vhnt, số 318
5 August 1997
Trong số này:
thư vhnt............................................................ BBT
T h ơ:
1 - Ðêm thu uống rượu ............................... Trần Lộc
2 - Ngày trở lại căn nhà cũ ở Phnom Penh............ Hoài Bắc
3 - Tự Hỏi................................................ Kiều Lệ
4 - Bóng Tình Nhân........................................... Cỏ Dại
5 - Giấc Mơ Say................................................. UtSay
6 - Một Mặt Trời Có Thật.................. Huỳnh Ngọc Phước
7 - Anh, Em và Bông Hồng.................................... Cát Nhu
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
8 - Về Thơ và Nhạc
I. Một vài cảm xúc về thơ và nhạc............... Hàn Trân
II. Khí thơ, hồn nhạc (*)............................ Khải Minh
III. Ngôn ngữ nhạc, ngôn ngữ thơ (*)............... Hàn Trân
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
9 - Khu rừng của em .................................... Thạch Thủy
chú: (*) tựa do BBT đặt.
Rất tự nhiên, khi nghe một bản nhạc, thì những âm giai, tiết tấu, nhịp điệu của nó đến với ta trước. Có thể coi "air" nhạc là bước đầu để mọi người đón nhận nó. Nhưng bản nhạc muốn thật sự lên ngôi thì lời nhạc không thể thiếu chất thơ, thiếu ý tưởng. Nếu bỏ qua những yếu tố âm nhạc mang thuần tính kỹ thuật, nhưng cũng không kém phần quan trọng, như việc hòa âm phối khí, ca sĩ thể hiện... thì một bản nhạc có "hồn" xem ra cần sự truyền cảm cả nhạc và lời.
Khi nhà thơ Hoàng Cầm viết "Lá Diêu Bông", thật không nhiều người biết đến, ngoài một số người yêu thơ giới hạn. Nhưng khi nó được nhạc sĩ Trần Tiến phổ nhạc thành "Sao em nỡ vội lấy chồng" thì bài nhạc thật sự lên đường. Ðến với đại chúng. Và thành công. Ðến độ cả những người không gần gũi với thơ ca cũng bàn tán về sự ẩn dụ, tính triết l ý của lời nhạc. Ta có thật nhiều những tương tự cho các bài hát loại này. Như những bài hát của Nguyễn Tất Nhiên - Phạm Duy, Nguyên Sa - Ngô Thụy Miên... Khó có thể bảo rằng những bài nhạc loại này thành công nhờ nhạc hay lời. Có lẽ cả hai.
Chúng tôi muốn dẫn nhập đôi điều về thơ nhạc để xin mời các bạn đi vào sự cảm nghiệm, phân tích sâu xa hơn về sự tương quan giữa thơ và nhạc của Hàn Trân và Khải Minh trong số báo hôm nay. Và tất nhiên mời bạn đón đọc những bài thơ, mà biết đâu ta sẽ "cảm" hơn khi nghe nó qua một điệu nhạc êm ả ở tương lai. Ta có quyền hy vọng điều này phải không các bạn?
Tiếng nhạc đã rộn ràng cho một ngày mới, chúc bạn vui.
thân ái,
ĐYT/vhnt
Ðêm Thu Uống Rượu
Ngày ngắn quá không làm say điên đảo
Ta nhờ đêm đưa đẩy một vài ly
Ðêm thu, lạnh, trăng co ro ngoài cửa
Ta vung tay mời trăng ngự vào ly
Mơ làm hạt bụi, cay hoài mắt em
Chao nghiêng, vòng rượu đỏ
Paris cau mặt, buồn
Khói pha màu tóc, nhỏ
Seine nằm nghe mưa, tuôn
Ta mơ làm hạt bụi
Một sáng rời gác chuông
Chọn mi em, đậu nhẹ
Làm cay mắt người thương
Trần Lộc
Ngày Trở Lại Căn Nhà Cũ Ở Phnom Penh
Có một ngày tôi về lại căn nhà cũ
ngồi một mình trong trí nhớ một mình
dưới giàn cây vú sữa ở Phnom Penh
Giàn vú sữa vẫn xanh chát và mủ độc
Như đêm xưa người lính học trò
dẫn đồng đội vào ngủ trọ trước đêm nổi lửa
trên đồn có những lính đồ tể chưa đầy
mười hai tuổi ở Battambang
Tôi tự hỏi từ đó và bây giờ
Tại sao vú sữa vẫn xanh chát và mủ độc
Những cánh đồng phì nhiêu đầy xác người vô tội
Tôi tự hỏi từ đó và bây giờ
Sao người giết người dễ dàng như hái vú sữa trên cây
Em yêu dấu, người con gái tóc vàng Thụy Ðiển
Từ đó và bây giờ tôi không có câu trả lời
Em yêu dấu, người con gái tóc vàng Thụy Ðiển
Em không hiểu
Tại sao mình đã yêu nhau
Trong buổi trưa nóng bỏng ở Phnom Penh
trên chiếc giường tre ọp ẹp như xương người thiếu ăn
ngã xuống chết như lá cỏ khô
như một thời đã phủ kín những cánh đồng phì nhiêu
Em đã thấy trên con đường vào phố chợ
Em cũng không thể hiểu
Tại sao người ta giết nhau
và thoả mãn hít thở mùi khói đạn
Em cũng không thể biết được
Dưới chiếc giường tre mình đã yêu nhau
Có một đêm người lính học trò
về nằm ngủ ngụy trang
Sợ người lính Khmer mười hai tuổi
với con dao rừng còn bám đất ruộng khô
Yêu dấu, người con gái tóc vàng Thụy Ðiển
Tôi muốn rời bỏ nơi đây
Trước khi trời xập tối
Người lính học trò còn sợ những bóng ma
từ đó và bây giờ
Tôi không muốn tìm kiếm nữa
Câu trả lời cho câu hỏi từ đó và bây giờ
Mình sẽ yêu nhau ở một nơi khác
Trên ghế đá, hay dưới vòm cây golf course
Hay trong căn nhà tiện nghi đất Mỹ
Nhưng tôi phải rời bỏ nơi đây
Trước khi trời xập tối
Hoàng Bắc
Tự Hỏi
Trên đất lạ tôi một mình khắc khoải
Vọng về quê tôi thức suốt đêm thâu
Ðón mẹ sang tôi thường hay tự hỏi
Mẹ qua đây có ủ rũ u sầu?
Mẹ sang
Sung sướng quá ngày vui rồi cũng tới
đón mẹ sang tôi chăm chút mọi điều
nhưng đâu phải tôi xót xa nhìn mẹ:
đang u buồn trong chiếc bóng cô liêu.
Kiều Lệ
Bóng Tình Nhân
Ta về ôm bóng tình nhân
Gương xưa đập vỡ, người thương không còn
Gắng gom đôi chút hương tàn
Nuôi đời mộng ảo,thời gian bạc màu.
Ðành rằng hai đứa xa nhau
Thì thôi em cứ qua cầu cùng ai
Anh về vui với hình hài
Trăm năm biết có nhạt phai mộng đầu.
Lệ sầu trôi ngược về đâu?
Duyên mình đã định chờ nhau làm gì
Tình nào rồi chẳng phân ly
Duyên nào mà chẳng phân kỳ em ơi!
Thuyền tình một chuyến xa khơi
Nỗi buồn phong kín mây trời từ đây
Em về hạnh phúc xum vầy
Anh đi , đi mãi mượn vay cuộc đời.
Thu phai xác lá vàng rơi
Có con chim nhỏ nằm phơi thây mình
Dế buồn thôi cũng quyên sinh
Bóng đêm buông phủ, lặng thinh tạ từ.
Cỏ Dại
Giấc Mơ Say
thân tặng người đã lén đi uống rượu
Ðêm qua trong giấc ngủ mơ
Mơ nàng bán rượu, mơ mình kẻ say
Rượu nồng ai đã trao tay
Cho ta chuốc mãi men cay chén sầu
Trời trở lạnh gió chiều hiu hắt
Tạm ghé vào quán rượu dừng chân
Hai tay bày chén ân cần
Rót mời khách uống rượu đào thơm hoa
Bên bếp hồng nàng ngồi hâm rượu
Ðôi môi xinh thoáng hé nụ cười
Bờ mi ẩn nét xuân tươi
Như mai nở rộ giữa trời tiết Ðông
Nhân quán vắng, đôi dòng hạ bút
Thảo vần thơ bày tỏ tấm lòng
Kìa, sao đôi má chớm hồng,
Phải gần bếp nóng, hay tình đã ươm?
Nàng ngâm khẽ lên bài thơ hoạ
Rượu tương giao nghiêng rót mời nhau
Ước thề nghĩa đậm tình sâu
Dẫu cho chén cạn, đầy câu ân tình
Cứ mỗi lần đi về ngang lối
Ta cùng nàng trao đổi vần thơ
Tưởng đâu tình tạm duyên sơ
Ai ngờ lòng đã trót mơ bóng hình
Bỗng một hôm, quán hàng vắng bóng
Nghe nói rằng nàng đã về quê
Chợt như gió lạnh tái tê
Ðông về sớm quá! hôn mê giọt sầu
Giật mình tỉnh giấc mơ màng
Môi như mặn đắng, mắt chừng hơi cay
Ngỡ mình đang uống rượu say
Nhận ra mới biết lòng đang nhớ người
UtSay
Một Mặt Trời Có Thật
Rồi đến lúc ta trở về với đất
Những sầu, bi, thương, nhớ sẽ thờ ơ
Lòng đất lạ chắc gì yên nhắm mắt
Hỏi đêm đêm trống vắng định về đâu.
Trong trí nhớ mịt mù như lá rụng
Những con đường đi, đến sẽ mông lung
Sẽ tưởng tượng một mặt trời có thật
Gửi linh hồn xương cốt với tro than.
Lối mở về chắc hẳn có thênh thang
Hay hệ lụy vẫn theo ta muôn ngàn kiếp
Ta có sống cuộc đời ta đánh mất
Giấc mơ nào nhung nhớ phải mang theo?
Dĩ vãng chập chùng biết có còn réo gọi
Ân tình xưa, nghĩa cũ liệu buông tha
Nợ núi sông, mũi kim nhọn hôm qua
Hay nằm đó còn lo miếng cơm manh áo?
Nếu ta chết mang theo đời hệ lụy
Thì buông tay bỏ cuộc, xong, hôm nay
Khi sống chết như một làn chỉ nhỏ
Chết cách nào cũng vậy có sao đâu.
Ðành sống lại mà đi vào gươm giáo
Vết chém sâu có ngọt cũng vui vui
Biết đâu mai thân xác muốn ngủ vùi
Lòng đất cũ nằm yên mà nhắm mắt.
Huỳnh Ngọc Phước
Anh, Em và Bông Hồng
Khi em đưa tay ra nhận một bông hồng
Không có nghĩa là tình yêu em dành cho anh đã chết
Khi em đưa tay ra nhận một bông hồng
Lúc ngày sắp hết
Ðể nhắc nhở rằng mình vẫn cô đơn
Khi xa anh em biết nói gì hơn
Và hờn dỗi trở nên dường như điều không thể
Cũng như...
Trong cuộc sống có những điều tưởng dễ
Thế mà sao cố gắng mãi vẫn chưa tròn?
Nếu có sẵn con đường cho em chọn
Em sẽ chọn aỉ
Em,
Anh,
Hay bông hồng của một người vừa mới tặng
Em không biết
Chỉ biết rằng em còn yêu tha thiết
Như sóng kia vẫn mãi vỗ về bờ
Dù con sóng có đôi lúc hững hờ
Không có nghĩa tình yêu đang hấp hối
Và hôm nay
Trong buổi tối tình cờ
Em đã đưa tay nhận một bông hồng trắng
Của người ta mà cứ ngỡ là anh tặng
Một chút im lặng thoáng qua
Ðể ngậm ngùi em biết
Ðó là điều không thể
Bởi vì anh
Nào đâu đã
Trở về...
Cát Nhu
Về Thơ và Nhạc
(trích từ diễn đàn Ô Thước)
I. Một vài cảm xúc về thơ và nhạc
Nhìn vào cảm xúc từ lúc con người bắt đầu vào đời. Những thố lộ, những ước mong, những cảm thông giữa cái ta và chung quanh là những cảm giác, những giao truyền, những lắng đọng v.v... Tất cả những tiếp xúc cùng thế giới không là ta. Thế giới mà nó làm cho cái ta có lúc ngơ ngác, có lúc trìu mến, có lúc đam mê, có lúc giận hờn, có lúc trở thành hận thù hay tình yêu. Thế giới mà nó có muôn hình vạn trạng mà tình tự "hỉ, nộ, ái, ố" đôi khi có thể biểu hiện qua một thái độ. Sự biểu hiện thái độ hay cảm xúc, hay nhận thức có lúc nóng bỏng có lúc nhẹ nhàng, có lúc câm lặng. Bằng bất cứ phương tiện truyền đạt nào đi nữa, cái ta cũng phải vận dụng ngũ quan của nó cho công cuộc truyền thông. Cái ta và cái không ta đã bắt đầu những giao cảm, những truyền đạt từ khi cái ta khởi đầu bằng tiếng khóc "oe oe".
Âm thanh và sự ấm áp, xoa dịu đầu đời bằng xúc giác là những giao cảm bắt đầu cho sự chung đụng của cái ta và thế giới không ta. Rồi khi cái ta biết mở mắt để cảm nhận những hình ảnh, màu sắc hay khứu giác hoạt động khi thoang thoảng kích thích từ hơi th
Có lẽ sự khởi đầu của cuộc khám phá của cái không ta mà âm thanh đã là một "đầu tiên" làm công cụ cho cuộc khám phá này nên nó đã là thứ nhạy cảm nhất của cái ta? Từ những lời ru của mẹ, từ tiếng khóc đòi sữa, từ tiếng khóc ước mong, từ tiếng cười thoã mãn, tất cả đã nhen nhúm cho những mầm "hỉ nộ Ái ố" đâm chồi. Rồi âm thanh đã chiếm phần rất quan trọng trong những khích động tâm tư như bài hát, bài ca dao, tiếng trống kèn thúc quân, tiếng hát lên đường, tiếng đàn tình tự của một mất mát v.v...
Ngôn ngữ cũng đã sử dụng âm thanh để truyền đạt những "hỉ nộ ái ố" một cách dài dòng hơn, tỉ mỉ hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh tao hay trắng trợn hơn. Âm thanh và ngôn ngũ đã bắt đầu cưới hỏi nhau từ đấỵ Và cái ta từ khi xử dụng phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ cũng bắt đầu cảm ngộ "hỉ nộ ái ố" một cách hoàn mỹ hơn.
Cái ta bao giờ cũng thích được chìu chộng, nâng niu cho nên những âm thanh nhẹ nhàng, những ngôn từ ve vuốt trầm bổng đều dể hấp thụ hơn. Tiếng ve sầu, tiếng gió bão, tiếng suối nước, tiếng thông reo, tiếng chim kêu, tiếng khóc thét, tiếng sục sùi, v.v... Tất cả những âm thanh đã khởi màu như một tiếng nói của một hình ảnh, một tình huống của cái ta và cái không ta đã bắt đầu cho những nhận xét rồi đi đến nhận thức và sau cùng là ghi nhận để truyền thông cho chính mình hay cho cái không là mình. Ngôn tự bắt đầu cuộc khám của nó. Ði kèm với âm hưởng trầm bổng ngôn tự đã len vào cái ta một cách dể dàng và nhẹ nhàng. Nó nhiểm vào cái ta có đôi khi chẳng hay biết.
Thơ và nhạc thể trầm bổng có thể bắt nguồn từ những âm thanh chung quanh và cộng với cái nhận, cái ngộ, cái thiền để mong len lỏi vào cái cộng đồng truyền thông một cách nhẹ nhàng và trìu mến. Từ đó thơ đã thành hình với âm vận của than thở từ hkông gian, thời gian và tâm thức. Thơ đã được hiểu và nhập nhằng với âm điệu để gọi là ngôn ngữ thơ.
Từ đó thơ đã mang riêng cho nó nhạc tính. Nếu thiếu nhạc tính, thơ chẳng còn cái mềm mại nhẹ nhàng như sinh tính của nó nữa. Còn trong nhạc, tự âm hưởng nó đã gieo vào cái ta một thứ ngôn ngữ riêng của nó, một ngôn ngữ của cảm, của ngộ. Nhưng để bộc lộ xa hơn hay sáng tỏ mục đích hơn, nhạc được bổ xung bằng ngôn t Ngôn từ của nhạc thì không nhất thiết phải tự nó có nhạc tính vì nó đã được phụ giãi bằng nhạc vận. Tuy thế nếu ngôn từ của nhạc mà rời bỏ hẳn thơ tính thì có lẽ nó có lẽ phải rất dài vì chỉ thơ tính mới đem lại cái súc tích ý tưởng.
Nếu nghe nhạc TCS mà không biết được lời thì nhạc ông ta cũng thường thôi.
Em đến bên đời, hoa vàng một đóa...
Người hãy nhớ mang theo hành trang... qua khoảng trời vắng chân mây địa đàng
Cái thơ tính đã mang nhạc TCS lên một giá trị đặc biệt. Cũng tương tự như nhạc của Vũ Thành An. Nếu những bài không tên mà thiếu ngôn ngữ tình thơ của nó thì có lẽ nó không là một hiện tượng khi mới chào đời. Riêng nhạc Ngô Thụy Miên thì nhạc tính có hay hơn nhưng ông cũng hoàn chỉnh bằng lời thơ của chính ông hay thơ Nguyên Sa. Còn nhạc của Phạm Duy và các nhạc tiền chiến đều có lời bằng thơ tính thì chẳng cần phải nói cái tình khắn khít của thơ và nhạc của nó nữa.
Gần đây nhạc Ðức Huy được phổ cập như bài "Bỏ quên con tim", "Người tình trăm năm"... tuy lời của nó không tự mang hoàn toàn nét bổng trầm của thơ nhưng nó súc tích của chất thơ.
Hầu như những bản nhạc Việt có giá trị lâu dài đều mang chất thơ trong lời của nô Thơ và nhạc trong âm nhạc Việt Nam cho đến giai đọan này và có thể về sau, có một sự gò bó khắn khít của một thứ tình mà có thể gọi là "tình thơ và nhạc".
Âm thanh đã bắt đầu cho sự khai phá của cái ta và cái không ta. Âm thanh đã thành hình cho cái êm đềm nhạc điệu, âm vận để len vào cái ta và cái không là ta. Âm thanh đã trở thành nhạc, thành thơ, thành những trầm bổng bất tận để mang đến những bộc lộ, cảm ngộ của ta.
Thơ hay nhạc nhuộm đời thêm hương sắc
Nổi và trôi lai cổ diệt sinh đời
Hàn Trân
oOo
II. Khí thơ và hồn nhạc
Nhạc, quả thật là dấu tích hiển nhiên nhất về bản thể hồn xác con ngườị Có nghĩa là dấu tích thần thiêng nào đó mà trong thơ chúng ta gọi là cõi vô thức, cái hồn, cái khí được nhạc biểu lộ.
Chúng ta cứ tưởng tượng thế giới nhạc cổ điển của tây phương, nó không cần giải thích bằng bất cứ phương tiện lý luận nào hết. Một em bé, một cụ già, một con vật, từ đông sang tây hầu như đều cảm được cái rộn ràng của Mozart, cái hùng uy, cô đơn của Bethoven, cái bồng bềnh lãng mạn của Schubert.... Còn thơ bằng văn tự vốn mang rất nhiều bản chất luận lý thì hơi kẹt. Thí dụ một vài tiếng không quen, một vài danh từ lạ hoắc đươc sử dụng, tức thì có rất nhiều phản ứng lý luận, phê bình... và hầu như bị thành kiến bóp chết ngaỵ Ngôn ngữ hình như dùng để diễn tả nhiều hơn là để làm thơ. Tôi vẫn coi ngôn ngữ là kẻ tử thù của thơ.
Nhạc ca không hẳn phải là nhạc. Nhiều người viết lời trước, nhạc sau. Nhiều người ngược lại và có người vừa soạn lời lẫn nhạc trong quá trình sáng tác. Tôi vẫn thích những người đặt nhạc trước, lời sau vì lý do tự thần thánh của nhạc.
Thơ là cái khí trước khi là ngôn ngữ, trong đó có lời nhạc. Âm thanh của nhạc gần cái khí này hơn. Khi nghe một dàn nhạc hòa tấu chúng ta nghe thấy cái khí, cái hồn nào đó bộc phát qua âm thanh.
Khi nghe dàn một bản ca nhạc (bỏ lời ca đi) chúng ta chưa chắc tìm thấy cái hồn nguyên thủy. Chúng ta lại bị chủ quan ám ảnh bởi lời ca làm hồn nhạc mất đi. Thí dụ như bài Mầu Tím Hoa Sim, lời ca thật buồn nhưng nhạc thật vui. Bài Ngày Xưa Hoàng Thị, có một điệu duy nhất mà chúng ta có thể hát: em tan trường về, trường tan em về, em tan trương về, em về trường tan.. .. cho đến hết những trường canh cấu trúc bài nhạc.
Thế giới ca nhạc của chúng ta thật còn rất thô sơ và mới mẻ, thực tế mà nói hầu hết nhạc ca của chúng ta đều nhàm và vay mượn quá dáng. Cứ Bolero, Slow muôn thuở. Cái khí thơ trong nhạc hầu như không có, chỉ có lời thơ hiểu theo cách nào đó mà thôi.
Còn phải nhiều người khai phá, Một Lê Thương với Hòn Vọng Phu, Một Giao Kim với những bản thánh ca và một trường quốc gia âm nhạc hình như mới là khởi sự.
Nhưng xem ra con đường khai phá không lạc quan lắm, thực tế còn thê thảm hơn lãnh vực văn chương nữạ Mozart chết không mồ mả, Bethoven đi rửa chén, Lam Phương làm thợ máy... Khổ thay và khó thay.
Chừng nào lổ nhĩ Tây nghe được một vài bản nhạc ca của chúng ta rồi khen hay không giả dối, xã giao thì chừng đó chúng ta mừng lớn. Theo tôi, cái khí thơ hay nhạc phải có trước bất cứ lời ca nào.
Khải Minh
oOo
III. Ngôn ngữ nhạc, ngôn ngữ thơ *
Nhạc là nhạc, thơ là thơ cũng như họa là họa, nhiếp ảnh là nhiếp ảnh. MỖi nghệ thuật có đường nét riêng tư của nó để nó có thể nghiểm nhiên trở thành một ngành nghệ thuật. Nhưng người sáng tác hay thưởng ngoạn - nếu muốn công thức hóa - có nhiều giác độ tương đồng của một cái cảm, cái ngộ.
Nhạc dùng âm thanh để ghi chú cái ngộ Thơ dùng ngôn tự và âm vận. (Nếu phát âm một ngôn ngữ chưa thành thạo thì đọc thơ của ngôn ngữ đó chỉ cảm ý chứ chưa thể cảm hóa,hòa mình). Cả hai dùng âm thanh (thính giác) để truyền thông/. Thơ còn cách truyền thông bằng thị giác nhưng khi thưởng thức người ta đã âm thầm liên tưởng đến cái âm vận của nó rồi.
Họa dùng màu sắc, đậm nhạt, ánh sáng và bố cục. Nhiếp ảnh dùng màu sắc, ánh sáng và bố cục. Cái tách biệt của hai nghệ thuật này là ở chổ làm chủ cái bố cục hay không. Ở họa người sáng tác có nhiều quyền làm chủ cái ngộ của mình từ cả chân dung cho đến lập thể. Còn nhiếp ảnh phải tùy thuộc vào rất nhiều thứ, từ màu sắc, ánh sáng, cho đến cả cái bố cục cũng nhiều khi may mắn nữa, đó là chưa kể đến trình độ kỹ thuật về film, nước rửa...
Nhạc và thơ: Ngôn ngữ của nhạc là âm thanh. Âm thanh tự nó không diễn đạt Có nghiãa là người sáng tác và người cảm tác phải có trình độ, phải hiểu cái ngôn ngữ và phải có giao cảm (từ kinh nghiệm sống, từ những ưu tư trằn trọc) với thứ ngôn ngữ này. Âm thanh bộc phát từ âm cụ - tiếng đàn guitar không diễn tả được cái sóng vồn, gió hú của nhạc Johann Strauss - mà âm cụ có cái giới hạn riêng của nó. Kể cả âm luật cũng bị giới hạn, từ một tiếng trống bập bùng của dân Phi Châu không thể hòa vào cái trầm buồn của Schubert.
Ngôn ngữ âm nhạc là tương đối: Ngôn ngữ của thơ khởi đầu là âm thanh (truyền khẩu). Những à ơi, ê a ru con, tỏ tình là thành hình tiết tấu, âm vận, để đến khi ngôn ngữ khai phóng hơn, ngôn tự hoàn chỉnh hơn nó được ghi chép và truyền lạị Ngôn ngữ thơ của Lý Bạch là "cổ tự", ngôn ngữ của Shakespear cũng thuộc cổ ngữ và đương nhiên cung hằng trong ngôn ngữ đó là một cõi tiên (cảm tác). Nó không có những từ của những khai phá mới của thế kỷ 21. Tự ngôn ngữ cũng có cái giới hạn của không gian (địa lý) và thời gian. Thơ đề bạt bằng những ngộ cảm và được truyền thông bằng âm vận của ngôn ngữ. Âm vận có giới hạn. Ngôn ngữ có giới hạn.
Ngôn ngữ thơ là tương đối: Nói chung, phương tiện xữ dụng cho mỗi nghệ thuật đều có cái giới hạn của nó. Ðịnh luật thiên nhiên là tương đối thì định luật xã hội, chính trị, ngôn ngữ, hay văn chương cũng là tương đối. Cho nên cái mà ta ngộ ta chẳng thể truyền đạt hoàn toàn cho một cá nhân khác và cũng chưa hẳn truyền đạt hoàn toàn cái cảm đó cho chính ta nữa, ở một thời điểm khác. Truyền thông là tương đối.
Vì mỗi một nghệ thuật, mỗi thứ ngôn ngữ là tương đối nên việc truyền đạt đôi khi được sữ dụng bằng nhiều phương tiện hơn là một. Nhạc cũng không ra thông lệ đó. Một Schubert với "chủ nhật buồn" chắc ít người biết đến. Một Strauss với Danube(?) Bleu chắc ít ai để ý đến âm hưởng violin của nó. Nên nhạc đã mượn thêm ngôn ngữ để phổ biến. Mà ngôn ngữ gần gủi và cũng có âm vận hay rhyme đã nằm ở thơ. Thế là mối giao cẩn bắt đầụ Mà khi đã có mối giao cẩn thì sự phối hợp phải nhịp nhàng, phải bổ xung cho nhau.
Nhạc có thể có trước lời, nhưng lời là để diển tả cái ý mà người sáng tác muốn nóị Còn nếu lời chỉ bỏ vào theo cái âm vận của nhạc thì nhạc sĩ ấy đã bán đứng tư tưởng nhạc của mình.
Thơ có thể đi trước nhạc, vì thơ đã làm nhạc sĩ rung cảm. Cái âm vận của thơ có thể rất gò bó cho nhạc, nhưng nhạc cũng phải cố diển tả cái rung cảm của mình mà không đè bẹp tư tưởng thơ.
Từ nhạc nảy ý thơ, từ thơ rung cảm nhạc đó là cái vòng lẩn quẩn của cảm ngộ. Chẳng qua thơ và nhạc là những phương tiện truyền đạt mà nó có mối gần gủi về âm vận mà thôi.
Nhạc VIệt Nam nói riêng đã có mối liên hệ rất khắn khít với lời, với thơ. Không vì thế mà nhạc Việt không thể đi đến đại đồng có nghiã là Tây, Tàu, Mỹ, Á đều nghe lọt mà có lẽ nhạc sĩ mình vẫn còn khiếm khuyết trong sáng tác. Chưa hẳn lời nhạc là một gò bó cũng như chưa hẳn tiết nhạc là không thể theo thơ. Nhạc của The Beatle nếu nghe mà không lời thì sao? Bài Imagine của John Lenon mà không lời thì chưa chắc đã được hát trong kỳ kỷ niệm thành lập Liên Hiệp Quốc.
Dụng cụ hôm nay ta chỉ có chừng đó, nếu ta biết khéo tận dụng thì nó cũng như thơ Lý Bạch, cũng như Shakespear, cũng như Schubert, Strauss. Phương tiện ở bất cứ thời điểm nào và bất cứ nghệ thuật nào cũng tương đối. Người sáng tác được nhiều người cảm nhận là người khéo sử dụng những phương tiện đó để đưa người thưởng ngoạn đến một chân trời mới, hay thắp nến lên một cõi mù sương.
Vài hàng về thơ, nhạc và nghệ thuật
Hàn Trân
KHU RỪNG CỦA EM
Những đêm khó ngủ, tôi thường hay đi lang thang qua những con đường dẫn đến khu vườn hồng hoặc khu vườn lan, để gậm nhấm sự cô độc của mình.
Cách đây không lâu vào một đêm đầu mùa hạ. Tôi cảm thấy tâm hồn cô đơn trống trải, một mình lại làm kẽ độc hành trong đêm khuya thanh vắng. Ðêm hôm đó trời dịu mát, trăng treo lơ lững trên đỉnh núi xa. Tôi không đi ngang những con đường xưa mà tôi hằng đi qua. Tôi rẽ vào một con đường lạ, con đường nầy dẫn đến một chiếc hồ rất lớn, dọc theo bờ hồ là rặng liễu đứng ủ rũ dưới trăng khuya. Bên kia đường là một biệt thự rất cổ kính. Ánh đèn từ ngôi biệt thự hắt ra. Tôi tò mò đến gần, thì ra đó là một hội quán, tên "Chiêu Anh Quán". Tôi đẩy cửa bước vào, hội quán vẫn còn đông khách. Bên trong, hội quán trang trí theo lối nửa Âu, nửa Á. Ánh sáng dịu dàng từ những chiếc đèn gắn trên tường tỏa ra, tạo cho khung cãnh trong hội quán một vẽ huyền ảo thơ mộng. Tôi quan sát một vòng để tìm một chiếc bàn trống. Tất cả bàn hình như bị chiếm hết. Ở một góc có chiếc bàn kê gần cửa sổ, ở đó có một người con gái đang ngồi, mặt quay ra cửa sổ. Tôi tiến đến chiếc bàn ấy, lễ phép:
"Xin lỗi, tôi có thể ngồi chung với cô được không? Hay là cô đang đợi ai?"
Cô gái giật mình quay lại, nhìn tôi rồi đáp:
"Ông cứ tự nhiên, người mà tôi đang chờ không bao giờ đến."
Trong lòng lấy làm lạ vì câu nói của nàng, nhưng tôi vẫn kéo ghế ngồi xuống cạnh nàng:
"Cám ơn cô."
Khi ngồi bên cạnh, tôi nhìn rõ khuôn viện của nàng hơn. Nàng có gương mặt trái soan, mái tóc ngang vai, đôi mắt to đen, sâu thăm thẳm và hơi gợn buồn. Nàng có một vẽ đẹp rất liêu trai. Rất khó đoán số tuổi của nàng.
Tôi tự nghĩ, một cô gái tại sao lại ngồi đơn độc ở chốn nầy trong đêm hôm tăm tối:
"Tại sao cô ngồi một mình ở đây?"
"Ðêm, tôi thường đến nơi nầy để tìm nguồn cảm hứng cho một bài viết."
Tôi tò mò hỏi nàng:
"Như vậy cô là nhà văn?"
"Không hẳn như vậy, tôi chỉ viết để mà viết thôi. Ðó là một lối giết thì giờ và cũng là một đam mê tôi không làm sao từ bỏ được."
Nói xong nàng xưng tên của nàng, thì ra nàng là người tôi đã từng ngưỡng mộ, qua những bài nàng viết trong một tạp chí tôi thường đọc. Tôi cảm mến văn của nàng từ lâu, lời văn trong sáng, linh động, đôi khi dí dõm tạo cho người đọc một cảm giác thoải mái. Nàng nhìn tôi rất lâu rồi hỏi:
"Còn ông, ông cũng đến nơi nầy để tìm nguồn cảm hứng?"
"Không, tôi viết văn rất dở, tôi chỉ tình cờ lạc bước đến đây thôi."
Ðêm đó chúng tôi bàn về văn thơ, về cuộc sống hiện tại. Tuy mới quen, nhưng chúng tôi nói chuyện rất là tương đắc. Chúng tôi cócảm tưởng như đã quen thân nhau hoặc gặp nhau từ lâu lắm.
Sau đêm hôm ấy, chúng tôi thường liên lạc với nhau. Ðôi khi chúng tôi hẹn nhau ở Chiêu Anh quán. Ở đó, chúng tôi ngồi tán gẫu những chuyện vớvẫn, trời trăng, mây nước để giết đi những đêm dài cô độc.
Nàng hay viết thư tình gửi đến những người tình của nàng.
Một hôm tôi không dằn được tò mò, hỏi nàng:
"Chắc em có nhiều nhân tình lắm hay sao mà đêm nào em cũng ngồi viết những bức thư tình rất ướt át?"
Không ngại ngùng, nàng đáp:
"Những người yêu của em là những khu rừng tình ái, em đặt tên cho mỗi khu rừng. Ðêm đêm em muốn làm cánh chim nhỏ, bay vào khu rừng đầy hoang đường ấy, để khám phá một tình yêu tuyệt hảo, để cho tâm hồn em bớt cô đơn."
Nàng cười tinh quái rồi hỏi tôi:
"Anh có muốn em đặt tên anh là một khu rừng của em không?"
Tôi lắc đầu từ chối:
"Em sẽ làm tôi trằn trọc suốt đêm thâu"
Những lời nàng nói không biết có thật không, hay nàng chỉ nói đùa với tôi. Tuy nhiên, đêm đêm nàng vẫn cắm cúi viết những bức thư gửi cho người tình mà nàng chưa một lần gặp. Nếu có gặp đi chăng nữa chỉ ở trong giấc mơ của nàng.
Tôi thương cảm cho sự tìm kiếm vô vọng của nàng. Giống như một con chim uyên nhỏ, ngày đêm cất tiếng hát cho đến một ngày kiệt quệ, rồi gục chết thê thảm bên vệ đường.
Có những đêm cô đơn lẽ bóng, nàng lại hí hoáy chép lại những bức thư tình đó gửi đến tôi. Tôi không hiểu nàng làm như vậy có dụng ý gì trong đó. Rất khó mà đo lường tình cảm của nàng đối với tôi, vì đôi khi nàng rất vồn vã, vui vẽ, đôi lúc nàng tỏ ra rất lạnh nhạt, xa cách.
Nhiều đêm tôi tự hỏi: "Có khi nào nàng nghĩ đến ta như ta đã nghĩ và nhớ đến nàng không?"
Mặc dầu tôi cố phủ nhận hoặc che đậy tình cảm của tôi đối với nàng, nhưng trong thâm tâm, tôi ước ao, tôi là khu rừng hoang đường mà đêm đêm nàng miệt mài đi tìm. Tôi muốn là rừng thông mát mẽ, là mật ngọt tình yêu để níu giữ đôi cánh nhỏ bé của nàng. Ðể hiến dâng nàng một tình yêu tuyệt vời, vĩnh cữu, mà nàng không thể tìm thấy trên thế gian nầy.
Thạch Thủy
8/28/96