vhnt, số 319
7 August 1997
Trong số này:
thư vhnt............................................................... BBT
T h ơ:
1 - Chiều Vắng........................................ Trần thái Vân
2 - Xe Ðạp Xe Hơi............................................ Hàn Trân
3 - Anh - Em - Ta Trở Về................................... Kiều Lệ
4 - Chiều Trên Phố Lạ ................................ Caroline Phung
5 - Người Về ................................................. Út Say
6 - An Thuyên Một Nhánh Trăng Rằm Nở Hoa...................... Nguyễn Hiện Nghiệp
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
7 - Vài cảm nghĩ về "Cát bụi" ................. Nguyễn văn Tuấn
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
8 - Sắc áo trầm tư ................................... Hà Ðình Lan
Năm 1996, hàn lâm viện Thụy điển trao tặng giải Nobel văn chương cho nữ sĩ Ba Lan Wislawa Szymborska, cho một thi ca mà nó đã "... rọi sáng những khía cạnh của hiện thực nhân loại".
Như vậy thi ca hiện đại thể hiện từng ngõ ngách của cuộc sống, hay có thể để thể hiện mọi quan điểm của người viết mà không bị những ràng buộc, hay định kiến về một chủ đề nhất định hoặc giới hạn.
Ðó cũng chính một trong những chủ trương của vhnt. BBT đón nhận bài vở từ mọi nơi trên thế giới, đủ mọi thể loại, đề tài, và đủ sự đa dạng về người viết. Một trong những đề tài khá tế nhị, hiện hữu bởi tính cách lịch sử của dân tộc Việt nam ta, là những nhìn nhận về cuộc chiến đã qua, cuộc ly hương, và những cuộc chiến tranh về ý thức hệ vẫn đang ngấm ngầm trong khá nhiều người. Những trăn trở về đất nước, dân tộc, hay những mong mỏi cho một Việt nam tốt đẹp hơn... vẫn là những trăn trở rất đẹp, rất Việt Nam từ mọi phía. Nhất là từ các bạn trẻ, thế hệ không bị nhiều ám ảnh về cuộc chiến đã qua.
Chính trong chủ trương đó, vhnt sẽ làm cầu nối giữa người viết và bạn đọc cho những tác phẩm như thế, mà không nhất thiết là những phản ảnh quan điểm của vhnt. Bạn có thể xem truyện ngắn "Sắc áo trầm tư" của Hà Ðình Lan như là một ví dụ trong số báo hôm nay.
thân ái,
ĐYT/vhnt
Chiều Vắng
Chiều ảm đạm
Như mùa thu
Ta ngồi nhìn hư không và mây mù
Cuộc đời
ngày
không hẹn
Tiếng máy lạnh chạy
Ngọn cỏ hạ vàng hoe
Nỗi nhớ đi qua lại
ngoài hè
Con sóc
Mùa hạ hay thu
Mùa vẫn là mùa tuổi nhỏ
Chiều ảm đạm
Không còn ai chung quanh
Mình ta vắng lặng
Cuộc đời
ngày
em ơi
Chim vỗ cánh
Chiếc bóng đen bay theo
Tiếng vọng cao
hun hút
Tầng mây
Mùa hạ hay thu
Mùa làm chồng, làm vợ
Chiều ảm đạm
Ta đi chung quanh ta
Nhìn ngang dọc
Cuộc đời
ngày
con đường
Khói xe đen
Xa dần điạ đàng ô nhiễm
Mịt mờ
mịt mờ
Khí quyển
Mùa hạ hay thu
Mùa cô đơn
vô tận
Vô tận...
trần thái vân
Xe Ðạp Xe Hơi
Xe đạp nhỏ chở tình ta dạo phố
Trưa nắng Hè sao mát cả trời xanh
Hơi của em in dấu khoãng lưng mành
Từng lổ đá rung đầy cơn say đắm
Gió êm êm cũng mềm ra mấy dặm
Má em hồng, anh đỏ cả con tim
Ngày đầu tiên mình hẹn để im lìm
Lời nhiều lắm chỉ nói bằng cảm xúc
Ðường tỉnh lẽ chỉ dài năm ba phút
Mình loanh quanh trong mê trận hương yêu
Ðời trước sau xếp lại trên cánh diều
Ðứng giữa gió cùng nhìn nhau âu yếm
Vĩnh Long đó! áo em vàng kỷ niệm
Nón bài thơ mua tặng buổi đưa duyên
Công Xi Heo, chiếc cầu gổ nối liền
Mang nhau đến vườn dưa gang tình tự
Trời trưa đó mang theo đời xa xứ
Em bây giờ có lẽ nặng chồng con
Nón bài thơ không che nỗi vuông tròn
Vùng kinh tế nhuộm phèn tà áo cũ
Chuyện ngày xưa đất bùn chôn quá đủ
Rung cảm nào đục như nước ruộng nương
Anh nơi đây mờ tỏ những con đường
Xe hơi lái xa dần cơn rung động
Những tình yêu bỏ vào xe kiếng lộng
Mùi nước hoa thay thế những mùi da
Mùi shopping chẳng như lá cây nhà
Miếng pizza không là dưa gang mật
Em chắc mất và anh đây cũng mất
Màu thẹn thùng, tê dại của quê hương
Mai mốt đây trở lại những nẽo đường
Mình xa lạ cánh diều xưa đã đứt
Hàn Trân
Anh - Em - Ta Trở Về
Anh vời vợi như núi
cho rừng em thêm cây
anh phiêu lãng như mây
Bầu trời em xanh mát
Anh dòng sông bát ngát
tưới đồng em bao la
anh ánh nắng chan hoà
phơi em đồng lúa chín
Anh ve sầu bịn rịn
phượng hồng em vấn vương
anh làm lá sân trường
chân em êm dịu bước
Này núi cao nghìn thước
này mây mê mãi bay
này sông con nước đầy
này dịu êm ánh nắng
này chú ve hạ trắng
này chiếc lá trong sân
xích lại nhau thật gần
cùng em về bên ấy
anh ơi! anh có thấy
bên kia bờ biển đông
trời sắp chuyển sang hồng
đón ta về bên ấỵ
Kiều Lệ
Chiều Trên Phố Lạ
cũng vàng nắng, cũng mây xanh
nhưng sao lòng chợt manh nha chút sầu
phải chăng tình đã ươm màu
em về phố lạ, tơ sầu đã vương
vẫn thoảng gió, vẫn sáng trăng
đêm nay ngồi đếm sao giăng ngang trời
đi theo tiếng gọi, câu mời
em nằm nghe tiếng sóng đời vội dâng
còn nỗi nhớ, còn hoài mong
liễu sầu nghiêng bóng bên sông đợi chờ
nước trong trôi mãi hững hờ
tưởng chừng như đã biến thành phù sa
những kỷ niệm, những ân tình
thôi thì trao lại kết thành sương đêm
giọt sầu những chẳng có tên
làm sao em nhớ nỗi sầu chiều nay?
Caroline Phung
Người Về
người về, mưa nhẹ
mềm ướt vai nhau
nghe hơi thở khẽ
bâng khuâng giọt sầu
người về mang cả
dấu vết tình sơ
người về, tôi trả
xác thân vật vờ
người về để lại
giấc mộng trăng mơ
tôi ngồi ôm mãi
u mê dại khờ
người về, xin trả
lại đời cho nhau
người về thôi đã
nắng phai nhạt màu
Út Say
An Thuyên một nhánh trăng rằm nở hoa
giọt sống từ linh diệu huyền kết đọng.
mặt đất
ôm cọng cỏ thơm
đời hư vô -
quạnh tiếng trầm
rơi.
phù sinh khởi kiếp
vào -
hơi thở đầu.
cành mộng thảo nỡ hoa
thơm
vườn Thúy.
nẻo Từ Nguyên
ôm mạch sống
ươm mầm.
chào,
đêm khóc
tiếng trăm năm, nở ra một đóa trăng rằm
gọi xuân.
bán dạ.
thái dương hôn hồn nguyệt thực.
lời hát ru
mưa mát nắng
nhiệm mầu.
hồn nhiên cười hạt lệ châu,
núi đau lòng đá,
biển nhầu tim rong.
dòng suối mật trắng
truyền sinh hình tượng,
chồi lá xanh
non giọng hát ngô nghê, thương yêu trổ nhánh tươi
về nghe từ bi rụng tư bề thiên ân.
tiếng chim hót trên cành như nguyện, gieo lời ru
chìm đáy mắt vô ưu.
từ âm dương chuyển luân lưu, đã là thanh vọng thiên thu
tích nguồn.
chắt chiu hương ấm,
nắng mang niềm thạch nhũ,
nhịp
chân như
khua điệu hồng hoang.
trần ai vương gót đời, mang hư vô
xóa trắng
hợp
tan
tạo bồi.
ngày trút tháng vào năm
lên thủy triều nhụy sống,
bốn mùa đưa nhau đến hút thời gian,
nhựa cây-hạnh-phúc xanh, tàng mọc ra một nhánh-bình-an
ngọt ngào.
hạt giống tình yêu gieo trong vườn tương ái
chung thủy thấm nhuần giọt máu tơ duyên
cửu kỳ minh nguyệt cơ huyền
mãn khai nhất dạ an thuyên chi từ
trăm năm - một tiếng cười,
như trẻ sơ sinh
khóc vô tư
vào đời.
Nguyễn Hiện Nghiệp
Vài Cảm Nghĩ Về Ca Khúc Cát Bụi và Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn
Áo xưa dù nhàu,
Cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau...
Trịnh Công Sơn
Càng nghe lại những bài hát trong suốt từ thập niên 60s cho tới 90s, tôi càng sửng sốt về khả năng sáng tạo liên tục của Trịnh Công Sơn (TCS), người nhạc sĩ đã gây ra nhiều sóng gió, tranh luận trong giới chính khách và ngay cả giữa những người thưởng ngoạn trong những năm chiến tranh lên cao điểm ở Việt Nam. Ngay cả sau chiến tranh, nhiều nhãn hiệu "phản bội", "nối giáo cho giặc", v.v... vẫn được tiếp tục gắn lên người nhạc sĩ chỉ "hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..." [1]. Trong suốt hơn bốn mươi năm sáng tác, Trịnh Công Sơn đã viết hơn sáu trăm bài nhạc, xoay quanh ba chủ đề lớn: quê hương chiến tranh, tình yêu và thân phận. Có thể nói, trong cả ba đề tài, Trịnh Công Sơn đã thành công xuất sắc. Khi nhận xét về người nhạc sĩ tài hoa này, ông Nguyễn Xuân Khoát đã có lần viết "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra". Tuy nhiên, ngôn từ và cách nói của TCS khác lạ so với nhiều nhạc sĩ khác. TCS không dùng những từ ngữ hoa mỹ để nói lên những điều hiển nhiên trong cuộc sống hay những chữ trừu tượng để nói lên những triết lý cao siêu.
Văn Cao cũng có nhận xét về phong cách sáng tác của TCS rất chính xác: "cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ là ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tươi. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim."
Thật vậy, trong những thập niên 60 và 70, Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã chinh phục biết bao sinh viên, học sinh qua những ca khúc mà tôi nghĩ là khó có ai có thể quên được: Ướt Mi, Hạ Trắng, Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Phúc Âm Buồn, Nối Vòng Tay Lớn, Nước Mắt Cho Quê Hương, Ca Dao Mẹ, Hát Cho Một Người Nằm Xuống v.v... Ðối với tôi, hình ảnh Trịnh Công Sơn trong cây đàn guitar cùng Khánh Ly không giầy, không guốc, hát những bài ca về quê hương và chiến tranh trong các khuông viên đại học trong thập niên 70s quả là khó quên. Mỗi ca khúc mang một thông điệp hết sức đơn giản, hoặc về chiến tranh triền miên trên quê hương, hoặc về thân phận con người nhỏ nhoi trong thế giới cao rộng, hoặc về tình yêu lãng mạn, rạt rào cảm xúc mà tôi và chúng bạn lúc đó đã say sưa ôm đàn hát trong những dịp liên hoan văn nghệ, picnic hay cắm trại hè.
Tình yêu, một đề tài muôn thủa trong âm nhạc, chiếm một phần lớn trong các tác phẩm của TCS. Phần lớn các bài nhạc tình của Việt Nam được viết bằng những lời lẽ ray rức, lồng trong một hoàn cảnh éo le và thường được dựng trong một không gian của mùa thu lá đổ hay mưa gió bảo táp... Nhạc tình của TCS vượt xa những cái "thông lệ" nàỵ Tình yêu trong nhạc của TCS đến một cách rất nhẹ nhàng, thánh thiện, như:
Từ khi trăng là nguyệt
đèn thắp sáng trong tôi,
Từ khi trăng là nguyệt
em mang tim bối rối,
Từ khi trăng là nguyệt
tôi như từng cánh diều vui,
Từ khi em là nguyệt
trong tôi có những mặt trời.... [2]
và nhớ người yêu như một nỗi nhớ "gọi nắng...
Cho tóc em cài loài hoa nắng rơi,
Nắng đưa em về miền cao gió bay,
Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây,
Gọi tên em mãi suốt cơn mê này..." [3]
Để rồi sau bao năm gặp lại người yêu cũ, nàng làm mặt lạ, làm ngơ:
Gặp nhau không nói không nụ cười [4]
Ngay cả khi gặp người tình cũ đi với một người khác, thay vì nói lên một sự cay đắng, đau lòng vô hạn, ủy mị như "thôi rồi em đã xa anh...", thì TCS lại nói một cách tượng hình và có chiều sâu:
Có một dòng sông đã qua đời... [4]
Có thể nói qua những bài ca trong thập niên 60 và 70 của Trịnh Công Sơn, người ta cũng có một khái quát về về lịch sử cận đại của VN. Anh đã vui buồn với vận nước nỗi trôi:
Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày... [5]
Trong hơn hai mươi năm chiến tranh đó đã có quá nhiều cảnh "những điều mắt thấy mà đau đớn lòng" [6]. Và cũng có lẽ vì sự nung nấu tâm can trước những điều trông thấy chung quanh mà Trịnh Công Sơn đã viết lên nhiều tác phẩm đầy tự nhiên như một cuốn phim thời sự sống động: "Ðại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe", hay là bi thảm hơn nữa:
Một ngày mùa đông, hai bên là rừng,
Một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm
Người chết hai lần, thịt da nát tan. [7]
Trong những năm chiến tranh dữ dội ở Việt Nam, người viết bài này đã từng chứng kiến những xác chết của trẻ em la liệt trên những cánh đồng cỏ xanh ở miền Nam. Những cái chết mà nếu xảy ra bên các xứ Tây phương sẽ được cho lên trang đầu của những tờ báo lớn nhất và những bản tin nóng hổi đi khắp các đài truyền hình, nhưng lại âm thầm ở Việt Nam lúc đô May thay, Trịnh Công Sơn đã có lòng ghi lại những cảnh thảm thương đó một cách rất chân: "một buổi sáng mùa xuân, một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm... thịt da nát tan" [7].
Có người cho là âm nhạc hay nhất và đẹp nhất là âm nhạc mang tính nhân bản. Không biết nhạc của TCS có hay nhất, đẹp nhất hay không, nhưng có lẽ nhạc của anh mang nhiều tính nhân bản nhất. Ngoài những ca khúc về tình yêu và quê hương, Trịnh Công Sơn còn viết nhiều ca khúc để đời về thân phận. Một trong những bài ca mà tôi cho là có tính đại diện cho phong cách sáng tác và nhạc thuật của Trịnh Công Sơn là bài Cát Bụị Bài ca được viết theo thể điệu chậm, khoan thai (như phần lớn các ca khúc của Trịnh Công Sơn); lời rất đơn giản, không có tính cách trao chuốt, và gần như một bài thơ:
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Ðể một mai vươn hình hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Ðể một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày
Mặt trời nào soi sáng tim tôi
Ðể tình yêu say mòn thành đá cuội
Xin úp mặt bùi ngùi
từng ngày qua mỏi ngóng tin vui
Cụm rừng nào lá lá xác xơ cây
Từ vực sâu nghe lời mời đã dậy
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay
Nguyên bài hát bàng bạc một âm hưởng triết lý Phật Giáo về một chu kỳ sinh ra, lớn lên và chết đi, được thể hiện qua những lời ca nhịp nhàng, lãng mạn. Ðời người mong manh như hạt sương: sáng ra tóc còn xanh như hạt sương còn long lanh, chiều lại đã thấy tóc mình bạc phơ như hạt sương đã tan thành mây khói. Có lẽ sự tất yếu của cái chu kỳ này đã làm ám ảnh biết bao người nghệ sĩ và con ngườị Trong cuốn băng nhạc video Ru Tình phát hành gần đây, Trịnh Công Sơn cũng đã tâm sự là anh bị ám ảnh bởi cái chết ngay từ lúc còn thơ ấu, do vậy nhạc của anh đều biểu hiện sự quan tâm đến cuộc đời chung quanh và nhân thế một cách da diết. Anh có lần nói thân phận chỉ là một "hữu hạn" và cuộc đời chỉ là "những quán không", như một lời thơ cổ xưa của nhà sư Vạn Hạnh:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
trong triết lý "yếm thế", đã được nói đến từ xưa. Nhưng Trịnh Công Sơn đã dịch những từ ngữ khó hiểu này ra nhạc một cách dễ hiểu và gần gủi đến ngạc nhiên.
Một điều xảy ra chung quanh mà bất cứ ai cũng nhận thấy được là tính cách nhịp điệụ Hết ngày lại đêm, xuân qua hạ tớị Mỗi hành tinh có nhịp điệu riêng của mình khi quay quanh mặt trời. Các chức năng của cơ thể đạt tới đỉnh cao rồi giảm xuống cực tiểu tương ứng với thời kỳ: ngày, tuần, tháng, năm. Và, theo cái chu kỳ đó, con người được sinh ra, lớn lên rồi đi về cõi tiêu dao. Do vậy, không phải ngẫu nhiên khi Trịnh Công Sơn đã mở đầu bài hát bằng câu hỏi đơn giản "hạt bụi nào hoá kiếp thân tôỉ", cho đến ngày "để một mai vươn hình hài lớn dậy", và cuối cùng "để một mai tôi về làm cát bụi". Ðứng trên phương diện khoa học, có thể nói nguyên bài ca chỉ xoay quanh cái nguyên lý tự nhiên về bảo tồn năng lượng mà ai trong chúng ta cũng đã từng học qua. Nguyên tử (atom) hay hạt bụi không được ai tạo ra mà chỉ là kết quả của một sự biến dạng. Cái quan niệm này được TCS nhắc tới trong bài ca qua chữ "hạt bụi nào hóa kiếp" rất ví von.
Một trong những đặc điểm của sự tồn tại là tính luân chuyển (impermenance). Ngày xưa, một triết gia trứ danh của Hy Lạp, Heraclitus, có nhận xét rằng "không một ai có thể bước vào cùng một dòng sông hai lần" để nói lên sự thay đổi biến hóa không ngừng của thiên nhiên. Ðây cũng là một triết lý trung dung (centrist theory) của Phật giáo: Không có sự khởi đầu và cũng không có sự tận cùng của thế giới, nhưng chỉ có một chu kỳ sinh-sống-tử (cycle of births and deaths) vô tận. Nói như TCS là "một cõi đi về" trong một ca khúc mới sáng tác sau này.
Bài ca Cát Bụi còn mang một luận điểm triết lý của học thuyết tương quan (dependent origination) khá sâu sắc. Các hiện tượng trong thế giới đều chịu ảnh hưởng tương quan giữa năng lượng (energy) và phân tử (elements). Cơ thể con người cũng thay đổi hàng giây, hàng phút, để rồi "bao nhiêu năm làm kiếp con người" cho đến một ngày nào đó "chợt một chiều tóc trắng như vôi", khi "ngồi ôm tóc dài, chập chờn lau trắng trong tay..." [8], rồi cuối cùng mới nhận ra là "lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày". Sự luân chuyển và phụ thuộc giữa các hiện tượng trên thế giới cũng có thể ví như sự mất còn của một cuộc tình: "Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu say mòn thành đá cuội...".
Ðối với một người nghệ sĩ, chỉ cần vài, hay thậm chí chỉ duy nhất một tác phẩm để đời. Có thể cần đến hai hay ba muơơi năm hay cả cuộc đời để làm nên một tác phẩm như vậỵ Tác phẩm có thể được nổi tiếng khi tác giả còn sống hay đã qua đời, mà trong đó sẽ nói lên một vài điều trực tiếp hay gián tiếp quan niệm của tác giả về thế giới chung quanh và con ngườị Trịnh Công Sơn đã để lại nhiều tác phẩm như vậy.
Biết bao nhiêu máu lửa đã đổ trùm xuống mảnh đất Việt Nam, và từ trong ly loạn, nhiều bài ca đã được ra đời. Trịnh Công Sơn đã mang chút khói lửa của chiến tranh, bi thảm của chiến tranh vào âm nhạc Việt Nam. Nhưng anh còn đi xa hơn một bước nữa là đã mang được triết lý vào trong âm nhạc Việt Nam.
Nguyễn V. Tuấn
Sydney, Tháng 7, 1997
[1] Quan niệm sáng tác của TCS
[2] Trích ca khúc Nguyệt Ca
[3] Trích ca khúc Hạ Trắng
[4] Trích ca khúc Có Một Dòng Sông Ðã Qua Ðời
[5] Trích ca khúc Gia Tài Của Mẹ
[6] Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
[7] Trích ca khúc Một Buổi Sáng Mùa Xuân
[8] Trích ca khúc Chiếc Lá Thu Phai
SẮC ÁO TRẦM TƯ
Căn phòng nhỏ nhắn, vuông vức, diện tích không quá 12 mét vuông. Chính giữa phòng nằm chình ình một cái bàn lớn và bốn cái ghế. Trên bàn một xấp giấy trắng, cây viết, một ấm trà và vài cái ly cũ kỷ đã ngả màu vàng ố.
Gã giơ tay nhìn đồng hồ. Còn sớm. Lát nữa đây người ta sẽ dẫn độ Sư Ông vào đây làm việc, hay nói hoa mỹ hơn - họp - như người ta đã làm từ hơn mấy ngày nay. Thoạt đầu khi nhìn nhà sư lụm cụm đi vào phòng họp, chậm rãi kéo ghế ngồi xuống, gã không thể nào ngờ được Ông chính là tác giả của hai bức thư làm điên đầu cấp chỉ huy của gã vàgây xôn xao dư luận mấy lúc gần đây. Hai bức thư trong chồng hồ sơ mật mà gã đã lén lúc đọc vội vàng nhân lúc dọn dẹp trên bàn làm việc của cấp chỉ huy của gã. Lời lẽ trong thư chân thành, mộc mạc nhưng thống thiết làm gã rưng rưng nước mắt. Gã không có đạo, hiểu theo nghĩa hẹp, nhưng nếu hiểu theo một nghĩa rộng rãi hơn, làm lành lánh dữ, thờ cúng ông bà là có đạo thì gã chính là một Phật tử thuần thành. Vì thế gã đau theo từng giòng chữ trong hai lá thư mang dấu ấn phản động.
Phản động. Gã lắc đầu bực dọc. Chữ nghĩa nhảy múa trong đầu. Như thế nào là phản động? "Người cộng sản chân chính là người phải biết phân biệt rõ ràng thiện ác, cái xấu cái tốt không được trộn lộn lẫn nhau, ta địch phân minh". Thế nhưng, dù cố tìm cách mấy, gã vẫn không thể nào tìm thấy chút phản động nào trong hai lá thư và trên gương mặt hiền từ của Sư Ông. Làm sao có thể đặt Ông ở vị trí thù địch chỉ bằng vào hai bức thư, mà theo gã, đã nói lên được phần nào những uất nghẹn của một tôn giáo bị chà đạp và lừa dối. Phản động đối với chế độ này, đúng. Nhưng có phản động đối với Dân tộc - Ðất nước không? Chế độ này chỉ đại diện cho một thiểu số đảng viên, lại không do dân bầu lên, nên từ căn bản đã không có chính nghĩa thì làm sao có thể xét xử tiếng nói của một người đại diện chính thức cho một tôn giáo có một số tín đồ đông đảo và một lịch sử dài gắn liền với những thịnh suy, vinh nhục của Ðất nước.
Trên tất cả, gã là một con người. Chỉ điều đó và nội điều đó thôi đã ngăn cách gã với những đàn anh của gã.
Thật ra điều làm gã ngạc nhiên không hẳn chỉ vì hai bức thư, mà chính vì cung cách đối phó của cấp chỉ huy của gã. Huy động một lực lượng công an khổng lồ tung ra khắp nơi tìm bắt những người lưu giữ và truyền bá bức thư. Gã hiểu, người ta sợ gì một Ông thầy tu mắt mờ gối mỏi, gần đất xa trời. Chẳng qua người ta sợ là sợ đại khối Dân Tộc nằm sau lưng Ông. Trấn áp được Ông cũng có nghĩa là trấn áp được cả một Dân Tộc. Ðược hay không gã không dám đoan quyết, nhưng cái gương của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa còn sờ sờ ra đó, đàn anh của gã lẽ nào không thấy.
Trận chiến đã bắt đầu và gã hiểu thế đứng của gã...
Hai ngày dài trôi qua, cuộc họp diễn ra trong phòng kín như thế nào, gã không biết. Nhưng qua thái độ hằn học, bực tức của cấp chỉ huy của gã, cùng dáng điệu bình thản, trầm tỉnh của Sư Ông - mà gã nhận thây mỗi lần gã được phép vào châm thêm nước, bỏ thêm trà - cho gã biết rằng trong trận đấu sức này, đàn anh của gã còn yếu, yếu lắm.
Sư Ông xuất hiện trên ngưỡng cửa từ lúc nào, gã cũng không hay. Mãi đến lúc nghe tiếng gậy của Ông gõ vào vách, gã mới choàng tỉnh. Gã vội vàng bước đến, lúng túng thưa:
- Thưa Ông mới đến.
Sư Ông gật đầu, miệng nở một nụ cười nhỏ. Gã nghe lòng xốn xang đaụ Chỉ mới có mấy ngày mà trông Ông như già thêm mấy tuổi. Thần thái mệt nhọc, tiều tụy.
- Thưa Ông cho phép con dìu Ông vào trong.
- Dạ cảm ơn anh.
Gã nắm tay dìu Sư Ông chậm rãi đi dần vào bên trong. Ðến bên cái bàn lớn, gã kéo ghế kính cẩn mời Ông ngồi:
- Ông ngồi đây chờ, con xin phép ra ngoài nấu nước pha trà.
Lúc đem nước sôi vào, nhìn thấy Sư Ông ngồi trầm ngâm nhìn vào khoảng không phía trước, gã cố ngăn cho nước mắt đừng rơị Qua cái nắm tay ban nãy, gã hiểu rằng sức lực của Ông đã không còn bao nhiêu nữa. Như cây cung đã giương đến độ chót, liệu Ông có chịu nổi thêm một ngày dài nữa không? Tội tình gì mà hành hạ người tu hành đến như thế.
Bên ngoài có tiếng người xôn xao, gã bước ra, trán hằn nét suy tư.
oOo
Mấy lúc gần đây, chú tiểu Nghi Tâm bỗng nghe lòng mình có nhiều biến đổi. Hạt tuyết trắng ngần bay tấp vào khung cửa kiếng, tan ra thành nước, chảy ngoằng ngoèo trên mặt kiếng không còn làm chú nhìn mê mải như trước nữa. Lòng chú dửng dưng khi nhìn những hạt bụi nhỏ li ti nhảy múa trong ánh nắng chiê u vào kẻ hở của bức màn nâu. Lúc này, người ta thường thấy chú hay đứng ngẩn người như đang suy nghĩ chuyện gì đó. Tiếng mõ và giọng đọc kinh của chú không còn đều đặn và reo vui như trước nữa. Giọng đọc rời rã, bồn chồn như vấn vương một nỗi niềm nào đó. Chú đang bước vào tuổi trưởng thành, sự phát triển của cơ thể có phải là nguyên nhân chính của những đổi thay trong lòng chú?
Thật ra, tất cả cũng chỉ vì một bức thư, một bài hát và giọt nước mắt của sư phụ chú!
Chưa bao giờ chú thấy sư phụ chú khóc. Kể cả khi còn ở bên nhà, lúc phải đương đầu với những mưu mô thấp hèn của bọn cán bộ; hay giữa biển khơi, lúc mà sự sống và chết chỉ cách nhau có một sợi tóc. Vẫn thái độ trầm tỉnh, hiền hòa giữa cơn lốc đời nghiệt ngã. Thế nhưng tối hôm đó, lúc đi ngang thư phòng, vô tình nhìn vào trong, chú đã sửng sốt khi thấy sư phụ chú rơi nước mắt trong khi tay đang nắm chặt xấp giấy vàng ố.
Xấp giấy đó có lạ gì với chú đâu. Ðó chính là bức thư của sư bá chú từ quê nhà gởi sang, báo tin tình hình Phật sự bên nhà và kèm theo lá đơn của Hòa Thượng Thích Huyền Quang gởi cho chính quyền bên đó. Hôm nhận được thư, đọc xong sư phụ chú có đưa cho chú. Ðôi mắt người đỏ hoe còn chú thì nước mắt chảy dài theo từng giòng chữ. Chú còn quá nhỏ để có thể hiểu hết những thủ đoạn gian manh, xảo trá của chính quyền bên đó nhưng lớn đủ để biết đau cái đau của những người xuất gia bị chèn ép, khinh khi. Ðây là lần thứ hai chú khóc khi đọc một bức thư. Lần trước chú đã rơi nước mắt khi đọc bức thư của một tù trưởng da đỏ gởi cho một tướng lãnh da trắng khi ông này cầm quân chiếm đất. Bức thư đăng trong một quyển tập đọc Na Uy. Cũng lời lẽ chân thành, mộc mạc nhưng có sức lay động lòng người, cảm hóa đất trời. "Ðất và nước nào phải của riêng ai. Làm sao làm chủ được giọt sương buổi sáng đọng trên ngọn cỏ, tiếng róc rách của con suối len lỏi qua từng bờ đá, tiếng vi vu của gió núi thổi qua ngàn cây, tiếng chim ríu tít ban mai và tiếng thầm thì của rừng núi về đêm? Làm sao làm chủ được ánh nắng lung linh nhảy múa trên những nhành cây, màu nâu đen của đất, tiếng rỉ rả của côn trùng, mạch nước ngầm dưới đất, chồi non trên thân cây già và những linh hồn của biết bao nhiêu đời còn lảng vảng bên chân những người đang sống? Làm sao làm chủ được sự yên tỉnh của mặt hồ, tiếng âm u của giọt nước nhểu trên phiến đá phủ rêu xanh mướt, đôi mắt ngây thơ của chú nai con và những bước chân luyến thoắt của đôi sóc nâu đuổi bắt nhau trên cành...". Thông điệp hòa bình của người Tù Trưởng da đỏ đã không đánh động được lương tâm của những người da trắng hiếu chiến, cũng như không ngăn cản được vó ngựa xâm lăng nên đến bây giờ phải đành ngậm ngùi làm sắc dân thiểu số ngay trên chính đất nước của họ. Liệu Phật Giáo Việt Nam có chịu chung số phận bi thãm như thế hay không? Và bức thư với chín yêu sách của Hòa Thượng Huyền Quang sẽ chìm trong quên lãng, để một lần nữa chính nghĩa sẽ bị dập dùi?
Tiếng hát từ máy cassett vẳng ra làm chú nao nao. Bài hát nghe đi nghe lại nhiều lần nhưng cảm xúc vẫn y nguyên như lần đầu. "Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là đường đi học, con về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc, tuổi thơ con thả trên đồng. Quê hương là con đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông. Quê hương là cầu tre nhỏ, mẹ về nón lá nghiêng chẹ Quê hương là đêm trăng tõ, hoa cau rụng trắng ngoài thềm. Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôị Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người". Hỏi thật lòng chú nhé, chú có nhớ quê hương không? Có nhớ những ngày dài rạc chân theo thầy khất thực. Nắng quê hương chói lòa mắt nhớ. Vá tóc bay bay theo chiều gió. Có nhớ những buổi chợ vắng hoe, người bán nhiều hơn người muạ Những chú bé bằng tuổi với chú khiêng từng mâm đồ gia vị đi bán. Tiếng rao khản đặc âm vang buồn một góc ch Chút hành, tiêu, đường, bột ngọt, tiền lời một ngày có đủ để mua gói sôi lót lòng? Quê hương của chú qua mắt nhìn tuổi thơ không được đẹp như bài hát. Chùm khế ngọt quê hương chú chưa một lần trèo hái. Ðường đi học không có bướm vàng bay mà chỉ có khăn quàng đỏ héo hắc. Con diều biếc tuổi thơ vất vả, lang thang đi lượm từng tờ giấy vụn Kế hoạch nhồ Quê hương của chú là giọt nước mắt của bà cụ bán bánh cam lê tấm lưng còng đi rao từng con phố. Quê hương của chú là tiếng thở dài của chị Thinh bên gánh phở còn nguyên. Quê hương của chú là những buổi sáng, buổi chiều xếp hàng mua gạo, chút đầu cá ươn, giành giật từng ổ bánh mì, từng ký khoai sùng. Quê hương của chú là những xáo trộn qua hàng loạt vụ đổi tiền, những người về từ Kinh tế mới nằm la liệt trên các vĩa hè.
Vậy mà quê hương cứ theo chú đi mãi. Vậy mà âm hưởng quê hương vẫn làm lòng chú nao nao. Từ trong tiềm thức, chú cảm nhận được sự ràng buộc thiêng liêng giữa chú và quê hương, hay nói đúng hơn, chú là một phần bất-khả-phân của một quê hương nhất-quán. Thịt xương này cha mẹ tạo ra nhưng tâm hồn chú có được là nhờ thấm đậm vị ngọt của quê hương. Bỏ ngoài tai những biến động làm buồn lòng người lớn, vượt lên trên mọi chủ thuyết và những hầm chông của nó, quê hương bao giờ cũng là tổ ấm duy nhất và là chiếc nôi ru ngủ mọi tà tâm để cuối cùng chỉ còn lại những rung động rất người trước những điêu tàn, đổ nát của quê hương. Bởi thế, tại sao không nhớ. Làm sao không nhớ.
Có phải đó là điểm dị biệt căn bản gây ra những tranh chấp kéo dài suốt mấy thập niên, đưa đến những ly tán, đổ vở không cách chi hàn gắn được? Một bên xem quê hương là phương tiện để đạt đến cứu cánh xã hội chủ nghĩa, lợi dụng tình tự quê hương để cố thực hiện cho bằng được một xã hội đã-được-thai nghén-và-thực-hiện-không-thành-công ở nơi sản sinh ra nó. Còn một bên đặt quê hương lên trên tất cả, mọi học thuyết, chủ nghĩa đều phải phục vụ cho quê hương, vì quê hương. Có phải đó là lời giải thích chưa trọn vẹn cho những khổ đau mà người với người cứ nhân danh con người để làm khổ lẫn nhau?
oOo
Chàng tựa người lên lan can, nhìn xuống bên dưới. Dưới kia là thành phố, đèn mờ nhấp nháy. Và ở xa kia, xa lắm, là Việt Nam, quê hương nghèo khổ của chàng. Tầm mắt của chàng bị giới hạn bởi màn đêm, núi và mây. Kỷ niệm nào còn lại trong chàng sau hơn mười ba năm trời xa x Mười ba năm, thật nhanh. Mười ba năm, thật lạ. Tất cả tưởng chừng như một cơn mơ. Mười ba năm trên đất lạ thoáng có thoáng không. Chàng đôi lúc ngỡ ngàng cứ tưởng mình đang đứng giữa lằn ranh của quá khứ và tương lai. Hiện tại không cô Hiện tại là đây nhưng phản phất mơ hồ. Hiện tại chập chờn sương khói. Ở đây vàbây giờ là sợi tóc ngăn chia giữa hôm qua và ngày mai. Mười lăm năm trên quê hương, thật lạ, vẫn còn đậm nét trong lòng chàng, dù mười lăm năm thăm thẳm đó đã bị ngăn cách bởi sợi tóc mười ba năm. Cho đến bây giờ, chàng vẫn như còn thấy rõ những lồi lõm của con xóm ngày xưa chàng không biết bao nhiêu lần dẫm bàn chân thơ dại lên đó. Kia là mặt sân tráng xi măng bằng phẳng nhất xóm, nơi tụ tập của đám bạn nghèo khó, thường kể cho nhau nghe những chuyện trên trời dưới đất. Ðối diện nhà chàng là khoảng sân đã bị tróc hết xi măng, chỉ còn trơ lại đất, trước nhà dì Bảy. Nơi đó, những viên đạn tuổi thơ lăn dài theo từng sức bật của ngón taỵ Những viên đạn đủ màu, nức nẻ có, lành lặn có, được bàn tay tuổi thơ nâng niu, gìn gi Dì Bảy, người đàn bà mập tròn là đối tượng chọc ghẹo của lũ trẻ, mà chàng là một. Người đàn bà mặc cảm với cái tên Bèo quê mùa và tấm thân ú nù.
Chàng bỗng bật cười khi nhớ lại một chuyện xảy ra cách đây lâu lắm, mười mấy năm hơn, lúc chàng còn bên đó. Số là không hiểu ngẫu nhiên sao đó, một buổi sáng kia bỗng xuất hiện một chị đàn bà gánh bánh bèo đi bán dạo. Không hiểu sao chị lại đặt gánh bán trước nhà dì. Mỗi lần chị rao lên là mỗi lần bà con trong xóm ôm bụng cười. Dì Bảy giận lắm nhưng không biết nói sao, chỉ biết hậm hực đi ra đi vô, chưởi chó mắng mèo và cuối cùng không chịu đựng được nữa, dì đã lớn tiếng đuổi chị ta đi mà không một lời giải thích. Cũng như lần họp thanh niên trong xóm, chị Vân, con gái lớn của dì (rất nhiệt tình cách mạng), được mọi người đề nghị đứng lên hát. Còn đang ỏng a ỏng ẹo làm dáng, thì một anh thanh niên trong xóm đã vỗ tay hát vang: "Mặt bánh bèo đòi làm duyên làm dáng. Mặt bánh tráng đòi làm dáng làm duyên.". Mọi người cười ồ lên làm chị ta mắc cở đỏ mặt. Kế nhà dì Bảy là nhà bác Biểu bán bún xáo măng, có ba cô con gái lớn, chịu chơi hết xảy và cậu con trai út bóng lại cái te"n Cu răng đen, bằng tuổi với chàng. Ngay giữa nhà dì Bảy và bác Biểu không hiểu từ bao giờ, mọc lên sừng sửng một cây dừa. Cũng nhờ cây dừa lịch sử đó mà xóm chàng có tên xóm cây dừạ Nhưng trước lúc chàng bỏ đi ít lâu, xóm cây dừa đã bị đổi thành xóm cây trời đánh! Cũng vì cây dừa cao nhất xóm nên một đêm mưa gió đã bị sét đánh bay cả ngọn. Cây dừa và những trái dừa rơi bất tử lại là niềm vui cho lũ nhỏ. Mỗi khi gió mạnh, tàn cọ vào nhau xào xạc, trên mái tôn có tiếng rào rào là đám trẻ đang chơi bên dưới chạy dạt ra miệng la inh ỏi: Dừa rơi, dừa rơi bà con ơị Vui đáo để!
Hơi lạnh len vào người làm chàng nhẹ rùn mình. Bước trở vô nhà, đóng cửa lại, chàng ngồi xuống ghế sa-lông nhấn nút truyền hình. Hình ảnh những cao ốc chọc trời trong một thành phố bên Mỹ làm chàng bồi hồi nhớ đến một chương trình thời sự về Việt Nam mà đài Pháp vừa trình chiếu cách đây mấy bữa. Ống kính lê đến đâu, vẻ tiêu điều hiện lên đến đó. Cảnh vật thì xơ xác còn con người thì bàu nhàu, rách nát. Quê hương của chàng bây giờ tàn tạ đến thế đó sao? Lòng oặn đau khi nhìn những gương mặt khắc khổ, thân thể gầy gò, co ro trong những bộ quần áo rách tả tơi. Buồn vô cùng khi nhìn những em bé còm nhom, trần truồng hồn nhiên đùa giỡn. Ðất đã mất hết sinh khí còn con người thì vật vờ như những bóng mạ Non sông gấm vóc ngày xưa nay đã biến dạng thành một tấm giẽ rách nằm ngủ quên ở một góc phòng.
Tức giận hơn nữa khi nghe những lời khoác lác của một cán bộ khi trả lời phỏng vấn. Tại sao không dám nhìn thẳng vào thực tế để thấy rõ những bất lực của nhà cầm quyền, đã không mang lại hạt cơm và manh áo cho người dân, lại đi ba hoa về con số và những dự án không thật?
Ý niệm Quốc Gia và Cộng Sản thường làm chàng suy nghĩ thật nhiều. Cộng sản thì không cần phải nói nữa rồi, nhưng còn Quốc gia thì sao? Ðó lại là một chuyện buồn lòng khác. Chàng thật tình không dám chỉ trích cách thế chống cộng của lớp cha anh mình, nhưng ở thời điểm này, mười mấy năm sau biến cố 75, có nên đặt lại câu hỏi dễ gây ngộ nhận là chống cộng là chống ai, và chống cái gì hay không? Cứ khăng khăng giữ chặt ý niệm Ta - Ðịch là có phải đã tự khóa mình vào thế tỉnh trước những biến động đang dồn dập xảy ra? Chống cộng theo chàng, có nghĩa là chống lại sự độc tài, bạo tàn và ngu xuẩn. Thế nhưng nhìn lại chặng đường mười mấy năm qua, chúng ta thấy gị Buồn vô cùng khi phải nhìn nhận rằng có một số người tự nhận là Quốc gia nhưng lại sử dụng những thủ đoạn độc ác không kém chi cộng sản, thường ưu ái đâm vào lưng nhau những đòn trí mạng. Ðứng trước sự suy thoái của con người và đất nước Việt Nam, người tuổi trẻ như chàng có còn con đường nào khác để chọn ngoài hai con đường mà cha anh họ đã vạch sẵn? Cái vòng tròn Quốc-Cộng đó sẽ tiếp tục thấm máu thế hệ chàng và các thế hệ đi sau nữa hay sao? Có vô lý và bất công lắm hay không? Làm sao có thể nêu lên ý nghĩ của mình để cùng tranh luận mà không phải bị chụp mũ hay - nói theo ngôn ngữ mới - đeo mặt nạ? Một điều không thể chối cãi là dù thật tâm hay không, và với nguyên nhân nào, cộng sản cũng có những đổi thay đáng kể. Vậy thì tại sao chúng ta không thay đổi cách thế chống cộng cho phù hợp với tình thế. Cứ tiếp tục một mất một còn, chống cho đến tên cộng sản cuối cùng nữa hay không? Cứ tiếp tục yên ổn đứng bên này hô hào giải phóng Việt Nam bằng lật lọng nữa hay không?
Cái bắt tay lịch sử giữa hai đại diện PLO và Do Thái đã làm chàng suy nghĩ thật nhiềụ Liệu có nên hợp tác với những người cộng sản đã nhận chân ra được cái sai lầm chết người của chủ nghĩa, để cùng chống lại kẻ thù chung của dân tộc là nghèo đói và ngu dốt hay không? (Nói như thế có bị gọi là ngây thơ chính trị và có là một sự vô ơn đối với những người đã ngã xuống cho lý tưởng tự do hay không?). Những giấy tờ mang dấu ấn tuyệt mật của sở công an được ngầm lén lút đưa ra ngoài, có phải là một bằng chứng cho thấy giữa u mê chủ nghĩa, vẫn còn sáng lên những tấm lòng biết nhìn ra chân giầ Chúng ta có nên liệt họ vào hàng ngủ kẽ thù, một mất một còn? Chàng cũng không biết nữa, nhưng ít nhất nó cũng đáng để những người trẻ như chàng cùng lên tiếng.
Hà Ðình Lan
cuối mùa thi...