vhnt, số 322
19 August 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................................BBT
T h ơ:
1 - Vu vơ & Thời gian .................................. Ðinh Thăng
2 - Phượng.................................................. Cỏ Tím
3 - Ngu Ngơ....................................................Phù Vân
4 - Lối về đã lạc....................................... Ðan Hà
5 - Nếu..................................................... Thu Hồng
6 - Thoáng bâng khuâng................................. Hà Ðình Lan
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
7 - Ghe vùng sông rạch Cửu Long.................. Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
8 - Thánh sống........................................ Trần Long Hồ
Tuần vừa qua, tại Edingburgh, Scotland, hội Văn bút thế giới đã ra một quyết nghị tạm thời cách ly hội Văn bút Việt Nam hải ngoại trong các hoạt động bình thường của một hội viên thường trực đối với VBTG. Sự việc đáng tiếc xảy ra do những sự liên hệ phức tạp chính trong nội bộ VBVN.
Bạn thân! Chúng tôi chỉ thông tin trên diễn đàn vhnt như là một sự kiện hơn là tìm hiểu nguyên do, nhìn nhận vấn đề... về mối ràng buộc đầy định kiến của một ai đó trong VBVN. Bởi vì đây là sự kiện mang tính cách văn học nghệ thuật, và cũng không độc quyền cho một số người làm văn học nghệ thuật. Sự suy nghĩ hay bình luận, nếu có,thuộc về các bạn - những người yêu chữ nghĩa thi ca.
Là một diễn đàn văn học nghệ thuật, dẫu sự việc đã xảy ra như thế nào chăng nữa, chúng ta vẫn mong mỏi sự hoạt động của hội VBVN được hoạt động lại bình thường, mang đúng danh xưng văn hóa nghệ thuật và vì một nền văn học nghệ thuật Việt nam
thân ái,
ĐYT/vhnt
Snapshot Tháng 7
#15 Vu Vơ
phố ồn câm, đường đèn đỏ không hồn
rẽ xuôi ngược cướp thời gian chạy trốn
thời gian.
dòng bất tận
buồn, vui, giận, hờn
ai nhớ?
lãng đãng mây giăng, vàng nắng
ai quên?
gốc gió thổi xa
nhạt nhòa héo rũ
mây ở đây, hồn trôi ở đâu
đau đứt một lần cây chuyển chỗ
vị đất trời xưa nở ép một hàng hoa
#17 Thời Gian
Ðường một chiều đi không trở lại
Cầu treo ai rút bỏ sau lưng
Ngoảnh mặt: dòng xanh cát trắng
Ngẩn ngơ: sóng xóa vết chân
27/7
Ðinh Thang
Phượng
Hai mươi mốt mùa nắng hạ
phủ tím một góc trời
bao nhiêu lần phuợng nỡ
từng cánh vẫn chơi vơi
Hai mươi mốt mùa lặng lẽ
phuợng khẳng khiu đâm chồi
lá non rung khe khẽ
ruớn tàn nhẹ ngoài song
Hai mươi mốt lần hạ nóng
rát bỏng cả một đời
hoa say màu nắng lạ
đỏ rực cả hai nơi
Hai mươi mốt năm bướm ép
buồn vui mấy cho vừa
hai mươi mốt lần trổ nhụy
Phượng đã lớn hay chưa?
Cỏ Tím
Ngu Ngơ
Là con ốc
tôi là con ốc
ốc dấu mình
trong chiếc vỏ đầy rêu
Là con ốc
nằm yên nghe sóng
sóng vỗ về
ôm vỏ bám rêu phong
Là con ốc
chưa lần cười khóc
lấy cô đơn
làm bạn nỗi buồn vui
Nhà của tôi
chiếc vỏ ốc bé
luôn che chở
thân mềm nhỏ xinh xinh
Một hôm ốc
nhoài mình xa vỏ
mắt hé nhìn
tia nắng dịu đầu tiên
Rồi nhẹ tay
vén màng rêu bám
từng bước nhẹ
rời vỏ ốc lạnh tênh.
Trời xanh lắm
mê say tôi ngắm
ngỡ cuộc đời
chỉ toàn sắc trời trong
Và ngây ngất
cười luôn trong mắt
tôi mê mãi
trong hư ảo cuộc đời
Lời ngọt ngào
hay lời giả dối
tôi nào biết
chỉ như mây chiều trôi...
Thoảng tiếng đàn
nghiêng tai mê đắm
hòa theo gió
chợt tan bao giờ...
Yêu mưa chiều
hạt rơi tí tách
có đâu ngờ
chuyện đời tựa cơn mưa...
Ðời cho tôi
nỗi vui chất ngất
rồi ngỡ ngàng
chỉ như mây buồn trôi...
Tỉnh cơn mơ
choáng váng quị ngã
trên cát nóng
bỏng thân ốc nhỏ tôi
Lê chân mòn
vùi sâu vào vỏ
lũ kỷ niệm
xin chìm vào hư vô.
Là con ốc
nên hoài là ốc
cho dẫu rằng
đời mãi có quạnh hiu
Là con ốc
nằm yên trong vỏ
để kỷ niệm
thoát mất tựa phù vân
Là con ốc
ngàn đời yên ngủ
nghe sóng hát
triền miên khúc vô thanh...
PhùVân
(DL 8/97)
Lối Về Ðã Lạc
Bóng nằm sau khi mặt trời phía trước
Chân tôi về theo một hướng không tên
Lòng trống rỗng như cạn niềm mơ ước
Như bao năm thân lạc xứ xa miền
Chiều như đã ôm mặt trời đi mất
Ðể lại tôi với bóng tối cô đơn
Con đường lạ chưa bao giờ thấy mặt
Mộtt người quen cho lòng bớt tũi hờn
Vẫn đi mãi biết bao giờ đến chốn
Ðể tìm về nơi lòng vẫn xôn xao
Dấu kỷ niệm nhạt mờ như lẫn trốn
Trên dốc đời đã khuất bóng trăng sao
Nghe trong gió lời chiều như nhắn nhủ
Hãy đi mau kẻo không kịp khởi hành
Vì nơi chốn dành riêng cho khách lữ
Ðã không còn yêu mến để dung thân
Nhưng quê hương vẫn còn xa diệu vợi
Mãi đong đầy ngày tháng buồn lê thê
Vai chợt lạnh run lên từng bước đợi
Khi đường về bỗ ng thấy rộng, dài ghê!
Ðan Hà
NẾU
Nếu tôi là rong rêu
Xin giăng sầu phiến đá
Lắng nghe mưa chiều rơi
Khi mây về muôn ngã
Từng đợt sóng nhấp nhô
Cuốn đời rong phiêu bạt
Sóng ơi xin đừng xô
Cho rong nằm trên cát
Nếu đời tôi như rong
Xin được về biển vắng
Không giận hờn trông mong
Kiếp rong buồn trầm lắng
Nếu được làm thân ốc
Xa lánh được dòng đời
Tôi sẽ không còn khóc
Giữa những chiều chơi vơi...
Ốc nằm im cạnh biển
Hoang vắng một chiều êm
Không gian sầu im tiếng
Chút mộng tình trong đêm
Tôi không buồn chờ mãi
Khi đã xa tình đời
Dòng máu thôi ngừng chảy
Còn lạnh trái tim thôi
Chim bay vòng quanh ốc
Thủ thỉ những ân tình
Cánh gầy sầu lệ khóc
Ốc nức nở im thinh
Biển đang ngừng sóng nổi
Ốc cuộn mình lặng im
Nghe sóng tình dâng vội
Ru ốc giấc u miên...
Thu-Hồng
THOÁNG BÂNG KHUÂNG
Nắng thiên đường em về hơ áo mộng
mùa thu buồn ru những giọt tình không
sách vở học trò ươm tình mùa hạ
anh thấy gì trên những ngọn sầu đông...
Anh đã thấy ngọn sầu đông độ nọ
trĩu nặng buồn trong mắt nhỏ thơ ngây
anh đã thấy giữa phố người qua lại
nhỏ của anh lê gót nặng thẩn th
Mùa biển động nhỏ anh buồn muốn khóc
cầm tay anh nhỏ nói nhớ quê hương
nhớ Sài Gòn những trưa buồn tha thiết
và Gia Long ngôi trường cũ thân thương...
Anh nhìn sâu trong đáy mắt nhỏ yêu
thấy trời quê hương chập chờn khói tỏa
thấy giòng sông bàng bạc ánh trăng đêm
và đất mẹ một đêm nào - vụt cháy.
Rồi ở đây giữa trăm ngàn hiu quạnh
thoáng bâng khuâng chạnh nhớ áo thư sinh
lưu bút học trò ngây thơ nét chữ
tuổi thơ nào ghi khắc đậm trong tim?...
Nhỏ anh ơi cả một trời huyễn mộng
chắt chiu từ những kỷ niệm xa xưa
chợt đổ về giữa đông buồn ngơ ngác
lúc này đây - thấy thương nhỏ vô bờ...
Hà Ðình Lan
Ghe vùng sông rạch Cửu Long
Những gì tả lại cảnh đục mưa, bơi xuồng hay chèo ghe tam bản đã là những gì dễ thương của một vùng quê vào những ngày mưa dầm, cứ mỗi lần có dịp nhớ về vùng nông thôn ấy là đã thấy lòng mình như chùng lại. Nhớ mùa nước nổi, tôi xin mạo muội trình bày những tên gọi để phân biệt xuồng va ghe ở vùng sông nước Cửu Long, mà tôi thương nghe người ta gọi như sau:
Ghe là tất cả những phương tiện di chuyển trên sộng, thường có mui, và trọng tải trên hai mươi lăm gịa lúa trở lên ( từ 500 kgs đến hằng trăm tấn ). Các loại ghe có thể kể như sau: ghe chài với trọng tải nặng, thường để chở lúa, chở đá; ghe cuôi là loại ghe mình hơi bầu, thường được đóng tại các vùng Long xuyên, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho v v; ghe cà dom, lườn ghe thon, mũi ghe nhọn vót lên, thường được đóng từ miệt Châu Ðốc, Tân Châu; Ghe tam bản, mũi ghe bầu tròn, bụng ghe bè ra khá vững vàng khi đi trên sông. Có hai loại ghe tam bản: một loại lớn, trong tải nặng như các loại ghe kia, một loại tam bản mà các bạn ở quê chèo là loại tam bản nhỏ, dùng để làm phương tiện di chuyển, đi lại từ nha ra chợ búa hoặc dùng để làm đò đưa khách sang sông. Ðặc biệt loại ghe tam bản nhỏ này thường ít ai làm mui, trừ khi nông dân dùng làm phương tiện đi cắt lúa mướn, hoặc đi buôn bán lặt vặt mới làm mui bằng lá dừa nước để che nắng che mưa.
Tất cả các loại ghe trên, trước mũi ghe đều được thợ đóng ghe làm hai con mắt giống như kình ngư và sơn phết rất đẹp. Ngoài ra ngày xưa, mấy nhà giàu, thường có những ghe hầu, đóng theo hình dáng như ghe tam bản, nhưng có mui bằng cây thao lao, có cửa sổ như cửa dổ trên nhà, sơn phết rất đẹp.
Còn một loại ghe nữa, trước đây rất thông dụng, nhưng sau này ít dùng vì để tiết kiệm cây gỗ. Ðó là ghe lườn. Loại ghe này là một cây sao lớn, được thợ dùng búa đục móc lấy ruột làm thành hình dáng chiếc ghe, chứ không ráp những miếng be lại như những loại ghe thường. Miệt Sóc Trăng hằng năm có tổ chức đua loại ghe này, người ta thường gọi là ghe ngo, không có mui. Xuồng là loại phương tiện chuyên chở nhẹ, có trọng tải từ năm giạ lúa tới dưới hai mươi lăm gịa lúa ( khoản 100kgs đến gần 500kgs ). Ðặc biệt xuồng không có mui. Có thể kể mấy loại xuồng thông dụng: Xuồng cuôi là loại xuồng mình hơi bầu, sức chở khá,di chuyển vững; xuồng câu, mình thon dài, mũi xuồng nhọn vót, bơi hoặc chống lướt nhanh trên mặt nước; xuồng ba lá là loại xuồng chỉ đóng có ba lá be: một lá be làm đáy xuồng và hai lá be làm hông xuồng, loại be này tương đối bề ngang khá lớn. Về cách thức di chuyển có thể phân biệt như sau: Ghe chài dùng tàu kéo hoặc ủi vì trọng tải quá lớn. Các loại ghe khác thường đặt máy bên trong ghe hoặc bên ngoài ghe để di chuyển. Riêng ghe tam bản nhỏ di chuyển trên sông rạch gần hoặc đưa đò thường chèo bằng hai chèo hai bên gần lái ghe. Chèo ghe bắt buộc phải đứng. Có loại ghe có bánh lái, người chèo ghe dùng chân để lái ghe cho ngay. Có loại ghe không có bánh lái lớn, mà chỉ có bánh lái nước, nghĩa là bánh lái ngầm khuất dưới nước, người chèo ghe phải dùng chèo để vừa chèo vừa lái. Nếu không rành, chèo dễ lủi hoặc cứ quay vòng tròn không đi tới được. Còn xuồng thì chỉ có bơi xuồng bằng cây dầm, chứ không gọi là chèo xuồng được. Bơi xuồng thì ở tư thế ngồi. Cây dầm hình thức như cây chèo nhưng nhỏ hơn nhiều vừa với tay mình cầm. Tất cả dầm hoặc chèo đều được chuốt bóng bằng loại cây sao hoặc thao lao cho nhẹ nhàng.
Ngoài ra còn có danh từ xuồng đục hoặc ghe đục là những chiếc xuồng hoặc ghe này người ta đục những lỗ lù để nước sông ra vô tự nhiên, dùng rộng cá, chở cá đi xa mà không bị chết. Dĩ nhiên, người ta phải làm hai cái bửng hai đầu để nước không chạy luôn tuồng xuồng ghe bị chìm.
Vài dòng trình bày sơ lược, hy vọng các bạn đi xa quê hồi còn nhỏ có một chút khái niệm về ghe xuồng trên sông nước miền Nam.
Lương Thư Trung
Thánh Sống
Dòng họ của Ðược đã bốn đời đi ở đợ. Ðến đời Ðược, kinh nghiệm ở đợ trong người anh đã đến mức nhuần nhuyễn tột cùng. Từ cốt cách của Ðược, đến lời ăn, tiếng nói, nhất cử, nhất động, rõ ràng là một người ở đợ. Thấy anh, mọi người đều biết một tên ở đợ. Nghe Ðược nói, không cần nhìn, ai cũng biết anh là một tên ở đợ. Bất cứ ai, đã đến nhà Lão Gia, là chủ của Ðược, được anh phục vụ một lần, đều nhớ mãi. Họ không tìm ở đâu được một tên ở đợ giỏi như vậy.
Có người biết chuyện, nói với Lão Gia rằng, gia đình ông có phước vì có một tên ở đợ, như Ðược. Tìm cho ra một vị thầy thông thái thật khó thì tìm được một tên ở đợ có cốt cách cũng không phải dễ. Lão Gia cùng Phu Nhân và cô con gái Tiểu Thư cho rằng người ta quá lời. Họ nói chỉ là xã giao ngoài mặt, cốt lấy lòng, thực sự, Ðược chỉ là một tên ở đợ thấp hèn.
Ông sơ của Ðược được ông cố của Lão Gia cứu sống sau một trận chiến thảm khốc. Từ đó, để đáp ơn cứu mạng, ông sơ của Ðược tự nguyện ở đợ cho người ân của mình. Chân truyền ở đợ của dòng họ Ðược phát xuất từ đó. Qua đời ông cố, ông nội, qua cha, đến đời Ðược, khả năng ở đợ của anh càng lúc càng tiến triển và thấm nhuần vào cốt tủy.
Năm Ðược hai mươi hai tuổi thì cha mẹ Ðược đều lần lượt qua đời vì bệnh. Từ đó, Ðược bắt đầu chính thức cuộc đời ở đợ.
Ðược to lớn nhưng dáng không cao. Ðược khỏe mạnh nhưng trông yếu ớt. Ðược siêng năng nhưng ra vẻ biếng lười. Ðược khôn ngoan nhưng hình như ngu độn. Ðược làm việc giỏi nhưng không ai biết được. Con người Ðược như thế. Ðược tuy to nhưng đầu cúi, lưng khòm, vai rút lại và nghiêng qua một bên, do đó trông Ðược nhỏ và yếu ớt. Mặt Ðược vuông vắn vì hai càm bạnh, hàm răng thường cắn chặt, môi mím lại. Tóc Ðược rối bù, dài thượt, lòa xòa xuống tận vai. Tóc được cứng, đen mốc, gợi cho người khác hình tượng một bụi rễ tre. Mắt Ðược đã nhỏ, lại không chịu mở lớn. Anh nhìn người đối diện với tư thế nghiêng đầu. Theo tướng số, người ta bảo, Ðược là một kẻ gian hùng. Nhưng Lão Gia không nghĩ thế, ông cho rằng, một tên tớ tốt phải có kiểu nhìn như vậy. Tức là, nhìn không dám ngó thẳng, nhưng không phải liếc. Nhìn thẳng một cách ngang nhiên, đối với người bình thường, là kẻ chính trực, nhưng ở cương vị tớ,là thằng hỗn. Chỉ ở người đầy tớ chân truyền như Ðược mới có kiểu nhìn như vậy. Còn chân mày Ðược đã đen lại rậm, trông như hai vệt lọ nồi được phết lên trán. Mũi được dài và to. Sống mũi gồ cao và cánh mũi phình ngang. Do đó, hai lỗ mũi anh hếch lên và trống rỗng. Miệng Ðược rộng, tưởng chừng đút lọt cả bàn tay nắm.
Mặt Ðược đã khó coi như thế mà hình dạng anh cũng làm thương tổn cảm quan của kẻ đối diện. Ðược đi chậm, vẻ lừ đừ, nên trông anh vừa xấu vừa ngu độn. Anh làm việc từ tốn, cẩn thận, làm việc lúc vắng người, xong việc không để lại dấu tích. Vì thế, Ðược có vẻ như một kẻ lười biếng.
Mặc dù bên ngoài trông tệ hại như vậy nhưng Ðược là người tin cậy của Lão Gia. Bất cứ việc gì quan trọng Lão Gia cũng giao phó cho Ðược.
Năm Lão Gia được ngũ tuần, ông vẫn chưa có con trai. Hai ông bà, Lão Gia và Phu Nhân, chỉ có vỏn vẹn một người con gái là Tiểu Thư. Năm ấy, Phu Nhân được ba mươi bốn tuổi còn Tiểu Thư vừa vặn mười sáu. Lão Gia cũng có mấy vợ lẽ và nhiều tì thiếp, nhưng không ai sanh cho ông con trai. Lão Gia buồn vì chuyện đó. Ông thường than thở rồi đi cầu tự. Nhưng đã nhiều năm trôi qua, Tiểu Thư lớn dần, ngày càng xinh đẹp, tuổi Lão Gia đã cao mà chưa có con trai nối dõi.
Một ngày kia, người ta đồn ở tận nguồn sông Trường Lưu, trên núi Di Thần có một vị chân nhân thông thiên đạt địa. Vị này biết hết chuyện quá khứ vị lai, thường giúp đỡ nhiều người đạt được ước nguyện.
Vị chân nhân này tên là Thánh Sống. Ngài tu từ thuở nhỏ, theo đạo riêng, không phải Phật giáo mà cũng không phải bất cứ tôn giáo nào khác. Trong đền của ngài thờ rất nhiều thần, quanh năm khói nhang nghi ngút, không bao giờ dứt. Dân chúng từ nhiều nơi đổ xô về, nhất là những dịp lễ lớn để nhờ Thánh Sống đoán cho số mệnh, chỉ dẫn cách thức thoát khỏi tai nạn, được nhiều tài lộc và phước đức.
Người ta không biết tuổi của Thánh Sống bao nhiêu. Chỉ biết ngài còn khỏe mạnh lắm. Thánh Sống không những nổi tiếng vì tài năng mà còn ở đức độ. Ngài không bao giờ lấy tiền bạc của ai. Ngài chỉ giúp đỡ mọi người. Dân chúng tạ ơn Thánh Sống bằng tiền bạc, phẩm vật. Lâu ngày, danh tiếng của Thánh Sống càng cao thì kho báu của ngài cũng lớn. Ðệ tử xung quanh ngài đông lắm. Họ thần phục ngài, ca tụng ngài. Do đó mà ngài có tên Thánh Sống. Một lời ngài nói ra đều được đệ tử ca tụng và dân chúng nhất định tuân theo.
Lão Gia nghe nói, mừng lắm. Ông bàn với Phu Nhân về chuyện cầu tự. Bà đồng ý. Hai người dự định sẽ lên núi Di Thần cầu xin Thánh Sống giúp cho họ đạt được ước nguyện.
Năm đó, Lão Gia ra lệnh cho Ðược chuẩn bị mọi thứ cần thiết, đủ ba tháng cho cuộc hành trình.
Gia đình Lão Gia đi bằng thuyền. Tự nửa năm trước, ông đã cho người làm một chiếc thuyền thật lớn và đẹp. Bề dài của thuyền đến ba mươi thước, bề ngang bốn thước. Mũi thuyền chạm hình linh ngư với hai mắt trợn trừng nhìn xuống dòng sông. Ðuôi thuyền khắc hình rùa để trấn áp thuồng luồng và tà ma. Dọc hai bên thân thuyền có chạm trổ nhiều hình tượng thần linh.
Thuyền này có hai tầng. Tầng dưới chạy dài từ trước mũi cho tới sau lái. Phía trước thuyền dành một khoảng rộng làm sân để thưởng trăng. Khoang nằm chính giữa thuyền có hai tầng. Tầng trên chia ra hai phòng ngủ, một cho Lão Gia và Phu Nhân, một dành riêng cho Tiểu Thư. Tầng dưới cũng chia làm hai. Phía trước là phòng khách, phía sau là phòng ăn. Hai bên ngoài khoang có lối đi. Phần sau thuyền cũng chia làm hai. Phía trước là chỗ ở của Ðược cùng đám gia nhân và phu thuyền. Phía sau dùng làm nhà bếp. Tận cùng là phòng lái. Thuyền đi bằng buồm nếu gió thuận. Nếu không có gió thì bọn phu thuyền phải chèo.
Lão Gia chọn ngày tháng tốt và cuộc hành trình bắt đầu. Như thường lệ, hằng đêm Ðược vào vấn an Lão Gia và Phu Nhân để nhận lệnh cho ngày mai.
Ðêm đó, rằm, trăng sáng vằng vặc. Lão Gia ngồi trong phòng khách, trên tấm bồ đoàn, bên phải có Phu Nhân, bên trái có Tiểu Thư.
Bên ngoài trời đã tối hẳn. Gió thổi qua cửa sổ khoang thuyền, mang theo hơi nước sông và sương đêm lành lạnh.
Ðêm có trăng. Vầng trăng tròn treo lơ lửng trên nền trời, hiện rõ ngoài khung cửa sổ. Ánh trăng chiếu xiên xuống tấm chiếu hoa trải trong khoang thuyền.
Ðược ngồi xuống sàn thuyền, cúi đầu chờ lệnh. Từ lúc bước vào, anh đã ngửi được hương trà và mùi thơm khác thoang thoảng.
Chắc chắn, mùi thơm ấy không phải của Lão Gia. Ông già rồi, người gầy gò, khô khốc. Lão Gia vừa chẵn ngũ tuần nhưng trông già như kẻ thất thập cổ lai hi. Ông ngồi rũ trong bộ quần áo ngũ bằng lụa, rộng thùng thình. Không phải vì ông bị bệnh, phải ngồi thụp và lưng còng như vậy. Bao nhiêu năm rồi, từ khi Ðược lớn lên, tiếp nhận công việc ở đợ của cha truyền lại, anh đã thấy Lão Gia có kiểu ngồi như thế tự bao giờ. Cách ngồi của ông, đầu ngước, mặt hướng thẳng nhưng lưng hơi cong, hai chân xếp bằng. Hai chân ông, từ đầu gối xuống ống chân, xương xẩu tựa hai que tre. Do kiểu ngồi như thế nên dáng dấp của Lão Gia trông bạc nhược. Tóc ông hoa râm, búi ra sau, thường được quấn trong cái khăn màu xám đậm. Chỉ nhìn màu khăn, Ðược cũng biết là ngày nào trong tuần. Lão Gia chọn bảy màu cho bảy ngày trong tuần. Ông không thích màu vàng và màu hồng. Bảy màu của ông đều là màu xanh và xám lợt. Chúng thay đổi từ xanh lá cây lợt đến đậm, qua xanh dương da trời, rồi qua xám.
Ðêm nay, Lão Gia quấn cái khăn xám. Ðược biết là ngày Chủ Nhật. Bên ngoài cái khăn là mớ tóc muối tiêu được cuốn cẩn thận ra sau gáy. Mặt Lão Gia dài, càm nhọn. Hai mắt ông nhỏ, thường híp lại, làm như hai mí trên của ông nặng quá, trì xuống, khiến ông mở không lên. Chân mày ông đậm. Nét đậm này, Ðược biết, không phải thật, mà chúng được viết chì tô điểm lên. Mũi Lão Gia cao, nhưng cao kỳ cục và ngổ ngáo. Sống mũi ông cao dựng lên, đến nửa chừng, đột nhiên đi ngang, và chót mũi quặp xuống. Vì thế, mũi Lão Gia trông giống như mũi của một loài két. Miệng ông rộng, môi thâm xì vì thuốc lâ Môi Lão Gia thâm cũng phải, vì ông hút thuốc rất nhiều và uống trà suốt ngày.
Như thế, toàn bộ nhân dáng và khuôn mặt Lão Gia có vẻ sang và không hiền. Sang, vì Lão Gia giàu có từ trong trứng nước. Chưa sinh ra Lão Gia đã giàu rồi. Mọi việc trên đời và bất cứ chuyện gì trong cuộc sống của ông đều có người lo và làm cả. Lão Gia không hiền, vì tất cả gia nhân đều bị ông đánh đập thậm tệ. Nhưng Ðược chưa bao giờ bị Lão Gia đánh vì anh đã đọc được hết mọi ý muốn của ông. Anh thực hiện trước mọi thứ cho Lão Gia và đúng ý ông.
Trong khoang còn hai người nữa. Phu Nhân và Tiểu Thư. Mùi hương dìu dịu ấy phát xuất từ hai người này. Ðược không phân biệt mùi hương của người nào vì Phu Nhân và Tiểu Thư thường dùng chung một loại nước hoa.
Ðược không ngẩng đầu lên nhưng anh biết rõ cả hai người. Phu Nhân đã đứng tuổi. Tuy đã ba mươi tư, có một con, nhưng bà trông còn quá trẻ. Lão Gia khô khốc bao nhiêu thì Phu Nhân tươi trẻ bấy nhiêu. Cốt cách Phu Nhân đài các. Vóc người bà mảnh mai. Dáng bà đi, mình xà uốn khúc. Bà thường bới tóc gọn ra sau, để lộ phần gáy cao thon và trắng ngần. Khuôn mặt Phu Nhân tròn, đầy đặn nhưng không mập. Chân mày bà đen đậm và cong quắc lên. Mắt bà nhỏ, thật sắc, đuôi dài và bén ngót như hai lưỡi gươm. Mỗi khi Phu Nhân giận dữ, đôi mắt bà trông đẹp lạ lùng. Ánh mắt bà vừa có vẻ uy hiếp lại vừa quyến rũ. Mũi Phu Nhân không cao, cánh mũi hơi phình, nhưng cân đối với khuôn mặt. Miệng Phu Nhân rộng nhưng không vì thế mà giảm nét đẹp của bà. Có lẽ nhờ đôi môi cong của Phu Nhân. Môi trên Phu Nhân hơi vảnh lên còn môi dưới túm lại cho nên miệng bà tuy rộng mà trông thật khả ái. Càm bà nhọn nên giảm bớt được vẻ thô của khuôn mặt tròn. Phu Nhân đẹp nhờ vào thân hình, lưng ong, eo thắt. Phu Nhân biết vậy nên thường mặc áo bó sát và phủ bên ngoài bằng lớp lụa mỏng.
Người cuối cùng trong khoang là Tiểu Thư. Ðó là người mà Ðược vừa muốn tránh né lại muốn gặp gỡ.
Tiểu Thư càng lớn càng đẹp. Cô chọn lọc hết vẻ đẹp của Phu Nhân, và cả vóc dáng gày gò của Lão Gia. Nơi Lão Gia, thân hình xương xẩu, xấu xí bao nhiêu thì ở Tiểu Thư, trở nên mình hạc xương mai, trông đẹp bấy nhiêu. Người Tiểu Thư nhỏ nhắn, ẻo lả. Dáng đi của cô mềm mại, uyển chuyển. Cô đi như lướt nhẹ trên mặt đất. Ðược có cảm giác, Tiểu Thư bay chứ không phải đi.
Tiểu Thư đẹp quá. Ðược không hiểu sao trên đời lại có người đẹp như vậy. Khuôn mặt Tiểu Thư thon nhỏ. Chân mày cô không đậm mà không lợt. Chúng hiển hiện tự nhiên trên đôi mắt Tiểu Thư. Ðôi mắt ấy lớn, ánh mắt long lanh nhưng lại ngây thơ và hiền dịu. Mũi cô cao, sống mũi thẳng, cánh mũi nhồ Chót mũi Tiểu Thư tròn đều. Môi trên cô hơi túm, môi dưới cong tròn ở giữa. Cả hai tạo cho vành môi Tiểu Thư mũm mĩm và tươi hồng.
Ðêm nay là lần đầu tiên Ðược có dịp diện kiến cả ba người. Mọi khi, anh chỉ gặp Lão Gia mà ít thấy Phu Nhân và Tiểu Thư.
Khoang thuyền chật nên Ðược ngồi đối diện với Lão Gia, bên trái gần Phu Nhân, bên phải sát với Tiểu Thư. Vầng trăng sáng bên ngoài khung cửa sổ hiện rõ mồn một phía sau lưng Tiểu Thư. Nửa vầng trăng khuất sau vai cô, còn nửa trăng kia, ánh lên một vầng sáng vàng nhạt. Tựa như trăng đang phụ họa cho nét đẹp tuyệt trần của Tiểu Thư.
Thấy Ðược khúm núm lặng thinh, Lão Gia lên tiếng:
- Nhà ngươi chuẩn bị pha trà chưa?
Ðược cung kính đáp:
- Dạ, mọi thứ xong rồi. Tiểu nhân có mang theo những loại trà hảo hạng mà Lão Gia đặt mua bên Trung Quốc. Ðây là các danh trà mà Lão Gia chưa thử qua.
Lão Gia trầm giọng:
- Hôm nay có Phu Nhân và Tiểu Thư, ngươi phải chọn trà cho thích hợp.
Ðược cúi đầu:
- Tiểu nhân chọn Bích Loa Xuân.
Lão Gia nhìn Ðược đang quì mọp trên sàn, ông cảm thấy tội nghiệp, bèn nhẹ giọng:
- Ngươi cứ ngồi xếp bằng lại.
Ðược gật đầu:
- Cám ơn Lão Gia, Tiểu Nhân không dám ngồi xếp bằng trước mặt Lão Gia, Phu Nhân và Tiểu Thư. Xin cho tiểu nhân ngồi như thế này.
- Ngươi ngồi sao cũng được.
Ðược liền ngồi trên hai ống chân, hai bàn chân duỗi ra sau.
Một gia nhân mang vào lò và ấm nước đang sôi. Ðược ra dấu cho hắn đặt xuống sàn. Trong lò, lửa nóng hừng hực. Lửa bốc từ một thứ củi rất cứng, hầm thành than, nên nóng mà không khói. Do đó nước sôi được kềm, không sôi hỗn. Nước không sôi ùn ục, bọt lên cỡ mắt cua.
Ðược bày khai trà ra giữa chiếu. Một bình nhỏ cỡ nắm tay, màu nâu, trơn láng, không có chạm khắc hay hình vẽ. Ðây là bình trà có từ đời ông nội của Lão Gia. Nhân một chuyến du lịch sang Trung Hoa, cụ nội cùng ông cố của Ðược đã mua nó ở Nghi Hưng. Còn bốn chén chung và chén tống được họ mua trong một dịp khác. Trên khay còn có chén đong trà bằng gỗ, một cái gắp, và gạt tre.
Dòng họ Ðược gắn liền với gia đình Lão Gia. Thú uống trà được lưu truyền nhiều đời. Phía chủ, qua thời gian chỉ thưởng thức mà không thông suốt. Bên tớ, lâu dần càng tinh tường trong thú uống trà. Vì vậy, tuy Ðược nhỏ tuổi, nhưng trong đời ở đợ đã được truyền nhiều kinh nghiệm về trà.
Lão Gia nhìn khay trà, lẩm bẩm hỏi:
- Ngươi nói Bích Loa Xuân?
- Dạ!
Lão Gia hỏi xong, trầm ngâm không nói gì. Ông yên lặng nhìn Ðược làm việc. Ðược ngắm cái bình để đo lường dung tích rồi thong thả cho trà vào cái đong. Anh thả trà vào bình, những cánh trà nhỏ li ti, màu xanh xám. Ðược đưa cái ấm cao qua ngực, cho tia nước nóng chảy đều vào chén tống.
Ðược chế nước sôi từ chén tống vào bình, rửa trà thật nhanh rồi đổ nước đi. Anh chế nước tiếp từ chén tống vào bình, rồi để cái nắp bên ngoài, không đậy vội lại.
Bấy giờ, trà bốc mùi thơm dìu dịu, tựa như hương hoa lan quyện với mùi cỏ trong sương. Hương trà thơm nhẹ, bốc lên thoang thoảng, không nồng do sự chế biến nhân tạo.
Trong khi đó, Ðược tráng nóng bốn chén quân. Anh đập nắp bình trà lại, thở thong thả, từng hơi sâu và đều đặn.
Sau cùng, Ðược rót trà lần lượt vào chung. Màu trà vàng lợt và xanh nhạt. Hương trà bốc lên thơm ngát.
Ðược hít một hơi dài, kính cẩn đưa hai tay dâng trà cho Lão Gia, Phu Nhân, và Tiểu Thư.
Nước trà xanh nhạt, thơm dìu dịu nhưng lại tỏa lên ngạt ngào. Khi thấm vào môi, nước trà làm cho người thưởng thức cảm thấy, vị ngọt, mùi thơm, và tâm hồn lâng lâng sảng khoái.
Lão Gia nhắp một ngụm trà, giữ trong miệng một lúc. Thoát nhiên, ông cảm thấy tâm hồn phiêu diêu, thoát tục. Ông cảm thấy đầu óc thảnh thơi, mọi điều bực bội, ham muốn, và hận thù đều tan biến đi.
Lão Gia lim dim thưởng thức. Một thoáng sau, ông đã uống cạn chung trà. Lão Gia nhìn lại thấy Ðược còn ngồi đó. Mắt anh đang nhắm nghiền, thần thái cực kỳ an nhiên. Ông tưởng như anh đang nhập định.
Lão Gia chợt thoát ra khỏi hương vị trà. Ông nhớ lại Ðược là một tên ở đợ mà hình như nó thưởng thức trà sành sỏi hơn cả mình. Thoắt cái, ông nổi giận, nạt lớn:
- Ðược, mày đang làm gì thế?
Tiếng hét của Lão Gia làm cả Phu Nhân và Tiểu Thư giật mình, nhưng Ðược, tuy sợ sệt mà không hốt hoảng, anh cúi đầu:
- Con có lỗi, xin Lão Gia trách phạt.
Hương trà Bích Loa Xuân vẫn tỏa lên thoang thoảng trong phòng. Nó khiến Lão Gia không dám bộc lộ cơn giận dữ. Ông biết cư xử như thế không đúng phong cách một trà nhân, liền nuốt nước bọt, hạ thấp giọng:
- Mày ngủ gục hay sao?
Ðược cung kính đáp:
- Dạ, con đâu dám như vậy, chẳng qua vì hương trà quá thơm nên con đã xúc phạm Lão Gia.
Thấy thái độ khép nép của Ðược, Lão Gia bớt giận, ôn tồn bảo:
- Mày tiếp tục hầu trà đi.
- Dạ.
Ngoài trời tối dần. Trăng đã lên cao. Vầng trăng đầy, treo lơ lửng bên góc cửa sổ, hờ hững sau mái tóc Tiểu Thư.
Bấy giờ, khung cảnh hoàn toàn yên lặng. Bên ngoài, trăng chiếu xuyên qua cửa sổ, trải dài trên sàn khoang.
Mọi người trong phòng lặng thinh, nhưng mỗi sự im lặng được diễn ra theo một phong cách khác. Lão Gia và Ðược say mê thưởng thức trà, còn Phu Nhân và Tiểu Thư ngồi yên lặng.
Thuyền đi xuôi gió, nhờ buồm, nhưng ngược dòng nước nên phu thuyền phải rán sức chèo. Thuyền tiến chậm, qua hết phố thị, ruộng đồng, đến những vùng đồi núi hoang vu.
Núi Di Thần ở tận nguồn của sông Trường Lưu, nằm trên một ngọn cao trong những dãy núi chập chùng. Muốn đến đó, người ta phải vượt đoạn đường sông thật dài.
Trăng tròn rồi khuyết, đến ba lần thì thuyền đến một thị trấn nhồ Ðến đây, sông trở nên khúc khuỷu và nhiều gềnh thác nên lộ trình phải chuyển sang đường bộ. Một số phu ở lại trên thuyền. Lão Gia ra lệnh cho Ðược tuyển vài tên khỏe mạnh đi theo. Họ thuê ba chiếc xe chở người và hành lý, tiếp tục lên đường vào núi.
Ði được ba ngày mọi người tới một thị trấn nhỏ Trước kia, thị trấn này nghèo nàn và thưa dân nhưng trở nên phồn thịnh từ khi có Thánh Sống. Người ta quên hẳn tên cũ của thị trấn. Khách thập phương cứ dùng tên sông Trường Lưu để gọi. Chẳng mấy chốc mà thị trấn có tên mới là Trường Lưu.
Ðền Thánh Sống được cất dựa vào sườn núi. Mặt đền quay ra một vùng đất rộng, phẳng phiu. Từ đó lên đền phải qua năm mươi bậc tam cấp.
Chờ đến ba ngày, gia đình Lão Gia mới được Thánh Sống cho gặp mặt. Nhưng không ai thấy được mặt Thánh Sống. Mọi người chỉ được gặp ngài qua một bức màn đỏ. Người ta chỉ nghe giọng nói Thánh Sống trầm ấm. Tiếng nói của ngài có ma lực, vang rền trong khoảng không gian đầy ngập khói nhang và hương nồng. Chưa có ai kháng cự lại lời dạy của ngài. Họ nghe theo, tự nguyện và thần phục.
Lão Gia cũng vậy. Lời Thánh Sống ban ra như sét nổ bên tai ông. Thánh Sống cho biết Lão Gia không có con trai vì mắc một lời nguyền từ đời trước. Người hiện thân của lời nguyền là đứa con gái hiện tại của Lão Gia. Ðứa con gái đó đã khiến cho Lão Gia bị tuyệt tự con trai, không người nối dõi.
Lão Gia nghe lời Thánh Sống. Ông tin tưởng và giận con gái mình lắm. Ông chỉ muốn giết Tiểu Thư cho hả dạ. Nhưng Thánh Sống vốn là bậc quyền uy và độ lượng. Ngài có thể giải quyết bất cứ chuyện gì.
Ðể giải lời nguyền ấy, không những Phu Nhân nhận phép của Thánh Sống mà Tiểu Thư cũng phải chịu lễ trừ tà. Thánh Sống cần làm phép một tuần và tất cả các buổi lễ phải tiến hành trong đêm.
Lão Gia mừng lắm, bày lễ vật cúng và vái lạy cảm tạ.
Ðêm đó, trời tối tăm không trăng. Gió lạnh buốt xương. Ðược phải hộ tống Phu Nhân và Tiểu Thư đến đền Thánh Sống.
Kiệu dừng ở ngoài, mọi người không được bước lên bậc thềm trước đền. Chỉ có phu Nhân và Tiểu Thư là những người chịu lễ ban ơn của Thánh Sống mới được vào đền.
Ðêm càng về khuya càng lạnh. Ðược ngồi co ro bên bậc thềm, mắt hướng vào trong. Ðêm thật yên lặng. Ðược ngửi được mùi trầm hương thoang thoảng từ cửa đền bay ra. Hương thơm kỳ lẫ Ðược hít vào vài hơi đã thấy thần trí phiêu diêu thật dễ chịu.
Hai đệ tử của Thánh Sống canh gác bên ngoài, cũng phải đứng cách cửa chính thật xa. Họ vừa canh vừa ngủ gật. Ðược không biết họ ngủ gục vì buồn ngủ thật sự hay vì mùi hương kia.
Ðến quá nửa đêm, mùi hương không còn tỏa ra nữa. Từ bên trong đền có tiếng chuông vọng ra. Hai đệ tử được lệnh của Thánh Sống, đánh thức Ðược và mấy khu khiêng kiệu dậy.
Phu Nhân và Tiểu Thư được đưa ra ngoài. Trời tối mịt. Thần trí của Phu Nhân và Tiểu Thư phiêu diêu. Họ đi đứng dật dờ. Ðược mừng thầm, quả nhiên, bùa phép của Thánh Sống linh nghiệm thật.
Cuộc lễ của Thánh Sống diễn ra mỗi đêm như vậy. Ðến ngày thứ ba, Lão Gia mừng lắm vì sắc mặt của Phu Nhân và Tiểu Thư hồng hào, tinh thần sảng khoái. Cứ chiều đến, hai người nôn nả sửa soạn để được vào làm lễ với Thánh Sống.
Cuộc hành lễ diễn ra thật tốt đẹp. Ðoàn người trở về. Hết đoạn đường bộ, họ về lại đường sông. Lần này, thuyền vừa xuôi con nước và thuận gió nên đi rất nhanh.
Thời tiết tốt đẹp. Ðêm mát. Trời trong. Trăng khuyết nhưng sáng dìu dịu. Lão Gia cho đó là điềm lành.
Cuộc hành trình đi hơn một tháng thì Lão Gia có tin mừng. Phu nhân có thai. Lão Gia tin tưởng ông sẽ có con trai. Vì sau cuộc hành lễ, Phu Nhân tươi trẻ hơn và yêu mến ông thật nồng nàn.
oOo
Ba tháng sau ngày hành lễ, Tiểu Thư bị bệnh nặng.
Một buổi sáng tinh sương, Ðược đang mê ngủ phải choàng dậy vì tiếng người xôn xao bên ngoài. Ðược chưa kịp ngồi lên thì hai gia nhân xông vào, trói quật hai tay Ðược ra sau rồi lôi anh sền sệt ra ngoài. Họ kéo Ðược suốt dãy hành lang dài hun hút rồi ném anh ra giữa sân.
Trời u ám, mưa lâm râm, gió từng cơn lạnh buốt.
Trên khoảng sân rộng đã có nhiều người đứng lố nhố. Lão Gia đang ngồi trên chiếc ghế rộng. Hai bên có gia nhân căng lộng che mưa. Phu nhân ngồi ủ dột bên cạnh ông. Gia nhân đứng yên lặng hai bên.
Ðược ngoái đầu ra sau, thấy một người bị cột vào một cọc cây, gục đầu rũ rượi. Ðược thảng thốt gọi:
- Tiểu thư.
Lão Gia lớn tiếng nói:
- Ngươi còn gọi Tiểu Thư à! Thằng phản phúc.
Ðược ngơ ngác hỏi:
- Thưa Lão Gia, con đã làm gị
Lão Gia tức gận, thét lớn:
- Mày còn giả mù sa mưa. Mày đã làm gì Tiểu Thư?
- Con làm gì?
- Trói nó vào cọc kia. Bỏ chúng nó đói khát ngoài mưa cho đáng tội.
Lão Gia nói xong, quay lưng trở vào trong. Phu Nhân cùng gia nhân đều lần lượt bỏ đi. Mưa rơi lấp xấp. Gió buốt lạnh từng cơn.
Tiểu Thư bị trói quặc hai cánh tay ra sau trụ cây. Người cô cong oằn, rũ rượi. Nước mưa thấm ướt quần áo Tiểu Thư. Tóc cô chảy dài trên bờ lưng cong, hằn đậm trên màu áo trắng.
Có lẽ Tiểu Thư bị trói lâu lắm rồi. Ðược thấy, hai chân cô khuỵu xuống, đầu gối chỏi vào đất bùn. Nước lẫn bùn nâu sẫm, chan hòa trên hai bàn chân thon nhỏ của Tiểu Thư.
Tiểu Thư đau đớn và lạnh lắm. Ðược biết như vậy. Tiểu Thư đau mà Ðược cảm thấy khổ hơn bản thân mình phải chịu.
Ðược vuốt mặt, khẽ hỏi:
- Tiểu Thư?
Ðược gọi ba lần. Tiểu Thư lạc giọng, đáp:
- Ngươi biết chuyện gì không?
Ðược im lặng. Mưa đều hạt. Gió lạnh từng cơn. Ðược chờ đợi. Tiểu Thư nói tiếp:
- Ta có thai ba tháng.
Một cơn sét vừa chụp xuống, sấm động rung chuyển đất trời. Nhưng Ðược không hề biết. Ðược gập người xuống, cắn răng bật máu.
Tiểu Thư hỏi nhỏ:
- Tại sao ngươi đau khổ?
Ðược lặng thinh. Mưa tuôn xuống nhiều hơn. Nước đổ như trút. Gió bung từng mảnh áo mỏng manh.
- Ngươi có biết đứa con trong bụng ta là của ngươi hay không?
Sấm chớp lại vang lên. Ðược thảng thốt, hỏi:
- Tại sao vậy?
Tiểu Thư run rẩy đáp:
- Ta nói với Lão Gia và mọi người, cái thai là con của ngươi.
Ðược gục đầu im lặng. Tiểu Thư giữ đều giọng:
- Chỉ có ngươi mới cứu được ta.
Ðược cảm thấy mặn môi. Những giọt máu đỏ vừa rơi xuống bùn. Ðược cảm thấy choáng váng.
- Tôi là đầy tớ, thấp hèn.
Tiểu Thư nói:
- Ngươi hèn mọn nhưng thanh cao, ở chỗ thấp mà lòng không thấp.
- Tôi xấu và bần cùng.
- Ngươi xấu người nhưng lòng ngươi tốt. Ngươi làm mà không tỏ, nên việc mà không kể. Bấy lâu nay, ta hiểu lòng ngươi lắm.
Ðược lặng yên, cảm thấy lạnh. Tiểu Thư thổn thức nói:
- Ngươi có giận ta không?
Ðược lắc đầu. Tiểu Thư nói tiếp:
- Kể từ bây giờ, ta thuộc về ngươi. Vậy thì, ngươi có vui không?
Ðược gật đầu. Tiểu Thư không nói gì nữa. Mưa trút nước, mịt mùng. Gió từng cơn, quất rát rạt vào thân thể Ðược và Tiểu Thư. Nước bùn dâng lên, lầy lội.
Ðược lết đến gần, cởi trói cho Tiểu Thư. Hai người ngồi xuống bùn. Tiểu Thư ngồi trong lòng Ðược.
Mưa rơi mạnh và đều. Gió dữ và hăng. Ðược cảm thấy ấm áp giữa đất trời giá lạnh.
Rồi mưa tạnh, gió yên. Có mấy người đi lại, tiếng chân đạp vào bùn rất gấp.
Tiếng Phu Nhân nghẹn ngào:
- Các ngươi cất giữ mấy thứ này, làm hành trang và lộ phí. Lão Gia không muốn thấy mặt các ngươi nữa.
Phu Nhân vừa nói vừa cúi xuống, ôm Tiểu Thư. Hai người khóc nghẹn ngào. Gia nhân trao cho Ðược một bọc vải. Anh loạng choạng đứng lên. Họ kéo một chiếc xe kéo, bốn bánh, bằng gỗ đến cho Ðược, rồi khiêng Tiểu Thư, bỏ lên xe.
Mưa đã tạnh, tuy yên gió nhưng trời vẫn lạnh. Ðược phủ một chiếc mền rách cho Tiểu Thư, rồi cúi người, kéo xe đi.
Trời trong. Mây tan và nắng bắt đầu lên. Ðược oằn người, cong lưng, gập vai lại mà kéo xe. Bùn lầy lội. Chiếc xe nặng nề lăn bánh. Ngôi gia trang của Lão Gia chìm khuất sau mấy rặng cây xanh.
Tiểu Thư nằm im, thiêm thiếp. Ðược dừng xe, cúi đầu về phía núi Di Thần, bái tạ:
- Cám ơn Thánh Sống. Nhờ ngài mà con thoát kiếp tôi đòi và được cả Tiểu Thư. Tạ ơn Thánh Sống.
Trần Long Hồ
04/97