vhnt, số 329
16 September 1997
Trong số này:
thư vhnt........................................................... BBT
T h ơ:
1 - Bên Nhau Chiều Vắng.......................... Phạm Văn Tiên
2 - Hoài Niệm.......................................... Hoài Niệm
3 - Kiếp Phù Sinh......................................... Bỉ Ngạn
4 - Té Ði Em................................................ Cỏ Dại
5 - Bích Seine Kỳ Ngộ......................................... c.b.
6 - Công Chúa......................................... Hà Ðình Lan
7 - Chờ Nhau.............................. LTN(Nguyễn Ðình Thái)
8 - Phố Xưa................................................... Chinh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Mẹ Teresa, một thiên thần ghé thăm trái đất................. Trần Trung Ðạo
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10- Tiếng nấc quê hương.......................... Hà Ðình Lan
Bạn,
Vả chăng sáng tạo, trong văn chương, là lắng nghe và phản ảnh nhịp cảm quan của mình bằng ngôn từ. Mỗi trái tim, một nhịp đập. Riêng biệt.
Vả chăng tình yêu là một vũ trụ ẩn mật, đơn duy, trong lòng từng tác giả. Lấp lánh trăng sao. Mịt mùng giông tố.
Tình yêu, từ phút đầu hiện diện, đã đưa những cuộc đời gần nhau, và xa nhau, hơn bao giờ hết.
Gần nhau, như hai con tim chung một nhịp đập.
Xa nhau, như núi cao vực thẳm của lý trí biện minh.
Giữa tác giả với chính mình.
Giữa tác giả với tác phẩm.
Giữa tác giả với đọc giả.
Trong số VHNT này, mời bạn chia xẻ những sáng tác về tình yêu. Và nếu bạn tìm thấy phảng phất chút gì của mình trong đó, vả chăng khi ấy là lúc bạn gần với mình nhất. Và xa chính mình nhất.
Chúc bạn một ngày trọn vẹn giữa những khoảng cách vô hình, vô hạn đó.
thân ái,
npn/vhnt
Bên Nhau Chiều Vắng
Gió lạnh. Áo cụt tay chẳng đủ che hết thân
Công viên nắng yếu, làm sao sưởi ấm trái tim nàng
Tay ôm tròn lồng ngực, hơi thở nhấp nhô lên
Xuống. Lá màu rụng sớm rớt vào tập sách cầm trên tay
Trong khuôn viên đại học, giờ chỉ còn mình em
Và tôi. Ngồi phơi nắng lúc cuối ngày. Chia nhau bọc
M & M. Em lựa những viên màu ăn hết. Chừa lại tôi
Những viên chocolate nâu nâu. Nắng đã ngả màu
Em dựa vào lòng tôi thỏ thẻ: Ðưa em về chiều nay
Gió thổi lọn tóc mai dài mơn trớn. Mùi táo chín
Ở Washington, mùi shampoo, mùi da phấn đùa cả vào buồng
phổi. Tôi
Tay nắm tay em, đếm từng đốt ngọc. Cuộc đời em đặt
trọn trong tay
Trăng non vừa nhú, tôi dắt em ra bãi đậu, chia tay
Ðưa em vầy cũng đủ. Một ngày như thế sẽ vui hơn
Gió lạnh nổi lên. Tôi giục em vào xe gấp
Kẻo gió lạnh làm cản bước chân đi. Mai lại gặp
Phạm Văn Tiên
Hoài Niệm
Giòng đời trôi, trôi mãi
Thời gian không đứng đợi
Hết thu tàn đông tới
Ngày xuân thôi qua mau
Này em có biết đâu
Vầng trăng xưa rực rỡ?
Soi sáng hồn ngây thơ
Tắm mát tuổi xuân thì
Có đêm thâu mộng mị
Tìm về tuổi ấu thơ
Hân hoan nụ hoa nở
Thấy đời... ôi đẹp nhất!
Có đêm đài thao thức
Bồi hồi chuyện xưa, nay
Quá khứ và hiện tại
Ngỡ là giấc mơ qua
Kỷ niệm sẽ phôi pha
Nhạt nhoà theo năm tháng
Niềm vui không cưu mang
Hai lần một giấc mơ
Ðể suốt cuộc đời thơ
Hoang mang mãi kiếm tìm
Lạc loài một niềm tin
Bóng hình của ảo mộng
Lá thu vẫn rơi rụng
Gió đông sao chưa sang?
Trong tiềm thức bàng hoàng
Ta lại tìm thấy ta
trong nỗi cô đơn dịu dàng tha thiết...
Hoài Niệm
Kiếp Phù Sinh
Chờ em chờ đến bao giờ
Ðến khi con nhện giăng tơ đầy nhà
Nghe em ăn nói thiệt thà
Bóng hình chưa rõ lòng đà nhớ nhung
Làm sao mà tỏ cho cùng
Quê hương em đó mịt mùng xa xăm
Em về ôm gối trăm năm
Buồn vui ngày tháng long đong đời mình
Dù cho một kiếp phù sinh
Kiếp sau cũng vẫn một mình đợi em
Bỉ Ngạn
Sep 04/97
Té Ði Em!
Té đi em cho trầy vi tróc vẩy
Ðể hiểu đời hư thực trắng đen.
Té nữa đi cho thương mình thương bạn
Chút ân tình còn xót đọng trong anh.
Em cứ té rồi đây anh sẽ đỡ
Bằng đôi tay bệnh hoạn đã bao ngày
Bằng tâm hồn rách nát đã lâu nay
Và với cả một tình thương bất tận
Ðời dối trá phải không em, rất thực!
Tạ Ơn
Xin cảm ơn tình cờ em đã tới
Sống trong tôi hạnh phúc một quảng đời
Thời niên thiếu khi tuổi thơ vừa mất
Ngày hôm nay bên thân xác rã rời
Dù ngày mai có đầy dẫy chơi vơi
Tình em đó vẫn xanh màu kỷ niệm
Xin yêu nhau bằng đôi hồn thánh thiện.
Cỏ Dại
Bích Seine Kỳ Ngộ
Chiều bên giòng sông Seine
Em cười nghiêng mũ dạ
Áo da nổi màu ngực nõn
Giầy cao khép mở chân ngà
Trước cổng Notre Dame
Tô son mấy chớm đào
Em quay người ngạo mạn
Anh quăng cọ thua chào
"Ngập ngừng gió thổi chéo bào"
Nắng Xuân lên má ngạt ngào hương trinh
Cười giòn trên xe điện
Giọng Bắc Kỳ ngoan ngoan
Anh lao vào vũng tối
Vùn vụt ngày mê man
Chiều phi trường Paris
Em lẫn trong hàng người
Thoảng dường như tiếng nấc
Anh đi tiếc một trời
c.b.
Công Chúa
Em công chúa ngủ giữa rừng
còn ta hoàng tử gù lưng lạc đường
nụ hôn nào đẫm hơi sương
mà em thức giấc còn vương nỗi buồn!
Áo Cơm
Hỏi em quang gánh về đâu
sao trên nếp áo còn nhầu tang thương
riêng tôi từ lỡ độ đường
nhìn đâu cũng thấy một phường áo cơm!
Thấy
Thấy ta mang nặng chán chường
sống như giun dế cuối đường lưu vong
thấy em hai má hồng hồng
hỏi ta chí lớn tang bồng để đâu?
Hà Ðình Lan
Chờ Nhau
Ta đã chờ nhau đến bạc đầu
Giòng đời trôi chảy vẫn niềm đau
Ngỡ mình tương ngộ, tâm ngăn cách
Vẫn mãi ôm theo một mối sầu
Có phải đêm này đến ngàn sau
Trăng sao vẫn sáng nắng nhạt màu
Tim đơn cô lữ ôm một bóng
Ðể ánh trăng vàng nhớ cỏ lau
Thôi hết đau rồi một kiếp mau
Với tay vuốt tóc thấy bạc màu
Như tình kia nhạt thôi một kiếp
Cũng ráng qua đi vạn ngày sầu!
Ta ngỡ thôi rồi đã mất nhau
Như bài thơ cũ giấy nhạt nhàu
Có yêu tha thiết rồi cũng thế
Ðời mãi quay cuồng có nhớ nhau?
8/13/97
LTN (Nguyễn Ðình Thái)
Phố Xưa
Lòng tôi có khi tựa như vắng ai
Một hôm muốn quay về
Ngồi yên dưới mái nhà"
- TCS -
Phố nhớ ai lòng để ngỏ những chiều sương
Giọt cà phê đun đắp quán bên đường
Những cửa sổ mở
những đóa hoa mưa
Những mảnh thủy tinh phố vỡ chiều huyền thoại.
Những người con của phố
Về đâu và đi đâu
Tiếng chuông mỗi chiều gọi người trở lại
Thúc hối cuộc đời thêm nặng cơn đau
Phố vẫn còn đây
những cột đèn trơ trọi
những khúc đường quanh quẩn
lạch sông, khe suối,
những nóc nhà thờ,
đàn chim trắng
nắng, mưa
trầm bổng
Rũ tóc em cháy những cánh rừng hoang
Ðốt bài thơ tôi, lãng mạng...
Phố còn đây trong im lặng nhớ
mặt trời, mặt trăng, mặt người
Nhân loại, chim chóc, cỏ cây
Những gì đã ghé qua một lần
với phố
những chiều sương xám hiu hiu buồn ngủ
nơi quán không im lìm chờ đợi,
một người về.
Có ấm lòng nhau những chén rượu buồn
Khi thuyền buồm mãi ra đi và chỉ là ra đi
Không gửi lại chỉ một lời cảm tạ
Chiều nao phố mịt mù giòng nước
Em còn không những cánh rừng lẻ loi
Tôi còn không những sắc màu lạnh lẽo
Vẽ lên tranh
chân dung phố.
Thay lời.
Chinh
09/09/97
Mẹ Teresa, một thiên thần ghé thăm trái đất
"Tôi gặp một phụ nữ bị bịnh đang nằm chờ chết bên đường. Một nửa thân thể của bà bị chuột rỉa và phần thân thể còn lại thì bị kiến bu đen nghịt. Tôi đem bà vào bịnh viện nhưng họ không nhận vì chẳng còn cách nào chữa trị được. Tôi nhất định không chịu ra về nếu họ không săn sóc cho người đàn bà bất hạnh kia. Cuối cùng thì họ chịu tạm thời lo lắng cho bịnh nhân của tôi. Ðể người đàn bà ở đó, tôi đi đến trụ sở thị xã để kiếm một nơi có thể đem bà đó về. May thay có người chỉ cho tôi một căn phòng trống trong ngôi chùa Ấn Ðộ Giáo bỏ hoang. Căn phòng đó sau nầy trở nên Căn Nhà Cho Những Người Ðang Chết. Tôi cầm tay và ngồi lại với người phụ nữ kia cho đến khi bà ta trút hơi thở cuối cùng." Ðó là một câu chuyện trong hàng ngàn câu chuyện mà Mẹ Teresa kể lại và đó cũng là một ngày trong suốt 50 năm mà Mẹ đã hiến dâng cho nhân loại.
Cô bé Agnes Gonxha Bojaxhiu cất tiếng khóc chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Macedonia vùng Balkans. Cả gia đình theo đạo Thiên Chúa mặc dù đa số dân trong nước theo Hồi Giáo và xứ sở nầy đang chịu sự bảo hộ của Ðế Quốc Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Cha của Gonxha làm việc trong một công ty xây dựng, có vẻ thích chuyện chính trị và thường vắng nhà vì công việc làm ăn xa. Năm Gonxha vừa lên 9 tuổi thì cha mất. Mẹ của Gonxha phải tần tảo để nuôi ba người con, tất cả đều trong tuổi còn thơ ấu. Cả gia đình đều ngoan đạo, ba mẹ con cùng cầu nguyện mỗi đêm và đi nhà thờ mỗi ngày. Trái tim của Gonxha, dù còn thơ ấu, đã sớm nhịp chung theo từng nỗi khổ đau của lớp người cùng khổ. Nhà của ba mẹ con ở vốn cũng đã nghèo nhưng nếu có ai cần gì gỏ cửa thì Gonxha cho hết những gì mình có. Gonxha thường theo mẹ đi giúp đở một người đàn bà góa bị bịnh ghiền rượu trong làng, tắm rửa và lo cho con cái bà ta ăn uống. Khi bà góa phụ chết để lại sáu đứa con thơ, mẹ con Gonxha lại tiếp tục lo lắng cho chúng như trong một gia đình.
Ðến tuổi 12, cô gái Agnes Gonxha Bojaxhiu đã có ý nguyện hiến dâng cuộc đời để phục vụ ước muốn của Chúa. Gonxha cầu nguyện rất nhiều, mãi đến khi cô Gonxha lên 18 tuổi thì lời cầu nguyện được thành sự thật. Một buổi chiều năm 1928, sau khi đế nhà thờ Ðức Mẹ cầu nguyện, Gonxha gạt nước mắt từ giả mẹ và hai chị lên đường đi về phương Ðông xa xôi, nơi khổ đau đang chờ đợi bàn tay và trái tim của cô.
Gonxha tạm thời dừng lại ở Dublin để làm thủ tục tại cơ sở chính của dòng tu Loreto Sisters. Tại đây Gonxha học tiếng Anh và làm quen với đời sống tôn giáo. Cô nhân y phục của một nữ tu và chính thức chọn tên cho mình là Teresa để tưởng nhớ đến Thánh Teresa của Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Teresa cùng một nhóm nữ tư lên đường đi Ấn Ðộ, một xứ sở mà Sơ Teresa hằng mơ ước. Đầu năm 1929, đoàn nữ tu đến Columbo, rồi Madras và cuối cùng là Calcutta. Ðoàn nữ tu tiếp tục chuyến đi về phía Darjeeling, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn, ở đó các sơ trẻ sẽ được bắt đầu huấn luyện hai năm trước khi thực hiện Lời Hứa thứ nhất. Hoàn cảnh sống của dân chúng Ấn Ðộ đã làm trái tim của Sơ trẻ Teresa thắt lại, bao nhiêu người đói khát, bệnh tật đang thoi thóp chờ chết trên cùng khắp mọi nơi trên vùng đất Bengaly nghèo nàn và bất hạnh.
Sơ Teresa đi Calcutta để theo học ngành sư phạm và không lâu sau đó đã trở nên một cô giáo trong trường cấp hai. Lòng bác ái của Sơ Terera đã chinh phục tâm hồn đang khao khát tình thương của học trò một cách dễ dàng. Sơ Teresa không chỉ dạy học sinh học chữ mà còn dạy thương yêu và dâng hiến tình yêu. Ngày 24 tháng 5 năm 1937, Sơ Teresa thực hiện Lời Hứa cuối cùng tại Darjeeling. Ngoài nhiệm vụ dạy học, Sơ Teresa dành thời gian để giúp đỡ những người nghèo khổ. Sơ Teresa đi thăm viếng bịnh viện, thăm viếng những khu dân nghèo, những khu thường được gọi một cách khinh bỉ là khu ổ chuột. Cuộc sống bi thảm của dân chúng đã làm sống dậy mãnh liệt trong lòng Sơ Teresa ước muốn "sống giữa sự khổ đau của nhân loại" mà Sơ từng ôm ấp từ những ngày còn ở quê hương Macedonia. Với tất cả dự tính trong đầu, Sơ Teresa rời trường học để về lại Darjeeling vào ngày 10 tháng 9. Như Sơ đã nhắc lại sau nầy "đây là chuyến đi quan trọng nhất trong cuộc đời tôi". Ngày 10 tháng 9 sau nầy được dòng tu của Mẹ Teresa gọi là "Ngày Khát Vọng". Sơ Teresa cố gắng thỉnh nguyện Ðức Ông Perier, Tổng Giám Mục Calcutta để cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loreto Sisters để trở thành một nữ tu độc lập. Tuy nhiên lời thỉnh cầu của Sơ đã bị từ chối. Một năm sau, Sơ Teresa lại lần nữa đệ đạt lời thỉnh cầu của mình. Lần nầy Ðức Tổng Giám Mục đồng ý nhưng chỉ thị Sơ Teresa phải đệ trình đơn thỉnh nguyện lên Tòa Thánh.
Mãi đến tháng 8 năm 1948, Sơ Teresa mới nhận đựơc sự chấp thuận của Tòa Thánh cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loretto với một điều kiện rằng Sơ phải giữ lời hứa phục vụ người nghèo, tinh khiết và tuân phục. Ngay sau đó, Sơ Teresa, 38 tuổi, từ giả chiếc áo nữ tu Loretto và thay vào đó chiếc áo vải thô, trị giá chỉ 1 đồng tiền Ấn Ðộ, với viền xanh nhạt và một vốn liếng là 5 đồng Ấn Ðộ (khoảng 15 cent). Sơ Teresa trở nên một công dân Ấn Ðộ và cuộc hành hương vào giữa nỗi khổ đau của nhân loại thực sự bắt đầu.
Sau khi học một khóa huấn luyện kỷ càng về làm thế nào để sống và săn sóc người nghèo và bịnh tật, Sơ Teresa trở lại Calcutta, đi vào các khu ổ chuột và giúp đở dân chúng cùng khổ ở đó. Hằng ngày Sơ Teresa tắm cho các em bé, lau chùi các vết thương của bệnh nhân. Phương tiện duy nhất của Sơ là đôi bàn tay, một cục xà phòng nhỏ và vài chiếc khăn. Bất cứ khi nào có thể, Sơ Teresa cũng không quên dạy họ hoc chữ. Sơ một mình âm thầm làm việc như thế trước sự ngạc nhiên của mọi người trong làng. Họ tự hỏi "Người đàn bà Châu Âu trong bộ đồ vải trắng đó là ai?" Ðối với trẻ em nghèo, họ bắt đầu gọi Sơ là Mẹ Teresạ Ðối với Mẹ Teresa, Chúa là chỗ dựa tinh thần duy nhất mà thôi.
Một ngày nọ có một cô học trò cũ, con nhà giàu tìm đến và xin ở lại với Mẹ. Mặc dù đây là phút giây cảm động nhưng Mẹ Teresa một mực từ chối. Mẹ kể cho cô cô gái nghe về đời sống và công việc làm hằng ngày của Mẹ, trong đó bao gồm việc tắm rửa cho bịnh nhân, lau chùi các vết thương, vết lở đầy máu mủ. Cô gái ra về. Ngày 19 tháng 3 năm 1949, cô gái đó trở lại, không một chút phấn son và không một món trang sức nào trên người. Ước muốn của cô đã được Mẹ Teresa chấp nhận. Mẹ Teresa dùng tên cũ của mình để đặt cho tên cho cô gái: Agnes. Và cứ thế, tháng 5 có thêm ba người gia nhập và sang năm sau thì có thêm 7 người. Hội của những nữ tu Bác Ái với 12 nữ tu đầu tiên được thành lập và được Ðức Giáo Hoàng chấp thuận vào ngày 7 tháng 10 năm 1950. Nguyên tắc căn bản của dòng tu là hiến dâng chính mình để phục vụ người nghèo trong tình yêu của Chúa. Mẹ cũng đã mua lại căn nhà cũ của một người Pakistan để làm trụ sở đầu tiên. Căn nhà sau đó đã được gọi là Căn Nhà Của Mẹ. Từ điểm khởi hành đó, hàng trăm người, hàng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về hàng năm để cùng với Mẹ Teresa dâng hiến đời mình để xoa dịu nỗi khổ đau của nhân loại.
Vào khoảng giữa những năm 1950, Mẹ Teresa tập trung nỗ lực vào việc giúp đỡ bịnh nhân cùi. Chính phủ Ấn cung cấp cho Mẹ khoảng đất rộng 34 mẫu để thành lập Trại Cùi, trại nầy được Mẹ đặt tên là Shanti Nagar (Làng Thanh Bình). Chính Mẹ cũng có lần thú nhận "Những việc chúng tôi làm so với khổ đau của con người giống như giọt nước đổ vào biển cả, nhưng thiết nghĩ nếu không đổ thì biển sẽ thiếu đi một giọt nước." Nhờ vào quyết tâm đó mà 120 quốc gia trên thế giới hiện nay có đại diện của dòng tu Bác Ái và trên 4 ngàn Sơ đang phục vụ.
Ðể tỏ lòng biết ơn và tôn kính, chính phủ Ấn đã trao tặng Mẹ Teresa giải Padmashree và 1965 Ðức Giáo Hoàng Paul VI đã đặt Dòng Tu Bác Ái trực tiếp dưới sự kiểm soát của tòa thánh. Ðức Giáo Hoàng cũng đề nghị Mẹ Teresa mở rộng dòng tu sang các quốc gia khác ngoài Ấn Ðộ. Năm 1971, Ðức Giáo Hoàng Paul VI tặng Mẹ Teresa giải Hòa Bình Giáo Hoàng John XXIII cao quý. Năm sau, chính phủ Ấn Ðộ trao tặng Mẹ Teresa giải thưởng quan trọng: Jawaharlal Nehru. Năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, giải thưởng quốc tế được kính trọng nhất. Dù nhận bao nhiêu huân chương và giải thưởng, Mẹ Teresa cho đến cuối đời vẫn một chiếc áo vải thô trắng viền xanh đơn giản và tấm lòng thương người bao la như nước sông Hằng cuồn cuộn.
Mẹ Teresa có lần dạy một bài học về tình yêu đầy ý nghĩa: "người nghèo không cần chúng ta thương hại, họ cần tình yêu và thông cảm. Họ cho chúng ta nhiều hơn là chúng ta cho họ. Trong thời gian khó khăn của Ấn Ðộ, chúng tôi yêu cầu một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến và khi họ ra về ra về, nhận xét chung của họ là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho. Có một lần ở Calcutta, chúng tôi tìm ra được 5 người đang chết, trong đó có một người phụ nữ bịnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với bà trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay của bà. Bịnh nhân tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát chỉ miệng cười và nói "cám ơn" trước khi nhắm mắt lại từ giả cuộc đời."
Ngày thứ Sáu, 5 tháng 9 năm 1997. Mẹ Teresa được Chúa gọi về sau hơn 50 năm phục vụ những người cùng khổ. Không phải chỉ dân tộc Albany hay quốc gia Ấn Ðộ, mà cả nhân loại mất đi một người Mẹ hiền. Ngay cả một tờ báo Hồi Giáo ở tận xứ Kasmir xa xôi cũng đã viết những dòng ca ngợi Mẹ: "Mẹ Teresa chưa hề được sinh ra đời và Mẹ cũng chẳng bao giờ chết, Mẹ chỉ đến viếng thăm hành tinh của chúng ta mà thôi".
Trần Trung Ðạo
TIẾNG NẤC QUÊ HƯƠNG
Nó về lại đây đã gần một tháng. Gần tháng trời sống đế vương, ăn tiêu như một ông hoàng khiến nó đôi lúc nhập nhằng cứ tưởng nó là ông hoàng thứ thiệt! Tục ngữ mình có câu lên voi xuống chó, nó nghiệm thấy đúng với trường hợp của nó vô cùng. Từ lúc lọt lòng mẹ đến giờ nó chỉ toàn có xuống chó, bây giờ chính là lúc nó đang lên voi. Không những lên voi, nó còn lên tới tận mây xanh nữa kìa. Nó ngụp lặn trong thứ ái tình sặc mùi cải lương với những cô gái sành sỏi mùi đời, những cô gái mà người dẫn mối bảo với nó là gái nhà lành! Nhưng đối với nó điều đó không quan trọng. Lành hay không lành thì có khác nhau bao nhiêu đâu. Nó ham hố tận hưởng, miệt mài truy hoan trên những thân xác mà nó mua được bằng những đồng tiền chắt chiu, dành dụm từ mấy năm nay. Những đồng tiền cực khổ mà nó không một lần dám hoang phí ở nơi nó kiếm ra. Ở đây thì khác. Rẻ quá mà. Chỉ cần quăng ra có vài chục kroner là có ngay một em tình nguyện làm bất cứ điều gì nó muốn. Trong những lúc dục tình che mờ đôi mắt, nó nhận ra được một điều là ngoài cái sướng của thịt da đụng chạm lẫn nhau còn có cái sướng khác! Cái sướng được trả thù! Phải rồi, trả thù những cô gái bên kia đã dám chê nó cù lần, nhà quê.
Ðôi lúc nằm thẳng cẳng trên giường nệm ra trắng muốt, nó suy nghĩ vẩn vơ và cảm thấy... phục mình quá đổi! Ðang là thằng Năm Cu vô danh tiểu tốt, bỗng một sớm một chiều trở thành cái đích cho mọi người cùng nhìn về thèm muốn, ước ao. Ở ngoài đó nó là con số không to tướng nhưng ở đây nó là thần tượng của biết bao người! Nó tha hồ nói dóc. Dầu mấy năm trời nằm nhà ăn trợ cấp xã hội, chỉ chờ đi làm chui ngoài đồng mỗi mùa hè và tiếng Na uy ù ù cạc cạc, nó vẫn hiên ngang bảo là nó hiện đang học năm cuối kỹ sư và có rất nhiều hãng dọn sẵn chỗ, chỉ chờ nó ra trường là tiền hô hậu ủng đưa nó về làm... giám đốc! Người hiểu chuyện thì nhìn nó nghi ngờ, còn đàn bà con nít không biết gì thì há miệng nhìn nó cảm phục. Bây giờ, đâu ai còn dám kêu nó là thằng Năm Cu như trước nữạ Họ lễ phép gọi bằng anh Năm và còn cẩn thận đệm thêm: anh Năm kỹ sư! Oai thật! Ðứng trước đám người lam lũ nghèo nàn, nó bỗng thấy mình to lớn hơn lên và như để biểu lộ lòng thông cảm, thương hại cho hoàn cảnh khó khăn của họ, nó mở bóp ra thí cho mọi người vài chục gọi là quà của anh Năm kỹ sư vinh hiển về làng. Ai cũng vui mừng, ai cũng vừa dạ. Cái chức kỹ sư giả, lúc đó, đối với nó, bỗng thật vô cùng.
Nó vói tay lấy chai champagne để trên đầu giường, rót vào ly rồi ực một cái. Nó thoáng nhăn mặt. Tình thật mà nói, nó đâu ưa gì thứ nước chua lè chua loét đó. Chẳng qua muốn làm sang nên bày đặt thế thôi. Nó khoái là khoái coca cola kia. Thứ nước đen tuyền, mát lạnh, đang khát mà ngửa cổ lên tu một cái thì đã phải biết, sảng khoái cả tâm thần. Nhưng chẳng lẽ anh Năm Cu kỹ sư mà lại đi uống thứ nước bình dân đó hay sao. Người ta nói chết! Thế là nó vì sĩ diện của người trưởng giả mà đành bấm bụng dặn bồi mỗi tối mang lên cho nó một chai champagne, và phải là thứ xịn mới được. Mắc một chút cũng không sao. Anh Năm Cu không chơi thì thôi, một khi đã chơi thì phải chơi cho tới cùng mà.
Phú quý sanh lễ nghĩa. Phú quý thì nó đang có đây thôi, còn lễ nghĩa? Cái này khó đây nha. Nó bỗng nhớ đến trường học, bạn bè và nhất là ông thầy chủ nhiệm. Ông thầy hắc ám chuyên môn chiếu tướng nó về tội ngủ gật trong lớp và hay âu yếm bắt nó lên trả bài vào lúc mà đầu óc của nó đang chu du tận đâu đó ở trên trời. Kết quả thường là những con ốc vịt to tổ bố và những trận cười không bao giờ dứt của bạn bè trong lớp. Nó muốn đi thăm lại trường xưa và thầy học cũ để nói với ông ta là nó tuy ngu đần trong trường học, nhưng ở ngoài trường đời, nó là đứa thông minh. Không thông minh sao nó biết đi đúng lúc và về cũng đúng lúc. Ði âm thầm bao nhiêu thì ngày về ầm ỉ bấy nhiêu. Lúc đi chui rúc nhục nhả bao nhiêu thì ngày về võng lọng nghênh ngang, kẻ đưa người đón hãnh diện biết bao nhiêu. Nó muốn gặp lại người thầy dạy cũ để nhìn lại một quá khứ thê thảm hầu tăng thêm giá trị cho một hiện tại vinh quang. Nó khoái trá khi nghĩ đến vẻ mặt, chắc là sẽ rất ngượng ngùng của ông, khi đứng nói chuyện với nó. Ông nghèo nàn còn nó sang trọng. Ông đen đủi nhầu nát còn nó trắng hồng sang cả. Nó sẽ đóng vai lễ phép, khoanh tay thưa chuyện với thầy: Thưa thầy, chắc hẳn là thầy không nhớ ra con, nhưng con chính thật là thằng Năm Cu chuyên môn ngủ gật trong giờ của thầy hồi chín năm về trước. Nay con vinh hiển trở về, có chút quà gởi biếu thầy để tỏ chút tình thầy trò năm cũ. Quá. Phải rồi. Phải mang theo chút đỉnh quà cáp thì lời nó mới nặng ký. Nó nghĩ thầm như vậy và nôn nao mong cho trời mau sáng.
Thật ra, việc đi thăm thầy học cũ không hẳn chỉ có thế. Nó còn có một nguyên nhân khác sâu xa hơn nữa. Nó muốn bắt chước ông đại tướng Carnox gì đó của nước Pháp! Câu chuyện mà nó nghe ai kể đâu đó một lần hồi nhỏ và để tâm ghi nhớ mãi. Nó muốn mọi người mỗi khi nói về nó, phải nhớ ngay đến hành động về thăm thầy cũ và nói bằng giọng kính trọng như ngày xưa nó đã từng kính trọng ông Carnox. Nó thiếp đi với giấc mơ thật đẹp bên cạnh chai champagne đã vơi quá nửa.
Cảm giác đầu tiên khi nhìn lại ngôi trường chẳng lấy gì làm thân yêu xưa là ngỡ ngàng và đôi chút xúc động. Dầu sao nó vẫn là con người. Vẫn nhớ kỷ niệm dù kỷ niệm không mấy đẹp và vẫn bùi ngùi khi nhìn lại cảnh cũ dù trước đây cảnh cũ không bao giờ gây nhớ tiếc trong lòng nó. Ngôi trường ngày xưa to lớn là thế mà bây giờ nhìn lại sao nhỏ bé quá. Chín năm đằng đẳng mà tất cả hầu như đều không thay đổi. Trước cửa trường hàng quán vẫn tấp nập như xưa và lác đác đó đây vẫn có vài cậu làm học trò nhưng không sách cầm tay, nhẩn nha nhìn trời nhìn mâỵ Y như nó ngày trước! Trường học giờ tiêu điều thê thảm. Tường vôi xám xịt, dơ bẩn như lâu lắm rồi chưa biết đến mùi vôi mới. Chỉ có tấm bảng tên trường là mới. Dưới ánh nắng gắt, màu đỏ làm nền trên tấm bảng rực rở Như hớn hở đắc thắng trước những lam lũ, xập xệ của những gánh hàng rong. Và dưới nó một chút, cửa sắt ngàn đời âm u huyền bí.
Nó tìm chuông để bấm. Không có chuông. Nóđành đập cửa rầm rầm. Một gương mặt già cổi ló ra. Nó xuýt reo lên. A! Ông Bố Già đây mà! Ông giám thị gây kinh hoàng khắp trường với hình phạt độc đáo dành cho những đứa học trò con trai phá phách: nắm vú kéo ngược lên! Nhưng tại sao bây giờ ông lại ra giữ cửa, còn ông già giữ cửa năm xưa đâu?
Ông giám thị cất giọng khàn khàn:
- Mầy là ai? Muốn gì?
Nó hơi bất mãn. Từ lúc về lại đây, chưa có ai gọi nó bằng tiếng mầy ngang ngược. Ông già này vẫn không bỏ cái tật phách lối cũ. Nó định cự lại, nhưng không hiểu nghĩ sao, nó dằn xuống. Nó trình bày hoàn cảnh với ông giám thị và bày tỏ ý muốn được nói chuyện với thầy Nguyễn văn Y. Dứt câu, nó chờ đợi ở ông già chút kính trọng hoặc nể nang như nó thường gặp ở những người khác. Nhưng trái với nó nghĩ, ông già vẫn không thay đổi thái độ. Vẫn ánh mắt lạnh lùng và giọng nói khàn khàn, ông khoát tay bảo là hôm nay thầy Y không có giờ, mai hãy đến. Nó còn đang định xin được vào thăm lại lớp học xưa nhưng thấy thái độ của ông già như thế, nó bỗng nổi sùng, bỏ đi thẳng, không quên nói vói lại dăm câu tiếng Ðức.
Lần thứ hai nó đến, thầy Y tiếp nó trong văn phòng. Ðúng như nó nghĩ, ông thầy ngày xưa giờ ốm yếu, bàu nhàu. Thoạt đầu ông không nhận ra nô Phải mấy phút sau, lúc nó kể về tật ngủ gật và những rổ trứng, ông mới nhớ ra. Trên đôi môi khô héo bây giờ mới nở một nụ cười héo hắt. Ông gật gật đầu nhìn nó, hỏi:
- Và bây giờ anh về đây để thăm lại trường xưa, lớp cũ?
- Dạ, và sẵn dịp con có mang đến cho thầy chút quà mọn để gọi là đền đáp chút nghĩa thầy trò. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, thầy bao giờ cũng là thầy của con.
Nó lễ phép đặt gói quà bao giấy kiếng, buộc nơ cẩn thận lên trên bàn. Ðồng thời nó bỗng cảm thấy ngạc nhiên với chính nó khi nói ra những câu nó không định nói! Ðứng trước ông thầy nhỏ bé, những đay nghiến chua cay mà nó ấp ủ trong lòng đột nhiên biến mất. Cái oai ngày xưa của người thầy vẫn còn dù năm tháng nhọc nhằn có làm cho xác thân ông tiều tụy. Trong phút chốc, lương tri của nó chợt sống dậy. Nó xúc động thật tình khi nhìn gương mặt nhăn nheo của ông và thân thể gầy ốm trong chiếc áo sơ-mi sờn vai, rách cổ. Tóc ông bạc nhiều và đôi mắt đã mất hẳn vẻ tinh anh xưa. Và gói quà. Gói quà được xem như một khoe khoang, như một thành công thì bây giờ lại chất chứa cả tấm lòng của nó. Thật lạ. Con người là một sinh vật khó hiểu. Có lúc tàn nhẫn vô nhân và có lúc rộng lượng bao dung. Có lúc ác độc khôn lường và có lúc vị tha bác ái. Cái ranh giới giữa thiện và ác chỉ là một gạch nhỏ khe chừng sợi tóc. Buông dao đồ tể là thành Phật. Nó không là kẻ sát nhân và lại càng không là vị chân tu. Nó chỉ là một con người. Thế nên khi đứng trước người thầy mắt mờ gối mỏi, nó không nhẫn tâm nói ra những lời cay đắng.
Ông thầy nhìn gói quà, nhìn nô Người ông run lên. Ông xúc động hay ông vui mừng? Thật lâu, ông mới cất tiếng:
- Ðược anh nhớ đến tình nghĩa xưa mà đến thăm đã là quý hóa lắm rồi, còn bày vẻ quà cáp làm gì cho thêm phiền. Tôi không dám nhận đâu, anh mang về đi.
Nó sửng sốt. Ðây là lần đầu tiên, kể từ ngày nó về lại đây, có người không nhận quà nó cho. Nó bối rối thưa:
- Thưa thầy. Con biết một chút đó không có nghĩa gì so với công lao của thầy. Nhưng đó là cả tấm lòng của con. Mong thầy nhận dùm con.
Ông thầy đứng lên, đi đến bên cửa sổ, vén màn nhìn ra. Giọng ông xa vắng:
- Anh về lại đây đã bao lâu?
- Dạ gần tháng nay.
- Anh đã kiếm được cái anh đi tìm chưa?
Nó ngơ ngác.
- Thưa thầy, con có đi kiếm cái gì đâu?
- Thế thì anh về đây để làm gì?
Nó bối rối.
- Con....
Ông thầy đột nhiên quay sang, ánh mắt nghiêm nghị nhìn nó:
- Anh đừng nói với tôi những gì anh không thật tâm nghĩ. Tôi nghe nhiều và cũng chán lắm rồi. Hãy nói thật lòng anh. Có phải anh về đây để thụ hưởng và để khoe khoang. Có đúng thế không?
Nó còn đang không biết trả lời sao thì ông thầy đã quay nhìn lại hướng cũ. Giọng ông đều và sắc:
- Gần tháng nay anh đã đi những đâu và thấy được những gì. Anh đã thấy những thay đổi gì và những gì không thay đổi. Cái không thay đổi là tình trạng nghèo nàn, cuộc sống quá cực khổ của người Việt Nam và cái thay đổi chính là anh. Anh nhìn ra trước cửa trường mà xem. Tất cả vẫn đều y nguyên như lúc anh chưa đi. Gánh bún riêu của bà Tư, xe nước mía của chị Năm, ông già bán kẹo kéo, ông Tàu bò bía v.v... đều lam lũ như xưa. Có phần còn rách nát, tồi tệ thêm hơn. Cuộc sống tăm tối muộn phiền cứ đè mãi lên đầu những người nghèo hèn túng quẩn. Tôi mỗi ngày đều đứng ở vị trí này, nhìn ra ngoài kia mà lòng đau như cắt. Những đứa bé ốm yếu, quần áo rách nát dơ bẩn, tay trái xách bị, tay phải cầm cây đi lượm bao ny-long, lượm giấy rách. Và cũng những em bé đó hàng ngày chầu chực bên hàng quán để chờ húp chút thức ăn thừa hòng lây lất sống qua ngày. Khổ đau ngần ấy chưa đủ hay sao mà các anh còn về đây để tạo thêm bao ngang trái. Ngày xưa trong lớp học anh ngủ gật thì ngày nay anh vẫn chưa tỉnh. Tôi sống đến ngần này, tai nghe mắt thấy cũng nhiều nhưng chưa bao giờ thấy những cảnh tượng lố lăng như ở thời buổi hôm nay. Tôi dạy ở trường này cũng đã gần bốn mươi mấy năm, từng nhìn những thế hệ trẻ lớn lên. Lòng cứ mong cho lớp trẻ như anh, sau mấy năm trời ăn học ngoài kia, nhìn xa trông rộng hẳn phải biết làm gì cho non sông giàu mạnh, cho dân tộc nở mặt nở mày. Nhưng các anh đã làm cho tôi thất vọng thật nhiều. Tôi không có duyên dạy anh nên người thì cũng không mong những lời nói này sẽ giúp ích được gì cho tầm nhận thức quá giới hạn của anh. Tôi có giờ phải lên lớp ngay, không tiện nói nhiều với anh. Nếu anh vẫn còn giữ ý định thăm lại lớp cũ thì xin anh cứ tự nhiên. Gói quà mà anh mang đến đó, anh nên mang về đi. Tôi không dám nhận đâu.
Nó ngồi sững trên ghế, nhìn ông giáo già mở cửa bước ra. Nó nhìn lên gói quà, nhìn lại bộ quần áo sang trọng nó mặc trên người và nhìn quanh căn phòng bài trí thô sơ, nhờ tối vì ánh đèn không đủ sáng. Trong phút chốc, lòng nó bỗng dâng lên một chút hối hận. Lời nói của ông giáo già vẫn vang vang bên tai. Anh đã thấy những thay đổi gì và những gì không thay đổi. Nó thấy chứ. Thấy rõ nữa là khác. Nhưng nó không muốn biết. Hay nói rõ hơn nó không dám nhìn để biết. Nó sợ phải nhìn lại một nó tang thương, lấm lem đứng bán từng trái chanh, trái ớt. Nó sợ phải nhìn lại cái quá khứ nghèo nàn khốn khổ của nó ngày xưa, dầu nó biết rằng đó chính là hiện tại của hầu hết những người Việt Nam hiện nay. Nó muốn quên để sống. Nó muốn lấy hình ảnh của anh Năm kỹ sư sang trọng hôm nay để xóa nhòa hình ảnh thằng Năm Cu cù bơ cù bất ngày trước. Nó thấy nó ích kỷ, nhỏ nhen. Nó để lại gói quà trên bàn, bước ra, lòng nặng những suy tư.
Lớp học vắng hoe. Nó thẩn thờ bước đến chỗ ngồi cũ, đưa tay rờ rẫm lên mặt bàn sần sùi, rạn nức. Xúc động làm mắt nó cay cay. Nó có một thời học trò học hành bết bát nhưng cũng có những kỷ niệm học trò đáng nhớ. Kỷ niệm tưởng đã chết nhưng vẫn sống ở trong lòng. Chín năm trời xa cách nó không một lần nhớ đến nhưng hôm nay tất cả như bừng sống dậy mãnh liệt. Bàn ghế vô tri không biết nói nhưng ai bảo bàn ghế không có linh hồn? Nó thoáng nghe đâu đây tiếng ồn ào của lũ bạn và tiếng giảng bài sang sảng của thầy cô. Thầy cô xưa giờ tan tác nơi đâu và bạn bè cũ giờ phiêu bạc nơi nào? Nó đi lên bục gỗ. Khoanh tay nhìn bảng xanh. Vết lau không kỷ còn lờ mờ phấn trắng. Nó quay người lại, nhìn xuống dưới. Bàn ghế im lìm. Những khẩu hiệu trên tường cũng im lìm. Ðầu tiên ta học i tờ, mai sau giúp nước dựng cờ thua ai. I tờ thì nó thuộc nhưng giúp nước dựng cờ thì nó quên. Nó là đứa học trò cá biệt trong lớp, cứ tưởng sau này lớn lên sẽ khá hơn, ai ngờ vẫn thế. Nó lắc đầu buồn bã.
Có tiếng động, nó quay sang. Một cô bé tay cầm chổi, tay xách xô xuất hiện trước ngưỡng cửa. Thấy nó, cô nhỏ giật mình.
- Ông là ai? Cô nhỏ cất tiếng hỏi.
- Tôi là học trò cũ.
- Ông là học trò cũ? Cô nhỏ lập lại.
Nó gật đầu, chỉ tay về phía dãy bàn cuối.
- Chín năm về trước tôi ngồi ở chỗ đó.
Cô nhỏ nhìn nó, giọng ngập ngừng:
- Tôi có làm phiền ông không? Hay là một chút nữa tôi trở lại?
Nó khoát tay, hấp tấp:
- Không đâu. Cô cứ làm. Cô có giờ lao động phải không? Lúc trước tôi cũng thế, nhưng vui hơn nhiều. Làm xong rủ nhau đi bơi, đi đánh bóng bàn... Cô có một mình thôi sao? Mà sao hôm nay vắng vẻ thế này?
Cô nhỏ mỉm cười khi thấy vẻ náo nức trong giọng nói của nó. Cô nhỏ để xô nước xuống sàn, dựa người vào khung cửa.
- Hôm nay khu này đi lao động trồng cây dâng Bác. Còn những người bạn khác của tôi thì làm ở tầng dưới. Tôi phụ trách tầng này. Cũng gần xong rồi, chỉ còn lớp này thôi.
Nó chỉ tay quanh phòng.
- Ở đây tất cả đều như xưa. Có khác là hình ông Mao đã bị gỡ đi, cả khẩu hiệu tình hữu nghị Việt-Hoa gì đó cũng thế. Cô thấy khẩu hiệu treo phía dưới đó không? Chính tay tôi cắt dán đó.
Cô nhỏ nhìn theo hướng tay nó chỉ. Ðôi mắt cô bé chớp chớp. Nó ngạc nhiên nghe trong giọng nói của mình có vẻ gì đó sôi nổi. Chỉ có mấy tiếng đồng hồ mà tâm trạng của nó thay đổi liền liền. Nó nhìn cô nhỏ, cô nhỏ nhìn nó, đôi mắt tròn sáng, thông minh. Nó chợt thấy bối rối, vụng về.
- Cô chưa hỏi tôi từ đâu đến.
- Tôi biết.
- Cô biết?
- Nhìn cách ăn mặt và lối nói chuyện của ông, tôi biết ông từ đâu đến. Ông là Việt kiều về thăm quê hương có phải không?
Nó hơi khó chịu. Nó vốn có mặc cảm với tiếng Việt kiều.
- Về thăm quê hương thì đúng nhưng Việt kiều thì không.
Cô nhỏ nghiêng đầu nhìn nó, tinh nghịch.
- Ông không là Việt kiều. Vậy ông là gì?
Nó nhún vai.
- Tôi là tôi.
- Ông là ông. Giọng cô nhỏ giểu cợt làm nó khó chịu.
- Tôi là tôi. Bộ phải đợi là cái gì mới được quyền trở về sao? Nó nghe nó mâu thuẫn với chính nô
- Ông đã kiếm thấy cái ông định tìm chưa?
Câu hỏi bất ngờ làm nó ngạc nhiên nhìn sững cô nhỏ. Câu hỏi sao giống y như câu hỏi của ông giáo già. Tại sao? Nó bực mình.
- Cô nhỏ này. Tại sao cô lại cắc cớ hỏi chi những câu hỏi khó khăn như thế. Tôi là người Việt Nam xa quê hương, lâu ngày thấy nhớ thì về thăm, chứ có định tìm kiếm gì đâu.
Cô nhỏ vẫn từ tốn.
- Ông đừng nổi giận. Tôi không có ý chọc tức ông đâu. Chẳng qua tôi gặp nhiều người từ nước ngoài về, bảo là họ muốn về để tìm lại con người thật của họ, tìm lại hồn dân tộc, tìm lại tình quê hương và còn định tìm kiếm nhiều thứ khác nữa. Ông đến đây chắc cũng không ngoài ý muốn tìm lại những kỷ niệm xưa, thời học trò phá phách. Có phải thế không ông?
Nó choáng váng trước câu hỏi của cô nhỏ. Mình định tìm kiếm cái gì và đã kiếm thấy chưa?
- Ông bảo là nhớ quê hương nên về thăm. Có thật thế không?
Nó lảng mắt nhìn ra xa. Có tiếng the thé phát ra từ cái loa treo cạnh tường: Mời thầy cô giáo sau giờ dạy ra xếp hàng lãnh đầu cá.
- Cô có vẻ không thích những người trở về?
- Tôi thì có quyền gì mà thích với không thích. Sao ông không hỏi thử lại ông xem. Ông về đây là đúng hay sai?
- Tại sao sai? Tôi không thấy việc trở về của tôi làm hại ai cả. Vả lại, người Việt Nam bỏ nước ra đi, nếu có dịp và được quyền thì nên về lại chứ. Tôi lớn lên ở một nước tự do, tôn trọng nếp sống riêng tư và quyền tự do lựa chọn của mỗi người. Tôi có quyền làm bất cứ những gì tôi thích. Tôi... tự do mà. Hơn nữa, cô không ở ngoài đó nên không biết. Ở ngoài đó, trăm người như một, khi được hỏi là có thích về lại Việt Nam không, ai cũng trả lời có. Tôi về là để thực hiện ý nghĩa của câu trả lời đó. Thế thôi.
Nó bằng lòng nó quá. Gì chứ đem chuyện ngoài kia ra hù là nghề của chàng mà. Nó nhìn cô nhỏ đắc thắng.
- Sao? Cô thấy tôi nói đúng chứ?
Cô nhỏ lắc đầu. Nó hỏi dồn.
- Cô nghĩ sao?
- Tôi sẽ nói những gì tôi nghĩ, nếu ông không giận.
- Cô cứ nói đi. Tôi không giận đâu.
- Ông chắc không giận? Cô nhỏ cẩn thận hỏi lại.
- Bảo đảm mà. Nó gật đầu xác nhận.
- Tôi nghĩ ông hiểu lầm hai chữ tự do rồi. Tôi tuy chỉ là một con bé quê mùa dốt nát nhưng cũng hiểu được rằng thứ tự do mà ông vừa nói đó là thứ tự do ích kỷ, thứ tự do của những con ếch không nhìn quá miệng giếng và là thứ tự do nhỏ nhen, thiển cận. Tự do đích thực là tự do gắn liền với trách nhiệm và bổn phận. Ðúng như ông nói đó, chuyện ở ngoài kia tôi không rành, tôi muốn nói chuyện ở trong này. Ông có biết là cũng vì những người trở về như ông mà xã hội Việt Nam thêm một lần nữa đảo lộn, nảy sinh ra biết bao tệ nạn khác. Những cô gái vì tiền, phải bán rẻ tiếc trinh cho những tên du thủ du thực, thiếu lương tri nhưng thừa thải bạc tiền. Ðồng tiền các ông vung ra mua lấy những trận cười, đồng thời cũng cắt phăng đi những lễ giáo nho phong truyền từ mấy ngàn năm trước. Các ông ăn sung mặc sướng trong khi đó chung quanh các ông đầy dẫy những người cả đọi chỉ mơ ước có được bữa cơm no. Vật chất đã quá thiếu thốn mà các ông còn hành hạ tinh thần họ bằng lối tiêu xài phung phí. Tiếng loa phát ra ban nãy, ông chắc có nghe đó chứ. Một chút đây thôi, ông sẽ thấy. Từng hàng dài thầy cô giáo đứng xếp hàng chờ lãnh dăm đầu cá ươn! Ông sẽ thấy những cô giáo, ông thầy cúi mặt không dám nhìn đám học trò và cũng có người thản nhiên treo đầu cá trên tay lái, đạp xe đi ngời ngời giữa phố. Ông tưởng người ta ở đây kính trọng ông lắm sao? Ông lầm rồi. Người ta trọng là trọng những đồng tiền ông mang theo kìa, còn con người của các ông thì người ta khinh miệt. Ông bảo với tôi là nhớ quê hương nên về thăm. Ông nói thật đó chứ. Tội nghiệp quê hương! Vì không biết nói nên mặc tình ông muốn nói sao cũng được. Nhưng nhớ quê hương mà trở về như cách của ông thì đau lòng cho quê hương quá. Nếu có thật sự thương nhớ quê hương thì phải biết nghĩ đến quê hương và làm sao cho quê hương thôi tang tóc, cho những người sống trên quê hương bớt nhọc nhằn, đói khổ. Tôi chưa từng rời xa Việt Nam nên không biết cái nhớ Việt Nam nó ray rức, dằn dặt như thế nào, nhưng chắc chắn là không nhiều cho đến độ khiến người ta nhơn nhơn trở về mang theo hàng bó bạc, ăn xài phung phí, tiêu pha như một ông hoàng; rồi khi hết nhớ quê hương vì túi tiền đã cạn, người ta phủi đít bỏ đi, bỏ mặc quê hương với những lầm than, những cơ cực và một tương lai tăm tối. Có ở trên quê hương mới nghe được tiếng nấc quê hương và thấy được những tủi hổ mà quê hương âm thầm chịu đưng khi nhìn những kẻ nhớ quê hương lê bàn chân vong bản đi khắp những nẽo đường đất nước. Có ở trên quê hương mới cảm nhận được những đau đớn ê chề mà quê hương gồng mình gánh chịu khi nhìn những kẻ nhớ quê hương đem quê hương ra làm vật bung xung cho ý đồ đê hèn, độc ác. Có ở trên quê hương mới thấy được những giọt nước mắt tròn trĩnh lăn dài trên gương mặt hốc hác của quê hương khi nhìn những kẻ nhớ quê hương võng lọng nghênh ngang trước xơ xác điêu tàn của quê hương. Và có ở trên quê hương mới biết đau cái đau của quê hương khi bất lực nhìn những kẻ nhớ quê hương điềm nhiên dùng bạc tiền cứa nát quê hương ra làm nhiều mảnh. Quê hương là quê hương của những người sống chết vì quê hương chứ không bao giờ là của những người nhớ quê hương bằng mỏ nhọn diều hâu, bằng móng vuốc kênh kênh và bằng tâm địa rắn rít.
Thoạt đầu, nó giận ghê gớm. Cô nhỏ là cái thá gì mà dám miệt thị nó như vậy. Máu nóng dồn lên mặt, nó chỉ muốn đi đến tặng lên mặt con bé hổn hào kia vài cái tát. Tay nó run lên và đầu óc nó quay cuồng. Nó bỗng nghe một nỗi sợ hãi khoanh tròn trong trí. Sợ con bé kia ư? Vô lý. Con bé yếu đuối kia thì có gì đáng sợ. Nó sợ là sợ những lời nói kia kìa. Những lời nói sắc như gươm, bén như thủy tinh cứa nát tâm hồn nô Nó sợ vì những lời nói của con bé không hẳn hoàn toàn vô lý. Nó thấy nó như người đang đi trên giây bỗng mất thăng bằng té lộn đầu xuống đất vì một cơn gió nhẹ. Nó thấy nó trần truồng và yếu đuối. Người nó nổi gai như khi nghe tiếng phấn kéo trên nền bảng đen. Nó nhìn cô nhỏ, vẫn đôi mắt to đen, thông minh. Cô nhỏ chỉ đáng tuổi em út nó nhưng sao lại có những nghĩ suy như một người lớn. Nó nhìn lại nó và trong phút chốc, nó như thấy lại cả một thời ấu thơ lang thang lếch thếch. Tuổi thơ của nó biết bao thua thiệt và nó luôn luôn là đứa đứng ngoài những cuộc vui. Bạn bè không xa lánh nhưng cũng không vồn vã gọi mời. Nó lạc lõng nơi sân trường, lủi thủi một mình và thường hay đứng tần ngần, thèm muốn nhìn những cuộc vui của bạn bè quanh nô Nó cô đơn trong lớp học với thế giới riêng tư của nó là cánh cửa sổ trông lên một khoảng trời bát ngát. Nó mơ đủ thứ và những giấc ngủ chập chờn giúp nó quên đi được phần nào những tủi buồn bao quanh nó hàng ngày. Rồi khi được xổ cánh bay xa, con chim côi cút là nó giang rộng đôi cánh nhỏ bé bay đến một khung trời thật xa thật lẫ Nơi vùng đất mới, nó cố quên dĩ vãng nghèo nàn để gầy dựng một tương lai mới. Cuộc sống chắn hẳn từ đây sẽ đổi mới, nó nghĩ thế. Nhưng nó đã lầm. Trong chín năm dài nơi đất lạ, nó vẫn là cái bóng bên cạnh những hoạt náo xô bồ. Có lúc nó muốn bỏ mặc cho giòng đời muốn cuốn nó đi đâu thì cuốn, đưa nó đến đâu cũng được. Nhưng nó yếu đuối như một con sên nên luôn luôn bị những đợt sóng đời dìm nó xuống, tặng nó những cú đấm ngất ngư rồi bỏ mặc nó quay cuồng giữa giòng nước xoáy. Nó hụt hẩng và bơ vơ, cô đơn và bối rối. Nó rút vào vỏ ốc và cẩn thận dựng chung quanh nó một hàng rào chắn chắn. Từ trong hàng rào, nó nhìn ra cuộc đời bên ngoài với tâm trạng vừa thù hằn vừa thương tiếc, vừa kinh sợ vừa thèm khát. Nó luôn luôn là kẻ đứng ngoài.
Sống trong một xã hội tương đối sung túc, không làm vẫn có miếng ăn, nó chán nản buông trôi tất cả. Có gì đâu mà nắm gi Ngày ngày ru mình trong căn gác nhỏ và tháng tháng ra sở xã hội lãnh tiền, tiếng Na Uy nó không thèm học còn đi làm thì nó không thích. Làm cho lắm tắm cũng ở truồng. Nó nghĩ vậy nên tử thủ ở nhà và chỉ chịu khó ra làm chui những việc ngoài đồng vào mỗi mùa hè. Nhờ tiết kiệm và ăn xài hạn chế, nó dành dụm được một số tiền và cất cả vào nhà băng. Một ngày nào đó thời của nó sẽ dến, nó nhủ thầm như vậy. Khương tử nha già khằn cú đế mới được ra làm quan, còn nó chỉ mới có hăm mấy, trẻ măng.
Thời của nó rồi cũng đến. Khi nghe nhà nước Việt cộng mở cửa, cho dân nước ngoài được phép về thăm lại Việt Nam, nó mừng hết lớn. Nó đi ra nhà băng rút hết số tiền dành dụm từ mấy năm nay, cộng thêm với vay mượn đầu này một chút đầu kia một chút, nó bay qua Stockholm xin chiếu khán ở tòa Ðại sứ Việt cộng và chẳng bao lâu, nó đáp chuyến bay từ Bangkok về thành Hồ.
Và bây giờ nó đứng đây, trước mặt cô bé xa lạ. Nó nghe mỏi mệt chạy dài trên người và cảm thấy bải hoải cả toàn thân. Nó đã kiếm thấy cái nó định tìm chưa? Ông giáo già và cô nhỏ đều hỏi nó một câu hỏi. Còn riêng nó, có bao giờ nó đặt cho nó một câu hỏi như thế chưa? Gần tháng trời sống trong nhung lụa, quay cuồng với bao trò vui, có bao giờ nó nghe tiếng khóc của quê hương, cảm nhận được tiếng thì thầm trách móc của non sông và thấy được nét tuyệt vọng của đất nước? Trong một giây, nó bỗng hiểu được tất cả những phi lý và bất công mà cuộc đời luôn dành cho nô Nó hiểu được tại sao nó luôn là kẻ đứng ngoài và luôn đến trễ mọi trò vui. Nếu dễ dãi gọi đó là chân lý, thì nó đã tìm ra được ở một nơi nó không bao giờ ngờ đến. Cuộc đời luôn có những bất ngờ thật dễ thương. Nó muốn nhào tới ôm cô nhỏ vào lòng, kéo cô nhỏ chạy đến trước mặt ông giáo già và hét lớn: Thưa thầy, con đã tìm thấy cái con không định tìm vào lúc mà con không ngờ đến!!!
Cám ơn. Cám ơn thầy. Cám ơn cô nhỏ. Cám ơn trường xưa, lớp cũ. Cám ơn Việt Nam.
Hà Ðình Lan