhưng anh hùng ở đâu, Nồi ơi, em ở đâu, để tim tôi muốn cứa từng nhát, quặn từng hồi qua lời kể của người bạn cũ về quãng đời còn lại của Nguyễn văn Nồi từ sau ngày hắn rời bỏ đơn vị tôi. "Thì ra mày cũng biết Nguyễn văn Nồi à?"
"Vâng, lần này hắn dùng giấy tờ thiệt để đi nghĩa quân. Ngày cuối cùng của trận chiến, hắn ôm cả quả lựu đạn, tháo chốt an toàn từ trên bầu Quao phóng xuống hồ và tự sát. Cuối cùng hắn đã chọn cái tên cha sinh mẹ đẻ của hắn để mà chết. Ít ra hắn vẫn còn khí phách hơn chúng ta."
Trần Hoài Thư
Những Chiếc Mặt Nạ
Hwang Sun-Won - Sinh năm 1915 tại miền bắc Ðại Hàn, theo học môn văn chương Anh tại Tokyo khi nước ông còn bị Nhật chiếm đóng. Trong thế chiến thứ hai, ông sáng tác lén lút vì chính quyền Nhật cấm viết bằng tiếng Ðại Hàn. Sau thế chiến, ông sống ở Nam Hàn.
Masks (Những Chiếc Mặt Nạ) do Martin Holman dịch sang Anh ngữ, trích trong tập - The Book of Masks, do Martin Holman chọn và giới thiệu; Readers International, Luân Ðôn, xuất bản năm 1989. Trong Masks, vết thương ở chân hay tay, ở Nam hay Bắc Hàn, vẫn là vết thương của một Ðại Hàn.
Bị thương vì một viên đạn nơi chân, người lính ngã xuống. Khi cố vực mình lên, một mũi lưỡi lê đâm xuyên qua ngực anh. Ðúng lúc anh mất ý thức, khuôn mặt kẻ tấn công in hằn trên đôi mắt anh như đóng bằng sắt nung. Máu từ ngực người lính chảy vào mảnh đất vàng của bãi chiến trường hoang tàn này. Nơi đó là chân đồi cách xa quê anh, nhưng giống như vùng đất chung quanh làng anh.
Máu anh thấm vào đất và biến thành đất. Người lính tử trận đã từng là nông dân, và với anh, đất chính là sự sống. Lúc đầu chỗ đất này đậm hơn chung quanh, nhưng dần dần trở thành đồng màu.
Rễ một cây cỏ tranh tím âm thầm uống cuộc đời anh lính, và anh biến thành cỏ tranh.
Một đám giầy trận chà đạp lên cỏ tranh và tiếp tục đi. Vào mùa đông, giầy ống nặng hơn trước giẫm lên cỏ tranh tuyết phủ. Ngày lại qua ngày, chúng chà đạp lên cỏ tranh rồi bỏ đi, nhưng cỏ tranh không chết. Sau khi giầy ống đã đi qua, cỏ tranh được thoảng nhẹ trong gió xuân, tắm trong ánh mặt trời, gội trong mưa và sương, phủ trong tuyết, và lại được thoảng nhẹ trong gió xuân. Ðến cuối xuân, cỏ tranh được chiếc phảng nhà nông cắt xuống và mang vào chuồng bò.
Nơi đây cỏ tranh biến thành con bò đực. Giống như người lính tử trận đã làm khi còn là nông dân, người chủ bò săn sóc nó như phần tử quan trọng nhất trong gia đình. Giờ đây, anh lính làm việc cần cù bên cạnh nhà nông. Anh làm việc đến lúc sưng bầm da, nhưng giữ cho ruộng đất sống năm này sang năm khác không phải dễ dàng. Rồi một trận lụt quét sạch cánh đồng, và một đêm thu đó, người nông dân nén tiếng khóc của mình khi ông đập vào gáy anh lính. Anh lính đi qua chợ, rồi lên xe lửa đến lò sát sinh. Người ta treo anh lên trong quầy thịt ở thành phố, thịt xẻ từ xác anh ra bán. Ở đó anh gặp người anh biết - người đã đâm lưỡi lê qua ngực anh tại chân đồi. Hắn đang xin ăn. Hắn ăn mẩu thịt vụn xin ở nhà hàng, và anh lính nhập vào hắn.
Người đàn ông ném chậu ăn xin trống rỗng và tự vực mình lên, một cánh tay áo lao động sờn cũ lủng lẳng chỗ tay cụt. Hắn đi đến lò đúc sắt, nơi hắn đã từng làm công nhân máy tiện trước khi chiến tranh lấy đi cánh tay của hắn. Hắn soải bước vào trong và đến người chủ cũ của mình.
- Chào ông.
Khuôn mặt ông chủ lò đúc lộ vẻ không bằng lòng. Ông dùng mũi giầy dập điếu thuốc.
- Ðừng lo, thưa ông, tôi không đến đây để quấy rầy ông. Tôi đến đây để làm việc như ngày trước.
Ông chủ liếc nhanh cánh áo cụt tay một cách bực bội.
- Ông nhìn gì?
Người đàn ông nhìn thẳng ông chủ và nói tiếp:
- Tôi bị thương ở chân vì một viên đạn, nhưng thế nghĩa là tôi không điều khiển được máy tiện sao?
Người đàn ông cử động thân mình trong khi nói, cánh tay áo rỗng của hắn đung đưa bên cạnh.
Y Cựu chuyển ngữ