vhnt, số 302
5 June 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ:
1 - Tình ca cho em..........................................Hồ Văn Mẫn
2 - Như một lời chia tay.........................Nguyễn Xuân Thiệp
3 - Ác.............................................................Cỏ Tím
4 - Lý ngựa ô từ đôi bờ................................Tường Vi
5 - Xuân tàn............................................Cát Bụi Tình Xa
6 - Thơ dịch: Jules Barbier...........................Nguyễn Quốc Vinh
7 - Lời chia tay..................................................Cỏ Dại
8 - Thơ làm ở bến sông..........................................Chinh
9 - Chiếc lá..........................................Ðặng Khánh Vân
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Ra biển gọi thầm: Niềm Ðau Của Thế Hệ Lớn Lên Trong Thời Chiến....Lê Tạo
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Bức tượng............................................Phạm Chi Lan
Ðâu phải thơ được viết ra chỉ để cắt nghĩa một điều gì đó. Khi tình cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra ngoài, chúng ta có thơ!
- R. Tagore -
Thân chúc bạn đọc một ngày hè rực rỡ!
thân ái,
PCL/vhnt
Tình Ca Cho Em
1
Giờ đây ta xa nhau
Nhớ thương ngập biển sầu
Còn đâu ngày tháng cũ
Có tóc em mềm dài đêm tâm sự
Có môi cười vỡ nắng thuỷ tinh
Có trẻ thơ ngoan bếp ấm gia đình
Từ lâu không nghe em nói
Tên em thèm tiếng gọi
Em buồn không em?
2
Dù chia cách sơn khê
ước mơ rộn lối về
Niềm tin còn đó mãi
Gian khó chôn vùi, ngày vui ở lại
Cho vợ hiền không lỡ mất tuổi xuân
Cho trẻ thơ xin lại cành thiên thần.
Từ lâu thương em gối chiếc
Anh đi xa biền biệt
Chớ buồn nghe em!
3
Nhớ về xưa ngày cưới đôi ta
Em thật hiền hòa.
Buồn vui đong đầy phần năm thế kỷ
Tình đôi ta chung thủy
Vườn ngat' hương cau, đi về có nhau
Tiếng chuông đẹp kinh cầu.
Ngày xưa hờn anh, em khóc
Cho anh sầu cô độc
Còn nhớ không em?
Xin chớ buồn thêm
Vì anh sẽ về với em...
4
Ngày mai thôi chia xa
Nỗi đau xưa nhạt nhoà
Dìu em trên phố cũ
Ðẹp áo em bay vui chiều đại lộ
Chuyện trò đêm khuya
Trăng xuống bóng dừa
Anh thì thầm: em hết buồn chưa?
Nhìn anh, em cười không nói
Yêu anh ngồi xích lại
Thương hoài nghe em...
Thanh Hoá 1979
Hồ văn Mẫn
Như Một Lời Chia Tay
như một lời chia tay
tôi gửi lại
một góc phố rực lá vàng
quán cà phê mở cửa dưới giàn hoa giấy
tiếng chim lúc mình hôn nhau
tôi gửi lại
căn nhà. gió động cây đàn gỗ chùng dây. cửa sổ
nhìn ra sông. hoàng hôn
tím màu hoa đồng thảo
hồn tôi suốt bao đêm cùng đốm lửa vườn xưa
thức trong cây và đất
đợi chờ ai. hừng đông mưa
phượng đỏ một lời yêu dấu cũ
là lúc chia xa
tôi gửi lại
con hẻm mùa đông
gầy yếu
tiếng rao hàng vào giấc ngủ khuya
những khuôn mặt bạn bè với nhiều nếp gãy
cuộc đời. sướng. khổ. nhọc nhằn
tôi gửi lại
tôi gửi lại
thành phố như một đóa quỳ vàng
(thành phố mối tình đầu của tôi. nay gửi lại)
nắng. mưa
ngôi mộ người thân với chút tro than
ôi chút lòng hoài vọng sót
gửi nụ cười trên môi em bé có tên gọi Bình Minh
tôi gửi lại
đất và người
gió bắt đầu từ lãng quên
Nguyễn Xuân Thiệp
Saigon, tháng 5-1995
Ác
Có một lần em lạnh lùng quay gót
khua mịt mù đau xót xoáy sau lưng
rút khăn chậm vài giọt nhớ rưng rưng
miệng guợng cuời cho mắt sưng ráo hoảnh
Ðã mím môi nghiền tiếng yêu ra trăm mảnh
đã cuối đầu nhận trọn cảnh xa nhau
đã khô khan nuốt nguyện uớc hôm nào
mà đôi ta từng cho là bất diệt
Em nỡ giết tình xanh rêu không chút tiếc
hỏi bây giờ còn tha thiết đợi ai
đừng đổ lỗi vô duyên kiếp đã an bài
rồi trách móc trời mây không toại nguyện
Chuyện đôi ta? Ôi sẽ mãi là chuyện
kết cuộc tình em đã chọn buớc đi riêng
để mặc cho tâm tư lạc giữa muộn phiền
em vẫn chịu, vẫn tự thân đày đọa
Em ác lắm! Người ơi! Em ác quá!!!
Cỏ tím
Lý Ngựa Ô Từ Ðôi Bờ
Ừ, hát tặng nhau khúc dân ca
Lý Ngựa Ô từ phía đôi bờ
Ngọt ngào câu hát đưa ngàn dặm
Về ngang trang sách đọng trang thơ
Bông sen lá dặm, tự ngàn xưa
Anh tra khớp bạc gửi đợi chờ
Mai này khi có qua biển Bắc
Ngựa tung bờm gió nối đường tơ...
Gập ghềnh câu hát lý ngựa ô
Qua đồi qua suối đến hư vô
Chờ nhau rét mướt, trăng mùa hạ
Chưa gần mà lá đã tương tư
Bao giờ trăng ấy hết bơ vơ
Em mang hài tía, áo tiểu thư
Về theo anh nhé tròn duyên nợ
Ngựa ô câu lý, dặm đôi bờ...
tường vi
Xuân Tàn
Có phải chiều nao Em đã qua
Dưới bóng cây xanh mộng nõn nà
Cây đùa khẽ rụng đôi chiếc lá
Trên bờ vai mọng thơm thiết tha
Có phải chiều nao anh xuyến xao
Thấy bóng Em qua chẳng dám chào
Cây khô bỗng ngập hồn thi sĩ
Mang vần thơ lạ... pha khát khao!
Có phải chiều nay anh đứng đây
Ngắm cánh chim xa... lượn hao gầy
Nhớ Em chợt lòng như đôi cánh
Mơ có "Thiên Thần" để cùng bay!
Có phải Em chiều xưa đã đi
Trăm năm mộng ước hỏi còn gì?
Cây kia thầm rụng bao nhiều lá
Thương bờ vai nọ thưở từ ly!
Có chiều nay anh nhớ em?
Cây xanh đậm lá buổi xuân tàn
Lơ thơ ngọn gió đùa quanh lá
Một gã chim vàng vang tiếng than!
Cát Bụi Tình Xa
7-Tháng-4-97
O Dieu, de quelle ivresse embrasses-tu mon âme,
comme un concert divin ta voix m'a pénétré!
D'un feu doux et bru^lant mon être est dévoré!
Tes regards dans les miens ont épanché leur flamme,
comme des astres radieux!
Et je sens, ô [mon bien-aimé], passer ton haleine embaumée
sur mes lèvres et sur mes yeux!
Jules Barbier
Em chợt đến với lòng tôi theo niềm vui dào dạt.
Tôi nhớ em nhiều nhưng nào biết nói năng chi
Trong thinh lặng rung động con tim chứa chan trìu mến.
Tôi thương em lắm mà sao ngập ngừng chẳng nên lời.
Ôi! Hãy cho tôi vẫy vùng chìm vào không gian say đắm!
Ghì chặt bóng em run rẩy tôi trao nụ hôn đầu
nồng cháy rừng rực nổ tan tác muôn vạn tinh cầu
le lói chớp nhòa cõi hư vô ái ân vĩnh cửu!
Rồi cất giọng nghẹn ngào mê man gọi... hỡi em yêu....
Nguyễn Quốc Vinh
Lời chia tay
Ta nói đây lời chia tay lần cuối
Tự giết lòng mình bằng những vết dao
Từ mai đây mặt trời thôi mọc
Bóng tối cuộc đời sẽ mãi vây quanh.
Kỷ niệm rồi đây thành vết thương lòng
Làm rạn vở đôi tâm hồn vô tội.
Em trong trắng như mây trời cao ngất
Anh hoang mang bên vấp ngã cuộc đời
Nên tình ta cao thấp ở hai nơi
Mãi tìm kiếm vẫn xa tầm tay với.
Tình đắng quá nên đôi lần hấp hối
Mà người đời đâu dể bỏ cuộc chơi
Chợt một ngày tình ấy bỗng đầy vơi
Bởi có gã đã tìm ra định nghĩa
Hạnh phúc đâu xa chỉ là ảo tưởng,
Và tình yêu là những vết thương *
Cỏ Dại
* Mai Thảo
Thơ Làm Ở Bến Sông
(nhớ về K.)
Lang thang đã mòn một kiếp
Sóng còn xô bước chân nhau
Bến sông vẫn là chốn đợi
Trăm năm sao rụng trắng bờ
Chiều thắp lên cây tiếng hát
Ta lang thang dưới hiên đời
Kiếm tìm trái banh tuổi dại
Nghe mặt trời rụng xuống vai
Chim về đậu bàn tay nhỏ
Tiếng hót mềm như lá rơi
Tháng ngày vội qua từng chuyến
Ta gầy khô trên bến sông
Cội nào có đón ta về
Cho ta một lần rửa tội
Bóng còn in đậm tường rêu
Thoảng đâu những lời thề cũ
Thời gian kéo đời nghiêng xuống
Rửa lòng sau một kiếp chơi
Cuối muà còn đâu rượu ngọt
Hồn nghe rã, đắng, mây mù.
6.2.97
Chinh
Chiếc lá
----------
Tôi là
chiếc lá thu phai
đong đưa trong gió
chờ ngày
hồi sinh.
Gặp anh
tôi hoá thành hình
lang thang đây đó
đượm tình
vàng sân.
Chiều nay tôi lạc gót trần
phải chi tôi được
một lần
hôn anh!
Gió chiều thoang thoảng qua nhanh
muà thu sắp hết
xa anh cận kề.
Chiều nay tôi đã hẹn thề
mỗi năm ba tháng
quay về
tìm anh.
Giữa trời chiếc lá mong manh!
Đặng Khánh Vân
Ra Biển Gọi Thầm: Niềm Ðau Của Thế Hệ Lớn Lên Trong Thời Chiến
Tập truyện Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư gồm hai mươi truyện ngắn. Trong đó có bốn truyện ngắn viết trước 1975 và được sửa chữa viết lại ở hải ngoại. Lớn lên trong thời loạn ly của đất nước, ông cũng như phần lớn những người cùng thế hệ đều là những người lính, những người lính thực sự, sống chết từng giây từng phút ở chiến trường. Là người lính, sống và đổ máu cho quê hương, mang trên mình những vết tích của chiến tranh, những nổi đau nghiệt ngã của đất nước nên những truyện ngắn của ông phần lớn mang những hình ảnh, tâm sự của người lính lúc còn cầm súng hay những vết sẹo ngàn đời, những ám ảnh khôn nguôi, những quá khứ tang thương sau cuộc chiến.
Chiến tranh là lò hủy diệt con người, là nơi người lính đối diện với cái chết từng phút từng giây. Mới vài tiếng đồng hồ trước, họ có thể nói cười nghiêng ngửa, tán phét tứ tung, thì vài tiếng sau có thể họ phải để lại một phần thịt xương của chính mình trên trận địa hay ra đi mắt còn chưa kịp nhắm. Và thật may mắn, bên cạnh người lính, Trần Hoài Thư còn là nhà báo, nhà văn. Cho nên khi viết về cuộc chiến vừa qua, ông luôn bày tỏ lòng mình một cách rõ ràng, minh bạch. Hơn thế nữa, ông luôn chờ đợi những nhà văn, và cũng là người lính bên kia chiến tuyến viết trung thực về một cuộc chiến mà ông và họ đã cùng tham dự. Ông viết "Từ lâu, người ta chờ đợi những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam bằng ngòi bút trung thật, vượt khỏi định kiến, guồng máy, lập trường, từ những nhà văn miền Bắc..." (Ðối thoại với một nhà văn trong hàng ngũ thắng trận, trang nhà của Trần Hoài Thư tại www.saigonline.com). Chiến tranh đã đi qua. Còn gì để giấu diếm. Sao không nói sự thật! Nói thật để thế hệ đi sau khỏi xa vào vết đổ của người đi trước. Nói thật để giảm thiểu những khổ đau chồng chất, để học quá khứ sau lưng mà bước về tương lai trước mặt. Trong tinh thần đó, chữ nghĩa của ông được viết ra từ những rung động thực của con tim. Vì thế, theo tôi, những truyện ngắn trong Ra Biển Gọi Thầm được ghi lại từ đời sống thực của ông, của bằng hữu, của những cảnh tai nghe mắt thấy. Lối viết này là lối viết người thật việc thật.
Viết theo hướng người thật việc thật dễ mà khó. Bởi đã thật thì không cần màu mè mây nước. Không màn đến hoa lá xum xoe. Lối viết này dựa vào cốt lõi của con người, của sự việc. Bút pháp mà họ xử dụng phải là bút pháp thật trần trụi và giản dị mới làm nổi bật câu chuyện. Ðây là một loại viết văn ngắn, gọn, không dùng nhiều tính từ để tô vể Chữ nghĩa làm bật lên sự chuyển động chứ không phải phơi bày, mô tả sự chuyển động. Chữ nghĩa đưa cảnh thật vào cõi lòng và ở lại với người đọc chứ không phải xếp thành từng hàng, vô hồn như bức tranh chụp vụng. Nó đòi hỏi người sáng tác một sự nhạy bén cần thiết và chữ nghĩa phải tôi luyện đúng mức mới làm sáng vấn đề. Nếu không, câu cú sẽ chỗ này chênh vênh, chỗ kia khập khễnh, khi đứt khúc, lúc gãy đoạn khó thu hút người đọc. Do đó, càng dùng nhiều tính từ, chữ nghĩa dễ làm mờ đi điểm trọng yếu. Càng dùng nhiều tính từ người viết càng dễ trở thành người thuyết minh. Mà nghệ thuật thì không cần thuy ết minh, giải thích. Bởi độc giả ngày nay rất nhạy bén trong khi thưởng ngoạn. Họ là những người trọng chữ nghĩa, yêu nghệ thuật. Do đó cái hay của tác giả họ sẽ nhận thấy ngay. Còn người không yêu nghệ thuật thì khó mà nuốt nổi những tác phẩm nghệ thuật. Vì thế, dù tác giả có cố công giải thích thì cũng bằng thừa.
Khi viết về người lính trong cuộc chiến, Trần Hoài Thư đã xử dụng lối viết sắc cạnh này.
Tôi vùng dậy chạy. Ðạn rít dưới chân. Ðạn xẹt trên đầu. Tôi nhào lộn. Lê lết. Bò trườn. Tôi nhào xuống bờ suối. Ðạn đuổi theo. Nó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc bùm. Thụt đầu vào. Chạy. Lăn. (Nhật ký hành quân, trang 135). Không diễn tả đậm đặc. Không thuyết minh dài dòng. Không tính từ để tô vẽ lòe loẹt. Câu văn ngắn củn, bật lên sự chuyển dịch trong từng tích tắc đồng hồ, gay cấn, nghẹt thở.
Nói đến chiến tranh, phải nói đến tổn thất, thương vong, chết chóc. Dù không muốn nghĩ đến nhưng sự thật vẫn là sự thật.
Họ nằm đấy, mỗi người có kiểu thế riêng. Người thì nằm ngửa, người nằm sấp. Người co quắp lại như con tôm. Người nằm giang hai tay hai chân thanh thản. (Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc, trang 75). Những cái chết rõ mồn một giữa thanh thiên bạch nhật. Những cái chết không hề định trước. Hậu quả trận chiến bị lột trần, gây nên cái nhờn nhợn trong lòng người đọc.
Cái đau thể xác của người lính trong chiến tranh được ông diễn tả một cách sống động và đầy khốc liệt.
Hắn vùng vẫy, rên xiết, thét gào. Tiếng la dội cả một không gian hừng hực khói lửa và nắng mặt trời tháng năm. (Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc, trang 80).
Cả chân tôi bị dập bởi một trái lựu đạn nào đó được quăng lên từ dưới hang đâ Và cả bả vai, cánh tay tôi nữa. Tôi nằm yên không cựa quậy, tênh hênh trên bãi trống trải. Tôi la gào, tru tréo. (Vết thương không rời, trang 119).
Là người lính, không phải ai cũng anh hùng! Dĩ nhiên ai cũng sợ cái chết. Có những cái chết đi vào lịch sử, cũng có những cái chết đi vào quên lãng. Có những cái hèn, chết. Cũng có những cái chết, hèn. Và cũng có những cái chết vì cái hèn của đồng đội. Trong truyện "Vết thương không rời", nhân vật xưng tôi bị thương, chiến hữu của ông, Minh, cũng bị thương, mặt đỏ hồng, dính cả máu. Giữa trận địa, chết với sống không còn biên giới. Nước rặt mới biết cỏ thúi. Ai anh hùng, ai hèn hạ cũng được đánh giá ở những giây phút tử sinh. "Tôi van lơn hắn: Minh, tao không thể bò được. Ráng cứu tao. Minh trườn tới bên tôi. Hắn tiếp tục cầu khẩn tôi, Tân mày rán đưa tay mày cho tao kéo tiếp... Mày xem, làm sao tao có thể cõng mày được. Rán đưa tay tới tao... mày thương tao gắng trườn tới một thước..." Hoàn cảnh của bạn đáng thương như vậy. Tấm lòng hắn đáng phục như vậy. Thế mà "tôi" chỉ biết có tôi. Tôi chỉ sợ tôi chết, "Tôi chửi hắn. Ð.M mày. Mày hèn lắm. Ðối với Việt Cộng mày dám cởi quần nó, còn đối với bạn mày, mày lại hèn, hèn lắm." Chính cái chửi như tát nước vào mặt đó, là nguyên nhân đưa đến cái chết của bạn "tôi". Ai hèn? câu hỏi không cần câu trả lời. Tàn cuộc chiến, "tôi" còn sống, bạn "tôi" đã gởi lại xác thân, đi vào miền miên viễn. "Tôi đã xúc phạm danh dự của anh. Và tôi biết anh đã chết vì tiếng chửi này. Tôi biết tôi phải ân hận suốt một đời." "Tôi" là ai? Là thiếu úy Tân, là "Ba cận thị", là Năm Râu - những nhân vật trong tác phẩm, hay là một người lính nào đó trong muôn vàn những người lính trong chiến tranh? Mà cần gì phải truy nguyên, cần gì phải tìm kiếm. Trong hàng ngũ nào mà chẳng có người anh hùng, kẻ hèn hạ, mà nhất là trong chiến tranh. Ðiều quan trọng là có thấy mình "hèn" hay không. Ở đây, cái "hèn" d dược nhìn nhận một cách trễ tràng, nhưng trễ vẫn hơn là... không bao giờ. Dù sao đi nữa cũng là lời kinh sám hối, lời thống khổ trong tận cùng tim can của người còn lại. Còn bao nhiêu người nữa ch ưa nhận biết được cái "hèn" của mình trước vong linh những chiến hữu đã ra đi? Chỉ có những người tham gia cuộc chiến vừa qua như Trần Hoài Thư và những người cùng thế hệ mới có câu trả lời.
Viết được cái hùng đã khó. Làm bật được cái "hèn" còn khó gấp đôi.
Là người lính, Trần Hoài Thư thấm được cái đau của chính ông, của đồng đội ông. Một cái đau khởi từ thịt da rồi dần dà ăn sâu vào tận xương tủy, thấm đến tâm can. Nỗi đau đó còn bị tác đô.ng mạnh bởi bao nhiêu kẻ buôn xương bán máu người lính. Họ là những kẻ đứng ngoài chiến tranh, hay nói cách khác họ chỉ là những kẻ chỉ biết "mượn áo lính để tiến thân, chưa bao giờ ra trận một ngày mà hùng hổ la gào." (Ra biển gọi thầm, trang 77). Vì thế, làm gì họ biết đến cái đau của người lính. Có khi chỉ cần nghe tiếng súng thì són đái, ỉa trong quần. Chỉ một tiếng nổ thảng thốt là đa ~ thấy chúng nằm rẹp xuống đất hay chạy ẩn sau bờ mương, bờ đất tự lúc nào. (Vết thương không rời, trang 106).
Trần Hoài Thư viết về nỗi đau của chính ông và của những bạn bè cùng thế hệ trong cuộc chiến với một trái tim rung động. Chính vì thế, chuyện của ông lôi cuốn. Người đọc cùng thế hệ của ông nh ìn thấy đâu đó hình ảnh của chính mình. Ông đưa họ đi từ địa danh này đến địa danh khác, từ mặt trận này đến mặt trận kia. Chuyện của ông trải dài theo nổi khốc liệt của chiến tranh, của tàn p há, của đạn bom, của kinh hoàng, của khiếp sợ, của máu, của nước mắt.
Còn hằng hà sa số những nỗi đau của người lính, những mất mát của chiến tranh mà Trần Hoài Thư đã dùng ngòi bút đưa đến cái tận cùng bằng một lối viết hết sức giản dị nhưng rất lôi cuốn. Ðây là sự thành công của ông.
Chiến tranh đã qua đi. Tàn cuộc chiến, người lính còn lại được gì?
Sau cuộc chiến, người lính mang nỗi đau của kẻ có Tổ quốc nhưng không có quê hương, có đồng bào nhưng lại thiếu tình thương. Họ mang thương tích đầy người. Họ bị xã hội ruồng bồ Hoàn cảnh của họ là hoàn cảnh bi đát, ngõ họ đi về gần như là ngõ cụt, bước đến của họ là bước đường cùng. Bàng bạc trong truyện của ông là những cảnh rất tang thương này.
Là người lính bại trận, trở thành kẻ điên trong nhà tù, sống trong cảnh thối tha mà những người bạn tù không thể chịu nổi. Chỉ cần vài nét, ông làm người đọc có cảm tưởng như mình đang sống tron g không khí đó, cái không khí nồng nặc, nhờm tởm đến ghê sợ
Bây giờ các người tù binh trong phòng đã trốn chạy ra khỏi khu nhà tôn. Họ bịt mũi, bịt miệng. Họ nhổ hoài nước miếng. Lưỡi họ lợm. (Người và Quỉ, trang 64).
Sau những đắng cay, tủi nhục, sau những năm tháng đọa đày, cuối cùng, họ cũng trở về. Ngày trở về. Ôi, cái ngày trở về từ những ngục tù đen tối, xác thân họ rách nát một, tâm hồn họ sưng tấy lên đến mười. Họ phải bắt đầu từ đâu, và làm gì để sống? Ðây, gia tài của họ sau cuộc chiến. Chiếc xe đạp. Thùng cà rem. Chiếc chuông đồng. Chiếc mũ rơm và chiếc áo lính cũ. (Người bán cà rem dạo, trang 34). Cái đau của họ là cái đau dội ngược từ trong tâm khảm len lỏi giữa các tế bào, rồi tóe tung từng mảng da thịt vì không thể là công dân của một nước, dù rằng nơi đó họ từng oe oe cất tiếng khóc chào đời. Tay chân họ không bị đạn bom cắt nát mà bị chế độ bẻ quặt trong tức tưởi. Họ là những kẻ phải ăn bám vào người thân dù chân tay còn lành lặn. Họ là những kẻ bất lực trước đời thường.
Bên cạnh những người lính, đó đây, ông có nhắc đến cái tủi nhục, khổ đau của những người vợ lính - những người phụ nữ cùng thế hệ với ông - suốt đời hy sinh cho chồng cho con. Và cũng suốt đời hứng chịu những chia ly nghiệt ngã. Chồng họ đối diện với cái chết từng giây thì tim họ cũng quặn thắt từng phút. Ðau đớn nhất là khi nghe tin chồng mình tử trận. Còn cái đau nào đau hơn cảnh "Chiều nay đi nhận xác chồng / say đi để thấy mình không là mình." Hình ảnh đó được ghi lại qua nỗi nhớ của một cậu bé tuy mới lên sáu nhưng cũng rất rõ nét.
Mẹ hét lên rồi ngã nhào trên nền nhà. Cả nhà đỡ mẹ dậy. Bóp tay chân mễ Thoa dầu người mẹ. Một lát mẹ tỉnh dậy. Mẹ tiếp tục gào khóc. Mẹ nói mẹ đi tìm xác bố. (Bãi chiến, trang 19).
Còn biết bao phụ nữ chịu đựng chia ly trong chiến tranh. Và họ càng đau khổ sau chiến tranh. Ðất nước thống nhất không có nghĩa rằng nhà nhà được xum họp, người người được yên vui. Tại sao? Dễ hiểu thôi, bởi "Ở đâu cũng là nhà tù. Và ai cũng chui vào địa ngục." (Ra biển gọi thầm, trang 144). Vì thế, cái đau của người phụ nữ lớn lên trong thời chiến là cái đau triền miên. Sự chịu đựng của họ quả là quá lớn để gánh vác những oan khiên trùng điệp này.
Ngày đầu tiên em ra ngoài Bắc, anh thấy em gầy guộc, mắt trũng và những đường nhăn trên trán. Chiếc áo bà ba ngày nào bó thân em, nay như rộng thùng thình. Ðôi dép ngày nào thấy bàn chân yếu mềm, nay thấy những gót chân dày dạn, khô nẻ. (Ðà nẵng quê em, trang 219)
Ngày em đi thăm nuôi anh, anh đã bắt gặp những sợi tóc trắng lẻ loi trên mái tóc mà ngày xưa như một dòng suối.... Nhưng bây giờ - không những em ở trong hàng ngũ bại trận mà còn có thêm một tên chồng vuợt thoát - thì chắc chắn em phải đau khổ đến dường nào. (Những ngày ở đảo, trang 207)
Bàng bạc trong Ra Biển Gọi Thầm, ông có vẽ lại những cảnh đoạn trường này, nhưng hình ảnh chưa đủ đậm. Chữ nghĩa chưa lột tả hết cái đau của thể xác, cái ung mủ của tâm hồn, và vì thế chưa đẩy đ ến cái xót xa tận cùng của người phụ nữ sau cuộc chiến. Tại sao? Có rất nhiều câu trả lời. Qua lối viết của Trần Hoài Thư, lối viết người thật việc thật, người đọc có thể thấy được một trong những câu trả lời đó. Có thể Trần Hoài Thư chưa chứng kiến những nỗi đau nghiệt ngã của họ như ông từng đối diện, từng dựa lưng nỗi chết trong chiến tranh. Hoặc nếu có, cũng chỉ là hình ảnh của một vài người thân quen. Và những hình ảnh này chưa đủ nóng đến độ tạo nên sự "gặm nhấm" tâm hồn ông hay nói cách khác, nó chưa tạo được một chất xúc tác mãnh liệt để giúp ông đẩy vào lòng người đọc những tang thương của thời cuộc, những rát buốt của con người. Lối viết này, đòi hỏi người viết phải có một vốn sống dồi dào, phải cảm nhận được cái rát của người khác cũn g là cái rát cháy da cháy thịt của mình. Với Trần Hoài Thư, bốn năm sau chiến tranh, sống trên quê hương, là bốn năm tù đày. Sau thời gian tù đày không lâu, ông vượt biên. Vì thế cái đau của người phụ nữ cùng thế hệ mà ông "thấy", ông "cảm" chỉ mới lưng lửng, nửa vời chứ chưa tràn trề, ngập ngụa, do đó chưa đủ để tạo nên một thứ vết thương không rời, một thứ ám ảnh không nguôi như ông d dã từng trong chiến tranh. Do đó ông chưa gọt dũa đến cái cốt lõi của vấn đề. Nên, cảnh có phơi bày nhưng thiếu cái hồn cần thiết. Và cũng chính vì thế, ông chưa tạo được những hình ảnh nổi bật, hay đi xa hơn, ông chưa tạo được sự cân bằng trong lối viết này.
Bên cạnh khói lửa, chết chóc, đau khổ của chiến tranh, Trần Hoài Thư còn viết về tình yêu. Ðó là những mảnh tình vụn vỡ, đó là những chia lìa tan thương. Viết về tình yêu, ông rất tha thiết, ân tình. Rất nhiều đoạn văn ngọt ngào, xuôi chảy.
Ðôi khi, con người chỉ sống cho một thời và cũng chỉ chết cho một thời. Ai biết những trang giấy cứ tô hoài cho một giòng suối tóc. Ai biết, gót chân người nào, đẫm lên lối cuội, tà áo vạt trướ c vạt sau, mắt nhìn thẳng, tấm thân yểu điệu thon mềm thục nữ, để mình và Tân, Tân và mình. Ai biết con đường đã thấy bao nhiêu lá vàng, lá rụng cuống quít, lá đậu lại dưới gót chân người. (Người về Trăm năm, trang 11)
Tôi đang mềm yếu để nghĩ dến một nụ hôn, một lần gục đầu, một lần cắn bầm da thịt. Tại sao gặp mặt rồi lại chia tay? Tại sao gót chân ai một hôm nào đạp lên khu vuờn già nua cũ mục? (Bên này d òng Hudson, trang 30)
Chao ơi, lòng tôi cứa đau, đau đến khùng điên như một vầng trăng tưới xuống quả địa cầu những cơn mưa máu. Con tim tôi nức nở cùng một mảnh trời không đủ màu xanh. Tôi ứa mắt nhìn những người con gái biết nỗi buồn rất sớm. Những sợi tóc mai kia không có tôi chiêm ngưỡng làm sao em cảm nhận tuổi ngọc tuổi hồng. (Cánh bướm của mùa luân lạc, trang 193)
Những đoạn văn trên là những đoạn văn đẹp.
Một nét riêng của ông trong Ra Biển gọi Thầm là đã đưa rất nhiều thơ vào truyện. Trong dòng văn chương ở hải ngoại, có hai nhà văn đã làm điều này. Ðó là Kiệt Tấn, người được độc giả biết nhiều qua tác phẩm Nụ Cười Tre Trúc, Em Ðiên Xõa Tóc, và nhà văn Trần Hoài Thư. Kiệt Tấn đi tiên phong trong lối viết này nhưng lại trích dẫn quá nhiều thơ của nhiều tác giả, nên cốt truyện của ông đôi lúc bị loãng. Trái lại, Trần Hoài Thư dùng nhiều thơ của chính ông, trừ truyện ngắn cuối cùng, điều này sẽ được nhắc đến phần sau. Trong hầu hết các truyện ngắn, ông dùng thơ để nói lên điê `u ông muốn nói, để diễn đạt đủ cái ông cần diễn đạt. Cho dù đôi khi hình ảnh hay ngôn từ chưa đủ sắc cạnh nhưng được đặt đúng chỗ, đúng lúc làm thư giãn tâm hồn người đọc khi cùng tác giả b ước vào những thực tế nóng bỏng của chiến tranh. Tôi xin đơn cử vài đoạn thơ ngắn sau đây.
Một buổi quân dừng qua xóm nhỏ
Mẹ run run mời một bát canh đầy
Bát canh hẹ cho ngọt ngào gạo đỏ
Con chan vào từng muỗng nhỏ mà say
(Vết thương không rời, trang 115)
Dù ngại một lần rồi sẽ ngã.
Ta dắt đàn con nhỏ chắt chiu.
Về thăm gò mả, thăm kênh rạch.
Thăm những oan hồn đang hẩm hiu.
(Nhật ký hành quân, trang 132)
Hay:
ngày cuối anh tìm nơi quán nhỏ
Ngồi thật lâu và thật lặng yên.
Cô hàng ơi thành này mấy cửa.
Có cửa nào cất giữ con tim?
(Tháng bảy mưa ngâu, trang 181).
Và còn rất nhiều những khổ thơ ngắn như vậy đó, đầy trong truyện của ông. Vì thế, khi viết về chiến tranh, viết về người lính, viết về những mối tình chớm nở, vội tan trong thời chiến, truyện của Trần Hoài Thư khó mà lẫn lộn với những nhà văn khác.
Bên cạnh những điểm mạnh, người đọc thấy có đôi chỗ chưa đạt, hay nói rõ hơn là chưa cân xứng trong lối viết của ông khi xử dụng thi ca trong các truyện ngắn. Vì thế đã làm mờ đi phần nào cái sắc xảo mà ông đã tạo được cho mình trong suốt tác phẩm. Có thể đơn cử bằng truyện ngắn cuối cùng. Trong truyện này ông đi lại nguyên bài thơ của một tác giả khác. Ðây là con dao hai lưỡi trong nghệ thuật. Bởi nghệ thuật có qui luật riêng của nghệ thuật. Qui luật của nó là sáng tạo, sáng tạo và luôn luôn sáng tạo. Tác giả là người tìm tòi cái mới để hiến dâng cho độc giả. Nghĩa là cái trước chỉ là điểm tựa để đi đến cái sau, và cái sau lại là điểm khởi hành để đi đến cái sau nữa. Nghệ thuật không chấp nhận sự dừng lại, bởi dừng lại đồng nghĩa với thụt lùi, hay xa hơn là đi vào con đường dẫy chết. Do đó nghệ thuật đòi hỏi phải mới mẻ. Vậy mà Trần Hoài Thư để lọt chi tiết này vào truyện cuối cùng. Ðiều này chẳng khác nào ông vô tình cho độc giả thấy ông đang cắt một phần của bứt tranh cũ, mà ông ưng ý, rồi dán lên một bức tranh mới. Trong khi đó, bức tranh mới, Ra Biển Gọi Thầm, không cần một phần bức tranh cũ vẫn đẹp, nếu không muốn nói là đẹp hơn. Lổ hổng do chính tác giả tạo ra lại nằm ngay vào truyện cuối cùng, trang cuối cùng, trước khi gấp sách, làm cho người đọc có cảm tưởng là ông bị... hụt hơi. Ðiều này, theo tôi, đã làm cho bản văn có phần giảm đi giá trị của nó. Tuy nhiên, cũng chính điểm này, người đọc thấy ở Trần Hoài Thư một điều rằng: ông không hề kềm hãm, cân nhắc, mà ngược lại cứ thân tình dàn trải mọi rung động dưới ngòi bút của mình.
Tóm lại, trong những truyện ngắn viết về những cảnh tượng trong cuộc chiến, Trần Hoài Thư đã thành công với lối viết gẫy gọn, trần trụi và sắc cạnh. Rất nhiều người đã viết theo lối nầy nhưng rất ít người thành công. Tuy vậy, khi viết về người và việc sau cuộc chiến, hay hậu quả của cuộc chiến, tuy lời văn có thiết tha nhưng chữ nghĩa thiếu cái gân guốc cần thiết, do đó chưa mổ xẻ đến cái tận cùng của mất mát, đớn đau, hay cái nghiệt ngã trùng trùng mà những người phụ nữ cùng thời phải gánh chịu. Ðôi chỗ, người đọc thấy ông như bị...đuối! Trần Hoài Thư bị khựng lại, bị hụt hơi? Với sức sáng tác sung mãn như hiện nay của ông, tôi không nghĩ vậy. Tuy nhiên bản văn đã cho thấy điều đó, trong một vài chỗ. Vậy câu trả lời là gị Tôi chưa có câu trả lời. Tôi tiếc cho ông. Tôi tìm kiếm, tôi xục xạo đó đây mong tìm ra một lời giải đáp thỏa đáng. Nhưng làm sao người đọc có thể tìm ra được ngọn nguồn. Chỉ có tác giả mới có câu trả lời bởi họ là người tạo ra tác phẩm bằng lối đi riêng của mình bởi chữ nghĩa, bởi văn phong. Lời tâm sự của ông có thể giải thích một phần nhỏ nào cho vấn đề. "Mỗi lần đặt bút lên là lòng tôi lại quặn đau. Tôi không dám kể hết những gì mà chiến tranh đã gây nên. Tôi không thể không quằn quại khi khui lại, mở lại những sợi gân đã buộc chặc vết thương." (Ðối thoại với một nhà văn trong hàng ngũ thắng trận, trang nhà của Trần Hoài Thư tại saigonline.com)
Ngắn gọn, qua tập truyện ngắn Ra Biển Gọi Thầm, người đọc sẽ thất vọng nếu chỉ chủ tâm đi tìm những từ ngữ mới mẽ, những tiếng lấp láy lạ lẫm, hay lối dựng truyện lắt léo, cầu kỳ. Tuy nhiên người đọc hiểu được tấm lòng của ông đối với đất nước, với thời cuộc, với bạn hữu, với văn chương, và nhất là muốn gởi cho thế hệ sau những sự thật của chiến tranh, chứ không phải những dựng đứng, những tô hồng, những bôi đen bởi chủ nghĩa, bởi lãnh tụ. Người đọc thấy được trái tim mẫn cảm với người, với đời của ông xuyên suốt tác phẩm.
Hơn hai mươi năm đã đi qua, vết thương thể xác đã khép miệng nhưng vết thương của tâm hồn biết đến bao giờ mới lành lặn. Mà dù cho vết thương có lành thì muôn đời chỗ cắt vẫn còn đau. Niềm đau của ông cũng là niềm đau của cả một thế hệ lớn lên trong thời buổi ngặt nghèo của đất nước.
Lê Tạo
Bức Tượng
Kiều Tiên:
Tôi chán đọc sách của Alex - những cuốn sách khô khan như đời sống, những cuốn sách chết khô trên những kệ bụi bậm, những cuốn sách bị con người và cuộc đời bỏ rơi như những số phận hẩm hiu. Kẻ đã làm ra chúng có lẽ đã bỏ bê chúng, đã đi tìm một điều khác vui, lạ và thích thú hơn. Hoặc có thể đã bỏ đi đến một thế giới nào khác không rõ. Nhiều khi tôi thắc mắc về số phận những cuốn sách như thắc mắc số phần của mình trong căn nhà rộng lớn này. Bọn sách ấy hẳn đã có một thời gian được người ta tôn vinh, o bế. Tôi chưa bao giờ được ai chiếu cố nâng niu, nếu không có được Alex và được đến ở ngôi nhà này.
Bỏ mặc những trang sách mở toang trên ghế trong ánh sáng tranh tối, tôi ngóng ra cửa nhìn cảnh hoàng hôn đang sa xuống góc vườn. Những lùm cây hôm nay hơi buồn. Căn nhà nhiều bụi và màng nhện, đã lâu không ai dọn dẹp khai phóng nên không khí ẩm thấp của những căn phòng cảm thấy hơi lạnh. Alex bảo ngày còn trẻ, ông ra vào mỗi ngày, cuốn sách nào cũng có dấu tay của Alex.
Tôi đang sống trong một căn nhà rộng lớn với một người đàn ông. Alex năm mươi năm trước hẳn là một người đàn ông đẹp trai và tráng kiện. Bức chân dung của Alex đứng cạnh chiếc xe đời cổ trông như một tay đua hào hoa và phong lưu, nho nhã. Alex bây giờ thì bụng hơi to, thích nằm phơi nắng với con mèo Daisy mắt long sòng sọc khi nhìn thấy tôi. Alex bảo tôi cứ tự nhiên trong căn nhà, nhưng tôi khó có thể tự nhiên cho lắm lúc Alex ở trước mặt. Tuy nhiên, được cái Alex không thể ở sát tôi 24 tiếng trong ngày, trong căn nhà to lớn này. Alex là người tính tình chìm lặng, tôi không rõ những gì ông làm ở những nơi khác. Ông ta luôn đem cho tôi thoải mái và sự ân cần dịu dàng, tôi chỉ hơi khó chịu khi Alex nhìn tôi, đôi mắt ẩn buồn và mê đắm, một cách say sưa rà khắp người tôi như mơn trớn, vuốt ve. Ðôi mắt nóng bỏng, đôi mắt nung đốt một ý tưởng thánh thiện hay cao thượng hay huyễn hoặc, tôi không biết. Khi Alex nhìn tôi, tôi luôn bối rối và không thể nào đoán nổi ý nghĩ nào đang chạy qua trong đầu ông. Cái nhìn của Alex đôi lúc làm tôi cũng muốn chảy nhão ra. Tôi khó giữ được lòng mình khi ở trong vòng tay Alex. Alex ở một mình trong căn nhà này trước khi tôi đến đây, Alex là một người cô độc.
Không hiểu sao tôi thích căn phòng này nhất, toàn sách và sách. Có thể duyên tiền định của tôi với căn phòng này. Những góc tối lành lạnh và những màng nhện giăng đầy phòng vướng vào da thịt, làm tôi có cảm giác rờn rợn nhưng lại thích thú lạ kỳ. Những màng nhện bám vào mặt vào tay tôi vướng víu, quấn quít. Tôi thích thổi những màng nhện cho đứt toang những sợi tơ mành, chúng quấn vào nhau cuống cuồng loạn xạ. Tôi bật cười thích thú. Những chân mành màng nhện sẽ bật tung và ôm chầm lấy nhau. Ha ha, tôi thích chí nhìn những cái bất động chuyển động quanh tôi, tôi muốn phá tan không khí im lìm này, tôi muốn đập phá và tôi có ý muốn nổi một cơn man dại dữ dội, tôi muốn Alex bắt gặp hình ảnh tôi lúc đó, ông sẽ trố mắt nhìn, hoặc sẽ mỉm cười, hoặc sẽ đến ôm tôi vào lòng dỗ dành, vuốt ve như một đứa bé trong vòng tay ông. Cơn tam bành của tôi chưa kịp hạ hỏa, thì Alex đã làm nó nguội lịm. Tôi không cần gì hết, tôi gục đầu vào lòng Alex và tôi khóc như chưa bao giờ được khóc trong ngực ông. Nghĩ đến đây, tôi cười. Những bắp thịt trên môi chuyển động, hai con nhền nhện đang lần đến góc màng lưới chợt giật mình nép vội vào góc. Tôi suỵt khẽ, đi chơi đi mấy bồ, cho tôi yên một chút có được không. Những đồ vật trong phòng này chẳng coi trọng sự có mặt của tôi, làm như tôi không hề hiện diện.
Có lần phòng này đông người và không có nhiều màng nhện như bây giờ. Alex đem ở đâu về một đám người ăn mặc phục sức nghiêm trọng như đi lễ hội, những người đàn bà khoác nhiều mầu sắc trên người và diêm dúa như những cây thông vào mùa Giáng Sinh, họ nhoẻn miệng cười xinh đẹp với đàn ông và lườm nguýt nhau len lén. Tôi im lặng quan sát họ trong góc tối của tôi, không ai nhìn thấy tôi trong căn phòng này, họ đang bận rộn với những câu chuyện trời trăng mây nước của họ, những chuyện tầm phào làm ra vẻ quan trọng, họ cười to ồn ào đến nỗi những con nhện cũng phải giật mình trốn biệt vào trong xó kệ và hang hóc. Alex cũng ở trong phòng lúc đó. Alex cũng bỏ quên tôi, ông đang tiếp rượu cho một người đàn bà sang trọng. Tôi thu mình im lặng theo dõi đám đông. Cảm giác lẻ loi bao giờ cũng xâm chiếm tôi, nhưng nhiều nhất là những lúc thế này.
Có một người đến đứng trước mặt tôi từ bao giờ. Người con trai nhỏ nhắn, đôi mắt mầu nâu trong suốt. Tôi đỏ mặt ngượng ngùng, bối rối với tia nhìn vừa bắt gặp. Người con trai thấp hơn tôi một chút, mái tóc xoà trước trán chứ không chải gọn như những người đàn ông kia. Dường như anh ta cũng bối rối bắt gặp ánh mắt của tôi. Chúng tôi nhìn nhau, hai tia mắt chạm, ngập ngừng dừng lại một giây, thời gian một giây thật lâu đủ làm tim tôi ngừng và ý tưởng ngưng đọng. Ðôi mắt ấy ấm áp và thật đam mê, tràn ngập suy tưởng như đang nhìn thấu suốt người tôi, đôi mắt dịu dàng và êm ả lạ lùng. Lòng chợt nhói lên một thứ cảm xúc kỳ lạ, cảm tưởng như chỉ một cái chạm nhẹ lúc này có thể làm tôi ngã vào lòng anh ta và sẽ lịm đi không tỉnh lại nữa. Cái nhìn nói thứ ngôn ngữ sâu lắng tôi chưa bao giờ được biết, ngôn ngữ thoát ra từ thứ tình cảm thánh thiện và chân thực, tự nhiên như thiên nhiên. Tôi thấy nhói trong tim và lại thấy chạnh lòng. Phải chi mọi người đều nhìn tôi với cái nhìn của anh ta, cái nhìn thông cảm, thấu suốt và êm ái, cái nhìn nói với tôi rằng tôi có mặt trong phòng như mọi người, tôi có đầy đủ tình cảm và cảm giác, để nghe và biết những gì đang xảy ra và mọi người trong phòng biết tôi đang có mặt. Một cuộc vui náo nhiệt nhưng trống rỗng và vô vị. Có niềm vui nào thật sự đang xảy ra mà họ làm ra vẻ như đang hạnh phúc? Chỉ có cái nhìn của anh ta là có ý nghĩa, sự có mặt của hai chúng tôi làm đầy căn phòng. Ý nghĩ ấm áp đó làm tôi thấy vui.
Ðám đông mờ nhạt lui vào bóng tối phía sau ý nghĩ tôi. Dường như người con trai cũng có cảm giác tương tự. Chúng tôi cách nhau chỉ khoảng một sải tay, cách một chiếc bàn với lọ hoa mầu trắng choán một góc nhìn. Hình ảnh người con trai ngồi một mình trong góc phòng, cầm trong tay một cuốn sách và nhìn ngắm tôi lặng lẽ, một cách kín đáo nhưng không sỗ sàng, hình ảnh đầy vẻ thơ mộng. Tôi cảm động ước gì anh ta sẽ ngồi mãi ở đấy, đừng chuyển động và đừng bỏ đi mất. Chúng tôi không nói gì với nhau, ngay cả việc anh ta đứng lên đến thật sát bên tôi nói một câu chào hỏi cũng không xảy ra. Ðiều này không làm tôi thất vọng, tôi chỉ muốn anh ta cứ ngồi yên tự tại. Sự hiện diện ấm áp và thân mật, đủ để tôi không cảm thấy bị bỏ rơi trong căn phòng. Tôi yên lặng và mặc cho đầu óc suy nghĩ, tưởng tượng về người con trai với dáng vẻ cô độc, nhưng lại quyến rũ với nét tự tin trước mặt. Quyển sách đặt hờ trên đùi, trang sách mở nằm im không giở, đôi mắt ấy cũng đang suy nghĩ mơ tưởng, tôi chắc điều này. Bất chợt, anh ta bỏ sách xuống, đứng lên đi vòng qua chiếc bàn đến sát ngay bên tôi lúc nào không hay. Tôi giật thót mình, ý nghĩ ngưng đọng. Ðôi mắt nhìn tôi một cách trìu mến lạ lùng. Giữa lúc hồi hộp không biết sẽ phản ứng thế nào, anh ta ghé sát vào mặt và hôn lên môi tôi, nói thật nhỏ chỉ vừa đủ cho tôi nghe: "Kiều Tiên... Kiều Tiên..."
oOo
Nhà Thơ Trẻ:
Tôi đứng chết trân trước căn nhà với lối kiến trúc lạ kỳ, một mầu xanh rêu ngập mắt, với những bờ tường đá, những dây ivy lá lăn tăn nhỏ, mọc chi chít leo lên bờ tường phủ kín gần đến mái nhà. Tuy có vẻ không được chăm sóc, nhưng toàn ngôi nhà cho tôi một ấn tượng là lạ đặc biệt lúc vừa mới đến nơìi Tấm thiệp mời của Alexandre nhà điêu khắc, với những câu mời thân mật, được chính tay ông ta viết tên tôi, ghi rõ ngày giờ địa điểm, không phải là một loại thiệp mời in sẵn chỉ việc ghi vào chỗ trống, đã làm tôi phải thu xếp mọi việc để có mặt hôm nay. Tôi không biết nhiều về đời sống riêng của Alex, nhưng sự nghiệp của ông ta thì tôi đã đọc qua từ nhiều sách. Một nhà điêu khắc tài hoa, nhưng thất vận và cô độc. Thì đó cũng là số phần của rất nhiều kẻ đa tài nhưng danh không được biết tới, họ sống hẩm hiu, và có thể thành danh sau khi đi mất khỏi thế gian này.
Tôi không cảm thấy có nhiều sinh khí trong căn nhà, những căn phòng ẩm lạnh và nhiều bóng tối. Có lẽ ông ta ít đi lại hay mở cửa cho ánh sáng vào bên trong. Ở trong, đồ đạc kiểu cổ thời Thịnh Hưng, toàn đồ quí nhưng bụi bậm và mùi mốc ẩm hăng hăng. Chỉ duy nhất có một phòng có vẻ ấm áp, có chút hơi người, là phòng làm việc đầy giẻ lau và hồ, bột sơn, thạch cao, những tảng đá, gỗ và dụng cụ điêu khắc bầy ngổn ngang. Chỉ thấy những bức tượng đắp dở dang được trùm kín với những tấm vải bố trắng, có những bức cao gần tới trần nhà, không rõ hình thù gì bên trong. Tôi chỉ kịp liếc thoáng qua chưa được bước hẳn vào bên trong vì căn phòng trên lối đi về thư phòng chính, nơi mọi người đang quây quần sẵn.
Alex mời tôi một ly champagne đỏ, vỗ vai và đưa cho tôi một cuốn sách bìa cứng hơi nặng. Tôi đi một vòng gật đầu chào vài khuôn mặt quen ở câu lạc bộ, rồi tìm đến một chiếc ghế trong góc phòng không ai chú ý, mở quyển sách xem. Ðó là sách đã xuất bản cả mười năm về trước, nói về nghệ thuật điêu khắc của Alexandre DuBois, chủ nhân căn nhà này. Tôi lật xem những bức tượng sống động, dừng lại ở một khuôn mặt và đôi mắt mơ màng của người con gái. Nàng đứng hơi cúi nghiêng người trong một tư thế rất đẹp, một cánh tay để nhẹ trên đầu gối, một tay như với ra xa cố chạm vào mặt một người nào vô hình phía trước. Dáng uyển chuyển như một nàng tiên đang sửa soạn cúi xuống hôn, nụ cười mỉm và phong thái khoan thai, thư thả. Vừa lúc đó, ngẩng lên, tôi thấy nàng đứng đó trước mặt, đang nhìn tôi chăm chăm, miệng nàng hơi hé nụ cười. Tôi chợt cảm thấy toàn thân rúng động, đọc lại những lời trong trang sách, nhìn lên nàng, và bất chợt như bị một động lực vô hình, tôi đến bên nàng, như thể nàng là một người bằng xương bằng thịt, hồn phách đang nhập làm một.
oOo
Kiều Tiên:
Chàng không còn trở lại sau lần ấy nữa. Nụ hôn chàng để lại trên môi tôi còn ấm và nồng nàn hơi hướm. Tôi nhớ rõ hơi thở và giọng nói của chàng lúc gọi tên tôi. Lòng tôi xao xuyến mỗi khi nhìn ra ngoài cửa, khi trời chạng vạng và bóng nắng lịm sau lùm cây trên đồi. Tưởng tượng chàng đang đi dạo mát trên ngọn đồi công viên.
Lòng tôi bồi hồi và buồn chán não nùng. Alex không thể nào hiểu được tâm trạng của tôi, vì Alex vẫn còn để lòng vào những tảng đá vôi và thạch cao vô hồn kia. Alex đang chạy theo một hình ảnh nào đó ngoài thế giới của tôi. Tôi không buồn Alex, vì tôi biết ông cũng đã trải qua một cơn chấn động tâm hồn. Vợ Alex mất đã lâu, ba mươi năm trước, trước khi tôi được ra đời. Tôi đã phải chứng kiến bao nhiêu đau khổ và dằn vặt mà Alex trải qua, tôi đã phải qua tay bao nhiêu người trước khi trở lại với Alex trong căn nhà u tối nhiều hơi lạnh này. Alex mang tôi về với sự thương lượng lớn, như chuộc một người thân bị mất tích sau bao nhiêu năm. Tôi cũng trải qua vài đời sống, nhưng không có những ấn tượng đời sống sâu đậm. Tôi trở về với Alex, như châu về hiệp phố. Có những hôm, Alex đến gục vào lòng tôi khóc như mưa rào, như một đứa trẻ vừa mất mẹ. Nếu tôi có thể đem lại cho Alex những gì ông mất, tôi sẵn lòng. Vì Alex chính là cha đẻ ra tôi, người đã đem cho tôi một thứ đời sống gò bó và chật chội, phụ thuộc vào nhiều thứ, và nhất là phải mang lấy hình dáng của một người đàn bà đã chết, người yêu muôn đời của ông. Tôi không liên hệ với người đàn bà đó, và chắc chắn là tôi độc lập bởi vì tôi thuộc về một thế giới khác không có hồn phách của người đàn bà đẹp như tiên giáng trần, người làm cho Alex đau khổ và không ra sống những ngày tháng cuộc đời còn lại. Tôi tuyệt vọng không thua gì Alex, tôi chẳng làm gì được cho ông cũng như chẳng làm gì được cho chính tôi.
Có tiếng chân của Alex đến gần. Một bàn tay đặt trên vai tôi, mân mê vuốt nhẹ trên ngực, rồi đưa xuống thấp... miệng cúi xuống thật sát. Tôi không phải là Kiều Tiên, tôi la lên trong miệng. Tiếng kêu mất hút.
oOo
Vẫn lời của Kiều Tiên:
Phải có chuyện gì vừa xảy ra cho Alex, vì những tiếng động không còn vọng ra từ phía cuối căn phòng đó nữa. Tôi cũng cảm thấy có gì vừa ngừng lại trong tôi, như là hơi thở, như là sự sống. Những màng nhện nhảy múa giăng mắc quanh tôi, mà tôi không làm gì được chúng. Ánh sáng yếu ớt từ cửa sổ căn phòng nhạt dần, và những âm thanh chung quanh bỗng dưng bặt tiếng. Tôi đuối dần, đuối dần vào một vùng cảm thức không hình dạng không cảm xúc. Dường như có một bàn tay vừa nắm lấy tay tôi, một hơi thở phà nhẹ, một lần cuối...
oOo
Ở trong một bồn hoa với cỏ xanh mượt mà trong công viên của thành phố, có một bức tượng vừa được dựng lên chính giữa: dáng một người con gái đứng nghiêng người nhìn xuống chân đồi, nơi những vòm mái nhà đang nhuộm đỏ trong ánh nắng chói rực. Món quà của một danh sư điêu khắc tặng cho mọi người, một giá trị nghệ thuật lừng danh nhưng luật sư của tác giả đã thất bại không vận động tìm được một viện bảo tàng nào chịu dành cho bức tượng một chỗ.
Ðám tang của ông ta chìm lặng trong một buổi sáng tuyết rơi xuống trắng xóa ngập đồng, không có ai thân thuộc đưa tiễn, chỉ dăm ba người quen, bà người làm, ông lão đạp xe đạp đưa sữa, anh chàng giao báo mỗi sáng, và một người thanh niên trẻ đứng im lặng lúc hạ huyệt.
Chim thành phố kéo về công viên thật nhiều vào đầu mùa xuân, ríu rít như đang nói chuyện với nhau một cách vui nhộn. Những con chim đủ mầu, xanh lam, hoàng yến, hồng y... lách chách nhảy quanh bức tượng. Người con gái miệng khẽ mỉm cười, đôi mắt xa vắng và cánh tay với xa như vẫy gọi một người... Một con chim áo đỏ mỏ vàng, mắt tròn đen láy đậu trên cánh tay của bức tượng. Nó hót một tràng những tiếng kêu luýt chuýt. Thoảng trong gió, có tiếng rì rào như tiếng thì thầm. Chim áo đỏ ngơ ngác, rồi nhìn bức tượng đang nhìn nó, nghe như có tiếng nói khẽ: "Chim ơi, chị không có chuyện gì để kể em nghe..."
Phạm Chi Lan