vhnt, số 328
11 September 1997
Trong số này:
thư vhnt........................................................... BBT
T h ơ:
1 - Hẹn Hò................................................ Ðan Thanh
2 - Sợi Tóc..................................................... DKV
3 - Kim Sa......................................... Nguyễn Bá Quốc
4 - Trăng, Ðêm, Tình Nhân............................. Tường Vi
5 - Chọn Lựa..................................... Trần Minh Hiền
6 - Về Ðâu Em.......................................... Minh Khiêm
7 - Thoáng Thu................................................. Ý Nhi
8 - Lục Bát Cho Tình Yêu......................... Từ Ðông Nghị
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Một năm, nhìn lại dấu chân mình........ Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10- Hậu chiến.................................... Trần Hoài Thư
Bạn thân mến! Nếu có đôi người đang có cái nhìn bi quan về một nền văn học hải ngoại qua vài sự việc như sáng tác, phát hành, văn bút... thì ngược lại, cũng có người đã nhận xét rằng tạp chí vhnt mà bạn đang đọc lại là một trong những môi trường văn học nghệ thuật trong sáng của một số đông bạn trẻ trên net, từ khắp nơi trên thế giới. Tạp chí vhnt lớn mạnh một cách thầm lặng, đầy vững chải nhờ tính cách cộng sinh ( tấm lòng yêu nghệ thuật, ước mong duy trì văn hóa dân tộc giữa những người cộng tác và bạn đọc), hơn là mang tính cách ký sinh của một môi trường chữ nghĩa mang tính thương mại hay danh lợi.
Chính trong ý nghĩa đó, chúng tôi xin phép tác giả Lương Thư Trung để phổ biến tâm tình của chính tác gỉa qua bài "Một năm, nhìn lại dấu chân mình" như một nhìn nhận, ghi dấu một năm trời đến với vhnt và những phản hồi từ bạn bè, từ lớp đàn em trong hay ngoài vhnt. Chúng tôi không cảm nhận tính cách riêng tư trong bài viết mà ghi nhận như một tâm tình giữa người đọc-viết với vhnt, giữa lớp đàn anh với thế hệ trẻ, giữa cái tình tự quê hương trong sự tăng tốc của một môi trường vật chất, kỹ thuật trên xứ người mà chúng ta đang sống. Và chúng tôi cũng không giới thiệu về tác gỉa, anh Lương Thư Trung, bởi vì những bài viết đầy ắp một quê hương Việt nam với những chú chuột đồng, với hạt lúa Thần nông, với những chiếc ghe bầu... đã là những giới thiệu quá đầy đủ về tấm lòng và khả năng cảm nhận hay sáng tác phong phú của anh.
Mong sao chúng ta sẽ đón nhận thêm nhiều tấm lòng như vậy trên vhnt. Nhưng quan trọng hơn là xin cảm ơn những tín hiệu đồng cảm, sự phản hồi từ phía bạn đọc, để nguồn cảm hứng, sự say mê nghệ thuật trên vhnt luôn là một ruộng lúa xanh tươi, trĩu nặng bông hạt.
Thân ái,
Ðinh Yên Thảo/vhnt
Hẹn Hò
Có sớm mai nắng mềm lụa bạch
Cỏ ướt sương không nở nụ cười
Có người đi hẹn ngày trở lại
Lời hẹn mờ
Tan loãng xám hư vô
Lời hẹn mang màu ngọc trai
Nằm hiền trong con sò nhỏ
Lãng quên dưới đáy cuộc đời
Ðợi chờ cũ như mặt đất
Vỡ niềm tin
Buổi sớm
Chạy nhầu trên đồi cỏ
Chân rướm máu
Cỏ rướm máu
rối mù nỗi đau dịu dàng
Tôi dang tay ôm mớ thời gian
Nhìn những hạt sương tan dưới mặt trời
Ngậm ngùi niềm vui hoang tưởng
Làm sao nghe cỏ hát. Tôi ơi.
Nhắm mắt.
Cỏ ấm mềm đau môi
Nằm yên nghe nỗi chết
Ðang đùa vui trên đồi
Lời hẹn kia còn đó
Như con sò nhỏ
Ngủ hoài dưới đáy biển sâu.
Ðan Thanh
Sợi Tóc
Nghe ra sợi tóc thở dài
Nhìn quanh mới biết tháng ngày qua đi
Ngỡ rằng sợi tóc vô tri
Ngờ đâu sợi tóc lâm ly cuộc đời!
Với tay vén sợi tóc rời
Chợt vu vơ thấy phương trời chia đôi
Trắng đen xen kẽ bồi hồi
Cô liêu túa rễ đâm chồi xuyên tâm...
DKV
Kim Sa
Ðưa em về giọt lệ cầu kinh
Chiều chủ nhật vô tình đánh mất
Rất tin yêu em không là thật
Tuổi đá hờn tình vật chia haị
Ðưa em về tình đã nhạt phai
Chỉ còn lại phôi thai sóng gió
Có thầm lặng con tim bỏ ngỏ
Hạt cát vàng! sao nước cuốn trôị
Ðưa em về lãng đãng cơn say
Tay với lấy bàn tay mười tám
Chưa nói hết những điều không dám
Dạm lối đi mây lá mưa sa
Ðưa em về còn lại mình ta
Lòng ôm mộng rời xa tay với
Tình vội đến vội đi không đợi
Ta một mình vun xới niềm đau
Ðưa em về mình lại xa nhau
Xa rất vội như yêu cũng vội
Trái tim hoang bao lần đau nhói
Khói tre làng quanh quẩn chiều xa.
Nguyễn Bá Quốc
Trăng, Ðêm, Tình Nhân
Trăng nằm cong rạng rỡ
Vẽ tròn đường thu phân
Ðêm thơm như dòng sữa
Mở vòng tay tình nhân
Ðầu mùa trăng lá khuyết
Ðêm dạt dào bâng khuâng
Trăng xanh tình biêng biếc
Chảy tan tành đêm xuân
Ðêm như dòng sông rộng
Thuyền trăng trôi lênh đênh
Cuối trời là bến mộng
Thuyền ơi, sông mông mênh...
Mai, xin làm kiếp khác
Anh là đêm xuân xanh
Em là vầng trăng biếc
Về trong đêm... long lanh...
tường vi
Chọn Lựa
Giữa nắng và mưa
Giữa đường mòn và thử thách
Giữa tình yêu và sự nghiệp
Tương lai và ngày xưa
Anh phải chọn lựa
Giữa nước và lửa
Giữa em và những điều hứa hẹn
Giữa mẹ và cha
Giữa núi rừng và biển cả
Phải chọn một mà thôi
Ðêm trung thu mà mây mù mưa gió
Văn nghệ có nghĩa gì
Trong thế giới đầy âu lo
Tiến lên hay tụt hậu
Nên chọn một thôi em
Giữa em và hàng ngàn cô gái khác
Giữa anh và hàng ngàn kẻ khác
Giữa thơ ca và tiền bạc
Giữa bần hàn và giàu sang
Chỉ chọn một thôi bạn
Những tai nạn bất ngờ
Cướp đi những người tài ba nhất
Hay những người tìm đến cái chết
Ðể sao đêm rơi xuống sững sờ
Giữa ngã tư rẽ ngoặt cuộc đời
Anh nhắm mắt bước về một hướng
Phía có em phía có mẹ già
Có những người mà anh yêu mến
Chẳng có gì hối hận
Chẳng có gì mất cả
Chân trời kia ánh sáng trong ngần
Ðôi mắt ấy bộ ngực tròn son trẻ
Nụ hoa kia son sắt lối về
Anh lựa chọn giữa những điều phi lý
Anh là ai anh tự hỏi chính mình
Và anh biết cánh buồm ngày xưa đó
Vẫn đợi chờ ngày sóng gió trời thơ
Cho cháy nóng một mặt trời vô định
Trang sách nào sưởi ấm nổi lòng anh
Trần Minh Hiền
Về Ðâu Em?
Em chiều nay về đâu
Khi cơn sầu lắng đọng
Gói hành trang trong chiều gió lộng
Nỗi lo toan trĩu nặng bờ vai.
Ta chiều nay lạc loài
Lang thang trên xứ lạ
Ta nhìn tuổi thơ trôi qua
Ðời sống mang từng phút nhạt nhòa...
Ta thấy em xa lạ
Tóc quấn tròn vàng hoe
Quần áo khoe khoang, dáng nhìn vong bản
Còn đâu người con gái Việt Nam
Em còn nhớ gì không?
Mảnh đất cong cong bên miền duyên hải
Bao năm dài dầm mưa dãi nắng
Giờ có về bên em trong giấc mơ?
Em còn nhớ tiếng kinh ngày xưa
Ðiệu ru trầm đưa em vào cuộc sống
Giòng sông xanh một thời nuôi nấng
Và biển hiền che chở tấm thân em.
Ta vẫn hoài nhung nhớ
Dù tháng năm xóa mờ tuổi thơ
Hình ảnh quê hương vọng về trong mơ
Vào những đêm mưa phùn đất khách
Quê hương ơi bao năm trời xa cách
Ta mất lối về trong cảnh cuồn phong
Ta lạc loài kiếp sống lưu vong
Lòng mỏi mong ngày về tổ ấm.
Chiều nay em về đâu
Khi con tàu vang còi rời bến
Sân ga buồn tên không người đưa tiễn
Em đi một mình về tuyến đường xa
Ta đứng bên này nhìn qua
Lòng thoáng buồn vời vợi
Mình đi ngược giòng đời
Dù đã một lần xuất thân cùng bến...
Minh Khiêm
Thoáng Thu
gửi cho 2 năm về trước
Nếu như Thu không đến
Sắc lá có vàng không?
Nếu như ta đi mất
Ai có sầu mênh mông?
Mây kia bay thật thấp
Lá cũng bỏ thân cây
Buồn ơi sai mi mấp
Ðể ta bồng bềnh... mây
Lặng buồn ta đứng ngắm
Gió lạnh đã trở về
Nơi cõi lòng sâu thẳm
Buồn dâng lên tái tê...
Thu hai năm thưở trước
Hồn thơ vẫn mơ màng
Vẫn ngây thơ nhẹ bước
Nào đã biết lang thang...!!!
Nay gió Thu chợt đến
Sao như thấy mơ hồ
Bao kỷ niệm yêu mến
Giờ chỉ còn trong mơ...!!!
Ý Nhi
6-8 cho tình yêu
nén tiếng
em đừng nhắc chuyện ngày xưa
qua rồi, nhắc lại, cũng thừa mà thôi
em đừng son phấn trên môi
phấn son để lại cho đời, nghe em
và em đừng nói gì thêm
nhìn nhau. cũng đủ. một đêm. cả đời.
lời trăm năm gọi
ta yêu em những ngày xưa
tiền thân thơ dại là mưa bắt cầu
ta yêu em những ngày đầu
tháng năm còn lại, bạc đầu bên em
về đây nghe em, về đây nghe em
mùa ngâu tháng bảy bên thềm đã rơi
đớn đau, xin hãy qua rồi
giận hờn mỗi đứa một nơi mà gì
có nghe trong bước em đi
lời trăm năm gọi, mưa thì thầm rơi
tình êm dưới gót
với em, ta đã một lần
xích đu hạnh phúc, cho trần gian vui
với em, cũng một lần thôi
vuột tay. té xuống. lìa đời trong nhau.
có không em, những lần sau
cho lần sau nữa, niềm đau không còn
tình êm dưới gót chân son
từ đông nghị
MỘT NĂM, NHÌN LẠI DẤU CHÂN MÌNH
Thắm thoát mà ngày tháng trôi qua nhanh quá! Mới đó, mà đã tròn một năm với bốn mùa thời tiết đổi thay, trời đất tuần hoàn. Mùa Thu năm ngoái rồi lại mùa Thu năm này, đánh dấu một năm tôi làm quen với tạp chí Văn Học Nghệ Thuật, qua giới thiệu của nhà văn Trần Hoài Thư. Những dòng chữ chập chững trong "Thi Ca Như Một Dòng Sông" được đăng trên Văn Học Nghệ Thuật số 223 ngày 4-9-96. Thú thật, lúc bấy giờ, lòng tôi hạnh phúc vô cùng vì những ý nghĩ giản dị trong bài viết lại được mang đến những người bạn trẻ trên cõi siêu không gian lạ hoắc, lạ huơ này!
Rồi dần dà, như người nhà quê quen đường sau lần đầu lên Sài Gòn, vài bài viết nữa lại tiếp tục lượn lờ qua trước cửa nhà của những người bạn trẻ như những bước đi dọ dẫm, cục mịch còn dính đầy phèn. Chẳng hạn, "Người bạn thương binh" trên VHNT số 232 ngày 02-10-96. Nhưng có lẽ "Thư Gửi Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật Internet" vào những ngày đầu Thu 1996 là những lời tâm tình tha thiết nhất, đánh dấu một gần gũi giữa một người thế hệ trước với những người trẻ bây giờ. Lá thư gửi đi từ một người tuy chưa già cỗi, nhưng đầy ấp cái chất quê mùa, sao tôi thấy trong lòng nôn nao lạ! Tôi đang như chờ đợi một hồi âm, một tiếng vọng từ những bạn trẻ. Trong mấy hôm đợi chờ, nhiều lúc, tự dưng nghĩ lại sao mình lại liều lĩnh viết những dòng chữ quá chân thật cho những người trẻ học hành thành đạt mà mình chưa quen thân. Như mấy dòng này: "... Dù kém cỏi về nhiều phương diện như lớn tuổi, sức khỏe yếu, sức học thấp, cảm nhận chậm, suy nghĩ bị hạn hẹp, nhưng chúng tôi biết được sự cần thiết của nhừng người trẻ như các bạn để cây văn học nghệ thuật Việt- Nam đâm thêm nhiều chồi non, nhánh tốt, nở thêm nhiều hoa thơm, nhiều trái chín ngọt ngào..."
Và rồi từ những người trẻ nuôi ước mơ làm mới văn học, tôi đã nhận được hồi âm của họ như một nhịp cầu nối kết giữa hai bờ của dòng sông thế hệ, mà từ bao đời mỗi lần có ai nhắc đến như ngăn cách nhiều hơn là cảm thông, xa vời nhiều hơn là gần gũi, mâu thuẫn nhiều hơn là chia xẻ, hài hòa. Ðó là dòng sông chở đầy những định kiến, những cố chấp, những bảo thủ, những kiêu ngạo, những tự cao, tự phụ; chẳng khác nào mỗi bờ sông bên này cũng như bên kia, bên nào cũng muốn mình là con đường " cái quan", rộng thênh thang; mà thực tế là cả hai bên dòng sông này đều là những con đường chông gai, gồ ghề có, êm đềm có. Bởi vì rằng, tục ngữ ca dao bình dân Việt Nam đã hơn một lần xác nhận: "Sông sâu bên lỡ, bên bồi", như một thực tế hiển hiện. Bờ sông bên nào cũng có những đoạn lỡ, đoạn bồi, đoạn ngay, đoạn cong, không nguyên vẹn được. Những phù sa, những đất cát bờ bên này sông bị lỡ trôi là cũng chỉ để bồi đấp cho bờ bên kia sông, ngay trước mặt, cận kề, không xa xăm gì!!!
Người Chủ biên, Phạm Chi Lan, đã viết: "Trước hết, thay mặt cho nhóm Văn Học Nghệ Thuật, xin nhờ anh Trần hoài Thư chuyển đến anh lời cám ơn về lá thư đầy tâm tình và chia xẻ chân thành của anh dành cho nhóm Văn Học Nghệ Thuật. Là người điều hành VHNT, tôi nhận khá nhiều thư hỏi thăm, khích lệ, đóng góp ý kiến cho diễn đàn VHNT từ bấy lâu nay, nhưng ít khi nào nhận được một bức thư viết dài và chia xẻ một cách nhã nhặn dễ thương như của anh."
Rồi nhà văn Phùng Nguyễn, một thành viên chủ yếu của VHNT và Ô Thước, đã viết về lá thư: "Rất cảm động đọc bài viết của ông Lương Thư Trung. Bài viết rất trau chuốt, văn phong vững vàng và tài hoa, thật khó mà cho rằng có xuất xứ từ một nông dân chất phác. Tôi không có điều gì thắc mắc về gốc gác nông thôn của Lương Thư Trung, và chính tôi cũng được sinh ra và trải qua thời niên thiếu trong làng quê hẻo lánh miền Trung. Ðiều tôi muốn nói là Lương Thư Trung có một kiến thức rộng về văn học Việt Nam trước năm 75 và sau này tại hải ngoại. Rõ ràng, ông đã theo dõi thường xuyên sinh hoạt văn học Việt Nam tại bất cứ nơi nào ông hiện diện. Việt Nam cần có nhiều và nhiều hơn nữa những nông dân như Lương Thư Trung."
Từ những tiếng vọng của những người trẻ đó, tôi mò mẫm mang cái nét " nông dân" với cái dáng vẻ làng quê từ thực tế mà mình đã hòa nhập, đã chìm đắm trong đó thực sự với những năm tháng dãi nắng dằm mưa trên đồng, trên ruộng để giới thiệu với một diễn đàn không " nông dân " chút nào với những bài viết như: Nhớ người bạn nghèo, Thư gửi một nhà văn, Nỗi lòng của đất, Một vài ý nghĩ vào buổi sáng, Một buổi sáng thứ bảy...
Cho đến tháng chạp năm ngoái, khi những cơn gió lạnh của tiết Ðông hàn mang về vùng Ðông Bắc Mỹ này những trận bão tuyết chập chùng, nhưng trong lòng tôi thấy ấm áp vô cùng khi tôi bước chân vào khu vườn Ô - Thước qua lời mời của cô chủ vườn. Dường như những lời chào đón của thế hệ trẻ ở đây, làm tôi sống lại trọn vẹn những ngày tháng với làng quê của mình. Và tôi đã viết thật say sưa như không biết mệt về những năm tháng tôi làm ruộng, giăng lưới, giăng câu, về làng mạc miền Nam, về những loài chim gọi mùa, về trầu tiêu, về hát bội, về trâu bò, về lớp học nhà quê, về mùa bắt chuột, về lúa mùa, lúa Thần nông, về mọi điều có thật của cái thế giới riêng tư của mình như một mời gọi, một trao tặng...
Bởi ở đời có nhiều điều quá giả dối, nên khi nói thật, các bạn trẻ lại nghĩ mình khiêm nhường hay ít ra không thành thật, khách sáo. Giây phút này đây, trong thân tình sau một năm quen biết, tôi thú thật với các bạn trẻ, nếu không có các bạn tôi sẽ không bao giờ có thể viết ra được ba mươi bốn bài viết trong vòng một năm. Vì một lý do thật giản dị là tôi chưa bao giờ biết viết về bất cứ vấn đề gì và viết cho ai. Thế nên, tôi đã học hỏi ở các bạn một điều quí hiếm là sự chia xẻ chân tình của các bạn . Nếu không có người đọc, tôi nghĩ chắc không còn văn học nghệ thuật.
Bên cạnh các bạn, tôi luôn luôn nghĩ mình như một người anh em trong một gia đình. Tôi được sanh ra trước hoặc sau các bạn vài năm, vào thời kỳ đất nước có chiến tranh; lại ở làng quê nên điều kiện đi học gặp nhiều khó khăn, nên chẳng học được bao nhiêu. Lại nữa, những điều mà tôi đã học được vào những năm thập niên 60, đã lỗi thời, đã lạc hậu; những bằng cấp, những chứng chỉ không còn có chỗ để dán lên vách dù chỉ dán để làm dáng cuộc đời. Nhưng lại diễm phúc là trong gia đình Ô -Thước chúng ta có nhiều anh em như các bạn lại học hành đỗ đạt, thành tài với tâm hồn yêu mến tiếng Việt. Thế nên, khi viết, tôi không có mơ ước gì hơn là mang những gì thật nhất, giản dị nhất, như để trang trải lòng mình mời gọi tuổi trẻ hơn là làm công việc sáng tác, văn chương. Giống như lâu lâu các bạn về quê, tôi đón từ ngoài cổng, mời các bạn vào nhà bên mâm cơm với rỗ ốc lác vừa mới luộc với lá sả, lá chanh ngọt ngào hương đồng nội; rồi nào là con cá lóc nướng trui cùng với năm ba nhánh lá xoài, lá bằng lăng non mượt; nồi cơm nấu với gạo lúa mùa giã bằng chày ba còn dính năm ba vỏ cám ngà ngà, hạt cơm mềm mụp... Anh em mình ngồi quây quần bên mâm cơm thanh đạm nhưng thân tình để kể cho nhau nghe những vui buồn của những ngày mùa...
Và có lẽ do mối chân tình như thế đó, nên tôi nhận được những chia xẻ thân tình của những người anh em trẻ dễ dàng hơn. Tôi xin phép được ghi lại nơi đây vài ý kiến tiêu biểu như một kỷ niệm đẹp sau một năm, nhìn lại dấu chân mình:
Bạn Phạm Thế Ðịnh, một Ô-Thước, bên kia trời Úc Châu đã viết: "Anh Trung đã và sẽ đưa đến VHNT nhiều bài với những kiến thức thực, sống, như đất để nuôi hoa và cây. Nói thế không có nghĩa là đất không có vẻ đẹp của nó. Anh đã tạo một bản sắc nông thôn Việt Nam cho một diễn đàn ít nông dân."
Bạn Dũng Nguyễn, một Ô-Thước, ở Floria, nhận định: "Những bài viết của anh đã thực sự gợi lại trong tôi những kỷ niệm về Sầm Giang, Cai Lậy, Cái Bè, Giáo Ðức với những người nông dân miền Nam thật thà, chất phác và đầy tình cảm."
Một người bạn Ô-Thước khác, Chú Tiểu (còn có bút hiệu Trúc Lê, Sung Nguyễn), thường hay đùa vui, nhưng khi viết cho tôi vài nhận xét lại vô cùng chân tình, nghiêm trang: "Dạo gần đây, em được đọc nhiều bài viết của anh; sự hấp dẫn của các bài anh viết không những nằm ở chỗ nét văn " miệt vườn" đậm đà giản dị, mà còn nằm ở chỗ yêu văn chương tiếng Việt qua từng cảm nhận nho nhỏ chi li của anh trong kinh nghiệm đời sống, cũng như qua tác phẩm của bạn bè ( ví dụ như đọc anh Trần Hoài Thư). Chia xẻ cái vốn quý giá đó cho "các bạn trẻ" của anh là điều mà Chú Tiểu cảm phục vô cùng."
Bạn Toàn Vinh, một Ô -Thước bên Canada, còn rất trẻ, lúc nào cũng muốn biết về đời sống của cua, ốc, cá, tôm. Và nhất là trong lòng luôn luôn nhớ về làng Mỹ Luông, quê ngoại cua mình. Bạn đã tâm sự với tôi: "Những bài viết về đồng quê của anh rất có giá trị cho Ô-Thước nói chung và nhất là cho những người lớn lên ở ngoại quốc không có cơ hội gần gũi đồng quê như em. Bài viết Lúa Thần Nông của anh hay lắm, làm em nhớ làng Mỹ Luông, quê ngoại quá xá!"
Anh Ðỗ Danh Ðôn, một trong những Ồ- Thước trầm lặng nhất, đã có lời chia xẻ: "Anh Trung thân mến, Gửi lời chào mừng tuy muộn, rất mừng anh vẫn muốn làm kiếp quạ, không có anh sẽ rất thiếu cái chất đồng ruộng hiền hòa miền Nam mà tôi ít được biết đến. Chúc anh vui và viết nhiều."
Bạn Lê Tạo, một Ô Thước, một người làm thơ trẻ, nhưng đã can đảm đưa ra những nhận định rất trung thực và khách quan dưới con mắt người trẻ nói về tác phẩm "Ra Biển Gọi Thầm " của nhà văn Trần Hoài Thư, đã dành cho tôi vài dòng trên Ô-Thước: "Cám ơn anh bài viết về Trầu, Tiêu và Hát Bội. Bài viết rất hay. Hôm nào chắc lại phải
nhờ anh nữa đấy."
Bạn Thu Hồng, một đứa em nhỏ nhất trong gia đình Ô-Thước, đã chia xẻ: "Anh đã đóng góp rất nhiều trong tạp chí Văn Học Nghệ Thuật và Ô-Thước, và những bài viết của anh lúc nào cũng giúp cho Thu Hồng học hỏi được vài điều mới lạ."
Bạn Nguyễn Văn Tuấn, một Ô-Thước mới từ bên Úc, cũng hoà nhập vào đại gia đình trẻ này, với nỗi lòng: "Ðọc vài tùy bút của anh trên Văn Học Nghệ Thuật làm tôi nhớ làng quê da diết (tôi được sanh ra và lớn lên ở vùng quê Việt Nam). Nghe anh nói chuyện đồng quê là tôi "mê" rồi. Anh nhắc "đào chuột" làm tôi nhớ hồi còn nhỏ theo má tôi ra chợ thấy người ta bắt chuột đồng đem bán. Tuy rằng năm xưa anh đi tỉnh về, nhưng hương đồng gió nội chẳng vơi đi chút nào..."
Bạn Hàn Trân, một Ô-Thước có quê ở Vĩnh Long, lúc nào cũng nhớ cảnh đục mưa trong chòi lá giữa đồng, nhớ cảnh bơi xuồng, chèo ghe tam bản, đã tâm sự: "Nghe anh Lương Thư Trung kể bắt chuột làm tôi nhớ đến những bờ đê, những ruộng lúa của miền Nam. Tuy chưa bao giờ được bắt chuột nhưng tôi có đi bắt dế, bắt cua đồng dọc theo bờ đê, ruộng lúa vào trưa Hè."
Bạn Trần Thái Vân, một Ô- Thước lâu đời, tác giả của tập thơ "Chiếc Bóng" vừa mới phát hành vào đầu năm này, đã cho tôi vài nhận xét: "Lớp Học Nhà Quê của anh đã làm em nhớ lại vùng quê miền Trung của mình, với vài đứa em (con người cậu ruột), Mẹ em đem về nuôi, cũng được học như vậy. "
Bạn Ðinh Yên Thảo, một Ô-Thước, đã chia xẻ: "Mấy bài về lúa của anh hay lắm, ở đây (Dallas) có tờ báo đã đăng lại bài "Lúa mùa, một thời xa vắng" trong VHNT số 323 của anh, coi như một chọn lọc từ trên net."
Nhà văn Trần Hoài Thư, tác giả tập truyện ngắn "Ban Mê Thuột, ngày đầu ngày cuối" vừa phát hành vào tháng 6-97, một cựu Ô-Thước, một người luôn luôn quí trọng thế hệ trẻ, đã nhiều lần khuyến khích: "Bài viết về 'MẸ' của anh làm tôi muốn khóc. Tôi nghĩ là anh đã viết tự đáy tim và với cả nước mắt. Ôi, người Mẹ miền Nam, thật đúng như anh nhận xét, không phải ở biển Thái Bình mà ở trên từng cái chắt chiu như bọc giấy xi măng gói tiền dành cho con. Sự hiếu thảo của anh và của chị quả là tấm gương hiếm. Anh không phải viết cho anh, nhưng anh viết cho những người trẻ. Họ sẽ đọc văn anh, để càng yêu Mẹ kính Cha hơn, trọng lễ đạo hơn. Anh còn hơn những nhà truyền giáo nữa ".
Bạn Nguyễn Vy Khanh, một Ồ- Thước, là một nhà biên khảo với hai tác phẩm mới: "Bốn Mươi Năm, Văn Học Chiến Tranh", và "Lỗ Tấn" do hai nhà xuất bản Ðại Nam, Xuân Thu tại Hoa Kỳ phát hành, vừa ra mắt độc giả vào tháng 8-97, đã cho tôi những nhận xét thật quí báu trên diễn đàn Ô-Thước cũng như trên một tạp chí văn học nghệ thuật "Ði Tới" số tháng 4-97, ở Canada: "Trong thơ văn Việt Nam, càng ngày càng ít có tác phẩm viết vè đời sống nông thôn vốn dĩ là môi trường sống của 80-90% dân số. Có thể người viết lách ngày càng thị tứ hóa nên xa dần nông thôn. Thứ nữa, càng có những cuộc "cách mạng" văn học, các tác phẩm mới lại càng xa nông thôn vì cái gì mới thường do ảnh hưởng Âu Mỹ (thơ mới, lãng mạn, ngay cả hiện thực cũng là Tây nếu không là Mác-Lê). Ở trong nước khuynh hướng thơ văn Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Hồ Biểu Chánh, v.v... ngày càng ít người theo. Thơ văn hải ngoại nói nhiều đến quê nhà dù vậy vẫn hiếm người viết về nông thôn. Hồ Trường An, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng, Sĩ Liêm, v.v... có viết về " miệt vườn " nhưng nhiều hơn về tình yêu ở nông thôn, và họ hay có cái nhìn của người ghé chơi hơn là ở đó hoặc của người nay đã lên tỉnh thành. Nói gì nhà văn, người "nhà quê" cũng đô thị hóa tại chỗ, nào truyền hình, radio, áo quần, ngay cả trong tiếng nói và âm nhạc. Thành ra tìm cho ra người nhà quê nói ca dao, tục ngữ mặc áo vải thô khó vì ngày càng hiếm.
Quen sống ở thủ đô, rồi vì hoàn cảnh chung phải xa xứ, tôi đã giật mình khi đọc trên diễn đàn Văn Học Nghệ Thuật siêu không gian internet một số bài viết của anh Lương Thư Trung. Anh xưng là người nông dân; nông dân mà viết về đời sống rất văn chương như anh thì khá hiếm. Khỏi dài dòng, xin mời bạn đọc khám phá thế giới nông dân của anh Lương Thư Trung ". (Lời giới thiệu bài " Trâu, Bò và đời sống của nông dân ở thôn quê miền Nam).
Và còn rất nhiều những lời khích lệ chân tình của các bạn trẻ trên Ô-Thước, thật xúc động, vì phạm vi một bài viết ngắn, không kể xiết...
Bên cạnh đó, là những thư của các thân hữu tạp chí Văn Học Nghệ Thuật gởi về trên hệ thống điện thư để chia xẻ, khuyến khích, đã là những niềm vui, hạnh phúc quí báu vô cùng về những suy nghĩ của mình trong một năm qua. Dịp này xin phép trích lại đây những dòng chia xẻ này của bạn Nguyễn Nhượng, một người nông dân, mà mãi tới bây giờ tôi chưa biết bạn ở đâu, nhưng sao rất gần gũi, thân tình, cảm động:
"Chào anh Trung,
Bấy lâu nay đọc trên Văn Học Nghệ Thuật, tôi nhiều lần muốn viết cho anh. Tôi không dám gọi nó là một lời khen vì như vậy thì trịch thượng quá. Tôi chỉ có thể nói khi đọc văn của anh, nó đã làm tôi bồi hồi, xúc động thật nhiều về những cái thật, rất thật của tình cảm con người, nhất là tình cảm của những người nông dân chân đất Việt Nam.
Gia đình tôi mấy mươi đời cũng là những nông dân ở miền Trung (chắc anh đã đi qua quê tôi, tôi đọc một bài văn anh đã nhắc về con sông Ba chảy ra cưa Ðà Rằng; làng tôi là một trong những làng quê nhỏ trên bờ sông ấy), bản thân tôi cũng là một người nông dân nhiều năm trước khi vượt biển vào năm 1988.
Ðọc những bài anh viết về con người nông dân mới thấy tình cảm nông dân ở đâu cũng giống nhau, cái thật thà, chất phát, đôi khi xen vào đời tư một cách quá đáng, nhưng tình cảm của họ dành cho nhau thì thật là vô giá. Tôi đọc văn anh và tìm lại cái chân tình của một tâm hồn nông dân Việt Nam, nhưng điều làm cho tôi sung sướng nhiều hơn là đã có người viết lên những suy nghĩ, những mơ ước dù tầm thường hay vĩ đại, của những người nông dân vốn đã bị nhiều ngộ nhận là những người "không biết ước mơ", không biết cái hay cái đẹp, cái rung động của văn học nghệ thuật.
Tôi cũng đã kéo bừa thay trâu, bò, oằn lưng gánh phân gia súc ra ruộng, và gánh lúa từ ruộng về nhà. Tôi cũng cảm được cái vui của cây lúa khô hạn khi được nước dẫn vào, hay cái sung sướng không bút mực nào tả hết khi đứng nhìn đồng lúa nặng hạt vừa chín cườm đầy bông trĩu quả. Tôi cũng như anh đã ứa nước mắt khi cây lúa bị đạo ôn hay sâu rầy phá hại. Có trải qua những giờ phút sống với đồng ruộng, với người nông dân mới thấy được cái tình làng, nghĩa xóm nó thắt chặt con người trong hạnh phúc mà khó tìm lại ở những nơi khác.
Cảm ơn anh thật nhiều về những điều anh viết, tôi hy vọng sẽ tiếp đọc được văn anh trên Văn Học Nghệ Thuật nhiều hơn. Thân ái chào anh. "
Một độc giả khác của VHNT, chị Võ Giao Ðoàn, cũng không rõ ở nơi nào vì qua điện thư, đã nhận xét: "Bài viết của ông trong tờ Văn Học Nghệ Thuật kỳ này rất hay. Nó làm tôi nhớ nhà, nhớ làng quê miền Nam trù phú. Cám ơn ông đã gợi lại hình ảnh đồng quê mà tôi những tưởng lãng quên trong ký ức sau những năm dài xa xứ." (VHNT#310. Mùa chuột ở đồng quê).
Ðang viết những dòng này, lại vừa nhận thêm một điện thư của bạn Lang, Lê T, hiện định cư tại Harrisburg (Pennsylvania), đúng vào lúc kỷ niệm một năm qua. Bạn Lang đã viết: "Ðọc bài Lúa "Thần Nông, một dòng đời" của anh mà tôi ngẩn ngơ. Tôi ăn hạt lúa, hạt gạo hơn 47 năm nay mà chưa bao giờ biết đến những chặng đường gian truân của hạt lúa, của nhà nông nó cơ cực đến như vậy. Cảm ơn anh thật nhiều, anh Trung. Những kiến thức của anh về lúa, về gạo, về đồng bằng sông rạch miền Nam... đã mở mắt tôi và một số bạn hữu không có được cái may lớn lên với ruộng đồng. Mong ước anh tiếp tục chia xẻ cho chúng tôi những kiến thức quý báu "un-replaceable" này. Một lần nữa, xin anh cho phép tôi được gởi tới anh lời chào thăm ngưỡng mộ."
Còn gì quí hiếm bằng những tình tự thân ái này của tất cả các bạn khắp mọi nơi đã nghĩ tưởng về một người bạn nông dân của mình dù chưa một lần gặp gỡ.
Các bạn trẻ thân mến ơi! Dịp này, cho tôi xin gửi đến các bạn lời cảm ơn chân thành nhất trong lòng mình, không khách sáo chút nào về những cảm mến mà các bạn đã dành cho.
Ngày xưa, khi còn trẻ, cứ mỗi lần sánh vai người yêu in những dấu chân mình trên bãi cát trắng mịn màng của bờ biển Nha Trang thơ mộng ngày nào, tôi có thói quen nhìn lại dấu chân mình, để biết rằng, dù những làn sóng nhẹ êm êm vào buổi sáng hoặc dồn dập, giận hờn vào buổi chiều đã tràn vào bờ khỏa lấp những dấu chân; nhưng trong lòng cho mãi tới bây giờ viết những dòng này, trong đời tôi đã để lại trên bãi biển Nha Trang những dấu chân mình cho một lần yêu, cho một lần hò hẹn thật êm đềm, không làm sao quên được!
Lương Thư Trung
Boston, ngày 5-9-97
Kỷ niệm một năm với VHNT và Ô-THƯỚC
Hậu chiến
Những ngày hôm nay, nhóm của chàng đã quá chừng bận rộn. Tầm hoạt động đã không còn ở 50 tiểu bang trong nước mà trái lại đã bao gồm khắp năm châu. Từng người trong nhóm được bung ra khỏi nước. Cathy bay qua Mexico, Nicaragua, Brazil, Ron bay về Bắc Mỹ, Smith bay về Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Họ là những chuyên viên kỹ thuật, có nhiệm vụ mang những chiếc máy loại NCR tối tân nhất mà sức chứa dữ kiện có thể lên đến hàng trăm tỷ bytes, cộng chung những nhu liệu mà phía bên network mong muốn. Software sẽ chuyển những dữ kiện cần thiết từ những sản phẩm mà công ty đã tung ra thị trường, có thể đang nằm yên trên chuyến máy bay nào đó, hay trong lòng một chiếc xe vận tải, hay lưu lạc ở cuối trời Ðông, về tổng hành dinh, để nơi đây có thể theo dõi những đứa con giang hồ, kịp thời ứng phô Và cũng chính vì vai trò mới, không còn bó khung trong nội địa, danh xưng của nhóm cũng đã đổi thành Global Solutions. Lời giải toàn cầu. Cái tên nghe có vẻ lớn lao như mấy vần thơ kích động tuổi trẻ một thời. Nhưng ở đây không phải là sức mạnh của thơ, mà ngược lại là sức mạnh của khoa học. Cái sức mạnh từ những bộ óc đã biến kỹ thuật thành những công trình. Hơn bao giờ con người lại được gần nhau như lúc nàỵ Sẽ không còn ranh giới địa dư. Sẽ không còn những phần địa cầu cô lập. Thế giới ngày nay đã trở thành một mái nhà. Nương tựa vào nhau để mà sống. Chàng đã từng lạc quan suy nghĩ như thế. Bởi vì cuối cùng những cái chip nhỏ bé vô cùng sẽ trở thành những khí giới mãnh liệt ghê hồn. Chúng sẽ truyền rao sự thật về khắp mọi nơi mọi chốn. Chúng chất chứa dữ kiện của cả địa cầu. Những khát khao của địa cầu. Và cả lịch sử. Hàng ngàn năm của nền văn minh hay là một pentium nhỏ xíu. Hàng ngàn năm cách ly bây giờ chỉ một tích tắc con người có thể nhìn mặt và trao đổi hàn huyên... Rồi gió lại được thổị Gió từ những phương trời xa quyện cùng những áng mây nhà để thênh thang tình nghĩa, để trổ lại mầm yêu thương. Và dối trá sẽ được phơi bầy, lột mặt. Và thành kiến sẽ được san bằng. Và tinh hoa sẽ được san sề Từ Internet. Từ fiber optics. Từ triệu triệu bytes chuyên chở con tim và khối não của con người. Ðể Saigon gặp lại New York. Ðể New York tìm lại Saigon.
Như hôm nay trong phòng Lab lạnh run và xôn xao bao nhiêu tín hiệu. Chàng bắt đầu đánh lên máy: cu -d vn4086...
Chàng đang gọi tên của một chiếc ghe nào, năm xưa.
Chiếc ghe với chiều dài mười bốn thước mang trong lòng năm mươi người lao vào bóng tối. Hình ảnh cuối cùng là những hàng dừa in đậm ở hai bên bờ sông. Lúc ấy vầng trăng đã bắt đầu hiện trên ngọn dừa. Chỉ có mỗi vầng trăng là đuổi theo ghe. Chiếc ghe vn4086 đâm đầu vào giàn đáy sau đó là nằm ụ lại. Nó đã gặp cái thử thách đầu tiên. Cửa biển hốt hoảng. Cửa biển thất thanh. Phía sau, thấp thoáng vài ánh đèn dầụ Hốt hoảng và thất thanh dưới vầng trăng nửa mảnh.
Máy khe khẽ phát tín hiệu. Hai bờ lục địa đang bắt tay handshaking. Hai bờ đang chào đón. vn4086, hai chữ cái cùng bốn con số đã được biến đổi thành những bit 0 và 1 chập chùng. Rồi modem. Rồi vệ tinh. Rồi tín hiệu kêu vuị Connection. Viet nam đã được bắt gặp trở lạị vn4086 đang trở về quê nhà. Chiếc ghe mười lăm năm về trước mang tên vn4086 đang qui cố hương. Cóphải vậy không?
Ðến ngày thứ hai là những trận gió khác thường thổi đến. Chỉ trong thoảng chốc cả một bầu trời về chiều trở nên đen kịt. Rồi những tia chớp cứ tiếp tục loé sáng kèm sau đó là những tràng sấm ì ầm nổi dậy. Ánh chớp như mở màn cho một trò chơi trên biển. Từ Ðông sang Tây. Từ Nam qua Bắc. Rồi mưa ào xuống. Rồi gió vần vũ. Rồi cả một mặt biển xôn xao chuyển động. Sóng đẩy ghe lên cao. Thân ghe chạm sóng cựa mình đau răng rắc. Tiếng la thất thanh dưới khoang. Nước tràn vào ghe! Người con gái nào bưng mặt. Những người thanh niên thi nhau tát nước. Một cặp vợ chồng trẻ ôm chặt hai thùng can. Cả gia đình chủ tàu qùi trên boong cầu nguyện. Những bộ quần áo cuối cùng được đem ra thấm dầu đốt tiếp. Tấm vải trắng được viết bằng chử sơn đỏ S.O.S. được căng lên bị cuốn thốc bởi những cơn gió mạnh. Vài con tàu sắt khổng lồ thấy hiện từ xa nhưng càng lúc càng mất dần. vn4086 lại chồm lên và hụt xuống. Biển thì quá tối. Chỉ nghe tiếng kinh cầu, và tiếng răng rắc mỗi lần trận sóng bổ mạnh vào thân ghe. Tiếng kinh lại bị át bởi tiếng sóng cuồng nộ.
Trên màn ảnh bây giờ hiện lên hàng chữ login cùng Password. vn4086 đang đợi chờ người chủ. Và chỉ có hắn mới là kẻ có thẩm quyền. Hắn sáng tạo menu. Hắn dìu dắt người dùng. Hẳn mưu mô quỉ quyệt. Ðôi khi hắn tàn nhẩn. Ðôi khi hắn vuốt ve mơn trớn như Please re-enter. Please do again...
Chiếc ghe vẫn tiếp tục lao đi. Không than thở. Máy vẫn nổ, dù hụt hơi yếu lầ Nước càng lúc càng ngập lòng khoang. Nước trở nên đen ngòm vì hòa cùng dầu cặn. Ai đã đứng ở trên boong nhìn xuống đáy biển. Cô đơn và cay đắng. Một lần rồi cũng nhắm mắt. Mấy mươi năm chiến tranh, tù tội, cuối cùng là cái cõi yên lặng giữa vô tận mịt mùng. Lúc này không còn là ngụy tặc, cũng chẳng là anh hùng. Lúc này chỉ là trống không, dửng dưng và lạnh lùng. Cái giá phải trả cho một cuộc kiếm tìm. Có phải vậy không?
Có phải vậy không. Làm sao đám người trong nhóm hiểu được tận bề sâu thẩm của con tim của chàng khi chàng dùng cái tên vn4086 để đặt cho cái tên của chiếc máy ở Saigon. Làm sao họ có thể hiểu mỗi ngày chàng đã nhận ra cái màu xanh biển Thái Bình trên màn ảnh, và lòng se lại khi tìm hoài vn4086. Trăm ngàn vn4086 đã nằm yên dưới đáy biển. Biển càng sâu càng lạnh, và dù máu quá đỏ, quá trinh nguyên như từ những con tim của các em bé, các thiếu nữ dậy thì xinh đẹp, máu cũng hòa lẫn vào màu xanh đại dương. Chỉ có vị mặn của biển có lẽ mặn hơn, từ biển trời khổ lụy. Còn nữa, ngày xưa vn4086 đưa người kinh qua bao cửa ải để người hiểu được về cái giá quá đắt của một cuộc đi tìm, thì bây giờ vn4086 trở về cố hương với một vận tốc siêu thanh, không ai có thể cản ngăn nổi. Ðối với người phụ trách mang chiếc máy này về Việt Nam hắn còn xem đó là một sự trở lại vinh quang. Như thằng Smith, nhân viên của chàng, nguyên gốc lính đánh giặc ở VN, thì càng hãnh diện hơn bất cứ một ai. Hắn đã gởi cho chàng một E-mail như sau: "... As an American combat soldier, I continue to receive the highest respect whenever I visit there, especially from the former North Vietnamese soldiers..."
Vâng, hắn hãnh diện là phải. Bởi vì hắn được may mắn sinh tại đất nước này. Còn chàng, dù là thuyền trưởng của vn4086, một người đã một thời cùng chiến tuyến với hắn, lại phải bầm gan tím ruột trong thân phận của kẻ bại trận.
Như lá thư của một đồng đội của chàng: Ông thầy còn nhớ em không? Em là Nguyễn văn Tám tự Tám Ðen, hạ sĩ mang M79, của trung đội ông thầy. Sau khi ông thầy rời khỏi đại đội, em được bổ sung về Tiểu Đoàn 2. Em bị thương tại Ðức Cơ. Hai chân em bị cưạ Ðến tháng tư 75 họ về đuổi em ra khỏi quân y viện trong khi hai chân em da vẫn chưa lành còn cả máu và mủ. Em không được phép lấy bất cứ cái gì kể cả chiếc xe lăn. Em phải dùng hai tay để làm chân, lấy vải bao cát bó lên hai khúc chân chưa lành để về quê dưới Bình Ðịnh. May mà có nhiều người cảm thương hoàn cảnh nên em còn có một vé xe đò, nếu không em chắc bỏ xác dọc đường. Cả năm em không có thuốc men để điều trị. Cứ mỗi lần trở trời thì nó hành em chỉ biết cắn răng mà khóc. Hai đứa con em thì về Qui Nhơn đi bới rác tìm bao ny lông mà đấp đổi qua ngày. Em muốn chết mà không dám chết. Mỗi ngày em đi bằng hai cái đòn, ra ngoài chòi nhìn về phía Bà Di mà nước mắt cứ chảy dài. Em nhớ đến lúc ông thầy ăn cơm chung với em với canh lá giang nấu với thịt quân tiếp vụ. Phải chi viên đạn trúng tim em thì em đở khổ như bây giờ. Suốt cả năm làng xã làm khó dể, nhiều khi họ bắt em đi trình diện cả mấy cây số, mà em thì đi làm sao được. Rán đến nơi thì em xỉu. Máu từ hai khúc chân lại chảy ra cả mủ xanh thúi không chịu nổi. Sau đó em đành phải bỏ quê mà đi ăn xin ở dọc theo đường xe lửa, ngủ nhờ ở mấy nhà ga xép, ăn nhờ miếng cơm bố thí...
Em gặp rất nhiều Việt kiều về thăm nhà. Một bửa ăn của họ có thể nuôi cuộc đời tàn phế của em suốt đời. Họ xài tiền như rác. Họ ngủ ở khách sạn, mỗi đêm cả trăm đô la. Họ đi nhảy đầm ở nhà hàng nổi giá cả trăm đô la. Phải chi họ thương hoàn cảnh một đồng đội cũ của họ, ban cho em một chiếc xe lăn, để em còn đi bán thuốc lá bán báo cho đở nhục nhã hơn cái nghề ăn mày, ăn xin này...
Em xin gởi cho ông thầy tấm hình của em. Chiến tranh trang điểm sắc đẹp mà, ông thầy!
Trần Hoài Thư