vhnt, số 323
21 August 1997
Trong số này:
T h ơ:
1 - Chuyện tình thèm kể ............................. Trần Lộc
2 - Khi Về Ngang Núi Trưa Tìm Dáng Nhau .... Nguyễn Ðăng Tuấn
3 - Một ngày, một đời ................................. Cỏ Dại
4 - Tình viễn liên ............................... Lillian Nguyễn
5 - Nụ hoa chỉ dành tặng riêng anh .......... Ðào Vĩnh Bạch Tú
6 - Chờ nhau .................................... Nguyễn Ðình Thái
7 - Hỏi thăm ................................................ Ðan Hà
8 - Trên Dòng Sông Hậu ........................... Phạm Văn Tiền
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Lúa mùa, một thời xa vắng ................ Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10- Một ngày trọn vẹn ................................... Hàn Trân
Ắt hẳn ở đâu đó bạn đã nghe về một nền văn minh vật chất (VMVC) đang được bàn luận ở các nước phương Tây phát triển. Và cũng không phải ngẫu nhiên khi các nhà văn hóa các nước bỗng quan tâm và thảo luận rất nhiềuvề tính hai mặt của một nền VMVC. Lợi - hại.
Bạn thân! Ðó là những công trình của các nhà văn hóa, xã hội học... mà chúng ta đang và sẽ còn nghe nhiều trong tương lai. Nhưng ở mặt nào đó, liệu nền VMVC mà chúng ta đang dự phần có mang những tác động lên mỗi cá nhân chúng ta? Ðể bất chợt một lúc nào đó chúng ta tự hỏi rằng cái sự tiến hóa về một thế giới tâm thức có theo kịp đà phát triển của nền VMVC không? Hay ít ra chúng ta có cảm nhận và tự tạo cho mình một sự cân bằng giữa cá nhân chúng ta và sự ồ ạt của nền VMVC?
Chúng tôi xin trích dẫn lời một nhà xã hội học, hơi áp đặt, nhưng có thể coi như một sự việc chịu tác động bởi những ảnh hưởng của một nền VMVC khi ông cho rằng bây giờ người ta dễ nổi giận với một vết trầy trên chiếc xe hơi hay khi ai đó quá lời, hơn là khi nghe một thiên tai, nạn đói đang xãy ra đâu đó ...
Chúng ta sẽ đi tìm lời giải về lời ông viết phải không các bạn?
thân ái,
ĐYT/vhnt
Chuyện tình thèm kể
Tôi có mối sầu dấu trong túi áo
Sáng mang tình đi, tối ngậm tình về
Tôi có chuyện tình rất thèm kể lể
Sợ người đời, thọc mạch khen chê
Trần Lộc
Khi Về Ngang Núi Trưa Tìm Dáng Nhau
tôi về giữa nắng xiên khoang
dưới vùng núi rộng mây vòm ngủ say
gà trưa cất tiếng theo ngày
bầy chim ríu rít gọi cây muộn về
tôi về gió lượn hoang mê
đường quanh co lối chùng khê ước bày
dốc nghiêng nghiêng thoáng chân mày
phù du dăm đoạn thân này ủ ê
tôi về tới phố còn mê
có nàng thôn nữ miền quê chạnh lòng
nguyễn đăng tuấn
Một ngày, một đời
Mặt trời mọc!
Một ngày tiếp nối mọi ngày
Những thường nhật bất di bất dịch
Những sự thể chung quanh
Không còn tác động mạnh
Như tuổi thơ hăng hái nhiệt tình .
Ta vào đời mệt mõi
Buông thả những sự tình
Em vội vã tham gia
Như sợ đời chốn chạy
Ðịnh luật nào cũng vậy
Ðào thải những cổ xưa
Như tre già măng mọc
Kỷ niệm chỉ dư thừa .
Mặt trời lặn!
Rồi một ngày cũng trôi qua
Ta lui về bên căn gác nhỏ
Ngồi ôn lại sự tình
Ta và em đã bỏ
Phãi không em: ta chẳng cần nhau nữa?
Tôi vẫn sống, vẫn thở
Bên cõi đời bao dung
Vì em mà tồn tại
Khuất bóng nhưng hữu tình.
Mai vào đời vấp ngã
Có ta người đở nâng
Dìu em từng bước một
Như trở về sơ sinh.
Màn đêm phủ!
Ta nằm ôn những xót xa
Như sợ ký ức sẽ nhạt nhoà
Và thoi thóp đi vào giấc ngủ .
Mơ thấy em hiện hữu
Bên mảnh đời điêu linh
Thân mẫu chợt hiện hình
Trách ta tình bất trọn .
Chợt tỉnh giấc!
Mồ hôi ướt đẫm gối chăn
Ta lo sợ những gì không rỏ rệt....
Rồi vỗ về giấc ngủ
Bên nhịp đập con tim.
Nhắm một mắt
Rồi một ngày cũng dể dãi trôi qua
Nhắm hai mắt
Rồi cuộc đời sẽ vĩnh viễn chia xa.
Cỏ Dại
Tình viễn liên
Hai đứa trời Ðông, Tây
Xa như đêm xa ngày
Hai sợi hồn ai nối
Thêm dài một đường dây
Ðường dây hay thói quen
Thuơng nỗi lòng cách mặt
Reo dùm ai cuối góc
Tiếng gọi cửa tình nhân
Có ngại gì ngày nắng
Tình che nhau bóng râm
Dỗ dành cơn ngủ muộn
Lời thì thầm đêm qua
Có cần cả vần trăng
Cho cuội nhớ cung Hằng?
Chỉ cần một âm quen
Diù nhau vaò huyền hoặc
Có cần chi gương lược
Tóc trải dài gối đơn
Từng sợi lòng buông thả
Sao buộc ràng vấn vuơng
Ôi ta mơ mãi mơ
Bên mối tình như thật
Nhân gian dường đi vắng
Cho mình cần nhau hơn
Biết ngày mai sẽ hết
Chỉ cần một lần mơ
Biết thuơng không tròn hết
Không gặp nhau bao giờ
Lillian Nguyen
NỤ HOA CHỈ DÀNH TẶNG RIÊNG ANH
Nụ hoa e ấp
Lóng lánh sương đêm
Lẻn đặt bên thềm
Tặng riêng anh đó
Hoa hồng đỏ thắm
Nàng cúc vàng tươi
Bẽn lẽn mỉm cười
Hồn ai xao xuyến
Tình hoa ấp ủ
Dáng buồn thiết tha
Giọt sương mặn mà
Lệ hoa hay bướm
Ðời hoa ngắn ngủi
Hương hoa chóng phai
Ðã thương xin nhớ
Giữ tình hoa say
Ðào Vĩnh Bạch Tú
Chờ nhau
Ta đã chờ nhau đến bạc đầu
Dòng đời trôi chảy vẫn niềm đau
Ngỡ mình tương ngộ, tâm ngăn cách
Vẫn mãi ôm theo một mối sầu
Có phải đêm này đến ngàn sau
Trăng sao vẫn sáng nắng nhạt màu
Tim đơn cô lữ ôm một bóng
Ðể ánh trăng vàng nhớ cỏ lau
Thôi hết đau rồi một kiếp mau
Với tay vuốt tóc thấy bạc màu
Như tình kia nhạt thôi một kiếp
Cũng ráng qua đi vạn ngày sầu!
Ta ngỡ thôi rồi đã mất nhau
Như bài thơ cũ giấy nhạt nhầu
Có yêu tha thiết rồi cũng thế
Ðời mãi quay cuồng có nhớ nhau?
8/13/97
LTN Nguyễn Ðình Thái
Hỏi Thăm
Ðường xưa nắng thêu bóng lá
Lá xanh như mắt em ngời
Long lanh bầu trời mây thả
Ðậu trên vai chiều nghỉ ngơi
Gió cũng đùa vui chân sáo
Lâng lâng hồn dạo theo khi
Tay còn vin đôi tà áo
Sợ bay mất tuổi xuân thì
Như người ngày xưa một thuở
"Qua cầu để áo xa bay"
Về nhà tìm đâu bằng cớ
Ðể thưa với Mẹ cùng Thầy
Vội vàng chân em bước nhẹ
Ðể mây hờn dỗi sau lưng
Nắng đuổi theo em gọi khẻ
Hãy khoan cô bé xin dừng
Trời đã chiều đâu mà vội
Cho anh hỏi nhỏ câu nầy
"Tiểu thơ" năm nay mấy tuổi
Trong lòng đã biết thương ai?
Nếu đường em về có vắng
Không còn rủ gió theo mây
Hàng cây không còn che nắng
Thì còn có bóng anh đây...!
Ðan Hà
Trên Dòng Sông Hậu
Thuyền em
Ðậu
Bến Ninh Kiều
Ðưa người
Vắng tiếng hò
Chiều
Xuất dương
Mái chèo
Ðẩy
Khúc thê lương
Tiễn người đi
Chúc lên đường bình an
Trăng khuya
Lộ
Nét mơ màng
Nước sông
Bàng bạc
Ánh
Ngàn sao rơi
Người đi
Kẻ ở lại
Thôi
Con tầu định mệnh
Sắp rời xa
Quê
Phạm Văn Tiên
LÚA MÙA, MỘT THỜI XA VẮNG
Tháng năm là mùa mưa trở lại thật sự. Những cơn mưa bất chợt, không báo trước bằng gió, bằng trời gầm, bằng mây đen hoặc những cơn mưa dằm kéo dài vài ba ngày làm đất trời tối sầm, ẩm ướt, buồn hiu, tất tất đều làm cho dòng sông nước đổ ngầu đục, làm cho vườn tược cây cối xanh um với những trái, những hoa ngạt ngào...
Mùa mưa tháng năm cũng là thời tiết làm cho những cánh đồng lúa mùa bạt ngàn của vùng đồng bằng dọc theo hai bên bờ của dòng sông Cửu Long xanh thẳm, lặt lìa theo gió rì rào, như một tấu khúc của một điệu nhạc đồng quê êm êm, mượt mà, lan rộng trong trời đất nhẹ nhàng...
Tôi là lúa mùa! Tôi là lúa nổi! Người làm ruộng đã gọi những dòng họ tôi cái tên thân thương như vậy, một tên gọi gắn liền với những kiếp người, những nếp sống, những nắng cùng mưa, những vui cùng buồn, những nhàn hạ cùng vất vả trăm bề của những mảnh đời, đời của chúng tôi mà cũng là đời của kiếp nông dân lúc nào tay cùng cằn cỗi, chân cũng nứt nẻ, đầu cũng rối bù, da thì khét nắng vời màu xạm đen nhiều cơ cực! Chúng tôi có những gánh họ, những giống dòng một thời gắn liền nhiều năm tháng không tách rời được ở những vùng lung sâu, những vùng đồng cạn này... Những giống Nàng Tây, Ðuôi Trâu, Tàu Binh chịu đựng với vùng An Giang, Châu Ðốc, Ðồng Tháp Mười... nước ngập lút đầu lút cổ vào tháng chín, tháng mười. Những giống Nàng Hương, lúa Thơm, Ba Bụi, Trắng Lùn, Trắng Lựa, Trắng Tép, Nàng Keo, Nàng Quớt, Móng Chim... sống hòa nhập nơi những vùng đất gò, đất cạn với những cơn mưa tháng năm kéo dài ướt sủng, tắm mát lên các địa giới Rạch Giá, Sốc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Mỹ Tho, Long An...
Tổ tiên, nguồn cội chúng tôi cũng như nguồn cội của muôn loài không biết có từ đời nào trên mặt đất này. Riêng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi từ bên kia đất Miên di dân qua đây vào năm 1891, do ông Conte, một cố đạo người Pháp cai quản nhà thờ Năng Gù, tình cờ mang chúng tôi về. Chúng tôi được chăm bón, gầy dựng và thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng nước lụt lai - láng hằng năm vào những tháng bảy, tháng tám, tháng chín, tháng mười âm lịch của vùng đất mới này từ ấy. Có lẽ vì sự sống của chúng tôi quá giản dị là nổi trôi theo mặt nước một cách tự nhiên, bình thản, nên người ta gọi tôi là lúa nổi. Hay vì mỗi năm, chúng tôi được gieo trồng chỉ có một mùa, nên chúng tôi cũng còn được gọi là lúa mùa. Hoặc giả, cách thức người làm ruộng gieo trồng chúng tôi cũng tình cờ bằng cách người nông dân nắm những hạt lúa giống chúng tôi hất tung lên trong trời đất như cầu khấn cùng tạo hóa, cùng các đấng thiêng liêng, đã tạo cho chúng tôi cái tên khác cho hợp với lẽ trời, đó là lúa sạ.
Ðại khái là vậy. Các bạn có thể bằng lòng với chúng tôi về cái nguồn gốc giản dị này. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng các bạn thế hệ bây giờ, có người chưa hiểu phong cách sống của những giống lúa mùa chúng tôi như thế nào trên những cánh đồng miền Nam trong vòng một trăm năm, kể từ năm 1891 đến những năm đầu thập niên 80, chúng tôi coi như bị khai tử thật sự trên xứ sở trù phú của một vùng sông nước màu mỡ với cây lành trái ngọt, với cư dân hiền hòa đến tội nghiệp này!
Bắt đầu cho một đời sống của chúng tôi trên những cánh đồng cò bay mỏi cánh này, những hạt lúa giống được sạ từ khi đất còn nắng hạn vào tháng ba, tháng tư sau khi được cày phá, cày trở, bừa ngang, bừa dọc. Chúng tôi được người nông dân mang ra đồng giữa lúc đất trời thì chuyển gầm, mưa chưa tới, nóng nực hầm hầm cứ như trời đất đang giận hờn, đang tranh giành ngọn gió giao mùa. Những hạt lúa giống thật tội nghiệp này, mỗi đứa nằm mỗi nơi. Có khi nằm khơi trên mặt đất cày; có khi rớt xuống những lổ nẻ, mất tăm, mất tích. Chúng tôi cũng đành thả trôi dòng đời cho nắng, cho mưa, cho dế, cho chuột từ những ngày nằm chờ những giọt mưa đầu mùa, những giọt mưa như phép lành cho một kiếp sống thuở ban sơ!
Có cuộc sống nào mà không nhiêu khê; có dòng đời nào mà bằng phẳng, êm đềm hoài, phải không các bạn? Ðời sống của giống lúa mùa chúng tôi cũng chìm vào dòng sống nhiều truân chuyên đó, không thoát ra được.
Khi cái tiết trời đã đến lúc mùa mưa sắp chín mùi, những trận mưa đầu mùa đầy sấm chớp đổ ập xuống những cánh đồng như giận dữ. Rồi trời đất im lìm. Vạn vật tươi mát. Cỏ cây hoàn hồn, hồi sinh. Những chiếc vỏ lúa của chúng tôi mấy hôm nay khô khốc nằm chờ mưa giữa đất trời rồi cũng mềm đi. Những mầm sống bắt đầu rục rịch. Những chiếc rễ độc nhất và đầu tiên cũng lồm cồm bò ra khỏi cái vỏ lúa của mình, bắt đầu tìm kiếm một chỗ an cư cho một kiếp sống. Trong khi đó, những ngọn lúa non yếu ớt cũng cố ngoi ra khỏi cái vỏ lúa của mình để chào hỏi nắng, mưa, cùng không khí trong lành, tinh khiết của đồng quê như cái lễ nghi giao tế sơ đẳng nhất của một sinh vật trong kiếp tuần hoàn, trong sự sinh tồn của muôn loài.
Thời kỳ của chúng tôi là thời kỳ cổ điển! Kiếp sống của những giống lúa mùa chúng tôi là kiếp sống hợp với lẽ trời đất, thuận với nắng mưa, hòa với từng con nước lên, nước xuống, nước ngập, nước lụt mà vẫn thản nhiên, vẫn bình lặng như vui, như cười nhàn hạ mà hữu ích, thiết thực cho loài người. Chúng tôi sống bằng bùn, bằng nắng, bằng mưa, bằng rơm, bằng rạ mà cho gạo, cho lúa đầy bồ. Chúng tôikhông cần những phân lạnh, phân tiêu đen, phân tiêu sữa như ngày nay, nhưng bông vẫn kết đầy hạt, gạo vẫn ngọt, vẫn thơm ngon. Mà người làm ruộng cũng ít bận lòng với chúng tôi vì những căn bịnh thời đại như thế hệ trẻ Thần Nông sau này như sâu keo, sâu ống, sâu lá, rầy nâu, rầy cám... Những căn bịnh này là hậu quả của một sự lựa chọn, không sao tránh khỏi.
Cái kiếp sống của chúng tôi tự nhiên đến độ như đói thì ăn; gió thì lượt ngọn, vi vu, reo hò; trăng thì sáng lấp lánh trên những lá lúa xanh long lanh; nắng thì vàng bông, vàng hạt lao xao, rộn rả, tươi cười...
Rồi lúa đầy tháng, lúa hai tháng, cứ lớn dần, lớn dần như vậy. Sức sống của chúng tôi như dẻo dai thêm, vươn lên, vươn lên hoài. Những lá lúa ngữa mặt đội trời, gốc bám chặt lấy đất mà lớn mạnh, mà sinh sôi, mà nẩy nở. Mới đầu một thân, một mình. Về sau nở ra thành chùm, thành bụi với những gốc lúa mập mạp, tròn trịa, đẫy đà. Chẳng những một đôi lần, mà còn rất nhiều lần những chú bé mục đồng cho bò, trầu vào ăn chúng tôi từng đàn, từng đàn, nhưng không sao. Chúng tôi vượt qua hết những giai đoạn dập bầm này mà không một chút phiền hà. Chúng tôi có mặt dưới ánh mặt trời này, trên những cánh đồng này một phần cũng nhờ công sức khai mở của trâu bò kia mà! Một vài thân lúa có rạp xuống cho bò trâu cũng là một cách đền ơn thiết thực đấy thôi, không quản ngại gì.
Kiếp sống của lúa mùa chúng tôi tương đối dài lâu, nên vì thế cũng không lấy gì làm vội vàng, gấp rút. Lúa ba tháng, lúa bốn tháng, rồi nước đổ, nước tràn bờ lên đồng, lên ruộng ngập đầy. Chúng tôi chơi giỡn với nước, reo vui với nước. Chẳng những không bị nước nhận chìm mà chúng tôi còn nổi theo nước nữa mà. Trên những cánh đồng mênh mông, bát ngát như vậy, chúng tôi đã che chở cho nước bớt sóng to khi gió nổi, khi mùa gió chướng, khi bão dông. Những buổi chiều dịu nắng, vài chiếc xuồng câu nhẹ nhàng lướt mình trên đồng vắng, be xuồng chạm vào những cọng lúa rào rào hòa cùng tiếng hát vọng cổ, giọng hò đồng quê, giọng ngâm sa mạc... của những người giăng câu, giăng lưới văng vẳng xa đưa trong cái tỉnh mịch của buổi hoàng hôn, sao mà thanh nhàn, yên vui quá đổi của những ngày tháng yên bình! Cái phong cách sống của chúng tôi dường như lúc nào cũng ung dung dù đang là mùa nước tràn bờ, ngập lụt. Chúng tôi cứ thong thả nhóng lên cao theo nước một cách đề huề, bình tĩnh. Rồi dường như từ đó, cũng tạo cho cảnh vật thiên nhiên cùng con người chung quanh mình một phong cách nhàn hạ, hiền lành, êm ả hơn! Chúng tôi cũng đã mang lại sự vững bụng cho những cánh chim ngàn về đậu lại, những chị trích rừng lót ổ những chị cúm núm, le le đẻ an toàn trên những chiếc ổ bằng lá lúa mùa êm êm khuất dưới những ngọn lúa cao giàn nơi lung, nơi vũng. Chúng tôi cũng giúp những chú chuột đồng không nơi nương tựa giữa cơn lụt lội tháng tám, tháng chín giữa chốn bạt ngàn. Những chú chuột mập thù lù, bụng trắng phau, kêu chí chóe suốt ngày trên cánh đồng lúa rậm rạp vào những tháng này là một cái gì rất tự nhiên trong trời đất. Tại sao chúng tôi phải bận tâm, phải buồn phiền phải không các bạn, khi mà mình muốn sống cho đời sống của chính mình, thì vạn vật cũng muốn sống cho đời sống của chính vạn vật? Mà chuột đồng cũng là một sinh vật kia mà! Các bạn ấy cũng muốn sống lắm chứ. Chúng tôi hút nhựa sống từ trong bùn, trong đất, trong nước để sống, để lớn lên. Chuột cắn lá lúa chúng tôi để nuôi thân mập béo. Rồi người nông dân có những miếng thịt chuột béo ngậy, thơm phức sau những ngày vất vả trên ruộng lúa của mình. Cách nào đó, mỗi loài trên mặt đất này nuôi dưỡng lẫn nhau, mỗi loài đều có những ích lợi riêng, không loài nào thừa, không loài nào vô bổ. Chỉ có ích lợi nhiều hoặc ít mà thôi. Và lợi ích nào mà chẳng là lợi ích, phải không các bạn. Ðiều quan trọng là biết rằng mình có ích cho đời sống, dù đời sống cỏ cây, đời sống sinh vật, đời sống loài người, để sống một đời đáng sống.
Ðó là chưa kể một thế giới bí mật dưới mặt nước mà những cánh đồng lúa mùa chúng tôi che khuất. Ở đó là cả một kho tài nguyên đầy cá, tôm, cua, ốc cùng muôn loài đang sống hài hòa, bình an trong gốc lúa, gốc rong mịt mù không kể xiết. Những loài này cũng đang sống cho chính nó và cho loài người nữa nhưng qua sự che chở của chúng tôi khi mùa nước lụt không bến, không bờ.
Ðến tháng chín, con nước kém vào ngày hai mươi lăm âm lịch, những thân lúa chúng tôi nặng mình vì chúng tôi sắp có đòng đòng. Nước không lên thêm và bắt đầu rút dần ra rạch, ra sông, báo hiệu một thời kỳ nước giựt. Lúa đang nương theo nước, nước lại không thể ở lại trên đồng giữa lúc chúng tôi có chửa, có đòng đòng. Nên những thân lúa dài lượt bượt phải nằm xiên xiên theo những ngọn gió rong ngọn đang chuyển mùa, cho êm êm cái bụng căng tròn. Thỉnh thoảng có một vài chiếc xuồng câu chống lướt trên mình chúng tôi một cách nặng nề, rồi để lại lường xuồng dài như vết tích của những ngư phủ nghèo đi qua đời chúng tôi, đè những thân lúa ngã rạp, nhưng không sao. Chúng tôi lại cất ngọn lên một cách nhẹ nhàng, đầy vững tin cho một mùa bông, mùa hạt vun trùng.
Như muôn loài, cái ngày đăm bông kết hạt đã đến, thật thiêng liêng mà vui vầy! Mới đầu lác đác vài bông, sau đầy đồng. Phấn hoa màu trắng trinh tuyền bay bay trong gió, hữu tình. Lúa mùa trổ rộ dưới ánh nắng mặt trời không gì ngăn cản nổi. Mùa lúa trổ là mùa chim muông sống trên ruộng đồng thay lông. Những chú cò ma, cò ráng, cò trâu lác đác đáp xuống vạt lúa này, bay sang vạt lúa kia, chuẩn bị đến bên bờ kinh, bờ mương đón chờ những chị tép rong, những đàn cá linh êm êm rút ra khỏi cánh đồng sắp cạn trong những ngày sắp tới. Cá sống với nước mà! Nước rút đi, cá cũng lội! Ðó là định luật của tạo hóa. Mà trong trời đất này, đâu có định luật nào cần phải viện dẫn, chứng minh, vì nó hiển hiện, tự nhiên giữa mặt trời. Cá rời đồng để ra sông báo hiệu lúa mùa đang ngậm sữa, làm gạo. Chúng tôi đang ở vào thời kỳ mới của mình, một thời kỳ sung mãn nhất của mùa màng. Chúng tôi nghe dưới gốc lúa của mình nước rút nhanh. Những đàn cá vội vả rượt đuổi theo những ngọn nước chảy mạnh, những " cựa gà " để tìm đường ra rạch, ra sông, mà trầm tư, suy nghĩ về việc đời. Trong trời đất, có những loài sợ chết chỗ này, chạy đến chỗ khác, rồi cũng không thoát chết. Các loài cá có biết đâu rằng, vì sợ nước khô, nước cạn, rồi ra sông, lại gặp bao câu, bao lưới đợi chờ. Vì mùa nước giựt cũng là mùa cá tôm trên sông, trên rạch rộn ràng. Nào lưới giựt, nào đăng ven, nào bửng, nào vó cất, vó gạt đang chực chờ. Cá biết bao nhiêu là cá! Cá trắng dã trên ghe, trên xuồng. Tôm đầy lọp, đầy rộng. Cá nổi đầy trên mặt nước, đầy sông, đủ loại. Vì nước trên đồng đổ xuống là nước phèn, nước cỏ, nên cá tôm trong nước bị cay mắt, lờ đờ, nổi lềnh bềnh, từng bầy, từng bầy như những cuộc dàn binh chuẩn bị cho buổi lễ diễu hành. Ở đâu cũng cá, cũng tôm. Có thể nói không ngoa, thời kỳ lúa mùa chúng tôi thịnh vượng, đồng nghĩa với thời kỳ cá tôm đặc nước ở vùng đồng bằng này. Mà lúa mùa trên đồng cũng phơi bông muôn trùng. Cả một vùng nông thôn ngày xưa ấy, sao mà sung túc, trù phú quá đỗi!
Tháng mười một bắt đầu lúa vàng mơ. Tháng chạp lúa chín rộ. Ðồng đã rút hết nước. Những miếng ruộng gò đã khô. Những cánh đồng sâu còn chút ít nước phèn màu ngà ngà vàng, đặc sệt. Một mùa cắt gặt lúa mùa bắt đầu. Trên đồng tiếng hát, tiếng hò reo vui. Những sân lúa được dãy sạch. Những cà lan lúa cao chót vót. Những cộ lúa bông nặng trịch, ì ạch theo sau đôi bò hoặc đôi trâu nặng nhọc bườn về phía trước. Những đống lúa hột hằng trăm, hằng ngàn giạ, cao vòi vọi. Những xe trâu, xe bò kéo lúa hột về bồ trên những con đường mòn thênh thang, ngang dọc kèm theo tiếng kẽo kẹt của những bánh xe cây, tiếng cười nói của trẻ mục đồng vang vang trên đồng nội như trẩy hội ngày mùa. Thoáng chốc, như vết dầu loang, nơi này cắt lúa, rồi nơi kia cắt lúa, từ đồng gần chạy miết dưới đồng xa, kéo dài ngày này qua ngày khác. Và rồi một mùa lúa cũng xong vào cuối tháng giêng, để bắt đầu chuẩn bị cho một mùa lúa năm sau khi những cánh đồng cháy rạp dưới ngọn lửa đốt đồng nổ dòn của những ngày nắng hạn tháng ba trở lại.
Thắm thoát mà đã qua đi một trăm năm! Một trăm năm tuy không lâu so với cái bao la của vũ trụ, so với cái xưa cỗ từ thời tạo thiên lập địa. Nhưng với những cánh đồng ruộng miền Nam mà những giống lúa mùa chúng tôi chăm gốc, chăm rễ kể cũng dài.
Chúng tôi đến đây với sự tình cờ và chúng tôi bị thay thế là cố ý. Âu, đó cũng là sự biến dịch của dòng đời, là văn minh tiến bộ của khoa học cùng những ước mơ của loài người! Chúng tôi không phải bị người làm ruộng đào thải, mà bị sự tiến bộ, bị nền văn minh từ những người chưa bao giờ biết làm ruộng loại trừ. Những giống lúa mùa chúng tôi rất cảm thông và chia xẻ với người nông dân khi họ buộc lòng phải chia tay với những mùa lúa thân thương, êm đềm một thời. Chúng tôi giã từ những cánh đồng thân yêu của mình bởi những danh từthật hấp dẫn nào là " cách mạng xanh ", nào là " áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp " một cách thật thảm hại.
Thảm hại cho những đồng loại của chúng tôi, những lúa Thần nông bây giờ, với biết bao bịnh tật, với biết bao héo hắt. Thảm hại cho môi trường sống của loài người với biết bao ô nhiễm bởi thuốc sâu, thuốc rầy đầy trong lòng đất,trong không khí, trong nước uống và nhất là ngay trong những hạt gạo nuôi sống con người. Các bạn có biết không, đã có biết bao người nông dân đã ngã quỵ ngay trên miếng ruộng lúa thần nông của mình đang lúc họ xịt thuốc để diệt trừ sâu? Quần quật, mệt mỏi, kiệt sức giữa trưa nắng gắt. Thuốc sâu bốc trong gió, trong nắng nực nồng. Người làm ruộng hít cái hơi độc ấy vào mũi, vào miệng. Rồi thuốc sâu thắm ướt áo, ướt quần. Ðang lúc mồ hôi ướt đẳm, các lỗ chân lông mở ra, thuốc sâu theo lỗ chân lông xâm nhập vào máu, vào thịt. Người nông dân bị ngất xỉu ngoài đồng như ăn cơm bữa, là chuyện mà những nhà nghiên cứu khoa học cho những giống lúa mới có lẽ không bao giờ để ý, dù đó là mạng sống của con người!
Thuốc sâu là thuốc cực độc mà! Làm sao, người làm ruộng lúc nào cũng thường trực hít thở vào buồng phổi của mình những thuốc độc mà không nhiễm độc cho được! Rồi họ phải uống cả những thứ nước từ trên ruộng, trên đồng đầy thuốc sâu đổ xuống rạch, xuống sông. Họ làm sao có thể tránh cho khỏi nhiễm những gì độc hại khi mà họ phải sống ở trong hoàn cảnh, trong môi trường không có cách nào khác để chọn lựa! . Từ đó đã sanh sôi biết bao bệnh tật lạ kỳ, nhiều khi không thuốc trị. Mặt khác, về phương diện đời sống áo cơm, thảm hại cho chính những người làm ra hạt gạo, hạt cơm mà vẫn thiếu hụt lúa ăn, nợ nần chồng chất, nghèo khó thật bi đát vì những hệ lụy sâu rầy...
Ðó là chưa kể những sinh vật sống trong nước như cá tôm, những tài nguyên quí báu vô cùng mà thiên nhiên ban phát cho vùng đất hiền lành này, cũng bị hủy diệt bởi những chất độc một cách không thương tiếc! Còn đâu nữa những cánh đồng lúa vào mùa nước dâng tháng tám, tháng chín đầy cá! Còn đâu nữa những đàn cá nổi đặc ngừ trên mặt nước cỏ, nước phèn như đi dự hội hè vào những ngày lúa chín tháng chạp! Còn đâu nữa những giỏ cá lóc đen ngòm, những giỏ cá rô đồng, cá sặc rằn béo ngậy của những ngày tháng hai, tháng ba tát đìa, tát mương, tát lóng sau một vụ lúa mùa đầy lẫm, đầy bồ!!!
Mối lợi thì trước mắt, còn điều tai hại thì ẩn tàng trong đất, trong nước, trong không khí, trong máu, trong da thịt, trong hơi thở con người, mà người ta nhân danh sự tiến bộ của khoa học, họ muốn lờ đi...
Thời gian thì vô cùng, trong khi những giống lúa mùa chúng tôi lại hữu hạn, chỉ có một thời! Nhưng những mùa lúa mùa của chúng tôi lại có một thời trong dòng đời của mình đã mang lại yên vui, sung túc, trù phú, ấm no, cùng cái phong cảnh nhà quê vùng đồng bằng sông Cửu Long thật nên thơ, an lạc, hiền hòa.
Có còn ai trong các bạn, một khoảnh khắc nào đó, nhớ về những mùa lúa mùa năm xưa, nổi trôi bềnh bồng trên những ruộng đồng miền Nam cò bay mỏi cánh, bạt ngàn với những bông lúa vàng ngọt lịm, cùng với con người và phong cảnh thiên nhiên chan chứa ân tình ngày nào, mà giờ đây thì xa vắng mịt mù!!!
Lương Thư Trung
Boston, ngày 2-8-97
Một ngày trọn vẹn
Ðậy nắp đầu máy của cái xe hơi ọp ẹp mới gượng gạo nổ, Nghị bước vào ngồi trong xe để tránh cơn gió gây gây của một sáng sớm cuối hế Nắng dạo này làm biếng và dậy trể hơn mỗi sáng để chuẩn bị cho những ngày vào thu sắp đến. Rồi năm lại tàn, đông lại đến, rét lạnh của tuyết băng và những ngọn gió lạnh căm căm của đại hồ sẽ lại trở về để liếm lại cái phần da thịt gầy guộc vừa hong sạm của mùa hè nóng bỏng.
Chicago, một cái địa danh mà có lần nào đó Nghị nghe thoáng qua về những tranh hùng của gangster, hay tai biến của đám hỏa hoạn lớn thiêu rụi cả một thành phố... Giờ thì chẳng còn chút dấu tích nào nữa cầ Nếu không ai nhắc đến thì có lẽ chẳng ai thèm nhớ, vì khu phố chính giờ đây chỉ thấy sừng sửng những tòa nhà chọc trời và công cuộc xây cất dường như chưa bao giờ thấy mỏi.
Sang đến cái xứ giàu nhất thiên hạ này từ lúc mười chín tuổi. Vừa làm cả đêm và đi học cả ngày nên việc học hành của nó cũng lận đận. Có lúc nó phải nghỉ mấy khóa để cày hai ba việc, vì thân nhân bị bệnh bên nhà. Nhọc nhằn thật, nhưng đã biên thơ cho gia đình là sẽ xong đại học nên nó cũng cắn răng chịu đựng để gia đình nở mặt với họ hàng, láng giềng khi nó thành tài. Nó cũng hy vọng học xong sẽ tìm được việc khá hơn, nhiều tiền và nhẹ nhàng hơn. Ði đi, về về rồi cuối cùng nó cũng xong đại học. Nhưng cái xứ chết tiệc này lại đang ở vào cảnh kinh tế đang phục hồi sau thời khủng hoảng nên người tìm việc thì nhiều mà sự thâu nhận thì chẳng là bao. Thế là gửi resume lung tung nhưng điểm điếc của nó chẳng đẹp mấy nên chẳng hãng nào thèm chừa chỗ để dán cái mảnh bằng của nó cầ Cả năm trời giấy đi, giấy về rồi nó cũng bỏ cuộc và đành đoạn vứt cái mãnh nhản hiệu của bao năm vất vã thi cử vào đáy tủ cho dán làm ổ. Vậy là nó tiếp tục làm dẽo dai bắp thịt, tiếp tục cái nhanh nhẹn của tay chân trong mọi thứ việc, miễn được trả tiền.
Ngồi bên tay lái để chờ cho máy xe nổ đều và trơn tru, nó nhìn vào con đường nhỏ với nhiều chung cư mà nó đã đi về từ bốn năm naỵ Những viên gạch trơ đỏ của các bức tường và ô, sọc của các đường xi măng đã trở thành quá quen thuộc đến độ nhàm chán. Vì thế nó đã mấy lần định đi du mục nữa. Nhưng từ nửa năm nay nó bỗng yêu con đường chi lạ.
Có lẽ vì cô con gái tuổi trạc hai mươi vừa mới sang. Nó bắt đầu chiếu cố đến mình nhiều hơn, tóc tai quần áo cũng thay đổi đôi chút chứ không còn cái kiểu ngạo đời như trước.
Cô ta tên Hằng, theo cha sang dưới diện H.Ọ Bác Ðức, cha nàng, cũng đã đôi lần trò chuyện với nô Và nó cũng chán lắm những câu chuyện của ông vì làm nó nhớ đến người cha bạc mệnh. Nó đã bao lần định tránh không gặp ông nếu không có Hằng ra vào nơi cửạ Bây giờ, ngoài những công việc tay chân tới tắp nó còn chuốc thêm mối bận bịu nữa là mơ tưởng đến cô gái nhà bên. Nó nhận thấy những cảm giác lạ lùng lần đầu tiên đến với nó, đến với cái lứa tuổi ba mươi mà hình như bạn bè nó đã trãi qua từ gần chục năm trước. Những luýnh quýnh, những ấp úng như hiện nguyên hình của một gã vô duyên khi đối diện với Hằng. Cô ta đến nó để muốn tìm hiểu nhiều thứ của cái xứ lạ này. Dường như nó cảm thấy như vậy. Dường như những chuyện đó chỉ là ma mới nhờ ma cũ thôi, nhưng nó cũng tưởng như là Hằng đến vì mượn cớ. Những câu nàng khen nó từ chuyện giỏi Anh văn, sành sỏi đường đi bước đứng, làm ăn siêng năng, cho đến việc học hành... Tất cả lời nói và cung cách của Hằng dường như có cái gì đó như là đặt biệt lắm. Ðôi khi nó cũng nghĩ những câu nói của Hằng cũng rất bình thường, hay là tự nó tưởng tượng... Nhưng trời không cho nó hưởng thêm mấy phút giây thần tiên nữa rồi. Mẹ nó trở bệnh nặng, thế là phải chạy đôn đáo để tìm thêm việc, thêm tiền.
Hôm nay chủ nhật, cuối tuần, không phải đi hãng làm nhưng nó đang nhận việc dựng hàng rào cho bác Trịnh. Và hôm qua đã làm đến chiều tối mới tạm ngưng. Hôm nay phải làm cho xong để khỏi phải dây dưa đến ngày mai, vì phải đi lên hãng. Hai bác đã quá tuổi đi làm nhưng có nghề làm bánh để phụ trội. Các con của hai bác đã ra làm việc hay làm ăn và có gia đình cả rồi nên hai bác cũng có vẽ cô quạnh. Những công việc tay chân nặng nhọc thì mướn người làm. Ðôi khi tiền công thì hai bác có vẽ kỳ kèo theo kiểu Việt Nam vậy đó và nó cũng quen rồi cho những thân chủ nói cùng thứ tiếng này.
Ðến trưa, đang ngồi nghỉ để gậm ổ bánh mì và uống nước đem theo từ sáng, bổng có tiếng của bác gái từ cửa nói vọng ra:
- Cậu Nghị này! Chúng tôi có việc phải đi đến tối mới về. Nhờ cậu trông qua cửa nẽo cho đến khi cậu ra về được không?
Nuốc vội miếng bánh vào bụng nó trả lời:
- Bác khỏi lo cháu nghĩ chẳng sao đâu.
- Còn khi nào làm xong cậu nhớ dọn dẹp sạch sẽ hộ cho nhé! Còn tiền công, ngày mai cậu ghé lấy có được không?
- Dạ! Lúc nào cháu cũng dọn sạch khi xong việc cả. Còn tiền thì ngày mai, sau khi đi làm về cháu sẽ ghé ngang hai bác cũng không sao.
Hai bác ra ngỏ, vẩy tay với nó và nó cũng vẩy tay lại. Sau khi họ đi xong, nó tiếp tục miếng ăn dang dỡ. Kiểu ta là vậy đó. Nói cùng ngôn ngữ thì dễ coi như bà con. Ðôi khi chẳng phải chỉ làm công cho công việc đã nhận mà còn thêm những thứ ngoài lề như trông nhà, phụ khuâng vác hay vặt vảnh làm một vài thứ. Nó quen quá rồi và cũng chẳng bao giờ nề hà. Những người lớn tuổi vẫn còn cái tính rất Việt Nam như thế. Những người trẻ hơn thì cái lằn ranh mướn việc có phần rỏ ràng hơn, đôi khi còn thân tình hơn bằng được dự những bữa cơm nóng cho buổi trưa. Người mình thì có bản sắc riêng như vậy. Làm những công việc kiểu này nó đã được chung đụng với nhiều sắc dân nên chẳng có gì làm nó nghĩ ngợi nữa.
Chiều hôm sau, sau khi tan sở Nghị chạy thẳng đến nhà bác Nghị để lấy tiền. Bác gái bảo:
- Cậu có thể sữa cái cổng một tí không? Nó mở ra, đóng vào bị gắt quá.
- Dạ! Ðể cháu xem.
Có lẽ tối qua trời sẩm tối nó không trông rõ nên cái thanh sắt lộ ra làm cho cái cửa khó đóng thật. Nghị chạy ra xe lấy đồ nghề vào sữa lại.
- À! Thế mới tốt chứ.
Bác gái vừa thử lại cái cửa và lấy tiền trao cho Nghị.
Chào hai bác Trịnh xong Nghị chạy thẳng ra văn phòng chuyển tiền về Việt Nam. Sợ trể giờ nên nó rất sốt ruột khi phải chờ đèn xanh, đèn đỏ. Nó phải đình chỉ vụ chuyển tiền này cả tuần nay rồi để dùng số vốn này cho các vật liệu. Việc ngày mai thì mai hẳn lo, nếu nó phải cần vốn cho một vụ thầu khác. Chỉ biết là bây giờ nó phải gửi gấp hai ngàn cho gia đình theo như điện tín nhận từ tuần trước. Mẹ đã nằm nhà thương, thuốc men phải trả tiền tại chổ thì mới có để điều trị. Ðó là trong trường hợp bệnh viện có thuốc, còn không thì phải chạy mua lậu bên này gửi về. Những chuyện này nó cũng đã từng trãi qua rồi.
May quá. Văn phòng vẫn còn mở cửa.
Xong việc gửi tiền, Nghị lái xe về mà lòng nghe nhẹ nhỏm như trút được một phần cái quả tạ đang đè nặng trên vai. Hôm nay đường còn được chổ trống để xe đậu lại nằm trước nhà Hằng. Cho xe đậu vào lề xong, nó định kiếm cớ để vào nhà Hằng vì bây giờ nó cảm thấy thư thái trong lòng lắm và muốn vài phút đi hoang. Ðang nghĩ miên man, chưa biết cách nào cho đở thấy trơ trẽn thì nó bắt gặp Hằng từ trong building đi ra. Mừng rỡ vì không cần phải viện lý do nào cả|. Nó giả vờ như rất ư là tình cờ.
- Chào Hằng! Ðịnh đi đâu vậy?
- Anh Nghị! Mẹ em bảo đi mua mấy thức gia vị và vài món cần dùng bị thiếu sót hôm đi chợ trước.
Trời ơi! Sao mà hôm nay ông trời lại cho mình nhiều may mắn thế này. Gửi tiền đúng như dự tính, mà bây giờ còn có cơ hội để được đi riêng với người mình mơ tưởng bấy lâu. Từ khi gia đìng Hằng đến đây, chẳng là mình đã nhiều lần chở bác gái và Hằng đi chợ sao? Nếu mình mở lời có lẽ Hằng không từ chối. Chỉ có đi chợ thôi mà.
- Chiều nay anh rãnh rang, anh có thể đưa Hằng đi chợ. Ðược chứ.
Nói xong nó cảm thấy sao mình nói thẳng thừng, vô duyên thế, chẳng tế nhị chút nàọ Lỡ cô ta từ chối thì có phải là tẻn tò và mất đi cái cơ hội ngàn vàng này sao? Ðúng là cái miệng ăn mắm ăn muối mà, cái miệng hư bột hư đường hết mà. Trời ơi! làm sao đây?
- Thôi em đi xe bus được rồị Anh mới đi làm về hãy nghỉ cho khoẻ.
- Không... không... không sao mà. Tôi... tôi cũng sẳn...
Chết rồi định nói láo mà chẳng biết nói cái gì đây. Khổ chưa! Ðã cà lăm, lắp bắp thì rõ ràng là có mưu đồ đây. May quá! Có lý do rồi:
- Tôi cũng sẳn tiện mua cái lọc cặn cho chổ rửa bát nhưng cứ quên hoài.
Hằng vẫn có vẽ lưỡng lự. Không biết nàng lưỡng lự vì thấy rõ cái "hảo" tâm của nó hay vì lần đầu tiên đi một mình với nó. Trong lúc cô ta còn phân vân, để tránh cô ta cự tuyệt, nó như xuống giọng như năn nỉ.
- Thôi mà! Xe ngay đây này. Không phải ra tận đầu đường mà còn phải chờ bus tới nữa.
Vừa nói nó vừa bước đến mở cửa xe. Hằng vẫn chưa có vẽ dứt khoát nhưng thấy nó khẩn khoảng quá nên cũng xiêu lòng. Nàng nói vớt.
- Có thực là không phiền anh đấy chứ. Em ngại lắm.
- Thật! Tôi muốn đi mua thật mà. Chỗ lối xóm có gì đâu.
Có gì đâu!? Chính nó đã muốn được gần gũi cô nàng và tìm mọi cách như thế mà nó cho là có gì đâu.
Con đường đi về hôm nay sao mà ngắn quá. Nó chẳng nói chuyện được bao nhiêu thì đã trở về nhà. Nó nhớ là nó chạy chậm lắm mà. Có mấy đèn đỏ nó còn đợi người ta nhấn kèn nó mới chịu chạy nữa kia nhưng sao về đến nhà nhanh vậy. Nó đã cố mời Hằng ghé quán ăn nhưng nàng nhất định từ chối. Nàng bảo bố mẹ ở nhà chờ cơm. Thôi thế cũng đủ lắm cho một lần đầu. Lần thứ nhất ở trong xe với chỉ một người con gái, người mà nó mơ mộng bấy lâu. Nó cảm thấy như tất cả êm ấm, rụt rè, lo sợ và hạnh phúc cùng tụ lại một lúc. Nó thấy mình như bay bổng, ngày thì vẫn là ngày, nhưng ngày hôm nay đặc biệt hơn mọi ngày trong cuộc đời lê la của nó.
Chào tạm biệt Hằng xong, nó hí hửng vui bước đi về nhà mình trong một niềm vui, một cảm giác lâng lâng của những phút giâygần gũi với Hằng. Ðành rằng mỗi đứa một ghế trong xe nhưng cái khoảng cách, cái mùi hương thoang thoảng đã cho nó một cơn say. Một thứ say không giống như rượu, không giống như chóng mặt, nó là một thứ rất lạ kỳ. Chân nó đi những bước rất nhẹ nhàng, như những điệu nhạc du dương trong một sàn nhảy nào đó mà thực sự nó chưa bao giờ biết nhảy đầm là gì cả.
Bước vào cửa, một thói quen như máy móc mỗi chiều về, nó mở hộp lấy thư trước khi vào nhấ Lại một điện tín, "Khẩn". Có lẽ nó gửi tiền chậm chăng? Chỉ có một tuần thôi mà. Hay là gia đình cần thêm tiền? Nó bóc vội bức điện ra xem. Chỉ vỏn vẹn ba chữ và mấy con số: "MA DA CHET...".
Tưởng mình đọc không rõ, nó đưa ra nơi sáng hơn và bức điện vẫn rành rành ba chữ: "MA DA CHET..."
Nó đứng lặng với cặp mắt như dán vào mấy chữ của bức điện. Nắng chiều đã tắt tự bao giờ ngoài đường phố. Một ngày đã trùm xuống với nó với những tận cùng cảm giác.
Hàn Trân