vhnt, số 316
29 July 1997
Trong số này:
thư vhnt............................................................ BBT
T h ơ:
1 - Mùa Hè.................................................. Song Vinh
2 - Ảo Ảnh................................................ Ðinh Thăng
3 - Dụ Ngôn Cho Ngày Ngái Ngủ......................... Thận Nhiên
4 - Chiều Về Trên Galveston.............................. Bĩ Ngạn
5 - Muộn Màng........................................ Phạm Văn Tiên
6 - Thằng nhỏ......................................... Hà Ðình Lan
7 - Mưa Tháng Bảy & Nỗi Buồn Chợt Ðến.............. Cát Nhu
8 - Xin Tha Con Lần Nữa................................... Hàn Trân
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Phỏng vấn nhà thơ Hà Huyền Chi....... Lê Tạo thực hiện
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Bác Thằng Bần................................ Bùi Thanh Liêm
Có một thi sĩ đã mong rằng thơ ông được in trên giấy... gói hàng, để đến tay thật nhiều người đọc. Thật là một ý tưởng ngộ nghĩnh, nhưng thú vị. Khoan xét đến tính khả thi của ý tưởng, chúng ta chỉ biết rằng tác giả, dẫu ý định sáng tác như thế nào, vẫn mong muốn chia xẻ với nhiều người.
Tạp chí vhnt bạn đang đọc cũng vậy, BBT cũng mong mỏi làm nhịp cầu để chuyển đến tay thật nhiều bạn đọc những baì văn, thơ, khảo cứu... giá trị, đầy ắp từ ngữ Việt, văn phạm Việt. Và thật vậy, hầu như mỗi ngày, BBT nhận thêm được những bạn đọc mới đến với vhnt, cũng như những bài vở từ các tác giả. Thật là điều đáng mừng cho cả các bạn và BBT. Bởi vì các bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn để thưởng thức những chọn lọc, tinh tế trong sáng tác từ một nguồn tác giả phong phú, đa dạng. Và BBT đã thực hiện được những điều mong đợi, đó là duy trì và phát triển được một môi trường văn học nghệ thuật liên mạng.
Trong số báo hôm nay, nếu bạn biết rằng một số cô gái đã mơ thành gái Bắc Ninh qua bài thơ cùng tên của thi sĩ Hà Huyền Chi, Tim nghe lảnh lót dòng Quan họ, Tiên nữ về trong áo tứ thân, thì ắt hẳn bạn sẽ thích thú khi đọc bài phỏng vấn thi sĩ. Và thêm nữa, mong rằng những bài thơ thật đẹp, bàng bạc những Gió phương trời ù mộng giữa hoa tâm (Bùi Giáng), sẽ mang lại cho bạn một sự xác tín hơn về văn học nghệ thuật.
thân ái,
ĐYT/vhnt
Mùa Hè
Thành phố buồn
Lâm râm tìm giấc ngủ
Cỏ úa vàng ngóng một lần mưa
Tiếng chim kêu vang dội buổi trưa dài
Người ngồi xuống bên góc nhà lặng lẽ
Lũ trẻ chạy đuổi nhau
Tiếng cười vang vọng
Người ngước mặt, nghe
Thành phố đường như vắng hơn
Người ngồi đong kỷ niệm
Chiều lên nhè nhẹ
Người vẫn ngồi bên góc nhà
Lặng lẽ
Song Vinh
Ảo Ảnh
Ðường phố dài, ngược xuôi vội vã
Em thoảng qua
Như thân quen vạn thuở
Như xa lạ vô tình
Thắp bừng lên vệt sao băng
Tôi còn ngẩn ngơ chói mắt
Em đã đâu rồi chút gió chiều thu
Tà áo dài...
Một lần chậm bước
Ðể suốt đời tìm
vết gót ngọc đường xa
Chơi Vơi Một Chiều Tiễn Ðưa
Quấn lại cho anh chiếc khăn quàng cổ
Em thầm thì: "Nhớ mặc ấm nghe anh..."
Nắng vàng hoe và gió vàng hoe
Gom góp lại vương chút nhòe trong mắt
Hoàng hôn nghiêng một bên trước khi chiều sập tắt
Em gánh đầy nắng trĩu mỏng vai mong
Ngày dần tan, khung cửa kính mờ câm
Em đứng đợi, âm thầm trong bóng gió
Chút lá khô quẩn chân bừng sắc đỏ
Bóng em ngã dài, ngã mãi ở sau lưng
Anh là cánh chim bay mỏi bốn phương trời
Em là cọng rơm vàng chờ trong tổ lạnh
Chơi vơi...
Anh nhớ ngày xưa
Cây cau đầu nhà cháy khô một nửa
Một nửa rì rầm ấp ủ những buồng cau
Ðinh Thang
7/97
Dụ Ngôn Cho Ngày Ngái Ngủ
tặng Phạm Chi Lan
1. Thượng đế dùng đất sét
nặn ra Adam
2. Không lỗ rún
3. ruột không nối liền với ruột
giọt máu vong thân
địa đàng độ vắng dấu mây
Adam có lang thang giữa cõi ngày buồn thảm
4. Người đàn bà sanh khó
quặn thắt từng cơn
đêm
đầm đìa máu
ruột con nối liền ruột mẹ
làm sao cất giữ núm nhau
à ơi
xó quê bụi chuối
5. Adam địa đàng
vẫn vắng mây và cõi ngày buồn thảm
làm sao thương Thượng đế
như con thương mẹ
lỗ rún dành hòn đất tí ti
ngón út mân mê nhồn nhột
6. Có lẽ đây đã là chặng cuối
để ngụy tín một điều hoang tưởng
đôi khi
tia nhìn trượt dốc
mặt da bụng thăm thẳm
phẳng - trơn.
Thận Nhiên
Springfield, VA - 6/97
Chiều Về Trên Galveston
Chiều thứ sáu về đây bên sóng nước
Galveston bến nhỏ lắm người qua
Nắng hanh hanh làm tôi nhớ quê nhà
Bắc Mỹ Thuận trên giòng sông chín cửa
Nhìn biển xanh sao lòng nghe nức nở
Ðời lãng du từ đó đã bao năm
Gót chân in bao nhiêu bước thăng trầm
Thủy triều đó hay đời tôi lên xuống
Chiều Galveston sóng nào cuồn cuộn
Giữa đoàn người dân Việt xa quê hương
Buồn ngập hồn tôi, một kẻ tha phương
Như chiếc lá trôi hoài trên biển cả
Trời Texas hôm nay sao ấm quá!
Dù đêm về trên biển gió vi vu
Pháo bông như sao thắp sáng cõi mù
Làm tôi nhớ đàn em xinh quê mẹ
Tôi đã xa rồi ngày xuân tuổi trẻ
Nhìn pháo bông lòng chợt thóang niềm vui
Xin một lần, vâng xin một lần thôi
Tạm quên hết nỗi buồn người xa xứ
Bĩ Ngạn
July 4,1997
Muộn Màng
Trên cánh đồng chờ đợi người hôm nay
Hoa súng nở lượm đầy hai tay
Con thuyền trôi lướt trên nương đồng
Ðiên điển treo rũ hương hoa vàng
Tình đến muộn màng
Theo lối nhỏ ngại ngùng vào nhà em
Con ngõ hẹp chật chội mà quen
Bao ngày in dấu chân hai người
Qua lại trong tiếng nô vui cười
Từ thuở chào đời
Em lỡ dại cùng người ta sang sông
Hay có giận hờn tôi chi không?
Sao mà không nói năng câu gì
Em vội đi sống nơi đô thị
Vậy nghĩa là gì?
Qua cánh đồng ngập lụt mùa mưa rơi
Con ngõ hẹp giờ chỉ mình tôi
Ðiên điển không hái ra úa vàng
Trong hồ hoa súng thôi đã tàn
Ngậm ngùi miên man
Phạm Văn Tiên
THẰNG NHỎ
Thằng nhỏ ốm yếu áo quần rách nát
giữa Chợ Chiều ngồi bán linh tinh
tài sản của em một sàn lổn nhổn
dăm gói tiêu, bột ngọt, chanh, đường...
Thằng nhỏ ngồi từ lúc tinh mơ
bụng đói cồn cào nhìn nhười qua lại
mua giùm em đi chút hành, chút muối
chút tình thương che chở cuộc đờị
Thằng nhỏ đứng lên đi tới đi lui
tay nắm chặt lưng quần sợ sút
manh áo rách trơ thân còm cõi
da đen cời, mốc thếch nắng mưạ
Thằng nhỏ khẩn cầu đôi mắt van lơn
người ngược xuôi tỉnh bơ không ngó
thằng nhỏ bèn cất giọng rao khan
bột ngọt, chanh, đường... cô bác ơi!
Chiều dần xuống một ngày sắp hết
thằng nhỏ thẩn thờ ngồi ngó mông lung
cũ khoai lạnh nằm trơ một góc
thằng nhỏ để dành bữa tối cầm hơi.
Thằng nhỏ ngồi buồn thiu không nói
người vô tình cứ bước loanh quanh
con chó ốm ở đâu không biết
ngún nguẩy đuôi cùn đến làm quen.
Thằng nhỏ trở về một ngày mệt rã
lầm lũi bước đi giữa ánh đèn đường
vàng vọt hắt hiu phủ trùm thân phận
thằng nhỏ âm thầm đếm bước lẻ loị
Thằng nhỏ mệt phờ ngồi trên bệ đá
nhai ngon lành củ khoai lạnh chiều hôm
giọt nước phông-tên tí tách nhỏ đều
trên đất nước u buồn tâm tốị
Thằng nhỏ co ro một góc tối mò
dỗ giấc cô đơn dỗ giấc muộn phiền
bên ngoài trời đêm lạnh lùng gióhú
thằng nhỏ ngủ say tờ báo phất phợ
Em ước mơ gì hỡi em em nhỏ
một ngày bình yên cắp sách đến trường??
Hà Ðình Lan
Mưa Tháng Bảy
Tháng bảy là tháng chia tay
Thế nên mưa xuống cho đầy nhớ thương?
Ngưu Lang - Chức Nữ vấn vương
Nên đến tháng bảy là thường gặp nhau
Nhờ chim Ô Thước bắt cầu
Mỗi năm chỉ được gần nhau phút này
Còn em từ dạo chia tay
Mưa lệ rơi mãi dù ngày hay đêm
Gặp lại nhau chỉ buồn thêm
Thôi để kỷ niệm thành đêm không lời
Nỗi Buồn Chợt Ðến
Sài gòn bây giờ đang mưa
Em ngồi ở góc quán thưa một mình
Mưa huyên náo giữa lặng thinh
Em về soi lại bóng mình trong gương
Thế gian là chuỗi vô thường
Hợp rồi tan đấy - ai lường được đâu
Sài gòn tháng Bảy mưa ngâu
Em ngồi nhớ lại nỗi đau dịu dàng
Cát Nhu
Xin Tha Con Lần Nữa
Lửa mặt trời lại về lên giấc ngủ
Lửa lòng con nước mắt thuở mẹ ru
Hai mươi năm loanh quanh mãi sương mù
Lời hẹn cũ ngày đi con nhớ mẹ
Lời hẹn cũ dặn lòng con rất khẽ
Một ngày về con sẽ ngập đường vui
Mẹ đón con trên những đóa hoa cười
Con đón mẹ đôi bàn tay hạnh phúc
Tay hạnh phúc giờ đây gầy côi cúc
Lòng hẹn lòng đã bạc những muà sang
Con với con đêm thao thức đôi hàng
Mẹ với mẹ da nhăn chùng cuộc sống
Chùng cuộc sống ai chờ, ai mắc võng
Kẽo kẹt đời ru lại chuổi ngày thơ
Ðể nơi kia mẹ đợi mỏi mắt mờ
Ðể nơi này con tập tành gian dối
Lời gian dối ngập ngừng ai có hỏi
Mẹ bây giờ vẫn thế một ngày xưa
Một ngày xưa tăm tối buổi giao mùa
Mùa cay đắng không trồng nhưng vẫn mọc
Vì vẫn mọc nên tưới bằng tiếng khóc
Lệ mẹ già, lệ của tuổi thơ xanh
Cuả máu tanh tan tác cuộc đời lành
Nên da mẹ nấm đời chua chát phủ
Nấm đau khổ giờ đây đầy những nụ
Nụ hoang đàng, nụ độc, nụ thê lương
Nụ quê hương héo úa ước mơ thường
Ngày của mẹ thở bằng hơi ám chướng
Hơi ám chướng đã thành làn dinh dưỡng
Những con người đầu lộn chổ mọc ra
Mẹ của con cơn đau đớn thật thà
Con cuả mẹ nợ nần lời hẹn cũ
Lời hẹn cũ mặt trời kia cháy đủ
Xin một lần thắp sáng lại cố hương
Một lần thôi để thấy lại bình thường
Con về lại đắp mồ cha nắm cỏ
Mồ cha đó mơ hồ một thân xác
Xác trên rừng con dựng mộ miền xuôi
Ðể mai sau tạc dấu miệng bia cười
Mồ quê cũ một lần hoang rất tủi
Mồ hoang tủi con về hay cát bụi
Mẹ! con quỳ đôi dòng nước, đôi sông
Có những ai thắp nến một chút lòng
Tìm một đóm mặt trời yên giấc ngủ
Mặt trời ngủ, mẹ ơi! Làm sao sáng
Một ngày về lại hẹn nữa mẹ ơi
Con tim con lại gian dối nữa rồi
Nên xin mẹ tha cho con lần nữa
Hàn Trân
Phỏng vấn nhà thơ Hà Huyền Chi
Lê Tạo thực hiện
Trích đăng từ tuyển tập VHNT II, phát hành vào tháng chín, 1997
VHNT: Xin Anh cho biết sơ lược về tiểu sử của mình.
HHC: Tên thật Ðặng Trí Hoàn, sinh năm 1935 và trưởng thành tại Hà Nội, (sinh quán Hà Ðông). 1954 di cư vào Nam một mình. 1957 nhập ngũ khóa 14 VBQGVN. 1964 lấy vợ, (hiện có 5 con đã trưởng thành). 1975 đào thoát qua Hoa Kỳ. Tác phẩm đầu tay: "Sault" Ðêm, thơ, 1963. Ðã in 14 tập thơ, 8 truyện dài.
VHNT: Anh bắt đầu cầm bút khi nào? Có kỷ niệm nào trong những sáng tác đầu tay mà anh muốn chia xẻ với độc giả của VHNT hay không?
HHC: Tôi mài bút từ 1950-1957, chỉ thực sự cầm bút từ 1960, nghĩa là từ khi có bài thơ đầu tiên được đăng trên báo Chiến sĩ Cộng Hòa dưới nhan: Người Lính Nhẩy Dù Và Mây, sau đổi là Không Gian Vương Dấu Giầy. Bài thơ 5 chữ, 5 đoạn. Xin trích dẫn hai đoạn cuối:
Tôi đi tìm tình thương
Trời thương yêu mở ngõ
Hoa áo đẹp mười phương
Máu thù loang mũ đỏ
Từng chiếc lại từng chiếc
Hoa dù nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh
Không gian vương dấu giầy.
Kể như tôi may mắn thuộc loại chưa kịp lăng xê đã nổi tiếng. Nổi ngay từ bài đó và bài "Sault" Ðêm kế tiếp với những hình ảnh trữ tình, còn rất hiếm trong thể loại thơ chiến đấu thời ấy như: Trong túi hành trang còn thiếu thư em. Và nhịp lòng tôi sầu muộn chưa quen. Lính Mũ đỏ đương nhiên khoái thơ HHC. Nơi Mũ đỏ tạm trú quân ở Bình Dương đã từng thấy câu Không Gian Vương Dấu Giầy đuợc kẻ dài lên tường, với khổ chữ cao cở 1 thước mầu đỏ.
VHNT: Trong bài Cõi Buồn Trên Ta của tập thơ cùng tựa, xuất bản 1984, Anh có viết: Núi cao, buồn lại cao hơn
Ta trên đỉnh núi, cõi buồn trên ta
Sau 13 năm, cõi buồn đó còn hiện hữu hay không? Nếu có thì có gì khác biệt so với hôm xưa?
HHC: Cõi buồn ấy luôn hiện hữu trong tôi. Hình như tôi là người có "Cuống nhau liền với cuống tim", nên khi phải sống xa quê hương là một hình phạt khủng khiếp nhất với tôi. Kinh nghiệm xa quê lần đầu, hồi 1962, chàng còn là Trung úy, độc thân, cầy cục mãi mới xin được một chỗ du học ở Okinawa. Vậy mà khi máy bay chưa ra khỏi không phận Việt Nam, chàng đã ướt mi, đã chỉ muốn được quay về lập tức. Lần khác du học ở Indianapolis Hoa Kỳ, 1968, và 1971, công tác về điện ảnh ở Hawaii cũng là những chuỗi ngày sầu muộn, nhớ quê đứt ruột. Lúc này còn nhớ vợ, và 3 cháu gái nhỏ Hà, Huyền, Chi nữa.
Trở lại với câu hỏi, khi viết Cõi Buồn Trên Ta, 1984, là với tâm trạng ứa mật bầm gan trong tủi hận nước mất nhà tan, cùng nỗi đau chiến bại. Cho đến bây giờ, nỗi buồn vẫn còn đó, đã tan trong máu, đã thấm vào xương, như một mầm bệnh ung thư bất trị. Con bệnh phải tập quen với căn bệnh nan y, khi lên cơn bung phá, lúc lắng dịu đau ngầm. Vẫn là những ký thác khổ nạn cùng khắp thơ tôi:
Thiếu quê đời bỗng dưng thừa
Hồn ta trái héo từng giờ buồn lay
(HHC, Ðời bỗng dưng thừa, 1987)
Ôm tay bánh, ôm nỗi buồn viễn xứ
Rừng vàng thu ngày hai buổi đi qua
Ta đôi lúc muốn trở thành dã thú
Quên một lần cuốn rốn rụng quê nhà
(HHC, Thơ Trong Da Ngựa, 1995)
Một túi bình sinh đã nhớp nhơ
Chứa toàn rượu độc tháng Tư xưa
Uống cho say chết, còn chưa chết
Lòng vẫn chưa quên nhục cuốn cờ
...
Ta giấu trong hồn một nhánh sông
Khởi từ vô thỉ đến vô chung
Những thân củi mục thuyền không đáy
Chẳng thể cùng ta chảy một dòng.
(HHC, Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ, 1996)
Mẹ ơi, con Mẹ chưa già
Giữ quê quê mất, dựng nhà nhà tan
(HHC, 1996)
Còn một hơi thở, chàng chưa được quyền già, hay mối quốc thù còn mãi trẻ măng trong trái tim người bại binh thì cũng vậy. Nghĩa là Cõi Buồn Trên Ta vẫn còn đó, trong tôi. Sự khác biệt nằm trong cách nói, cách diễn. Vẫn là một lặp lại, trùng dụng, với ngôn từ và thể cách suy diễn khác trong thơ tôi.
VHNT: Khi một ý thơ chợt xuất hiện, ý thơ đó nằm trong một thể thơ nhất định, hay anh phải tìm một thể loại thích hợp để diễn tả ý thơ này?
HHC: Với tôi thì ý thơ luôn được khởi dẫn cùng với ngôn từ. Thí dụ, khi tôi nghĩ tới que diêm như một tác dụng cần thiết cho một cuộc nổi lửa thì cùng lúc ấy, chữ nghĩa vọt ra: Xin được làm que diêm
Trong mùa hanh dân chủ
Tôi có ngay ấn tượng rằng, bài này nên ở thể ngũ ngôn. Trừ phi những ý kế tục quá rộng, những ngôn từ thơ bay xa hơn khiến thể loại này không thể dung nạp chúng. Ðó là lúc tôi phải cân nhắc, chọn lựa một thể loại thích hợp cho những tứ thơ ấy. Ngược lại, khi tứ thơ tản mạn, thiếu sự cô đọng cần thiết, tôi tìm cách cắt bỏ những chữ thừa, để một bài thơ 7 chữ, 8 chữ trở thành thể ngũ ngôn. Tứ thơ là sinh mệnh của bài thơ, nó quan trọng nhiều hơn vóc dáng hình thành là ngôn từ và thể loại.
VHNT: Lệ Ðá, một nhạc phẩm được giới thưởng ngoạn rất ưa thích. Ðược biết là nhạc phẩm này hình thành bởi nhạc của Trần Trịnh và lời của Hà Huyền Chi, xin anh cho biết rõ hơn về trường hợp này.
HHC: Cám ơn anh đã cho tôi có cơ hội dài dòng một tý để làm sáng tỏ một ngộ nhận về bài Lệ Ðâ Trước hết, đó không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng. Do một cơ duyên đăc biệt, Trung sĩ Nguyễn Văn Ðông, chơi Clarinet, giới thiệu Trần Trịnh với tôi:
- Nhạc Trần Trịnh khá lắm nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca dùm cho nó.
-Em biết là anh vốn mù nhạc mà.
-Em biết chứ nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.
Trần Trịnh cười hiền:
-Xin anh giúp cho. Tôi nghĩ là sẽ có cách...
Tôi thẳng thắn đưa điều kiện:
-Nể thằng em tôi, coi như tôi thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này, với những pianist như Dzương Ngọc Hoán.
Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Ðội. Trần Trịnh ngồi vào Piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Ðông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh. Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ "O" cho những từ không dấu (bình thanh). Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi, nặng. Sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã. Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trần Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ. Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Ðá. Kết quả ngoài sức tưởng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh. Trần Trịnh mừng tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Ðá khiến tôi choáng ngộp niềm vui.
Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời
Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời?
Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong trại. Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả hồn bay với Lệ Ðá. Tôi viết thật dễ dàng. Và khóc cũng dễ dàng với:
Người đi, đi mãi không về
Thời gian xóa vội câu thề
Bóng anh nhạt nhòa bóng núi
Em với tình yêu trăng soi
Tượng đá kiên trinh ru con đợi chồng
Nhạc lá thu mưa hay chân ngựa hồng...
Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó. Tôi bỏ dở bữa ăn, đem lời 2 lên đài quan đội. Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Ðá ra khoe. Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hòa âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như thủy. Khoảng nửa giờ sau Lệ Ðá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Huơng, Như Thủy, mỗi người trên tay một bản Lệ Ðá "mì ăn liền" say mê hòa ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take One. Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất. Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh:
-Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top hit.
Tôi nhún nhường:
-Top hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.
Nhật Trường cướp lời:
-Nhưng ông là gió lớn. Ðại phong...
VHNT: Thi phẩm "Tháng Một Buồn", anh cho chào đời cuối 1994 đã được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt. Trong lời mở, anh viết: Với ta, tình yêu đích thực, chỉ là Tháng Một Buồn. Vậy hình ảnh "nàng" có phải là hình ảnh thực?
HHC: Thực đấy, và cũng giả đấy. Tôi không định dùng lối trả lời "huề vốn". Người làm thơ luôn nhạy cảm. Hình ảnh thực và tưởng tượng đều pha trộn, tác động bình đẳng khi dựng thơ. Với tôi sự sần sùi của một vật thể đôi khi vẫn mang một vẽ đẹp riêng. Như một người nữ khi chưa trang điểm. Nhưng đôi khi bộ ngực xuân nữ lại gợi tình hơn sau lớp yếm mỏng. Sự tưởng tượng tôi, nếu có, thường là chiếc yếm mỏng manh ấy.
VHNT: Có người cho rằng: văn chương đích thực sẽ vượt ra ngoài mọi vòng tròn chủ nghĩa và đứng lên trên mọi định kiến cá nhân. Anh có đồng ý với nhận xét trên không?
HHC: Tôi đồng ý là văn chương (văn hóa) phải đứng trên chinh trị, tôn giáo, và bất cứ áp đặt, định kiến nào.
VHNT: Người làm thơ luôn mong muốn đem cái mới đến cho độc giả. Do đó, làm mới thi ca là niềm ưu tư hàng đầu của họ. Trong những năm gần đây, người đọc thấy rất nhiều bài thơ của HHC thuộc loại "phá thể", có phải đây là một trong nhữngnỗ lực làm mới thi ca của anh không?
HHC: Vâng, làm mới và làm tốt là chủ đích của tôi. Nếu mới chưa tốt thì cũ vẫn hơn. Tôi là người bảo thủ, nghiêm thủ với niêm, nhịp, nhạc, vần, trong thơ.
Trước đây vài chục năm, để cổ xúy, người làm thơ mới, đi ra khỏi cương luật của đường thi, người ta cổ súy một loại thơ gọi là Cổ Phong. (Xin đừng mất công tìm hiểu loại này, bởi nó hoàn toàn thiếu cơ sở biện giải và thuyết phục). Có thể tóm gọn Cổ Phong là một loại thơ Ðường mà không phải thơ Ðường. Không cần niêm, luật gì ráo. Giống như người ta kéo ra sàn nhẩy, mặc sức múa may theo ý riêng. Người nhẩy không cần theo quy luật nào. Tệ hơn nữa là cũng không cần biết dàn nhạc đang chơi thể điệu gì.
Trong thơ, tôi rất ít dùng đến các dấu chấm phẩy. Ðiểm chính là để các thi khách hoàn toàn thoải mái trôi, chìm theo cái tâm cảnh riêng của họ cho mỗi lần ngâm đọc, vẫn câu thơ, bài thơ ấy. "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Thơ chỉ cần chấm phết khi tác giả muốn người đọc hiểu theo cách riêng. Không là giới hạn cách ngắm thưởng, làm rối mắt người đọc, làm bài thơ mất đi cái trang nhã cần thiết. Không có thứ ký ngữ nào giúp được bài thơ thơ hơn. Cũng không có thứ phấn son nào có thể giúp một xú nhân thành mỹ nhân được.
Trong chiều hướng ấy, với chủ ý mở trói, giúp người mới làm thơ dễ vượt qua những cấu trúc gò bó, tôi chế ra thể loại tam tuyệt:
Tuyệt bình dị
Tuyệt dung nạp
Tuyệt chuyển hóa.
Tam tuyệt là thể loại thơ có khả năng dung nạp mọi thể loại khác. Không cầu kỳ ràng vuộc bởi khuôn thức nào đã có. Nói một cách đơn giản hơn thì Tam Tuyệt là thể thơ tự do đóng khung. Hình dung chính xác hơn là cứ lấy bất cứ bài thơ thông thường nào đã có, đem lượt bỏ những chữ thừa, sáo, rỗng trong câu để thành Tam Tuyệt. Khái niệm là:
Không câu nệ dài ngắn.
Không câu nệ cách gieo vần, niêm luật.
Không câu nệ kết nạp các thể loại khác.
Hình thái:
Bài thơ tối thiểu nên có một đoạn.
Ðoạn tối thiểu nên có 4 câu 2 vần.
Câu tối thiểu có một ch
Thí dụ A: (Thơ nguyên thủy 8 chữ, sau khi thêm, bớt ch)
20 năm tận tuyệt
liệu ta còn cơ may
Ðể thấy lại quê hương vàng rực bóng cờ bay
Trong mỗi Rồng Tiên hôm nay còn cúi mặt?
(HHC, 20 năm Tận Tuyệt)
Thí dụ B: (Biến từ thể thơ 7 chữ)
Chiếc quần trẽn chạy qua
Sinh lực căng phồng từng phiến da
Ngó theo những sợi mưa hạnh phúc
Vẽ lằn ranh sơn hà.
(HHC, Bất khả Tư Nghị)
Thí dụ C (Khai triển từ thể ngũ ngôn)
Em bốc lửa, ta cách gì không cháy
Cây đuốc người hoa đăng
Ðêm lưu hoàng gối rơm, chăn giấy
Hồn bay múa hỗn mang...
(HHC, Ma ảnh)
Ðể giúp thi khách có một ấn tượng chính xác hơn về thể Tam Tuyệt, xin mời đọc trọn vẹn 3 bài thơ được viết trong ngày 29 tháng 12, 1996:
ÐÈN LỒNG
Giữa đêm đông, rất đông
Em thắp trong ta một ngọn đèn lồng
Mầu đỏ
Như nỗi nhớ đầy lòng
Hãy múa đi em
Nhịp nhàng điệu rắn
Hãy đẩy lùi bóng đêm
Bằng những nụ cười em hực nắng
Ta đời chiều tuyết phủ
Bốn mùa đều đông phong
Nhiệt tình em chừng cũng đủ
Khơi ngọn gió xuân nồng
Như ngọn đèn lồng sáng rỡ
Ta cùng em cháy bập bùng
Mũi tên lửa hoan cười trên đỉnh gió
Nụ cười hồng còn ấm mãi môi cung
VÀ BỖNG VÔ CÙNG...GHÉT EM
Bão tuyết ghé thăm thành phố
Cây buồn khoác áo thủy tinh
Ba chục năm gặp lại cơn hàn cũ
Ðáng chi đâu bất bình
Ngọn gió đá quất, đâm thảm thiết
Nửa thành phố mất điện
Trắng mịt mù sơn lâm
Không thấy gì ngoài tuyết
Em không đến, chẳng hề gì đâu em
Anh cuộn mình trong nỗi nhớ
Ngọn nến hồng tươi kỷ niệm thắp lên
Nỗi cô đơn nhảy múa
Nhớ vô cùng bờ vai thơm lửa nghiệt
Nhớ nụ hôn cháy rừng
Sưởi ấm nhau bằng thân nhiệt
Dìu nhau vào mê cung
Gần sáng em chợt gọi
Anh đọc thơ tình bằng đèn pin
Da thịt lên cơn đói
Và bỗng vô cùng... ghét em
THÈM BƠI THỎA GIỮA CUỒNG LƯU TRÀN CHẢY
Anh thèm tiếng cười trẻ thơ em
Dòng suối ấm theo em vào giấc ngủ
Tiếng chuông ảo trong đêm
Lời thì thầm trong nhớ
Anh thèm ngắt véo em
Cháy đỏ lửa hờn ghen
Dấu ấn nổi khằn lên tình nghĩa
Trăm đóa hoa lồng đèn
Anh thèm đọc thư em
Có đằm đằm ma túy
Rừng chữ nghĩa lên men
Anh đọc thấy long lanh đá quý
Anh thèm chút hơi em
Thèm bơi thỏa giữa cuồng lưu tràn chảy
Chỉ đôi khi là một nụ hôn mềm
Ðã nghe lòng cuốn xoáy.
VHNT: Bên cạnh HHC, Anh còn làm biếm thi dưới bút hiệu Mậu Binh. Bắt đầu khi nào, và tại sao HHC trở thành Mậu Binh? Anh Thích độc giả gọi mình bằng HHC hay MB?
HHC: Khoảng đầu năm 1991 tôi bỗng có ý hướng đạp đổ thần tượng Hồ Chí Minh. Một cách tích cực hơn, sống sượng hơn, và cũng hệ thống hơn, dù trước đây ở thi tập Như Ðá Ngàn Năm, 1981, HHC từng có thơ Ð. M. Bác Hồ. (Hiểu theo tiếng Trung Hoa Chợ Lớn thì Mậu Binh là không lính, như Mậu Xìn là không tiền). Tôi mê việc như mê gái, thế nên gần 300 bài thơ chơi Bác Ðảng sát ván được viết ra trong khoảng hai tuần lễ để hoàn thành tập Thơ Ðen, 1991, khai sinh bút hiệu Mậu Binh. Dư lực của thơ Ðen được nối tiếp qua Thơ Kẽm Gai, 1994. Cũng dưới hỏa lực bắn chết bỏ của Mậu Binh. Sau Thơ Ðen, chém Bác chí tình có phong trào No Hồ của giới sinh viên, trí thức nhằm triệt hạ thành công ý đồ tôn vinh sự nghiệp gian dối, hại nước của Hồ Chí Minh do cơ quan Liên Hiệp Quốc UNESCO dự tuyển. Người nào đó đã nói: Thi sĩ là những nhà tiên tri của thời cuộc. (Thơ Trong Da Ngựa ra đời cũng là một chứng nghiệm tiên tri khác). Không đúng sao? Biếm thi dưới bút hiệu Mậu Binh, hay các thi tập mang chiến đấu tính được tôi gọi là thơ Tình Nước. Thơ Tình Nước cần nhiều lửa hơn là sự trau chuốt, mài gọt như thơ Tình Yêu. Khi được gọi là Mậu Binh tôi thấy mình đang đứng ở tuyến lửa với ba lô và mũ sắt, với tay súng, tay bút. Khi được gọi là Hà Huyền Chi tôi phè cánh nhạn hơn, tôi bay lượn với trăng sao và hoa bướm. Và tôi sẽ là cái mà thi khách muốn tôi là.
VHNT: Có nhận xét cho rằng: dòng văn học Việt Nam ở Hải ngoại là sự tiếp nối của dòng văn học miền Nam trước 1975. Anh nghĩ sao về nhận xét này.
HHC: Tôi cũng luôn nghĩ thế. Thực tế là trước 1975 miền Bắc không có văn học. Sau năm 1975 Việt Nam không có văn học. Thế nên văn học Việt Nam ở Hải Ngoại là tất cả những gì chúng ta có. Tôi không phủ nhận giá trị của những thao thức, thai nghén trong âm thầm của những người còn có lòng với văn chương ở trong nước. Những văn chương phảng kháng đặt hàng, mhững tác phẩm quốc doanh không thể coi là văn chương đích thực.
VHNT: Anh có thường xuyên theo dõi những sách báo xuất bản trong nước không? Nếu có, xin anh cho vài nhận xét so sánh về nền văn học trong nước và ngoài nước.
HHC: Tôi ít có cơ hội ấy. Chỉ lả thảng hoặc, tình cờ thôi. Về in ấn, đã có nhiều tiến bộ vượt bực, nhưng nội dung của những sách báo trong nước không cho thấy sự khởi sắc. Ngoài những thi tập cũ, trước 1975 được in lại dạng bỏ túi. Tiện dụng cho người đọc nhưng không giống như một thi phẩm. Ngoài những bài có tính vô thưởng vô phạt, không thấy dấuvết của văn chương. Bởi chừng nào người viết không có được sự tự do cần thiết để sáng tác, chừng đó không thể có văn chương.
VHNT: Hai mươi năm đã đi qua, một thế hệ mới trưởng thành. Họ không mang trên vai những tháng ngày nghiệt ngã như lớp người đi trước. Vì thế, giới trẻ trong và ngoài nước sẽ là những người đầu tiên gạt bỏ lớp bụi mờ quá khứ, mạnh dạn lên đường xây dựng lại đất nước, trùng tu lại lòng người. Anh nghĩ sao nếu bắt đầu từ hôm nay họ cùng bắt tay nhau trong tinh thần đó.
HHC: Vinh nhục của đất nước thuộc về mọi người. Không phân biệt tuổi tác, giới tính, phái tính. Nhưng tương lai của đất nước thì đích thực là của giới trẻ. "Mẹ ơi con mẹ chưa già" cũng hàm chứa ý niệm tre già măng mọc đó. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Người trẻ có cách nhìn, cách nghĩ của riêng họ. Mang vác những kỷ niệm cồng kềnh của quá khứ khó đi nhanh và đi xa. Họ sẽ phải tự mình lựa chọn cái gì cần mang theo trong hành trình dựng nước, cái nào cần tháo gỡ, loại bỏ. Sự chung tay với chính niệm nào cũng là điều cần thhiết để tái tạo phúc lợi cho đất nước. Một cây làm chẳng nên non...
VHNT: Nếu có một nhà xuất bản làm một tuyển tâp thơ sau năm 1975, in chung cho những tác giả cả trong lẫn ngoài nước. Anh nghĩ sao nếu nhà xuất bản mời anh hợp tác?
HHC: Bạn đặt câu hỏi thật đúng lúc. Mới đây thôi, nhà văn V.T. có chính thức mời tôi đứng chung trong một tuyển tập như thế. Và tôi đã thẳng thắn từ chối góp mặt. Như đã nói ở trên, tôi là người chống Cộng bảo thủ. Chống quyết liệt, chống đến kỳ cùng, không khoan nhượng. Tôi tự coi mình như một que diêm, một ngọn nến biểu tượng, chưa dám nghĩ là một ngọn đuốc. Thế nên sự chung chạ nào cũng có thể gây ngộ nhận cho những bằng hữu, chiến hữu của tôi. Hơn nữa, tôi không có cách gì để biết được những ai sẽ ngồi với. Càng không muốn ngồi chung chiếu với những nhà văn quốc doanh.
VHNT: Hiện nay các nhà sách hầu như không nhận phát hành thơ. Trong lúc đó thơ anh ra đời rất đều đặn. Vậy anh phát hành bằng cách nào? Ðộc giả thích thơ anh thì liên lạc ở đâu?
HHC: Tôi kể như là may mắn có được sự yểm trợ trường kỳ, liên tục của các thi khách, bằng hữu, thân hữu. Người lo tổ chức ra mắt sách, tặng vé máy bay. Người lo cổ động, phát hành trong giới thân hữu riêng. Thậm chí có người in tặng sách cho tôi, vô điều kiện. Người cho in chịu, chừng nào bán được sách mới thanh toán. Và tôi chỉ cần có đủ vốn là cho in ngay cuốn mới. Ðộc giả ưa thích thơ tôi: Ðồng Thiếp, thơ tình yêu 1996. Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ, thơ tình nước, 1996. Thơ Trong Da Ngựa, thơ tình nước 1995. Tháng Một Buồn, thơ tình yêu, 1994. Thơ Kẽm Gai, biếm thi dưới bút hiệu Mậu Binh, 1994. (*)
VHNT: Anh có điều gì cuối cùng muốn chia xẻ với độc giả của VHNT?
HHC: Nhìn chung thì tôi rất lạc quan vì lớp thi khách trẻ đã có những chứng tỏ ngoạn mục và nghiêm túc trong thơ. Họ sẽ bay bổng và bay xa hơn thế. Tuy nhiên tôi chưa muốn rửa tay gác kiếm. Chủ quan thì thơ tôi chưa mỏi mệt, tôi còn đủ sức tranh đua với những tài năng mới ấy. Những phượng hoàng sơ sinh sẽ còn vất và với lão ô lục thập tuế này ở thi đồ trường thêm nhiều năm nữa. Bước kế tiếp sẽ là thi tập thứ 15, Bão Ðầy, thơ tình yêu. Ðã hoàn tất luôn cả bìa lẫn phụ bản... Sẵn sàng trên dàn phóng cùng với thi tập thứ 16, Bên Trời Mài Kiếm, thơ tình nước, song ngữ Việt Anh. Hy vọng 2 thi tập trên sẽ được phát hành trong năm nay 1997, nếu như các thi khách và thân hữu chiếu cố, yểm trợ tận tình cho những tác phẩm nêu trên. Mong lắm thay. Xin mời đọc bài thơ mới nhất của tôi:
Ðộc... ẩm
Hà hà... tửu phá thành sầu
Cái tâm lúy túy, cái đầu trống trơn
Em ơi buồn lại buồn hơn
Dẫu cho thủy tú cao sơn mị người
Hà hà... sinh bất phùng thời
Ngựa què, gươm gẫy, mệnh trời, bại vong
Em ơi hận tủi đắng lòng
Thơ đau, rượu nhạt đời đông tuổi chiều
Hà hà nguyên đán, nguyên tiêu
Những xuân hồi ức tiêu điều khói nhang
Em ơi nước mất nhà tan
Rượu vào tím mật, sôi gan... hà hà.
Cuối cùng, cám ơn Lê Tạo, đã cho tôi cơ hội tâm tình cùng với thi khách khắp năm châu bốn biển trên VHNT, diễn đàn văn chương siêu xa lộ thông tin này. Trân trọng.
Lê Tạo
thực hiện cho tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng
Hoa Kỳ, Mồng ba Tết Ðinh Sửu, 1997
Bác Thằng Bần
Tên hắn là Lồ A Soày. Cái tên nghe hơi lạ tai. Từ cái họ, đến chữ lót, đến cái tên, nghe không có vẻ Việt Nam chút nào hết. Nhưng sự thật hắn là dân An Nam Mít chính tông. Nói đúng hơn, hắn là là dân tộc thiểu số, gốc người Nùng. Hắn sinh ra và lớn lên trên vùng núi non chót vót, thuộc miền thượng du Bắc Việt. Là dân miền núi, tính tình hắn hiền hòa chất phát, bạn bè ai cũng mến, nhưng hắn vướng phải cái tật mê cờ bạc.
Thật ra thì lâu lâu giải trí với thú vui đỏ đen cũng không sao. Dạo còn trong đại học, bọn sinh viên chúng tôi vẫn thường đánh cá "football" lai rai. Ðầu niên khóa, lảnh tiền xong là cả bọn kéo nhau lên Reno thử thời vận, trước khi bước vào mùa học căng thẳng. Nhưng đa số bọn chúng tôi ai cũng biết tự kiểm soát, chỉ đỏ đen điều độ, có giới hạn. Ai cũng biết rõ "cờ bạc là bác thằng bần", ngoại trừ Lồ A Soày. Ðối với hắn, đã không chơi thì thôi, một khi lao vào trò chơi đen đỏ, hắn sẽ ăn thua đến cùng, cho đến khi mạt vận. Trong trường, bạn bè quen gọi hắn là "vua", ông vua cờ bạc. Ðầu niên khóa, lảnh tiền xong là hắn đem nướng sạch ở sòng bài Reno trong cùng ngày hôm đó, và ngày hôm sau là đã bắt đầu ăn mì gói. Ðánh cá "football", hắn chơi từ đầu mùa cho đến cuối mùa. Thể nào hắn cũng tìm cách vay đầu này, giật đầu kia cho có đủ tiền để đỏ đen ngày này qua tháng nỗ Khi những số tiền trợ cấp cho sinh viên nghèo, tiền vay, tiền học bổng cạn láng, hắn đem hết đồ đạc trong nhà đi cầm. Bạn bè ai cũng chạy mặt hắn. Có lúc túng quá, hắn tìm đến những dịch vụ cho vay với lãi suất cao. Hắn có 3 cái thẻ tín dụng, cái nào hắn cũng cà láng. Ngoài được phong làm "vua" ra, hắn còn được người ta gọi là "chúa", một thứ chúa chổm.
Ðược một cái là Soày thuộc loại thông minh, nên cuối cùng hắn cũng tốt nghiệp như mọi người. Bẵng di một thời gian dài, tôi mất liên lạc với hắn, nghe bạn bè kể lại hắn về San Jose đi làm cho hãng IBM và lấy vợ. Vợ hắn người Việt gốc Hoa, con của một thương gia giàu có nứt đố đổ vách trong vùng thung lũng hoa vàng.
Tôi gặp lại hắn trong một sòng bài ở Las Vegas. Thoạt đầu, nghe có tiếng ồn ào, thấy đám đông đang bu quanh một sòng bài gần đó, thỉnh thoảng họ ré lên những tiếc trầm trồ hoặc tiếc rẻ. Tôi nhủ thầm có lẽ họ đang mục kích một tay trọc phú với canh bạc lớn. Tôi tò mò tiến lại và giật mình nhận ra Lồ A Soày đang ngồi chễm trệ trên chiếc ghế xoay, tay gác lên trên cái bàn dài hình bầu dục. Hắn phát tướng thấy rõ, trong bồ độ "complet", nom hắn rất uy nghi và bệ vệ. Hắn đang đánh bài Baccarat, trên bàn chỉ có hắn ăn thua với nhà cái. Ðám người xung quanh không dám đặt, chỉ đứng đó mà nhìn hắn đánh. Nhìn những cọc tiền bằng nhựa hắn đặt ra mà tôi cảm thấy chóng mặt. Bảng hiệu trên sòng ghi rõ giới hạn trên bàn là 5 đến 5 nghìn đô-la. Ván nào Soày cũng đặt gần như đến mức tối đa, có nghĩa là xấp sỉ 5000 đô. Bài Baccarat hơi giống bài cào Việt Nam, 9 nút lớn nhất, và đúng như tên gọi của nó, "bài cào có nghĩa là cào nhà cào cửa". Ðiểm khác biệt ở đây là người đánh có thể theo nhà cái hoặc nhà con, hoặc có thể không đánh, ngồi đó mà chờ thời cơ. Có khi thấy nhà cái ăn liên tiếp mấy ván, hắn nóng máu, theo nhà cái mấy ván liền, mỗi ván 5 xấp. Kỳ lạ, mỗi lần hắn theo nhà cái là nhà cái đều thua! Tên chia bài vơ gọn cọc tiền cao ngút đến mỏi cả tay. Ðám đông òa lên tiếc rẻ, trong khi đó nét mặt hắn bình thản, không một xúc động mảy may.
Tôi tiếp tục theo dõi, không dám quấy rầy hắn. Canh bài kéo dài, nhờ có thắng có thua nên hắn còn ngồi đó tiếp tục đỏ đen. Trong lúc ngữa cổ lên trần phun khói thuốc, hắn nhìn thấy tôi. Hắn mừng rỡ la lên:
- Này! Ðằng ấy có phải là L. học ở Davis đấy không?
Tôi cười chào hắn. Hắn xếp cọc tiền, đẩy qua tên chia bài, nói nhỏ: "Mày đếm hộ, cộng vào sổ tín dụng của tao". Tôi đoán thầm hắn phải là khách quen của sòng bài, nếu không làm sao có riêng một hồ sơ tín dụng. Tên chia bài hỏi:
- Vậy ông có trở lại không?
- Có chứ. Lát nữa tao trở lại chơi tiếp. Bây giờ tao đi kiếm cái gì lót dạ. Mày gọi lên nhà hàng giùm, nói giữ cho tao 2 chỗ.
- Vâng, thưa ngài. Ngài có cần giữ phòng không ạ?
- Không cần. Ðã có sẵn lúc mới đến.
Tên chia bài dạ vâng liền miệng, và bốc ngay điện thoại gọi cho nhà hàng. Nhìn thái độ khúm núm của tên Mỹ trước một tên Việt Nam gốc Nùng, đủ thấy mảnh lực đồng tiền ghê gớm đến mức nào. Hắn khoác vai tôi, kéo lên nhà hàng. Hắn giải thích ở đây chỉ cần đổi 15 nghìn tiền mặt ra tiền nhựa, loại tiền nhựa chỉ dùng để đánh bài, là họ cung cấp đầy đủ tất cả, phòng ngủ, ăn uống, thậm chí vé máy bay đi về. Tôi tò mò hỏi:
- Thế mỗi lần đến đây chơi, thường thì Soày đổi ra bao nhiêu?
- Khoảng 50 nghìn.
Tôi chóng mặt với con số hắn đưa ra. Vào trong nhà hàng hắn gọi rượu Tây và những món ăn cực kỳ sang trọng. Tôm hùm kêu ra, ăn có tí đuôi rồi bỏ đi cả con, thật phí của. Chai rượu rót ra ly, hắn chỉ nhấm cho ướt môi. Hắn bảo tôi:
- Cậu cứ chén bạo, uống cho say. Riêng tớ, tớ cần phải bình tĩnh để đánh bài.
Hắn kể cho tôi nghe là hắn đã xin nghỉ việc ở IBM, ra làm ăn riêng. Hắn đang hành nghề địa ốc. Thì ra là thế, tôi nghĩ thầm dạo này ngành mua bán nhà cửa đang lên, hắn giàu có cũng là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Soày kể cho tôi nghe là hắn đến đây chỉ có chơi Baccarat, vì trò chơ này quyết định ăn thua nhanh chóng, đỡ mất thời gi Hắn nói lần vừa rồi hắn đánh ăn 30 nghìn. Tôi hoàn toàn tin lời hắn kể. Hắn vốn người miền núi, thật thà, chất phát, không biết nói khoác.
Hắn ăn qua loa lấy lệ, có lẽ hắn nôn nóng trở lại sòng bạc. Tôi đi theo coi hắn đánh, biết đâu may ra mình học lóm được vài mánh khóe của ông vua này. Và có lẽ tôi mang cái xui đến cho hắn, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau, mấy chục nghìn trong sổ tín dụng hắn nướng sạch. Hắn gọi tên quản lý lại, ký sổ nợ mượn thêm năm, mười nghìn nữạ Trong vòng 10 phút sau, số tiền đó cũng theo hư không mà đi. Hắn nài nỉ tên quản lý cho mượn thêm. Gã lắc đầu, nói số tiền vay đã đến mức giới hạn. Hắn đâm cáu, đòi kêu xếp của tên quản lý đến. Tên xếp đến, cũng lắc đầu lạnh lùng.
Hắn cười nhạt, từ từ đứng dậy. Lần đầu tiên tôi thấy khuôn mặt hắn tái đi một chút. Người xem đã thưa đi rất nhiều, có lẽ không ai dại gì đứng đó để hắn đổ tội là lây cái xui xẻo cho hắn. Một vài ánh mắt phân ưu nhìn hắn ái ngại. Hắn kéo tôi ra một góc phòng, bỏ nhỏ:
- Cậu có tiền đó không, cho tớ giật nóng vài nghìn.
Tôi lắc đầu:
- Tiền đâu đào ra vài nghìn cha nội?
- Thế cậu có bao nhiêu trong ví.
- Chỉ có đúng 500, mà toàn là tiền của bá tánh. Mấy thằng bạn nhờ cá hộ "football" dùm cho nó, nhưng điểm chấp không đủ nên tôi phải mang về trả lại cho tụi nó.
Hắn mừng ra mặt:
- Tốt lắm, cho tớ mượn hết 500 đô
Hắn vừa nói vừa móc túi lấy ra cuốn "check", ký cái xoẹt chẵn 5 bò, đưa cho tôi:
- Ðây này. Về San Jose cậu ra ngân hàng mà lãnh trả cho tụi nó.
Thấy tôi hơi sựng, hắn nói tiếp:
- Mẹ kiếp! Hay là cậu sợ trong băng của tớ không có tiền bảo chứng?
Hắn vừa nói, vừa mở ví tìm mẩu giấy nhỏ xíu:
- Cũng chỉ vì cái nhà băng khốn nạn, một ngày chỉ cho rút ra có 500 đô. Ðây này, đây là tờ biên lai ghi nhận tớ rút tiền hồi nãy, có ghi rõ số tiền còn lại của tớ trong băng. Có đủ trả cho cậu không?
Tôi nhìn vào tấm biên lai, những con số dài thòng, nối nhau làm tôi cảm thấy chóng mặt. Không một chút do dự, tôi đưa hắn hết nắm tiền.
Tôi nghĩ thầm đến mấy chục nghìn mà hắn còn cho đi cái vèo, 500 này không đủ gãi ngứa. Và đúng vậy, hắn chỉ đặt có đúng 2 cây bài là cạn láng. Hắn đứng dậy, phủi tay nhìn tôi bằng một nét mặt thỏa mãn, và thốt lên 1 câu gọn lỏn:
- Xong!
Tôi hỏi hắn:
- Bây giờ ông tính làm gì?
- Về chứ làm gì. Cậu rỗi không, đi ăn với tớ.
- Bụng đâu mà chứa, mới ăn cách đây có tiếng đồng hồ, còn đang no kềnh.
- Không ăn thì uống. Ði với tớ. Tớ đói hoa cả mắt!
Tôi theo hắn trở lại nhà hàng ban nãy. Lần này hắn chén thật tình. Ăn xong hắn còn xin cái hộp để gói lại phần ăn thừa. Hắn biện hộ:
- Mang về cho cái Thắm vợ tớ. Nó chỉ thích xơi đồ biển!
Hắn nốc rượu li bì, chắc là để quên đi là mình vừa mới bị cháy túi, hoặc cũng có thể hắn cần phải say để khỏi phải nghĩ đến chuyện sắp phải đương đầu, khi về nhà đối diện với vợ hiền. Trước khi từ giã, Soày nói:
- Ðúng là hôm nay ra đường gặp gái xui tận mạng. Nhất định lần sau tớ phải cẩn thận hơn.
Sau lần gặp gỡ ấy, tôi mất liên lạc với Lồ A Soày. Một phần vì chật vật với đời sống mưu sinh nơi xứ người, một phần vì năm 1989 tôi dọn sang Mobile, Alabama nhận công việc mới. Nhưng rồi, quả đất tròn thật, và tôi gặp lại hắn, ngay ở chỗ tôi làm. Thì ra là hắn mới được hãng tôi mướn. Mới có vài năm mà nom Soày thay đổi quá, khuôn mặt gầy rộc đi thấy rổ Hắn gầy hơn và cũng phong trần hơn. Gặp tôi, Soày mừng lắm:
- Không ngờ gặp lại cậu ở đây. Cậu dọn về đây hồi nào sao không cho tớ hay?
Cái thằng ăn nói vô duyên, hắn là cái thá gì mà tôi phải báo cáo hắn. Tôi không trả lời hắn, hỏi ngược lại:
- Sao ông lại chọn sang đây? Bên này ngành địa ốc bết lắm, Soày ơi!
- Không sao, tớ bỏ nghề đó rồi. Ði làm công chức vui hơn, đỡ dứt đầu. Kể cho tớ nghe nào, bên này có gì vui không?
- Vui gì, chán bỏ mẹ. Ông mà về đây là lục nghề cho mà coi!
-???
- Tiểu bang Alabama cấm bài bạc.
Hắn phá lên cười:
- Không sao, tớ cạch đánh bạc lâu rồi.
Tôi còn khả nghi câu nói đó của Soày, tiếp tục nghe hắn huyên thuyên. Hắn kể mấy năm đỏ đen từ ngày ra trường đã làm cho gia đình hắn tán gia bại sản. Tôi hơi ngạc nhiên là phải mất đến mấy năm! Hắn nói kỳ này hắn dọn sang đây, chặt đứt quan hệ với sòng bạc làm nhà vợ hắn vui mừng khôn xiết.
Một hôm hắn mời tôi đến nhà hắn chơi và dùng cơm. Hắn giới thiệu A Thắm, vợ hắn và hai thằng con trai sinh đôi. Vợ hắn nom đài các, trắng trẻo, có nhiều nét tiểu thư hơn là đàn bà. Nghe nói vợ hắn gốc Hoa tôi cứ ngỡ thể nào ả cũng phải nói chuyện ngọng nghịu như đa số người Tàu ở Chợ Lớn, như "cho ngộ lái một cái". Nhưng tôi nhầm. Vợ hắn phát âm giọng Bắc rất chuẩn, mải về sau tôi mới biết A Thắm là người Tàu ở Cao Bằng, Bắc Việt. Còn 2 thằng con trai sinh đôi thì giống hắn y đột. Tôi nghĩ bụng hai thằng này giống hắn cái gì thì được, chứ giống cái tính cờ bạc thì sau này chỉ có nước vỡ nợ.
Ngày lại qua ngày. Tôi với hắn tuy làm khác building nhưng thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cafeteria. Có đôi lần tôi cũng thấy tên của hắn được báo trong hãng nhắc đến. Tôi đoán chắc có lẽ hắn yên phận, có lẽ phen này hắn tu thật.
Thế rồi đến năm 1991, tất cả đổi thay, từ khi nạn cờ bạc lan tràn về tiểu bang lân cận là tiểu bang Mississippi. Trong vòng vài tháng, hàng loạt sòng bài được dựng lên cấp tốc dọc ven sông. Lồ A Soày đã giã từ vũ khí được 2 năm dài, hắn đã quay lưng ngoảnh mặt, từ bỏ trò chơi đen đồ Hắn đã ra đi thật xa, tưởng đã xa mặt cách lòng. Nay sòng bài lại tìm đến hắn. Con đường cũ mở rộng thênh thang, chờ đón con ngựa hoang quen lối trở về.
Chuyện gì phải xảy ra đã xảy ra. Từ Mobile chạy đến các sòng bài dọc theo ven biển chỉ có một tiếng đồng hồ, và tôi đoán có lẽ cuối tuần nào hắn cũng có mặt ở đó, bởi vì sáng thứ hai đi làm nom hắn rất bơ phờ, thiếu ngủ, đôi mắt thì nhíu lại, có quầng thâm bên dưới. Tôi không còn thấy tên hắn được nhắc tới trong tuần báo của hãng nữa.
Một hôm cuối tuần, tôi đến nhà hắn chơi, vợ hắn bảo là hắn đi đánh bài ở Mississippi. Trước khi tôi kiếu chào ra về thì ả nói:
- Khổ thân nhà em! tưởng đã cai hẳn rồi, ai ngờ lại lối cũ chẳng sao quên. Nhờ bác hôm nào khuyên giùm anh ấy một tiếng.
Tôi ái ngại nhìn người vợ đau khổ, không dám hứa liền. Tôi biết rõ tính Soày. Tôi mà đá động đến cái nghề tay trái của hắn là coi như tình bạn sứt mẻ liền. Nhưng thấy ả năn nỉ ỉ ôi quá tôi cũng mềm lòng. Tôi hứa đại cho xong:
- Chị cứ yên tâm, để hôm nào gặp Soày trong hãng tôi sẽ nhắc nhỡ.
Chào tạm biệt A Thắm, tôi nghĩ chắc từ nay về sau sẽ không đến đây nữa để khỏi phải áy náy.
Sáng hôm thứ hai, vào giờ ăn trưa, tôi gặp Soày. Hôm nay nom hắn sáng sủa hơn bình thường. Miệng hắn huyên thuyên kể chuyện dự án đang đương đầu hãng. Bất chợt hắn xoay đổi đề tài, hỏi tôi:
- Cuối tuần rồi có tiết mục gì vui không?
Tôi ợm ờ:
- Thì cũng bạn bè dăm ba thằng tụm lại nhậu nhẹt. Dân độc thân, ông biết mà!
- Còn tớ, cuối tuần rồi qua Mississippi đánh bài.
- Thắng hay thua, Soày?
Tôi hỏi nhưng đã biết bố nó cái câu trả lời.
- Thua 5 ngàn.
- Lại baccarat nữa? - Tôi dạm hỏi
- Không, kỳ này tớ đánh blackjack.
Hắn vừa nói vừa lắc đầu ngao ngán. Ở con người hắn hôm nay có cái gì là lạ. Tôi nghĩ thầm không chừng hắn đã biết hối cãi. Soày hạ giọng, nói nhỏ:
- Tớ đã nghĩ kỹ rồi, cậu ạ! Ðiệu này không khá được.
Tôi mừng khấp khởi. May quá, nếu hắn mà biết hối cãi thì tôi đỡ cái tội hứa cuội với A Thắm. Bên tai tôi, giọng A Soày ấp úng:
- Ðánh hoài thua hoài, càng đánh càng thua. Bố tiên nhân nó, không khá được!
Tôi chêm vô một câu vô thưởng vô phạt:
- Mừng cho ông nhận đã nhận thức được điều đó.
Soày đập tay lên trên bàn một phát thật mạnh, giọng chắc nịch:
- Ðúng vậy! Tớ cần phải chơi nhiều hơn để lấy kinh nghiệm.
Bùi Thanh Liêm
Tháng 4, 1997