vhnt, số 337
17 October 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Mùa mưa nhớ bạn nghèo ........................... Lương Thư Trung
2 - Thu ruộng vườn ........................................... Hàn Trân
3 - Lục bát trời mưa ........................................... Cát Nhu
4 - Tình mẹ ......................................................... Ý Nhi
5 - Bốn điều ước ............................................... D.M.T.
6 - Chắc là thu đến ...................................... Vũ Thái Hoà
7 - Nếu lỡ mai .................................................. Cỏ Dại
8 - Thương em, trời quê hương .......................... Mai Viết Hồ
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Nước trên sông rạch miền Nam: Những Mảnh Ðời .................. Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Xương Lá ....................................... Ý Nhi
Bạn thân,
Ða số các sáng tác trong số VHNT này được viết bởi những người trẻ. Họ là những sinh viên, học sinh. Họ là những người vừa ra trường đại học và bắt đầu vào đời bằng những nghề nghiệp chuyên môn đầu tiên. Sáng tác của họ có hứa hẹn gì chăng? Ðiều đó tùy vào sự cảm nhận của người đọc, và cần thời gian để trả lời. Nhưng có lẽ điều hứa hẹn sáng tươi nhất là họ đã chọn đóng góp sáng tác vào những diễn đàn văn học, mà VHNT là một. Sự điêu luyện và sâu sắc trong ngòi bút, họ sẽ có, nếu họ chọn bước đi trên con đường văn chương vào một chiều dài cần thiết. Chúng ta chỉ vui và mong sẽ đón nhận những sáng tác như vậy. Từ những người trẻ như vậy.
Tuyển tập 2 VHNT đã được phát hành. Gồm các tuyển chọn từ các bài vở đã đăng trên VHNT, những bài phỏng vấn giá trị với Từ Công Phụng, Nguyễn Mộng Giác và Hà Huyền Chi, những phụ bản đặc sắc, và rất nhiều những đóng góp công phu khác. Ấn phí US$10.00, xin liên lạc "vhnt@saomaịorg" để biết thêm chi tiết.
thân ái,
BBT/vhnt
Mùa Mưa Nhớ Bạn Nghèo
Mưa đã về rồi trên quê tôi,
Dòng sông nước lũ dậy bời bời,
Cá, tôm theo nước tràn lên ruộng,
Ðồng ngập, nước đầy như bể khơi.
Lúa rài lác đác vài ba bụi,
Rong, cỏ ngập đầu trong nước trôi,
Bông súng, củ co cùng số phận,
Danh lợi, phong trần cũng thế thôi!
Văng vẳng xa đưa tiếng trích rừng,
Kia đàn nhạn đất gọi tưng bừng,
Chim ơi! Chim có còn tâm sự?
Nắng đổ dài lưng một kiếp người!
Bạn ơi! bạn có còn giăng lưới?
Chiếc xuồng câu cũ mục rong rêu.
Cá ơi! Cá có còn ụp móng?
Mang đến niềm vui một kiếp nghèo.
Ðiên điển vàng bông. Trời cũng vàng!
Bạn tôi áo rách, lòng không than,
Hoa ơi! Hoa dẫu hoa đồng nội,
Làm đẹp đất trời, hoa điểm trang!
Xa quê giờ đã mấy mùa mưa,
Lòng vẫn man man nhớ chốn xưa,
Nhớ bạn giăng câu từ dạo ấy,
Chiếc xuồng, con cá : một bài thơ
Lương Thư Trung
Thu Ruộng Vườn
Ðây phương nam mùa thu không lá rụng
Cọng sửa đời xào xạc vàng thôn quê
Gió mưa thưa, nắng lùa chút lạnh về
Thu ruộng lúa cũng mòn chân say đắm
Bờ đê nhỏ giòng Tiền giang xa lắm
Người học về tôi ngắm buổi trong trong
Trời vàng hoe áo em trắng một đồng
Vết mực tím lấm lem đời từ đó
Nón nghiêng nghiêng che đời em tuổi nhỏ
Che lòng tôi đo đỏ cuối hàng cây
Vẫn làm tên khán giã trơ trọi này
Vẫn lơ đễnh tà áo em làm dáng
Ðể mỗi chiều tôi tìm thơ làm bạn
Tháng mười đây không lá, lúa vàng thôi
Chẳng mắt nai, chỉ có mắt xa vời
Nên thơ viết nhấp nhô lời lúa chín
Con sông đục chở quanh lời câm nín
Thuyền lòng tôi thủng đáy giữa dòng tương
Những mùa thu không lá rụng ruộng vườn
Mùa gặt hái, gặt hoài em chẳng được
Mùa trồng dưa khẽ dặn lòng từng bước
Dưa hấu đầu rất đỏ tặng mùa xuân
Tết chớm sang cầm dưa đó tần ngần
Người vạm ngõ con đê tôi mờ bụi
Dưa vừa chín em nhận lời quá vội
Màu lòng tôi rất đỏ nước đầy vơi
Bài thơ thu không lá chết bên trời
Tiếng cỏ lác hay gió từ nước mắt
Hàn Trân
Lục Bát Trời Mưa
Sáng nay dậy sớm học bài
Bỗng dưng nghe tiếng mưa ngoài hiên rơi
Thế là... hồn bỏ đi chơi
Bút nghiên gác lại... nghe lời mưa thôi
Ngập ngừng chi thế mưa ơi
Mà sao gởi xuống một trời vấn vương
Ở trong mưa... cửa Thiên Ðường
Vẫn rộng mở đón người thương lên cùng
Cát Nhu
Tình Mẹ
Con qua hết thuở dại khờ
Sao giờ con mới thẫn thờ nhận ra?
Ðã bao ngày tháng trôi qua
Mẹ con trầm lặng - sương pha nhạt màu
Hoàng hôn cứ mãi buông mau
Mẹ thì xế bóng... con nào hiểu nơi?
Con vui cùng với đất trời
Còn tuổi xanh Mẹ đánh rơi bên đường
Rằng thì : "Mẹ - chuối ba hương"
Chợt nghe câu hát, đoạn trường con hay
Tuổi con như cánh chim bay
Tuổi Mẹ xế bóng, thân gầy liêu xiêu
Mẹ ơi, đã biết bao chiều
Mẹ mang gánh nặng bao nhiêu nhọc nhằn
Cả đời Mẹ nhận gian nan
Nuôi con khôn lớn vẻ vang với người
Mẹ ơi bao giọt mồ hôi
Ðã rơi lặng lẽ cho thời xuân con?
Thơì gian nhẹ bước mỏi mòn
Xin dừng bước lại để còn Mẹ đây
Bao nhiêu gian khổ tháng ngày
Xin cho con nhận, kẻo gầy Mẹ thêm
Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền
Con xin sống đẹp như niềm Mẹ mong
Tình Mẹ hơn cả biển Ðông
Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà
Ý Nhi
(con nhỏ của Mẹ)
Bốn Ðiều Ước
Ước được về quê
Thăm lại con đê
Qua cây cầu cũ
Gió thổi đê mê
Ước được nhìn em
Núp ở sau rèm
Nghe bàn chuyện cưới
Cha mẹ đôi bên
Ước được cùng ai
Làm mây nhẹ bay
Qua ngang đỉnh núi
Xuân ở đâu đây
Ước được bầy con
Trai gái lon ton
Ê a tiếng hát
Giữa hội trăng tròn.
D.M.T
Chắc Là Thu Ðến
Ðêm qua nghe gió lao xao
Sáng nay nghe lá rạt rào bên chân
Ôm tay cho ấm thật gần
Nào hay Thu sắp mém lần con tim
Khung trời không bóng con chim
Mây buồn u tối lim dim nắng hồng
Cho lòng ai bỗng trống không
Cho ngàn hoa héo, hương nồng loãng xa
Ðâu đây chút khói bên nhà
Vương vương thấp thoáng là là theo ai
Sương mù khẽ thấm qua vai
Bao giọt nước mắt nhạt nhoài lá thu
Ðưa hồn vô chốn phù du
Cho tình vương vấn mập mù hắt hiu
Thoáng bừng như có ai gieo
Chắc là Thu đến Thu theo tới nhà...
Vũ Thái Hòa
Nếu Lỡ Mai
Nếu lỡ mai đời không thương nhau nữa
Em đi rồi đừng nhớ bóng hình tôi
Cơn mưa phủ quanh nỗi buồn nhung nhớ
Còn lại tôi giữa tăm tối cuộc đời.
Nếu lỡ mai đời không thương nhau nữa
Em bên người giữ hạnh phúc trong tay
Ðừng nuối tiếc cho tình mình dang dở
Ðừng xót xót xa cho mộng đẹp không thành.
Nếu lỡ mai đời không thương nhau nữa
Kỷ niệm xưa xin xoá bỏ trong lòng
Ðừng tìm gặp khi đời không còn hẹn
Ðừng lang thang giữa phố vắng không người.
Nếu lỡ mai đời không thương nhau nữa
Chút tình đầu xin trả lại cho nhau.
Cỏ Dại
Thương Em, Trời Quê Hương
Buồn hoang tìm kỷ niệm
Thung lũng dài cô đơn
Nghe hồn mình xao xuyến
Thương em, trời quê hương.
Tóc em mùi dã thảo
Thẹn thùng len khuy áo
Ngón tay mềm đan nhau
Trao duyên nụ hôn đầu.
Mắt em tròn mở ngõ
Lùa tình yêu trong đó
Hương nồng bay đêm thơm
Nỗi mê say chập chờn.
Tìm nhau trong hoang sơ
Ðâu đây nỗi mong chờ
Ngọc chìm bên suối lạnh
Ân tình thôi bơ vơ.
Một mai qua tuổi hồng
Em còn nhớ gì không?
Riêng anh tìm kỷ niệm
Thương em, trời quê hương.
Mai Viết Hồ
NƯỚC TRÊN SÔNG RẠCH MIỀN NAM: NHỮNG MẢNH ĐỜI
Nước còn quyện cát làm đôi,
Huống chi ta chẳng tài bồi lấy nhau.
- ca dao -
Miền Nam sông rạch chằng chịt, chảy len lỏi hết làng mạc này qua thôn xóm khác như những con trăn, con rắn khổng lồ đang bò ngoằn ngoèo trên những cánh đồng lúa hiền lành, bát ngát này. Do đó, đời sống của những cư dân ở vùng sông nước miền Nam, không ai bảo ai, từ nông dân đến những người sống trên sông nước bềnh bồng, đều ngầm hiểu với nhau về những tên gọi những con nước cùng những đặc tính của nó mà không phải tra cứu sách vở, tự điển gì cả. Tất cả những tên gọi là một tự nhiên đến độ như nước chảy lặng lẽ, âm thầm mà thắm vào khắp mọi nơi, mọi chốn và mang lại những điều thiết thực cho đời sống muôn loài... không thể tách rời được.
Sự chất phác, bình dị của người dân quê, không biết từ đời nào đã gọi những con nước từ hướng ngoài vàm chảy vô ngọn là nước lớn và ngược lại, dòng nước chảy từ trong ngọn đổ ra vàm là nước ròng. Trong ca dao, cũng có đề cập đến nước lớn, nước ròng:
Nước lớn rồi lại nước ròng,
Đố ai bắt được con còng trong hang.
Vào lúc nước lớn, nhiều dòng nước, nhiều con sông, con rạch thường gặp nhau tại các ngã ba, ngã tư ; chỗ các ngọn nước gặp nhau này gọi là giáp nước. Nếu một con rạch nhỏ mà có hai vàm ăn thông với một con sông cái, chỗ giáp nước thường nằm khúc giữa của con rạch. Nơi đây, khi nước lớn, dòng nước mang đầy rác rưởi, sẽ gặp nhau chỗ giáp nước này. Khúc sông có giáp nước thường lòng sông rất cạn vì dòng nước đến đây như ngưng chảy hoặc chảy rất yếu nên phù sa, đất bùn lắng đọng lại, ghe xuồng thường bị mắc cạn khi đi ngang qua đây vào lúc nước ròng.
Giữa hai con nước lớn, nước ròng, có một thời điểm dòng sông như đứng yên, được người bình dân gọi là "nước đứng ", nghĩa là nước đứng yên, không chảy ra hoặc chảy vô như để chuẩn bị chuyển dòng chảy của mình. Ca dao có câu:
Nước đứng mà đựng chậu thau,
Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài.
Trái lại, có từ ngữ " đứng nước " mang một nghĩa khác được dùng để chỉ nét riêng biệt của mùa nước lụt ở đây. Khi mực nước vào mùa này cứ dâng lên hoài cùng với những cơn mưa dông vào tháng bảy, tháng tám, nhưng tới khoảng hai mươi lăm tháng chín âm lịch, mực nước sông dâng lên tự nhiên đứng lại, không dâng nữa, gọi là "đứng nước" hoặc "nước phân đồng", để rồi nước trên các cánh đồng bắt đầu rút ra sông, ra rạch gọi là nước giựt, nước rút.
Riêng về nước ròng và nước lớn, sau khi dòng sông "nước đứng", nếu bắt đầu cho con nước lớn, người bình dân gọi là " nước những lớn", lúc bấy giờ dòng sông bắt đầu chảy vô ngọn nhè nhẹ như đang đi lững thững, không gấp rút gì ; ngược lại, nếu nước đang lớn, rồi dịu lại để bắt đầu cho con nước ròng, ở vùng sông nước miền Nam gọi là "nước những ròng", tức là nước chuyển hướng nhè nhẹ chảy ra vàm, ra biển.
Mỗi tháng, trên các dòng sông có hai lần nước rong vào ngày rằm và ngày ba mươi mỗi tháng. Nước rong làm cho mực nước dâng đầy các dòng sông mỗi chu kỳ nước lớn, sức nước chảy tràn vào rạch vào ngòi rất mạnh. Trái lại, mỗi tháng cũng có hai kỳ nước kém vào ngày mùng mười và ngày hai mươi lăm âm lịch. Nước kém, lòng sông nước thường rút sát, bỏ xa bờ bãi. Những ngày nước kém, dù có nước lớn, mực nước vẫn không dâng lên cao được và thời gian của mỗi con nước lớn cũng ngắn hơn. Ở nhà quê, phần lớn gánh nước chứa vào lu để uống, nhiều lúc vào những ngày nước kém, con nước lớn mà mình chưa kịp gánh nước đổ vào lu là nước lại ròng rồi. Những ngày cuối con nước kém, thường vào các ngày mười hai, mười ba âm lịch hoặc vào các ngày hai mươi bảy, hai mươi tám âm lịch, dòng sông đã bắt đầu có những thay đổi dòng chảy của mình, chuẩn bị cho con nước rong vào các ngày rằm hoặc ba mươi. Sự thay đổi của dòng nước một cách nhẹ nhàng theo sự tuần hoàn của đất trời này được gọi là "nước mái rong", hoặc có người còn gọi "nước ươn", "nước sình" hoặc "nước sanh" hay nói cách khác nước không ròng sát, bỏ bờ, bỏ bãi như những ngày nước chánh kém vào mùng mười hoặc hai mươi lăm âm lịch.
Trong dân gian, thường mỗi khi đề cập hai loại nước trên, đều không quên câu tục ngữ:
Ba mươi nước rong, mùng mười nước kém.
Nhưng có lẽ ngày mười bảy âm lịch mới thật sự là mực nước rong cao nhất với câu tục ngữ truyền miệng, mà ai là người nhà quê cũng đều biết:
Mười bảy nước nhảy khỏi bờ.
Nhiều khi nước rong vào ngày mười bảy này tràn đập tràn bờ lai láng như câu ca dao sau đây:
Nửa đêm trở dậy trông trời,
Ông sao bên bắc lại dời bên đông,
Bờ hồ lai láng mênh mông.
Tuy nhiên, " nước lai láng" còn được dùng để nói về những cánh đồng ruộng vào những ngày nước rong được người làm ruộng rút ống bộng cho nước dẫn vào ruộng tắm mát những đám lúa xanh um bị nhận chìm lút đọt hoặc những cánh đồng mùa nước lụt ba bên bốn bề không trông thấy cây cối, cỏ lác mà chỉ toàn nước là nước lai láng như cái biển.
Dù nước rong hay nước kém, những ghe xuồng di chuyển trên sông đều gặp phải những đoạn sông nước xuôi, nước ngược. Nghĩa là nếu ghe xuồng đang đi theo chiều nước đang chảy gọi là xuôi nước hoặc ngược lại, gọi là nước ngược. Gặp những lúc nước ngược, nếu đi đường xa, các ghe xuồng thường cắm sào đậu lại nơi bến bờ nào đó bên gốc da, gốc xộp, gốc bần, gốc gáo. . . rồi lo cơm nước nghỉ ngơi để chờ nước xuôi mà tiếp tục cuộc hành trình. Có khi phải ngủ qua đêm ở dọc đường như vậy. Có nhiều đêm trăng sáng vằng vặc tràn đầy khoang xuồng, khoang ghe, tắm ướt những khách thương hồ. Dòng nước chảy, gió hiu hiu thổi, những con sóng nhỏ lách tách chạm vào be ghe, be xuồng tạo nên những điệu nhạc êm êm bất tận... Dù không phải cùng nỗi lòng của thi sĩ Hàn Mặc Tử có lần cảm nhận, nhưng cũng mang mang một chút lãng mạn khi nhìn ánh trăng, rồi khách lữ hành chợt nhớ lại những vần thơ tình tự thuở nào:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay...
Đôi khi, người lữ khách trên sông nhìn ánh trăng, chợt nhớ câu thơ của nhà ái quốc Phan Bội Châu, như muốn tự sự với chính mình:
Đêm lơ lững mình cùng trời đứng,
Mình hỏi trời, trời lững làm thinh!
Trên trăng, dưới nước, giữa mình,
Thôi thời với bóng tự tình vân vi.
Đêm trăng hỏi bóng
Rồi, những hớp rượu trắng cay cay, vài miếng mồi, vài miếng xoài sống, vài cọng rau thơm, cùng những câu ca vọng cỗ, những điệu hò sa mạc " rao bán trăng, không bán tình yêu "văng vẳng trên sông nước hữu tình như quên đi những nhọc nhằn cơ khổ của dòng đời... Câu chuyện trên bến dưới thuyền có khi chưa kết thúc, lại phải nhổ sào tách bến tiếp tục cuộc lữ hành. Những mẫu chuyện dang dở như chính cuộc sống nhiều lúc dở dang của họ, cứ mãi hoài trôi theo những dòng nước chảy về khắp chốn, khắp miền như vô định...
Tục ngữ bình dân cũng mượn những hình ảnh thực tế của dòng nước ngược để nêu lên bài học, mà những ngày còn ngồi trong lớp học lúc còn nhỏ, tôi còn nhớ tới bây giờ:
Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi.
Hoặc có những câu tục ngữ hàm chứa nhiều ý tưởng giáo dục sau đây:
Nước chảy ngược lên đường.
hay như câu này:
Nước chảy xuôi, bè kéo ngược.
Nhưng cho dù ngược hoặc xuôi, dòng sông nước đang chảy như sự sống đang dạt dào, vui có mà buồn cũng có. Sự kiện nước chảy cũng được người bình dân đem vào tục ngữ ca dao những lời nói truyền miệng để đời:
Nước chảy đâu đâu cũng tới.
hoặc có câu quen thuộc sau đây:
Nước chảy tới đâu, cá lòng tong tới đó.
Hay những lời thở than của một người bạc mệnh phong trần sau đây:
Dầu ai sang cả mặc ai,
Thân này nước chảy, hoa trôi sá gì!
Và có lẽ câu ca dao sau đây, tác giả bình dân đã gửi gắm một nỗi lòng thật bi thiết khi mượn dòng nước chảy qua cầu nói dùm mình những cay nghiệt, bẽ bàng:
Đoạn trường nước chảy qua cầu,
Núi sông gặp lại trở màu đắng cay!
Ngày xưa, khi Nguyễn Trãi chưa gặp được minh quân, có làm bài thơ Tự Thán, cũng mượn chiếc thuyền và dòng nước chảy nói lên nỗi lòng của mình, có hai câu kết như một nỗi cô liêu:
Mây trôi nước chảy xuôi dòng,
Con thuyền hờ hững bên sông một mình.
Như dòng đời, dòng sông có khi đục, khi trong tùy theo mùa, theo tháng. Mùa nắng nước thường trong, mùa mưa nước thường đục. Vì một lẽ dễ nhận là mưa mang theo bùn đất trên bờ trôi xuống dòng sông theo những triền dốc, theo những đường nước bị soi mòn từ các miếng vườn cây ăn trái, từ những con đường đất trong làng... Nhưng nước đục, nước trong còn là những hình ảnh được người dân sống ở nông thôn đem áp dụng vào những đời sống thực tế như những điều may mắn hay bất hạnh khi nghĩ đến tương lai, như trong mấy vần tục ngữ ca dao sau đây:
Thân em giả tỉ thoàn tình,
Mười hai bến nước linh đinh,
Biết đâu trong đục mà mình gởi thân?
Rồi những bài học, những ngụ ý cũng không bỏ sót:
Thương nhau, nước đục cũng trong,
Ghét nhau, nước chảy giữ dòng cũng dơ.
Yêu ai thì nói quá ưa,
Ghét ai nói thiếu, nói thừa như không. "
Hoặc: Nước suối có bao giờ đục.
Hoặc:
Nước giữa dòng chê trong, chê đục,
Vũng trâu nằm hì hục khen ngon. "
Hoặc:
Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn. "
Hoặc:
Nước trong khe suối chảy ra,
Mình chê ta đục, mình đà trong chưa?
Và cảnh đời cũng gần giống như thực tế bên ngoài:
Dòng sông có khi trong, khi đục,
Đời người có lúc nhục, lúc vinh.
Hoặc để ám chỉ những cảnh đau lòng như: Đục nước béo cò.
Hoặc: Chờ nước đục thả câu.
Hoặc: Trâu chậm, uống nước đục.
Và câu ca dao quen thuộc, gần gũi này mang một ý nghĩa thật giản dị, mà có lẽ ai cũng nhớ:
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
Lúc bấy giờ, nghĩ lại chuyện lợi danh như là phù phiếm, chẳng nghĩa lý gì:
Nước trong rữa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn ai ơi!
Nhưng dù đục, dù trong, đến một chu kỳ nào đó, dòng sông có khi bị nước cạn, xuồng ghe đi lại gặp nhiều trở ngại, nhất là những con sông, con rạch nhỏ, những ao hồ vào những mùa nắng hạn. Nhưng người nông dân sống những vùng đó vào những tháng này cũng đành cam chịu đựng, dù nhiều lúc ảnh hưởng hết sức tai hại cho mùa màng. Cái cảnh nước cạn này cũng là dịp được người bình dân đem vào những bài học để áp dụng:
Chí công thương kẻ mồ côi,
Như bèo cạn nước, biết trôi ngã nào!
Hoặc cảnh đời sau đây:
Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn cho gầy cò con!
Tuy nơi đây không phải là con sông Vị Hoàng chảy gần nhà cụ Tú Xương, nhưng nhiều lúc có những con sông, con rạch bị nước xoáy làm lỡ trôi nguyên một vùng đất như chợ Tân Châu thuộc tỉnh An Giang, rất sung túc, trù phú trên bến dưới thuyền tấp nập một thời. Nay con đường Bạch Đằng và một phần của khu chợ búa thuộc thị trấn này bị chìm khuất dưới đáy sông Cửu Long, mất đi vĩnh viễn những ngày hưng thịnh. Hoặc có nơi lại được đất cát, phù sa lấp cạn, làm mất đi dòng chảy như sự hiện diện của những cồn cát thuộc xã Thường Phước phía bên kia sông Tiền Giang đối diện với chợ Tân Châu; cồn Phố Quế ngang vàm rạch Tầm Bót, Cái Sơn thuộc Long Xuyên, hoặc Trà Ôn thuộc Vĩnh Long; những làng Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây đầy những vườn cây ăn trái, thuộc quận Thốt Nốt, tiền thân là những cồn cát nổi lên giữa dòng Hậu Giang, ngang vùng nước xoáy Long Hậu , Lai Vung thuộc Sa Đéc, vân vân... , làm cho chúng ta nhớ lại những vần thơ sau đây của Cụ Tú Xương, mà có lẽ ai cũng thuộc, mang đầy âm hưởng u hoài:
Sông kia, giờ đã lên đồng,
Nơi làm nhà cửa, nơi trồng ngô khoai.
Nửa đêm tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!
Hằng năm vào dịp Tết Đoan Ngũ, mùng năm tháng năm âm lịch, trên những dòng sông ở miền Nam bắt đầu ngầu đục, báo hiệu một mùa nước đổ. Nghĩa là nước mưa trên thượng nguồn của con sông Mékong đã cuốn theo những bùn đất dọc hai bên bờ chất chứa trong dòng nước lũ của mình kéo trôi xuống hạ nguồn. Người nông dân hoặc những thương hồ đầy kinh nghiệm, họ có thể xem những hạt nhỏ li ti trong dòng nước đục ngầu này, được gọi là trứng nước, để đoán biết mùa nước nổi trong những ngày tháng sắp tới lớn hoặc nhỏ. Năm nào trứng nước nhiều, chắc chắn mùa nước nổi sẽ lớn; ngược lại, trứng nước ít, năm ấy nước lụt không nhiều. Theo thực tế nhiều năm tích tụ lại, năm nào nước lụt nhỏ thì cá tôm trên đồng rất hiếm hoi, lúa thóc không được trúng mùa. Còn ngược lại, năm nào nước lụt lớn, coi như năm đó cá tôm từ trên Biển Hồ bên Nam Vang tràn xuống vùng đồng bằng này nhiều vô số kể và phù sa cũng nhiều, đất ruộng màu mỡ hơn và dĩ nhiên mùa màng trúng hơn. Và những tháng tiếp nối sau đó được gọi là nước lên. Mùa nước đổ , rồi nước lên thường thường là dòng sông nước cứ chảy xuôi về biển mà tràn đầy rạch, đầy đồng, không có con nước chảy ngược về nguồn, không còn con nước kém vào những ngày này. Phải mãi tới tháng mười, tháng mười một âm lịch những con nước kém mới có trở lại, sự tuần hoàn của những con nước mới bình thường theo sự tuần hoàn của đất trời trong vũ trụ.
Vào mùa nước lên, người nông dân cũng sống theo nước, theo cá tôm suốt ngày trên đồng, trên sông, vui thú với nghề câu, nghề lưới những tưởng thanh nhàn nhưng cũng nhiều cơ cực vì đó là nghề hạ bạc mà! Tục ngữ có câu: Nhứt phá sơn lâm, nhì đăm hà bá là vậy!
Mùa nước lên, phong cảnh đồng quê nheo nhóc vì nhà cửa, đường xá có khi bị ngập loi ngoi lót ngót. Nào người, nào lúa thóc, nào gia súc như gà vịt, heo cúi lẫn quẫn chật chội. Còn ghe xuồng thi thong dong ngược xuôi nườm nượp như được mùa. Từ nhà này sang nhà kia vào mùa này thường bơi xuồng, đậu dưới bến sông, bến rạch. Nếu nước ngập vườn, ngập lộ, có khi khách tới chơi bơi xuồng tắt trên đường, trên vườn hoặc bơi tắt qua những cánh đồng thay vì bơi theo rạch, theo sông vì dòng sông thiên nhiên thường thường cong queo, dài hơn đường tắt.
Đến hạ tuần tháng chín âm lịch, cơn nước lụt trên những cánh đồng bắt đầu rút ra sông, ra rạch. Nước trên đồng này được gọi là nước cỏ, vì nước vào mùa này trong leo lẻo như câu thơ của Cụ Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẻo nước trong veo,
Một chiếc xuồng câu bé tẻo teo.
Nhưng nếu vào những năm còn làm lúa mùa như ngày trước, nước cỏ này có khi nhiều phèn. Nước cỏ lúc bấy giờ được gọi là "nước thúi"; thật ra nước cỏ này vẫn có thể dùng được trong việc nấu ăn hoặc để uống, nhưng nước có màu đỏ của rong rêu pha chất phèn trên đồng. Vì ngày trước ít khai mở kinh rạch, nên phèn trên đồng không thoát được, do đó, khi nước sắc lại, độ phèn cũng tăng, làm cá tôm đủ loại bị cay mắt nổi bèo nước, ngất ngư như điên, như dại. Từ đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long vào mùa nước đỏ này còn được gọi là mùa cá dại.
Ca dao cũng có đề cập tới nước đỏ như sau:
Nước sông còn đỏ như vang,
Nhiều nơi lịch sự hơn chàng, chàng ơi!
Nhưng nước phèn trên đồng, nếu thật sự sắc lại dưới cái nắng gay gắt của vùng nhiệt đới, nước chát và chua lắm, nếu đặt chân xuống hoặc rữa tay, nó bám vào da dày bịt như thuốc nhuộm màu. Tuy nhiên, có nhiều lúc ở những đìa bàu sâu vào mùa mưa, nước nơi đây cũng là nước phèn chua lè nhưng lại trong vắt như mắt mèo, chứ không đặc quánh như một vài vũng nước phèn cạn.
Tất cả nước trong các sông rạch miền Nam, phần lớn là nước ngọt, nghĩa là nước uống được, nấu ăn được như câu tục ngữ chỉ đời sông rày đây mai đó của dân thương hồ: " Nước sông, gạo chợ.
Nước ngọt này còn được gọi là nước bạc vào các tháng giêng, tháng hai, tháng ba. Sở dĩ gọi nước bạc vì nước ngọt mùa này có màu trắng bạc vào những con nước lớn mỗi ngày. Đang lúc bơi xuồng vào trời nắng gắt mà khát nước, lấy cái chén hay chiếc nón lá trên đầu đang đội, múc đầy nước bạc giữa dòng sông sâu, uống một bụng, ngọt ơi là ngọt...
Vùng nước ngọt cây trái bốn mùa, nên vùng sông nước miền Nam còn được gọi là miệt vườn. Tuy nhiên đổ về miệt dưới như Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Ngã Ba Nước Trong ( Chương Thiện ), Vĩnh Thuận ( Kiên Giang), hay lên Bến Lức ( Long An) vân. vân... , chúng ta thấy có những vùng nước mặn vì ảnh hưởng bởi những đợt thủy triều dâng. Nước mặn tạo cho cư dân vùng ấy những đời sống cùng môi trường sinh thái có khác vùng nước ngọt phần nào. Chẳng hạn cơ cực hơn trong việc nước uống, rồi vườn tược cây trái cũng ít nhiều khác lạ. Nước uống, cư dân những nơi đây thường chứa nước mưa để uống quanh năm. Thỉnh thoảng lại phải đổi nước ngọt để uống, nếu năm nào ít mưa hay hạn hán nhiều. Những ghe đổi nước ngọt thường chạy dọc theo các vùng nước mặn, nơi mũi ghe để cặp thùng gánh nước làm hiệu cùng một nhánh tre hay đọt tràm con bề dài hơn một thước có treo một miếng lá tấm nhỏ bề ngang độ vài ba tấc tây, loại lá lợp nhà, để cho người địa phương biết ghe đổi nước. Nói là đổi nước ngọt, để tránh chữ "bán nước", chứ thật ra là một hình thức mua bán vì đổi nhưng chỉ đổi bằng tiền.
Phần lớn những vùng nước mặn này trồng loại dừa để lấy lá lợp nhà rất nhiều. Loại dừa này thích hợp những vùng đất thấp, thường sống và phát triển mạnh dưới nước, nên được gọi là dừa nước ( la palmier d'eau ). Loại dừa này có đặc tính rất khác xa với những vườn dừa ăn trái ( le cocotier ) ở Bến Tre, Tam quan (Bình Định), Sông Cầu ( Phú Yên ), hoặc ở rải rác khắp miền Nam. Tuy vậy, theo nhận xét thực tế, lá dừa nước vùng nước ngọt ít bị sâu ăn và tốt hơn lá dừa nước vùng nước mặn.
Nước mặn vào ban đêm, nếu đi ghe xuồng bằng dằm chèo hoặc bằng máy đuôi tôm, những mảng nước văng tung tóe sẽ long lanh như ánh trăng bị vỡ vụn, nước ở đấy độ mặn dữ lắm. Mỗi lần ngặm một ngụm nước mặn như vậy, ta có cảm giác chát ngắt, nên người bình dân thường gọi nước mặn chát.
Tại những vùng nước mặn này có một đặc điểm mà ai ai cũng nhận ra đó là những cánh đồng vùng này rất chua vì nhiều phèn do kinh rạch trước đây ít khai mở; lại nữa nước ngọt cũng khó dẫn vào ruộng ngoại trừ nước mưa. Tuy nhiên các vùng đất phèn này trồng khóm lại rất ngọt như khóm vùng Cầu Đúc (Chương Thiện), Tắc Cậu (Rạch Giá), Bến Lức (Long An) ngọt nổi tiếng khắp mọi miền. Trái lại, khóm mà trồng ở vùng nước ngọt thường bị chua, nên dường như không ai trồng.
Có một vùng nước nằm giáp với nước ngọt và nước mặn khi hai dòng nước từ trong sông đổ ra biển gặp dòng nước từ biển chảy vào, vị của nó lơ lớ, không mặn, không ngọt, được gọi là nước pha chè. Những nơi nước pha chè có một loại cá thích ở là cá đối. Ngày trước những năm bị đày lưu lạc về đây, làm nghề chất chà, giở chà tại các vùng này, tôi thích món cá đối này kho lạt bỏ hành tiêu, ngon ơi là ngon. Chúng tôi có dịp đến những vùng nước pha chè, chất khoảng bốn chục đống chà bằng ngọn tràm, nhánh bần, nên coi như ngày nào cũng có chà để giở, và ngày nào cũng ăn cá đối. Vừa bao lưới xong là cá đối nhảy trắng dã, dính đầy lưới; trong lòng đang lúc buồn rầu về thân phận mình, cá tôm vào những ngày này làm mình vơi đi đôi chút lo buồn; nhưng nhìn những rừng tràm, những đám dừa nước dày bịt, âm u như ẩn giấu một nỗi buồn tâm tối, vô tận... khi nghĩ về gia đình, về ngày mai, mà bây giờ nhớ lại vẫn thấy ớn lạnh!
Những ghe xuồng đi vùng nước mặn, thường thường được các cư dân dát một lớp thiếc, hoặc nhôm, hoặc bằng xi măng bên ngoài lườn ghe, lườn xuồng để tránh con hà ăn. Hà là một loại côn trùng nhỏ hơn đũa ăn, hình dáng giống như con sâu, thường thích ăn ván ghe xuồng, và nằm sâu bên trong những tấm be ấy để đục phá. Nếu không có kinh nghiệm, các ghe vùng nước ngọt mà đi ngang qua vùng nước mặn dù chỉ một lần, về tới nhà vài tháng sau ghe sẽ bị hà ăn, be ván bị lũng nhiều lỗ như cái rỗ xảo; chỉ còn có nước thay vào bằng những tấm be mới, chứ không làm sao vá víu cho nổi. Khía cạnh này, tục ngữ ca dao cũng có nhắc nhở:
Một lần cho tởn tới già,
Đừng đi nước mặn bị hà ăn chân.
Nước vùng sông rạch miền Nam với những tên gọi vừa lược kể: nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước những lớn, nước những ròng, nước rong, nước kém, giáp nước, nước cạn, nước ươn, nước sình, nước sanh, nước nhảy khỏi bờ, nước xuôi, nước ngược, nước lai láng, nước chảy, nước trong, nước đục, nước đục ngầu, nước phèn, nước ngọt, nước bạc, nước mặn, nước pha chè, trứng nước, nước lên, nước giựt, nước cỏ, nước phân đồng... Đó là chưa kể những tên gọi còn bỏ sót như nước xoay, nước cuốn, nước hồ, nước lé đé, nước ra, nước vô, nước mương, nước đìa, nước chảy như cắt, nước cầm rạch, nước bò, nước chạy, nước rịn, nước mội, nước phá đập, dịu nước, nước lớn đầy " mà ... vân vân... , cho thấy dân quê miền Nam thật phong phú trong cách gọi tên một vật thể luôn luôn gắn liền với đời sống của muôn loài và của chính mình.
Nước luôn luôn ẩn tiềm một sự kế thừa liên tục, không bao giờ già cỗi, xưa cũ. Điều đó cho thấy sức sống trong những dòng nước ở miền Nam là một sức sống mãnh liệt, luôn luôn tự làm mới cho chính dòng chảy của mình, cùng mang lại ích lợi cho cư dân trong vùng như một nhu cầu thiết thực không thể thay thế. Người ta có thể nhịn đói nhiều ngày, nhưng không ai có thể nhịn khát trong nhiều giờ. Loài người có thể "thay trời làm mưa", nhưng loài người không thể nói rằng không cần những dòng sông của đất trời âm thầm chảy như bất tận từ nhiều thiên niên kỷ. Chính những dòng nước mát thiên nhiên này mới thật sự mang lại cái tươi mát cho thiên nhiên, cái nguồn sống cho vạn vật mà trong đó có con người đã sống, đang sống và sẽ sống dưới ánh sáng mặt trời!
Với hơn bốn năm đắm mình trong vùng nước pha chè, nước mặn để làm cái công việc chất chà giỡ chà nhiều lúc run lập cập; với gần ba năm xào xáo những hầm đất in gạch, in ngói nhuyễn nhừ phải thay bao lần nước để rồi móng chân bị sứt lúc nào không biết; với mười năm sống với miếng ruộng khoảnh vườn, cùng những ngày tháng bềnh bồng trên chiếc xuồng câu cũ trên cánh đồng mùa nước lụt giăng lưới, giăng câu hoặc những ngày lang bạt thương hồ trên chiếc ghe tam bản đi ngày đi đêm khắp các miền sông rạch, đã cho tôi biết thế nào là nỗi đợi chờ, mong ngóng con nước ròng, nước lớn, con nước kém, nước rong, con nước nhảy khỏi bờ, con nước phân đồng... như chờ đợi, mong ngóng một điều gì vô cùng thiêng liêng, mới thấm thía với từng tên gọi mang nét riêng tư, đặc thù của những con nước vùng sông rạch miền Nam.
Một nhà tư tưởng đã nói: "Không thể tắm hai lần trên một dòng nước", quả rất đúng với thực tế sông nước miền Nam. Với sự đổi thay tên gọi theo từng lúc, từng nơi, từng mùa như sự thay đổi của những dòng đời của mỗi kiếp người, nên dòng nước thường được ví với dòng đời, một dòng đời với những mảnh đời rớt rơi đâu đó, luân lạc, nổi trôi, vô tận trong cõi nhân sinh này!
Lương Thư Trung
Xương Lá
Sáng nay trời lại se lạnh. Sương mơ màng phủ đầy trên mấy nhành hoa ven đường. Những chiếc lá lại ngả sắc vàng rồi. Tiếng chim sâu và tiếng chim chìa vôi, chào mào hót vang như gọi nắng về vậy.
Cô nhỏ lang thang đi về phía góc "khu vườn nhỏ" của cô - đó là một khu rừng phong mà lá đã thay áo màu vàng cả vài tuần này. Cô nhỏ lặng lẽ gom hết những chiếc lá đẫm sương sớm rồi nhẹ nhàng nhen lửa. Làn khói trắng tỏa ấm cảnh vật xung quanh cô nhỏ trong buổi sớm mai này. Từ rặng phong cho đến những khe đá nho nhỏ mà cô đã bao lâu nay lượm lặt chất đầy xung quanh "khu vườn nhỏ" của cô. Cô nhỏ xòe bàn tay nhỏ như muốn chặn lại làn khói ấm áp đó. Nhưng coi kìa, chúng nghịch ngợm quá đi mất, chúng chui qua kẽ tay của cô rồi bay cao lên mãi. Không thể chịu thua. Cô nhỏ xòe cả hai bàn tay ra. Khói giận rồi!!! Khói phả vào mắt, cay xè...
Ngồi một mình, cô nhỏ bỗng nhớ đến ngày xưa, nhớ đến rặng thông già của cô, nhớ đến ngày đó... Lâu rồi phải không? Đã gần 2 năm rồi còn gì? Cô nhỏ chưa một lần trở lại thăm "góc vườn thơ ấu" của cô dưới những giò lan, cạnh những nhánh Thạch Thảo, Kim Châm... là cả những nhành lá vàng ngày đó...
Ngày đó, trong khu vườn thuở nhỏ, cô nhỏ đã là nữ sinh trung học rồi đấy chứ, ấy thế nhưng nghịch như quỷ sứ. Cô nhỏ tha hồ bày ra đủ trò chơi cùng lũ nhóc trong xóm.
Nào là leo núi, thi đi trên cầu treo, "phi thân" qua mấy khe suối chạy dọc theo thành phố nhỏ của cô (lỡ có sẩy chân thì... lọt tõm xuống nước... Hú vía!!!). Lại còn rủ nhau đi hái phong lan tận trong rừng núi Langbian nữa kia mà!!... Con gái phá như giặc!!!
Thế nhưng trong khu vườn tuổi thơ ấy, cô nhỏ cũng đã từng lãng đãng nữa kia. Cô học cách ép hoa lan, ghép cành hồng sao cho nở trọn vẹn và lâu tàn. Cô cũng học cả cách ướp côn trùng nữa đấy nhé. Đến mùa xuân, mùa thu thì cô cũng đùa giỡn với những cánh hoa ép vội trong trang vở học trò của cô đấy chứ. Lãng mạn đến thế thì thôi nha!...
Khu vườn tuổi thơ này đầy ắp những kỷ niệm đó chứ phải không? Cô nhỏ còn nhớ... ngày xưa... cô nhỏ thích nhất "trò chơi" nhặt "xương" lá. Có lần, cô nhỏ đã bỏ cả ăn cơm khi tìm được ở góc vườn sau nhà rất nhiều "xương" lá. Những chiếc lá rụng, mục ra, chỉ còn trơ lại phần "xương" khô khốc. Cô nhỏ "vác" về giũ sạch bụi đất, rồi tỉ mỉ, cặm cụi ngâm chúng vào đủ loại phẩm màu mà cô tự pha cho chính mình từ những chất hóa học mà cô "lượm lặt" từ phòng thí nghiệm của trường. Những chiếc "xương" lá đã nhuộm thành màu xanh, cô gọi tên là "Lá mùa Xuân!".
Chiếc màu hồng thì có tên là "Lá mùa Hạ". Chiếc màu vàng là "Lá mùa Thu"...... cứ thế cô nhỏ ngồi một mình đặt tên cho những chiếc "xương" lá của cô. Còn những chiếc "xương" lá được cô nhuộm thắm màu mực tím học trò thì cô thân thương đặt tên là "Lá-thương-nhớ". Buồn cười quá đi!
Cô nhỏ cứ làm như những chiếc "xương" lá ấy cũng có "hồn" vậy!!!
Rồi cô nhỏ rời xa khu vườn ấy, mang theo tất cả hành trang của cô là lũ hoa ép đã khô, những trò nghịch ngợm ngày xưa, và không thể thiếu được là những chiếc "xương" lá.
Lâu nay, bận rộn mỗi ngày, cô nhỏ như chợt quên bẵng đi chuyện những chiếc "xương" lá ngày ấy. Chẳng lẽ cô nhỏ cũng đã lớn rồi sao?... nào có phải!!!....
Bất chợt sáng nay, ngồi một mình trong "khu vườn nhỏ" - khu rừng phong - này, cô nhỏ bỗng thấy mình trở lại sống trong khung trời kỷ niệm... sao mà gần gũi quá, thân thương quá. Cô nhỏ lái xe vội về đến nhà, chạy vào lục tung ngăn tủ mà lâu nay bụi thời gian dường như đã bám đầy. Cô nhỏ đi tìm một vật - tưởng đã bị lãng quên!!!
Coi kìa.... lạ chưa???!!! Những chiếc "xương" lá vẫn còn đó. Và chúng thật kỳ lạ! Chúng đều đã ngả sang màu mực tím tự hồi nào!!!... Cô nhỏ ngồi mỉm cười với chính mình.
Và đâu đó.... "Lá-thương-nhớ" của cô sẽ mãi mang màu tím mồng tơi mãi!!!!!
Ý Nhi
aka lang thang lượm Lá mùa Thu