vhnt, số 338
21 October 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ :
1 - Người ta có linh hồn? .......................................Cỏ May
2 - Chưa tròn màu môi ...............................................Chinh
3 - Con đường trước mặt .............................Phạm Văn Tiên
4 - Xem tranh/Thơ một dòng/Thứ ba ....................Trần Minh Hiền
5 - Ðường khuya ..............................................Quang Thành
6 - Dữ kiện .................................................Thận Nhiên
7 - Kẻ lưu vong từ Algier ....................................Hoàng Bắc
8 - Tình yêu mùa lao phổi ......................Nguyễn Phước Nguyên
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Ðiểm sách: Một vài cảm nghĩ khi đọc "Người Ðàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo" của Hoàng Thị Bích Ti ........Nguyễn Ðông Miên
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Ðốm lửa ...........................................Trần Hoài Thư
Mùa thu đang rực rỡ trên những ngọn cây trên những cánh rừng... Cái thoáng mát dịu nhẹ của không khí trong trẻo một buổi sáng thu thức dậy nghe tiếng chim ríu rít ngoài cửa sổ, lười lĩnh nằm cuộn mình trong chăn chưa muốn trở dậy... Nhìn ra sân, ô kìa, một khối vàng xào xạc, rực sáng lên một mầu nắng - đó là cái cảm giác ngạc nhiên thích thú bất ngờ, bắt gặp thiên nhiên đổi mầu vào mùa này, trầm lắng và thật êm ả dễ chịu!
Ðôi khi, tôi bắt gặp niềm vui ở những điều nho nhỏ như thế, niềm vui không báo trước, không xếp đặt, rất đơn giản và tình cờ đã làm dịu nhẹ bao nhiêu những nặng nề khác. Như là niềm vui khi đọc một câu thơ hay, một câu chuyện ý nghĩa, một câu nói ý nhị, một lời chia sẻ chân tình... Những niềm vui nho nhỏ bắt được trong ngày cần thiết hơn là ngóng chờ một niềm vui lớn nào không rõ rệt.
Niềm vui nho nhỏ hôm nay là, gửi bạn đọc sáng tác của những người đóng góp. Những bài thơ mở ngỏ một ngõ ngách tâm hồn, một ý tưởng băn khoăn, một nét trầm tư sâu lắng... Thêm một bài viết cảm nghĩ của một độc giả đối với một tác phẩm, và một truyện ngắn của một nhà văn quen tên, đề tài về một người di tản buồn.
Xin chúc cho những niềm vui nho nhỏ hôm naỵ
thân ái,
PCL/vhnt
Người Ta Có Linh Hồn?
của chị Lan
Linh hồn là chi
Linh hồn ở đâu
Hình như linh hồn là những sợi tơ
Ðong đưa dưới ánh mặt trời
Và linh hồn là ánh trăng non
Tôi vẫn nhặt mỗi chiều từ cánh vạc
Có khi linh hồn là tiếng u u đáng sợ
Xui người ta nằm rũ trên đường tàu
Con tàu qua - Người ta thành 3 khúc
Thân xác mất rồi, linh hồn lang thang
Có khi linh hồn là tiếng âm u
Rủ người lăn xuống đáy vực
Gió đập cuồng vào vách đá
Cùng linh hồn đi hoang
Hoặc linh hồn là tiếng xa xăm
Cùng ta đi đến tận cùng cơn đau giải thoát
Rồi một mình cất tiếng cười khan
Ô hô ai tai
Tôi làm sao biết được
Linh hồn là chi
Linh hồn ở đâu
Hôm qua có người bảo tôi
Tòa linh hồn có cửa
Ðêm, tôi mơ thấy mình trong ấy
Lũ linh hồn vây quanh
Ðấm nát tay vào cửa linh hồn
Cửa mở
Tôi rơi vào hư không
Và quên hỏi một điều
Người ta có linh hồn hay không?
CỏMay
Chưa Tròn Màu Môi
Nồng nàn thêm một làn son
Bâng khuâng lá vẫn chưa tròn màu thu
Ý Liên
1.
Mây màu mắt
Môi mi xanh
Ngọn lá mướt
Ướt mắt
đành
tiễn nhau
Vết dài
để lại ngàn sau
Chắp tay khấn nguyện
ngàn sau
vẫn là.
2.
Môi chiêm bao
Lá lục hồng
Gửi nhau mây trắng
Hư Không
nhạt nhoà
Ðêm lá ướt
màu môi thơm
Chiêm bao thức giấc
còn thơm
chỗ nằm.
Chinh
6 /10/97
Con Ðường Trước Mặt
Trước vực thẳm âm u không thấy đáy, có
Một con đường đưa ta đến cõi hư vô
Ðể giải thoát hết mọi ưu tư phiền muộn
Của cuộc đời đen bạc, tình ái hỗn mang
Nhưng, trước một vấn đề riêng tư có thấy
Một con đường nào giải quyết chóng cho đâu
Dạ thắt. Tim đau nhói. Cơn sầu phủ kín
Nát tan. Ngoảnh mặt lại đằng sau, tìm kiếm
Toàn ngõ cụt. Bức tường ngăn cách lấn xô
Thêm. Chới với đôi chân. Hụt hẫng. Bàn tay
Níu kéo bức chân dung ảo tưởng. Hy vọng
Tìm ra một lối thoát sau cánh cửa đã
Khép. Biết đâu phía bên ấy lại chẳng còn
Một con đường, đã bỏ quên, hay không biết
Phạm Văn Tiên
Xem Tranh
Anh ngắm hàng giờ trước rừng tranh
Ðẹp tươi cảnh vật bao người đó
Dưới ánh trăng vàng tranh như thơ
Ôi ngàn tranh đẹp ngàn tranh đẹp
Thơ thẩn tâm hồn với nước mây
Em xinh xinh lắm người em gái
Người mẫu tuyệt vời của tranh anh
Ngày xưa họa sĩ say mê vẽ
Ngày nay anh say mê ngắm nhìn
Và anh gặp những điều tranh muốn nói
Cuộc sống như ngừng thôi không trôi
Thơ Một Dòng
Trái tim buồn róc rách tiếng thơ qua...
Thứ Ba
Bầu trời muôn ánh hào quang
Đại dương rộng lớn huy hoàng trần gian
Thiên đàng địa ngục hồng nhan
Thênh thang thấp thoáng ngỡ ngàng ước mơ
Trần Minh Hiền
Ðường Khuya
Ðường khuya cơn say dẫn lối
nẻo về thực hư
con trăng đơm điều thị phi
bước chân thần kinh tiều tụy
tiếng ho khan người phu lượn lờ
tôi rơi lừng khừng
cơn say rỗng đuột
Ðường khuya lặng gió
tràng cười té tắt câu nguyền sấp ngữa
ai đi về rón rén mộng du
Tàn ca đêm
người phu lắc đầu nhìn đôi tay bật máu
tôi rớt con say thần kinh tiều tụy
nẻo về
chẳng thực chẳng hư
Quang Thành
Việt Nam
Dữ Kiện
Nó tắt thở lúc ba giờ
cơn giông vần vũ
trên những đầu ngón chân
Thử cố truy nguyên một điều không thể hiểu
vỏ xe nghiến vào đêm
hay đêm nghiến lên mặt nhựa. Mù lòa
Cơn giông mặt nhựa
vỏ xe tắt thở nó ngón chân
đêm nghiến
mọi điều không thể hiểu
Bò đằm mình nhớ vạt mây ngày bê chưa bỏ cỏ
Thận Nhiên
Kẻ Lưu Vong Từ Algier
Những buổi sáng như mỗi buổi sáng
Vội vã trên đường đến sở
Bắt đầu một ngày vội vã
tôi bỏ những đồng xu lẻ
Trong chậu nhôm leng keng
của ông già mù người Algier ngồi thổi sáo
trên lề đường đọng nước của New York
Một ngày và từng ngày như không thể thiếu
Tiếng đồng xu leng keng rơi
trong chậu nhôm cáu bẩn
Và tiếng sáo não nùng thống khổ
từ rừng núi bí ẩn phương Ðông
Bắt đầu một ngày và từng ngày ở New York
Một ngày trời đổ mưa đá
Tình cờ dưới hàng hiên dù bạt kiểu Ý
tôi trú mưa và lắng nghe lão già
Kể chuyện đời - một thời vinh quang
Những thánh chiến, những chiến công,
những anh hùng và mã tấu
xen lẫn chuyện tiền an sinh xã hội cắt dần hàng tháng
những phiếu thực phẩm đổi lấy những lon bia
Lão bỗng chửi thề vang trời mưa đá uất hận
Những đứa con gái lớn lên đi bán bar
Những đứa con trai bỏ học đi làm du đãng
Thời thế nào thì thế ấy, lão nấc nghẹn
Chúng tôi là những kẻ yêu nước lưu vong khốn khổ
Từ đó những buổi sáng
tôi đi vòng xa đường ấy
Xa những vũng lầy trên phố cũ đông người
Còn đọng lại dưới trời mùa mưa
Hoàng Bắc - NY96
tình yêu mùa lao phổi
đêm nằm nghe sương thấm
giọt
đằm đìa
lên linh hồn, ngoài cửa sổ.
khung vải trắng,
cây cọ trinh nguyên chưa tắm màu sơn.
ngồi bất động trong nỗi buồn tận thế,
nghe hồn nhiên trở về sau chuyến đi hoang nghìn năm trước -
cơn địa chấn buồng tim.
trên phiến da thời gian nhăn nheo già trước tuổi
gã họa sĩ ngồi vá trái tim
bằng những đường kim cùn mòn ký ức,
bằng những sợi chỉ mong manh vàng hư niệm.
dĩ vãng lên cơn ho,
khạc đờm tương lai vào tác phẩm.
một đời.
một ngày.
một lần.
giải phẫu thẩm mỹ tình yêu.
trước - già, xấu.
sau - trẻ, đẹp.
giải phẫu trái tim bệnh hoạn, thay bằng trái tim nhân tạo.
lọc máu dơ, sạch dòng cảm nhận.
nhưng giết làm sao những con vi khuẩn linh hồn đang khoét mòn dần mặc tưởng?
đôi tay khúc khắc cơn ho lao cấp ba, cấp bốn.
nét vẽ thở hơi tàn.
khung vải trắng.
rất thơ ngây.
npn
Một vài cảm nghĩ khi đọc
Người Đàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo của Hoàng Thị Bích Ti
Là một độc giả không chuyên, tôi rất tình cờ và lý thú khi đọc tập truyện ngắn Người Đàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo (xin viết gọn là NĐBSTQC, tranh bìa Võ Đình, do nhà Văn Mới, California xuất bản hồi tháng 11, 1996). Được biết đây là một tác phẩm đầu tay của nhà văn nữ Hoàng Thị Bích Ti nhân lễ ra mắt sách của một số nhà văn, nhà thơ ở phía Bắc bang Virginia, hồi tháng Tư năm 1997 vừa qua. Tôi xin ghi lại ở đây một vài cảm nghĩ của một độc giả về một cuốn sách vừa mới đọc xong.
Tập truyện NĐBSTQC gồm mười truyện ngắn của cùng một tác giả. Thông thường đọc tập truyện của một tác giả ta hay gặp nét tương tự trong đề tài hay bối cảnh. Điều khá lý thú về tập truyện ngắn NĐBSTQC của Hoàng Thị Bích Ti là nét đặc thù, riêng biệt của mỗi truyện. Đó là những 'vết thương', những 'vết sẹo', những 'hành trang của một đời người...' như tác giả đã viết trong lời tựa. Nhưng như bất kỳ một tập truyện ngắn nào, tập truyện NĐBSTQC cũng có một vài khuyết điểm mà tôi cũng xin được nêu ra ở phần cuối của bài này.
Qua tập truyện ngắn, Hoàng Thị Bích Ti đã mô tả một cách sống động hình ảnh của những người đàn bà và trẻ em Việt Nam, 20 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt. Họ ngay trong giây phút này, là những 'bà lão đi từng bàn, xòe xấp giấy số như cánh quạt, chào mời trong tuyệt vọng' để kiếm sống qua ngày. Là những em bé đói cơm, lấp ló ngoài cửa, ngồi chờ chực trên những bậc tam cấp trơn nhầy, nhớp nhúa (NĐBSTQC, tr. 17) để giành giật với bà lão bán vé số một bát phở thừa, một chén canh cặn. Cuộc chiến nào cũng có những mất mát nhưng trong tập truyện ngắn NĐBSTQC, Hoàng Thị Bích Ti chỉ muốn nói đến những mất mát, những chịu đựng khác ít hiển nhiên hơn. Đó là sự khổ đau của những người đàn bà mất chồng, những người em gái nhỏ mất anh, những người cha già có con trai hy sinh trong cuộc chiến. Hoàng Thị Bích Ti muốn nói đến những người đàn bà thấp cổ, bé miệng trong xã hội. Những thường dân không có mặt mũi, tên họ; họ chỉ là những con số vô nghĩa trong cuộc chiến như 'ông 18, bà 25' sống vất vưởng như 'những oan hồn lang thang giữa trần gian, cố níu kéo một kiếp đời ngắn ngủi (Chùm Hoa Mận, tr. 62). Tiếng kêu đau thương của họ nhiều khi chỉ là những tiếng kêu uất nghẹn, không phát được thành lời. Họ không bị mất mát những phần thân thể hay mạng sống quí báu trong cuộc chiến như những người lính. Nhưng họ khổ đau gấp nhiều lần, vì phải làm những chứng nhân cho những mất mát ấy! Bích Ti viết về những người em gái tuổi ô mai, đáng lý phải được sống trọn vẹn đời trẻ thơ thì lại phải lớn nhanh, lớn vội khi Người ta đưa xác anh tôi về trong quan tài phủ lá quốc kỳ. Ngày đầu tiên, chưa đóng nắp áo quan, máu anh vẫn trào ra khóe miệng. Đỏ tươi. Uất hận. Tôi đứng bên quan tài, cầm miếng vải sô lau từng giọt máu cho anh và bỗng nhiên thấy mình không còn bé nữa (Chùm Hoa Mận, tr. 74). Khó thể diễn tả được nỗi xót xa của một người con gái, lần đầu tiên trong đời, nghe cha mình khóc: 'Đêm hôm đó tôi nằm, mở căng đôi mắt. Từng thớ thịt như tê đi khi nghe tiếng khóc của Ba òa vỡ, tức tối. Một người đàn ông ngoài năm mươi khóc cho người con trai chết trận và những đứa con trai khác mịt mù xa tít. Tiếng khóc ấy tuôn trào ra như nỗi uất ức không nói được thành lời của một đứa con nít. Tiếng khóc trôi vào ký ức tôi, hòa tan trong xương máu, nhận chìm linh hồn tôi, bất di bất dịch' (Chùm Hoa Mận, tr. 74). Vì hậu quả của chiến tranh Việt Nam vẫn còn dai dẳng cho đến ngày hôm nay nên 'Cuộc Chiến Tàn Chứa (*) mãi mãi là một dấu hỏi mà những người vợ, người mẹ, người cha Việt Nam đã tự hỏi trong nhiều năm qua.
Qua ngòi bút của Hoàng Thị Bích Ti, chúng ta thấy được những nhận xét rất sâu sắc, những trăn trở, đớn đau của một người đàn bà Tây Phương và của con người nói chung. Jane nhìn thấy 'Diễm miệt mài mua sắm. Nàng chụp hết món này đến món kia như một người say máu. Hình như nàng sợ mai mốt sẽ không còn dịp để mua nữa. Rời ngôi chợ nhỏ, chúng tôi băng ngang cây cầu nhỏ bắt ngang giòng sông đen ngòm, đặc sệt. Diễm chỉ dãy nhà lỏng chỏng, bảo đó là nơi nàng đã lớn lên. Nàng cố nói với vẻ thản nhiên của người đang kể một câu chuyện của những nhân vật không liên quan gì đến nàng. Giọng nàng đều đều, không trầm, không bổng. Đoạn này không tiếp nối với đoạn kia, lộn xộn, không lang lớp. Đôi lúc Diễm lại chêm vào đôi ba câu diễu cợt với giọng cười đăng đắng. Nhưng trong nét dửng dưng cố làm ra vẻ đó toát ra một nỗi buồn rầu rũ rượi. Trông nàng như một trái cây chín héo được ủ bằng tất cả chua, cay, mặn, chát của cuộc đời (NĐBSTQC, tr. 20-21). Hoặc khi Jane nhìn thấy 'các đoàn quân bỏ cuộc trở về, David của tôi vẫn còn nguyên vẹn. Nguyên vẹn, nhưng chàng không còn là David của tôi nữa. Những cơn mơ của chàng chỉ toàn đạn và máu lửa. Những bâng khuâng của chàng không còn là cái chung của hai đứa.' (NĐBSTQC, tr. 12).
Mặt khác, qua hình ảnh những con vịt, Hoàng Thị Bích Ti muốn nói đến những mơ ước rất tầm thường của mỗi con người về một đời sống bình dị, yên lành mà nhiều khi vượt ra ngoài tầm với của chúng ta: 'Suốt đêm hôm qua vợ chồng tôi không tài nào ngủ được. Chúng tôi không nói được với nhau một lời nào vì mỏ đã bị bịt kín. Tôi nằm dụi đầu bên chồng, chua xót nhớ đến mặt hồ êm ả bên những đồi cỏ xanh rì, êm ấm. Nhớ quá những ngày vỗ cánh bên nhau, vùng vẫy trong bầu trời bao la vô tận' (Giấc Mơ Của Vịt, tr. 53).
Với bút pháp khá linh động, Bích Ti đã mô tả một cách sắc nét quang cảnh 'pháp trường' khá rùng rợn của bầy vịt sắp bị làm tiết canh, cũng như sự thiện nghệ về món này của 'bà chủ nhà. Xin trích ra đây toàn cảnh, tuy hơi dài dòng một chút. Đó là cảnh tượng mấy cặp vợ chồng vịt sắp sửa bị làm thịt, đang chứng kiến 'một chị vịt hàng xóm tròn trịa của mình bị lôi ra khỏi ngục...' Bà chủ nhà lão luyện đang: 'xách ngược đôi cánh của nạn nhân nhấc hỏng lên. Chúng tôi tê dại theo tiếng kêu cứu của bạn mình. Người đàn bà ngồi chồm hỗm dưới sàn nhà lót sẵn lớp giấy báo. Lưỡi dao sáng choang nằm bên cái tô lớn có chiếc đũa vắt ngang. Bà kéo quặp đôi cánh của con vật ra phía sau, lấy chân đạp lên. Một tay nắm lấy đầu kẻ bị trói. Tay kia thành thạo nhổ từng vạt lông cổ. Trong khoảnh khắc một phần da thịt đỏ hồng lộ ra. Người đàn bà ngừng tay đổi thế ngồi, bàn chân lấn thêm lên chút nữa lên đôi cánh con vật, đạp dằn xuống kỹ lưỡng. Tay vẫn nắm chặt cả đầu lẫn mõm, tay còn lại cầm lưỡi dao vung lên loang loáng, lướt nhẹ nhàng lên cổ nạn nhân. Máu vọt ra lấm tấm trên màu lông trắng như bông... Tôi nghe từng tiếng rên siết tắt nghẹn, ằng ặt. Buông lưỡi dao xuống vội vàng, người đàn bà hấp tấp kê hứng từng giọt máu đỏ lòm lòm sủi bọt vô tô. Bà lẹ làng chụp chiếc đũa, móc cuống họng trong cổ tử tội lên, cầm chiếc đũa xỏ ngang rồi như chớp bà quơ lấy lưỡi dao loáng máu cắt đứt lìa. Những tiếng rên cố bật ra khi nãy bây giờ chết biến. Từng động tác của bà chớp nhoáng, nhịp nhàng, rành rọt, điêu luyện. Chờ cho những giọt máu cạn dần... cạn dần, cả thân hình con vật rủ đi trong tay, bà mới nhích chân sang một bên, nhỏm dậy bưng tô huyết đặt lên bàn. Cả bọn chúng tôi điếng người trước cảnh tượng trước mắt, chưa kịp hoàn hồn thì xác con vật bỗng vùng bật dậy chạy tán loạn, trối chết. Chạy, nhưng không biết chạy đi đâu, cái chết đến nhanh quá, vội vàng quá nên nỗi kinh hoàng chưa tan biến kịp. Chạy được một khoảng, xác chết luống cuống muốn ngã quỵ. Đôi cánh hồi sinh vùng dậy vỗ xoành xoạch. Vết cắt sâu hoắm, loang máu, khô ngắt, không có lấy một giọt rỉ ra. Người đàn bà nghe tiếng đập cánh, quay lại sửng sốt, hét: Ối giời ơi! Mô Phật! Ông ơi, ông ơi, ra đây giúp đi! Người đàn ông nghe tiếng la thất thanh của vợ, chạy ùa ra: Bố khỉ! Dơ hết nhà ông rồi còn gì! Hai vợ chồng lão xông xáo, phùng mang trợn mắt. Kẻ chận đầu này, người giữ đầu kia. Người đàn ông tóm lấy con vật miệng hét toang lên: Bà xem nước sôi chưa? Sôi d..ồi! Bỏ nó ngay vào giùm đi. Gớm, khiếp quá! Người đàn ông xách con vịt đã xuội lơ, hồn lìa khỏi xác lên nhúng vào nồi nước đang sôi trên bếp, trở qua trở lại. Người đàn bà bỏ mặc chồng, bước đến bọn tôi lẩm nhẩm: Chúng mày sống kiếp vịt gà chả sung sướng gì đâu. Tao thoát kiếp này cho bay làm phúc, sau ráng làm người nhé! Lời nói chưa dứt, bà đã cúi xuống, chổng mông, túm lấy chị vịt khác. Bà cầm con vịt lên, quay sang khoe với chồng, đôi mắt sáng ngời: Con này béo ác! Chắc đang có chửa đây ông ạ! Thế nào trong bụng cũng có nhiều trứng non ông nhỉ! Hôm đó lũ vịt chúng tôi gục đầu vào nhau mà khóc, trong khi người đàn ông và vợ lão xúm xoa xúm xuýt bên những người khách, khoe khoang về buổi săn thịt của mình...' (Giấc Mơ Của Vịt, tr. 48-49).
Đọc đoạn văn này, tôi cứ ngỡ tác giả của nó phải là một đấng mày râu nhẵn nhụi, vì theo chủ quan thiển cận của tôi, thường một cây bút nữ ít khi thích khai triển những chủ đề dính dáng đến chuyện giết chóc, máu me... như cảnh giết chóc như cảnh cắt cổ vịt mà lại còn mô tả được một cách sống động, và ...rùng rợn đến như thế. Trong tất cả các động tác, động tác của bà chủ nhà lúc đầu thì 'ngồi-chồm-hỗm', lát sau lại 'đổi-thế-ngồi', lát sau nữa lại đưa bàn chân 'lấn' thêm lên chút nữa lên đôi cánh vịt thực ra rất vô nghĩa trong chuyện cắt tiết vịt, bởi vì không 'ngồi-chồm-hỗm', không 'đổi-thế-ngồi', không 'lấn' thì bà ta vẫn có thể cắt được, hứng được, giết được. Nhưng hình như động tác vô bổ này có thể là cái hồn, cái linh diệu trong lối diễn tả chuyện làm vịt! Và tôi chợt nhớ đến động tác, tư thế của 'đôi đũa trí trà, cũng không dính dáng gì đến chuyện ăn tham mà Nguyễn Hưng Quốc đã nêu lên, lúc Võ Phiến mô tả về cái tật tham ăn của nhân vật Bình trong truyện ngắn Dung: Đôi đũa ấy 'dụm lại trong lòng chén như một con ngựa chấp chới sắp sửa nhảy qua rào' (Võ Phiến, Nguyễn Hưng Quốc, tr. 150-151). Riêng hình ảnh Bích Ti tả xác con vịt, cổ loang máu, đầu, cánh lòng thòng, vùng bật dậy 'chạy tán loạn, trối chết. Chạy, nhưng không biết chạy đi đâu...', tôi nghĩ tác giả tả cảnh này kinh khủng quá. Chạy ở đây có phải là chạy 'vì cái chết đến nhanh quá nên cái đầu thì đã chết trong khi đôi chân, đôi cánh và thân hình vẫn còn ham sống, vẫn còn sự sống? Tôi thú thật, lần loạn lạc hồi năm 1972, nhà không còn ai, nên bố tôi sai tôi đi giết vịt để cúng gia tiên. Chưa từng làm vịt bao giờ, tôi vụng về trong lần cắt tiết ấy nên đã chính mắt chứng kiến, cảnh xác vịt vùng bật dậy, chạy trối chết như vậy... Vịt thì chạy như vậy, còn tiếng la của lão chủ nhà lúc chứng kiến cảnh này: 'Bố khỉ! Dơ hết nhà ông rồi còn gì!' thì lại rất là 'người'!
Truyện ngắn Giấc Mơ Của Vịt đã tiết lộ một vài nhận xét khá sâu sắc, và tế nhị, đầy nữ tính của tác giả khi cô 'vịt vợ' nhìn miếng băng keo trên cánh 'vịt chồng', vết thương gây nên bởi bà chủ nhà cắt lấy tiết, mà lúc này đang đau đớn, nằm liệt trong chuồng, nàng hiểu rằng 'chàng đau thì ít mà tủi nhục thì nhiều. Tự ái, dù chỉ là tự ái của một con vật tổn thương đến tội nghiệp. Nhìn vết thương được băng bó kỹ càng với vết thuốc đỏ lan trên màu lông trắng, tôi hình dung được sự tủi hổ của chàng' (Giấc Mơ Của Vịt , tr. 58). Con người chúng ta, có ai dám so sánh nét sâu sắc, tế nhị và lòng chung thủy với mấy chị 'vịt vợ' này. Riêng sự sống, đối với tác giả, có thể là một cái gì đó rất thiêng liêng, cao quý, cho nên 'những cụm mây trắng trên bầu trời xanh lơ ngừng thở, đứng im. Vũ trụ đang ngừng thở mong chờ sự thoát thai. Cả một thế giới chuyển mình, đạp tung những cái vỏ tù túng; nở bừng ra một lượt như trăm đóa hoa mặt trời. Những tiếng nói chim chíp, òa vỡ xôn xao, không chút gò bó. Chúng vươn cánh lớn như thổi. Màu lông vàng ánh, rực rỡ, hứa hẹn' (Giấc Mơ Của Vịt, tr. 60).
Mặt khác, tập truyện cũng nói đến những khổ đau khác của con người như sự rạn nứt trong tình mẫu tử, trong gia đình. Đó là hình ảnh một người con gái 'choáng váng chợt hiểu rằng mẹ muốn tôi đi lấy chồng, lấy ai cũng được miễn là tôi không còn ở đấy nữa. Tôi phải biến mất? Biến mất ra khỏi cuộc đời của bà' (Vết Sẹo, tr. 123) lúc người con gái ấy chưa đầy hai mươi tuổi, chưa một lần biết yêu. Cô không thể hình dung được mẹ mình 'là nải chuối, buồng cau, là mật ngọt hoặc là tất cả những gì êm đềm nhất của bất cứ người con nào khác. Hình ảnh của mẹ trong "cô" là hình ảnh của người đàn bà sắc nước hương trời, phấn son thơm ngát, với những vòng tay ôm vội vã mỗi lần về thăm nhà. Chỉ biết khi "cô" chưa đầy một tuổi thì bà đã bỏ đi theo người tình cũ, mặc Ba cô một mình với đàn con tám đứa (Vết Sẹo, tr. 117). Người con gái ấy bây giờ đã qua nửa đời người, đã có hai, ba đứa con, đã dang dở một lần, đang trở về thăm lại mẹ mình mà giờ đây đã là một bà lão tám mươi với chứng Alzheimer quên quên, nhớ nhờ. Người mẹ ấy 'đang nằm thiêm thiếp trên giường, mớ tóc trắng phau lòa xòa trên gối. Tấm chăn bông trên người không che dấu nổi tấm thân chỉ còn da bọc xương. Người đàn bà mặt hoa da phấn bao nhiêu lần làm cho Ba điêu đứng đã không còn nữa. Trước mặt "cô" là bà lão thật già nua, thật bệnh hoạn'. Người con gái sửng sờ nhìn mẹ mình, khi bà cụ mở mắt nhìn cô 'ngơ ngác như vừa trải qua một cơn mộng du... Đôi mắt bà dừng lại trên mắt cô. Cô gái 'ngồi yên nín thở, thu hút theo từng biến đổi trên đôi mắt mẹ'. Đôi mắt có một chút mừng, chút tủi, chút hờn trách. Rồi bỗng nhiên nước mắt bà ứa ra. Cô bàng hoàng 'ngồi xuống bên cạnh, lau nước mắt cho bà' (Vết Sẹo, tr. 118). Hình ảnh này cho ta thấy cô gái, tuy vẫn còn oán hận mẹ mình, nhưng đồng thời cô vẫn, không ít thì nhiều, mong ngóng chút tình thương nào đó của mẹ mình, vì nếu không thì cô đã chẳng cần phải 'nín thở, bám hút vào ánh mắt của mẹ mình để làm gì. Nhưng hình ảnh này cũng làm cho ta gợi nhớ đến ánh mắt của Lucien Valois mà cụ André Valois gần 80 tuổi, đã bắt gặp (trong truyện ngắn Núi của Mai Kim Ngọc), lúc cụ muốn cho người con trai này, lúc bấy giờ đã là một bác sĩ y khoa bốn mươi lăm tuổi đời, thành công và từng trải, hay rằng anh ấy không phải là con ruột của mình: 'Cụ bắt được trong mắt con cái nhìn của người đã có đau những cái đau lớn ở đời. Nhưng cũng trong ánh mắt ấy, cụ biết con đã phục hồi để có thể yêu cuộc sống, yêu bố mẹ, yêu người thân, mặc dầu cái đau của bản thân không hẳn đã hết. Rồi nghĩ lại thời gian hơn nữa năm sau khi cha Paul mất Lucien đã lấy cớ bận rộn không về thăm nhà, cụ xót xa nghĩ con cụ đã một thân một mình tự dưỡng thương suốt khoảng thời gian ấy...' (Tạp chí Văn Học số 95, tr. 78 hoặc tập truyện Nụ Tầm Xuân của Mai Kim Ngọc, tr. 130-131).
Hình ảnh một người con gái nôn nóng, đợi chờ kiên nhẫn suốt ba, bốn hôm rồi. Chờ chỉ để có dịp, lúc mẹ tĩnh trí, nói với mẹ những lời thù hận, oán hờn cô đã chất chứa trong lòng từ hơn mười năm nay. Nói để giải xóa cho mình, để chữa lành những vết thương vẫn còn mưng mủ ở tâm hồn. Để khi mẹ cô ấy chết, cô sẽ được khóc mẹ 'tha thiết... như tất cả những đứa con khác trên cõi đời này', vì họ đã hưởng được tình thương bình thường của những người mẹ. Nhưng 'trong bóng tối, ma quái đang phủ chụp lấy căn phòng. Tôi đứng khựng lại khi nhìn thấy mẹ trong ánh đèn ngủ mờ mờ tỏa ra từ dưới chân tường. Hai sợi dây vải dài lủng lẳng, cột hai tay mẹ vào thành giường trói chặt. Cũng như ở nhà, đêm nào Ba cũng phải trói mẹ lại như thế, vì sợ nửa đêm bà dậy mở cửa đi ra đường, hoặc có khi nổi lửa đốt nhà. Mẹ nằm dán chặt xuống giường. Như một người tử tội. Người tử tội bạc đầu không còn biết mình phạm tội gì, không còn biết mình là ai, không phân biệt được mình đang ở cõi nào, thiên đàng hay địa ngục. Mái tóc bù rối, trắng xóa. Hơi thở khò khè. Bà đang đi những bước cuối cùng của một kiếp người. Trong những bước đi ấy, có nghĩa lý gì đâu những yêu, những hận. Bà đã mất hết rồi. Ngay cả cái vuốt mắt cuối cùng, chưa chắc gì bà sẽ có được. Những đứa con bà sinh ra đã lần lượt bỏ đi. Những nàng dâu chưa ở với bà ngày nào cũng ghét bà thậm tệ. Nước mắt tôi đầm đìa cả ngực áo từ bao giờ, cả người tôi lảo đảo trong sự xúc động không kềm chế được. Ô hay, con BêBê bướng bỉnh, bất cần đời đâu rồi. BêBê ngày nào trên giường bệnh với băng trắng quấn đầy người đâu rồi? Tôi bất giác đưa tay rờ lên bụng. Vết sẹo. Tôi quì xuống bên giường mẹ khóc như chưa bao giờ được khóc. Những giọt nước mắt của tuổi thơ, của đời con gái và những giọt nước mắt khóc cho các con tôi. Bà cụ bỗng mở choàng mắt ra, định thần lại nhìn tôi thật lâu... như người vừa qua cơn ác mộng. Bà đáp lắp bắp: Chị... Chị nằm... xuống đây! Ô hay, sao chị khóc? Có ai đánh chị h Tôi bóp nhẹ tay mẹ, kéo tấm chăn đắp cho bà. Lặng lẽ đứng lên... mạnh dạn bước ra khỏi phòng... khép chặt cánh cửa, nhắm mắt hít một hơi thở dài (Vết Sẹo, tr. 126-127). Cô gái ấy biết rằng mình đã đối mặt được với vết thương lòng, đã bình phục và đã vượt qua được cơn đau này.
Nhưng mười truyện ngắn của Bích Ti không phải truyện nào cũng buồn. Ta có thể tìm thấy nét dí dỏm, duyên dáng, đầy cá tính của tác giả trong Câu Chuyện Chiếc Áo lúc ví sự gần gũi của chiếc áo hay là 'nàng' với 'chàng' cũng như 'sương sa với hột lựu, như phở với cà phê (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 79). Hoặc lần hẹn đầu là 'một ngày trọng đại. Ngày Kim Trọng gặp Thúy Kiều, Vân Tiên gặp Nguyệt Nga, Cléopâtre gặp César hoàng đế (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 82). Tôi không rõ nét mặt buồn giả vờ của 'chàng' kiểu 'buồn rầu rầu như cha chết' hoặc buồn theo kiểu 'xa quê hương nhớ mẹ hiền' (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 81) là nét mặt 'phải buồn' như thế nào đây? Nhưng có buồn thật thì không sao, chứ nếu chỉ buồn giả vờ 'như cha chết' mà gặp phải tác giả này là dám phải-làm-đám-ma luôn lắm, vì tác giả đã dám viết 'Mỗi ngày chàng đến sở làm với nét mặt... nghiêm và buồn... Tính tình bỗng đâm ra gàn gàn, dở dở như kẻ thất tình, thất chí, rầu rầu như cha chết. Vậy mà cha chàng chết thật! Chàng nghỉ việc luôn suốt một tuần lễ liền để lo việc tang ma...' (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 81). Đàn ông chúng tôi trong truyện này quả thực chỉ là những 'phàm phu, tục tử'. Ai đời đi chơi với 'đàng' lần đầu mà dám 'bưng ly rượu lên môi uống một ngụm' xong còn 'khả ra một tiếng rồi mới 'bắt đầu... trả bài' (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 82). 'Trả bài?' Rõ ràng nữ tác giả muốn ám chỉ đàn ông không có lấy một chút tí ti óc sáng tạo nào! Vì đã dám cho 'chàng' trả bài hết cô này, đến cô khác... như những con ve sầu mê ca, hát suốt cuộc đời. Không có ve kêu thì Mùa Hè cũng buồn lắm đấy các cô ơi! Đàn ông mà đọc xong Câu Chuyện Chiếc Áo rồi thì chỉ còn biết ngậm câm miệng hến, chứ còn đâu dám làm thơ, hoặc đem thơ của Vũ Hoàng Chương "Ta đợi em từ ba mươi năm..." ra trích giảng. Có là thánh sống, mặt lì cũng hết dám buông lời tán tỉnh 'em có biết anh đợi em từ tiền kiếp không?' (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 82). Đàn ông chúng tôi nhiều khi ngu ngơ, khờ khạo lắm. Một ánh mắt thoáng, một nụ cười bâng quơ của một người con gái mới quen, ở trong cầu thang máy nào đó, thực có thể làm cho ngày hôm ấy của chúng tôi tươi hồng hơn mọi ngày lắm chứ! Vậy mà tác giả đã dám phán một câu Bắc Kỳ chua ngoa: 'Ối giời ơi, câu chuyện chỉ có thế! Vậy mà chàng vui cả ngày' (Câu Chuyện Chiếc Áo, tr. 82). Thực ra khi mới đọc truyện này, thấy những nét diễu cợt rất chính xác về cái mồm hay tán tỉnh theo kiểu 'sao y bản chính' của đàn ông hoặc chuyện 'thay tình như thay áo' (mà có thể đã được ngụ ý trong tựa đề của truyện ngắn này?), hoặc cái tội làm thơ, không phải vì yêu văn chương gì mấy, mà thực ra là để... 'cua' đào như nhà thơ... Đỗ Kh. hoặc các nhà thơ... 'chưa nổi tiếng' khác đã 'thành khẩn khai báo'. Chúng ta cứ ngỡ nữ sĩ có ý mỉa mai, hay phê phán phán gì về đàn ông ghê lắm đây. Nhưng đọc kỹ lại thì ta thấy, với một văn phong dí dỏm, Hoàng Thị Bích Ti chỉ muốn mượn Câu Chuyện Chiếc Áo để kể một câu chuyện vui, kiểu như 'mua vui cũng được một vài trống canh!' mà cụ Tiên Điền đã từng nói.
Câu Chuyện Chiếc Áo như là một luồng gió nhẹ tươi mát trong một buổi trưa hè oi bức. Nét ranh mãnh, trẻ trung, thông minh của nó thổi bớt đi những u buồn, ai oán trong cuộc sống. Làm tan bớt đi những vết nhăn ở đuôi mắt của chúng ta. Nó làm cho tập truyện của Hoàng Thị Bích Ti bớt đi những thương tâm như đã được trình bày.
Nhưng tập truyện NĐBSTQC của Hoàng Thị Bích Ti cũng không tránh khỏi một vài khuyết điểm của những tập truyện ngắn đầu tay. Thứ nhất, người đọc khá bối rối vì không thể xác định nơi chốn, và giới tính của nhân vật trong truyện, nhất là truyện ngắn đầu tiên. Điều này khá quan trọng, vì khi gặp phải vấn đề khó đọc ngay ở truyện ngắn đầu tiên, độc giả sẽ ít sốt sắng hơn khi muốn đọc đến những truyện khác của tập truyện! Thông thường một tác giả Việt Nam thường viết về nhân vật là người Việt Nam, trong một khung cảnh Việt Nam. Truyện ngắn đầu tiên NĐBSTQC là truyện kể lại những điều tai nghe, mắt thấy cũng như cảm quan của nhân vật Jane, một-người-đàn-bà-Mỹ, trong chuyến đi Việt Nam tìm chồng. Điều này hơi khá bất ngờ đối với độc giả, vì họ chưa được tác giả chuẩn bị về nhân vật và nơi chốn hơi khác thường của truyện này. Truyện được bắt đầu ở trang 11, khi nhân xưng 'Tôi' không hiểu 'những giòng chữ ngoằn ngoèo trên tấm biển quảng cáo' là chữ gì thì bên phía độc giả cũng 'me neither!' Nói một cách khác: Chúng tôi cũng không hiểu nốt! Do đó, yếu tố nơi chốn: 'Việt Nam' của câu chuyện là điều cần thiết phải được tiết lộ ngay. Điều này khá quan trọng, vì ở đoạn diễn tả tâm trạng của Jane qua nhân xưng 'Tôi' lúc 'đứng trên lầu cao của khách sạn... nhìn thấy mấy con đường nghênh nghênh từng đoàn xe rối loạn bên dưới. Thiên hạ đổ ra đường đạp lên nhau mà sống. Một ngày của họ cũng hối hả không thua gì Nữu Ước của tôi' (NĐBSTQC, tr. 11-12) độc giả không còn mơ hồ hay phân vân tự hỏi, không rõ nhân vật 'Tôi' đang so sánh nhịp sống rộn rịp của 'nước nào' với nước Mỹ vậy cả. Tương tự như vậy, khi đọc những nét mô tả của tác giả (qua nhãn quan của một-người-đàn-bà-Mỹ) về một nơi chốn 'với những dãy rừng già trùng trùng điệp điệp, với những ngôi làng lụp xụp, tả tơi bên dãy ruộng ong ỏng nước, vuông vức như bàn c... Và những người đàn bà phơi lưng, gặt hái từ sáng đến chiều, ngày này sang ngày khác...' (NĐBSTQC, tr. 12) độc giả sẽ hiểu ngay đó là nước Việt Nam, chứ không phải là một nước nào khác ở Đông Nam Á.
Về giới tính của nhân vật, phải đọc đến gần cuối đoạn một, trang 12, khi gặp danh xưng 'chàng' của nhân vật 'Tôi' xưng hô với David thì độc giả mới 'à' một cái, vì vừa đoán ra nhân vật 'Tôi' phải là một người đàn bà. Thông thường giới tính của nhân vật trong truyện nói chung, không mấy quan trọng cho lắm. Nhưng vì chủ đề của truyện ngắn này là nhận thức về chiến tranh Việt Nam nên giới tính, theo tôi nghĩ, là điều khá quan trọng vì ít ra nó có thể ảnh hưởng đến cách nhìn hoặc tầm mức tham dự. Và đọc đến giữa trang 12 thì mọi việc đã sáng tỏ. 'Tôi' chính là Jane, một người đàn bà Mỹ đi tìm chồng như đã nói ở trên.
Ngoài ra, còn một điểm khác trong tập truyện ngắn NĐBSTQC mà tôi cũng xin nêu lên ở đây. Đó là sự lẫn lộn về hai nhân vật đàn ông mà độc giả có thể vấp phải khi đọc đoạn Diễm kể về lần gặp gỡ lại người tình ngày bé, mà bấy giờ là đang phải làm một 'người tài xế lái xe cho một 'người Mỹ tóc vàng' đến chở Diễm đi ăn. Cả hai người đã nhắm mắt 'làm ngơ như chưa hề quen biết nhau, nhưng rồi Diễm đã 'tê tái nghiến răng như bà chủ ra lệnh: Này anh tài xế, tới nhà hàng X đi!' Câu kế đến: 'Gã đàn ông cười nhe đôi hàm răng trắng' (NĐBSTQC, tr. 21), sau này ta hiểu ra hắn chính là 'người đàn ông có mái tóc vàng' nhưng lúc mới đọc đến đây, độc giả có thể nghĩ: 'Con bồ cũ nó ăn nói xấc xược như vậy mà anh tài xế lại nhăn-răng-ra-mà-cười. Không thể nào như vậy được. Anh tài xế không thể có một phản ứng quái dị như vậy!
Nhìn chung, trong tập truyện này ta thấy hình như có một sự khiếm khuyết về chủ đề tình yêu mà có lẽ tác giả chưa muốn khai thác chăng? Trong phần kết của bài này, xin trích lời tựa của Hoàng Thị Bích Ti về tập truyện ngắn đầu tay 'Người Đàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo' Đó là 'những mẩu chuyện rời rạc trong đời sống, những truân chuyên, những va chạm giữa vật chất và tinh thần mà mỗi con người phải trải qua trong bất kỳ xã hội nào, mới hay cũ, Đông hay Tây... Chúng ta đang chạy đuổi theo cái bóng hạnh phúc. Và những hạnh phúc đó chúng ta đã phải trả bằng những vết thương. Có những vết thương bầm tím nhưng phai tàn ngay... Có những vết thương sớm liền da để lại một kỷ niệm dịu dàng... Có những vết thương sâu hoắm làm nên những vết sẹo. Nhưng chung qui những vết thương đó đã làm nên đời sống. Chung qui, những vết thương đó vẫn là hành trang của một đời người trên đường tiếp tục tìm kiếm, tiếp tục chắp cánh bay theo những ước mơ... Tập truyện tuy được viết nên từ những cảnh ngộ bi đát, nhưng bên cạnh những thương tâm mà câu chuyện đã trình bày, chúng vẫn khiến ta biết ơn những hạnh phúc tầm thường nhỏ nhoi của một ngày được sống.'
Nguyễn Đông Miên
(*) 'Cuộc Chiến Tàn Chứa' là tựa đề một tập truyện ngắn của Nguyễn Đức Lập
Đốm lửa
Bây giờ tôi mới thật sự cảm thấy mệt. Đầu óc tôi nóng bỏng. Cổ họng khô đắng. Nhưng tôi vẫn ngồi trước mặt người phỏng vấn. Anh ta cỡ ba mươi, còn tôi thì bốn mươi lăm. Tôi đang ngóng đợi câu hỏi đầu tiên của anh ta. Không, anh không hỏi tôi. Anh cười, tự giới thiệu, rồi mời tôi đi rảo khắp department. Anh cắt nghĩa về dự án công trình, trình bày những thống kê đang nhảy múa trên màn ảnh computer. Tôi cứ gật đầu. Bỗng nhiên anh ta quay lại hỏi tôi:
- Ông có mấy cuộc phỏng vấn vừa qua?
Tôi trả lời hai. Hôm qua một và sáng này thêm một. Anh ta lại hỏi tiếp:
- Nếu cả ba department đều chọn ông thì ông chọn department nào?
Tôi ngẩn ngơ. Đúng là một câu hỏi hắc ám. Tôi bối rối, và cuối cùng phải thú thật: Tôi chẳng biết nữa. Anh ta cười lớn. Không biết anh ta đã tìm ở tôi một điều gì để anh phải thú vị. Hồi ở năm cuối Đại học, trường có mở một khóa học về nghệ thuật đi phỏng vấn dành cho sinh viên sắp tốt nghiệp, tôi cũng học được nhiều điều. Chẳng hạn về cách ăn mặc, về đi đứng, về cách hỏi hay trả lời đúng lúc, đúng chỗ, về cách nhìn thẳng vào đôi mắt người phỏng vấn để tỏ ra mình tự tin... Nhưng cái câu hỏi này quả thật ngoài ý muốn. Tự nhiên tôi thương lấy tôi. Đến mãi tuổi này, tôi vẫn bám theo nỗi buồn cơm áo. Tôi nuốt nước bọt. Tôi muốn buông xuôi.
Rõ ràng tôi đang chiến đấu và tự chiến đấu trong nỗi cô đơn đầy buồn bã. Bốn mươi lăm tuổi. Đã quá nửa đời người. Đã chết lên sống xuống bao nhiêu lần trên chiến trường. Đã ngỡ như nhắm mắt buông tay trong trại khổ sai. Đã ngỡ như nằm trong lòng biển sâu. Bốn mươi lăm. Tôi đã sống còn đây, để có thể dừng lại mà nhìn lại cuộc đời của mình. Nhưng bây giờ, tôi lại bắt đầu bằng tất cả, khởi đi từ một số zero. Người ta đang phán xét tôi. Khả năng tôi đang được đo lường đánh giá. Tiếng Mỹ, tiếng Anh của tôi đang bị thử dò. Ngày xưa, tôi ngạo mạn cùng tuổi trẻ, đi lính thì đi toàn thứ dữ. Ngày xưa tôi bất cần, lột lon về phố. Thì bây giờ, trái lại, tôi đang luống cuống đến tội tình. Tội tình như ngồi giữa bốn người của department thứ nhất trong một nhà hàng sang trọng nào đó. Tội tình khi phải tỏ ra lịch sự, cầm nĩa, muỗng, cái dao, khăn lau trải lên hai bắp đùi cùng với những thức ăn xa lạ. Tội tình như buổi sáng nay, ngồi trong cafeteria với mấy chàng tuổi trẻ của department thứ hai. Chúng nói về football, touchdown. Chúng đùa cợt nhau. Thỉnh thoảng chúng liếc nhìn tôi. Ly cà phê dù pha nhiều đường nhưng tôi lại cảm thấy cay đắng vô tận.
Tôi đã cố dỗ dành tôi, hãy ngẩng cao đầu, hãy hãnh diện với cuộc chiến đấu của mình. Nhưng càng lúc tôi càng cảm thấy khốn khổ. Hai bàn chân tôi muốn cựa quậy. Miệng tôi muốn nói cười. Nhưng tôi lại im lìm như khúc gỗ. Hai vai tôi như bị đè nặng bởi một khối đá tảng. Thì ra cuối cùng, cơm áo vẫn là những hệ lụy buồn muốn khóc.
Buổi chiều tôi kêu tắc xi trở lại khách sạn. Thị trấn đã lên đèn. Những ngọn đèn pha từ khu buôn bán mờ nhạt dưới màn mưa giăng nhỏ. Tôi ngồi trong xe, mệt lả. Ông già tài xế hỏi tôi mày mới đến đây lần đầu. Tôi trả lời phải. Ông già lại hỏi chắc mày có bà con ở đây? Tôi nói không, tôi đi phỏng vấn ở hãng X. Ông già buột miệng:
- Vào được hãng đó là nhất. Rồi ông già bắt qua chuyện khác. Mày đến từ đâu? Tôi trả lời Việt Nam, Nam Việt Nam. Ông già lặp lại: Việt Nam. Tao không muốn nghe cái tiếng đó nữa.
Sau đó ông già im lặng, tiếp tục đốt thuốc. Hai ngọn đèn chọc thủng con đường đêm và đôi vai của ông già như chịu đựng một gánh nặng vô hình nào đó. Tôi buột miệng hỏi rất bình tĩnh: Vì sao? Bây giờ ông già nhún vai: Vì Việt Nam của mày mà bao nhiêu thanh niên nước tao đã bị chết hay mất tích, trong đó có cả thằng con của tao, mày biết không?
Tự nhiên tôi nổi giận vô cớ. Tôi nói lớn:
- Còn triệu thanh niên xứ tôi bị chết, và biết bao nhiêu người đang bị hành hạ trong các trại tù, ông không kể à?
- Nhưng đó là chuyện nội bộ của bọn mày.
- Vâng, nếu là nội bộ thì lịch sử Mỹ nên chối bỏ cái ngày kỷ niệm đổ bộ Normandy kia đi!
Phải, tôi nóng giận thật sự. Câu nói của ông già tôi cũng đã nghe nhiều lần. Từ ông giáo sư dạy môn Văn chương trong năm cuối. Hay từ những giờ thảo luận đạo đức học. Và hoàng hôn này tôi lại nghe thêm một lần nữa. Cái nhục nhã của một người là phải làm thân xa xứ, đi nương tình thương của người khác, dân tộc khác...
Vâng, lời nói của ông già khiến tôi tủi thân đến chảy nước mắt. Tự trong thâm tâm, tôi biết tôi đang cầu xin lòng thương xót của dân tộc ông. Hai ngày qua, cá nhân tôi đã bị phán xét, đo lường. Và hôm nay, xứ sở tôi đang bị phán xét. Không dễ gì trong một cuốc xe tôi có thể kể hết cho ông về Việt Nam của tôi, về bao nhiêu người đã hy sinh mà bây giờ chết vẫn chưa được yên ổn, về bao nhiêu người đang làm thân trâu ngựa ở trong các trại tù khắp xứ.
oOo
Đêm đầu tiên ở khách sạn đã làm tôi không ngủ được. Căn phòng quá rộng và bốn vách tường vôi trắng càng làm tôi trăn trở. Ánh đèn dìu dịu, máy điều hoà không khí chạy đều đều, và chiếc giường đôi với tấm drap trắng mượt, hình như chỉ ấm cúng cho một cặp nam nữ qua đêm. Còn tôi chỉ là một người Thượng mất buông, mất bản. Tôi bỗng nhớ đến một người con gái nào, xa xôi lắm, nhưng cũng yêu dấu lắm. Tôi nhớ, bởi vì tôi biết ở đấy còn có một người đến với tôi, và tình nghĩa với tôi. Ít ra từ mặt trận trở về, tôi vẫn còn được nếm những giọt lệ lo âu và hạnh phúc. Ít ra những sợi tóc vướng trên giường để tôi còn biết mình là đàn ông. Bây giờ tôi là đàn ông, nhưng là đàn ông tị nạn, đứng trước phái đoàn đưa tay lên thề không tham gia vào đảng cộng sản, không buôn bán ma túy, không gây tội ác.
Bây giờ tôi là đàn ông cô liêu hiu hắt giữa chốn quê người, để hết người này đến người khác thẩm định trình độ, lời ăn tiếng nói. Bây giờ tôi là đàn ông phải cúi đầu nghe ông già tài xế bản xứ nói về đất nước Việt Nam của tôi. Tôi mở đài HBO để giết thì giờ. Lại một cuốn phim về Việt Nam với Việt Cộng nói tiếng Thái Lan và những chàng GI cao bồi hay nghiện ngập, hay làm Rambo tung hoành mật khu địch. Tôi chịu không nỗi, mặc chiếc áo lạnh, bước ra cõi đêm. Cơn mưa đã dứt, và sương mù giăng ngập cả thị trấn. Tôi có thể nhận ra những hàng điện quang nhảy múa ở cái quán bên kia đường. Tôi thèm được gọi những chai bia để trút hết, quên hết những nỗi buồn. Tôi thèm thấy cô gái lẳng lơ có đôi mắt đen, đôi mắt than chì sau quầy rượu mỗi lần tôi từ mặt trận trở về. Bây giờ tôi đâu còn có cái quán rượu ấy nữa.
Cuối cùng tôi tìm đến quán cà phê mở 24 trên 24. Tôi lại gặp ông già tài xế tắc xi. Dáng ông bất động như một pho tượng trong làn khói thuốc. Hay ông già đang nhớ đến thằng con đã chết trận ở Việt Nam. Có tờ báo ai bỏ lại trên quầy. Có tin Việt Nam. Ba người bị chính quyền Cộng Sản tuyên án tử hình. Một người là cựu đại úy và hai người kia là tu sĩ. Hai vị này có cùng năm sanh với tôi. Tôi bàng hoàng khi đọc tên họ. Một người là Tuệ Sĩ, và một người là Trí Siêu. Tôi lặng người đến nỗi cô hàng đến trước mặt tôi mà tôi không hề hay biết. Tôi thì thào mà lòng òa ngập lệ. Regular coffee, please. Tôi thì thào mà tâm trí tôi cứ như in đậm một góc nào ở quán Nắng Mới với đôi mắt sâu thẳm của một nhà tu. Tôi rán nói trong khi cổ họng tôi nghèn nghẹn. Bởi vì tôi hiểu được ở trong đôi mắt kia chất chứa đầy thi ca kia, thênh thang mây trắng và hoa vàng kia, còn chứa thêm một thứ gì khác. Đó là lửa. Lửa của một thi sĩ.
Bởi vậy tôi cầm tờ báo đến bên ông già. Tôi xin lỗi ông. Tôi vừa nói vừa đưa ông xem mẫu tin: Ông nhớ là ông đã hỏi tôi tại sao Việt Nam của bọn mày, bọn mày, bọn mày không giải quyết. Đây là câu trả lời. Thưa ông.
Trần Hoài Thư