vhnt, số 327
9 September 1997
Trong số này:
thư vhnt........................................................... BBT
T h ơ :
1 - Biển, Ký Ức Và Em ......................... Trần Minh Hiền
2 - Vô Ðề ..................................................... DVAn
3 - Em Viết Cho Anh Bài Thơ ............................ Kiều Lệ
4 - Hoài Xưa .................................................. Ý Nhi
5 - Tiếc Nuối ........................................... Vũ Thi An
6 - Sợi Nhớ Mùa Thu ................................... Mai Viet Ho
7 - Hỏi Thầm ....................................... Ngô Minh Hằng
8 - Thơ Sylvia Plath .................... Trần Thuyên chuyển ngữ
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Buổi Sáng Với Những Ý Rời Về Sáng Tạo ........... Nguyễn Phước Nguyên
10 - Hí Nghệ Cải Lương ......................... Trần Phát Văn
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
11- Ðổi tên ....................................... Bùi Thanh Liêm
Không phải là chúng ta làm được bao nhiêu, mà là lòng yêu thương chúng ta đặt vào việc làm được bao nhiêu. Nó không là chúng ta cho bao nhiêu, mà là chúng ta đã đặt bao nhiêu tình yêu trong cái cho đó...". Ðó là một trong những thông điệp của Mẹ Teresa, người mà cả cuộc đời đã hy sinh và theo đuổi những việc làm đầy lòng bác ái như vậy.
Bạn thân mến! Tuần qua hẳn là một tuần gây nhiều xúc cảm cho mọi người trên cả thế giới trước sự mất mát của hai phụ nữ nổi tiếng: Công nương Diana rồi đến Mẹ Teresa. Ở khía cạnh nào đó, người ta không nói về sự khác biệt xã hội của một phụ nữ trang phục bộ đồ hàng chục ngàn mỹ kim của Diana hay chỉ gía một mỹ kim của Mẹ Teresa, mà người ta nói về điểm đồng nhất của hai người trong tấm lòng và việc làm cho những người bất hạnh, nghèo khổ. Nếu cuộc sống là một sự giao thoa giữa hạnh phúc và bất hạnh, thì những người như Mẹ Teresa đã thật sự mang hạnh phúc, sự an ủi đến những người nghèo khổ, bất hạnh. Như những thiên sứ. Chúng ta khâm phục và tưởng niệm những nguời như Mẹ Teresa, như Diana...
Có một câu nói rất hay, của người cha với đứa con, mà có thể bạn đã đọc đâu đó, đại ý rằng: "Nếu khi con sinh ra, con khóc và mọi người cười thì con hãy sống sao mà khi chết, con thì cười và mọi người khóc...". Nếu thế thì những người như Mẹ Teresa, như Diana đã thật sự sống một cuộc đời trọn vẹn và đầy ý nghĩa như vậy. Và chính vì vậy, mà thương tiếc đã dành cho họ.
Có phải cuộc đời như Mẹ Teresa đã là những mẫu mực cho chúng ta suy nghĩ, phải không các bạn?
thân ái,
ĐYT/vhnt
Biển, Ký Ức Và Em
Trong ký ức của anh
Có một vùng biển rộng
Hạnh phúc vàng sóng sánh
Em vốc đầy mênh mông
Sóng vỗ bờ hư không
Ðuổi nhau vào cõi nợ
Ðiệp khúc thời mơ mộng
Thổi ngập tràn giấc mơ
Giữa xứ người bơ vơ
Nỗi buồn theo anh mãi
Niềm vui ru nỗi sợ
Cháy tan tành ngày mai
Như cuộc tình nhạt phai
Biển hoang tàn trống vắng
Ký ức thời thơ dại
Em xa vời cách ngăn
Trần Minh Hiền
Vô Ðề
Em đi rồi chiều nay mưa khuất bóng
Giọt nước nào rơi trên má anh cay
Trời chẳng lẽ biệt từ nên nhỏ lệ
Mưa ging đầy lối thuở chúng mình qua
Mới một mùa xa mà trời sao đổi lạ
Lối cũ bên vườn em chẳng tới - rêu phong
Hạt nng ngày xưa rơi vào mắt em - sóng
Bây giờ cũng bỏ mà đi
Chẳng biết nói gì khi đã biệt ly
Trời đã nhạt nhòa còn đâu áo tím
Không gian ôm đầy tiếng mưa ngọt lịm
Hay là giọng hát em xưa
Osaka 25/8/97
DVAn
Em Viết Cho Anh Bài Thơ
Em viết cho anh bài thơ tình ý
viết đã lâu rồi nhưng chẳng dám trao
Vì yêu anh người Việt Nam thuần tuý
tâm hồn anh là hương vị ngọt ngàọ
Em viết cho anh bài thơ thứ nhất
Cái thuở ban đầu hạnh ngộ khó quên
vì yêu anh với tấm lòng chân thật
Thuyền em buồn trên sóng biển lênh đênh
Em viết cho anh bài thơ kỷ niệm
Con bướm lạ nào đậu ở cành hoa
Anh đến bên em với áo bào mầu nhiệm
Phủ lấy hồn em trong tấm lụa là
Em viết cho anh bài thơ mùa hạ
Những ngày qua em dẫm cỏ sân trường
Má ửng hồng dưới nắng vàng oi ả
Dõi mây trời sao bỗng thấy vấn vương
Mùa thu đến bài thơ buồn dang dở
Em viết cho anh khi gió chuyển sang mùa
Thu biệt ly còn đọng đầy thương nhớ
Sông núi buồn khi hai đứa cách chiạ
Em sẽ viết cho anh bài thơ vui rạo rực
Khi xuân về mang hương sắc xuân tươi
Không còn nữa những đêm dài thao thức
Thơ cho anh là những tiếng reo cườị
Em sẽ viết và suốt đời sẽ viết
Thơ cho anh như cái thuở ban đầu
Mãi thủy chung tình em, con gái Việt
mãi đậm đà và mãi mãi bền lâu.
Kiều Lệ
Hoài Xưa
Mây chiều lướt thướt kéo về đâu
Mây hỡi cho ta gửi chút sầu
Ðường mây tung cánh bay đi mãi
Ðể gió đợi chờ se tóc nâu
Chim nhỏ trên cây, gió lại về
Nhè nhẹ thương gửi chút mộng mơ
Nắng ơi thoáng nhẹ luà mái tóc
Bím tóc mỉm cười đuổi buồn vơ
Kỷ niệm năm xưa chưa phai mờ
Sao cố quên được hỡi "người thơ"
Ðường về cúi mặt buồn lặng lẽ
Kỷ niệm xưa cũ đẹp ước mơ
Gửi lại "người thơ"
Ý Nhi
Tiếc Nuối
thân tặng anh Bỉ Ngạn
Ðường thơ một lối đi về nhớ
Nét tranh ẩn hiện giữa màu sương
Mục đồng ngân tiếng ca trong vắt
Gái quê má đỏ thấy mà thương
Từ chùa vọng tiếng kinh cầu nguyện
Nhịp mỏ khua đều chú tiểu con
Chiều xuống làng quê êm đềm quá
Cho người lữ khách xót đau hồn
Quê vẫn còn đây như mộng ước
Ghé ngang quán nhỏ để dừng chân
Cô chủ quán năm xưa đâu nhỉ
Thoáng buồn khi chẳng thấy cố nhân
Gọi một chén trà, phà hơi thuốc
Mơ màng nhớ lại những ngày qua
Se sẻ thở dài nghe tiếc nuối
Bao nhiêu kỷ niệm đã dần xa
Vũ Thi An
8-24-97
Sợi Nhớ Mùa Thu
viết tặng bạn T. và Lisa để nhớ về Victoria Cruise 1996, China.
Bên ấy trời vào thu chưa em,
Lá phong chắc đã rụng bên thềm?
Mây giăng đầu núi mờ sương lạnh,
Sông nước Trường giang em có quên?
Mới đó mà nay thu lại qua,
Dấu xưa lưu niệm mãi chưa nhòa.
Một lần tao ngộ duyên hay nợ,
Nhưng những con tàu vẫn nhớ ga.
Tình anh như thể áng mây trôi,
Lòng em là gió thoảng lưng đồi,
Mang chút mê say vào huyễn mộng,
Như đem dấu ái lãng quên đời.
Giữ giùm anh mấy nụ cười duyên,
Một mái tóc hiền thơm dáng tiên,
Qua ánh mắt nhìn lời hỏi nhỏ,
Một trời xao xuyến những niềm riêng.
Giữ giùm anh những bước chân khuya,
Những tối trên bong lộng gió lùa,
Những sớm mai hồng qua bến lạ,
Dìu nhau tay ấm, sóng đong đưa.
Mây gió bay rồi cũng lắng im,
Mai sau kỷ niệm có phai chìm,
Những chiều nắng nhạt bên hiên vắng,
Anh gởi thương về theo cánh chim...
1997
Mai Viet Ho
Hỏi Thầm
Hỏi thầm em nhé, em ơi
Rằng tim em đã có người hay chưa?
Tháng này, lạ thật, trời mưa!
Sắt se tiếng gió như vừa lập Ðông
Cho anh vào trú, được không?
Ngoài hiên thôi, cũng ấm lòng tha hương
Hẹp gì em, chút tình thương
Giúp cho con bạc lỡ đường trắng tay
Ðời anh, một ván bài say
Ðứng lên cháy túi. Thua cay. Mộng tàn!
Mịt mù bụi đỏ quan san
Vết đau lịch sử da vàng màu đen!
Anh cần ánh lửa tim em
Sưởi cho ấm lại cõi đêm mịt mùng
Hôm xưa đã lạnh cả lòng
Hôm qua tuyết trắng mênh mông lạnh trời
Hôm nay thì lại mưa rơi
Biết mai có nắng cho đời ấm hơn?
Lỡ sau sỏi đá nguồn cơn
Sóng chìm bão nổi, ta còn có nhau
Mưa giăng, từng sợi mưa sầu
Lạc đàn vỡ tổ từ lâu lắm rồi!
Hỏi thầm em nhé, em ơi,
Rằng tim em đã có người hay chưẩ
Ngô Minh Hằng
Thơ Sylvia Plath
trích tập thơ Ariel, 1965
The Couriers
The word of a snail on the plate of a leaf?
It is not mine. Do not accept it.
Acetic acid in a sealed tin?
Do not accept it. It is not genuine.
A ring of gold with the sun in it?
Lies. Lies and a grief.
Frost on a leaf, the immaculate
Cauldron, talking and crackling
All to itself on the top of each
of nine black Alps.
A disturbance in mirrors,
The sea shatter its grey one -
Love, love, my season.
Người Ðưa Tin
Ngôn ngữ của loài ốc sên trên lòng lá?
Nó không phải của tôi. Ðừng chấp nhận nó.
Chất cường toan trong một cái lon dán kín?
Ðừng chấp nhận nó. Nó không chân thật.
Một vòng vàng với mặt trời trong đó?
Phế thuyết. Phế thuyết và một niềm buồn.
Băng giá trên chiếc lá, trinh nguyên
Lò lửa, đối thoại và tí tách
Với chính mình trên mỗi đỉnh
của chín ngọn núi đen.
Một thoáng động trong những mặt gương,
Trùng đương đập tan dung nhan mình xám -
Tình yêu, tình yêu, mùa tôi.
Sheep In Fog
The hills step off into whiteness.
People or stars
Regard me sadly, I disappoint them.
The train leaves in a line of breath.
O slow
Horse the colour of rust,
Hooves, dolorous bells -
All morning the
Morning has been blackening,
A flower left out.
My bones hold a stillness, the far
Fields melt my heart.
They threaten
To let me through to a heaven
Starless and fatherless, a dark water.
Loài Cừu Trong Sương Mù
Những ngọn đồi bước đi vào trắng xóa.
Tha nhân hay tinh tú
Nhìn tôi buồn bả, tôi làm họ thất vọng.
Chuyến xe lửa ra đi trong một đường hơi thở.
Ôi chậm
Con ngựa màu rỉ sét,
Vó nện, những tiếng chuông thê lương -
Suốt ban mai
Buổi sáng bị nhuộm đen,
Một nụ hoa bỏ lại.
Xương tôi gìn giữ sự tịnh mặc, những
cánh đồng xa tan vào tim tôi.
Chúng đe dọa
Ðưa tôi xuyên vào đến một thiên đàng
không trăng sao và không sinh phần, một vũng đen.
Words
Axes
After whose stroke the wood rings,
and the echoes!
Echoes travelling
Off from the centre like horses.
The sap
Wells like tears, like the
Water striving
To rè-establish its mirror
Over the rock
That drops and turns,
A white skull,
Eaten by weedy greens.
Years later I
Encounter them on the road -
Words dry and riderless
The indefatigable hòof-taps.
While
From the bottom of the pool, fixed stars
Govern a life.
Chữ
Những ngọn rìu
Reo cây sau nhát đập,
và những tiếng dội!
Những tiếng dội khởi đi
Từ trung tâm như vó ngựa.
Nhựa cây
Ứa như nước mắt, như
Giòng nước cố gắng
Trải lại mặt gương mình
lên phiến đá
Rơi xuống và xoay mình,
Một sọ trắng,
Ăn dần bởi cỏ xanh.
Nhiều năm sau tôi
Gặp chúng trên đường -
Những chữ khô khan và không kềm hảm
Những vó nhịp không hề mỏi mệt.
Trong khi
Từ đáy hồ, những tinh thể cố định
Cầm quyền sự sống.
Trần Thuyên chuyển ngữ
buổi sáng, với những ý rời
em.
sáng nay tôi đứng trong sương mù giăng thấp. chờ một cơn mưa. nghĩ về tình yêu, như một điều có thật. thật, như tôi đang thở, em có thật trong cuộc đời nay. thật, như tôi đang sống, em có thật trong tôi. em hiện hữu chỉ để tôi hình dung ra sự đã-có-mặt của một tinh cầu đã tắt, vẫn lấp lánh trong vũ trụ cô đơn tôi, sau chuyến viễn hành triệu năm ánh sáng.
những khoảng-cách-không-bao-giờ-xóa-lấp-được, trong tầm tay (hay xa diệu vợi),
cũng như nhau.
em.
sáng nay tôi chờ một cơn mưa không hề đến. lá vẽ hình gió. nghĩ về tình yêu, như nghĩ về nỗi chết. chúng ta đang chết. vạn vật đang chết. tất cả đều khởi sự chết từ khi nhịp sống của mỗi bắt đầu. khi chúng ta yêu nhau, tình yêu cũng sẽ chết.
nên tôi sẽ không yêu em. và em hãy không yêu tôi.
để không bao giờ đôi-ta.
để không bao giờ không-bao-giờ.
không bao giờ.
nữa.
em.
sáng nay tôi lắng nghe tiếng chim sau vườn. phân biệt ra được những tiếng hót vui, buồn. những tiếng chim non. những tiếng chim nhọc nhằn. nghe ra nỗi niềm tôi, cũng những hân hoan mệt nhoài như thế.
nghĩ về tình yêu, như nghĩ về chiến tranh. tôi lắp viên đạn hận thù. nhắm vào tim em. bấm cò. không đắn đo. em gục xuống, máu trắng nhòa trang giấy.
phải giết nhau để trọn vẹn đời nhau.
bài thơ trắng.
em.
sáng nay tôi nằm trong lòng đất lạnh. đón nhận thật rõ ràng cảm giác thịt xương mình đang từ từ mục rữa. con vòi tư thức tận tụy rỉa mòn trái tim duy cảm, hư tưởng nhỏ máu nuôi lớn từng con đỉa tâm linh.
nghĩ về tình yêu, như nghĩ về thiên-đường-địa-ngục. thiên đường đớn đau. địa ngục hạnh phúc. tôi kéo căng tột cùng vòng cung ký ức. lao trọn linh hồn vào hút ngôn ý đường tên.
dĩ vãng ngoại tình cùng tương lai sinh ra quái thai hiện tại.
tôi phủ nhận:
tình yêu không có thật bao giờ!
tôi phủ nhận:
tôi không có thật bao giờ!
tôi phủ nhận:
em không có thật bao giờ!
em.
sáng nay...
hay sáng xưa...
hay sáng mai...
(tôi không còn biết nữa!)
tôi nghĩ về tình yêu, như nghĩ về
những gì con tim mỗi chúng ta sẽ bài tiết ra
sau khi linh hồn mỗi chúng ta phải nuốt nhau vào
để sống.
npn
BBT: Ðây là một bài viết ghi lại buổi họp về cải lương nghề hát trong cuốn "Cá Tính Miền Nam" của Sơn Nam chúng tôi nhận được từ bạn hữu, xin đăng lại để bạn đọc có đôi khái niệm về nghệ thuật cải lương thửa xa xưa. Bài này được viết năm 1917, vào buổi hình thành của "Cải lương".
Hí Nghệ Cải Lương
Ông Lương Khắc Ninh diễn thuyết tại nhà hội Khuyến học Sài Gòn. Ngày thứ tư 28 Mars, 1917 đúng 8 giờ tối có khai trường diễn thuyết tại nhà hội Khuyến học Sài gòn. Có quan bác vật Bùi Quang Chiêu là Ðổng lý hội, quan phủ Nguyễn văn Hải phó Ðổng lý, quan huyện Lê Bá Trang tư văn hội,, quan huyện Ðinh Trường Cửu, quan huyện Lê Thành Long, quan huyện Nguyễn văn Của và nhiều hội viên chứng đám.
Trước hết quan Ðổng lý hội đứng dậy tỏ ít điều cùng hội viên rằng hội Khuyến học vẫn là hội lập để mà hóa dân để làm cho trong nước được mở mang hầu có dõi bước văn minh một ít. Ấy vậy, hội chẳng phải để mà khuyến khích văn chương mà thôi, hội cũng dốc sức cho nhơn dân nong nả theo nông thương kỹ nghệ nữa. Vậy hí nghệ là một nghề nên cải lương, lại ông Lương Ðại Nhơn là người rành nghề sẵn lòng giải nghĩa cho rõ ràng, xin các hội viên hãy hết lòng nghe ngài trần thuyết.
Rồi đó ông Lương Ðại Nhơn lên diễn đàn trước xin lỗi viên quan chức sắc mấy ông, mấy thầy rằng chẳng phải tự xưng thông thạo mà dám nhọc lòng mấy ông mấy thầy, song xét vì ngài tuổi đã quá năm mươi lại làm bầu gánh nên từng trải một ít trong nhà nghề xin dẫn ra cặn kẽ, sau ngài khởi ra nói về nghề hát.
Ngài nói rằng hát xướng thuở xưa tại trong cung cấm bày ra. Trước hết thì là đờn ca nghe cho êm tai, sau lần lần chế biến, sắp ra có đào kéo múa men chơi, chỉ muốn giúp vui cho người coi mà thôi. Sau nữa các đấng tiền hiền đặt tuồng ra, có đủ tam cang ngũ thường, sắp đặt lớp lang rành rẽ, ban đầu để cho kẻ vạy hành hung người ngay mắc nạn, rốt lại thì người ngay được thưởng, đứa nịnh bị trụ Chủ ý cổ nhơn là muốn răn đời. Thử xem điều này thì biết: các ông có thấy như hát lối người ngay phải lắm lúc tai bay họa gởi, chạy đầu này bị dèm siểm, qua bên kia bị hiếp đáp, kiếm đường đi lánh thân mà kẻ nịnh còn rượt theo mà muốn giết. Thấy như vậy ai mà chẳng thương người ngay, ghét bỏ vạy, ao ược trông cho có người đến mà giải cứu kẻ phải lâm nàn, dầu cho đứa hung hăng đảng tử ở nhà ăn cướp giựt đồ người, đến đó rồi thì nó cũng có chút đỉnh lương tâm mà thương hại người lâm cơ thất thế: Rất đỗi là kẻ vô lương vô khái còn vậy thay huống chi là bực lương thiện? Thấy được như vậy rồi, chắc sao người coi về cũng suy nghĩ mà tu hành lánh dữ. Ấy là cuộc hát của cổ nhân.
Ðương thời đây gánh hát thiếu chi, một tổng có chỗ có tới hai ba gánh, người lập gánh hát bầu thì lo kiếm lợi, bạn hát thì làm có chừng đó đặng lãnh tiền mà ăn hút thôị Lại như vầy nữa: bạn hát hay mượn tiền của bầu khi năm ba đồng, khi năm bảy chục lần lần thành ra đôi ba trăm, lấy chi mà trả. Chừng ấy chỉ có hát mà trừ nợ làm sơ sịa đó thôi, có ráng đâu mà trả nợ. Dường ấy biểu sao không hư không tệ. Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm, để cho kẻ ngu dốt nó hát. Vì cái dốt ấy nó làm cho mấy chú kép làm một ông quan cũng không ngồi cho vững, bộ tịch lất khất, đọc một cái thơ phùng mang, trợn mắt, phun râu và làm nhiều chuyện dễ cho trang thức giả đến coi rất hổ. Ðã vậy, chúng nó lại tưởng mình hay, mình giỏi vẽ cái mặt vằn vện cho nhiều là tốt, ngồi giữa rạp nói cho lâu là hay, không chịu sửa, có dạy cách lịch sự cho cũng trơ trơ. Ấy là cuộc hát kim thời, ngài tưởng rằng nếu muốn cải lương, chẳng phải bắt bọn đó mà cải lương được.
Muốn cải lương phải làm sao?
Theo ý ngài, người An Nam ta chẳng phải thông minh hơn các nước, song có đủ lực mà hành sự. Như văn chương Lang sa là khó, mình học được, bát vật có người học rồi, có lý nào các món học thức ấy ta theo Ðại Pháp được sao? Vậy thì làm vầy: Phải có người biết học ra đi hát. Chẳng phải hát tuồng xưa, không vẽ mặt vẽ mày, cũng không ăn mặc lòa loẹt đỏ đen như kép hát bây giời đô Người đi hát ấy là ai? Ban đầu chẳng phải lập ra một lần cho rành rẽ, cho đủ điều được. Vậy tôi (mất mấy chữ...) nhiều thầy trai trẻ có sở ăn sở làm (mất mấy chữ) đồng tiền còn hẹp đến mấy nhà buôn mà xin làm đêm làm gi Chớ chi một ít thầy hiệp lại, nhơn công một tuần chừng ít giờ tập hát theo tân thời trước là chơi, hạ là có tiền mà xài, ba nữa là cải lương cái điệu hát. Chuyện nói đây không phải khó, đó học trò trường Taberd đến lúc phát phần thưởng nó ra hát theo Lang sa, bộ tịch như Lang sa. Rất đỗi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao? Chừng lập được một gánh hát như vậy rồi, ắt người Lang sa, Chà, Chệt, khi nào rảnh việc sao cũng đến mà coi chơi, bỏ sự đến rạp hát phải mắc cỡ mà xem trên nóc nhà chứ không dám ngó hát bội.
Lúc ấy có ông Diệp văn Kỳ là trưởng tử quan hàn lâm trực học sĩ Diệp văn Cương đứng dậy xin lỗi mà hỏi ông đại nhơn rằng:
- Ngài nói nghề hát là có ích, nên sửa mà theo ý tôi thì lúc này chưa nhằm thời. Lúc này nghề nông ta còn trễ bước, kìa Ðồng Tháp Mười hãy còn đất hoang nhiều không ai khai phá, kỹ nghệ lại không, may nhờ có quan bác vật Bùi Quang Chiêu thiết lập hội dệt tơ tại Tân Châu đó mới có một hội kỹ nghệ Nông thương kỹ nghệ là đồ cần nhứt mà không lo hóa, để cải lương cuộc hát là đồ chơi không ích lợi không cần cho lắm, để lại về sau tưởng không hại chị Huống chế sửa nghề hát theo ý ngài muốn đó, có nhiều chỗ khó.
Một là trong cuộc hát phải có nhạc, mà nhạc An Nam còn phải sửa, vậy ai là ông nhạc sư ra sửa nhạc?
Hai là tuồng đặt xưa nay thì là dùng văn chương, dùng quốc tự. Vậy nay muốn sửa lại, ai là ông văn nhân đặt ra tuồng. Ai là ông Corneille, ai là ông Molière? (Hai ông này là hiền sĩ đại danh bên Pháp, đặt tuồng rất hay; sanh nhằm thế ký thứ 17. Ông Molière lại là kép hát danh tiếng).
Ba là hát phải có đào có kép. Như ngài diễn thuyết cho anh em chúng tôi ra làm kép, vậy ai ra mà diễn thuyết cho bọn nữ lưu làm đào.
Nếu ngài làm được thì mấy anh em đây và tôi rất vui lòng mà theo hát. Ông Lương đại nhơn đáp:
- Nghề nông ta phát triển nhiều rồi chứ. Còn như Ðồng Tháp Mười mà chưa khai phá, ấy là tại trời, chớ nào phải người muốn đâu? Bởi nước trời xuống nhiều ứ lại tại Ðồng Tháp Mười nên không thể khai phá một lần cho hết, một ngày một ít, rồi đây cũng sẽ rồi chớ nào không. Mà muốn khai phá phải dẫn nước phải có xáng múc kinh cho nước chảy. Nhà nước mỗi năm có xuất tiền ra làm việc ấy, có phải là không làm đâu, nhưng phải lâu ngày mới rồi được.
Nói qua nhạc thì xin bãi nhạc đi. Ðây tôi tính hát tiếng thường, không Nam Khách gì nên không kể đến nhạc. Hát tuồng diễn mà răn đời thôị
Luận câu hỏi ai là Corneille, ai là Molière thì không ai cả. Xét cho kỹ,hai ông ấy là danh sĩ theo đời ấy mà thôi. Nam kỳ ta cũng có người tuy chẳng được như Corneille, Molière chớ cũng đặt để cho bực trung dung hiểu được. Chẳng phải đặt cho cao kỳ, mắc mỏ chi cho người tầm thường không hiểu thấu mà gọi rằng khô Ðặt tiếng thường dùng như vậy, có khó gì đâu.
Hỏi: Anh đi đâu? Ðáp: Tôi qua anh. Hỏi ai là đào? Tôi xin đáp không có đào. Trước hết dạy đờn ông, sau đờn ông rành rồi mới sang đàn bà. Như lúc người Ðại Pháp mới sang Nam đó, có tính dạy đờn bà chăng? Sao cũng dạy đờn ông cho thành thục, rồi mới khai trường con gái ch Tính một lần sao cho thành tựu được.
Ông Diệp văn Kỳ nói: Ngài nói vậy phải rồi, song việc ấy còn nhiều chỗ. Giả như đức Thành hạ, có đủ tiền bạc, người có lập cuộc hát trong cung, làm theo như ngài nói đó, không biết chừng còn rành hơn nữa, mà người làm còn chẳng nên thay. Tại Nam kỳ đây, tôi nghe ngài ra làm bầu đặng tân chế nghề hát mà ngài đã làm được điều chi rồi đâu? Nên chi tôi tưởng việc ấy làm chưa được. Ngài lại khuyến khích mấy ông mấy thầy theo hát bội, nếu mấy thầy đi hát bội tất cả, lấy ai mà lo về nông thương kỹ nghệ là các mối ích lợi cần hơn hết. Nên nghề hát mà thiệt là đại ích cho nước, ắt đã có người sang Ðại Pháp mà du học việc ấy. Nhưng bởi nghề ấy không phải cần nên người sang Ðại Pháp chỉ học văn chương, bác vật, lương y, luật khoa chớ không tưởng đến ca xướng. Lấy theo nghĩa hát bộ thì tôi thiết tưởng người tử tế không dám dự đâụ Ngài muốn sửa nghề, xin ngài sửa cái tên trước đã.
Ông Lương Khắc Ninh đáp: Việc làm thành bại, ấy sự thường, nhưng có làm thử rồi mới biết. Theo đây tôi có ý nói về mấy thầy trai ban đêm rảnh việc làm thêm chút đỉnh vậy thôi, chớ tôi không khuyến dụ học trò ra đi hát mà bỏ nông thương kỹ nghệ.
Còn như tiếng hát bộ, người xưa đặt vậy là vì kép hát nhảy nhót, ra bộ ra tịch. Sau lần lần ta nói trại ra là hát bội. Quốc dân đã quen dùng thuở nay, nên rất khó mà đặt tiếng mới.
Bây giờ đây muốn đặt tuồng hát thì tôi chịu lãnh mà đặt, chẳng phải là dùng văn chương, dùng tiếng cao xa, dùng điệu nói lối thường cho mấy con mẹ bán cá nghe cũng hiểu được nữa. Mấy bổn tuồng của quan Tổng đốc Cao Hữu Dực ở An Giang thiệt rất hay mà đời này chẳng còn mấy ông nhiêu, mấy ông tú nữa, cho nên dùng bất tiện, đời nào là theo đới nấy thôi.
Ông Diệp văn Kỳ hỏi: Ngài có đặt bổn tuồng nào chưa?
Ông Lương Khắc Ninh đáp: Có, tôi có đặt hiếm, mà chưa dùng, nên chưa in ra bán. Nếu có hát thì tôi đặt chừng vài bữa rồi một bổn tuồng. Vậy tôi xin mấy thầy em hiệp lại tập chơi như người tập hát Tây vậy, tập tại nhà hội Khuyến học này, rồi trước hết cũng hát thử tại nhà hội. Sau có nên sẽ tính thêm.
Rốt lại, định ngày thứ tư Avril tựu lại nhà hội mà tính. Lương đại nhơn sẽ đặt tuồng đem lại. Có nhiều thầy vui lòng vâng lời dạy của Lương đại nhơn và ước ao cho Lương đại nhơn đặt tuồng cho ăn vào thời thế, cho trúng điệu văn chương cho mỗi người đều nghe được, hiểu được, cho động lòng mỗi người hầu cho mỗi người lấy đó mà răn mình được.
Nhiều người trông mong cho cuộc này mau thành tựu, đặng cho người Nam kỳ theo kịp người Bắc kỳ, có nghe rạp hát tại Hà nội thiệt là kinh dinh, người Lang sa cũng cho là phải điệu.
Trần Phát Văn
trích trọn bài trong Nông Cổ Mín Ðàm
số 12 thư 16, ngày 19.4.1917
Ðổi Tên
tặng Cường Nguyễn, bạn tôi
Cư đặt mình xuống giường. Gã lăn qua, trở lại, lật tới, lật lui, ráng tìm một tư thế thoải mái để đi vào giấc điệp. Lăn, trở một hồi cũng chẳng đi đến đâu, gã không tài nào chợp mắt được vì châu thân còn đang ê ẩm. Nguyên một ngày quán xuyến việc nhà, giặt giủ, bếp núc, đã làm cho tấm thân trai 12 bến nước của gã tê tái, rã rời.
Cư bước ra phòng khách, định đốt thuốc, nhưng nhớ ra là trong nhà này cấm hút thuốc, và gã đang đóng vai trò của một người cai thuốc lá! Cư đẩy cửa căn apartment, bước ra ngoài để tìm một làn khói trắng, với hy vọng ru đời vào quên lãng. Trời mùa hè, hừng hực lửa đỏ, gã chỉ bập được vài hơi rồi dụi tắt, và ném điếu thuốc hút dở qua nhà thằng hàng xóm.
Gã trở vào trong, mở ti-vi thật khẻ, cốt ý để coi hình cho vui, chứ đâu có tập trung được, vì đầu óc gã còn đang suy nghĩ mông lung. Bên trong phòng ngủ, Hường, vợ gã đang ngủ rất say. Bên cạnh đó, trong cái nôi gỗ có chấn song là thằng con trai đầu lòng của vợ chồng gã, đang nằm phè cánh nhạn.
Ngược dòng thời gian. Hai năm trước đây, khi Cư chính thức để cho Hường tròng vào đầu của gã cái bản án chung thân, tức là ngày gã lên xe bông về nhà vợ, sau 10 năm hai người quen nhau, Cư đã nghĩ ngay đến chuyện muốn lên chức. Cư theo đạo Phật, gã không có cơ hội đi tu để trở thành linh mục. Không làm cha thiên hạ được thì làm cha trong cái tiểu gia đình này cũng đâu có sao. Nhưng kẹt một nỗi là Hường chưa muốn có con, nàng viện cớ còn trẻ, còn muốn bay nhảy, sợ có con bị bó chân, không đi du lịch đó đây được. Nàng sợ có con phải thức khuya dậy sớm, lo tắm rửa, thay tả, pha sữa, nấu bình, dỗ cho nó ngủ, vân vân. Nói tóm tắt là Hường chưa cảm thấy sẵn sàng làm mẹ, bởi vì lý do đơn giản là nàng sợ cực. Nghe vậy Cư liền ra tay nghĩa hiệp, gã nói vợ đừng lo, mọi việc gã sẽ gánh vác hết, nàng chỉ cần hạ sanh cho gã một đứa con. Gã hứa là gã sẽ một mình lo hết cho ấu nhi, từ A đến Z.
Ðó là câu hứa dại dột nhất chưa từng thấy trong đời của gã.
Và suốt 3 tuần lễ nay từ ngày thằng bé chào đời, mà đúng hơn là suốt 10 tháng qua, từ ngày vợ gã mang thai, Cư đóng vai một người đàn ông nội trợ đảm đang. Thật ra thì trước khi có thằng nhỏ thì không đến nỗi nào, nấu nướng giặt giủ thì nhằm nhè gì ba cái lẻ tẻ, dạo còn độc thân gã vẫn làm mấy chuyện nàỵ Hơn nữa lúc đó gã đang vui say với sự mong đợi thành viên mới trong gia đình, cho nên làm việc quên mệt. Cho đến khi vợ nàng hạ sanh, gã mới bắt đầu nếm mùi.
Cư không ngại cực; thay tả, nấu bình, pha sữa, tắm rửa cho con không thành vấn đề đối với gã, vì đã có bà nhạc của gã qua giúp. Ban ngày, khi gã đi làm, bà mẹ vợ lo hết. Gã chỉ phải thay ca từ chiều trở đi và những ngày cuối tuần. Do đó gã bị mất ngủ kinh niên. Thằng bé mới bước vào đời, không biết luật giang hồ của thế gian, là ngày thức đêm ngủ, cứ khát sữa là nó lại khóc òa lên, không để cho ai ngủ được. Bất kể ngày đêm, cứ cách 3 tiếng là nó thức dậy mở máy khóc và chỉ chịu nín đi khi nào được nhét bình sữa vào mồm. Và theo giao kèo được định trước, Cư là người phải thức dậy cho con bú và dỗ cho nó ngủ trở lại.
Ba tuần lễ trôi qua. Ðêm nào Cư cũng bị mất ngủ, hễ thiu thiu được một chút lại bị thằng con dựng đầu dậy để cho nó bú hoặc thay tả cho nô Thậm chí lúc nhắm mắt gã cũng không được an giấc, có lúc gã bị ác mộng, trong giấc mơ gã biến thành đứa bé khóc oe oe và thằng con gã bế gã chạy vòng quanh nhà ru gã ngủ. Sáng vào trong sở, gã mắt nhắm mắt mở, có khi ngủ gục ngay trên bàn làm việc. Ðồng nghiệp thông cảm, vỗ vai gã, an ủi:
- Ráng lên đi Cư, có thêm vài đứa nữa là mày sẽ quen và chai lì đi ngay!
Ðêm nay, không biết trời xui đất khiến sao đó, thằng nhỏ lại ngủ rất say, đã quá cữ của nó mà cũng chưa thấy nó dậy. Cư mừng thầm trong bụng. Gã nghe nói là con nít ra tháng sẽ ngủ dễ hơn. Thằng con trai gã mới có 3 tuần lễ, không lẽ bắt đầu ngủ qua đêm rồi? Vậy thì gã may mắn quá!
Niềm vui của Cư không kéo dài được bao lâu. Tiếng ré mà gã đã quá quen thuộc vang lên lanh lảnh từ trong phòng ngủ. Gã chạy vội vào trong. Như thường lệ, vợ gã vẫn nằm ngủ say bên cạnh, tiếng khóc của thằng bé không đánh thức nàng được. Cư bế xốc thằng nhỏ, mang ra phòng khách, đi hâm sữa cho con bú.
Một tiếng đồng hồ sau. Thằng nhỏ no sữa nhưng lại chưa chịu ngủ, nó cứ lè nhè mà hành tội Cư. Gã tiếp tục ôm con, đi vòng quanh trong chu vi chật hẹp của gian phòng khách, vừa đi vừa lắc qua lắc lại như cái võng đu đưa. Cư đã buồn ngủ và đuối sức lắm rồi, đây là lần thứ 3 trong đêm gã phải thức dậy. Gã ước đoán sức chịu đựng của gã đã gần đến mức giới hạn, thằng bé mà không chịu ngủ chắc trong vòng vài phút nữa gã sẽ kiệt sức, gã sẽ quẳng nó trở lại trong nôi, mặc kệ nó muốn khóc, muốn la cứ việc thoải mái.
May cho Cư, thằng nhỏ biết điều tự dưng im bặt và ngủ vùi. Gã rón rén đặt nó trở lại trong nôi. Sợ nằm trên giường lăn qua trở lại gây tiếng ồn đánh thức con, nên Cư mang gối mền xuống thảm mà ngủ ngay cạnh đó. Hai mí mắt của gã sụp xuống. Gã nghĩ thầm thêm ba tiếng đồng hồ nữa cũng đủ cho gã hồi sức, và vừa đặt lưng xuống là gã ngủ say như chết.
Mười phút sau. Trong cơn mê, Cư nghe như có tiếng còi tàu réo gọi. Tiếng còi tàu dài liên tu bất tận cộng với tiếng ai đang gọi tên Cư làm cho gã choàng tỉnh. Gã nhận ra tiếng còi tàu chính là tiếng con khóc, còn âm thanh kia là vợ gã:
- Anh Cư, anh làm gì mà ngủ say quá vậy. Dậy đi con khóc kìa!
Gã đã tỉnh táo, nhưng mệt quá không chồm dậy nỗi. Vợ gã hét lớn lên, như muốn át tiếng khóc của đứa bé:
- Anh Cư, anh có nghe con khóc không? Sao cứ nằm im ra đó!
Cư tiếp tục vờ đi. Hường bước khỏi giường, đi đến lay vai gã:
- Anh Cư, anh Cư!
Gã quay qua, xoe tròn mắt nhìn vợ. Hường gắt lên:
- Ô hay cái anh này, tỉnh ngủ như thế, sao em gọi không trả lời?
- Tôi đâu có nghe ai gọi tên tôi bao giờ!
- Cái gì? Em gọi "anh Cư" đến khản cả cổ.
- Tên tôi đâu phải là Cư.
- Hả. Anh nói gì em không hiểu?
Cư dụi mắt và đáp ngon lành:
- Tôi đổi tên rồi!
Bùi Thanh Liêm
Tháng 7, 1997