vhnt, số 341
31 October 1997
Trong số này:
Thư vhnt...........................................................Chinh/BBT
Thông báo họp mặt nhóm Ô-Thước & thân hữu VHNT .............vhnt
T h ơ :
1 - Thu nhớ .......................................................Ý Liên
2 - Tháng mười sinh nhật ...................................Tưởng Di
3 - Về cội .....................................................Mặc Âm
4 - Ðời ta là một dòng sông .......................Trần Minh Hiền
5 - Thương nhớ mẹ cha ................................Lương Thư Trung
6 - Về đâu ..........................................................C.B.
7 - Tim con gái ......................................................Ý Nhi
8 - Lá thu .................................................Lillian Nguyễn
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Nghĩ về truyện thật ngắn ............................Châu Liêm
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Bến Lú: giải nhất truyện thật ngắn ............Ðồng Thảo
11 - Một buổi cầu hồn ..................................Hoàng Vi Kha
Cây lá vườn tôi giờ rất thu
Nỗi nhớ nào nong mắt sương mù...
Ý Liên
Tôi ngồi nhẩm đọc câu thơ trong một sớm sương mù mùa thu, nơi quanh chỗ tôi ngồi, mỗi lá vàng đang đắp lên nhau như từng tờ lịch. Câu thơ nhẹ nhàng thoáng gợi trong trí nhớ tôi hình ảnh của quê nhà - hình ảnh của những ngày thơ ấu bắt đầu bằng vần thơ Xuân Diệu :
Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Mỗi lần thu về là mỗi lần tôi nhớ đến sắc mạnh của màu vàng rực rỡ đó, thứ màu vàng quánh đặc ám ảnh trong tranh Van Gogh. Màu của lá thu luôn bập bùng trong tôi những ngọn lửa chiêm bao. Như ngọn lửa Thanh Tâm Tuyền một lần cháy giữa cuộc đời tôi ngày bước vào đời:
Anh xé tóc em cùng những cành lá chết
Mùa Thu
ghi thương tích nơi cườm tay
Khoá chặt...
Mùa thu nơi tôi ở đang bàng bạc sương mù, "cùng những cành lá chết". Mùa thu nơi bạn ở có thể vẫn còn xanh lá, vẫn nắng ấm, hay có lẽ đã chìm trong tuyết trắng đầy lối đi. Dù nắng ấm, dù tuyết rơi, mãi mãi, khuôn mặt thu vẫn là một nhan sắc của thuyền quyên, vẫn là nàng thơ muôn đời của Thi Sĩ.
VHNT số này đang vẽ ra cho bạn một bức tranh thu đầy tiết tấu mà mỗi câu thơ trong đó vẫn mong rơi lại trong lòng bạn một chiếc lá vàng, một ngọn lửa.
thân ái,
Chinh/vhnt
Họp Mặt Nhóm Ô-Thước và thân hữu VHNT tại Dallas, Dec. 6, 97
Như một "truyền thống" của Ô-Thước, mỗi năm có một buổi họp mặt thân mật nhỏ để các "quạ" hội viên Ô-Thước và thân hữu VHNT có dịp gặp nhau hàn huyên, sinh hoạt văn nghệ, làm quen, và tạo tình thân.
Năm nay, buổi họp mặt sẽ tổ chức tại Dallas, Texas, vào ngày 6 Dec., 1997. Sinh hoạt văn nghệ và tiệc trà thân mật bắt đầu lúc 7:00pm, tại địa điểm báo quán VietNam Weekly News.
Nhân dịp này, nhóm chủ trương VHNT và Ô-Thước mời các độc giả thân hữu VHNT ở xa và trong vùng, nếu có phương tiện, đến tham dự buổi gặp gỡ thân mật này tại Dallas, TX, để chúng ta có cơ hội làm bạn và chia sẻ tâm tình.
Xin liên lạc email về vhnt@ để biết rõ thêm chi tiết về chương trình họp mặt.
Nhóm Ô- Thước thân mời
Thu Nhớ
Thu nay có về trên ấy không?
mùa thu có lẽ má em hồng
ở đây với biển xa rừng quá
những sớm mưa buồn run lá thông
Có lẽ giờ em khoác áo len
áo trắng hôm xưa chắc thật hiền
bao giờ em mới về bên nội
để áo reo cười bên hàng hiên
Cây lá vườn tôi giờ rất thu
nỗi nhớ nào nong mắt sương mù
không buớc em về tôi vẫn đợi
một lần là suốt cả thiên thu
trời cứ hồn nhiên theo nắng mưa
buồn tôi cứ lớn mãi theo mùa
Thu chín mấy mùa thu đã rụng
hồn tôi còn mãi trái bơ vơ
Chim bướm vườn tôi bay ngẩn ngơ
bay sang bên ấy ngóng bơ phờ
tôi biết tôi còn nữa đấy
thu ơi! nói tháng mấy em về
Ý Liên
Tháng Mười Sinh Nhật
Ừ tháng mười, vừa đến trong ngạn ngữ
Dài cơn mưa chôn lấm dấu tình ta
Thêm một tuổi, tâm hồn như chợt lớn
Ngỡ thời gian đang lắng đọng hồn nhau
Một lần nữa, tuổi về cho đất lớn
Mắt môi mềm ươn ướt ngấn men say
Tình chưa giải, nên còn trong tay với
Sầu chưa tan, nên vỗ cánh đi hoang
Bước một bước, chợt thấy mình hụt hẫng
Thương yêu này, còn vời vợi trong tay
Còn vỗ về gọi thương nhớ muà thu
Tình chưa trọn coi như đành dang dở
tưởng di
Về Cội
Sáng nằm nghe tiếng chuông
Vọng về ngôi chùa cổ
Lòng từ bi vô độ
Ánh sáng ngập trần ai
Tâm hiền hoà như nai
Hồn nhiên như cây cỏ
Thanh tịnh không lo sợ
Ðời bất biến vô vô
Mặc trầm trầm cõi thơ
Thiền lâng lâng tự tại
Suối lời kinh trôi mãi
Tìm về cõi huyền vi
Hoa nở nhánh sân si
Vội tàn ơn chân ngộ
Tâm niệm đang soi mở
Chắp tay ta chắp tay
(10/14/97)
Mặc Âm
Ðời Ta Là Một Dòng Sông
Ðời ta là một dòng sông
Uống ngàn con suối xuôi dòng xa khơi
Dòng sông bờ lở bờ bồi
Ðời ta bồi lở một thời trẻ trung
Dòng sông đi mãi không cùng
Ðời ta rong ruổi ngàn trùng dặm xa
Sông xanh xanh thẳm thật thà
Ðời ta cũng thế buồn và đơn côi
Dòng sông nằm ngắm sao trời
Còn ta nằm ngắm bồi hồi đời ta
Trần Minh Hiền
Thương Nhớ Mẹ Cha
Kính dâng hương hồn Tía Má.
Tuổi đời chồng chất theo năm tháng,
Nhiều lúc thăng trầm, lắm bể dâu.
Nhớ Mẹ, nhớ Cha, lòng luống tưởng,
Niềm riêng giấu kín, mãi ghi sâu.
Bao năm ly loạn, nhà bỏ ngõ,
Tía Má bồng con chạy khắp cùng,
Tản cư Tây bố, băng rừng bụi...
Nhìn lại làng xưa, dạ nấu nung...
Mười năm lưu lạc về Cái Sắn,
Là hết mười năm Tía dãi dầu!
Mưa nắng bao mùa sờn áo bạc,
Bao mùa mưa nắng, mấy đêm thâu!
Chang chang nắng đốt, thân còm cõi,
Ướt đẳm mưa dầm, mấy bận run...
Mây xám vây quanh đời khốn khó,
Gió lùa tóc rối, bụi mù tung!
Tía tôi lặn lội trên đồng cạn,
Mẹ trải bao phen việc tảo tần,
Mấy bận sớm chiều cơm bốc khói,
Mấy lần gốc rạ cắt đầy chân!
Khi giặc Tây đi, lục tục về,
Không người, vắng ngắt... xóm làng quê.
Bụi cỏ, gốc cây buồn muốn khóc...
Chó vẳng "tru" dài... tiếng thảm thê...!!!
Lối xưa bít ngõ, thềm rêu phủ,
Nhà trống, vườn hoang cỏ mịt mù.
Tía Má sớm hôm gầy dựng lại,
Ruộng vườn, con cái, lắm công phu...
Khi con khôn lớn, Tía tôi già,
Mẹ tôi cơ cực, cũng gầy ra...
Suốt đời lo lắng cho con trẻ,
Ðến phút từ ly, chẳng nỡ xa!!!
U-Minh mấy bận rừng thay lá,
Mấy lượt ong về hút nhụy hoả!
Sao buộc đời ta hoài chốn ấy?
Không về tiễn được Mẹ Cha ta!!!
Khi con trở lại căn nhà cũ,
Tía Má mười năm đã ngủ vùi...
Nghi ngút khói hương, nhà vẫn lạnh,
Bao mùa mưa nắng, mấy sương rơi!
Vườn trầu khô khốc, không vàng lá,
Bụi chuối hao gầy, chẳng nở con.
Vắng Má, buồng cau không ai hái,
Cau già, rụng trắng cạnh bờ mương!
Con có ghé chùa thăm mấy bận,
Vườn sao cao vút, trúc um tùm.
Tía đã ra công trồng thuở nọ.
Việc đời, việc nghĩa, việc lợi chung...
Mỗi lần con ghé thăm đình cũ,
Ðọc lại bài thơ cổ, Tía làm,
Khắc trên bệ gỗ, treo ngay cổng,
Tự đáy lòng con nước mắt trào!
Nhớ lời Tía dạy: gìn nhân nghĩa,
Má dặn con: nên giữ lòng hiền.
Bấy nhiêu lời dạy, con mang hết,
Bước xuống dòng đời, vốn đảo điên.
Năm mươi tuổi lẻ, đầu nhuốm bạc,
Con vẫn nghĩ lòng rất trẻ thơ.
Nhớ Má, nhiều đêm con muốn khóc,
Thương Cha, thấp thoáng cả trong mơ !
Lương Thư Trung
Boston, ngày 10-10-97
Về Ðâu
Nơi em muốn đến
Ðường không lối đi
Chỗ em đang về
Ðường đầy ảo dị
Bóng em từ xa khuất
Mỗi bước chân một sầu
Bến mới niềm chua chát
Nhớ ngày ta với nhau
Ðời em sẽ có đường hoa gấm
Hay chỉ nhọc nhằn những bước mau.
Một kiếp phù sinh trăm lối rẽ
Lối nào chan chứa ân tình sâu?
Ðộc ẩm bao giờ em quán cũ
Góc tối anh ngồi say đã lâu
Cũng vì sao ấy trời đêm ấy
Ta vỗ tay cười, hề, thôi hết đau
c.b.
Tim Con Gái
Tim con gái, trái tim con gái
Chưa biết yêu đã biết thở dài
Thương cây, thương cỏ, thương trời mây
Thương cả phút giây lãng đãng này.
Tim con gái, trái tim ngần ngại
Chẳng đủ tin để gánh phong trần
Thương yêu chút đã dừng chân lại
Kẻo xa xôi lại bảo "không gần"...
Khi đã yêu , trái tim chịu tội
Biết rằng sầu sẽ úa bờ môi
Ngày lại tháng tim yêu hằng đợi
Một bóng hình vẫn mãi xa xôi
Tim con gái chẳng làm tượng đá
Ðá vô tri sống chết mặc ai
Tim con gái hóa thành cây lá
Cùng đất trời xanh thắm miệt mài
10/8/97
Ý Nhi
Lá Thu
Côi cút bên thềm chiếc lá khô
Nghe lòng chi lạ cứ bâng quơ
Mây còn trắng lắm, trời xanh lắm
Nhuộm sắc nâu vàng muôn lối chưa
Lá vừa mới rụng hay mùa cũ
Còn tiếc thời xanh không muốn đi
Nhỏ nhoi chỉ vậy mà như thể
Ôm cả trường thiên những biệt ly
Lillian Nguyen
Nghĩ Về Truyện Thật Ngắn
Truyện thật ngắn là một loại được ưa chuộng hiện nay.
Các tạp chí trong nước và hải ngoại, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, đều có đăng khá thường xuyên.
Sở dĩ truyện thật ngắn trở thành phổ biến như vậy là vì nó đáp ứng đúng nhu cầu của đời sống hiện đại. Ðã qua cái thời kỳ người ta chỉ, trong một vài đêm, đọc hết một bộ dày cả ngàn trang hoặc hơn, như Les Miserables, Guerre et Paix, Le Don Pasible, Docteur Jivago hay Tam Quốc Chí, Ðông Châu Liệt Quốc, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng... và cả đến những truyện chưởng của Kim Dung. Ngay một truyện vừa khoảng một, hai trăm trang, hoặc một truyện ngắn, đoản thiên vài chục trang, người ta cũng ngại đọc. Ðơn giản chỉ vì không có bình tâm và thì giờ rảnh. Cuộc sống khó khăn, phải vật lộn với nó ghê quá, nhịp độ đời sống gấp gáp, hối thúc, quay cuồng đến chóng mặt, làm sao có thể ngồi yên thưởng thức văn chương. Ngay cả thì giờ nghỉ ngơi có khi cũng hiếm. Lại nữa, TV và video đã chiếm hết trí óc rồi, làm sao còn có chỗ cho tiểu thuyết. Cho nên, truyện thật ngắn là hình thức gọn nhẹ và thích hợp nhất.
Nhưng thế nào là truyện thật ngắn? Truyện thật ngắn, hay có người còn gọi truyện cực ngắn, tiếng Anh thường dùng là "Very Short Fiction" hay "Short Short Story", Trung Hoa gọi là "Cực đoản thiên" hay "Tiểu tiểu thuyết", thật ra đã có từ lâu, từ lúc loài người sống quây quần bên nhau, kể cho nhau nghe bên đống lửa, bên gốc cây, bờ ruộng những kinh nghiệm, những điều tưởng tượng hoặc suy nghĩ ra, những vui buồn trong cuộc sống... Lúc đó, tâm hồn con người còn thô sơ, mộc mạc, mà chưa có chữ viết, nên câu chuyện thường ngắn, chỉ gồm những sự kiện chính làm nổi bật nhất. Dần dần, người ta suy nghĩ sâu hơn, lại có chữ viết, do đó câu chuyện kể dài ra, nhiều tình tiết và phức tạp hơn, theo những luật sắc và kỹ thuật khéo léo. Thế là hình thành những đoản thiên, tiểu thuyết.
Nằm trong tiến trình vừa kể, truyện thật ngắn đã xuất hiện ở nước ta, trước tiên, dưới hình thức văn chương truyền khẩu, rồi về sau được ghi chép lại bằng văn tự. Truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, tiếu lâm, thơ vè... là những hình thức đầu tiên của truyện thật ngắn. Những truyện này một phần được ghi lại trong các tuyển tập như Việt Ðiện U Linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Ðình Hổ và Nguyễn Án, Kiến Văn Tiểu Lục của Võ Nguyên Hanh. Ðó là những tập sách xưa còn lưu lại, sau này có thêm Truyện Cổ Nước Nam của Nguyễn Văn Ngọc. Những truyện in trong các tuyển tập này phần lớn không quá 3000 từ (words), có truyện chỉ trên 100 từ.
Trong văn chương Việt Nam ở hải ngoại những năm gần đây, một số nhà văn đã sử dụng thể loại truyện thật ngắn. Người đầu tiên dùng danh từ "truyện thật ngắn" cho các sáng tác của mình, có lẽ là Võ Phiến với tuyển tập Truyện Thật Ngắn của ông do nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản. Một số nhà văn cũng viết những loại truyện này như Nguyễn Mộng Giác, Hà Thúc Sinh, Kinh Dương Vương, Nguyễn Trung Hối... Rải rác trên các tạp chí như Văn Học, Thế Kỷ 21, Văn... đều có đăng truyện thật ngắn. Riêng tuần báo Vietnam Weekly News đã đăng vài truyện của Phạm Chi Lan, Hà Thúc Sinh... đồng thời mở cuộc thi Viết Truyện thật ngắn cho nhiều tác giả tham dự.
Truyện thật ngắn dần dần có chỗ đứng trên những trang văn học. Nhưng thế nào là ngắn? Như đã nói ở trên, truyện thật ngắn mà nhiều nhà văn đã viết, kể cả những nhà văn ngoại quốc, thường chỉ có vài trăm từ, nhiều lắm là trên dưới 3000 từ. Truyện Chúc Tết của Nguyễn Mộng Giác dài khoảng 800 từ. Truyện Lúc Bé của Kinh Dương Vương đăng trên Văn Học số tháng 4 năm 1997 dài chừng 900 từ và truyện ngắn Hắn của Hoài Mỹ cũng đăng trên số này, 800 từ. Những truyện như Cư Sĩ của Hà Thúc Sinh, Ngày Xưa, Ngày Xưa... của Phạm Chi Lan cũng nằm trong khuôn khổ này.
Như vậy, chúng ta đã có một khái niệm về truyện thật ngắn, ít ra là về mặt hình thức. Còn về mặt kỹ thuật thì tùy mỗi người viết, nhưng cũng có thể nhìn thấy vài nét chung. Trước hết là văn. Câu văn thường được gọt tỉa gọn gàng. Cụ thể như trong truyện Cư Sĩ của Hà Thúc Sinh, câu viết rất ngắn, có câu chỉ chừng 10 từ. Tình tiết của truyện cũng vậy, chỉ giữ lại những nét chính cần thiết. Không kể lể dài dòng. Không tả cảnh rườm rà. Không phân tích tâm lý chi ly. Tóm lại là kiệm lời, cô đọng ý, để gây ấn tượng mạnh, trực tiếp cho người đọc.
Truyện thật ngắn, từ trong cốt lõi, có thể nói là một mảng của đời sống còn tươi ròng. Nó mang ý nghĩa nào đó, gợi ý nào đó. Có khi nó gây chấn động mạnh mặc dù số chữ, số câu giới hạn. Chúng ta nhớ lại truyện thật ngắn Ðường Tăng của một tác giả trong nước đã làm chính quyền Cộng Sản Việt Nam hoảng hốt, cấm phổ biến. Có khi truyện thật ngắn còn chứa đựng một triết lý nhân sinh. Một truyện thật ngắn, hình như là của Somerset Maugham, nhan đề Hẹn Gặp Ở Samatha, kể chuyện một hôm người giúp việc theo lệnh của chủ đi vào chợ mua bán, bỗng gặp Thần Chết. Anh hoảng hốt chạy về xin chủ đi Samatha quê làng anh để ẩn trốn. Chủ miễn cưỡng chịu. Khi anh đi rồi, chủ nghĩ lại, thương tình anh, bèn ra chợ tìm Thần Chết để hỏi rõ nguyên cớ. Gặp Thần Chết, ông lớn tiếng: "Tại sao ngươi dọa nạt, làm đầy tớ ta hoảng sợ bỏ trốn?" Thần Chết đáp: "Không. Tôi có dọa nạt gì đâu. Tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao tôi gặp anh ta ở đây. Tôi hẹn gặp anh ta ở Samatha khuya nay cơ mà."
Như vậy, truyện thật ngắn rất giản dị, nhưng cũng có thể rất sâu sắc. Cũng bởi nó ngắn nên rất dễ đọc. Người ta có thể đọc nó trong bữa ăn sáng, bên tách cà phê, lúc chờ xe buýt, đọc cùng với những mẩu tin ngắn trong tuần, những mẩu chuyện cười, những mục quảng cáo... Ðọc bất cứ ở đâu, vào thời khắc nào trong ngày.
Truyện thật ngắn là loại không dễ viết. Nó đòi hỏi ngòi bút tinh luyện và suy nghĩ sâu. Chẳng khác nào một bài thơ Ðường Luật hay là bài Hài Cú, chỉ có mấy câu thôi mà đòi hỏi biết bao suy nghĩ, gọt đẽo. Nhưng sáng tạo nào lại không đau đớn và công phu, phải không các bạn?
Châu Liêm
trích Phụng Sự, Oct. 15, 1997
Bến Lú: Giải nhất cuộc thi Truyện Thật Ngắn
do tuần báo VietNam Weekly News tổ chức
Cuộc thi kết quả tốt đẹp, ban giám khảo đã chọn 1 truyện ngắn cho giải nhất (Bến Lú của Ðồng Thảo, giải thưởng trị giá $500 USD) và 5 truyện ngắn hạng nhì đồng hạng, vì có số điểm tương đương từ 5 giám khảo (giải thưởng $100 mỗi truyện). Buổi lễ phát giải đã được tổ chức vào cuối tuần thứ bảy Oct. 25, 97 vừa rồi, vào lúc 2:00pm tại Dallas, TX.
Không khí buổi trao giải ấm cúng và rất thân tình. Có khoảng 60-70 người tham dự, có mặt 4 trong 5 người trong ban giám khảo (Hà Huyền Chi, Trần Lộc, PCL, Nguyên Nhi, Xuân Bích), 4 người được giải đã đến tham dự nhận giải thưởng, ngoài ra còn có mặt đại diện các hội đoàn và báo chí, cơ sở truyền thông địa phương.
Tuần báo VN Weekly News đã tổ chức một cuộc thi truyện ngắn khá thành công và có ý nghĩa cho sinh hoạt văn học trong vùng, đã khuyến khích một số những người viết mới gửi bài dự thi (38 truyện nhận được), đã làm phong phú nội dung phần Văn Học của tuần báo trong mấy tháng qua.
oOo
Bến Lú
Ngoài truyện: Bến đò ấy nguyên có tên là Bến Lũ. Chẳng là ở khúc sông này, xưa về mùa lũ con nước ác cuốn trôi nhà cửa, người và trâu bố Ðể tránh tai ách cho dân, người ta lập đàn chay trên bến vào mùa tháng bảy nước dâng, cúng xôi oản và đốt vàng mã, tương kinh siêu độ, khấn cầu Trời Phật. Tạm yên được ít lâu. Sau, có lũ âm binh áo đỏ từ đất dấy lên, gây nhiều điều u mê điên đảo, nghịch quỉ thần, dòng sông dữ lại tràn bờ. Từ đó, Bến Lũ còn được người trong huyện gọi là Bến Lú.
Một ngày cuối tháng chạp năm Dậu. Trời sẫm tối. Gió từ mặt sông thổi lạnh buốt. Cây gạo trên đầu dốc, cạnh cái điếm canh xiêu xó, phát ra những tiếng thầm.
Rời bến đò Lú, hai thằng âm binh vừa đi vừa nói chuyện. Chúng rảo bước, co ro. Cây súng bên mình khua lách cách.
Thằng mặt rỗ nói:
- Thế là xong. Các anh trên huyện thế nào cũng biểu dương chúng mình.
Thằng ốm:
- Ờ... mà ông ấy đi cũng mau. Tao thấy miệng ông ấy vẫn còn mỉm cười. Thì tao nhắm vào gáy mà lị. Chỉ một phát...
Thằng ốm rùng mình:
- Khi cho vào bao tải, tao hãi quá. Cẳng chân ông ấy dài thế. Lại thêm cái cối đá nữa... Bây giờ thì cái bao đã nằm im dưới đáy sông rồi.
Thằng ốm còn có vẻ thắc mắc:
- Mà này... Hình như ông ấy là nhà văn. Thì anh Thận chẳng bảo thế.
Vẫn tiếng thằng ốm:
- Mà ông ấy hiền quá. Nói chuyện vui nữa. Không biết có vợ con gì không?
- Ngu như lợn. Ai chẳng có vợ con. Chỉ có tao với mày...
- Tội nghiệp. Ông ấy cứ tưởng lên huyện sẽ được bác chủ tịch cho về ăn Tết. Ai ngờ... Tao thương ông ấy là...
- Thằng này thối quá. Có câm miệng đi không. Anh Thận mà biết thì bỏ mẹ mày, con ạ.
- Chỉ có tao với mày ở đây thôi... Vả lại, dẫu sao người ta cũng đã chết.
- Thế mày không nghe các anh ấy nói ông ấy là kẻ thù của nhân dân à?
- Ờ nhỉ.
Im lặng một lúc. Chỉ nghe tiếng gió rúc trong bụi tre. Bóng tối dâng đầy. Con đường mòn trước mặt chỉ còn lờ mờ. Ðêm cuối năm, trời không đốm lửa. Chợt thằng ốm nói trong tiếng gió:
- Gớm, lạnh khiếp. À mà cái áo Tây mày lột của ông ấy đâu rồi?
Thằng rỗ vỗ vỗ vào cái túi cói đeo bên hông:
- Nó dính đầy vết máu. Tao giặt lúc ở trên sông, vẫn không sạch...
Hai đứa tiếp tục đi. Ðồng ruộng mịt mùng. Gió thổi bạt. Không nghe cả tiếng chó sủa, gà kêu.
Ðồng Thảo
trích từ Vietnam Weekly News
Một Buổi Cầu Hồn
Tôi khe khẽ dựng chiếc xe đạp vào vách bờ rào nhà thằng Thiện rồi rón rén đi theo tụi thằng Vương vào nghĩa địa Mạc Ðỉnh Chi.
Ðã hơn 11 giờ khuya. Trời khá lạnh và nhiều sương.
Dưới ánh trăng bàng bạc, bốn đứa chúng tôi vừa khúm núm, co ro vì cái lạnh vừa bước quanh những mồ mả bị khai quật lung tung. Theo lệnh của nhà nước, các nghĩa trang trong thành phố phải bị giải tỏa để bảo đảm môi trường an sinh và vẻ đẹp đô thị (!) Nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi là nơi bắt đầu cho cái lịnh đó.
- Ê, tới chưa mậy? Sao xa vậy? Thằng Hùng sốt ruột lên tiếng hỏi.
Thằng Vương dừng bước định hướng rồi khẽ reo lên:
- Kia rồi tụi bây! Cái nhà mồ lớn đó còn chưa bị phá đó. Ði mau!
Không biết vì sương mù rờn rợn hay âm khí bốc đầy mà dưới ánh trăng, tôi trông cái nhà mồ đó ẩn hiện như một tòa lâu đài kì dị trong các pho truyện ma mà tôi thường đọc. Ðây là lần đầu tiên trong đời, tôi tham gia một buổi lễ cầu hồn... Tôi cũng không biết có nên tin hay không. Câu hỏi về sự tồn tại của thế giới vô hình từ bấy lâu luôn là điều làm cho tôi phân vân, nghi vấn.
Lúc chiều, nghe thằng Vương rủ rê, tôi thích thú lắm. Vì có thể nói đây là một cơ hội cho tôi tìm ra sự giải đáp cho các thắc mắc của tôi từ bấy lâu nay. Cho nên tôi hăm hở nhận lời ngay. Thằng Vương còn chọc tôi:
- Nè, không ai ép đâu nghen... Có sợ ma thì ở nhà, vô đó rủi gặp ma thiệt, lên cơn chết sảng thì không ai bồi thường nhân mạng đâu...
Tôi phẩy tay phì cười, lập lại cái câu mà tôi vốn từng hay nói với tụi nó:
- Còn khuya tao mới sợ! Tin tao đi, trên đời này làm gì có quỉ ma... Vô trong đó có gặp thì gặp đám ăn trộm thì đúng hơn....
Thằng Vương chỉ cười không nói thêm gì cả. Và đến giờ hẹn, cả bọn đã hăng hái lên đường tìm Ma nói chuyện...
Cuối cùng thì bốn đứa chúng tôi cũng đã vào trong ngôi nhà mồ đó. Thằng Vương bật chiếc đèn pin soi chung quanh tìm chỗ đốt nến rồi cười nói:
- Sao quí vị? Có ai sợ ma thì làm ơn rút lui còn kịp nghen.
Trong ánh sáng leo lét mờ ảo của ngọn đèn dầu con cóc trên tay, tôi nhìn quanh quan sát. Ngôi nhà mồ này khá rộng. Tất cả đều làm bằng đá hoa cương trắng. Dọc theo tường là từng khuôn mộ của người chết. Có cái còn để trống. Có cái đã bị bọn ăn trộm cạy ra làm hư hỏng đi các tấm bia trên đó. Theo lối xây cất này, chắc chắn đây là nhà mồ của một gia đình giàu có, không chừng có gốc Âu Tây vì theo phong tục Việt Nam đâu có ai làm nhà mồ.
Thằng Vương và Thiện đã dọn xong một góc để chúng tôi có thể bắt đầu. Tôi háo hức lắm. Ngồi bệt ngay xuống cạnh chiếc bảng chữ cái và các con số mà thằng Vương vừa mới đặt ra. Ðó sẽ là chiếc bảng cho cơ chạy.
Chúng tôi gọp bốn cây đèn dầu lại bên cạnh những ngọn nến và đèn pin cho đủ sáng để có thể nhìn rõ bảng chThằng Thiện được phân công làm thư ký. Còn thằng Hùng thì lo lui cui bày ra nào là kẹo đậu phộng, bánh tráng và một bó nhang. Tôi biết, tụi nó dùng mấy thứ này để cầu hồn...
Nhìn bộ mặt tỉnh bơ của ba thằng bạn mình, tôi chợt buồn cười rồi hỏi khẽ:
- Bộ tụi mầy từng cầu cơ rồi sao? Coi bộ thằng nào cũng rành quá ta.
Thằng Vương cười khì:
- Lần này là lần đầu tiên đó cha! Mấy thứ đồ này là tao nghe thiên hạ thường nhắc đến cho nên mang theo thôi. Nhưng thứ này mới là quan trọng đây...
Thằng Vương ngưng ngang rồi từ từ moi trong túi ra một cái hộp nhồ. Gương mặt nó có vẻ khoái chí pha lẫn sùng kính kỳ lạ.
Tôi chăm chú nhìn chiếc hộp sắt nhỏ mà nó vừa đem ra đó. Trông cử chỉ của Vương có vẻ kính trọng lắm. Tôi đoán trong chiếc hộp chắc chắn là một cái cơ..
Ðúng vậy! Khi Vương mở nắp ra, tôi trông thấy một miếng gỗ hình quả tim vừa bằng lòng bàn tay. Gỗ tuy đã khá cũ, nhưng cái nước sơn bóng vẫn còn cho nên vừa bắt ánh sáng của ngọn đèn dầu, nó đã lóe lên một thứ ánh sáng xanh xanh, kỳ lạ.
Thằng Vương trịnh trọng cầm chiếc cơ trên tay nói:
- Hàng xịn đó nghen tụi bây! Gỗ hòm chính hiệu đó.
- Thôi bắt đầu đi cha! Thằng Hùng gắt lên... Làm lẹ rồi về sớm.. chứ ở đây lạnh thấy mẹ.
Nghe Hùng nói, tôi mới nhận ra gió đêm càng lúc càng thổi mạnh hơn. Nhìn ra ngoài, trên nền trời xám xịt, những bóng đen của các cây cổ thụ trong nghĩa trang, y như những bóng ma khổng lồ, lắc lư lay động.
- Rồi, rồi, bắt đầu ngay!
Thằng Vương vừa nói vừa đốt vài nén nhang. Tôi vừa kéo áo khoác trùm kín, co rút thân mình cho ấm áp, vừa đưa mắt dõi theo từng cử chỉ của Vương. Nó đốt ba cây nhang cắm trên nền đất cạnh mớ bánh kẹo rồi lâm râm khấn vái. Gương mặt nó trở nên nghiêm trang vô cùng. Cả thằng Hùng và thằng Thiện cũng thế. Dường như rằng, tụi nó rất tin tưởng vào sự tồn tại của quỉ thần.
Khấn vái xong, Vương kêu bọn tôi cùng đặt tay lên miếng cơ thành tâm gọi hồn. Sự chăm chú, và thành khẩn của tụi nó làm cho tôi cũng bị lôi cuốn theo.
Trên tấm bảng chữ, con cơ được bốn bàn tay của bọn tôi xoay vòng vòng theo lời cầu hồn lầm rầm của thằng Vương. Vài phút yên lặng trôi qua. Tôi he hé mắt quan sát chung quanh chợt giật mình. Trên bức tường đá hoa cương hiện lên một cái bóng đen to lớn, lắc lư chao đảo. Phản xạ tự nhiên, tôi vội rụt tay lại, la lên khe khẽ:
- Ai cha... tới rồi kìa tụi bây ơi!
Cả đám ba tên bạn giật mình xoay lại. Thằng Thiện nhìn theo tay tôi chỉ chợt bật cười ha hả. Tôi ngơ ngác, chưa biết chuyện gì, thì thằng Hùng cũng cười to nói:
- Tới? Ai tới? Cái này là cái bóng của thằng Vương độ.
Ðịnh thần nhìn lại thì quả thật đó là cái bóng của thằng Vương. Hết hồn.
- Nè, sợ thì đi về đi cha.
- Ai sợ chứ?
Tôi ngượng ngùng chống chế, rồi gắt lên:
- Thôi tiếp tục đi.
Sau vài tiếng cười phá, bọn tôi lại tiếp tục cầu hồn. Thời gian trôi qua thật chậm chạp. Hoàn toàn im ắng. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng gió rít qua các hàng cây gầm gừ hung tợn. Rồi tất cả lại chìm vào t rong sự im lặng nặng nề. Dường như rằng, tôi có thể nghe rõ nhịp máu đang đập đều qua bàn tay của đám bạn. Hơn mười phút trôi qua, vẫn chưa có gì xảy ra. Tôi bắt đầu chán nản, muốn bỏ cuộc đi về. Vừa định thu tay lại thì bất chợt từ phía cổng nhà mồ, vang lên một tiếng động lạ. Tôi vội dóng tai lên nghe ngóng. Xột xoạt. Tiếng động vang lên thật khẽ rồi lại im lặng. Vài giây trôi qua, âm thanh đó lại trỗi lên. Tôi cố gắng tập trung phân tích xem đó là âm thanh gì.
Nhưng im lặng lại lập tức buông xuống ngay. Trên bảng chữ, bốn bàn tay của bọn tôi vẫn xoay đều con cơ. Tôi rất muốn biết chuyện gì đang xảy ra nhưng lỡ đã hứa với thằng Vương sẽ không mở mắt để tập trung cầu hồn. Cho nên, tôi đành vận dụng tất cả khả năng đón nhận và phân tích của thính giác của mình. Trong tâm trí tôi vội lục tìm mọi âm thanh quen thuộc để đem ra so sánh. Nhưng tôi không tìm được một cái nào cả. Gió lại thổi. Rờn rợn cái lạnh lúc đêm về. Vài phút trôi qua, tiếng động ấy tưởng chừng đã tắt ngờ đâu lại trỗi lên, và lần này thì rất liên tục. Bàn tay tôi bị bóp nhẹ. Ðó là tín hiệu của thằng Hùng. Chắc chắn, nó cũng đã nghe thấy. Tim tôi đập nhanh dần khi tiếng động càng lúc càng di chuyển đến gần tôi hơn. Tôi chờ đợi, chờ đợi. Mạch máu trong người tôi rần rần sôi chạy. Con cơ tự dưng lay khẻ. Có một nguồn ngoại lực nào đó đang chống lại sư di động do bọn tôi đang điều khiển. Tiếng động đến gần hơn, gần hơn... Bàn tay tôi lại nhận tín hiệu của thằng Hùng...
Phập!!
Một cái gì đó lao đến bên sườn tôi thật mạnh. Cột sống tôi cảm thấy rờn rợn cái lạnh chạy dài, rồi lan nhanh ra toàn thân. Tôi hốt hoảng mở tỏ mắt nhìn sang...
Một mảnh vải liệm trắng toát nằm bên cạnh.
Gió nổi lên ào ào...
Hàng cây nghiêng ngã.
Tôi chưa kịp la lên thì con cơ trong tay bốn đứa tôi tự dưng di chuyển rất nhanh. Cả ba thằng bạn cũng mở choàng mắt. Tôi nhìn bọn nó. Mặt đứa nào cũng lộ vẻ kinh hãi.
Con cơ vẫn chạy thật nhanh và bốn bàn tay của bọn tôi như bị một bàn tay vô hình nào đó đè chặt vào con cơ kéo mạnh.
- Tao không có..!
Thằng Thiện run rẩy cất giọng. Tôi hiểu ý nói muốn cho biết, nó không phải là người đẩy con cơ chạy. Thằng Hùng và thằng Vương cũng thảng thốt gật đầu xác nhận hiện tượng đó.
Tấm vải liệm bên cạnh tôi bỗng lay động. Tôi giật mình nhổm người sang bên. Nhưng từ trong con cơ, cái ma lực kì lạ kia cứ giữ chặt bàn tay của tôi, khiến cho tôi chỉ có thể ngồi xổm lên, chứ không tài nào rút tay ra được.
Lúc này đám bạn tôi cũng đã nhìn thấy tấm vải trắng đó. Nhưng không đứa nào phản ứng gì hơn là há to miệng ra ú ớ không thành tiếng.
Gió thốc qua, thổi tắt bốn cây đèn dầu. Căn nhà mồ xụp tối. Cái ánh sáng yếu ớt từ hai cây đèn pin còn lại không đủ để xua đi cái bóng đen dày đặc đó. Chúng tôi chỉ còn có thể lờ mờ nhìn thấy mặt nhau và cái màu trắng rợn người của tấm vải liệm.
Con cơ trên tay bỗng thôi hung hãn. Nó di chuyển chậm dần rồi dừng lại. Gió tắt ngang. Im lặng lại đột nhiên kéo về. Nhưng cái lạnh vẫn còn chạy dọc theo sóng lưng tôi kì lạ.
Bọn chúng tôi, không ai bảo ai đều rút ngay tay về.
- Chạy tụi bây ơi! Có ma...
Thằng Thiện run rẩy nhỏm dậy toan rút lui thì tự dưng con cơ lại chuyển động. Thằng Vương nắm lấy tay tôi như tìm sự động viên can đảm cho nhau, như vừa có ý kêu tôi cùng quan sát.
Tôi cố trấn tĩnh mình. Tự dưng niệm nhanh một câu kinh Phật mà tôi thuộc lòng. Con cơ lại nằm im. Ðiều này làm cho tôi an tâm, và chợt nhớ đến pho tượng Phật bằng ngà mà tôi đang đeo trên người. Tôi nhớ lúc thỉnh nó về cho tôi, Mẹ tôi cứ luôn dặn dò tôi là phải tin tưởng vào sự phù trợ của pho tượng. Có lòng tin thì tượng Phật sẽ rất linh ứng. Nhớ ra điều đó, và trông thấy con cơ đã nằ m im, tôi bình tĩnh hẳn. Với tay mồi lại mấy ngọn đèn dầu, tôi bảo tụi bạn.
- Ðừng sợ! để thử lại một lần nữa coi.
- Còn thử gì nữa, rõ ràng rồi. Thôi tao chạy trước á.
Thằng Thiện mặt mày xanh lè run run nói phì phào. Nhưng nó lại không dám bước ra ngoài một mình, bèn giương mắt nhìn cả bọn chúng tôi van lơn tội nghiệp.
- Ừ, tao đồng ý thử lại lần nữa xem sao!
Thằng Vương lên tiếng có vẻ mạnh dạn hơn khi trông thấy sự bình tĩnh của tôi. Thằng Hùng cũng gật đầu. Trước tình huống đó, không còn cách gì hơn, thằng Thiện lại khổ sở ngồi xuống cạnh tôi. Ánh sáng bây giờ đã tỏ hơn trước.
Tấm vải liệm nằm cạnh bảng chữ và con cơ phập phồng theo gió. Thằng Vương vội dùng hộp nhang định khều bỏ nó đi thì tôi đã vội ngăn lại, rồi trịnh trọng gấp phần vải đó lại đặt sang bên cạnh.
- Ðừng sợ tụi bây!
Tôi thì thào lên tiếng trấn an chính mình và bạn bế Người chết cũng là người vậy. Lúc còn sống họ cũng như chúng ta thôi. Không có lý gì lại đi hại chúng ta đâu.
- Nói đúng đó! Thằng Hùng gật gù.
Tôi nhìn quanh. Ngôi nhà mồ lập lòe ánh sáng và bóng chúng tôi in trên tường lay động theo gió, ngả nghiêng. Nhưng tự dưng, tôi không còn cảm thấy sợ hãi như lúc nãy nữa.
Vỗ vai Thiện tôi nói:
- Mày đừng sợ! Trái lại nên cảm thông cho họ hơn.
Tôi nói lớn tiếng, mắt nhìn xung quanh, như cốt ý nói cho vong linh ai đó nghe cùng. Thiện à! Họ tưởng đã được an giấc ngàn thu, nào dè còn bị quật mồ lên... thì thử hỏi mày sao lại không buồn cho họ được chứ.
Vừa dứt câu, con cơ trên bảng chữ lại lay động. Thằng Thiện vội nắm lấy tay tôi run rẩy. Tôi cố trấn tĩnh nó trong lúc đôi mắt dán chặt vào sự di động của con cơ...
Con cơ chậm rãi di chuyển về chữ "Phải" bên góc trên của tấm bảng. Nó ngừng đó một lúc, rồi lại từ từ di chuyển xuống các mẫu chữ cái và vần. Chúng tôi nín thở, căng mắt ra mà nhìn. Riêng cá nhân tôi, thì đây là một sự việc vô cùng huyền bí mà lần đầu tiên trong đời thấy được. Cho nên tôi bị thu hút ngay, và quên mất đi nỗi sợ ban đầu.
Con cơ tiếp tục chậm rãi di động. Tôi lẩm nhẩm đánh vần theo từng chữ mà nó chỉ định.
- Ðừng Sợ!!
- Ðừng Sợ!
Thằng Vương khẻ kêu lên. Nó nhìn tôi thảng thốt. Tôi cũng giật mình, vì rằng những chữ mà cơ chỉ định, ghép lại thành hai chữ "đừng sợ".
- Chúng tôi hết sợ rồi! Thằng Vương ngẩng đầu nhìn quanh kêu lên.
Con cơ lại tiếp tục chạy
T
Ố
T
- Tốt! Cơ nói Tốt! đến phiên thằng Hùng lên tiếng. Tôi để ý lúc này gió đã không còn mạnh nữa, và cái lạnh kì lạ kia đã tan biến đi từ lúc nào.
- Chúng tôi, không có ý phá ông bà! Tôi thành khẩn nói: Chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu có hay không có sự tồn tại của vong hồn người chết mà thôi!!!
Cơ lại chạy
T
Ố
T
Lại là chữ tốt. Vậy có nghĩa là vong hồn của ai đó không trách chúng tôi.
Thế là tôi lấy lại hoàn toàn sự tỉnh táo. Cái ý nghĩ tại sao phải sợ Ma, trong khi Ma khi sống cũng là người mà thôi, lại dấy lên trong tôi. Chính nó tạo cho tôi sự can đảm hơn.
Tôi nhìn đám bạn, khe khẽ gật đầu ra hiệu đừng sợ hãi, rồi bắt đầu đặt ra những câu hỏi. Cơ cứ chậm rãi ghép từng vần, từng chữ mà trả lời cho tôi.
Sự kỳ thú này làm cho tôi háo hức lắm, muốn đem tất cả những thắc mắc của mình về thế giới siêu hình để hỏi.
Nhưng đám bạn tôi lúc này đã định tâm lại nên tranh nhau hỏi đủ thứ điều..
Có tiếng gà gáy. Tôi nhìn đồng hồ. Ðã gần 3 giờ sáng. Cơ lúc này di chuyển đã chậm hơn trước nhiều. Tôi nóng ruột vội lên tiếng hỏi:
- Xin cho tôi biết, Con người chết đi thì chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp đó!
Cơ ngừng lại vài phút, rồi chậm rãi chạy về chữ Không Nói Ðược! Tôi choàng lên, năn nỉ:
- Xin kể ra đi, tôi rất muốn biết!
Cơ lại chạy ba chữ Không Nói Ðược, rồi tiến dần về chữ Thăng viết nơi cuối bảng.
- Khoan! tôi la lên.
Nhưng dường như đã trễ. Cơ đã thôi không còn di động dù rằng bọn tôi chờ đợi hơn năm phút.
- Vong hồn đi rồi! Thằng Vương nhìn tôi nói.
- Thôi chúng ta đi luôn đi! Hùng đề nghị.
Bọn tôi gật đầu rồi thu xếp đồ rút nhanh khỏi nghĩa trang. Trên đường trở về mặc cho đám bạn tranh nhau bàn luận, tôi lặng im suy nghĩ miên man. Rồi lòng chợt buồn bâng quơ khi nhớ đến một câu nói của vong linh nọ:
- Làm Người Khó hơn làm Ma!!!
Hoàng Vi Kha - Trần Chiêu Anh Tuấn