vhnt, số 339
23 October 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Từ một nơi nào ...............................................lephan
2 - Khi nào tôi đủ giấc mơ tôi .................Nguyễn Ðăng Tuấn
3 - Lá khô ...........................................................Ý Nhi
4 - Mùa thu nhớ quê ....................................Lương Thư Trung
5 - Khúc buồn kẻ xa xứ/Cỏ xanh miền kỷ niệm ....Trần Minh Hiền
6 - Nỗi nhớ trong đêm .............................Phan Lê Ngọc Diễm
7 - Giấc ngủ .......................................................Ian Bui
8 - Cười ..........................................................Cát Nhu
S i n h H o ạ t V ă n H ọ c :
9 - Ra mắt "Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối" tại Louisiana ..................... Lưu Di Nam
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Bà gàn ..........................................Nguyễn Diệu Trang
11 - Lời thật mất vợ ................................Bùi Thanh Liêm
Bạn thân mến,
Ngẫu nhiên mà số VHNT kỳ này có nhiều bài thơ lục bát. Tuy cùng một thể thơ, nhưng mỗi bài phản ảnh tâm hồn và kỹ thuật riêng biệt của từng tác giả. Chất chứa trong đó là ý niệm thăng hoa, là ngôn từ linh động của những cây viết vững vàng, khai phá. Chất chứa trong đó là tâm tưởng đơn thuần, là gieo vần giản dị của những cây bút trẻ, với những bước đầu vào con đường tìm về cội nguồn ngôn ngữ.
Chúng ta đón nhận cả hai bằng cõi lòng mở rộng. Một để trầm ngắm, suy nghiệm. Một để nâng niu, khuyến khích. Một để hân hoan bây giờ. Một để hy vọng ngày mai.
Mong sao trong đời sống máy móc khô khan này, VHNT đem đến được cho bạn những niềm vui nhỏ, những bông hoa tươi mát như vậy, trong mỗi số gửi ra.
Chúc bạn một cuối tuần thật vui vẻ.
thân ái,
BBT/vhnt
Từ Một Nơi Nào
Xoay chân
Phố
Những dị kỳ
Mênh mông thảo dã
Dấu hy vọng ngàn
Chập chùng núi
Chập chùng non
Mây xô mây nổi trận cuồng phong
Tên
Bụi nguồn dậy áng lửa thiêng
Phăng phăng biển đã khuất miền đá phai
Ðuốc là tay
Ðuốc là vai
Ðêm soi nước chợt ngỡ mai sau là
Mình ta giữa lối rừng kia
Hồn du tử đẫm sương thề dưới trăng
Người ở đâu
Hỏi những lần
Như tao ngộ
đã phù vân hội đầu
Phố xa nay vẳng tiếng chào
Xoay chân mới biết xưa sau
Còn người...
lephan
Khi Nào Tôi Ðủ Giấc Mơ Tôi
kiếp người tôi chạy lang bang
khi ra biển rộng lan tràn núi cao
khi nào tôi hết lao xao
về nơi chốn ấy tôi gào thân tôi
Mưa Ở Nơi Nào Mang Vết Xưa
Ði. Về. Dăm nét tàn. Hoang
vết nhăn tìm bóng. Sao? Loang. Ngất hồn
đường nhân gian. Giải sóng. Cồn
Áo xưa. Mưa. Lệ. Ai? Chôn xác vờ
Nguyễn Ðăng Tuấn
Lá Khô
Em đi nhặt lá khô
Ép vào nơi trang sách
Thu về đó hay chưa?
Sao em cứ thầm nhặt?...
Em đi nhặt lá khô
Trong nắng thu tĩnh lặng
Lá rơi rụng giòn vỡ
Làm em ngập ngừng... chân...
Em đi nhặt lá khô
Hồn bỗng như ngây dại
Thoảng tâm hồn con gái
Lãng đãng cùng mây trôi
Lá khô rơi bên đồi
Nhắc nhở em ngày mai
Xa mãi tuổi thơ dại
Mưa nhẹ ướt bờ môi...
Ý Nhi
(lang thang nhặt lá!!!) - Thu '97
Mùa Thu Nhớ Quê
Lâu qúa không về thăm cố hương,
Thăm hàng dâm bụt ở ven đường,
Thăm chùm hoa bưởi thơm trong gió.
Nghe nhớ trong lòng, thương nhớ thương!
Quê tôi, làng nhỏ ở ven sông,
Côi cút bờ tre với cánh đồng,
Lác đác cánh cò về đậu lại,
Văng vẳng chuông chùa giục thu không...
Bìm bịp mỗi chiều kêu nước lớn,
Chìa vôi buổi sáng gọi bình minh,
Tiếng gà báo thức vang trong xóm,
Mẹ già vò võ mõi mòn trông!
Ta nhớ những lần ra đồng sâu,
Ðứng nhìn ngọn lúa nắng lao xao...
Lúa ơi! Nay có vàng trong nắng?
Nghe nhói trong lòng, đau nhói đau!
Chiếc cầu khỉ có còn ở đó?
Của ngày xưa những buổi đến trường.
Em ạ! Em có còn đi học,
Hay là giữ vịt dọc bờ mương?
Con đò nhỏ có còn đưa khách?
Ông lái đò gầy guộc tay chèo,
Người khách sang sông mùa nước cạn,
Xóm làng trầm mặc tiễn người theỗ.!!
Lâu quá không về thăm hàng cau,
Thân gầy, tóc xõa, bóng hau hau...
Mẹ tôi thích lắm hàng cau ấy,
Những trái cau dày, ruột trắng phau...
Lâu quá không về thăm cố hương,
Lòng người xa xứ như tơ vương,
Nhớ từng tấc đất, dòng sông nhỏ,
Rẫy mía, bờ khoai, bóng giáo đường.
Xa lắc rồi em, người mỗi ngã *
Dặm ngàn nẻo khuất nhớ thương nhau,
Nơi đây lá úa, mùa Thu nữa...
Gửi chút tình quê những dạt dào!!!
Lương Thư Trung
(*) trích bài thơ " Ðôi Bờ" của Quang Dũng
Khúc Buồn Kẻ Xa Xứ
Khúc buồn xa xứ buồn tênh
Sau lưng nhiều quá bập bềnh mây trôi
Phi cơ bay cuối chân trời
Cho lòng anh thấy cuộc đời trống không
Nỗi đau lựa chọn tơ đồng
Cơn mơ ngày cũ phập phồng trái tim
Nắng mưa đưa tiễn muộn phiền
Khúc ru thuyền nợ diệu hiền dáng em
Ðã xa khuất lấp nỗi niềm
Con tim ngày cũ đắm chìm trong mưa
Cỏ Xanh Miền Kỷ Niệm
Anh ngồi nhớ cỏ xanh miền kỷ niệm
Biết ngày nào trở lại cùng em
Anh ngồi nhớ những ngày xưa ngọt lịm
Ánh trăng vàng chiếu sáng đời ta
Nhớ chăng em ngày xuân kỳ lạ
Chúng mình tình cờ gặp trên đường xa
Nhớ chăng em trời xanh ngày thơ
Những ngày bên nhau xa mù tít tắp
Anh vẫn mơ ngày trở lại cùng em
Trần Minh Hiền
Nỗi Nhớ Trong Ðêm
thương tặng VN
Không gian như lắng động
Gió lùa. Lòng hoang vắng
Khơi nỗi nhớ vaò đêm
Ứa lệ... mắt nai buồn.
Cô đơn sau cánh cửa
Ngước nhìn ánh trăng non
Tìm ngôi sao đi lạc
Cho lòng vơi tủi hờn.
Tháng năm dệt nhớ thương
Dệt cả niềm ước mơ
Thành tình yêu diệu ấp
Trong em hằng nâng niu.
Thu sang mang kỷ niệm
Biết anh còn nhớ chăng
Lần đâù mình gặp gỡ
Cùng lời hứa duyên sau.
Nỗi nhớ càng dâng cao
Khi ánh trăng khuât lối
Nhủ thầm anh có hay
Nơi này, em nhớ anh
Violette - Phan Lê Ngọc-Diễm
Ðêm mất ngủ - 10/3/97
Giấc Ngủ
tặng PCL & TL
Ðêm say
gió trở gió trăn
Lá ru
/thiêm thiếp mộng nằm/
lao xao
Giựt mình, vỡ
cuốc chiêm bao - Mây
đem mưa tự kiếp nào
ghé ngang!
Cửa hờ khép
nước khua vang
Mành khuya rắc những âm khan (
cứa lòng
)Bật ngồi dậy chiết
cho xong
Bài thơ ngọt mủ xương rồng
ngươi/ta
Tỉnh ra
trời đã sáng oà
ianb
10'97
Cười
Ở đời có mấy khi vui
Cho nên cười để chôn vùi niềm đau
Ngoài trời bao hạt mưa ngâu
Trong lòng bao mối tơ sầu ngổn ngang
Cười mà... lệ chảy hai hàng
Cười để quên... sự bàng hoàng... mất nhau
Cười che dấu vết thương sâu
Cười để vẫn ngỡ có nhau trong đời
Cát Nhu
Ðêm ra mắt tác phẩm
Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối của nhà văn Trần Hoài Thư tại Louisiana
"Tình THƯ của lính" (Chữ THƯ viết hoa) là tựa đề một bản nhạc của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh được nhóm thân hữu đặt tên cho đêm ra mắt tác phẩm Ban Mê Thuột Ngày đầu ngày cuối của nhà văn Trần Hoài Thư tại Louisiana. Chương trình được bắt đầu từ 7 giờ tối ngày 4 tháng 10, 1997 tại nhà hàng Hoa Hồng 8, Gretna.
Nhà văn Trần Hoài Thư đến từ tiểu bang New Jersey trong dáng cao gầy. Mặc dù anh ở Mỹ đã lâu nhưng nét phong sương đầy lính tráng vẫn còn như phảng phất trên hình thể của anh.
Trước khoảng 100 người được quây tụ trong một căn phòng vuông vức ấm cúng, anh tâm sự có cảm tưởng như là mình đang trở về sau một chuyến hành quân gặp lại những người đồng đội cũ.
Mở đầu đêm "Tình THƯ của lính", nhà thơ Quan Dương trong phần giới thiệu tác giả đã nhắc lại kỷ niệm hai người quen nhau lần đầu tiên thật tình cờ trong quân y viện Ban Mê Thuột lúc cả hai là thương bệnh binh trên chiến trường vùng cao năm 1971. Đời lính gặp nhau hôm nay đâu nghĩ đến ngày mai còn gặp lại. Vậy mà 27 năm sau lại kinh qua cuộc bể dâu thê thảm lại còn có dịp cùng nhau hội ngộ.
Trước những người tham dự, mà đa số là những người lính trong quá khứ, những người lính một thời chiến đấu với đôi tay bị trói trong một cuộc chiến tranh được sắp đặt. Nhà thơ Quan Dương nói: "Cuộc chiến tưởng đã chấm dứt sau 1975, nhưng thật ra vẫn còn đang tiếp diễn. Bởi vì khi mà công lý vẫn đang còn bị áp bức thì người lính vẫn còn tiếp tục chiến đấu để bảo vệ niềm khát khao đô Nhà văn Trần Hoài Thư chính là người lính xung kích đang đòi lại cái chính nghĩa cho người lính VNCH. Sự chính nghĩa đó đang bị gần như tất cả thế giới này toa rập với nhau để mà cướp đoạt."
Quan Dương nói về người lính THT ngoài đời, tiếp theo, nhà văn Nhật Nguyễn nói về người lính THT trong tác phẩm. Nhật Nguyễn nói: chúng ta có một THT hôm nay, nhưng hy vọng chúng ta sẽ còn có nhiều THT khác nữa, vì dù đã hơn 20 năm trôi qua, vết thương tuy kín miệng, nhưng niềm nhức nhối vẫn còn, bởi thời quá khứ hào hùng kia là niềm kiêu hãnh không của riêng chúng ta, của các anh mà còn cả thế hệ mai sau. Đứng ra đảm nhiệm để nói về tác phẩm của nhà văn THT thật là một điều khó khăn cho Nhật Nguyễn. Bởi vì trong đề tài phong phú này đã có nhiều bài nhận xét về tác phẩm trên. Ở đây nhà văn Nhật Nguyễn chỉ xin được dùng cây cọ để tô đậm chân dung hào hùng rực rỡ của người lính VNCH qua ngòi bút của THT. Với giọng nói ngọt ngào êm ái, chị đã khiến cả phòng bỗng dưng yên lặng. Bài nói chuyện của chị được cắt ngang bởi những tràng pháo tay nồng nhiệt, bởi vì chị đã khơi dậy được nỗi niềm u uất tưởng đã ngủ quên giữa cuộc bon chen vì cơm áo trong lòng người lính xưa. Mượn câu nói của nhà văn Phạm Văn Nhàn khi viết về chân dung của người lính VNCH đầy tính nhân hậu, Nhật Nguyễn thưa riêng cùng THT: "Thưa anh, chúng tôi nghĩ rằng những người chiến sĩ năm xưa, dù ở bối cảnh lịch sử nào, họ cũng đã gửi vào anh sự can đảm và niềm tin yêu của họ. Đó là hành trang quý báu cho anh tiếp tục cầm bút trong cuộc chiến đấu tuy âm thầm nhưng rất vinh quang". Nhật Nguyễn đã hoàn tất phần việc của mình khi đem những điều trăn trở mà THT đã trải lên lòng giấy để tâm sự cùng với những người lính VNCH sinh sống tại Louisiana.
Sau Nhật Nguyễn, như thể những nao lòng là hiện thực rõ ràng trước mặt, Lê Thu Ba mượn bài thơ Ngày Gặp Bạn Cũ của THT để gửi tặng những người hiện diện:
Những thằng bạn buổi hôm nào áo trận
Thoát giờ đây tóc đã điểm hoa râm
Khi gặp lại từ phương trời viễn khách
Chợt nhìn lên: Sao dòng lệ lưng tròng
Giọng ngâm của một người không phải là "ngâm sĩ" nhưng nghe sao mà đứt ruột. Trong vai trò MC, nhà thơ Nguyễn Khánh Hòa tay cầm ly rượu, tay cầm micro rất là Louisiana, hào sảng như thể những người lính còn sống trở về sau một chuyến hành quân, ngồi lại cùng nhau trong một quán cốc ven đường, điểm danh người nào còn, người nào mất:
Lịch sử cũng vô tình thế đó
Người qua sông không nhớ con đò
Những người chết không còn nhắm mắt
Người sống giờ như những hồn ma
Trước những tấm lòng "không tưởng nổi" của bạn bè, chiến hữu tham dự, nhà văn người lính THT "chịu không nổi", anh chẳng biết nói làm sao hơn. Anh chỉ biết gửi lời cảm ơn tất cả những người đã đến với THT đêm nay đã cho anh sống lại những giờ phút đồng đội ngày xưa. Anh nói: "Sở dĩ Có THT ngày hôm nay là bởi vì các bạn đã san sẻ cho THT đầy ắp ân tình chứ riêng THT đâu là cái gì đâu." Trong âm giọng của anh có cái gì xúc nghẹn.
Chương trình phụ diễn văn nghệ giúp vui được thực hiện "tự phát", bởi những người đến tham dự tự nhiên trở thành ca sĩ đến 90%. Họ thay phiên nhau lên sân khấu để gửi đến người lính THT những lời thơ mộc mạc, những bài hát chân thành. Và cũng chính THT cũng trở thành ca sĩ luôn. Anh được kéo lên sân khấu để hát với bạn bè. Có đôi lúc tất cả muốn òa vỡ lên vì tình nghĩa.
Đêm THT tại Louisiana vắng mặt một số anh em cựu binh chủng nhảy dù. Lý do cũng ngay giờ phút đó, cách xa địa điểm tổ chức ra mắt sách đến 3 tiếng đồng hồ lái xe, các anh đang đưa tiễn anh Tô Phạm Liệu về nơi an nghỉ. Anh Liệu nguyên là Y Sỹ Đại Úy Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. Anh là người ở lại Charlie cùng với cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo vào năm 1972. Dù vậy, ở nơi đây, ly rượu cũng được anh Huỳnh Hồng Quân mời vong linh anh Tô Phạm Liệu thêm một lần. Đó là một nét đặc thù trong đêm ra mắt sách của THT.
Chương trình được dự định kết thúc vào 10 giờ, và rán lắm là 10 giờ 30. Nhưng những nồng nhiệt, những ân tình của bạn bè tham dự khiến ban tổ chức không thể chấm dứt "ngang xương". Thế là kéo dài đến 11 giờ đêm, giờ nhà hàng đóng cửa. Tuy nhiên vì cảm mến con người nhà văn, nhà thơ, nhà lính THT, nhà hàng phải đành "du di" đến 12 giờ đêm. Vẫn chưa yên, khi ra parking, những hẹn hò, bắt tay, nhắn gửi, bịn rịn thêm một khoảng thời gian nữa không phải là ngắn.
Điều đó làm tôi thắc mắc mãi. Điều gì đã khiến "sự thể" xảy ra như thế? Những lời thơ, đoạn văn của người lính THT được diễn đọc, diễn ngâm bởi những con người bình thường, nếu không nói là chưa hề bước lên sân khấu một lần. Có gì đâu? Thế nhưng tại sao đêm Louisiana như chùng hẳn xuống, như bừng hẳn lên. Trong khóe mắt của những người lính ấy như là cười, như là rưng rưng ngấn lệ. Tôi vương vấn điều này, tự hỏi và gút mắc loay hoay tìm lời giải đáp. Bất giác tôi ngước nhìn lên bầu trời. Vầng trăng hạ tuần bể đôi như bị ai bẻ gãy.
Nhúng mình trong ánh đèn chói chang đầy nhu cầu vật chất xứ người, vầng trăng tưởng chừng thêm vàng vọt. Nhìn nửa vầng trăng, tiếc sao mình không được chia một nửa, để vàng thương nhớ mang trải gửi về nơi đó, chiến trường xưa, những đồng đội người còn kẻ mất, từng chia ngọt xẻ bùi, âm thầm sống, âm thầm chết không còn nhắc đến. Tôi chợt rưng lòng và bỗng hiểu những rưng lòng kia từ đâu mà có. Bởi THT đã gửi lòng mình rất thật trên trang giấy trắng và những người lính VNCH tại Louisiana đã cảm nhận nó bằng một tấm chân tình.
Tấm chân tình đã trở thành một món hàng xa xỉ phẩm từ lâu lắm rồi, dẫu có tiền cũng đâu dễ gì mua được giữa một xã hội đầy giẫy (xin nhấn mạnh đầy giẫy, không phải đầy đẩy) nhân danh này.
Lưu Di Nam
Bà Gàn
Trường tôi mới xuất hiện một người lao công. Có lẽ ở những nơi khác đó là một chuyện bình thường như trái đất có cây vậy, nhưng đối với chúng tôi đó là cả một sự kiện mới mẻ và đầy hứa hẹn.
Việc đầu tiên là chúng tôi có thể "mở mày mở mặt" bởi không phải "bán mặt cho... sân trường, bán lưng cho... nắng" trong các buổi lao động, cái công việc "vô vị" đó đã được bác lao công giải quyết ổn thỏa. Những buổi sáng lạnh se sắt hay những buổi chiều nắng hanh hao, chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng chổi đều đều, nhạt nhẽo lẫn trong tiếng xào xạc giòn tan của lá khộ Nó chẳng gợi cho chúng tôi điều gì, may chăng chỉ giúp người ta hiểu rằng trường tôi không phải không có người.
Có một điều "không thể chấp nhận được" đối với chúng tôi là sự im lặng đến gàn dở của người lao công. Từ lúc bác ấy về trường, chúng tôi chưa thấy bác nói chuyện với ai bao giờ dù chỉ vài ba câu xã giao. Bác cứ lầm lũi, âm thầm quét quét đi đi trong sân trường như một cái bóng, không để ý đến ai và tránh mọi sự va chạm với bất cứ người nào.
Đang quét trong sân trường, bất chợt gặp đám học sinh đang chơi đùa, bác ta lùi đi chỗ khác đợi đến khi tất cả vào học mới quay ra quét lại. Chúng tôi không hiểu vì sao bác ta cần mẫn với một sự im lặng đáng kinh ngạc như thế: chẳng kêu ca, chẳng bê trễ... Đối với những con bé "chưa tỏ mặt đã tường lời" như chúng tôi quả là một hiện tượng đáng chú ý. Câu chuyện về người lao công bao giờ cũng là vấn đề nóng hổi, "có tính cách thời sự". Các mẩu tin ngắn ngủn, vô căn cứ của chúng tôi về bác đều trở thành những khám phá mới "về hiện tượng bí ẩn" và dĩ nhiên nó luôn hấp dẫn được đa số thính giả. Và một điều tất yếu không thể không xảy ra đã xuất hiện: những lời bình luận, bàn tán cũng rôm rả không kém, nhiều đứa trong chúng tôi đã trở thành những nhà bình luận viên đại tài. Đứa thì bảo bác ấy "khinh người", "mặc cảm về một vấn đề gì trong quá khứ", "mặc cảm nghề nghiệp"..., lắm đứa độc mồm còn cho luôn: "Không có chồng nên mới gàn dở thế đấy!". Thôi đúng rồi, "thế đấy mà".
Từ khi về trường, bác ấy suốt ngày lủi thủi một mình có mấy ai đến thăm bao giờ đâu. Như Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ, chúng tôi hớn hở hẳn lên. Cái cảm giác vừa "tìm thấy lời giải cho một hiện tượng bí ẩn" làm chúng tôi như sôi lên, xôn xao, xì xào, xuýt xoa cả trong giờ học. Mỗi khi nói chuyện, trao đổi với ai, có cái gì đó thôi thúc trong lòng làm chúng tôi phải buột miệng "nhắc nhỏm" đến "thành công" của mình. Giờ đây bác lao công đã nằm gọn trong hai chữ "Bà gàn".
Khi người ta còn trẻ tuổi, ít có những rung động trở nên sâu sắc. Câu chuyện "Bà gàn" cũng nhạt dần theo ngày tháng. Đã hơn một năm kể từ ngày "bà gàn" xuất hiện ở trường tôi. Tất cả vẫn nguyên si như tính cố hữu của nó. Chỉ có "thú tiêu khiển" của chúng tôi là đổi khác. Lớp tôi đang lên cơn sốt ... viết thư. Lớp sáng viết thư cho lớp chiều, thật là một thú chơi "tao nhã và kín đáo".
oOo
Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra, người cứ đi và đời cứ trôi nếu không có ngày hôm ấy, không có sự đểnh đoảng của Trâm. Quá bận bịu về cái "vụ thư từ" nên Trâm đã để quên "cô em gái" của mình ở lớp. Cái mũ nỉ màu xanh da trời rất mực xinh xắn ấy đã từng làm chúng tôi ngây ngất ngay từ cái nhìn đầu tiên giờ đang trơ trọi trong cái lớp vắng teo giữa sân trường chiều lặng mênh mông. Nghe đâu đó là quà sinh nhật của dì nó gửi từ bên kia địa cầu. Nó cưng cái mũ lắm, đi đâu cũng mang theo, nhiều khi chỉ là "có cái cầm tay" vì trời không nắng, nhiều lúc chúng tôi cũng phát ghen với nô Vậy mặ Về đến nhà nó mới sực nhớ ra vì thấy tay "trống trống". Hốt hoảng, nó đạp xe hộc tốc hơn 1 Km đến trường thì hỡi ơi, lớp trống huyếch trống hoác, cái mặt bàn cứ trơ ra như trêu tức. "Chắc có đứa nào nhìn thấy và lấy đi rồi" - nó đau khổ nghĩ. Một cảm giác nuối tiếc cuồng nộ dâng lên trong lòng làm mặt nó trở nên kỳ dị: đỏ bừng lên rồi lại tái xanh đi, rồi đỏ bừng lên... nắng chiều đang lịm dần trên những con đường nhựa trơ bóng. Nó bước đi vô thưởng vô phạt ra cổng trường. Thẫn thờ và không quên ném lại một ánh mắt nằng nặng về phía bác lao công đang quét dọn giữa sân trường vắng lặng, tuồng như bác ấy là nguyên nhân gây ra sự mất mát này của nó vậy.
Chiều hôm sau. Bước vào cổng trường, vẻ mặt nặng chĩu, theo thói quen Trâm liếc ngang vào phòng bảo vệ - bây giờ là nơi ở của bác lao công. Thoáng qua... nó khựng lại cố cúi người nhìn vào gian phòng bé tí tẹo. Và kia, qua song cửa sổ sắt, ánh mắt nó hút hẳn vào mảng xanh da trời lửng lơ trên bức tường ở đầu cái giường một. Nó ào vào gỡ nhẹ cái mũ ra khỏi cái đinh trơ trọi, ôm vào lòng xuýt xoa phủi bụi. Nó xộc đến bên bác lao công đang lúi húi đun một ấm nước bên chái nhà. Ánh mắt nảy lửa, giọng hổn hển gần như đứt quãng, nó bảo người kia là ăn cắp. Mặt tái mét. Nó nói. Nó mắng. Nó nhiếc. Người lao công bật lên như bị ai quất. Ngọn lửa phản kháng vừa lóe lên trong mắt bỗng tắt ngấm. Đôi tay buông thõng với những ngón tay gầy guộc mà linh hoạt lạ thường dường như đang mấp máy. Trâm tức điên lên, nó tưởng con người gàn dở này sẽ phải nài nỉ nó. Nhưng không, người lao công vẫn ngồi đó. Khuôn mặt không ngây cũng chẳng tỉnh, lạnh lùng vô cảm. Mắt bà tỉnh khô như đang nhìn ngược vào trong hồn, chiêm nghiệm và chịu đựng. Đến lúc Trâm bỏ đi, con người khắc khổ đó vẫn ngồi như một khúc cây khô câm nín.
oOo
Trâm hăm hở đi vào lớp giữa những cặp mắt cũng lộ vẻ vui mừng không kém khi nhìn thấy "chiến lợi phẩm" trên tay nó. Như thường lệ, nó lùa tay vào ngăn bàn trước khi nhồi cái ba lô vào đô Ôi, có thư của thằng Thành lớp 11A1 đây mà, nhìn cái bì thư tự tạo là biết ngay.
Trâm hối hả lột phăng cái bì thư vứt vào ngăn bàn "không biết hôm nay là cái ngày gì mà ta được ưu đãi đủ điều thế này". Hơi thở vẫn gấp gáp, nó đọc ngốn ngấu nội dung bức thư ... Vẫn nét chữ rắn rỏi quen quen:
"Trâm thân! Chiều hôm qua lớp bạn được nghỉ học sớm hả? Mình đi học thêm về qua thấy lớp vắng teo chỉ còn mỗi "cô em gái xanh da trời" của bạn chẳng hiểu vì lý do gì đang "khóc lóc" trên bàn. Mình đã đưa cho bác Tuệ - bác lao công ấy mà - để khi nào gặp chủ nhân sẽ đưa lại. Bác ấy thuộc mặt từng đứa trong lớp bạn và cũng không nhầm là mũ xanh da trời đó của ai! Bạn đã lấy về chưa?
Nhân tiện mình cũng nói luôn. Hôm nọ thằng Long có cho mình xem bức thư của Hà lớp bạn viết cho nó. Hình như lớp bạn rất kỳ thị với bác lao công phải không? Nếu hay sớm mình sẽ nói cho các bạn biết rồi... Có lẽ bạn không thể tưởng tượng được đâu. Bác ấy bị câm đấy. Có một thời bác từng là sinh viên lớn tuổi nhất trong lớp học những người khuyết tật mà mẹ tớ chủ nhiệm. Chiến tranh đã cướp đi gia đình và cả khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ của bác ấy... Trước đây bác đã từng là nhân viên lao công ở hai trường trung học nhưng không hiểu vì lý do nào đó bác ấy lại chuyển đến trường mình..."
Trâm lặng người. Lần đầu tiên nó có một số "tư liệu" dồi dào đến thế về "bà gàn". Nhưng nó nhận thấy là mình không mừng mà buồn ghê gớm. Tất cả "nội lực" của sự cuồng nộ ban nãy đã chuyển đổi - thổi phùng lên thành một thứ tình cảm phức tạp mà chính nó cũng không hiểu nổi. Miệng đăng đắng như vừa ăn quả chát, nó không biết nên buồn hay vui. Tất cả hình ảnh, tiếng nói của bạn bè cứ lướt qua trong óc nó nhốn nháo và vô nghĩa. Nó nhìn cái mũ bằng cặp mắt vô hồn: cả mày nữa cũng thật trơ tráo, vô duyên và ngu ngốc làm sao... Nó cứ ngồi đó, lá thư hờ hững trong tay, ánh mắt vô định, thất thần như đang ngồi đồng. Bọn bạn lại tưởng nó đang mơ màng, chìm đắm trong niềm vui nên cứ xì xào trêu chọc mãi, chẳng ai để ý thấy nó đang thần ra, có đám mây vô tình nào đó trôi qua để lại bóng râm tràn đầy trong ánh mắt.
Nắng chiều gay gắt, những làn gió heo may man mác cuốn tròn những chiếc lá vàng bốc lên rồi thả rơi lả tả thật ngớ ngẩn. Lần đầu tiên nó thấy sân trường chiều nay vắng tiếng chổi.
Nguyễn Diệu Trang
Việt Nam
Lời Thật Mất Vợ
Hưởng suy đi tính lại, không biết có nên tự thú với vợ gã hay không. Nói ra thì nhiều khi sợ cơm không lành, canh không ngọt, chén dĩa trong nhà bay tứ tung, hoặc tệ hơn nữa là đường ai nấy đi. Còn để trong lòng thì gã chịu không nổi, lương tâm cứ cắn rứt, liệu gã có thể tiếp tục mà sống với cái cảm giác tội lỗi đè nặng lên đầu ngày đêm?
Hôm qua gã đến gặp Lư, thằng bạn nối khố của gã từ những thời niên thiếu ở truồng tắm mưa bên Việt Nam. Tên này bây giờ là chuyên viên địa ốc, mà đã làm cái nghề bán nhà này thì nó phải miệng lưỡi lắm, chắc chắn thể nào cũng có một lời khuyên đích thực cho Hưởng. Lư vô cùng ngạc nhiên khi gặp lại thằng bạn cố tri, sau một thời gian dài mất tích:
"Mẹ kiếp, mày làm cái gì mà vắng bóng bấy lâu nay? Tao tưởng mày chết rồi!"
"Cái thằng ăn nói vô duyên. Bạn bè lâu ngày gặp lại, nói toàn gì đâu. Nhưng mà dù sao tao cũng xin lỗi đã không liên lạc thường xuyên, mày thông cảm vì công ăn việc làm."
"Thì tao cũng vậy, cũng bận túi bụi, quên luôn ghé thăm vợ chồng mày. Mày cũng biết là từ khi tụi tao ly dị, tao rất ngại gặp lại bạn bè."
"Tao biết. À, mà cũng 5 năm rồi còn gì," Hưởng đổi giọng, hát: "5 năm rồi không gặp, từ khi em lấy chồng!" Thấy thằng bạn nét mặt không vui, gã ngưng đùa, hỏi tiếp:
"Mày cũng phải kiếm vợ khác chứ, chẳng lẽ ở vậy mãi sao. Tao đọc đâu đó, có một triết gia đã phán: Liều thuốc tốt nhất để chữa vết thương lòng là đi kiếm người tình khác thay thế."
Lư xua tay:
"Thôi đi mày ơi! Tao ngán đàn bà lắm rồi. Nhưng mà hôm nay không lẽ mày ghé tao chỉ bàn mấy chuyện độ. Hì hì, chắc hẳn là có một tâm sự gì cần tao cố vấn, phải không?"
"Mày nói đúng, tao đang có chuyện khó giải quyết."
"Nói đi, người anh em!"
"Tao trót dại ngoại tình..."
"Hả, mày, thằng Hưởng ngoại tình?" Lư bật người dậy.
"Ð. Mẹ, mày làm gì la lớn vậy?"
"Ồ, xin lỗi, mày kể tiếp đi."
"Thì chỉ có thế, tao với con nhỏ bạn đồng nghiệp cũng người Việt Nam luôn, mày cho tao giấu tên nghe, tằng tịu cả 3 tháng trời nay mà vợ tao không biết. Giờ thì mọi chuyện xong xuôi rồi, con nhỏ đó sắp lên xe hoa về nhà chồng. Tao muốn ém nhẹm chuyện này không kể lại Thủy, vợ tao nghe, nhưng lương tâm tao nó cứ dằn vặt, tao không biết phải kể cho Thủy nghe như thế nào để nàng thông cảm và tha thứ cho tao."
"Đừng!" Lư la lớn, "Đừng có kể!"
"Chả nhẽ tao phải giấu Thủy suốt đời?"
"Ừ!"
"Lỡ sau này nàng biết được thì sao?"
"Để cho nó tự khám phá ra, lúc đó hẵng hay. Vả lại, nếu chuyện này chỉ có mày và con nhỏ đồng nghiệp đó biết thì tao bảo đảm với mày chuyện này sẽ không bao giờ bị bật mí, vì như mày nói con nhỏ đó mới lấy chồng, người đang lo sợ chuyện này bị bể là nó, chứ không phải mày!"
Lư nói đúng. Trong quá khứ người tình ngoại hôn của Hưởng cứ nằng nặc đòi gã ly dị Thủy, nếu không ả sẽ làm dữ. Gã cứ khất mãi tìm kế hoãn binh. Thật tình thì gã không bao giờ nghĩ đến chuyện ly dị vợ để lấy một người mà gã chỉ buồn tình cặp qua đường chơi cho vui. Gã đã trót dại để cho người ta dụ dỗ, gã đã khôn ba năm dại vài tháng! Thủy, vợ gã, đã làm nên tội tình gì, vả lại nàng đang mang trong bụng đứa con của gẩ Hưởng không dại gì mà đánh đổi hạnh phúc trước mắt lấy một sự lãng mạn mơ hồ. Gã còn đang lo lắng thì đùng một cái "bất chiến tự nhiên thành", người tình của gã chuẩn bị xuất giá tòng phu, và vị hôn phu của ả ở tận một tiểu bang xa xôi. Và kể từ đó đến nay ả không còn nhắc đến chuyện ly dị của Hưởng, thậm chí gặp gã trong hãng ả còn tránh xa không dám đối diện.
"Hồi trước tao cũng nghĩ như mày," Lư nói tiếp, "Tao cứ nghĩ rằng khi kể hết cho con vợ cũ của tao nghe chuyện ngoại tình của tao là nó sẽ thông cảm, là tao sẽ nhẹ gánh nặng, sẽ không còn mang cái cảm giác phản bội vợ nhà nữa. Mày biết không? Tao đã kể, tao kể hết cho nó nghe. Sau đó, tao cảm thấy dễ chịu vô cùng, tao thấy mình là một con người lương thiện, thật thà. Thiệt đã!"
Lư ngừng lại, đánh lửa mồi điếu thuốc, kể tiếp bằng một giọng hài hước, mỉa mai:
"Nhưng tao đâu có ngờ, tao làm như vậy là trút hết gánh nặng đó lên trên con vợ của tao. Tao nhẹ nhàng, hết còn cảm thấy tội lỗi, nhưng con vợ tao nó lại cảm thấy nhức đầu vì mới khám phá ra một đống sừng tao vừa mới cặm lên đầu của nó, và kết quả là gia đình tao tan nát. Ly dị, tao mất hết, mất căn nhà, hai đứa con theo mẹ, bây giờ tao phải cày hộc máu hàng tháng đóng tiền cấp dưỡng cho tụi nó và con vợ ngồi ở nhà không chịu đi làm. Hồi nãy mày hỏi tao sao không đi bước nữa. Mẹ! kiếm đâu ra tiền mà chi cho ghệ nhí hả mày?"
"Như vậy ý mày là tao nên coi như chuyện tao ngoại tình chưa hề xảy ra."
"Ðúng, chú mày thông minh lắm. Hơn nữa, chuyện này do mày làm ra thì mày phải ráng mà chịu đựng, cái cảm giác tội lỗi lâu ngày sẽ phai đi. Con Thủy có tội tình gì mà mày phải trút cái gánh nặng của mày lên trên nó."
Ðó là chuyện hôm qua, ở văn phòng của thằng bạn quân sư quạt mo. Ðêm nay vợ chồng gã có mặt trong tiệc cưới của cô bạn tình nhân cũ của gẩ Thật ra thì Hưởng không muốn đi dự cái đám cưới này chút nào, nhưng thiệp cưới gửi về tận nhà, và vợ gã nằng nặc đòi đi, nàng viện cớ cả mấy tháng trời nay từ ngày mang thai nằm nhà chán quá, nhân dịp này nàng muốn đi ra ngoài cho khuây khỏa.
Tiệc cưới chấm dứt. Trên đường lái xe về nhấ Hưởng tay trái cầm vô-lăng, tay phải vuốt lên cái bụng tròn căng sắp đến ngày khai hoa nở nhụy của Thủy. Vợ gã cười nói:
"Chỉ còn 2 tuần nữa thôi đó anh!"
"À há, anh không thể đợi được. Không biết nó giống anh hay giống em."
Về đến nhà. Xe đổ lại trong ga-ra. Bất ngờ, Thủy quay qua Hưởng, nét mặt của nàng thật nghiêm:
"Anh Hưởng, em muốn hỏi anh câu này. Anh phải trả lời thật tình cho em nghe. Câu trả lời dù có thực tế phũ phàng đến thế nào đi nữa em cũng muốn nghe, anh phải thành thật mà trả lời."
Hưởng nhìn thẳng vào mắt vợ, gật đầu. Thủy nói tiếp:
"Trong đám cưới hôm nay, em nghe người ta xầm xì to nhỏ chuyện anh gian díu với cô dâu trong quá khứ. Em muốn hỏi thật anh câu này: Anh có ngủ với cô ta bao giờ chưa?"
Một vài giây trôi qua. Cuối cùng Hưởng lắc đầu:
"Chưa bao giờ. Làm gì có chuyện đó, chỉ là tin đồn nhảm."
Thủy mừng đến rớt nước mắt. Nàng hai tay xoa bụng:
"Trời ơi! Con ơi, làm mẹ hết hồn. Mẹ thương con quá, mẹ yêu bố của con quá!"
Và nàng chồm qua, ôm hôn chồng đắm đuối.
Bùi Thanh Liêm
Tháng 10, 1997