vhnt, số 344
12 November 1997
Trong số này:
thư vhnt............................................................... DYT
T h ơ :
1 - Ðêm ................................................... Hà Ðình Lan
2 - Cám Ơn Em Một Lời Thơ Cuối .......................... Tiêu-Dao
3 - Em Mang Thân Chiếc Lá ................................ Hoàng Vi Kha
4 - Gửi Nhỏ ............................................. Ðịnh Nguyễn
5 - Thu Ðợi Chờ ............................................. Bỉ Ngạn
6 - Ngọt Ngào Mùa Thu .................................Trần Minh Hiền
7 - Chi Hoài Con Sáo ............................. Nguyễn thị Lộc Quy
8 - Thu ở Thảo Nguyên ....................................... Khải Minh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Nguyễn Huy Thiệp: Những truyện huyền, kỳ, núi, sông và nước (phần 1) ... Nguyễn Vy Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10- Người mẹ ........................................ Lương Thư Trung
Sóng biển vẫn ầm ầm từng cơn. Người mẹ tay bế đứa con nhỏ, mắt dõi ra biển cả, che gío cho hai đứa bé đang đứng kế bên. Chồng và đứa con trai lớn của mẹ đi biển vẫn chưa về. Cơn bão tràn qua quá nhanh, thuyền bè của những người đánh cá đâu kịp xoay trở. Lác đác những mảnh thuyền vỡ vụn theo sóng biển đập vào bờ càng tăng thêm nỗi lo của mẹ. Căn nhà mẹ đã thành đống gỗ vụn. Nhưng khủng khiếp hơn nếu chồng và con trai của mẹ không trở về. Ðã hơn một tuần trôi qua...
Bạn thân! Ðó là một trong những hình ảnh còn sót lại sau cơn bão Linda vừa quét qua các tỉnh tây nam Việt nam ta mà chắc hẳn bạn đang nghe nói nhiều trong các ngày qua. Người con Việt khốn khó, tội nghiệp. Bao bất hạnh choàng lên đầu. Từ thiên nhiên. Và từ cả con người.
Chúng tôi thật không muốn nêu những số liệu thiệt hại lạnh lùng, tàn nhẫn, mà chúng tôi muốn chia xẻ sự bất hạnh của những người đồng bào ruột thịt, biết đâu có cả gia đình, người thân, bạn bè của chúng ta, để cùng nghĩ ngợi mình có thể làm được gì? Và như sự dè dặt thường lệ cho những vấn đề tế nhị có thể ảnh hưởng đến chính kiến từ đôi cá nhân, chúng tôi nhìn về sự mất mát của những người dân Việt để mong các bạn bằng với khả năng và tấm lòng của mình có thể đóng góp được gì cho những nạn nhân thông qua quỹ cứu trợ của hội Chữ thập đỏ quốc tế. Bằng lòng nhân ái, chia xẻ mà vượt qua những định kiến hay ràng buộc, nếu có.
Chúc các bạn một ngày an lành.
Ðinh Yên Thảo/vhnt
Ðêm
Ðêm ngủ quên trên vai áo em
thành phố nhỏ đi hoài không hết
hạnh phúc buồn như viên đạn méo
dấu ấn tròn ngộ nghĩnh trên lưng.
Hỏi giòng sông đêm qua có khóc?
(núi vô tình cứ hát em ơi!)
tay nhỏ quẩn quanh đời khốn khó
tàn cơn mơ trơ áo vá vai.
Ðêm ngủ trên tay em - nhỏ xíu
(chú Cuội ngồi tưởng nhớ Hằng Nga)
giọt lệ nóng trên mi em nhỏ
rớt xuống thành phố chết hôm qua.
Lúa trở mình thương câu vọng cổ
bùi ngùi nghe điệu hát ru con
em có là công chúa Lọ Lem
xin nhớ thuở hàn vi, áo rách.
Ðêm ngủ bên những vì sao lạ
(tiếng hát ai buồn quá em ơi!)
sách vở ngổn ngang bàn viết nhỏ
chữ nghĩa ưu tư buồn muốn khóc.
Ðất thẫm đen dấu chân bé tí
em đạp lên trên những muộn phiền
nhấn cho sâu hạt mầm khốn khó
để mai này đất nở toàn hoa!
Ðêm ngủ vùi bên cây đàn cũ
bụi thời gian bám phím phủ cung
mưa có nhớ những ngày nắng hạn
bàn tay em nứt nẻ cằn chai.
Thương từng giọt mực hoen trên áo
(em ráng cho xong buổi chợ chiều)
nếu còn giữ trong em chút lửa
thì em ơi ráng đợi ngày mai...
Hà Ðình Lan
Cám Ơn Em Một Lời Thơ Cuối
Có một giòng sông đã qua đời...
(tcs)
Em có khóc khi tình yêu đã hết
Có hoá thành chim nhỏ vỗ cánh bay?
Anh vẫn nhớ giòng sông buồn đã chết
Tình này thôi man dại sóng lưu đầy.
Vâng, mơ ước ngút ngàn bên kia biển
Cám ơn đời cho níu chút thanh âm
Cám ơn em cội sầu hoa thánh thiện
Bạc lòng anh rụng xuống đóa âm thầm.
Bước đã lỡ đường về không kịp lối
Cánh chim mòn mơ mãi kiếp trăm năm
Thuyền xiêu lạc tay chèo trôi không tới
Giòng sông tan thương mãi bóng trăng rằm.
Giữ đi em mảnh đời ta đã giữ
Vẫn quay về trò chuyện mỗi đêm thâu
Ðâu chỉ có riêng em lòng thác lũ
Người xưa ơi mộng cũ giấc thương đầu.
tiêu-dao
Em Mang Thân Chiếc Lá
Em mang thân chiếc lá
Cuộc đời là ao tù
Anh như loài cây lạ
Phận số là mùa thu
Một loài cây thật lạ
loài cây không cội nguồn
sống bằng thân hoang phế
sống bằng hơi thở buồn
Chuỗi thời gian quạnh quẽ
Soi bóng xuống ao đời
Cây thấy mình trốc ghẻ
Gục xuống cùng mưa rơi
Bỗng từ thân tàn tạ
Một chiếc lá đâm chồi
Một chiếc lá thật lạ
Nâng tình người lên ngôi
Lá đến như huyền thoại
Khơi nhựa sống cho cây
Thân lá che ghẻ lở
Tình yêu chính là đây
Cởi bỏ lòng thù hận
Cởi bỏ bao muộn phiền
Cây và lá kề cận
Quên sóng đời cuồng điên
Nhưng một chiều thu tím
Lá thay sắc úa vàng
Gió số phần oan nghiệt
Cuốn là vào cõi tang
Cây rỉ dòng máu đỏ
Cây quặn xuống, khô cằn
Trên thịt da ân ái,
Vệt đau mãi in hằn
Em mang thân chiếc lá
Phận số là mùa thu
Anh là loài cây chết
Cuộc đời nhiều hoang vu!
Hoàng Vi Kha
Gửi Nhỏ
Trời vào thu rồi đó
Nhỏ ngủ yên đi nhe
Mai anh về thăm nhỏ
Mình kể chuyện ngày qua
Trời vào thu rồi đó
Lá vàng đầy lối đi
Nhỏ có hiểu vì sao
Lá phải xa lìa cành
Trời vào thu rồi đó
Mưa buồn giăng lối đi
Xa nhỏ anh buồn lắm
Mưa nào rơi trong lòng
Trời vào thu rồi đó
Mưa buồn giăng lối đi
Ô hay sao mắt đỏ
Cớ vì sao nhỏ buồn...
Dinh Nguyen
Thu Ðợi Chờ
Qua khung cửa nhỏ nắng mùa thu
Hong ấm nơi đây chốn mịt mù
Xào xạc lá vàng như chân bước
Ðợi người giây khắc ngỡ thiên thu
Vạn lý mà sao thấy thật gần
Vòng tay mong đợi cuộc dừng chân
Ðàn đã lên dây trà vừa nóng
Thơ chép vừa xong đợi lúc ngân
Người như mây nhỏ trôi biền biệt
Hẹn đã bao lần chưa thấy sang
Mắt dõi ngàn xa lòng quay quắt
Bao giờ mới được nhịp cung đàn
Nov 02/97
Bỉ Ngạn
Ngọt Ngào Mùa Thu
Ta ngẩn ngơ nhìn buổi sáng mùa thu
Con đường ướt cơn mưa dài thơ dại
Nắng ngọt ngào ngây ngất áo tương lai
Ôi lấp lánh mắt em nhìn trong sáng
Trái tim này anh giấu kín trong tâm
Em hãy hát hãy cười vui cùng năm tháng
Sáng mai này anh say đắm mùa thu
Ngọn Ðèn Trong Tâm Tưởng
Có một ngọn đèn trong tâm tưởng của anh
Cháy lặng lẽ nỗi muộn phiền muôn thưở
Những bài hát lặng lờ trong trí nhớ
Có điều gì thật xa thật xanh
Những niềm vui quá đỗi mong manh
Ngày mong đợi đốt lòng anh giá lạnh
Bài thơ cũ bụi tràn thần thánh
Tiếng dương cầm long lanh long lanh
Những khi buồn anh đi dạo lanh quanh
Trong vườn nhỏ của hồn em tạo hóa
Anh thì chẳng bao giờ khỏe mạnh
Cánh buồm nào bay giữa ngàn hoa
Trong cõi đời thiện ác giao thoa
Cơn sóng nhỏ vỗ cần cù bến nợ
Nắng chan hòa trong anh mộng mơ!
Trần Minh Hiền
Chi Hoài Con Sáo
Chắc ở bên kia mùa gió chướng
nên thổi qua đây se sắt lòng
lạnh theo rừng núi xanh màu cỏ
se sắt gió luồng theo nhớ mong.
Muốn hỏi nhà ai bên kia núi
lẩn khuất đường chiều hoa tím thưa
nhà ai mà ngói hồng vương bụi
mà thấp thoáng lòng một chút xưa.
Một chút xưa thôi trăng cũng lẻ
cố quận bây giờ ai đứng trông
hồn giạt tâm xiêu lòng hoang phế
mới biết ta đau đến lạ lùng.
Khoảnh khắc ngọt ngào trăng rưng rức
tường giậu còn hồng như mắt môi?
em đi mấy lượt nhà thay ngói
từ tạ nhau chưa vẹn một lời.
Vai mỏi hồn mềm nghe bất chợt
hạnh ngộ vụt buồn qua kẽ tay
người ở bên kia, trời, hờn giận
chi hoài con sáo lỡ xa bay.
Nguyễn thị Lộc Quy
Thu ở Thảo Nguyên
tặng DYT và trả nợ NPN
Thảo nguyên tôi, thu muông cầm hoang dã
mắt nai người trữu nắng hạnh tình thơ
Thời gian tôi đứng hẹn hồ châu á
thảo nguyên hiền nhân hậu khúc bình ca
Tôi không tin thảo nguyên cần kim cổ
Chuyện lòng người trang trải úa hồn thu
Thơ ở đây, thu ở đây cám dỗ
cuộc sáng tạo yêu người hóa thiên thâu
Thảo nguyên ơi phù tang người gió lạnh
cuộc thiên di tiêu tán nát phận này
thảo nguyên tôi mầu thu ai khuất dạng
chiếc lá vàng cuối cùng xót xa bay
tôi còn mang ước thề thu tuyệt sắc
mắt nai buồn lưu lạc ứa dòng thơ
tử sinh nào vừa lặng lẽ tuyết rơi
thảo nguyên tôi đâu luân hồi kỳ tích
lời sung mãn đi về đâu vô định
thảo nguyên ơi mùa thu lỡ nhau rồi
xác nai hiền mắt thơ đêm khép kín
cõi cô đơn tôi chết trả nợ ngườị
Khải Minh
NGUYỄN HUY THIỆP: NHỮNG CHUYỆN HUYỀN, KỲ, NÚI, SÔNG và NƯỚC
phần I
1.
Tác giả Nguyễn Huy Thiệp đến với người đọc đã sớm gây chú ý ngạc nhiên chỉ với một số ít truyện ngắn, và đã âm thầm gác bút. Truyện và kịch của ông đã được đăng báo, in thành nhiều tuyển tập trong và ngoài nước và được dịch ra ngoại ngữ. Nhà văn vừa tài tử vừa chuyên nghiệp qua tài năng, nhưng gây hiện tượng và tác phẩm của ông đã và đang được nhiều người nghiên cứu, phân tích, được coi như là những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam trong thập niên qua.
Khía cạnh nổi bật trong các truyện của nhà giáo sử từng sống nhiều năm giữa những đồng bào Mường và Thái đen ở vùng thượng du Tây Bắc là những chủ đề huyền thoại, truyền kỳ và lịch sử. Trong nhiều tác phẩm, ông muốn lôi xuống với đời thường những đỉnh cao của lịch sử và văn học, trần tục hóa các vua Gia Long, Quang Trung và các nhân vật lịch sử Nguyễn Thái Học, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ, vv. Thật và giả. Ðứng đắn và hoang chơi. Anh hùng lịch sử là của quá khứ, họ đã để lại vết tích đâu đó trong đất, núi và sông, nhưng qua những hạt cát bụi của trí nhớ người hôm nay mà họ vẫn sống, sẽ sống. Lịch sử biến thành dã sử, truyền kỳ, chuyện dân gian. Hôm nay thành hôm qua. Và chuyện dân gian thành những huyền thoại. Và lãng mạn biến thành thô tục như trong truyện Trương Chi.
Huyền thoại là những chuyện xa xưa, những mảng rời cấu thành lịch sử nhưng không là lịch sử thuần lý. Huyền thoại giúp cắt nghĩa chuyện tại sao mà có, mà sinh thành; cắt nghĩa nguồn gốc một dân tộc, một xã hội, tập thể. Huyền thoại không chỉ có trước, mà khi đã có lịch sử vẫn tiếp tục cấu kết, trở thành cốt lõi cho lịch sử. Trong khi đó truyền kỳ thường là những chuyện lạ hay có liên hệ đến lịch sử được lưu truyền lại. Nguyễn Huy Thiệp sử dụng cả hai thể loại.
Huyền thoại có tính cách lạc quan, tin ở con người, nhân bản tự tại; không cần đến lý trí, lý luận. Thể huyền thoại giúp tác giả khai thác những tiềm ẩn, tiềm thức, siêu thức. Từ Claude Lévi-Strauss của Nhiệt Ðới Buồn Thiu (Tristes Tropiques, 1955), huyền thoại đã giúp cắt nghĩa, thông hiểu nhiều hiện tượng, kể cả lịch sử, văn minh. Ði sâu, vượt thực tế, lên cái không cùng. Dĩ nhiên, huyền thoại không có nghĩa là phi lý hay vô lý; huyền thoại có cái trật tự luận lý của nó, có cả một hệ thống luận lý bên trong hay với những nguyên tắc nhất định. Huyền thoại tiến hóa theo chiều sâu vũ trụ thay vì chỉ là ý thức tiến hóa.
Dùng huyền thoại, tác giả muốn người đọc thông hiểu thay vì lý luận, phán xét. Cảm nhận bằng trực giác, kinh qua, cá nhân, tư riêng, thay vì lý trí cái phải đưa đến một kết luận chung, hợp lý, hợp biện chứng hay đưa đến một sự thực phổ quát mà trong thực tế và lịch sử, đã sản xuất những Lý Tư, Tôn Ngô, Machiavel, Descartes, Hegel, Marx, tư bản, cộng sản, v.v... Thể huyền thoại không chứa phổ quát, không có chân lý, có chăng là chân lý tự tại hay những giá trị đối với cá nhân, với tôi; ai có khả năng hoặc thiên khiếu cảm nhận, sẽ đọc được cái sứ điệp của tác giả. Lỗ Tấn trong tập Cố Sự Tân Biên (Truyện Xưa Viết Lại) lấy chuyện xưa nói chuyện thời ông hồi đầu thế kỷ XX, lộ chân tướng giáo dục, răn đe và làm chính trị. Nguyễn Huy Thiệp cũng tỏ ra luân lý, dạy đời nhưng có thể nói ông khác Lỗ Tấn, ít tham vọng hơn dù truyện và kịch ông thường có một thông điệp, những ước ao, như được làm người. Văn Lỗ Tấn thường hiện thực trong khi Nguyễn Huy Thiệp huyền ảo, thơ mộng dù nội dung có khi nặng nề, nhức nhối.
"Con tôi! Tôi sẽ nuôi dạy cho nó nên người. Phải. Nó sẽ thành thi sĩ! Thành anh hùng! Thành bác học! Nó sẽ tiến hành các âm mưu, sẽ nổi loạn, sẽ tiêu diệt... Nó sẽ thành tựu, sẽ ngạo nghễ, sẽ tự do. Nó sẽ đau khổ và hạnh phúc! Nó sẽ gian trá và rộng lượng! Sẽ yêu thương và căm thù! Sẽ hủy diệt và xây dựng... Nó sẽ đứng giữa trời và đất, nó phải được quyền yêu ghét, quyền chọn lựa, quyền được định đoạt giữa sinh và tử, quyền được nhảy múa trên cả vinh quang cũng như điếm nhục..." (Hoa Sen Nở Ngày 29 tháng 4, tr. 726)(1)
Huyền thoại có thể trần tục hóa những thần thánh, danh nhân lịch sử, gở bỏ vầng hào quang, giản đơn hóa những ngôi sao có khi đã được chiếu sáng nhân tạo, đưa các ngài từ những đỉnh núi cao xuống đồng bằng sống với người hai bửa cơm chạy gạo. Rồi phải đối phó với những nhức nhối, phải giải quyết những nát lòng, tục lụy. Nơi không còn chỗ đứng cho những chân lý muôn đời, khuôn mẫu duy lý, cái phải đi lên, đi thẳng!
Trong các truyện và kịch của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật là những người như chung quanh ta: thiếu phụ lái đò về bến Tầm Xuân, cô gái dở hơi, tên tướng cướp, những người thợ xẻ, lão đồ tể, ông thợ hớt tóc, người đẩy xe ba gác, ông tướng về hưu trơ trụi lý tưởng chết đứng trước những tầm thường thường nhật trong gia đình con dâu nuôi heo với nhau đem ở bệnh viện về và trước những khốn cùng chốn đồng quê hay một diễn viên quèn. Ðời thường như huyền hoặc, huyễn ảo; các nhân vật như có một tâm hồn trong sạch, nguyên sơ lẫn những khôn ngoan của người thường. Niềm tin nơi cái Thiện hiếm hoi, nơi luật nhân quả, nơi con người: "Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng hết muối, đấy là điều báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc" (Muối Của Rừng, tr. 107-108)
Và những oan ức như của Ngô Thị Vinh Hoa. Nhưng cũng có những cái ác hay bất thường của Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ, Những cái oan và ác của hôm nay đầy rẫy, của một xã hội tha hóa, không trọng nhân phẩm, một xã hội bất bình thường! "Bản tính người Việt là hay trông ngóng, nhiều khi quên gốc ở ngay chính tim óc mình" (Chút Thoáng Xuân Hương, tr. 184)
Mặt khác, Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại hóa một số nhân vật và đề tài lịch sử. Huyền thoại, cảm nhận lịch sử khác đi, đương đại hóa cái quá vãng hay đã được đặt trên bệ thờ, đúc tượng khắp công viên. Một nỗ lực vượt thoát cái nhìn tập thể, bình thường, vượt lên trên cái trật tự xã hội, cái áp đặt bằng nhiều chiến thắng và xương máu, vượt thoát thiên kiến, cái đặt để kiêng húy. Cái nhìn của đứa con dám cãi mẹ cha bất lương, tàn độc, cái ly khai của con cừu chán ngấy những tiếng loa nhàm và nhảm, cái kiểm thảo tự giác, bất vụ lợi, cái tự vấn của đáy lòng trước khi vào tòa giải tội hay sám hối tập thể. Như muốn nhắc nhở cái hôm nay là hệ quả của những hệ thống, danh nhân và lịch sử, vẫn phải thấy nghe mỗi ngày hoặc tưởng đã chìm khuất. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp phê phán những ảo tưởng, những huyền thoại dựng đứng một cách nhân tạo, bá quyền. Ðó là lý do ông đã bị các quan văn nghệ kết án đã dám "bắn súng lục vào quá khứ" hoặc đi xa hơn, coi ông bị bệnh tâm thần - may mà ông không sống thời Staline và Nhân Văn Giai Phẩm!
Nguyễn Huy Thiệp đã là hiện tượng phải chăng vì chữ viết giữ vai trò quan trọng, nhất là đối với một xã hội đề cao lý luận, ý thức hệ, một xã hội tự cho không giai cấp nhưng đầy dẫy giai cấp, phe đảng, lý lịch. "Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất! (...) Nó gây ra sự nổi loạn trong cuộc đời thường. Cuộc đời trôi đi đơn giản. Day đi dứt lại làm gì?" (Chút Thoáng Xuân Hương, tr. 203). Lévi-Strauss từng nhìn ra cái tác oai tác quái của chữ viết: "Hiện tượng duy nhất hình như lúc nào và khắp nơi liên hệ đến sự xuất hiện của chữ viết, đó là sự tạo thành những xã hội giai cấp hóa, những xã hội gồm có chủ và nô lệ, những xã hội lợi dụng một phần dân chúng lao động cho phần kia hưởng, hiện tượng đó không chỉ có ở vùng Trung Đông mà cả ở Trung Hoa thời nguyên sử và cả ở vùng châu Mỹ những nơi mà dấu vết chữ viết xuất hiện trước khi lục địa này được khám phá" (Entretiens avec Claude Charbonnier).
2.
Tướng Về Hưu: huyền thoại anh hùng chiến tranh: "đường ra trận mùa này đẹp lắm" (tr. 49); huyền thoại "người cha đã chết", người cha vắng nhà và những đứa con mồ côi, đi hoang. Chiến tranh trường kỳ, để sinh tồn, con người xoay sở, cả lấy nhau thai nhi đem về nhà nuôi chó và lợn! Một bức tranh xã hội suy đồi văn hóa, đạo đức, nỗi bất lực của người hùng trong đời thường, giá trị "người hùng" trong một xã hội kinh tế nhắm thị trường!
Kiếm Sắc: Nguyễn Huy Thiệp đem Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh ra khỏi sách sử chính thức của các lịch triều, của cả chế độ xã hội chủ nghĩa thường chỉ đề cao anh hùng áo vải. Vua Gia Long ở đây là người "đa mưu, túc trí, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì. Thỉnh thoảng Ánh vào sâu trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Ðàng Trong sợ Ánh hơn là thích Ánh. Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuộn bay đằng trước, dân cứ thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua" (tr. 281). Qua nhân vật Dặng Phú Lân, ông viết về họ như được nghe dân giả nói về họ, truyền tụng về họ. Huyền thoại theo nghĩa đồn đãi, ghi nhận bởi tứ phương thiên hạ.
Phẩm Tiết: với hình tượng Ngô Thị Vinh Hoa hiện thân của cái đẹp tuyệt đối. "Khi đẻ ra Vinh Hoa, trên nóc nhà bỗng có đám mây ngũ sắc bay đến, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, khắp nơi hương thơm ngào ngạt. Trên cổ Vinh Hoa có bảy tràng hoa quấn cổ, xòe lòng bàn tay ra thấy có viên ngọc ở trong, trên khắc hai chữ "thiên mệnh". Khải dựng tóc gáy, lập bàn thờ tạ trời đất" (tr. 305). Vinh Hoa được tiến cử vào cung vua Quang Trung khi ông ra Bắc hà thu phục dân và sĩ phu ở đây. Vua về lại Phú Xuân và mất đột ngột, chết nhưng mắt mãi nhìn Vinh Hoa không nhắm được dù vua con là Quang Toản đã vuốt. Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, chiếm cả người đẹp Vinh Hoa nhưng nàng tự trầm "Thờ hai vua, vẫn giữ lòng trinh Lưu muôn thuở, còn nguyên phẩm tiết" (tr. 315)
Vàng Lửa: đoạn mở đưa người đọc vào cõi mơ hồ của các biến cố lịch sử. Kế, dùng bút ký của một kẻ xa lạ tên Phrăng-xoa Pờ-rì-ê để nói về con người vua Gia Long, một "khối cô đơn khổng lồ" (tr. 293) nhưng "khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với Tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho chính bản thân mình" (tr. 296), về những tự nhiên bất lực của nhà vua đối với "đời sống nghèo khó và những trì tệ của dân tộc ông". Ông không tin học vấn có thể cải tạo giống nòi (...) vì thói hủ nho và thủ dâm chính trị sẽ không bao giờ tạo được những quan hệ trong sáng" (tr. 297). Gia Long được phản huyền thoại hóa, còn Nguyễn Du được huyền thoại hóa là người "đại diện cho nhân dân ở phần u uất nhất, trữ tình nhất nhưng cũng đáng thương nhất". Quan hệ giữa chính trị và nghệ thuật cần phải đánh giá lại, như là điều kiện để xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.
Một Nguyễn Du nòi tình, thương dân "thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc" (tr. 295) đối chọi với một Gia Long có bổn phận "làm cho lịch sử sinh động hẳn lên", sẽ là sức đẩy của khối toàn dân, nếu không có sức đẩy này, "cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mùn nát" (tr. 296-297). Nhưng một Nguyễn Du "đứa con của cô gái đồng trinh kia (nước Việt), dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn (Trung Quốc) đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hơn hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du (tức nền chính trị đương thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau người ta mới thấy điều này vô nghĩa" (tr. 296) Ôi trí thức!
Với 3 đoạn kết, nhưng không một kết cục lịch sử của các sách sử. Tất cả đã nằm trong sự phỏng đoán huyền hoặc! Lịch sử rọi sáng cho hiện tại. "Triều Nguyễn của Vua Gia Long lập ra là một triều đại tệ hại:... triều đại để lại nhiều lăng" (tr. 302). Triều đại nào? Thời nào?
Ba truyện vừa nói trên tiếp nối nhau qua nhân vật Quách Ngọc Minh, một người Mường ở Ðà Bắc, người đã kể các truyện ấy cho tác giả. Ba truyện như một điều nghiên lịch sử qua gia phả và truyền tụng, qua ngõ ngách của gần như thật. Cả ba truyện vẫn bị giới phê bình trong nước đặt nhiều nghi vấn, hồ nghi Nguyễn Huy Thiệp viết với quan niệm coi thường "những nhân vật chiếm vị trí đặc biệt trong lịch sử và tình cảm dân tộc" (Nguyễn Văn Bổng, Văn Nghệ 3-9-1988), dám coi anh hùng và kẻ cướp như nhau, cái làm cho khác là "lý tưởng", nhưng đôi khi lại mù mờ.
Con Gái Thủy Thần: tên Mẹ Cả, nhân vật huyền ảo. Chuyện một cuộc kiếm tìm huyền ảo trong một đời thực khốn khó. Ảo và thực, ảo hay thực? Ảo: "Thuyền chòng chành sắp ụp, mọi người đành vứt trống xuống cho Mẹ Cả. Mẹ Cả ngồi trên mặt trống đánh thùng thùng. Thế là sấm tan mưa tạnh. Mẹ Cả ôm trống lặn xuống đáy sông" (tr. 110). Thực: "Phép biện chứng, theo tôi là sự tiến lên, bất chấp khó khăn, đại để giống như giấc mơ của tôi cày Gò mả ngụy. Quy luật phủ nhận, tôi nghĩ nó giống như trận đòn thù đê tiện của bọn đô Thi, tôi căm ghét nó, nó thành quy luật thì phải trả thù, phải nện đau hơn nó đã nện mình. Tôi học lịch sử, hoàn toàn lẫn lộn về cách phân kỳ" (tr. 119).
Những Ngọn Gió Hua Tát, chùm mười chuyện trong bản nhỏ: một loại ký ức tập thể. "Thung lũng Hua Tát ít nắng. Ở đây quanh năm cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc nên nhìn người và vật thì chỉ nhìn thấy những nét nhòa nhòa đại thể mà thôi. Ðây là thứ không khí huyền thoại. (...) Hua Tát là một bản nhỏ cô đơn. Người dân ở đây sống giản dị, chất phác. Công việc nương rẫy nhọc nhằn vất vả. Cả việc săn bắt cũng thế. Tuy nhiên người dân ở đây lại rất rộng lòng mến khách. Ðến Hua Tát, khách sẽ được mời ngồi bên bếp lửa, uống sừng rượu cần với xeo thịt rừng sấy khô" (tr. 433). Không khí huyễn ảo của âm dương không biên giới, một nơi con người nay "đã biến thành đất bụi và tro than cả. Tuy vậy linh hồn họ vẫn bay thấp thoáng trên các "khau cút" nhà sàn" (tr. 434). Nàng Bua, một người đàn bà nghèo và lang chạ chín đứa con không cha khi đào được hũ vàng phúc chốc trở thành giàu và được quý mến. "Ðáng lẽ ra Bua sẽ sinh với người chồng được thừa nhận của mình một đức con nữa, đứa con thứ mười, nhưng người đàn bà ấy không quen sinh nở trong sự đây đủ và nền nếp cổ truyền. Nàng đã chết khi trở dạ đẻ giữa đống mền chăn ấm áp" (tr. 445)
Trương Chi thanh nhã trong truyền kỳ trở thành con người thô tục, từ đầu đến cuối truyện chỉ biết nói "cứt" "đái". Và một kết truyện cũng khác: "Tôi biết giây phút rốt đời Trương Chi cũng sẽ văng tục. Nhưng đấy không phải là lỗi ở chàng. Mỵ Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc. Ðiều ấy vừa tàn nhẫn, vừa phi lý. Lẽ đời là thế." (tr. 342)
Chảy Ði Sông Ơi: truyện đời, thế sự. Lão Thịnh, người của nhiều thời hay không thời nào cả. Truyện ấu thời chạy theo ảo ảnh thấy trâu đen. Và tiếng hát bên kia sông: Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi? (tr. 16)
Nơi bến Cốc đó, cô Thắm cứu nhiều người chết đuối, nhưng cuối cùng khi cô bị đuối thì chẳng ai cứu cho, phải chết.
Nguyễn Thị Lộ người tình của Nguyễn Trãi, công thần nhà Lê. Sau chiến tranh, Nguyễn cô đơn không bạn, không tri âm tri kỷ. Thị Lộ trở thành kẻ tâm đầu: "Con người hành hạ nhau, lăng nhục nhau. Nàng nhận ra mối quan tâm của Nguyễn là to lớn. Ông là một nhà duy mỹ, trước hết là nhà duy mỹ. Ðạo đức duy mỹ chất chứa hiểm nguy, chất chứa phiêu lưu nhưng nó sâu sắc, không bịp bợm, hẳn nó giá trị gấp triệu lần thứ đạo đức duy lý trắng trợn của trật tự bầy đoàn" (tr. 321). "Nàng biết ông đang chạy tế lên phía trước trong hệ thống tư tưởng đương thời, vừa hung hãn, vừa tuyệt vọng" (tr. 327). Khi đã trao thân cho nhau, Nguyễn mới nhận ra ông "cháy bùng như một ngọn đuốc dẻo dai, kiên cường cho đến trót đời. Nguyễn Trãi đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu đau đớn, bất hạnh, bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn, bao nhiêu vinh quang kể từ ngày ấy. Không một người thường nào có được số phận lạ lùng như ông trong 500 năm nay. 500 năm, tức năm thế kỷ." (tr. 329).
Mưa Nhã Nam : chuyện anh hùng Ðề Thám. "Hùm thiêng Yên Thế" của Nguyễn Huy Thiệp là "một anh hùng, cũng là một người nhu nhược" (tr. 403). Anh hùng cũng có những cái hữu hạn. "Ðề Thám phóng ngựa vào rừng. Mưa quất vào mặt ông bỏng rát. Ông bỗng òa khóc. Ông òa khóc cho mình, cho người, cho tất cả những hữu hạn của chính mình, của mỗi người. Ðề Thám sụt sùi như một người thường; một anh bán bánh da mật ở chợ Kế, một viên công chức quèn, một chàng thợ bạc vụng về, một ông giáo nghèo... Ông khóc như một người nhu nhược nhất đời, một người suốt đời thỏa hiệp, không bao giờ dám bước qua lằn ranh bổn phận, nghĩa vụ, cương tỏa. Ông khóc như chưa bao giờ là một anh hùng, một người khởi nghĩa. Ðề Thám đi suốt đêm mưa trong rừng. Người ta kể rằng sáng sớm hôm sau ông cầm đầu một toán quân đánh đồn binh Pháp ở Kép, tất cả binh sĩ trong đồn đều bị giết sạch. Từ đấy chấm dứt thời kỳ hòa hoãn giữa ông và người Pháp (tr. 417).
Chút Thoáng Xuân Hương : chuyện Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc. Tổng Cóc ham mê tình dục nhưng cũng hay chán chường "ông ngờ ngợ bà to lớn hơn ông, bà mạnh mẽ hơn, sống có dũng hơn" (tr. 186). Với Ấm Huy, Xuân Hương "gieo ở lòng chàng một nỗi kính phục và sợ hãi" (tr. 189). Chỉ Xuân Hương mới thật sự là một con người lớn, cao. Ông phủ Vĩnh Tường mất, mọi người quanh bà "chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của một CON NGƯỜI: nàng Hồ Xuân Hương mặc áo xô gai đang nức nở khóc cho nỗi cô đơn mênh mông của cõi đời..."(tr. 196).
Huyền Thoại Phố Phường: những con người trần tục, những thù tạc và diêm dúa hình thức. Nhân vật Hạnh mò cả cái rãnh đầy bùn bẩn, lỏng bỏng cả phân người, để lấy lòng tin của gia đình người bị mất nhẫn. Hai thế giới giàu và nghèo, đạo đức và tham vọng, chung quanh chiếc vé số.
Thương Nhớ Ðồng Quê: Nguyễn Huy Thiệp dùng biểu tượng để nói đến xã hội đương đại của ông. Chuyện nhà quê, ô nhiễm bởi đời sống mới, người tỉnh thành. Nguyễn Huy Thiệp đã huyền thoại hóa cái xã hội đương đại đó, một xã hội Ðổi Mới Cởi Trói trên lý thuyết nhưng đầy gò bó, tầm thường, khó khăn, đầy tương phản và tàn nhẫn. Ông bôi đen bức tranh xã hội với một ngòi bút truyền kỳ, như nói chuyện thời khác. Ở đây, người nghệ sĩ Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm, phản ánh xã hội ông sống, ông tỏ ra bất lực dù đầy thiện chí.
Trong một số tác phẩm, khung cảnh câu chuyện và cái đẩy đưa có tính cách cổ tích. Tác giả như muốn nhắc nhở để duy trì, phát huy những phong tục tập quán hoặc luân lý tuy cổ nhưng phổ biến, vẫn cần cho xã hội đương đại của ông. Cổ tích luân lý là ở trong thể loại này.
Ngôn ngữ trở nên ghê tởm, nhớp nhúa trên miệng bọn tiểu nhân
Tôi biết một thứ ngôn ngữ giản dị như đất
Thứ ngôn ngữ mộc mạc, thẳng băng
Tựa như tiếng tù và
Như tiếng kèn đồng
Như tiếng chuông vọng...
Có một thứ ngôn ngữ thức tỉnh con người
Buộc họ soi vào lòng mình như soi mặt xuống lòng hồ
Có thứ ngôn ngữ của người anh hùng, của người chính trực
Nó làm ta bối rối xúc động
Ta không trốn được
Thứ ngôn ngữ không hề phù phiếm, cũng chẳng tân kỳ
Thứ ngôn ngữ của giống nòi truyền lại
Thứ ngôn ngữ của lương tri không bao giờ mất... (Mưa Nhã Nam, tr. 413-414).
Bên cạnh có những truyện có tính cách hiện thực nhưng cũng lọt vào trong lược đồ luân lý đó, như Không Có Vua với Ðoài trí thức tha hóa thực dụng đến bỉ ổi ép vợ đi xin tiền đứa em trai dù vợ đã hỏi ngược lại "Anh bắt tôi làm điếm à? Hiến thân cho nó à?" (tr. 517). Một gia đình mất hết tôn ti vì tiền như cái xã hội chẳng ra gì. Làm cha như lão Kiền, độc ác, dâm bôn. Tên sáu đứa con là những quẻ dịch Cấn, Ðoài, Khiêm, Khảm, Tốn trong khi con dâu lại là Sinh, là cái đinh của sự sống tình cảm và thể xác của cả đám cha con, tụ điểm âm của mọi dương lực đến chỗ thụ thai mà không biết con của ai. Truyện sau viết lại dưới dạng kịch với tựa Quỷ Ở Với Người rồi đổi lại là Gia Ðình.
(còn tiếp)
Nguyễn Vy Khanh
10-11-1997
Chú :
(1) Ðể đơn giản, trong bài viết, các truyện và kịch đều trích dẫn từ tập Như Những Ngọn Gió (Hà Nội: Nxb Văn Học, 1995. 732 trang) là tuyển tập đầy đủ nhất và được tác giả sửa bản in, gồm 24 truyện ngắn và 5 kịch bản.
(2) Mary Thiên Yên Lê. "Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp". Thế Kỷ 21 số 93, 1-1997.
Người Mẹ
Mấy hôm nay thời tiết trở lạnh. Những cơn gió cuối Thu rào rào thổi qua những hàng cây phía sau nhà, cuốn theo những chiếc lá vàng cuối mùa đắp đầy mặt đất ẩm mục.
Chị Thùy dậy sớm khi màn đêm còn lờ mờ. Chị chuẩn bị cơm cho chồng, cho con chị đem đi làm, đi học. Ấm nước trên bếp kêu ro ro, rồi bốc hơi bay vọt lên trần nhà. Chị Thùy lấy cái ly trên ngăn tủ và pha một ly cà phê sữa. Chị châm bình trà với những bông trà ướp hoa lài. Đâu đấy sẵn sàng, chị Thùy rót trà vào hai cái tách, rồi van vái cha mẹ chồng, cha mẹ ruột của mình về uống trà. Việc van vái, mời mọc vong linh cha mẹ bên chồng, bên mình mỗi khi có món ngon vật lạ như một việc làm tự nhiên từ trong lòng của chị, mà thiêng liêng lắm! Tách nước trà màu xanh, bốc hơi thoang thoảng mùi thơm hoa lài. Cái không khí ấm áp trong nhà tỏa nhẹ làm cho khung cửa kiếng mờ mờ hơi nước, cho biết thời tiết bên ngoài lạnh lắm.
Dường như ngày nào chị Thùy cũng thức sớm và chuẩn bị với chừng ấy công việc nội trợ như vậy, những công việc không kém phần lam lũ như những ngày chị còn ở quê nhà cách nay mấy năm. Những ngày tháng ấy, trong hoàn cảnh đơn chiếc, chị Thùy lặn lội trên đồng như bươn chải với gió mưa, với nắng đốt để cầu mong lượm từ trong đất những hạt lúa, hạt gạo nuôi con và thăm nuôi cả chồng chị nữa. Sáng sáng, khi tiếng gà, vịt, heo cúi rời những chỗ ngủ nheo nhóc kêu đầy ngoài sân là thêm một ngày lo lắng nhiều cơ cực trong đời chị. Một ngày mới bắt đầu như mọi ngày mới, không thấy tia sáng nào rọi vào căn nhà lá mục nát của chị, rọi vào niềm hy vọng cho chị vài tia sáng mong manh... mà chỉ có tăm tối và tăm tối vây quanh, vây quanh mãi, không rời!
Nhiều lúc chị Thùy chỉ lo cho chồng, cho con, những người thân thương, mà chị đã quên luôn đời chị cũng có một thời con gái với nhiều ước mơ, nhiều mộng đẹp đến lãng mạn như những bạn trẻ cùng trang lứa ngày nào. Có ai ngờ, người nữ sinh viên nhiều mộng đẹp của trường Luật ngày xưa ấy rồi có một ngày tay bồng con thơ, tay cầm lá đơn xin bảo lãnh chồng về, đã bị người ta ném lá đơn của chị xuống đất một cách tàn nhẫn. Chị Thùy chỉ còn biết cúi xuống lượm tờ giấy với những dòng chữ mà chị đã nắn nót mấy đêm liền với chút hy vọng mong manh là được bảo lãnh chồng về. Tờ giấy nhàu ra, dính bùn, cùng những giọt nước mắt của chị Thùy không giữ được, đã làm những dòng chữ lem luốc như chính con người ở xã hội xô bồ ấy bị lem luốc vậy...
Thế rồi, chị Thùy đã gượng dậy và chị cũng đã thoát ra khỏi chốn cay nghiệt ấy... Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, nhớ lại đắng cay, nhớ lại cái lạnh tanh của những con người “thời thế”, chị Thùy thấy những cơ cực cho con chị bây giờ không thấm vào đâu. Mặc dù thời gian, giờ giấc ở đây quá eo hẹp, nhiều lúc chị cũng phải vừa làm vừa chạy giống như người bản xứ ở đây họ cũng vừa chạy vừa làm. Ở cái xã hội mà giờ giấc được tính từng giây, thì đủ biết nó quý như thế nào rồi trong đời sống. Có điều đáng nói là lúc nào chị cũng mang đến cho các con của chị những nụ cười thương yêu độ lượng, những chăm sóc ân cần, những lời nói ngọt dịu êm đềm cả trong những lúc chị mệt mỏi nhất. Chị Thùy, có lẽ, chưa lần nào biết dùng những lời khô khốc để nói với con mình dù chỉ một lần. Không biết có phải vì thế mà hai đứa con của chị, một gái, một trai, nay đã lớn mà rất ngoan như hồi nào tới giờ. Đứa nào cũng quấn quýt bên mẹ, rồi khoe cho mẹ biết hôm nay con thi môn này làm bài được, học môn kia dễ hiểu giống như hồi còn nhỏ học lớp hai, lớp ba ở trường làng khi ba của chúng cứ biền biệt trong các trại tập trung không biết ngày về.
Chị Thùy cũng phải rời nhà vào sáng sớm để lo miếng cơm manh áo trong gia đình phụ với chồng chị. Bên chiếc bàn ăn, mà gia đình chị gồm bốn người, tối nào cũng quây quần bên bốn chiếc ghế với bữa cơm nóng hổi, khói bốc nghi ngút do chính bàn tay chị Thùy nấu nướng, những chuyện mới, chuyện cũ được mọi người hàn huyên thật ấm cúng.
Chị Thùy thường để lên chiếc bàn ăn ấy những tờ giấy ghi lại những lời dặn các con của chị khi chúng còn ngủ mà chị phải đi sớm hơn. Chẳng hạn chị căn dặn đứa con gái lớn:
“Thảo, Bánh này con có thể đem theo ăn. Mẹ làm cho con không có ớt.
Mẹ.
Sáng ngày... tháng... năm...
Ps: Không có tiền, con lấy của mẹ. Mẹ để tiền chỗ cũ”
Một lời dặn khác cho thằng con trai:
“Hiếu,
Chiều nay (thứ tư), con đi học đem xe về trước tám giờ, để Ba rước chị Hai. Mẹ có đem cơm cho con với tép ram.
Mẹ.
Sáng ngày... tháng... năm...”
Một lời dặn đầy ắp tấm lòng người mẹ hiền dành cho thằng con trai của chị đang đi thực tập tại hãng PictureTel:
“Hiếu,
Con đem cái bánh sandwich nguyên này vào sở làm để ăn, mẹ để ‘ham’ bốn miếng. Còn nữa cái kia con có thể ăn tại nhà vì mẹ để ít ‘ham’.
Mẹ,
Sáng ngày ... tháng... năm...”
Có hôm chị Thùy quá bận rộn, nên không kịp làm sẵn thức ăn mang theo cho con và chị đã dặn:
“Thảo, Hiếu,
Mẹ có nướng sandwich, nhưng làm không kịp.
Các con tự làm lấy để mang theo ăn.
Mẹ.
Sáng ngày... tháng... năm...”
Nhiều lúc hai đứa con của chị phải ở lại thư viện của trường để làm bài hoặc phải đi làm thêm ở nhà thuốc tây do cái ngành học bắt buộc, phải về nhà trễ, chị Thùy vì quá mệt với công việc ban ngày, nên đã dặn con:
“Thảo, Hiếu,
Có hột gà lộn, mẹ đã luộc chín. Hai con hâm đồ ăn trong tủ lạnh để ăn. Nồi sườn trên bếp để sáng mai mẹ để cà rốt và khoai tây vào cho ba.
Mẹ đuối quá nên phải đi nghỉ sớm. Có mấy cái coupons ở Burger King, con mang theo để mua ăn.
Mẹ.
Tối ngày... tháng... năm...”
Và dường như trong mỗi ngăn tủ của mỗi chiếc bàn của hai đứa con của chị Thùy ngập đầy những lời nhắc nhở, những lời căn dặn trìu mến như vậy, được xếp thật ngăn nắp.
Lần nào cũng như lần nào, dù sớm hoặc muộn, hai đứa con của chị Thùy, Thảo - Hiếu, mỗi lần đi học về đều chạy vào tìm mẹ, ôm hôn mẹ như tự hồi còn nhỏ bé tới giờ. Chị Thùy bỏ hết mọi việc đang làm, để nhận niềm hạnh phúc bên hai đứa con của mình... với lời hỏi thăm ôn tồn, thương yêu của một người mẹ đang hạnh phúc:
“Hôm nay, con của mẹ đi học có mệt không?”
Và chị Thùy âu yếm với con:
“Lo thay áo quần, rồi ăn cơm đi con.”
Ánh mắt của chị Thùy sáng long lanh....
Lương Thư Trung
Tháng 11-97