vhnt, số 343
7 November 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ :
1 - Những chiều tôi thở .................................Thận Nhiên
2 - Ngày của T. ..........................................Trần Thái Vân
3 - Ở Mỹ ........................................................Tô Châu
4 - Hạnh phúc lặng thinh .......................................Phù Vân
5 - Người / Mưa .................................................Cỏ Dại
6 - Thu và em ......................................................Cát Nhu
7 - Ta yêu em lặng lẽ ngôn từ ........................Từ Ðông Nghị
N h ậ n Ð ư ợ c, G i ớ i T h i ệ u:
8 - Thi tập "THƠ" của Nguyễn Phước Nguyên .....................vhnt
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Dario Fo Người Hề Nobel (Phần 2/2) .......................Ngu Yên
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Trăng Xưa .................................................Nguyên Nhi
Thi sĩ là người của một thế giới khác. Tôi đã từng quan niệm mơ hồ như thế. Nơi chốn đích thực của nhà thơ ở đâu? Nhà thơ có khi cũng không thể tự trả lời. Thi sĩ làm thơ cũng là để tra hỏi về thơ, về chính công việc làm thơ của mình, tức là đặt sinh mệnh thơ thành vấn đề đồng thời tự soi rọi mình trong thân phận thi sĩ.
Làm thơ cũng là một cách định nghĩa thơ, đúng hơn là từng bước gian nguy tiếp cận với thơ và mãi mãi không ngừng. Chẳng có một sự nghiệp thơ nào đã hoàn tất. Chỉ có những khoảng khắc tuyệt vời của thơ, đánh dấu bằng những câu thơ, bài thơ, nhà thơ với một khát vọng khốn khổ! Thơ là một sự khẳng định bằng hình ảnh, bằng ngôn từ. Ðôi khi khó hiểu mặc dù ngôn từ, cú pháp không có vẻ gì cầu kỳ, hoặc ngược lại, cú pháp cầu kỳ nhưng ý tưởng lại thật đơn giản! Thật ra những gì được đề cập tới không xa lạ với đời sống con người, rất gần gũi nữa là khác. Thật ra nhà thơ đang nói với ai đây? Có thể với "cái không chắc chắn tức là cái có thật". Bởi dường như tất cả, như nhựa cây, như ánh sáng, hy vọng, ước mơ, cũng sẽ được chín mùi như trái cây chín mọng rơi rụng trong cơn ngây ngất nào đó...
VHNT số này gửi đến bạn đọc một số những sáng tác mới được chọn cho tuần này. Những mùi hương lạ, được gửi đến cùng với tấm lòng của tác giả, để tạo cho chúng ta một cơn say choáng ngất, của một thứ men trái cây đã thật chín, vừa chín tới, hoặc còn mọng trên cành.
Xin chúc một ngày êm dịu, cuối tuần có nắng thật ấm, lá reo vui, mùa thu ngây ngất.
thân ái,
PCL/vhnt
Những Chiều Tôi Thở
Tôi lười lĩnh thở cho qua ngày
Con chim lười hót ngủ tàng cây
Chiều động tiếng chuông nhà thờ đổ
hé mắt nhìn chim dáo dác bay
Tôi hát buồn như chó sủa trăng
Khi chiều đỏ xuống quá vội vàng
Thử nằm nín thở nghe tim đập
Có nhịp hoang mang nhịp thất thường
Tôi hít một hơi sâu thật sâu
thở ra chầm chậm gạn tiếng sầu
Chẳng giống tiếng thở dài của mẹ
Cuối ngày chạy gạo xé lòng đau
Tôi ngủ lơ mơ trên chòi cao
Thảng thốt nghe vượn hú ngang đầu
hoa bắp bạt ngàn chiều quạnh quẽ
Bần thần nhớ phố - nhớ - ôi chao!
Làm chi cho hết chiều cuối năm
Tôi lim dim mắt thở dịu dàng
Trời đất, sao thèm bầu vú ấm
Dụi đầu hít thở hết mùa xuân
Thận Nhiên
1980 - 1996
Xà Bang - Silver Spring
Ngày Của T.
Sáng nay anh chợt nhớ Hong Kong
Nhớ tóc em xanh, má em hồng
Ðầu thu nắng nhạt như ngày nọ
Sưởi ấm chiều đông nắng mênh mông
Anh biết cuộc đời qua rất vội
Thời gian nào đủ nhớ về nhau
Tự thuở đôi ta yêu vô tội
Hồng hoang còn lại đoạn tình sầu
Và còn trong anh một đồi thông
Có em e ấp, mắt buồn trong
Có những giận hờn vô cớ quá
Giữa chiều vàng nhạt phấn mênh mông
Từ lúc vụng về ngây thơ đó
Anh lớn dần theo những tháng năm
Về em, anh vẫn thường nhung nhớ
Như tối ba mươi nhớ trăng rằm
Và tiếng hát em còn vang vọng
Hương nồng năm nọ vẫn chưa qua
Ðường khuya nhẹ bước sương mù đọng
Nhớ em xuân nở thắm ngàn hoa
Thời gian biến hoá nhiều vô kể
Nửa vòng trái đất một đời thay
Hai lối không cùng, lần hẹn trễ
Ngàn năm hoài tiếc mộng vàng bay
Giờ thì nhạn, én đường xưa lạc
Chẳng biết em còn nhớ anh không
Thì thôi, thôi cũng mờ chân vạc
Trong anh còn lại kỷ niệm hồng...
trần thái vân
Ở Mỹ
Chiếc xe chạy hoài rồi cũng cũ
Chưa có tiền đổi xe mới hơn
Tuổi tác chưa cao mà tóc bạc
Yêu đời còn muốn ghé môi hôn
Sáng nay ra đường ngang nghĩa trang
Bia mộ nào cũng mấy nhành hoa
Ði quãng nữa - không dưng nghẽn lối
Người chết nằm, xe nát đằng xe
Vội vàng về, mở nhạc lên nghe
Nhắm mắt chút cho vơi trống vắng
Trời bình yên mưa rồi lại nắng
Cắm nồi cơm, chốc dậy đi làm.
10/97
Tô Châu
New Mexico, USA
Hạnh Phúc Lặng Thinh
Hạnh phúc một lần ta bắt được
mềm như nhung, mênh mang như sóng
như hương hoa quỳnh đêm lan tỏa
như mật hoa làm ong bướm say
Nhưng khờ dại ta nào hay biết
bỏ rơi hạnh phúc ngỡ nhỏ nhoi
ta vô tình, ta ngu ngơ quá
để hạnh phúc buồn, lặng lẽ đi.
Hạnh phúc xưa ngang tầm tay với
giờ như cát, luồn qua nắm tay
cát rơi rơi, từng hạt cát mềm
tuôn qua khẽ... hạnh phúc xa bay.
Lặng lẽ đi không lời từ ly
để ta chơi vơi giữa sóng gào
tựa quỳnh hoa kia sáng rũ cánh
mật hoa không còn, ong bướm bay.
Ta còn đây, ngàn đời câm nín
tiếc thương mình từng quá ngu si
ôi xa rồi... lỡ xa mất rồi...
ngày qua hờ hững dáng mây trôi...
(MQ 08/97)
Phù Vân
Người
Người từ đâu tới , người là ai?
Vóc dáng thướt tha, tóc xoã dài
Nét đẹp thanh cao, tao nhã quá!
Nhẹ bước buông rơi một nụ cười.
Ta vì sao thế bỗng ngẩn ngơ?
Người đã đi xa vẫn thẫn thờ
Dõi mắt trông theo nghe rung động
Hồn tựa đi hoang những chiều tà.
Mưa
Những áng mây chiều trôi lờ lững
Giọt nắng cuối ngày cũng tàn phai
Bước chân mệt mỏi buông hờ hững
Ta biết về đâu tháng năm buồn.
Mong trời cho có giọt mưa tuôn
Cho ta lạnh ướt một chiều buồn
Ðể ta tưởng nhớ người con gái
Vẫn dạo trong mưa buổi tan trường.
Cỏ Dại
Thu và Em
Em vẫn là em của tiếng Thu
Dáng em thấp thoáng giữa sương mù
Tóc em là dòng thơ bất hủ
Làm anh say đắm đến thiên thu
Em vẫn là em của tiếng Thu
Mắt em là một bể oan cừu
Ru hồn anh chìm trong giấc ngủ
Mơ màng đâu đó... Khúc Thụy Du
Em vẫn là em của tiếng Thu
Em đến... lòng anh hết hoang vu
Với anh - em là Thu quyến rũ
Em đi... trời đất hoá âm u
Em vẫn là em của tiếng Thu
Tình em giờ như gió xa mù
Trong anh vẫn còn hình bóng cũ
Tìm em... anh lê gót viễn du
Cát Nhu
ta yêu em lặng lẽ ngôn từ
mạch thi tứ đã lần tắt nghẽn
lúc con tim đòi nói yêu em
đôi tay vắt cạn hồn giọt mực
rót đời nhau từng giọt màu-đêm
sông rời cội nguồn khi chớm lớn
tim đôi mươi rét mướt phận thân
giữa đơn-quạnh-đời, em ghé bước
giữa mùa-đông-ta, có mùa xuân
cành hạnh phúc ươm mầm bất trắc
những nhánh đời muôn hướng trổ ra
ta chối bỏ thiên-đường-có-thật
bởi yêu em phải sống mù lòa
đời nặng gánh không cùng hạn hẹp
khép hồn nhiên vào cuối mộng mơ
buồn một nỗi da vàng ôm trọn
đã chưa nguôi hẹn ước bao giờ
đêm New York khởi mùa sa mạc
nhánh xương rồng đời nhọn sắc gai
vắng, chiu chắt vần thơ kết nhụy
bóng, và đêm, chung tiếng thở dài
mang lòng mới nhập hồn bến cũ
cuộc trăm năm liệm kín đời nhau
em đổi lấy niềm đau núi biển
để yêu ta, như thuở ban đầu
men rượu mật phai nồng năm tháng
vẫn gần nhau, và vẫn xa nhau
em cần thiết lời ru tình tư.
ta yêu em lặng lẽ ngôn từ
đời thấm thoắt hai màu tóc điểm
ta bỗng thèm thốt tiếng yêu em
trang trải vẫn không vừa trang giấy
nói làm sao chuyện-mắt-môi-mềm
bôn ba những chuyến đi cơm áo
bước chân về nặng nỗi tịch liêu
em nào hiểu băng sơn trầm lặng
cưu mang giòng phún thạch tình yêu
nên em nhé, khi nào nghi ngại
lãng quên ta hợp khúc tương cầm
hãy đến với ta bằng ánh mắt
(nói làm sao nguyện ước ngàn năm?)
trang trải mãi, vẫn thừa trang giấy
trăng-đời-ta, một đóa em, rằm
từ đông nghị
N H Ậ N Ð Ư Ợ C / G I ỚI T H I ỆU
Thi tập "THƠ"
Tập thơ in đẹp, hình thức nhẹ và trang nhã mặc dù trình bày đơn giản, thoáng. Nội dung gồm 3 phần: thơ Nguyễn Hiện Nghiệp, Từ Ðông Nghị, và Nguyễn Phước Nguyên, mỗi người mỗi vẻ, mỗi nét, mỗi không khí riêng.
Thơ Nguyễn Hiện Nghiệp đầy chất thiền, sâu sắc cảm xúc, bàng hoàng khói sương, nhẹ hẫng như có như không, hư hư thực thực như là kiếp người. Từ Ðông Nghị nồng nàn, tình yêu bàng bạc, man mác với một tấm lòng yêu "em", yêu người rất đỗi, trong những chữ dùng tuy nhẹ nhàng nhưng để lại một ấn tượng... và Nguyễn Phước Nguyên thì rất Nguyễn Phước Nguyên, thật yên tịnh, người đọc sẽ tìm thấy trong những câu thơ dài, cấu trúc lạ, kỹ thuật ngắt nhịp bất thường, những nhát cắt đau nhói như dao cứa, những vết đau còn ứa máu và lệ tươi ròng... Ðây là công trình suốt 6 tháng trời ròng rã của tác giả đã cẩn thận chọn lựa, sửa chữa, nâng niu những tác phẩm của mình để cho ra đời... và cả công trình của bằng hữu đã giúp trang trí bìa và trình bày kỹ lưỡng bản thảo, với hình thức gọn và xinh.
Một tác phẩm đẹp, là một "sản phẩm" tinh thần từ những người cộng tác với nhóm VHNT, ngoài tập thơ "Chiếc Bóng" của Trần Thái Vân xuất bản năm ngoái, và hai tác phẩm mới phát hành của Nguyễn Vy-Khanh: "Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh" và "Truyện ngắn Lỗ Tấn".
Mong độc giả ủng hộ giới thiệu với bạn bè, đến giới yêu thơ... về tác phẩm đầu tay này. Niềm vui của một nhà thơ là có kẻ chia sẻ đọc mình, gửi cho nhau và giữ cho nhau cái cảm xúc gần gũi và sâu kín nhất, qua những lời thơ bộc lộ đó!
PCL/vhnt
Dario Fo Người Hề Nobel
tiếp theo, phần 2:
2. Người ta có thể sẽ quên mau cái hồn ma Cộng Sản nhưng họ sẽ nhớ mãi tiếng kèn của thiên thần Gabriel. Nhất là khi tiếng kèn nhắc nhớ chuyện tử vong. Nói một cách khác người chống cộng có thể tha thứ cho Dario nhưng người Công Giáo khó có thể dành cho ông một chút lòng bác ái. Ngoại trừ là chuyên viên phản kháng quyền lực thế gian. Ông Fo còn là một "quân dữ" của Tòa Thánh Vatican. Năm 1969, khi những vở kịch liên bản (nhiều tuồng nối tiếp nhau) gọi là Mistero Buffo được trình diễn, tòa Vatican phản đối: "đây là chương trình phạm thượng nhất trong lịch sử truyền hình."... "xúc phạm đến tâm linh tín ngưỡng của dân tộc Ý." Từ một cảnh trong kinh thánh, người mù nói người què đến gặp con Thiên Chúa để xin chữa lành tật nguyền, ông phóng tác:
Ng. Què: Thật không đây? Dù anh có được phép lạ rồi anh cũng sẽ chết đói vì tất cả mọi người sẽ bảo anh: "Ði làm đi"... Ng. Mù: Chà, nghĩ đến làm cũng đủ toát mồ hôi lạnh... Ng. Què: Họ sẽ nói: "Ði làm đi, thằng vô tích. Người nào không đi làm sẽ bị bỏ tù..." Như vậy là anh đã mất đi đặc quyền thâu thuế Thập Phân mà chúng ta đang có như những vương tước như những chủ nhân ông. Họ dùng mánh khóe của luật pháp, chúng ta dùng lòng thương hại mà lấy tiền.
Ở một vở khác, ông giả bộ một tên khủng bố rón rén đến gần vị Giáo Hoàng trong một buổi thuyết giảng ngoài tòa thánh. Ðứng giữa những người làm việc, ông nói vào máy truyền tin bộ (walkie-talkie) cho một tay súng ám sát đang trốn lẫn lộn trong đám đông. "Bắn người đang bận đồ trắng. " Ông la lên. Rồi một lát sau, ông tiếp: " Ðừng, đừng, đây là bà sơ". Tự do và giới hạn sự tự do là nguyên nhân tạo ra quyền lực tương tranh trong lịch sử, xã hội, có ngay trong đời sống vật chất và tâm linh của mỗi người. Tự do không phải là một chủ nghĩa, một lý thuyết mà là một thái độ sống. Tự do là trạng thái căn bản của sự sống. Những chủ nghĩa, phong trào, triết học và ngay cả tôn giáo là những quyền lực xuất hiện nhằm điều chỉnh cường độ tự do. Nhìn chung lịch sử nhân loại, khi con người mới xuất hiện, là thời tự do man rợ. Vì tự do man rợ gia tăng thái quá, chủ nghĩa quân chủ xuất hiện để tổ chức lại trật tự. Khi chủ nghĩa này bắt đầu lạm quyền, con người phản kháng và đưa đến sự tự do dân chủ tư bản. Tự do này bành trướng quá trớn tạo ra lỗi lầm: chế độ thuộc địa. Thế giới đại chiến hai lần liên tiếp để giải quyết quyền lực của tự do dân chủ tư bản. Phát Xít và Cộng Sản là hai quyền lực xuất hiện để chuyển hướng sự tự do dân chủ tư bản đến tự do dân chủ nhân quyền. Hai quyền lực này đã lỗi thời, theo qui luật tự nhiên, tự do nhân quyền sẽ bành trướng cho đến lúc quá đáng tất sẽ có lực đối nghịch xảy ra và lịch sử sẽ sang một khúc quanh mới. Tự do của con người hôm nay là kết quả từ những kinh nghiệm bành trướng và bảo hòa. Mỗi một người khi cảm thấy sự tự do bị đe dọa, người ấy sẽ phản kháng, tiêu cực hoặc tích cực. Tự do bao gồm hai loại: tâm thức và hành động. Tâm thức tự do là sức sống của người nghệ sĩ. Bất cứ là hệ lụy nào ràng buộc, chướng ngại tinh thần tự do này sẽ bị người nghệ sĩ phản đối. Những liên hệ giữa người với người, giữa người với xã hội, ngay cả giữa người với thiên nhiên cũng chỉ là những giới hạn của tự do hành động. Người có thể ở trong tù mà hưởng được tự do. Ngược lại, người ở ngoài lại là kẻ nô lệ. Tự do tâm thức chính là điều mà người nghệ sĩ ước mơ được hưởng tuyệt đối. Nhưng sự hiện diện của Thượng Ðế làm cho tâm thức tự do bị quản thúc. Nếu một người chịu trao tự do của mình cho Thượng Ðế quản trị, tức là có thể có tự do trong hành động nhưng tâm thức là nô lệ. Người ấy vâng theo thánh ý, chờ đến lúc chết để được phần thưởng. Kẻ không muốn trao, nhất định sẽ phản kháng. Phản kháng Thượng Ðế dù muốn hay không cũng chỉ là tiêu cực vì sự vô hình hoặc vì quyền năng của Thượng Ðế. Phản kháng dễ tích cực hơn đối với những người đại diện Thượng Ðế ở trần gian này.
Giê Su đứng dậy và bắt đầu rót rượu cho mọi người: "Các ngươi hãy uống nhiều vào. Hãy vui. Hãy say sưa. Ðừng để dành. Tận hưởng thú vui đi.... " Chợt ông nhớ đến mẹ mình: "Thánh thần ôi, Mẹ Madona ơi, con đã quên mẹ. Xin lỗi mẹ. Ðây, đây còn một giọt rượu cho mễ Mẹ hãy uống đi..." "Không, không, cảm ơn con nhưng mẹ không biết uống. Mẹ không quen dùng rượu. Ðầu mẹ sẽ quay cuồng rồi mẹ sẽ nói điều bậy bạ." " Nhưng mà mẹ ơi, rượu không hại mẹ đâu. Rượu sẽ làm cho mẹ cảm thấy hạnh phúc. Rượu này không làm cho mẹ mệt. Rượu này ngon lắm, nguyên chất... Con tự làm lấy".... (Comic Mystery. Dario Fo. Kể lại chuyện Wedding at Cana)
Một trong những sở trường của ông Fo là đem những chuyện xưa, ngụ ngôn, nhất là chuyện trong kinh thánh ra kể lại theo một hay nhiều ý nghĩa diễu cợt khác. Ða số mục tiêu châm biếm đều nhằm vào tòa thánh Vatican và Giáo Hoàng. Ðôi lúc quá trớn thành ra lố bịch. Ðôi lúc cay nghiệt quá thành ra ác độc. Ðôi lúc công kích quá thành ra 'chống lạm quyền sao lại lạm quyền? ' (Một cảnh trong vở kịch Quyết Không Trả, Quyết Không Trả Hai người bạn hàng xóm nói chuyện về một sự ngộ nhận) Luigi: Anh muốn nói gị Ðức Giáo Hoàng có bầu? Giovanni: Không, không phải ổng.... nghĩ lại không chừng ổng cũng thích như vậy..... Tôi đang nói về vợ anh. Luigi: Sao vợ tôi lại liên hệ với Giáo Hoàng? Giovanni: A, anh giả bộ không biết, phải không? Luigi: Không, tôi không biết. Ðiều gì đã xảy ra với Giáo Hoàng? Giovanni: A, thì ra vậy. Thay vì lo làm tình....... anh hãy để ý đến giấc mơ của vợ anh về đêm, khi Giáo Hoàng Eminence John Paul mặc áo choàng trắng đến và nói: "Hỡi người anh em của Giê Su, tôi đến để nói cho bà biết thuốc ngừa thai là lời nguyền rủa của Thiên Chúa..... hãy vì Chúa xin đừng uống thuốc này... " Luigi: ừ, thực tế, Margherita, vợ tôi không uống thuốc. Giovanni: A, anh đã biết rồi. Ai nói với anh vậy? Luigi: Ðâu cần ai nói với tôi. Bã không cần uống thuốc từ lúc bã không thể có con. Có gì trục trặc bên trong, nhớ không ra....
Một trong những tác phẩm mới nhất của ông là Ðức Giáo Hoàng và Tên Phù Thủy, The Pope and the Witch, viết về, trong một buổi hội nghị, Ðức Giáo Hoàng lầm lẫn đám con trẻ tập trung ở công trường St. Peter với nhóm biểu tình đòi quyền phá thai. Tác phẩm này nhằm đả phá giới tăng lữ. Khi trình diễn ở San Francisco, 1992, đã gây nhiều phản ứng trong giới thưởng ngoạn. Ðã nói đến quyền lực tức phải có lạm quyền vì quyền lực không bao giờ ở yên một chỗ. Tập đoàn Công Giáo là một tập đoàn lớn, để cai quản tập đoàn này, Vatican không thể không có cường điệu trong khi sử dụng quyền hành. Giáo Hoàng, Hồng Y, Linh Mục cũng là người. Ðã là người sao tránh khỏi lỗi phàm phu. Ðức Giáo Hoàng John XXIII đã từng nói: "Tôi chỉ là một Giáo Hoàng, tôi làm được gì". (6) Ngược lại, kẻ chống đối cũng phải giữ cái tâm cho sáng, tức là tự trọng với tâm thức tự do. Ông Fo nói: "Tôi dùng châm biếm để truyền đạt luân lý" (7). Người viết giới thiệu Dario Fo trong tác phẩm Người Ðàn Bà Cô Ðộc và Các Vở Kịch Khác, ông Gillian Hanna nhận định: Ông Fo rất thành công trong mục tiêu biến sân khấu thành một động cơ lớn làm khán giả bật cười trước những chuyện éo le.... nhưng trong tiếng cười còn giữ lại cặn bã của lòng giận dữ. ” Trao giải thưởng cho ông Fo, một lần nữa Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển trả lại văn chương vị trí bên ngoài ảnh hưởng của quyền lực thế tục lẫn thần linh.
Sự Nghiệp Văn Chương
Tác giả của khoảng 70 vở kịch. Với những kịch câm và hài hước ông Fo được xem là người hề "Giullare", là những tên hề thường lang thang diễu cợt trong thời Trung Cổ ở Ý. Một nhân vật trong kịch của ông nói rằng, hề Giullare là những người chuyên chọc cho vua cười. Bây giờ không còn vua nữa nên họ khôi hài với bằng hữu. Ông thừa hưởng tài năng từ ông nội, là một người nổi tiếng về kể chuyện ngụ ngôn. Sinh ra trong làng Sangiano ở Lombardy thuộc về Bắc Ý, nơi có truyền thống nổi tiếng về kể chuyện. Ðây là một ngôi làng có nhiều thợ thổi chai và làm ly cốc, người buôn kẻ bán qua lại, trong những giờ rảnh rỗi, ăn nhậu, họ kể nhiều truyện khác nhau, thường là chuyện vui đùa. Sự nghiệp châm biếm và khôi hài của cậu Dario bắt đầu từ đó. Ông nói: "Tôi sống cạnh bên những đứa con của các người thợ thổi chai, làm cốc, những người đánh cá Chuyện châm biếm họ kễ thật sắc xảo về những giả hình của giới trung lưu, về những thầy giáo, luật sư và các chính trị gia hai mặt... " Ông theo học Thiết Kế Sư ở Milan nhưng lại đam mê nghệ thuật sân khấu. Khởi nghiệp bằng những chương trình độc diễn qua đài phát thanh, được biết đến qua vai trò Poer Nano, Thằng Nhỏ Khốn Khổ. Một lần nữa sự nghiệp của ông thêm hương vị và vững chắc khi ông làm đám cưới với Franca Rame năm 1954. Bà là một diễn viên có tài trong nền kịch nghệ và sáng tác rất nhiều vở kịch cùng với ông. Bà sống cả đời dưới ánh đèn màu. Lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu bà chỉ là một đứa bé tám tháng. Sát cánh theo ông suốt 41 năm, chắc chắn bà xứng đáng được hưởng một nửa giải Nobel. Ông viết và trình diễn rất nhiều vở kịch nhưng phải đợi đến tác phẩm Mistero Buffo, kịch liên bản độc diễn thì cả nước Ý mới biết đến tài năng của ông. Trong tác phẩm Mistero Buffo, ông sáng tạo một loại ngôn ngữ nhạo báng, gọi là Grammelot, lời nói hai ý, sử dụng văn phạm và cách đọc lướt vần nhấn, khiến lời lẽ tuy nghe được nhưng không rõ nghĩa. Cộng thêm những cử động hoạt diễn câm làm cho ý nghĩa của toàn câu hiện ra. Khán giả xem thấy rất sống động và thú vị. Khán giả bị lôi cuốn theo dõi để tự giải câu truyện. Cách trình diễn rất đơn giản. Ông thường xuất hiện trong bộ đồ đen, áo thun cao cổ và chiếc microphone. Năm 1986, Mistero Buffo được trình diễn ở Hoa Kỳ tại sân khấu Joyce Theater, Chelsea. Người ta thường so sánh kịch của ông với kịch châm biếm của Moliere và Bertolt Brecht. Mặc dù ông thích thú hơn khi được so sánh với Mel Brooks, Sid Caesar và Monty Python. Năm 1981, ông đoạt giải Sonning Prize. Kịch do ông sáng tác có một đặc điểm: sáng tác sống. Cách viết kịch của ông cho phép giám chế, đạo diễn, diễn viên được tự do diễn xuất, thay đổi những chi tiết tùy vào địa điểm, thời đại và nhu cầu của mỗi trường hợp. Do sự uyển chuyển này mà kịch ông sống động, không bị lập lại, bộc lộ được những khía cạnh sắc bén khác nhau của mỗi diễn viên hay đạo diễn. Ngay ở Ý, tác phẩm Cái Chết Tai Nạn của Một Người Không Tin Chính Phủ có vài bản in khác nhau. Khắp thế giới vở kịch này khi diễn thường thay đổi. Chính Dario Fo khi trình bày, mỗi lần vẫn khác nhau. "Cùng một chương trình không thể trình diễn giống nhau. Chuyện tiếu làm cười chiều này, mười hôm sau chưa chắc còn công dụng. Tôi theo dõi sự hoan hô mỗi đêm bằng cách thâu cassette và ghi chú những ứng biến mới làm khán giả cười và vỗ tay. Ví dụ như chương trình này thất bại khi trình diễn ở Bologna và Rome. Bạn biết tại sao không? Vì trình diễn theo nguyên bản. Bản này mới, vừa phát hành, hoàn toàn khác hẳn. Cảnh đầu tiên được Dario viết lại toàn bộ và rất nhiều chi tiết cũ bị cắt, nhiều chi tiết mới thêm vào. Sáng tác theo lối này, không bao giờ chấm dứt... ” Franca Rame, phỏng vấn tác giả tại Milan, ngày 19 tháng 2 năm 1987. Với đặc điểm này, ông Fo đã đưa kịch nghệ ra khỏi sở hữu tính và tính đóng khung bởi thời đại. Tác giả không còn hoàn toàn là chủ nhân duy nhất của tác phẩm. Trách nhiệm chia sẻ nghệ thuật trong một tác phẩm được nhiều người đóng góp. Do đó sáng tác được phong phú và đa dạng hơn. Theo thời gian, kịch sẽ gạn lọc những cái hay ở lại những cái dở bỏ đi. Theo thời đại, nhịp tim mới sẽ mang những thay đổi mới vào tác phẩm. Nói cách khác là tác phẩm có thể luôn luôn hiện đại tùy vào kẻ nuôi nấng nó [cần đối chiếu phần cuối câu] Ý niệm này cũng đưa kịch nghệ trở về đám đông như những tác phẩm dân gian ngày trước với tất cả những đặc tính: linh hoạt, theo sát quần chúng, phổ biến rộng rãi. Ðó cũng là một điểm lạ trong sự nghiệp kịch nghệ của ông. Người ta thường thấy ông xuất hiện trình diễn ở những chốn công cộng như trong hội trường đấu banh, trong các gánh xiệc, ở các công viên. Ông không thích giam giữ diễn xuất giữa bốn vách tường của hí viện. Ðem nghệ thuật vào giữa quần chúng, ông là kịch sĩ của giới bình dân. Những tác phẩm tượng trưng được người ta nhắc đến nhiều nhất là Mistero Buffo (Thần Bí Hài Kịch), Non Si Paga, Non Si Paga (Quyết Không Trả, Quyết Không Trả), Morte Accidentale Di Un'Anarchico (Cái Chết Tai Nạn của Một Người Không Tin Chính Phủ). Tác phẩm mới nhất là Il Diavolo Con Le Zinne (Ác Quỉ và Những Người Khờ). Vở hài kịch nổi tiếng nhất của ông là Cái Chết Tai Nạn của Một Người Không Tin Chính Phủ được dịch ra nhiều thứ tiếng và lưu diễn nhiều nơi trên thế giới. Nội dung chống lại quyền hành của phái cực hữu. Ðây là vở kịch châm biếm chính trị, dựa trên một chuyện thật xảy ra: Ngày 12 tháng 12 năm 1969, một trái bom nổ tại một ngân hàng Nông Nghiệp ở Milan. Giết 16 người và làm cả trăm người bị thương. Tình trạng bom nổ xảy ra nhiều lần. Cảnh sát bắt hai người tình nghi, Giuseppe là người chủ trương vô chính phủ và Pietro Valpreda, người nhảy Ba Lê. Valpreda bị tù 3 năm. Còn Pinelli tự tử, nhảy ra cửa sổ từ tầng lầu tư của sở cảnh sát trong khi đang bị chất vấn. 10 năm sau người ta tìm ra thủ phạm của những vụ đặt bom là ba đảng viên đảng Phát-Xít. Ông Fo dựng lại vở kịch này bằng cách tạo ra một nhân vật chính rồ dại nhưng rất thông thái. Hắn giả làm ủy viên cố vấn của tòa án Thượng Thẩm vào ty cảnh sát để điều tra vụ án xảy ra tương tựa như vụ Pinelli tự tử nhảy qua cửa sổ. Hắn dùng những kỹ thuật lý luận kỳ cục làm cho trưởng ty cảnh sát và các nhân viên liên hệ đến vụ án nhận tội là đã giết người không tin chính phủ. Suốt cả vở kịch, người rồ đã khiến cho cảnh sát, (đại diện cho công lý), tuyên bố những chuyện có thành không, những chuyện không thành công. Khiến cho bà phóng viên, (đại diện cho quần chúng), quay cuồng theo sự thật biến hóa khôn lường. Riêng hắn, tự nhận nhiều nhân vật, khi thì ủy viên, khi thì đại úy, khi thì hồng y, khiến sự tình trở nên khôi hài và lộn xộn. Cuối cùng khi bị lộ tẩy là một người mắc bệnh tâm thần, hắn dùng cái bom nổ mang theo trong xách tay để thoát thân. Vở kịch chấm dứt bằng nhiều cách khác nhau. Riêng bản in của Richard Nelson, đã có hai cảnh kết luận. (8). Giải Nobel văn chương mỗi năm bất luận là trao cho ai cũng đều bị chỉ trích ít nhiều. Năm nay cũng vậy, cho dù ông Fo không phải là người được nhiều kỳ vọng theo dự đoán nên sự chỉ trích có phần ồn ào hơn nhưng không phải là chuyện lạ Cũng như năm 1994 khi nhà văn Nhật Bản Kenzaburo Oe được trúng tuyển đã gây xôn xao trong dư luận không kém. Họ cho rằng nhiều nhà văn nhà thơ Á Châu có tài năng hơn nhưng không được đề nghị vào danh sách lúc ban đầu. Riêng năm nay, dư luận lại quay sang vấn đề lá phiếu của các thành viên trong Hàn Lâm Viện. Họ cho rằng ông Fo không được đa số phiếu ủng hộ. Trên qui tắc số thành viên gồm 18 người, số phiếu tối thiểu để thắng giải là 12, ông Fo được 13 phiếu. Trong năm 1989, hai thành viên phản đối việc ông tổng thư ký của Hàn Lâm Viện, Sture Allen, không ra thông cáo bênh vực cho nhà văn Salman Rushdie khi bị người Hồi Giáo treo án tử lệnh. Cho đến nay hai thành viên này vẫn không cộng tác. Hai thành viên khác đã qua đời trong năm vừa qua, chỉ được thay thế bởi một người nhưng lại quá muộn để sử dụng quyền bỏ phiếu cho năm nay. Tính ra chỉ còn 14 thành viên thực sự làm việc. Nhưng việc gì đến, sẽ đến. Sau khi đóng xong một màn truyền hình ở Rome, Dario Fo trên đường lái xe về Milan nơi vợ ông đang chờ bữa cơm chiều. Ông thấy có chiếc xe bám sát theo rồi vượt lên ngang hàng. Ông nhìn sang, họ mở cửa kính xuống và đưa lên tấm giấy với hàng chữ: Dario, ông đã thắng giải Nobel. Những người ủng hộ ông thì đang chờ đợi và tự hỏi, không biết Dario sẽ làm trò gì khi đọc diễn văn nhận trao giải ở Stockholm. Với trí óc đầy nhóc chuyện khôi hài, không biết ông sẽ nói gì hoặc ông sẽ trình diễn một màn Mistero Buffo mới. Không chừng là một màn kịch câm, như thế mới hợp với cá tính của ông.
Houston ngày 25 tháng 10 năm 1997.
Ngu Yên
Ghi Chú:
1. " The World is a stage, the stage is a world of entertainment." Howard Dietz. Weath 101. Roger & McWilliams. Prelude Press.
2. New York Times. Section E. Page 2. Colum 3. Date: 971015.
3. Dịch bản We Won't Pay! We Won't Pay. North American Version by R. G. Davis. Samuel French, Inc. 1984.
4. Franca Rame and Dario Fo. A Women Alone & Other Plays. Cox & Wyman Ltd. in Great Britain. 1991.
5. MSNBC News Service Stockholm, Sweden. Italian Wins Nobel Prize.
6. Weath 101. Roger & McWilliams. Prelude Press. Page 346.
7. Chicago Tribune, Friday, Oct. 10,97. Controversial Satirist a Nobel Winner.
8. Dario Fo and Franca Rame. David L. Hirst. St. Martin Press. 1989.
Trăng Xưa
Họa có khùng tôi mới dám nghĩ rằng những bài thơ ấm ớ như vậy sẽ moi được cho mình một chỗ ngồi trong văn học [không rõ: đoạn bị cắt] Thôi, hãy dành chiếc chiếu hoa đó cho những tay chơi lão làng! Vẫn thấy sớm sớm họ tụ tập tự vỗ béo bằng một chầu ở Caravelle, chiều chiều quây nhóm tán dóc ở La Pagode, tối tối đú đởn xả láng với các em bảy chữ tám nghề ở Maxim; rồi nửa đêm về sáng mang bản mặt cá ươn chui về gác trọ ra cái điều thao thức, trăn trở cho cái "sứ mệnh cao cả giải phóng nhân loại của thi ca". Còn với tôi, thơ là... thơ. Thơ, nói cho cùng, cũng chỉ là một cuộc chơi. Cuộc chơi nào mà chẳng cần một ít luật chơi? Và luật chơi thì có thể thay đổi tí ti tùy giao ước giữa những tay chơi, phải không ông bạn? Với tôi, hãy... làm dáng chút đã! Này nhé, tôi, sĩ quan hải quân, trẻ, độc thân, không xấu trai, tốt nghiệp hạng vừa phải ở một quân trường nước ngoài, đang phục vụ trên một chiến hạm đẹp và oai, sau những giờ phút lênh đênh còn hì hục đào bới cho hết các chứng chỉ Luật và Văn còn lại, thử hỏi có cách làm dáng nào gây ấn tượng mạnh hơn? Tôi chưa say đâu, ông bạn! Mà cũng không lạc đề nữa! Ông bạn vừa hỏi vì sao không bao giờ thấy tôi ra sàn nhảy, phải không? Thì tôi đang trả lời đây! Vậy ta hãy trở lại... cái thời tôi mới làm thơ. Tết năm đó lão chủ bút một tờ báo lính của chúng tôi có sáng kiến (thực ra sáng kiến quái gì, các báo khác người ta đã làm từ hàng năm ấy!) phỏng vấn lăng nhăng ban biên tập rồi cột vào một bó mà người ta vẫn gọi là mục "xông đất bồ nhà". Từ tòa soạn lão gởi ra chiến hạm cho tôi một bản tự bạch. Thôi thì tạp lục: Chút tiểu sử. Sáng tác vừa ý nhất? Dự định tương lai? Kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất? Ước mơ năm mới? Cứ như thể người ta phải mở toang tất cả mọi cánh cửa, phơi bày tất cả mọi ngõ ngách con người mình ra để "tìm bạn bốn phương, kết giòng lá thắm" ấy! Ông bạn biết, sau một phiên trực đầy mật vàng mật xanh của những tay mới tập tành làm quen với biển mùa gió chướng, cái thú duy nhất của tôi là đọc dăm chữ, một bức thư thì tốt hơn (dù bức thư đó tôi đã đọc đến thuộc làu mà không hề nghĩ đến chuyện hồi âm) rồi lơ mơ chìm vào giấc ngủ có chập chờn Sài Gòn nắng, có lung linh con đường Duy Tân cây dài bóng mát, có đôi môi em ngọt lịm chanh đường. Phải ngồi vào bàn viết thì y như tử tội ngồi trên ghế điện. Cáu tiết với trò quỷ của lão, tôi phết nhát gừng. Thích gì nhất? Ðọc thư bạn đọc. Ghét gì nhất? Ghét trả lời thư! Vẫn lịch sự chán, phải không ông bạn? Dù gì người ta cũng đã dắt dìu mình từ những bước đầu tiên. Tờ báo Tết ra lò được hơn tháng thì lão chủ bút lại chuyển ra cho tôi một lố thư riêng. Ồ, ông bạn biết đấy, dù sao tôi cũng có một ít người đọc. Có thư lại cẩn thận kèm hình. Ðủ dáng. Ðủ kiểu. Họ tự giới thiệu về mình, nói lý do viết thư cho tôi, khen tặng lăng nhăng làm tôi rởn óc như lúc chiến hạm nằm trên đường đi của một cơn bão nhiệt đới. Và họ (làm như tôi là người đầu tiên xuống nước hoặc đang đại diện cho giới hải quân không bằng) mong tôi có thư riêng cho họ về "biển rộng và thú phiêu du, trời xa và buồn vui đời song nước". Nghĩa là họ muốn tôi ngồi vài giờ mỗi ngày trên ghế điện! Xấp thư này tôi bỏ lẫn lộn đâu đó với mớ bản thảo công văn và có lẽ người tiếp vụ dọn phòng đã ném xuống biển. Thực ra tôi không buồn ngó đến chúng lần thứ hai. Nhưng cho đến bây giờ, lúc đang ngồi nói chuyện với ông bạn đây, tôi vẫn còn giữ lại một bức thư duy nhất. Trong ngoài không đề địa chỉ người gửị Cô gái ấy bảo mình "xấu nhưng không đến đỗi nào, ít học nhưng không dốt lắm". Nghĩa là nói mà không nói gì cả. Nàng yêu tranh và sưu tập Van Gogh (cắt từ báo, dĩ nhiên!), nghe và yêu Chopin, đọc và cảm... thơ tôi! Nàng viết: "Ông thích đọc thư nhưng lười viết. Em thì thích viết nhưng không thích nhận thư. Ðã thế ta hãy hợp đồng: Em nguyện làm người viết thư không công cho ông đọc..."
Từ đấy hàng tháng tôi vẫn nhận được thư nàng. Có khi đôi ba lá! Tôi phảI đọc thêm một ít tạp chí mỹ thuật để xem ông Van Gogh hay ông Chopin nào đó có ăn nhập gì đến thơ tôi không chứ về khoản này thì tôi non quá Và thơ tôi thì, thú thật, lắm khi nàng gán ghép cho chúng những ý tưởng cao xa mà khi viết tôi không hề nghĩ tới. Chúng tôi giống nhau điều này: gì thì gì, thơ vẫn cứ là... thơ. Vầng trăng diễm tuyệt của nàng vẫn cứ nguyên xi là xứ sở cho mộng mơ bay bổng dù rằng bước chân non người đã đặt lên đó vài năm trước đây, rằng bằng mắt thấy tay sờ đó chỉ là một hành tinh khô lạnh và gương mặt chị Hằng lại chằng chịt rỗ hoa mè! Nàng đọc và xét thơ bằng cảm tính. Không mồm loa mép giải lý luận dài dòng. Các nhà phê bình văn học vĩ đại của chúng tôi cứ phải hì hục đi làm cái việc quét nhà ra rác. Trường phái Hoàn cảnh sáng tác? Ý tưởng? Cách dùng từ? Và trăm thiên thứ nữa. Ý này đã xưa: Không ổn! Nếu rập theo các lão thì Liz Taylor không đẹp vì gương mặt hao háo. nữ hoàng Cleopatre, còn Arnold Schwarzenegger không khoẻ vì cơ bắp giống... thần Hercule! Nếu cứ rập theo các lão thì Tây Thi, Dương Quý Phi chưa phải mỹ nhân! Các lão còn đang bận rộn với từng nốt ruồi kín, từng mùi lạ từ thân thể các nàng. Các lão mổ xẻ từng sợi tóc đường gân người ta rồi ra cái điều xót xa, tiếc rẻ cho sự bất toàn của một nhan sắc! Các lão chỉ xứng đáng được chiêm ngưỡng những xác ướp vô thừa nhận trong phòng lạnh bệnh viện. Nhưng hãy tạm quên các lão ấy đi! Ta hãy trở về với chúng tôi, chuyện của tôi và cô bé "không đến đỗi nào". Tôi không hề nghĩ rằng ngày nào đó tôi sẽ gặp cô gái. Ðời lính đã làm tôi quá quen thuộc với những chia xa, mất mát. Ðến độ trái tim hóa xơ. Lại nữa là cái lãng mạn vay mượn được của quý bậc đàn anh: "Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ. Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa". Trái lại, những hoan lạc sum vầy, kết thúc đẹp đẽ của những mẩu chuyện đời đều làm tôi xúc động mạnh. Ðừng cười, ông bạn, nếu tôi mách nhỏ với ông bạn rằng những kết cuộc có hậu trong các vở cải lương (ví dụ như chàng học trò nghèo cuối cùng đỗ Trạng và cưới công chúa, cô bé nết na rốt cuộc được hoàng tử cứu khỏi toà lâu đài quỷ và hai cùng chia ngôi báu) đều làm mắt tôi rơm rớm. Thời chiến mà! Những cái hậu như vậy vĩnh viễn chỉ là niềm mơ ước. Vâng, tôi vẫn đọc thư cô gái đều đều mà không hề nghĩ, không hề mong rằng có một ngày sẽ đối diện cô gái ấỵ.. Năm đó bảy mươi bạ Tháng chín. Hằng năm, hải quân dành một ngày vào tháng này để kỷ niệm húy nhật Thánh tổ. Buổi sáng là phần nghi lễ. Có chào quốc, quân kỳ. Có "câu chuyện dưới cờ". À, câu chuyện này đại khái giống như bài công dân giáo dục hồi chúng ta học ở bậc tiểu học ấỵ Buổi tối tươi mát hơn: champagne, tiếp tân, dạ vũ. Ban nhạc áo trắng chơi tuốt tuột từ những bản Valse nổi tiếng thành Vienna đến những bài twist Sài Gòn rẻ tiền nhất. Hội quán đêm ấy chật nức. Bọn trẻ chúng tôi chọn một bàn góc tối. Từ đó tôi có thể quan sát và nhận diện được tất cả hoa khôi của buổi dạ vũ này. Cả bọn nhấm nháp, rượu mạnh lấy hứng. Tôi chọn đúng mục tiêu và đưa được một tiểu thư con quan lớn ra sàn nhảy khi ban nhạc chơi bài Wine, Women and Song của J. Strauss. Vậy là có một khởi đầu tốt đẹp. Tôi mời nàng ngồi cùng bàn và rất cảnh giác với ông già ba toong vừa xoắn theo các mệnh phụ phu nhân, vừa đưa bản mặt cô hồn chăm bẳm về phía chúng tôị Tôi thích thú với ý nghĩ có lẽ mình đáng té ngã vì vừa vấp phải chiếc răng khểnh của nàng. "Vâng, chiến tranh tồi tệ nhưng cuộc đời, nói chung, vẫn đẹp; tình yêu, nói chung vẫn đẹp; tuổi trẻ nữa, nói chung, vẫn đẹp, phải không cô bé Uống mừng! Ồ, chuyện ấy hả? Hỏi bố! Ông ấy là một sói biển già dặn đáng kính. Anh chỉ đáng hàng... con rể. Uống mừng! Ðừng, đừng xuôi mồm nhắc tên anh cho bố biết, ông bày trò thử thách thì ngụy Anh sợ hình phạt nhục [cần đối chiếu nguyên bản] lắm! Nào, nâng ly!" Mỗi lần tiểu thư cười thì tôi cũng cười thầm cái ý nghĩ mình đã vấp phải một chiếc răng khểnh. Người thủy thủ tiếp vụ quen biết đến chào và nói nhỏ có người cần gặp. Nụ cười hắn mới thấy ghét sao sao ấy! Làm như tôi và hắn đồng loã trong một vụ chơi nào đó À! Lại một cô gái! "Xin lỗi, xinh lỗi! Một chút thôi, cô bé". "Anh có nhiều bạn gái nhỉ?" "À không, không... Có lẽ..." "Không sao!" Mà tôi biết sẽ "không sao" thật: với cô tiểu thư con quan lớn học trường Tây nhỏng nha nhỏng nhảnh này thì chốc nữa ta có thể làm lành bằng đôi câu tán tụng vô tội vạ nào đó.
Tôi và người tiếp vụ luồn lách khó nhọc qua những đôi trai gái đang tay trong tay, mắt trông mắt. Amamai! You’re my life, my love. Hold me and never let me go. Trong không khí có mùi nước hoa hạng sang, mùi rượu, mùi thuốc lá, một chút mùi lính tráng. Chút gì nữa giống như mùi rong rêu, mùi muối. Từa tựa mùi xác những vi sinh vật tụ tập trên một vùng biển lớn. Hắn dẫn tôi đến chiếc bàn cuối phòng rồi lỉnh mất. Ở đó, khi mọi người đã kéo nhau ra hết ngoài sàn nhảy, chỉ còn lại một cô gái và cốc nước chanh. Một khuôn mặt tối. Nghĩa đen lẫn bóng. Ánh đèn tím nhạt chỉ hé cho tôi một chút khóe môi hơi mím, cánh mũi thanh tú phập phồng. Nhưng trong đôi mắt ấy hình như có một thứ ánh sáng riêng. Thứ ánh sáng lấp loáng nhỏ nhoi của đôi vì sao trong đêm mịt mùng bão biển. Ðôi vai, đôi cánh tay trần cho tôi một ấn tượng nhẹ nhàng thanh thoát. "Xin lỗi! Xin em nhắc nếu tôi có quên..."
"Không! Ông mới gặp em lần đầu..."
Có thể đó là thầm thì tiếng gió lùa qua rặng phi lao Tôi không rõ. Có thể đó là rì rào lời sóng biển vỗ về bờ cát. Tôi không rõ. Cũng có thể đó là líu lo chim hót ban mai trên hải đảo mù sương. Tôi không rõ lắm. "Hai năm nay em vẫn thường viết thư cho ông..."
Hình như tự tay tôi kéo ghế ngồị Hình như có ai đó kéo ghế mời tôị Tôi không nhớ. Ðối mặt với tôi là người con gái hai năm nay vẫn trang trải nỗi lòng với tôi, vừa như nói với chính nàng. Bàn tay gầy, nổi thoáng gân. Những ngón tay dài không sơn móng. Ðẹp! Bàn tay đã viết cho tôi gần năm mươi lá thư ấy giờ đang xoay xoay chiếc thìa con. "Em vẫn thường đọc ông trên báo. Có bài ông đề tặng riêng em. Và em có lý do để gặp ông."
Ðúng đấy, ông bạn! Thỉnh thoảng tôi có bài tặng nàng. Có lẽ chỉ mình tôi và nàng hiểu "gởi một người ở xa" là gởi cho ai. Trong những bài thơ đó, những khi cao hứng, tôi đã gọi nàng là "nguồn cảm hứng vô biên", là "người thơ hằng cửu", là "vầng trăng diễm tuyệt của thi ca". Tóm lại, tất cả những gì cóp nhặt được của thiên hạ tôi đều hào phóng tặng nàng. Còn giờ đây, trước mặt nàng, tôi biến thành một chàng trai ngờ nghệch. Rất ít khi, như lần này, trong cuộc gặp gỡ tay đôi, tôi bị bất ngờ và không nắm phần chủ động. Ý nghĩ này làm tôi thoáng đau khổ. Nhưng tôi đâu phải là hạng người cam phận! "Em thấy khung cảnh ở đây có giống chút nào với Dance Hall at Arles của Van Gogh không?"
Cô gái cười nhẹ. Chút ánh sáng riêng trong đôi mắt ấy lung linh. "Thực ra, ông nghĩ gì về em?"
Ban nhạc chơi bài Sentimental. You're sentimental... Sweeter than a sigh of love... Sweeter than an April morning... Nhưng không, tôi muốn trở về với Van Gogh của nàng. "Trông em giống hệt cô gái Nhật bản trong Mousme Sitting in a Cane Chair ông ấy vẽ 85 năm trước". Chút ánh sáng nhỏ nhoi trong đôi mắt ấy đột nhiên biến mất. Giống như ánh trời chiều đang hấp hối soi sáng đường chân trời. Khi chiến hạm vừa ngoi lên từ chân con sóng bủa đầu thì ánh trời kia cũng vừa tắt mất. Bóng đêm bất trắc. Có tiếng sóng ầm ầm phía mũi tàu. Có tiếng gió rít qua đài chỉ huy. Ðôi vai nàng khẽ rung. Chiếc thìa con gác đầu ngủ vùi trên miệng dĩa. Miếng vỏ chanh xác xơ như đời người khánh kiệt. Màu tím nhạt óng ánh từ chiếc cốc pha lê. Vài cánh hoa rơi trên mặt bàn. Tất cả tạo thành một bức tranh tĩnh vật buồn bã. Những nốt nhạc ngập ngừng. Ngập ngừng lời nói đầu tiên. Ngập ngừng giòng chữ mở đầu. Letter to Elise! Tôi cũng ngập ngừng. "Có lẽ mình nên nhảy một bản để ghi dấu đêm nay". Tôi lập lại: "Tôi mời em". Có tiếng gió lùa qua đài chỉ huy con tàu. Tôi đứng dậy gỡ nhẹ những ngón tay dài đang bấu vào tấm khăn bàn. Tôi cố tạo một cử chỉ dịu dàng nhưng không thiếu quyết tâm. Có tiếng sóng ầm ầm phía mũi tàu... Ðã hai mươi năm trôi qua. Tôi còn nhớ như in vẻ van lơn cầu khẩn trong đôi mắt nàng vào cái giây phút quái quỷ đó. Ðó là đôi mắt chú cá sắp chết cạn trên bờ cát nóng. Nàng nhổm dậy theo chiều kéo cánh tay tôi. Cái dáng nghiêng nghiêng của ngọn tháp Pisa! Và thốt nhiên nàng đổ sụp! Vâng, tôi chưa tìm được hình dung từ nào diễn tả một cách chính xác hơn. Nàng đổ sụp! Và cả tôi nữa! Các nhà văn thời thượng sẽ mô tả là mặt đất dưới chân tôi hình như sụt lở, tôi như rơi vào một khoảng không đen đặc... Mà thật vậy! Ðâu phải chỉ Cali mới có động đất, ông bạn! Có tiếng loảng xoảng ly tách vỡ Tôi thảng thốt dán mắt vào phía dưới thân thể nàng. Chiếc váy lệch để lộ phần dưới chân trái ốm tong như cánh tay một đứa trẻ Và dưới chút nữa, bàn chân cứng đơ. Lưng bàn chân ấy cong lên như một dấu ngoặc đơn vừa đóng lại cho một lời giải thích cần thiết. Hai mươi năm đã trôi qua. Sau buổi dạ vũ ấy tôi không còn gặp lại cô gái. Không hề nhận được một bức thư nào nữa. Tôi biết nàng không muốn gặp lại hoặc viết cho tôi. Chiến tranh ngày càng ác liệt, kết thúc bi thảm và số phận đã buộc chúng ta đếm bước lưu vong. Hai mươi năm, kể làm sao xiết chuyện dâu bể cuộc đời ông bạn hở? Nhưng không bao giờ tôi quên được cô gái và bàn chân tội nghiệp. Tại sao bỗng dưng nàng có ý định gặp tôi? vì nàng sắp lấy chồng? Sắp vào nhà tu kín? Không phải! Nếu thế nàng chỉ cần viết cho tôi đôi dòng chấm dứt một trò chơi lãng mạn. Nàng cũng có thể tự ý bặt tin, âm thầm xé bỏ cái giao ước một chiều kia để câu chuyện mãi mãi là một nghi vấn nên thơ lôi cuốn những kẻ tò mò tọc mạch. Không, nàng đã không làm những điều đó. Tôi biết nàng không phải là kẻ độc ác. Như vậy thì cái logic của sự việc như thế nào? Có lẽ tôi sẽ không bao giờ được biết. Tôi cũng không quên được sàn nhảy nhưng mỗi khi nhìn những đôi trai gái lả lướt bên nhau tôi không bao giờ tha thứ được sự thô bạo của mình trong đêm dạ vũ ấỵ Nói không quá, tôi mang một thứ mặc cảm tội lỗi nào đó Trong ánh sáng ma quái của vũ trường, cặp mắt cô bé cứ nhìn chằm chằm vào kẻ tội phạm là tôị Ðôi mắt Abel! Tôi biết mình không thể nào khiêu vũ được nữa! Trong gần hai mươi năm lưu vong này tôi vẫn thường hay đến với sàn nhảy đấy chứ! Tôi thích đến với những đêm lễ lạc của cộng đồng, các hội đoàn. Thích vì những nét dễ thương và vì cả những điều khó chịu. Ở đó, cuối chương trình bao giờ cũng là phần mà có người tổ chức vì sợ tiếng thị phi đã ghi vào giấy mời là "phần tự do". Ðêm nay, chúng tôi lại tổ chức dạ vũ nhân húy Thánh tổ. Trong những đêm như vậy tôi thường hay ngồi một góc, ngó mông lung và mường tượng ở đâu đó, góc bên kia, có một khuôn mặt tối. Nghĩa đen lẫn bóng. Có chút ánh sáng nhỏ nhoi trong đôi mắt tốị Và bàn chân khập khiễng. Rồi tiếng chiếc nạng gỗ lạo sạo buồn buồn trên lối sỏi. I go alone, on and on... Solo Vado! Ðôi vai nhấp nhô lần tiễn biệt. A few stars, no moon, all is dark. Tiếng nhạc từ hội quán năm nào như vọng lại từ một cõi xa xăm. I go alone down the street and every shadow awakens memories within me. Ðôi vai nhấp nhô. Nhấp nhô. Và hết... Không, tôi không thể nào ra sàn nhảy được nữa. Ðến đây, kẻ lắm mồm này đã có thể chấm dứt câu chuyện này được. Ðôi chân ông chắc có phần ngứa ngáy? Nhưng thư thả đã, ông bạn! Ðêm vui hãy còn dài! Nếu có điều gì phải nói thêm, tôi xin thưa cùng ông bạn: bây giờ, rất ít khi, nhưng tôi vẫn làm thơ. Có người bảo mỗi người Việt là một nhà thơ. Ơn Trời, không phải vậy! Tôi chỉ thấy mỗi người ở đây là một chính khách. Cho nên tôi vẫn phải làm thơ. Thỉnh thoảng tôi vẫn có thơ "tặng một người ở xa". Tôi muốn nhắn nàng rằng tôi sẽ không phải bỏ công đi tìm một vầng trăng nào khác. Ðối với tôi, cũng như với nàng, vầng trăng kia vẫn y nguyên là vầng trăng huyễn mộng dù rằng con người đã đặt lên đó những bước chân thô bạo. Thì tại sao em không vẫn mãi là người thơ hằng cửu cho dù có mang chân trái tật nguyền? Tòa soạn giữ địa chỉ tôi cẩn thận. Mỗi ngày tôi vẫn soát thùng thư với một hy vọng mong manh. Phải, biết đâu một chiều nào đó tôi sẽ nhận được những dòng chữ thân quen mà nét sau chữ u cuối tên tôi được ngoéo tròn như ngón tay trỏ giao ước: "Ðã thế ta hãy hợp đồng: Em nguyện làm người viết thư không công cho ông đọc..."
Nguyên Nhi
OKC, USA